Worship of Hùng kings in Phú Thọ , UNESCO Intangible Cultural Heritage 2012 , VIETNAM


Published on Dec 6, 2012

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2012
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Pilgrims converge every year on the Hùng temple at Nghĩa Lĩnh mountain in Phú Thọ province to commemorate their ancestors and pray for good weather, abundant harvests, good luck and good health. The important Ancestral Anniversary festival is celebrated for one week during the third lunar month. Local villagers dress in splendid costumes and compete to provide the best palanquin and most highly valued objects of worship. Communities make rice-based delicacies and enact verbal and folk arts performances, bronze drum beating, Xoan singing, prayers and petitions. (86 words)
Country(ies): Viet Nam
© 2011 Vietnam Institute of Culture and Arts Studies
Duration: 00:10:03 – Support: Video tape (Betacam small shell) (0073500005)

Xoan singing of Phú Thọ Province, Unesco Intangible Cultural Heritage 2011, VIETNAM


Uploaded on Nov 21, 2011

UNESCO: List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding – 2011
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/USL…
Description: Xoan singing is practised in Phú Thọ Province, Viet Nam, in the first two months of the lunar year. Xoan guilds traditionally performed in sacred spaces such as temples, shrines and communal houses for the spring festivals. Xoan singing is accompanied by dancing and musical instruments such as clappers and a variety of drums. Knowledge, customs and techniques for singing, playing and dancing are traditionally transmitted orally by the guild leader. In recent years the singing has been taken up by clubs and other performing groups.
Country(ies): Viet Nam
© Vietnamese Institute for Musicology, Vietnam
Duration: 00:09:59 – Support: DVD (0053800013)

NGUYỄN THẾ THANH : NHÀ TRẦN VĂN KHÊ Ở SAIGON


Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn

NGUYỄN THẾ THANH | 11/02/2013 15:00 (GMT + 7)
TTXuân – Tết 2006 là một cột mốc thời gian đáng nhớ trong cuộc đời giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê. Lần đầu tiên được ăn Tết tại “nhà của mình” trên chính đất nước mình, cảm giác trong ông xao xuyến, bồi hồi rất lạ.
  • Buổi sinh hoạt âm nhạc định kỳ tại nhà giáo sư Trần Văn Khê – Ảnh: Nguyễn Á
  • Giáo sư Trần Văn Khê và ca nương Phạm Thị Huệ – Ảnh: T.T.D.
 

Lúc khai đàn đầu xuân, tập quán mà ông giữ được bao năm qua, cuốn phim ký ức bỗng đưa ông về những năm đầu thập niên năm mươi ở nước Pháp, khi ông vừa theo học ở khoa giao dịch quốc tế Trường Chính trị Paris vừa đi đánh đàn thuê ở tiệm ăn La Paillote do ông Từ Bá Hòa làm chủ. Đánh đàn để kiếm sống, nhưng ông chỉ sử dụng các nhạc cụ truyền thống Việt Nam và chơi các bản nhạc truyền thống Việt Nam, vậy mà thực khách ưa thích.

 

 

Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ mà ông vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp nơi trên thế giới. 15 đại học ở nước ngoài, 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc tại 67 quốc gia, 20 liên hoan âm nhạc thế giới… ở bất cứ nơi đâu ông có mặt, âm nhạc Việt Nam lại đĩnh đạc vang lên.

Tháng 8-2006, tại một nhà hát ở Torino (Ý) trong tuần lễ “Di sản âm nhạc Việt Nam” do các bạn Ý tổ chức, mỗi khi các nghệ sĩ Hải Phượng, Huỳnh Khải, Nhứt Dũng biểu diễn dứt một tiết mục nhạc tài tử và nhạc lễ Nam bộ, giáo sư Trần Văn Khê lại lên sân khấu giới thiệu bằng tiếng Pháp và tiếng Anh về ý nghĩa, về những điểm chung và riêng của các loại hình âm nhạc này.

