Trần Quang Hải : Âm nhạc có thể dùng để trị bịnh hay không ?


Trần Quang Hải : Âm nhạc có thể dùng để trị bịnh hay không ?

Image

Hỏi : Không biết nhạc có thể dùng để trị bịnh được hay không ? và trị bịnh gì ? Xin nhờ ban biên tập chuyển câu hỏi đến một chuyên gia về bộ môn này .

Đáp : Trong lĩnh vực âm nhạc có hai bô môn dùng âm nhạc để trị bịnh là : âm nhạc điều trị học (musicothérapie) và tâm lý điều trị học (psychothérapie) . Cả hai bô môn này được phát triển từ vài mươi năm nay tại Pháp . Có thể học tại Paris và Montpellier tại trường đại học từ cử nhân tới tiến sĩ .
Lúc trước (cách đây 30 năm, vào khoảng thập niên 70), âm nhạc cổ điển tây phương (nhạc Mozart, Haydn, Bach, loại nhạc cổ điển êm dịu) dùng để trị bịnh an thần tại các nhà thương dưỡng trí viện (hôpital psychiatrique). Nhưng từ khi nhạc cổ truyền thế giới (musiques traditionnelles du monde) được phát triển ở Tây phương , và bộ môn dân tộc nhạc học (ethnomusicologie) được chánh thức giảng dạy ở cấp bực đại học, thì nhạc cổ truyền thế giới được đưa thể nghiệm vào môn âm nhạc điều trị học .

Trị bịnh thần kinh có hai cách :
1. Trị bịnh cá nhân : có nghĩa là bịnh nhân được trị riêng biệt . Muốn khám bịnh để biết phản ứng bịnh nhân, thì cho nghe một số loại nhạc (10 thí dụ đủ loại nhạc : cổ điển tây phương , cổ truyền thế giới, nhac pop, rock, techno, jazz) để xem phản ứng của bịnh nhân . Để bịnh nhân trong một phòng sơn màu xanh, rồi đỏ, vàng , trắng, đen, nói chung là đủ các loại màu để xem bịnh nhân phản ứng ra sao khi bên ngoài có màu sắc khác nhau dù là nghe một loại nhạc ở thời điểm khác nhau (mỗi ngày nghe một lần ở một phòng màu khác nhau) . Sau 10 ngày, thì mới cho một « toa thuốc » chỉ gồm có nhạc mà thôi . Thí dụ : 5 phúc nhạc Mozart buổi sáng, 4 phút nhạc jazz New Orleans sau khi ăn cơm, 5 phút nhạc techno lúc 4 giờ chiều, 5 phút đàn tranh Việt Nam độc tấu nhạc vui nhẹ theo điệu Bắc . Đó là trường hợp cá nhân .
2. Trị bịnh tâp thể : có nghĩa là một nhóm người bị bịnh thần kinh hoặc có thái độ thụ động (attitude passive) hay có thái đọ kích động (attitude active). Nếu người thụ động thì cho nhạc giựt gân bắt họ phải nhảy múa theo điệu nhạc hoặc múa máy tùy hứng chung với nhau . Nếu người kích động thì phải cho nghe nhạc thiệt giựt gân để cho họ nhảy múa điên cưổng theo điệu nhạc . Sau 15 phút nhảy múa thì họ sẽ mệt phờ người thì họ sẽ không cón sức lực để gây hấn, hung hăng . Sau đó cho họ nghe một loại nhạc thật êm dịu .
3. Có khi dạy họ thiền với một điệu đọc kinh Tây tạng hòa chung với cách thở nhẹ để tìm lại sự quân bình trong tâm hồn .
4. Có khi gặp người hung hăng thì cho họ tự do đập vào trống và các nhạc cụ gõ để họ tha hồ đập phá theo tiết tấu thay vì đập đồ đạc hay đánh người ta .
Những phương pháp này được áp dụng trong các dưỡng trí viện ở Âu Mỹ để giải quyết một phần nào những bịnh tâm thần của thời đại . Có những người chỉ bị quẫn trí nhẹ thôi như trường hợp những cán bộ cao cấp, luật sư, giáo sư gặp khó khăn trong nghề nghiệp rồi sanh ra quẫn trí , phải vào dưỡng trí viện để trị bịnh thần kinh nhẹ.

PHương pháp trị bịnh tâm thần đã được giới Tây phương ứng dụng trong cách tham thiền và dùng nhạc êm dịu (gọi là nhạc bay bổng – musique planante ; nhạc thiền – musique méditative ; nhạc xả hơi – musique relaxante ). Đối với tôi, những người theo phương pháp này là những người bị bịnh tâm thần thụ động , chỉ thích nghe nhạc để tìm lại sự bình thản trong tâm hồn. Họ không có bịnh nhưng có một vài vấn đề không giải quyết được nên tìm một ngưồn an ủi qua âm nhạc nhẹ thanh thoát .

Phương pháp hát đồng song thanh của tôi đã được áp dụng trong các trị bịnh tâm thần (khủng hoảng tinh thần, tánh nhút nhát, bịnh cà lăm, không dám phát biểu trước công chúng vì bị khớp, vv…) Hát đồng song thanh đã giúp cho người học hát có thêm nghị lực, không còn sợ sệt, lấy lại niềm tin, và làm giảm bớt bịnh cà lăm. Rất nhiều kịch sĩ học với tôi để cho giọng được mạnh hơn, một số nhà chính trị gia học hát đồng song thanh để tạo cho giọng nói của mình có bề dày (giọng nói mạnh hơn, nhiều bồi âm để thu hùt và chinh phục cử tri), những người hát sai không còn phải bị mặc cảm vì hát đồng song thanh không dựa vào cao độ cố định giúp cho họ lấy lại tự tin , vv…

Ngoài ra có những phương pháp khác dùng nhạc để tri bịnh như những phù thủy (chamane Tây bá lợi Á) dùng nhạc để giúp họ đi tới gặp thần thánh rồi trở về đất liền để giải đáp thắc mắc của bịnh nhân (trường hợp xứ Tuva, Mông Cổ, Yakutia, và nhiều sắc tộc ở cực Bắc Tây Bá lợi á) .
Ở Đông Nam Á thì có hiện tượng lên đồng . Nhạc không dùng để trị bịnh mà để giúp cho mấy người lên đồng nghe nhạc để gọi các ông hoàng bà chúa nhập vào xác bà bóng để nhảy múa, hay tiên đoán tương lai, trị bịnh người đau yếu .

Để biết thêm về hai bộ môn âm nhạc điều trị học (musicothérapie / music therapy ) và tâm lý điều trị học (psychothérapie / psychotherapy), xin mới Cô vào www.google.fr và gõ những chữ sau đây trong chỗ tìm kiếm (rercherche / research)
« musicotherapie » , sẽ có 26.500 trang nhà
« psychotherapie », sẽ có 604.000 trang nhà liên hệ tới bộ môn này

« music therapy » tiếng Anh có nhiều hơn với 328.000 trang nhà
« psychotherapy » tiếng Anh có 1.710.000 trang nhà

Tôi nghĩ rằng với những trang nhà kể trên ở www.google.fr cũng đủ mang lại cho Cô những tài liệu cần thiết cho việc tìm hiểu âm nhạc dùng trong cách trị bịnh như thế nào .

