TRỌNG THÀNH / RFI :Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ? (phỏng vấn GS Trần Quang Hải, NS Đặng Hoành Loan), 6 tháng 3, 2013


Thứ tư 06 Tháng Ba 2013
Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ?
Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp – Việt. Trong năm này, sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ? Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?

Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại, việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây nói chung ngày càng được chú ý.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền. Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm 2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây Nguyên.

Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải. Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những gì trung thực nhất với truyền thống.

Trung thực với truyền thống : Điều công chúng phương Tây mong đợi

RFI : Xin ông cho một số điều lưu ý để quảng bá tốt nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ra bên ngoài.

Ông Trần Quang Hải : Điều thứ nhất là muốn đi quảng bá, thì phải tuyển lựa những nghệ nhân có trình độ cao, và làm đúng theo truyền thống. Đừng có nên, vì cái thị hiếu, muốn vui lòng người Âu Châu, mà pha trộn những khía cạnh gọi là « giao lưu văn hóa », thì sẽ đi đến chỗ làm cho người Pháp sẽ thất vọng. Tại vì, họ muốn tìm hiểu những cái gì gọi là nguyên xi và trung thực với truyền thống, hơn là để làm vui nhộn, theo những hình ảnh múa, theo kiểu vũ đạo, để đệm cho những bài hát.

Ông Trần Quang Hải

06/03/2013

Theo như tôi thấy, ở Việt Nam bây giờ, có xu hướng những bài hát dân gian, những bài hát dân tộc gọi là « canh tân hóa », thêm vào những tiết mục, thêm vào những điệu hòa âm, phối khí, vũ đạo đệm vào mất đi tính chất nguyên xi của một truyền thống nào đó. Thành ra cái đó rất uổng. Nếu chúng ta hiểu biết được cái đòi hỏi của người Tây phương, thì chúng ta sẽ làm những chương trình đúng theo tiêu chuẩn. Tại vì tôi thấy rằng, các xứ khác, giống như xứ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, khi họ đi sang Tây phương, họ trình diễn các tiết mục đúng theo truyền thống, chứ không phải có những màu sắc, màu mè, hay làm cho chương trình nó được hoành tráng.

Nghệ thuật của chúng ta không phải là nghệ thuật sử dụng đa âm, tức là polyphonie, hay là các điệu màu mè, mà chúng ta cần làm những loại nhạc đơn điệu, tức là monodie, chú trọng đặc biệt đến khía cạnh gọi là dịu dàng, tha thiết, và đặc biệt là lồng vào trong loại nhạc ngũ cung và những truyền thống mà chúng ta phải phát triển nhiều hơn.

RFI : Xin ông cho biết một thí dụ cụ thể.

Ông Trần Quang Hải : Ví dụ như trong điệu hát quan họ. Ở xứ Việt Nam, quan họ có ba loại. Thứ nhất là quan họ chay, tức là quan họ làng, hát ở trong làng và hát theo đúng truyền thống, có lễ kết nghĩa, tục ngủ bọn, và hát những kỹ thuật gọi là « vang, rền, nền, nảy ». Phải chú ý, phải học nhiều năm, chứ không phải học vài bài, theo như tôi được nghe ở xứ Việt Nam bây giờ. Thứ hai là có quan họ đoàn, tức là những bài dân ca quan họ, đã được đổi đi một chút, tức là theo điệu thanh nhạc. Cái đó có thể là mới mẻ đối với người Việt Nam. Cũng như hội Lim – một hội rất lớn về quan họ vào dịp Tết, nhưng có điều bây giờ ở Việt Nam lại đưa ra cách gọi là « hát du thuyền ». Tức là người quan họ, ngồi trên thuyền, dùng máy vi âm, hát to lên, rồi đi dọc theo bờ sông, rồi đưa cái nón lá ra, để hứng tiền người ta thảy vào trong đó. Cái đó là hình thức đi xin tiền, giống như hát xẩm ngày xưa, thì cái đó là đi sai đường lối. Hay là, hát thật nhiều giọng với nhau, thì hoàn toàn sai. Vì quan họ là chỉ hát, một cặp nữ đối với một cặp nam. Thành ra, vấn đề chúng ta phải phát triển là làm sao hát không có đệm nhạc, hát mà không có làm rùm beng, mà làm sao cho thấy cái kỹ thuật hát nó đi đến cái chỗ rất đặc biệt, mà bên Châu Âu này không có. Đó là cái mà tôi thấy rằng mình nên thận trọng khi đi biểu diễn ở xứ ngoài.