Rồi, thật là bất ngờ, ông cầm lấy cái trống bồng đánh lên để khán giả có thể nhận ra những âm thanh khác biệt của nó với các loại trống khác. Tay trống của ông mềm mại và dứt khoát, tiếng trống lúc nhặt lúc khoan, không ai còn nhớ ra người chơi trống đã tám mươi lăm tuổi…

Tiếng vỗ tay dành cho ông rền vang khán phòng. Khoảnh khắc xúc động ấy người viết bài này may mắn được chứng kiến…  Chả trách, các đồng nghiệp quốc tế của Trần Văn Khê vẫn gọi ông là người đa tài: giỏi nghiên cứu, giỏi truyền giảng, giỏi ngoại ngữ và giỏi kỹ năng biểu diễn. Họ thành tâm thú nhận đã bị mê hoặc vì sự tài tình và vẻ say sưa của ông khi truyền đến họ nét đặc sắc của một nền âm nhạc mà ông đã đắm mình từ tấm bé…

Trở về Việt Nam sau chặng đường bôn ba hơn nửa thế kỷ ở xứ người, giáo sư Trần Văn Khê đã mang theo về 435 kiện sách và hiện vật âm nhạc quý giá mà ông thu thập, gìn giữ trong suốt những năm dài nghiên cứu, giảng dạy và nay tặng lại Nhà nước Việt Nam để phục vụ cộng đồng. Nhưng, có lẽ biệt tài giới thiệu âm nhạc dân tộc của ông mới chính là thứ tài sản quý giá hơn cả mà cộng đồng được ông trao tặng.

Với sự giúp sức của các cơ quan nhà nước và bạn bè thân hữu, ngôi nhà ông ở những năm cuối đời tại đường Huỳnh Đình Hai (Bình Thạnh, TP.HCM) thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa sống động. Tại ngôi nhà này, từ tuổi tám mươi lăm đến nay, Trần Văn Khê vẫn kết nối các mối quan hệ âm nhạc trong và ngoài nước, vẫn trực tiếp tham gia giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc, đặc biệt nhất là vẫn tham gia biểu diễn trong các buổi sinh hoạt định kỳ và ngoại kỳ.

Một đêm tháng 2-2007, khi ca nương Phạm Thị Huệ chuyển từ đàn đáy phụ họa với nhóm ca trù TP.HCM sang phần độc tấu đàn tì bà theo phong cách Huế, Trần Văn Khê đã bất ngờ nhập cuộc, kéo Phạm Thị Huệ ứng tác ứng tấu với ông một đoạn chỉ có trống và tì bà. Tiếng tì bà của Phạm Thị Huệ đi theo tiết tấu trống của Trần Văn Khê say sưa và thần tình một cách lạ lùng.

Đoạn nhạc hòa tấu đầy ngẫu hứng và hào hứng sáng tạo đó khó gặp ở thời nay đã lay động hết thảy những người tham dự chương trình sinh hoạt định kỳ hôm ấy. Ngoài vẻ say sưa, không ai còn nhận thấy nét già nua, đau ốm nào trên gương mặt Trần Văn Khê. Ông đã luôn cháy lên như thế mỗi khi đắm mình với nghệ thuật dân tộc, bằng lời và bằng nhạc.    

Đến thăm giáo sư Trần Văn Khê một ngày cuối năm 2012, câu chuyện giữa chủ khách đã theo các sổ ghi chép và hình ảnh mà lần trở lại những kỷ niệm xa gần liên quan đến sự nghiệp của ông. Ông lướt qua rất nhanh, thậm chí bỏ qua những gì ông cho là không còn quan trọng nữa. Tỉ như những giải thưởng, những danh hiệu của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và cả Chính phủ Việt Nam đã trao cho ông trong hơn nửa thế kỷ qua. Chúng rất nhiều và không phải không có ý nghĩa.