Trần Quang Hải

Trần Quang Hải : VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại


Trần Quang Hải : VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

Image

Từ nhiều năm qua, tôi đã nghe rất nhiều băng nhạc, dĩa CD, gặp gỡ rất nhiều danh ca cũng như nhạc sĩ Việt Nam từ những người nổi tiếng từ lúc còn ở Việt Nam đến những người bắt đầu tạo nên tiếng tăm ở hải ngoại . Tôi muốn nói đến các nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Phạm Đình Chương, Phạm Mạnh Cương, Nhật Bằng, Hoàng Trọng, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Trịnh Hưng, Lê Hữu Mục, Mạnh Bích, đến các danh ca có nhiều tên tuổi như Thái Thanh, Khánh Ly, Bạch Yến, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hương Lan, Elvis Phương, Chế Linh, Anh Khoa, Tuấn Ngọc, Duy Quang ,Thanh Tuyền, Kim Tước, Châu Hà, vv… 

VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

Trần Quang Hải (Paris, Pháp) 

 

Tôi muốn nói tới những nhạc sĩ trẻ như Đức Huy, Trần Quãng Nam, Trịnh Nam Sơn, các nhạc sĩ phong trào Hưng Ca,các nhạc sĩ các quán Nhạc Việt, Em Ca Hát , các nữ nhạc sĩ trẻ xuất hiện ở hải ngoại như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Lê Khắc Thanh Hoài, Trang Thanh Trúc, Bảo Trâm, Hoàng Kim Chi ,hay các ca sĩ trẻ như Ngọc Lan, Ý Lan, Linda Trang Đài, Như Quỳnh, Dalena, Thanh Hà, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Mạnh Đình, vv…

Băng nhạc đã được sản xuất quá nhiều. Rồi tới CD, VCD, DVD đủ tất cả các loại . Các trung tâm băng nhạc « mọc » lên như nấm . Từ những cuốn băng đầu tiên được thu ở hải ngoại của Thanh Thúy khoảng tháng 4, năm 1976 cho tới ngày hôm nay , bìa băng đã ghi nhận một sự tiến bộ vượt bực từ cách trình bày trang nhã, đơn sơ đến phần chữ nổi, đến những tấm hình ca sĩ hay « người đẹp » chụp rất « hấp dẫn » . Kỹ thuật trình bày có tiến bộ. Kỹ thuật thu thanh tân kỳ hơn . Một vài trung tâm thu băng đầu tiên do nhạc sĩ Việt đứng ra làm chủ như Trung Tâm Tùng Giang, trung tâm Anh Tài . Cả hai Tùng Giang và Anh Tài đều là nhạc sĩ nên họ chú trọng đến kỹ thuật âm thanh nhiều dù rằng người mình vẫn còn mắc phải bịnh để quá nhiều « écho » .

Trong thập niên 80, thị hiếu của người mua băng nhạc có vẻ « thoái bộ ». Qua những cuốn băng được xuất bản từ giữa năm 1985 cho tới 1989, tôi chỉ thấy hình bìa với những cô gái Việt Nam đẹp thì không chỗ chê, nhưng càng ngày càng ăn mặc hở hang . Nếu người mua chỉ thích mua vì hình bìa « hở hang » khêu gợi thì chắc người đó sẽ không để ý tới nghệ thuật âm nhạc của cuốn băng đó .

 

Lý do biết tới nhạc sĩ Vô Thường

Tình cờ đọc trên báo Hồn Việt phát hành tại Glendale, Quận Cam, Cali hồi tháng 5 năm 1987, tôi thấy có một bài quảng cáo 2 cuốn băng chuyên về tây ban cầm do anh Vô Thường độc tấu các bản nhạc quen thuộc của giới nghe nhạc Việt Nam . Tôi tự hỏi : » Vô Thường là ai vậy cà ? » Cái biệt hiệu cũng lạ nữa Tại sao lại Vô Thường ? Như vậy có nghĩa là « không có bình thường » hay là « Khác thường », « Dị thường », « Bất thường » ?

Tôi tự đánh dấu hỏi trong đầu hoài . Anh này đâu có gì là người « không có bình thưòng » mà chắc cũng không phải là người « khác thường ». Theo tôi hiểu chữ « Vô Thường » có nghĩa là « lúc có lúc không » hay « biến cố thình lình đến » theo định nghĩa cua ông Đào Duy Anh trong quyển Hán Việt tự điển . Anh Vô Thường đàn tây ban cầm hồi nào mà tôi không bao giờ nghe tiếng biêt tên ? Tôi chỉ biết có anh chàng trẻ tuổi nổi tiếng bên Mỹ tên là Trịnh Bách hay anh Lê thành Đông, giáo sư Tây ban cầm ở Pháp, hay anh Hoàng Ngọc Tuấn ở Sydney bên Úc mà thôi . Anh này là ai mà mãi tới bây giờ mới xuất đầu lộ diện ???

Thế là tôi liền viết thơ cho anh Vô Thường để nhờ anh ấy gởi cho tôi mấy cuốn băng do anh tự sản xuất lấy, và tự trình diễn . Rồi một hôm , tôi nhận được 2 cuốn băng tựa đề là « Ru Khúc Mộng Thường » 1 và 2 .

Ngồi lắng nghe cuốn « Ru khúc Mộng Thường » 1, những âm điệu của các nhạc phẩm quen biết của Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Trần Định, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương qua ngón đàn tây ban cầm của anh Vô Thường gây cho tôi từ ngạc nhiên nây đến ngạc nhiên nọ . Người này là ai mà có ngón đàn có hồn như vậy mà mình chẳng bao giờ quen hay biết tới ? Nghe một lần, chưa đủ để nhận định . Nghe lần thứ hai, rồi lần thứ ba . Càng nghe càng thấm. Tiếng đàn chạy khắp cơ thể, vào tận trong tim não . Càng về khuya, tiếng đàn càng ảo não, như gợi cho tôi một hình ảnh đau buồn, một tâm hồn tuyệt vọng, một ảo thanh của thế giới huyền mộng chứ không phải là « mộng thường » của một anh chàng mang tên là Vô Thường . Tôi không muốn để đầu óc chuyên phân tách nhạc ngữ của tôi làm chi phối tôi mà tôi muốn để tâm hồn tôi bay theo tiếng đàn . Quên đi kỹ thuật mà chỉ nhắm vào tình cảmû, để tìm hiểu con người yêu nhạc, muốn mượn tiếng đàn của mình để nói lên một cái gì đó . Và chính « cái gì đó » làm cho tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người, về hứng nhạc của anh nhạc sĩ có tên khá đặc biệt là VÔ THƯỜNG .

 

Vài dòng về thân thế anh Vô Thường

Anh tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Phan Rang, đỗ khóa 9 trường sĩ quan Thủ Đức, phục vụ ngành tâm lý chiến . Lúc nhỏ, anh rất yêu nhạc, có thể nói là mê nhạc nhưng không có phương tiện để học nhạc vì nơi anh ở không có trường quốc gia âm nhạc như Saigon và Huế . Cho nên anh tự học đàn lấy một mình . Nhờ có khiếu, anh đánh đàn măng cầm (mandoline) rất khá, và đã chiếm giải « người đánh đàn mandoline hay nhứt của quân khu » vào năm 1962 .

Tên VÔ THƯỜNG đã được xuất hiện từ lúc đó, nhưng chỉ được một số người trong binh chủng biết đến mà thôi . Anh cũng có giao dịch và gặp gỡ những tay đàn mandoline nổi tiếng ở Việt Nam lúc đó như Pierre Trần ( Trần Anh Tuấn), Lê Duyên , Khánh Băng, Nguyễn Mạnh, Đức Qưê, Văn Lạc. Cũng như nhạc sĩ Khánh Băng, anh chuyển từ mandoline qua tây ban cầm vào năm 1966 . Có một điều là anh đàn tây ban cầm bằng tay trái, ngược đối với tất cả cao thủ đàn ghi-ta. Tuy vậy anh cũng thường xuyên đàn trong một số ban nhạc ở các club Mỹ tại Phan Rang , nơi anh làm việc ở tại trung tâm Bình Định phát triển ở tòa hành chánh Ninh Thuận .

Cuộc đời binh chủng cũng như văn nghệ của anh tưởng cứ như thế mà tiến triển một cách trầm lặng. Nào dè 30 tháng 4, 1975 đến với sự xâm chiếm miền Nam của cộng sản, anh đã phải tự tháo thân , không kịp đem theo vợ và hai con gái trên con đường tạm dung . Anh đã theo lớp người Việt đầu tiên đến xứ Mỹ .

Không biết làm nghề gì trong giai đoạn đầu của cuộc sống mới, anh mới nẩy ra ý mở một cửa hàng bán bàn ghế, tủ giường . Anh trở thành ngưới Việt đầu tiên hành nghề này tại vùng Quận Cam . Từ đó cho tới năm 1987 anh làm chủ tiệm Kim’s Furniture ở Santa Ana, California . Có một dạo, anh mở tới 5 tiệm nhưng vì coi không xuể, lớp vì có máu văn nghệ mạnh quá, anh mới «thử thời vận » hùn với một người bạn mở một khiêu vũ trường mang tên là RITZ vào tháng 3, năm 1983. Nhưng tới tháng 7, 1984, sau 16 tháng « lăn lóc » có dịp thù tạc chén anh chén em, anh đã nhường khiêu vũ trường RITZ lại cho Ngọc Chánh, trưởng ban Shotgun, để quay về nghề bán bàn ghế như trước .