Nhưng giờ đây, với tư cách là nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, quan trọng nhất với ông vẫn là những ngày cuối đời này làm sao góp phần nhiều hơn nữa vào việc nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá để âm nhạc dân tộc thực sự làm rung động và đi vào tâm cảm của người đương thời, nhất là người trẻ. Ông sợ cách làm cẩu thả, chiếu lệ, thiếu cảm xúc và thiếu cả kỹ năng sẽ làm cho âm nhạc dân tộc mất đi khả năng lay động khán giả đương thời, cho dù di sản ấy thực sự quý giá và đặc sắc.

Ông muốn những Thúy Hoan, Đỗ Lộc, Trần Quang Hải, Phạm Thị Huệ, Huỳnh Khải, Hải Phượng, Đức Dũng, Anh Tấn, Nhứt Dũng, Văn Môn, Lê Tứ, Đinh Linh, Tuyết Mai… và những điểm sáng khác được nhân ra nhanh hơn, nhiều hơn thay vì còn ít như hiện nay.

Và trong khi mọi sự chưa phải đã được như mong muốn, Trần Văn Khê vẫn tự mình tham gia các chương trình giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc cho người trẻ. Thực hiện dự án “Dạy âm nhạc dân tộc trong bậc tiểu học” ở Trường tiểu học Trần Hưng Đạo. Lên truyền hình biểu diễn các bài dân ca Bắc, Trung, Nam cùng các cháu bé ở Nhà Thiếu nhi quận 1. Nhìn ông mặc áo dài khăn đóng, mái tóc bạc phơ say sưa hát tung hứng với các diễn viên nhí, ai mà biết được mắt ông đã mờ đi nhiều lắm và đi lại đã rất khó khăn.

Gần đây nhất, ngày 22-11-2012 ông nhận lời làm diễn giả trong chương trình “Đi tìm tiếng nói thế hệ” do PACE tổ chức. Với đề tài “Người trẻ và âm nhạc dân tộc”, ông không nói với hơn 600 bạn trẻ về khả năng dâng hiến, về khát vọng thành công, về tính độc lập trong tư duy. Đó là phần luận bàn của các chuyên gia khác. Ông đi xe lăn đến diễn đàn này để trò chuyện với những người trẻ về cảm xúc mà mỗi con người cần phải có, phải giữ để làm nên độ mặn nhạt trong lối sống của mình. Nguồn cội văn hóa sẽ cho người ta một phần rất quan trọng của cảm xúc đó.

Ông giải thích một cách giản dị cho cử tọa trẻ nghe về sự khác biệt của ca trù, ca Huế, chầu văn, nhã nhạc, nhạc tài tử…, về sự tinh tế của dòng nhạc dân gian và sự thâm trầm của dòng nhạc bác học trong âm nhạc dân tộc. Và, bằng chất giọng còn rất trầm ấm nhưng hơi lực chẳng còn như ý, ông đã cất tiếng hát cho các bạn trẻ nghe những điệu ru của miền Nam, miền Trung và miền Bắc.

“Ví dầu con cá nấu canh/Bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho thơm”. Nỗ lực ngân nga của ông, nét biểu cảm của bài ru trên gương mặt của một người đã đi qua chín mươi hai năm cuộc đời đã làm xúc động thế hệ 7X, 8X, 9X. Tiếng vỗ tay nhiều lần và kéo dài trong khán phòng như thay cho sự chia sẻ và lời tri ân dành cho ông – người mà cả đời tự gánh lấy trách nhiệm giữ gìn và truyền đến mọi người ngọn lửa tình yêu với âm nhạc dân tộc. Vượt qua sự thông thường, câu chuyện về âm nhạc truyền thống Việt Nam có phần nỗ lực minh họa sống động của ông trở thành bức thông điệp về một giá trị văn hóa đặc sắc mà cha ông để lại cho con cháu. 

Đến nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn, nếu may mắn gặp chủ nhà, khách có thể sẽ được nghe nhiều câu chuyện thú vị. Như là câu chuyện sau đây mà nếu muốn, khách có thể lục lọi trong Thư viện Trần Văn Khê (đặt tại nhà ông hiện nay) để biết. Đó là chuyện ông – với tư cách là người Việt Nam đầu tiên được Đại học Sorbonne Paris trao bằng tiến sĩ âm nhạc học với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” (La Musique Vietnammienne (traditionnelle) – đã may mắn có cơ hội được giao soạn thảo chín trang về lịch sử âm nhạc Việt Nam trong Encyclopedie de la Pleiade vào cuối năm 1958. Đó là lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam được góp mặt vào hệ thống công cụ tra cứu tri thức thế giới.

Đó cũng là một điểm tựa tinh thần, “danh chính ngôn thuận” để Trần Văn Khê thêm tự tin dấn thân vào sự nghiệp quảng bá miệt mài các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp, ở Hội đồng quốc tế âm nhạc Unesco và nhiều trung tâm nghiên cứu quan trọng khác. Nhờ đó và cùng với sự góp sức từ nhiều bạn bè, đồng nghiệp của Trần Văn Khê mà nhiều năm sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên, ca trù… được Unesco vinh danh là kiệt tác di sản truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.

Cũng có thể khách sẽ được nghe câu chuyện ca trù nhiều năm bị quên lãng ở miền Bắc Việt Nam đã “sống lại” như thế nào. Đó là năm 1976, giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê lần đầu về thăm đất nước theo lời mời của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Nhiều cơ quan ở Hà Nội đã mời ông đến nói chuyện: Hội nhạc sĩ Việt Nam, Trường Âm nhạc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Đài Tiếng nói Việt Nam…

Ở đâu ông cũng nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy vốn cổ. Sau đó ít lâu, thính giả rất ngạc nhiên nghe trên sóng phát thanh quốc gia tiếng tom chát của ca trù, cả tiếng giới thiệu vang vang của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Với lần xuất hiện đó, ca trù đã đàng hoàng góp mặt vào đời sống âm nhạc đương đại. Nguyễn Xuân Khoát đã viết cho Trần Văn Khê bức thư vẻn vẹn một dòng “Sự kiện anh về nước đã động viên tôi rất nhiều. Cảm ơn anh”. Lời cảm ơn ấy không mảy may xã giao mà từ đáy lòng một người hằng thiết tha với nghệ thuật ca trù.

Khê nghĩa là suối. Trần Văn Khê một đời qua ví như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát. Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài. Tết Quý Tỵ năm nay, theo cách tính của ông bà, Trần Văn Khê bước vào tuổi 93. Trong lời kết cuốn sách sắp xuất bản dịp đầu năm tới ông viết về Phạm Duy – người bạn sinh cùng tuổi con gà, tình thân quyện chặt với nhau già nửa thế kỷ, mỗi câu đều thấm đẫm tâm sự của một người đã nghiền ngẫu trải nghiệm tri hành nghề nghiệp cùng thời cuộc:

“Chúng ta đã đến, đã đi và đã về, đã làm và đã sống, đã yêu và đã mơ, đã thăng và đã trầm, đã cười và đã khóc… qua hai thế kỷ nay. Nhưng Duy ơi, một kiếp nhân sinh với bao năm tháng trôi chảy không ngừng nghỉ, có lúc này cũng có lúc khác, những câu chuyện cứ tiếp nối nhau không dứt, thì Khê cũng như Duy, Duy cũng như Khê, đều mỉm cười và mong rằng:

Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Đầu cành khô bỗng hoa nở tràn”

(Người tình già trên đầu non).