Tuy không có hợp mặt cùng anh em nghệ sĩ trên sân khấu, anh vẫn tiếp tục mượn tiếng đàn tây ban cầm để dạo những khúc nhạc của thời vàng son của miền Nam . Không những nhạc Việt mà còn cả nhạc ngoại quốc . Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau : « tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ . Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn . Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu . Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ . Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhạc .. Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học . Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100 % ».

Rồi một ngày chủ nhật 19 tháng 4, 1987, tại quán Phở Ngon ở quận Cam, Cali, anh Vô Thường đã cho trình làng hai cuốn « Ru khúc mộng thưòng » 1 và 2, kết quả của tiếng đàn tây ban cầm mà anh đã để hết tâm hồn cho hai đứa con gái của anh đã đòi hỏi anh đàn cho chúng nghe vì khi anh ra đi, chúng chỉ mới có 6 và 4 tuổi . Giờ đây đãø 18 tuổi và 16 tuổi xuân xanh .

Hai cuốn băng trình làng với sự hiện diện của 200 bạn bè đã gặt hái một kết quả tài chánh và nghệ thuật rất đáng kể . Anh đã dành số tiền 800 Mỹ kim bán băng buổi ra mắt để tặng cho Ủy ban cứu trợ quốc tế (International Rescue Committee) để giúp những trẻ mồ côi tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á .

Băng của Anh đã được tái bản nhiều lần, hơn hẳn những băng nhạc « chuyên nghiệp » và báo chí đã cho hiện tượng đó là « ngựa về ngược ». Anh tiếp tục cho trình làng thêm hai cuốn băng khác vào tháng 6 với tựa đề « Hạnh phúc nửa vời » gồm những bản nhạc do Anh sáng tác qua một số giọng hát có tên tuổi trình bày, và một cuốn « Hải Âu » do ca sĩ và nhạc sĩ Phạm Hoàng Dũng phụ trách .

Con đường âm nhạc anh đãø dấn thân vào chỉ mới có mấy tháng trong năm 1987 mà đã gây một tiếng vang. Và dư âm đã vang dội cho tới ngày anh ra đi vào tháng 4, 2003 sau nhiều tháng chống trả với tử thần vì bịnh ung thư , 16 năm thành công với hơn 120 CD đã lưu lại cho hậu thế .

 

Vơ Thường : Ca sĩ và Nhạc sĩ

Anh Vô Thường có viết cho tôi rằng anh không phải là ca sĩ hay nhạc sĩ gì cả . Giọng anh thì khàn, loại « khao khao vọng cổ », nếu không nói là « giọng vịt đực ». Nhưng anh Vô Thưòng đâu có biết rằng giọng hát đó rất khó tìm, vì nó lạ, vì nó khác giọng thường nghe, vì chất nhựa của thuốc, của rượu đã quện lại thành một loại giọng của người đã từng lăn lóc trong trường đời .Đó là cái may mắn của anh mà anh Vô Thường không biết hay không muốn biết .

Ở Pháp có ca sĩ Charles Aznavour cò một giọng hát the thé, hát lên cứ rung hoài. Vậy mà « ăn khách » đến nỗi anh ta phải tìm hãng bảo hiểm giọng hát của anh ta . Ở Mỹ có Louis Amstrong cũng nhờ có giọng khàn đặc biệt mà thế giới thần tượng hóa trong lĩnh vực nhạc Jazz . Nhờ vào cái tâm hồn rất phong phú mà khi anh Vô Thường hát , tiếng hát đó dễ đi sâu vào lòng người nghe, như truyền đi những gì anh muốn nói qua lời ca, qua tiếng nhạc .

Lúc đó tôi chưa gặp anh Vô Thường . Tôi chỉ nghe giọng hát, nghe lời nhạc anh viết , tôi mường tượng con người đã bị đời cho nhiều « vố » đau điếng nên xuyên qua giọng hát , tôi có cảm tưởng một bầu trời bi quan, chán chường, tuyệt vọng, một khung cảnh u sầu, uất hận .

Bản nhạc anh vừa sáng tác vào tháng 8, 1987 với tựa đề « Giọt nước mắt lưu đày » gói ghém nỗi lòng của anh .

 

Đêm thức giấc quanh đây trời đất lạ

Ta một mình biết nói với ai đây

Bao ưu phiền ray rứt bấy lâu nay

Thân lạc loài viễn xứ mấy ai hay.

Giòng nước mắt no đầy kiếp lưu đày

Ly rượu này chưa uống sao ta say ?

Một đoạn khác của bài hát nói lên tâm tư của anh

 

Bây giờ đây, bên kia đại dương cha ta nhục nhã đói

Bây giờ đây, lao tù giam tù nhân đến mấy kiếp

Bây giờ đây căn nhà hoang mẹ ta vừa nhắm mắt

Chiếc quan tài, hay manh chiếu rách gói thân mẹ ta

Ôi trẻ thơ, ôi đàn con đang lang thang ngoài phố trời,

Đi về đâu, không ngày mai, tương lai là bóng tối,

Saigon ơi ! Saigon ơi ! Thay tên và hấp hối

Xác bạn bè, ngã xuống không mồ chôn .

Cuốn băng « Hạnh phúc nửa vời » của anh Vô Thường phát hành giữa năm 1987. Tất cả những nhạc phẩm trong cuốn băng đầu tay có tính cách « chuyên nghiệp » hơn qua các giọng ca đầy triển vọng của Uyên Lan, Lê Uyên, Phạm Hoàng Dũng, Việt Dzũng, Hằng Nga, Ngọc Giao, Như Mai và Vô Thường . Nữ ca sĩ Uyên Lan , một tài năng mới xuất hiện, trước kia ở Houston, nay đã dời đô về Cali, có một giọng hát nghiêng về « alto » hơn là « soprano ». Đa số nữ ca sĩ Việt đều có giọng cao « soprano ». Bản nhạc « Hạnh phúc phù du » cũng như bài « Hạnh phúc nửa vời » đã được Uyên Lan diễn tả với tất cả tâm hồn làm người nghe như lắng đọng trong không gian hư vô .

« Hạnh phúc nửa vời vì không trọn vẹn, vì bên em mà nửa hồn anh như cùng mềm . Khách khoảng thương quê hương vì mòn mỏi đợi chờ , mơ một ngày trở lại . Anh thốt gọi tên em trong câm lặng. Hạnh phúc phù du, hạnh phúc nửa vời » . Đó là lời anh Vô Thường khơi mào vào đầu cuốn băng .

Hạnh phúc nửa vời, qua nhịp điệu habanera chậm buồn, tôi có cảm giác anh Vô Thường muốn gởi trọn nỗi lòng của anh trong tiếng hát của Uyên Lan :

 

Có bao giờ anh khóc một mình

Có bao giờ anh thương nhớ cuộc tình

Một đêm mưa, mưa đêm dĩ vãng

Đến bên anh, lại vuốt vai gầy

Lời tính đầu , cho nhau bỡ ngỡ

Chút ngây thơ, tình thuở dại khờ

Có bao giờ em nhớ trong đời

Có bao giờ em tiếc nuối một thời

Bài nhạc sầu yêu thương với nhớ

Nhớ đêm mưa là nhớ mãi một người

Trong cuốn băng «Hạnh phúc nửa vời », bài tôi thích nhất có lẽ là bản nhạc « Tình khúc cho Saigon » được Lê Uyên diễn tả rất đậm đà, chân tình trong một giọng hát nồng ấm . Cặp Lê Uyên Phương giờ đây không còn nữa . Phương tức Lộc đã ra người thiên cổ sau khi hai người đã xa nhau một thời gian. Lê Uyên hiện vẫn còn hát và điều khiển quán Cà phê LUP, nơi tụ họp của những người làm văn nghệ tại Quận Cam, Cali . Dòng nhạc của bài « Tình khúc cho Saigon » nghe như đi nhẹ vào hồn, như dìu ta về dĩ vãng của thời Saigon xa xưa .

 

Saigon ơi, chớp mắt mười năm qua,

Đời tha hương vẫn thấy buồn trong ta

Giờ lưu vong, mang kiếp sống xa nhà,

Saigon ơi, còn đó ơi xa thật xa

Mười năm trời, ôi nhớ quá Saigon tôi

Đầy đau thưong trống, vắng và đơn côi

Và hôm nay, lê thân xác nơi quê người

Bầy chim non lạc tổ quên lối về

Ngày trôi đi, tôi cứ ngỡ ngày về không xa

Mà mười năm qua, ta hỏi đã được gì cho ta

Nhìn lại ta vẫn sống kiếp xa nhà

Saigon ơi, còn đó nhưng xa thật xa

Dù nơi đây ai có sống đời yên vui

Một mình tôi, tôi vẫn thấy lòng buồn không nguôi

Dù hôm nay tôi sống sót nơi que người

Tim yêu cuối đời, tôi xin gửi hết lại SAIGON tôi

Tất cả những bản nhạc (11 bài tất cả) đều được thể hiện qua hai chủ đề : thương nhớ quê hương , nuối tiếc hạnh phúc mà vì hoàn cảnh đất nước anh đã mất đi và tuyệt vọng trong kiếp sống lưu đầy .

Anh đã bị đời dày xéo . Nếu còn đươc giây phút nào để nói về thân phận , về cuộc đời trên giấy bút , trên âm nhạc, trên văn thơ, thì anh Vô Thường sẽ không ngần ngại .

Nhục nhã của 16 năm làm lính, mất « quê hương », mất gia đình, mất tất cả, lại thêm một nhục lớn là phải ở xứ lạ quê người. Đời chỉ được một lần sinh ra và chết, nhưng bổn phận làm người và tình không còn nữa . Anh Vô Thường đã tâm tình với tôi rằng :

 

« Tôi xin được nói những khi còn có thể nói,

Tôi xin được viết những khi tôi còn có thể viết,

Xin còn đủ lý trí để nhận định và không gì thay đổi

Dù sang hay hèn,

Nghèo hay giàu,

Dù có danh hay không ? »

Đúng như nhà Phật đã nói : « Sắc sắc không không . Không tức thị Sắc . Sắc tức thị Không ».

Cuộc đời của anh Vô Thường được gói ghém qua mấy câu

« Một quê hương trước khi nhắm mắt không hiểu còn có thấy lại hay không ?

Một cuộc đời toàn những hạnh phúc phù du, người đây, vợ và con một ngã, của 12 năm

Ước muốn chi nhiều, rồi cũng bấy nhiêu thôi . »

Khi Anh sang thăm chúng tôi tại Paris vào đầu thập niên 90, anh Vô Thường giới thiệu Tín Hương, một người đàn bà miền Trung rất đẹp . Một bài nhạc đã được viềt ra trên đất Pháp, dọc sông Seine, giữa thành phố Paris hoa lệ .

 

Một chút tình bỏ quên

Đầu cơn mưa mùa hạ

Em lạc bước chân xa

Paris dường như đã

Nghe tình lên trong ta

Từ Anh lặng lẽ tới

Cho nhung nhớ đầy vơi

Cho mộng tràn chăn gối

Hao gầy trái tim côi .

Một chút duyên để nhớ

Một chút tình để quên

Một thoáng thơ mộng vỡ

Nửa vời hạnh phúc ơi

Đừng trách nhau lầm lờ

Dù tình ta lỡ lầm

Một chút ân tình vỡ

Tình buồn mãi trăm năm

Từng đêm mưa hững hờ

Em xuống phố ngẩn ngơ

Paris tình muôn thuở

Nhớ thương Anh dại khờ

Hàng cây sầu im tiếng

Hiu hắt bên sông Seine

Có một lần Anh đến

Nhớ chút tình bỏ quên

Bạch Yến đã dịch bài thơ của anh Vô Thường ra tiếng Pháp vài năm sau với tựa « Souvenir d’un amour oublié »

 

On s’est rencontés

Un beau soir d’été

Au coeur de Paris

Notre amour est né

Depuis je te vois

En rêve chaque nuit

Et ne pense qu’à toi

Qui toujours me fuis

Cet amour si beau

Si tendre et si doux

Où l’on s’aime trop

A s’en rendre fou

Si tu pars un jour

Me laissant sans toi

O ! Mon bel amour

Je ne te suivrais pas

Paris et la Seine

Bercent mon âme meurtrie

Qu’importe ma peine

Je veux que tu ris

Que tombe la pluie

Que règne l’ennui

Nos beaux souvenirs

Deviendront ma vie

 

Ít lâu sau , anh loan bào tin anh lập gia đình . Chúng tôi có sang Cali mấy lần gặp anh và Tín Hương . Anh đã giúp và khuyến khích Tín Hương sáng tác nhạc . Và Tín Hương đã thực hiện được hai CD . Cuộc tình tưởng như sẽ tốt đẹp như bài thơ . Nhưng có ai ngờ là vào cuối năm 1999, Tín Hương và anh không còn chung sống với nhau . Anh Vô Thường có buồn thật nhưng sau đó , anh tìm lại nguồn vui và đã cùng anh Lữ Mộc Sinh sáng tác một nhạc phẩm « Từ lúc yêu em » .

Anh vẫn tiếp tục sản xuất CD nhạc khiêu vũ, nhạc ngoại quốc, nhạc để nghe , loại nhạc ûkhông lời » mà anh đã tạo một chỗ đứng « không đối thủ ». Nhạc của anh đàn đã đi vào thị trường Mỹ . Mỗi tuần anh nhận được nhiều thơ hỏi mua, hoặc viết lời khen anh , cám ơn Anh đã mang lại cho họ những giây phút êm ái qua những ca khúc du đương .

Thỉnh thoảng Anh mang thơ của những người ái mộ người Mỹ từ khắp xứ Mỹ đưa cho tôi đọc để cùng chung vui với Anh .

Anh Vô Thường đã thành công mang hai đứa con gái Diễm và Khanh sang Mỹ và đã giúp cho hai cháu có một nghề chắc chắn và cả hai đều lập gia đình với hai chàng rể thật dễ thương . Anh đã hoàn thành sứ mạng của một người cha trước khi nhắm mắt . Tôi có gặp anh lần chót vào tháng 10 , 2001 tại San Jose khi chúng tôi sang diền . Anh tuy ốm nhưng vẫn còn tếu như mọi khi . Anh có trở về Việt Nam lần chót để thực hiện CD « Tình Ca Vô Thường / Giọt Nước Mắt Vô Thường » qua tiếng hát của Quỳnh Lan, Đức Minh, Vô Thường và bài « Nhớ chút tình bỏ quên » do Bạch Yến hát cả hai lời Việt / Pháp . Đây là dĩa CD với nhạc và tiếng hát Vô Thường và là dĩa « có lời » nhưng chưa kịp « kiếm lời » là anh đã ra đi . Bạch Yến đến thăm Anh lần chót vào ngày mùng 1 Tết Quý Mùi ( tháng 2, 2003) , hai tháng trước khi anh lìa trần

Anh Vô Thường đã trở về với cát bụi , nhưng Anh đã để lại cho đời một số sáng tác nhạc, hàng trăm dĩa CD ghi lại tiếng đàn ghi-ta tay trái bất hủ của anh . Anh ra đi nhưng đã để lại bao tiếc thương một người bạn tốt với bạn, với người đồng hương (Anh đã đóng góp rất nhiều cho các cơ quan từ thiện qua số dĩa CD và băng nhựa anh tặng ), với đất nước .

Những sáng tác mới của anh Vô Thường là những điểm son trong làng nhạc Việt . Sự đóng góp của anh Vô Thường , tuy không to tác nhưng rất có ý nghĩa vì anh viết nhạc đặt lời rất thành thật tự đáy lòng phát ra . Anh Vô Thường là một ngôi sao sáng , một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại .

Trần Quang Hải (Paris, mùa thu 2003) 

 

Danh sách links có liên hệ tới Trần Quang Hải


Danh sách links có liên hệ tới Trần Quang Hải

 Danh sách những”links” về Trần Quang Hải (phỏng vấn, thông báo các lớp dạy hát đồng song thanh, các buổi trình diễn, chương trình đài phát thanh và truyền hình, các bài viết, dĩa hát CD và DVD, vv….)