————————————

* Tin bài liên quan:

>>Xem thêm về GS-TS Trần Văn Khê

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/532583/nha-tran-van-khe-o-sai-gon.html

Le NHÃ NHẠC , musique de cour vietnamienne , VIETNAM


Mise en ligne le 29 sept. 2009

UNESCO: Liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité – 2008
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Le Nha Nhac, littéralement « musique élégante », désigne les divers styles de musique et de danse exécutés à la cour royale vietnamienne du quinzième siècle à la première moitié du vingtième siècle. Il ouvrait et clôturait généralement les cérémonies qui marquaient les anniversaires, les fêtes religieuses, les couronnements, les funérailles et les réceptions officielles. De tous les genres musicaux qui ont vu le jour au Vietnam, seul le Nha Nhac peut se targuer davoir une dimension nationale et de forts liens avec les traditions dautres pays dAsie du Sud-Est. Les représentations de Nha Nhac réunissaient autrefois de nombreux chanteurs, danseurs et musiciens vêtus de somptueux costumes. Les grands orchestres, où dominaient les tambours,
comprenaient de nombreux autres types de percussions, ainsi que des instruments à vent et à cordes. Tous les exécutants devaient rester extrêmement concentrés afin de suivre scrupuleusement toutes les étapes du rituel.
Le Nha Nhac a vu le jour sous la dynastie Le (1427-1788) et a été institutionnalisé et codifié sous le règne des monarques Nguyen (1802-1945).Véritable symbole de la puissance et de la longévité de la dynastie, il est devenu un élément fondamental des nombreuses cérémonies royales. Son rôle ne se cantonnait pas à laccompagnement musical des solennités de la cour : cétait également un moyen de communiquer avec les dieux et les rois, de leur rendre hommage, et de propager des connaissances sur la nature et lunivers.
Les événements qui ont ébranlé le Vietnam au vingtième siècle, en particulier la chute de la monarchie et les décennies de guerre, ont sérieusement mis en péril la survie du Nha Nhac. Privé de son contexte, cette musique a perdu sa fonction originale. Mais les quelques derniers musiciens de cour encore vivants sefforcent de maintenir la tradition. Certaines formes de Nha Nhac ont été conservées dans des rituels populaires et des cérémonies religieuses, ou servent de source dinspiration à la musique vietnamienne contemporaine.
Pays: Viet Nam

L’espace de la culture des Gongs , UNESCO Intangible Cultural Heritage 2005,VIETNAM


Mise en ligne le 29 sept. 2009

UNESCO: Liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité – 2008
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Lespace de la culture des gongs, dans les montagnes du centre du Vietnam, englobe plusieurs provinces et dix-sept communautés ethnolinguistiques austro-asiatiques et austronésiennes. Étroitement liés à la vie quotidienne et au cycle des saisons, leurs systèmes de croyances composent un monde mystique où le jeu du gong constitue un langage privilégié entre les hommes, les divinités et le monde surnaturel. Derrière chaque gong se cache un dieu ou une déesse dautant plus puissant que le gong est ancien. Toute famille possède au moins un gong qui témoigne de sa fortune, de son autorité et de son prestige, tout en lui assurant protection. Si différents cuivres sont utilisés lors de certaines cérémonies, seul le gong est présent dans tous les rituels de la vie de la communauté et constitue le principal instrument cérémoniel.
La façon de jouer du gong varie dun village à lautre. Chaque instrumentiste porte un gong différent, dun diamètre variant entre 25 et 80 cm. Les ensembles dhommes ou de femmes comptent entre trois et douze gongs selon les villages. La configuration et le rythme sont adaptés au contexte de la cérémonie, tels le sacrifice rituel des bœufs, la bénédiction du riz ou les deuils. Les gongs de la région sont achetés dans les pays voisins et accordés afin dobtenir la tonalité souhaitée et den faire leur propre instrument.
Les mutations économiques et sociales ont bouleversé le mode de vie traditionnel de ces communautés et ne fournissent plus le contexte originel de la culture des gongs. La transmission de ce mode de vie, des connaissances et savoir-faire a été particulièrement perturbée pendant les décennies de guerre du siècle dernier. Aujourdhui, le phénomène est aggravé par la disparition des vieux artisans et lintérêt croissant des jeunes pour la culture occidentale. Privés de leur signification sacrée, les gongs sont parfois vendus comme matériau recyclable ou échangés contre dautres produits.
Pays: Viet Nam