[ Webzine Eurasie ] – Entretien avec Tran Quang Hai, ethnomusicologue

www.eurasie.net/webzine/article.php3?id_article=642

 

Physique de la Voix : le cas du chant diphonique , Lille , août 2004

http://e2phy.in2p3.fr/2004/resumes/hai.pdf

 

Percussions sans Frontières:

http://www.mespercussions.net/psf/Percussions_sans_fronti%C3%A8res/Hommes/tr%C3%A2n_quang_ha%C3%AF.htm

 

Le Cristal du CNRS et d’autres récompenses à Tran Quang Hai

http://membres.lycos.fr/tranquanghai/cnrs.html

 

Tran quang Hai et le chant diphonique, Université de Rouen, France, 2003

http://musique.ac-rouen.fr/article.php3?id_article=113

 

Tran Quang Hai’s Biography, Vê Nguon, 1998, USA

http://venguon.org/98program/98_TranQHai.htm

 

Tran Quang Hai: Recherches introspectives sur le chant diphonique et leurs applications (article)

http://www.buddhaline.net/spip.php?auteur233

 

 

Biographie de Tran Quang Hai : Editions SYMETRIE, Lyon , 2002

http://www.symetrie.com/fr/edition/quang-hai.tran

 

Film sur Tran Quang Hai : Portrait, annonce de la projection, Paris decembre 2003

http://www.ics.cnrs-bellevue.fr/Activite/031203.htm

 

Stage de chant diphonique au Lycée Kerichen de Brest, septembre 2001

http://www.ac-rennes.fr/pedagogie/musique/dossier/tran/tranbrest.htm

 

Biographie de Tran Quang Hai pour France- Asie, 1997

http://www.mediaport.net/CP/Expo/Hue2002/music/textes-inst/quanghai.fr.html

 

Tran Quang Hai : Un dialogue Occident-Orient : l’exemple de Vê Nguôn (1975) , article publié dans un ouvrage pour les 50 ans de la musique concrète en hommage à Pierre Schaeffer, 2001

http://www.ears.dmu.ac.uk/articleBiblio.php3?id_article=1251

 

Festival de Musiques sacrées , Fribourg (Suisse), 13-15 juillet 2006-10-21

http://www.fims-fribourg.ch/programme.html#tran

 

Stage de chant diphonique, Maison Populaire , Montreuil , 93100, du 13 au 14 janvier 2007

http://www.maisonpop.net/article.php3?id_article=363

 

Carte Blanche à Tran Quang Hai (Traditions Musicales du Vietnam), France Culture 13 février 2006

http://www.radiofrance.fr/chaines/france-culture2/emissions/equinoxe/fiche.php?diffusion_id=37804

 

 

Fabuleuse découverte du chant diphonique par Tran Quang Hai, Centre Culturel Alpha, Ile de la Réunion, 6 avril 2001, conférence organisée par les Amis de l’Université

http://amis.univ-reunion.fr/Conference/presentation/148/?Js=1&PHPSESSID=03a50926909a1f659eb4c3ecc760cb80

 

Tran Quang Hai : Le chant diphonique et son évolution, Université de Bordeaux, amphithéâtre physique B, lundi 15 mai 2000 à 18h30

http://www.culture-bx1.u-bordeaux.fr/CultSc/Rdvlundi/2000/0515/

 

 

Prof Tran quang Hai’s workshop and lecture dates for 2004

http://www.geocities.com/CapeCanaveral/9402/page7.html

 

Bruno Guiganti : « Atopie, hétérophonie, audicibilité », conférence du 18 décembre 2002 à 18h (séquence avec Tran Quang Hai)

http://audiolab.villa-arson.org/logs/guiganti.html

 

Tournée de Tserendava , chanteur mongol de chant diphonique (Tran Quang Hai est mentionné)

http://www.saint-auvent.net/documents/rtenomade.pdf

 

 

Tran quang Hai : compte rendus des disques sur la musique de guimbardes, des minorités du Vietnam et du chant Ca tru du Vietnam dans les Cahiers de Musiques Traditionnelles, Genève, Suisse, vol.9, 1996

http://www.adem.ch/CMT/cmt96.html

 

Les trois “chevaliers” de la guimbarde vietnamienne, Le Courrier du Vietnam, 20 août 2006

http://lecourrier.vnagency.com.vn/default.asp?CATEGORY_ID=16&NEWSPAPER_ID=&TOPIC_ID=50&REPLY_ID=36684

 

 

Musique : les sciences et le retour des guimbardes, Le Courrier du Vietnam, 03 juillet 2006

http://lecourrier.vnagency.com.vn/default.asp?CATEGORY_ID=16&NEWSPAPER_ID=&TOPIC_ID=50&REPLY_ID=35458

 

Tran Quang Hai : Conférence « Musiques du Monde », Universite de Haute Alsace, lundi 3 octobre 2005, à 18h30

http://www.30ans.uha.fr/lundi_5.html

 

 

14è Festival Musicale Mediterraneo, Genova, Italia, 1-30 july 2005 (Tran Quang Hai y participait)

http://www.italia-vietnam.it/Tran_Quang_Hai.pdf

 

Tran quang Hai plays the Jew’s harp in Rio de Janeiro, Brazil, may 2006

http://www.youtube.com/watch?v=3sae-BV1jZU

 

Tran Quang Hai montre le film « Le Chant des Harmoniques », mercredi 1 octobre 2003 , à 18h30, Institut de recherche pour le développement, 213 rue La Fayette, 75010 Paris.

http://www.ics.cnrs-bellevue.fr/Activite/031001.htm

 

Tran Quang Hai : conférence «Musique et  Sciences de guimbardes », Centre Culturel Français, Hanoi, Vietnam, 27 juin 2006 à 18h00

http://www.ambafrance-vn.org/article.php3?id_article=841

 

Tran Quang Hai & Bach Yen :23ème Festival Musica dei popoli, , Florence, Italie, 1998.

http://www.musicadeipopoli.com/index.php?mdp/area07/art255

 

Tran Quang Hai’s workshop “Diphonic Singing”, Foundation Giorgio Cini , Venice, Italy, 13-15 October 2006 , 14h00 – 18h00

http://www.cini.it/english/attivita/eventi/evento.php?ideventi=1489

 

Tran Quang Hai , article « Vietnamese Music in Exile since 1975 », http://www.vietnhac.org , Minneapolis, USA

http://www.vietnhac.org/baivo/tqh-vnmusic.html

 

Le chant diphonique avec la collaboration de Tran Quang Hai, www.ethnomus.org , cles d’écoute, UMR 7173

http://users.info.unicaen.fr/~marc/annick/ethnomus/ecoute/diphonique/hai1.swf

 

Tran Quang Hai : Festival Suoni Dal Mondo 2003 « L’arte della Voce », Bologne, Italie, novembre 2003

http://www.muspe.unibo.it/cimes/sdm/2003/quang.htm

 

Roger Mason « /e retour, çà c’est le blues français » (Tran Quang Hai est mentionné dans cet entretien), 2004

http://www.gazettegreenwood.net/an2004/n57/numero57.htm#mason

 

Tran Quang Hai ‘s 2 videos with overtone singing, spoons, and Jew’s harp, Steve Sklar, USA, 1998.

http://khoomei.com/vids.htm

 

 

Tran Quang Hai , Bach Yen, Quynh Hanh, concert au Musée Guimet , affiche, janvier 2006, Paris

http://paris16info.blogspirit.com/archive/2005/11/index.html

 

 

Le Monde de Bach Yen , website : http://www.bachyen.com

http://www.mondomix.com/fr/liens.php

 

 

Les bulletins du GAM d’Emile Leipp entre 1963 et 1987, Groupe d’Acoustique Musicale, Paris

http://fr.wikipedia.org/wiki/Bulletins_du_GAM

 

 

Tran Quang Hai : DVD Le chant diphonique au Bilan du Film Ethnographique , Paris, mars 2005

http://www.comite-film-ethno.net/Bilan/bilan2005/bilan2005-fairevibrer-popup.htm

 

DVD Le chant diphonique, CRDP , La Réunion, 2004. Tran Quang Hai est co-auteur du DVD

http://www.crdp-reunion.net/catloc/fichekata/974DVD/974dvd01.php

 

Tran Quang Hai au Festival de Musiques sacrées, Fribourg, Suisse, 13- 15 juillet 2006

http://entraide.ch/pages/index-benef.php?id=100&redirect=archives&prm_lang=de

 

Tran Quang Hai sur le site de Michel Lemeu

http://perso.orange.fr/michel.lemeu/liens.htm

 

Tran Quang Hai sur le site de Philippe Paschutine, Paris , 2004

http://www.geocities.com/CapeCanaveral/9402/page6.html

 

Qui mieux que le grand spécialiste des techniques du chant harmonique, Tran Quang Hai pourrait nous présenter le chant de gorge des Touvas?

http://blog.france2.fr/musicaloreille/index.php/

 

Concert de Tran Quang Hai , Bach Yen et Quynh Hanh, Musée Guimet , 6 janvier 2006

http://www.evene.fr/culture/agenda/traditions-musicales-du-vietnam-7437.php

 

Bio de Tran Quang Hai avec CD

http://www.answers.com/topic/tran-quang-hai

 

Tran Quang Hai at Music Festival in Genoa, 2005

http://www.italia-vietnam.it/Tran_Quang_Hai.pdf

 

Tran Quang Hai ‘s workshop of overtones in Venice, Italy, 13-15 october 2006

http://www.cini.it/english/attivita/eventi/evento.php?ideventi=1489

 

Tran Quang Hai ‘s workshop of overtones at Le village du lac, Ardèche, France , 5-7 mai 2007

http://www.levillagedulac.com/mai_TQH.html

 

10ème Festival « Voix de Fête 2005 », dans la région rouenaise, du 17 au 24 juin 2005.

http://danseseniledefolk.free.fr/article.php3?id_article=60

 

Tran Quang Hai’s workshop at La Montagna del Canti, Italy, nov-dec 2006.

http://www.lamontagnadeicanti.it/insegnanti_tran.htm

Les lauréats du CNRS CRISTAL 1995

http://www.cnrs.fr/cw/fr/nomi/prix/cristal95.html

 

Paris Info : concert de TQH BY et QH au Musée Guimet, 6 janvier 2006, Paris

http://paris16info.blogspirit.com/archive/2005/11/index.html

 

Tran Quang Hai , artist of Playasound Producer

http://www.playasound.com/

 

Tran Quang Hai au Festival Dougoula en Valais , Suisse, 2003

http://www.lecourrier.ch/modules.php?op=modload&name=NewsPaper&file=article&sid=2758

 

Conférence de Tran Quang Hai , Centre Culturel Français, Hanoi, 27 juin 2006

http://www.ambafrance-vn.org/article.php3?id_article=789

 

Pratique du chant dysphonique ou chant diphonique chez les personnes âgées (Dysphonic and diphonic song in the elderlies) par Tran Quang Hai, article à commander

http://cat.inist.fr/?aModele=afficheN&cpsidt=4349168

 

. jeudi 18 janvier 2007 : pour la surprise et le plaisir de l’oreille… ” A l’écoute de la double voix harmonique “, musiques vocales de Tran Quang Haï, Dimitri Stratos, Roberto Laneri et quelques autres, sélectionnées par Françoise Douay et analysées par différents phonéticiens.

http://www.up.univ-mrs.fr/lacs/infos.php?rub_parent=16

 

Concert de TQH BY et QH au Musée Guimet , Paris , 6 janvier 2006

http://www.evene.fr/tout/tradition

 

Festival au Liban, Beyrouth, 2002

http://www.beyhom.com/festivals/index.htm

 

Article de TQH et HZemp sur le chant diphonique, Voix, vol.4, 1991, Suisse

http://www.adem.ch/CMT/cmt91.html

 

Du chant diphonique à la musique électro-acoustique /Etienne Gégout (Tran Quang Hai)

http://www.cndp.fr/archivage/valid/41730/41730-6142-5951.pdf

 

Truong Ky interviews Tran Quang Hai on VOA , nov.2005

http://vietsciences.free.fr/forum/viewtopic.php?t=399&sid=b46c7a1c836dcfc34d9abfb7c0c3bd26

 

Record reviews by Tran Quang Hai, ICTM, 1979

http://www.ictmusic.org/ICTM/ictm/03166082/html/issues/03166082_ap030011.html

 

Bruno Deschênes : article Throat Singing (mention Tran Quang Hai)

http://pages.infinit.net/musis/matsu_take_eng/9_AMG_Throat_Singing.html

 

Académie de Rennes, Rennes, 2002 (Tran Quang Hai’s class)

http://www.ac-rennes.fr/pedagogie/musique/liens/menu.htm

 

Tran quang Hai at Forum , khoomei.com/profile, USA, 2005

http://khoomei.com/forum/profile.php?mode=viewprofile&u=31&sid=7817ade8ef301d9c8322f8d9b0310840

 

Du chant dipho à la musique électro-acoustique, (Tran Quang Hai mentionné), Académie de Nancy-Metz, 2003

http://www3.ac-nancy-metz.fr/ac-tice/article.php3?id_article=462

 

Tran Quang Hai at Festival Eclats de Voix, Auch, 1998

http://www.eclatsdevoix.com/festival_precedents.htm

 

Tran Quang Hai at Festival Eclats de Voix, Auch, 1998 suite

http://www.eclatsdevoix.com/ont_fait_festival.htm

 

TQH at 4th International Jew’s Harp Festival in Rauland, Norway, 2002, 2CD

http://www.cdroots.com/grcd-7189.html

 

Thérapie vocale

http://fr.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A9rapie_vocale

 

TQH – Epistémots , 7 janvier 2007

http://aune.lpl.univ-aix.fr/~epistemots/

 

TQH – colloque Le corps et la musique , Lyon, 2004

http://www.grame.fr/Biennale/2004/colloque.html

 

TQH – conférence Musicothérapie, Conservatoire de musique de Rio de Janeiro, Brésil, 23 mai 2006

http://www.rioscope.com.br/website/breve.php3?id_breve=8

 

DVD Le chant diphonique à la BNF, Paris

http://bibliographienationale.bnf.fr/dsam/cua_04.h/cadre204-1.html

 

TQH – colloque Histoire de l’art et création dans les sociétés « traditionnelles », MNHN, Paris, 11-13 mai 2006

http://www.ird.fr/fr/actualites/manifestations/doc/moreau_invit.pdf

 

TQH Record Reviews in ICTM Yearbook, 1981, vol.13

http://www.ictmusic.org/ICTM/ictm/07401558/html/issues/07401558_ap030002.html

 

 

Borys Cholewka’s site (TQH’s student), Liege, Belgium

http://www.tetra-asbl.be/Tetra_Intervenant.aspx?id=17

 

TQH on the listing Who’s Who in Overtones, Germnay

http://www.oberton.org/who-is-who-oberton/whois_g-l.html

 

Site de Michel Moglia, orgue à feu, France

http://www.orgue-a-feu.com/chants.htm

 

VATV Vietnamese American Television, Virginia, USA, august 2006

http://www.vatv.org/tv/article.php?sid=478&PHPSESSID=208f273c7256088add5849ecf0cbf258

 

TQH , auteur d’un article de l’ouvrage “Penser la Voix” numéro 41, France

http://www.mshs.univ-poitiers.fr/licorne/lico41.htm

 

Mention de TQH

http://cercle.arts.neuf.fr/musique%20chinoise.htm

 

Carnets de Routes de 2 Français en Mongolie, mention TQH, 2003

http://peuplesetmusiques.free.fr/carnet_mongolie2.htm

 

François Lassagne , mémoire « Maitriser la voix : de la pédagogie à la synthèse artificielle, Paris 7, 2001-2002

http://pantheatre.free.fr/pages/writings_lassagne.PDF

 

TQH’s workshop of overtones, Venice, 13-15 october 2006

http://www.amadeusonline.net/scuola.php?ID=1160492461

 

TQH sur le site de Boudet – chant diphonique

http://aboudet.chez-alice.fr/doc_musique/Timbre.html

 

TQH at Norwegian Academy of Music, Oslo, Norway, 6 october 2006

http://www.nmh.no/fou/fagprosjekter/konkressens/24011/no

 

TQH at Monash University, Melbourne, Australia, 1986

http://nla.gov.au/nla.cs-pa-HTTP%253A%252F%252FWWW.ADM.MONASH.EDU.AU%252FRECORDS-ARCHIVES%252FARCHIVES%252FCGI-ALIAS%252FMONPIX%253FIMAGE_NUMBER%253D1176

 

TQH & BY at Monash University , Melbourne, Australia, 1986

http://nla.gov.au/nla.cs-pa-HTTP%253A%252F%252FWWW.ADM.MONASH.EDU.AU%252FRECORDS-ARCHIVES%252FARCHIVES%252FCGI-ALIAS%252FMONPIX%253FIMAGE_NUMBER%253D1175

 

Ching Hai – concert in Washington DC december 1999, USA

http://www.contactdirectavecdieu.org/News/111/rdp1.html

 

TQH is mentioned on this website

http://profile.myspace.com/index.cfm?fuseaction=user.viewprofile&friendid=69688533

GS TS TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGOẠI GIAO , VIETNAM 2011


GS TS TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGOẠI GIAO , VIETNAM 2011

Thứ Năm, 17/03/2011-10:31 AM

Âm nhạc và ngoại giao
GS.TS Trần Quang Hải và nữ ca sĩ Bạch Yến trong một buổi hòa nhạc ở Seatle (Mỹ), 1/2006.
Từ trước tới nay, khi nói tới âm nhạc, ai cũng nghĩ là đó là bộ môn tiêu khiển, giải trí. Âm nhạc làm cho bầu không khí được vui thêm hơn khi có những sinh hoạt tập thể. Âm nhạc có khi được trỗi lên để giải buồn. Nhưng âm nhạc còn hơn thế nữa.
 

Âm nhạc cho riêng mình, cho đại đa số quần chúng, trên sân khấu, trong những đại hội liên hoan ngoài trời cho hàng chục ngàn khán giả. Âm nhạc cũng dùng để thúc đẩy chiến sĩ trong lúc có chiến tranh. Âm nhạc cũng dùng để trị bệnh tâm thần (music therapy) ở các quốc gia tiên tiến Âu – Mỹ…

Âm nhạc trong ngoại giao?

Từ sau Thế chiến II (1939-1945), âm nhạc bắt đầu được khai thác trong ngoại giao. Nhạc truyền thống giữ một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ tạo sự giao hảo giữa các quốc gia để mang lại một hình ảnh đẹp của xứ mình trong những dịp trao đổi văn hóa nghệ thuật giữa các xứ để thắt chặt tình thân hữu. Riêng về trường hợp của tôi, sau 50 năm sống ở nước ngoài, tôi đã mang tiếng đàn cổ truyền, câu hát dân ca Việt Nam đi khắp năm châu qua trên 3.500 buổi trình diễn ở 70 quốc gia. Ngoại giao âm nhạc trong sứ mạng nhỏ bé của tôi có thể gói trong những địa hạt sau đây.

Trong trường học

Với hơn 600 buổi buổi diễn tại Na Uy từ năm 1978, chúng tôi đã gieo những hạt giống nhạc dân tộc trong đầu những trẻ thơ từ 6 tới 10 tuổi những bài ru con, quan họ, cò lả, hò, lý, những nhạc cụ đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, muỗng, đàn môi.

Tại Australia, vào năm 1986, chúng tôi trình diễn 26 buổi trong 5 tuần lễ theo lời mời của cơ quan văn hóa Australia. Chúng tôi đã tặng cho Bộ Giáo dục Australia một chương trình giới thiệu nhạc dân ca Việt Nam 30 phút, thuyết minh bằng tiếng Anh trên đài truyền hình của tiểu bang Western Australia. Chương trình này được phân phối trên toàn Australia trong khung của chương trình giáo dục âm nhạc tại các trường tiểu học.

Trong nhiều buổi sinh hoạt âm nhạc tại hơn 100 trường đại học ở Mỹ, Canada, Nhật, Hàn Quốc, Nam Phi, Australia và trên 25 nước châu Âu, chúng tôi đã mang đến những giai điệu đẹp của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam và được các sinh viên nhiệt tình đón nhận. Nhiều em đã bày tỏ khâm phục sự phong phú của nhạc Việt…

Tại các trung tâm văn hóa, viện bảo tàng

Chúng tôi được may mắn có nhiều dịp giới thiệu nhạc Việt khắp xứ Pháp (500 buổi trình diễn) mang lại một sự cảm tình thân thiết của khán giả Pháp đối với nhạc Việt. Ngoài ra, chúng tôi đã trình diễn rất nhiều buổi tại các viện bảo tàng ở Âu Mỹ (như Musée du Quai Branly, Musée de l’Homme, Nhạc viện Cao đẳng ở Paris, nhạc viện Tchaikovsky ở Mátxcơva, Viện Bảo tàng nhạc cụ ở Stockholm – Thụy Điển, Trondheim – Na Uy, Copenhagen – Đan Mạch, London – Anh quốc…). Rất nhiều chương trình trình diễn của chúng tôi đã được thực hiện trên các đài truyền hình của các quốc gia từ nhiều năm qua .

Tại các liên hoan quốc tế về nhạc truyền thống

Tôi còn nhớ tại đại hội liên hoan nhạc dân tộc ở Cambridge (Anh) năm 1967, tôi đã dùng cặp muỗng để thi đấu với những nghệ nhân gõ muỗng và đã hạ tất cả các đối thủ và được tôn vinh là “vua muỗng” (King of Spoons). Cả hội trường đã hoan hô tôi với những câu “Hoan hô VIETNAM”. Hàng chục ngàn người có mặt lúc đó đã khám phá nghệ thuật gõ muỗng của tôi và qua đó, họ thấy hình ảnh của Việt Nam và không ít người đã hỗ trợ Việt Nam trong chiến tranh…

Việc dùng âm nhạc trong ngoại giao, ở khía cạnh nào đó có hiệu quả hơn là dùng chính trị để chinh phục thế giới. Mong rằng mỗi sinh viên khi đi học ở xứ người cần có một hành trang âm nhạc dân tộc cơ bản. Từ đó, giới thiệu nhạc xứ mình trong những cuộc giao lưu văn hóa, đó là một hình thức dùng âm nhạc trong ngoại giao để chinh phục cảm tình của các bạn nước ngoài. Mỗi một công dân xứ Việt khi ra hải ngoại sẽ là một nhà ngoại giao để nói lên niềm tự hào nghệ thuật văn hóa âm nhạc, giúp bạn bè quốc tế hiểu được văn hóa Việt Nam và góp phần vào việc phổ biến hình ảnh đẹp của Việt Nam ở khắp các nẻo đường toàn cầu.

GS.TS. Trần Quang Hải

ĐIỆP TRẦN : CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI , VIETNAM, 2010


ĐIỆP TRẦN : CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI , VIETNAM, 2010

CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI

 
Là một người con của miền sông nước Nam Bộ lại sống xa quê hương, nhưng đối với GS.Trần Quang Hải, người con trai trưởng của GS.Trần Văn Khê đã nối tiếp cha đeo đuổi sự nghiệp bảo tồn và truyền bá âm nhạc cổ truyền của Việt Nam ra thế giới, Hà Nội vẫn có điều gì đó để ông phải nhớ.

Ông nói rằng từ bé mình chỉ biết Hà Nội qua sách vở và chỉ 8 năm trước, ông mới lần đầu tiên ông đặt chân lên mảnh đất này. Nhưng, dù chỉ đến với thủ đô qua những chuyến công tác ngắn ngày, ông vẫn kịp có nhiều trải niệm với nơi đây.

Người ta từng thấy “ông già” Trần Quang Hải vừa say sưa chìm đắm với nhạc ca trù ở cửa đình sau đó đã lại xắn tay đệm đàn muỗng cho nhóm hiphop Bigtoe thể hiện những động tác múa cuồng nhiệt ngay giữa đường phố Hà Nội. Xem ra, cái tuổi 66 của ông vẫn chưa phải là già.

Dăm điều đó thôi đã thấy tò mò về một chút Hà Nội của Trần Quang Hải – một nhà nghiên cứu âm nhạc, một người bạn và một người con xa xứ.

– Thưa ông, tại sao ông lại “gặp” Hà Nội muộn vậy?

Tôi rời Việt Nam từ năm 1961 khi còn rất trẻ. Du học, làm việc rồi nghiên cứu dân tộc nhạc học….cuộc sống cứ thế cuốn đi cho đến năm 2002 tôi mới được mời về Việt Nam để thực hiện một chương trình âm nhạc. Thật hữu duyên khi đó là chương trình nói về cảm giác của một nhạc sĩ Việt Nam về âm nhạc cổ và tân của nước Việt sau 40 năm xa cách. Cũng trong dịp ấy, lần đầu tiên tôi được đến Hà Nội.


– Cảm giác của lần đầu ấy như thế nào?

Bạn biết không, trước đó Hà Nội với tôi là một thế giới mới lạ mà tôi chỉ biết qua sách vở, phim ảnh chứ chưa từng đặt chân tới. Lúc ấy, tôi đã 58 tuổi rồi mà vẫn không kìm được sự hồi hộp, rạo rực vừa có chút nôn nao muốn nhìn thấy thủ đô của xứ Việt. Một cảm xúc kỳ lạ, muốn trào nước mắt.

Từ buổi ấy đến nay ông đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với đời sống cổ nhạc đất Hà thành. Ông đánh giá thế nào về việc lưu giữ vốn cổ âm nhạc của người Hà Nội?

Ở Hà Nội tập trung khá nhiều thể loại cổ nhạc miền Bắc nhưng mỗi loại đều có một số phận. Khi hát Xẩm tại chợ Đồng Xuân thu hút khá nhiều dân chúng tới xem thì những buổi biểu diễn Quan Họ, Ca Trù tuy được tổ chức thường xuyên nhưng chưa được như mong muốn. Nếu Chầu Văn được hồi phục chỗ đứng trong lòng người dân Hà Nội thì múa rối nước rất được du khách ngoại quốc ưa chuộng.

Tôi nghĩ giá nghệ nhân có nơi trình diễn thường xuyên, đồng thời cổ động dân Hà Nội tham gia hỗ trợ các sinh hoạt này thì mọi chuyện sẽ tốt hơn. Ngoài ra, viện âm nhạc và nhạc viên nên có những buổi giới thiệu nhạc cổ truyền cho giới trẻ học đường từ tiểu học đến trung học.

– Nói đến giới trẻ, hình như ông đã từng đệm đàn muỗng cho một nhóm nhảy hiphop ngay trên đường phố Hà Nội?

Đó là vào tháng Giêng năm 2010. Lúc ấy tôi dùng muỗng để thử nghiệm cho các bạn trẻ thấy là có thể dùng những nhạc cụ cổ truyền trong loại nhảy hip hop. Kết quả là đầy triển vọng trong tương lai. Vì thế, trong hội thảo quốc tế ICTM về dân tộc nhạc học tại Hà Nội tháng 7 vừa qua, một lần nữa các em lại nhảy trên nền của đàn môi. Cũng trong dịp này, một tham luận về đề tài đối chiếu Hát Xẩm và Hip hop và ứng dụng của nó là nhảy hiphop trên nền Xẩm cũng được đón nhận nhiệt tình.

– Có một bài viết nói rằng, tuy ca trù có ở nhiều nơi (theo thống kê là 14 tỉnh thành), nhưng có thể coi ca trù là “dân ca của Hà Nội”, ông thấy đánh giá này thế nào?

Tôi không cho Ca Trù là “dân ca của Hà Nội” vì đa số dân Hà Nội không hiểu gì về Ca Trù. Thể loại âm nhạc này chỉ được “tái sinh” sau khi bà Quách Thị Hồ được tôn vinh ở hải ngoại và được phong tặng chức Nghệ sĩ nhân dân. Ca Trù được “sống lại” từ vài mươi năm nay thôi.

 

– Hoàng Thành Thăng Long vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, liệu hỏi một Giáo sư âm nhạc học về việc nên bảo tồn như thế có nào có được không, thưa ông?

Theo tôi, cũng như văn hóa phi vật thể, việc lưu giữ các di tích lịch sử ở Hà Nội rất khẩn cấp. Theo định nghĩa của di sản văn hóa thế giới, thì một nơi được chọn sẽ không được thay đổi bất cứ gì và phải tôn trọng và bảo trì cẩn thận. Đó là việc làm của những chuyên gia khảo cổ và của chính quyền.

Xin gác lại câu chuyện về chuyên môn, thế còn những người bạn Hà Nội của ông thì sao?

Họ đã cho tôi những kỷ niệm đẹp bằng sự nồng hậu và thân tình. Qua những cuộc gặp gỡ với các nhóm nghệ nhân, mà thực là những người bạn, tôi hiểu thêm về giá trị của cổ nhạc và đời sống muôn mầu của nó ở đất Hà thành. Nguyễn Thị Minh Châu, Bùi Trọng Hiền, Lê Văn Toàn và những nghiên cứu viên ở Viện Âm nhạc với sự nghiêm túc và nhiệt tình hiếm có của mình đã giúp tôi mở rộng tầm mắt về sinh hoạt âm nhạc ở Việt Nam. Đó còn là tình thân khi chính họ và những người bạn nhỏ thân thiết khác đã đưa tôi đi khám phá Hà Nội và những món ăn “đặc sản” nổi tiếng ở đây. Điều này thực sự rất thú vị!

– Được biết, vừa rồi ông đã tặng cho Viện âm nhạc Việt Nam một bộ sách và đĩa hát rất quí. Nhưng hình như trước đó mấy năm, ông còn gợi ý cho một nhóm nghiên cứu sang pháp đưa về Việt Nam một số tài liệu quí của viện bảo tàng con người Pháp nhưng vì một lý do nào đó không thành công?

Việc này tùy thuộc vào điều kiện tài trợ mà lúc đó chưa thể thực hiện được. Tôi chỉ mang về một số nhỏ tài liệu cho thấy bộ môn dân tộc nhạc học ở xứ người như thế nào. Đó là dự án trong tương lai là làm sao mang về Việt Nam tất cả sách vở, đĩa hát, nhạc cụ mà tôi muốn trao lại cho Việt Nam. Điều kiện duy nhất để thực hiện là phải có tiền để trả kinh phí cho việc chuyển những tài liệu này từ Pháp về Việt Nam.

– Nếu Paris hoa lệ, thủ đô của nước Pháp là nơi ông định cư, thì Hà Nội, thủ đô của quê hương yêu dấu có ý nghĩa thế nào với ông?

Dù là người sinh ra tại một miền khác và lớn lên ở xứ Pháp, Hà Nội đã mang lại cho tôi hình ảnh của nền văn minh, văn hóa và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Đó thực sự là niềm tự hào có một thành phố quê hương nghìn năm văn vật, đầy những di tích lịch sử mà lúc nhỏ tôi chỉ biết qua sách vở.

Xin cám ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị này!

Điệp Trần (thực hiện)

Đăng trên báo Thời Nay ngày 27.9.2010

Chú thích ảnh:

Ảnh 1: Với Giáo sư Trần Quang Hải, khám phá Hà Nội thực sự thú vị

Ảnh 2: Phút ngẫu hứng của GS.Trần Quang Hải với những người bạn Hà Nội.

Ảnh 3: GS.Trần Quang Hải biểu diễn chơi đàn môi tại Hội thảo quốc tế ICTM về âm nhạc dân tộc

Thông tin thêm

GS.Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS.Trần Văn Khê, người có công to lớn trong việc truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Ông đã trình diễn hơn 3000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 65 quốc gia, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới và tham dự hơn 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống.

Tuy nối gót cha theo đuổi sự nghiệp bảo tồn cổ nhạc Việt Nam, song GS.Trần Quang Hải thiên về ứng dụng, biểu diễn và thuyết trình giới thiệu âm nhạc dân tộc học. Quan điểm nghiên cứu của ông là kết hợp chất nhạc cổ truyền của nhiều dân tộc, pha trộn tùy hứng với jazz, nhạc đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc mới lạ mang tính ứng dụng. Ngoài ra, ông còn được biết đến như một chuyên gia về đồng song thanh và đàn muỗng. Kết quả, hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, đồng sonh thanh, nhạc tùy hứng và đương đại của ông đã ra đời.

Hiện, GS.Trần Quang Hải đang làm đại diện của Việt Nam (ủy viên) tại Hội đồng âm nhạc truyền thống quốc tế (ICTM).

Tóm lược từ tranquanghai.info

Thứ hai, ngày 27 tháng chín năm 2010