Cái vốn cổ phải giữ làm căn bản

Mình tự hào về cái vốn cổ của mình, thì mình phải làm sao giữ cho được đúng theo truyền thống, thì tôi thấy là hay nhất, chứ không có gì phải thay đổi hay biến chế, đặng cho nó hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Cái vốn cổ của mình, mình giữ cái đó đi, làm căn bản. Ngoài ra, có những sự phát triển, thì mình để cho phát triển. Cái căn bản mình phải giữ hoài, thì từ đó nó mới đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Chứ bây giờ, mình lo mình phát triển mà quên đi cái nguồn gốc, cái vốn cổ, thì dần dần sẽ mất đi, sẽ không còn là vốn cổ nữa.

Tôi muốn lưu ý rằng, khi muốn đưa một đoàn hát, hay đoàn nghệ thuật sang ngoại quốc, thì chúng ta phải ý thức rằng, làm sao đưa nghệ nhân nào có trình độ cao, và hát đúng theo truyền thống, chứ đừng đưa những người trẻ đẹp, mặc quần áo cho thiệt đẹp, đi lên sân khấu để trình diễn. Đối với mình, cái vấn đề nghệ thuật là căn bản, chứ không phải là màu sắc. Làm sao những nghệ nhân (đi quảng bá) phải là những người có căn bản vững chắc, có thể, khi trình diễn ở hải ngoại, đáp ứng được những cái gì mà người Tây phương chờ đợi, tức là sự trung thực với truyền thống.

Di sản xưa và quan họ hôm nay

Ở trong nước, cũng cùng mối lo ngại với ông Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiển nhấn mạnh đến việc « di sản quan họ đã thực sự mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước », mặc dù di sản này vừa được Unesco nhìn nhận. Bên cạnh đó cũng có quan điểm, như của nhà nghiên cứu Trần Minh Chính, thì cho rằng : Cần phải thừa kế tối đa các tinh túy của di sản, nhưng điều cốt yếu nhất là tạo dựng được « nền văn hóa quan họ của ngày hôm nay ». Theo ông Trần Minh Chính, « con người quan họ, nhất là lớp trẻ, bắt đầu lúng túng với cảnh ‘‘bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước…’’ ».

Những nghệ nhân – người lưu truyền các « di sản sống » – suy nghĩ như thế nào về văn hóa quan họ ngày hôm nay ? Sau đây là một số chia sẻ của chị hai Thềm (Bắc Ninh), một nghệ nhân nổi tiếng xứ Kinh Bắc :

Chị Nguyễn Thị Thềm

06/03/2013

Chị hai Thềm : Thật ra trong lối chơi quan họ, phải là những người nào rất tâm huyết mới theo được lối chơi này. Bởi vì, chơi quan họ ngày xưa, người ta ý tứ khiêm nhường, mà người ta lịch sự, tinh tế lắm. Ví dụ như, đi hát cả một buổi tối ở « nhà chứa », thì nam ngồi một bên, một bên nữ ngồi, cái ngọn đèn dầu ở giữa, thì có khi hát cả tối có khi không nhìn thấy mặt nhau. Đấy là những cái tinh tế và những cái rất là khác biệt với những loại hình ca hát khác. Ví dụ như ngày xưa, chơi thì đúng thực là chơi tàn canh, rạng sáng. Hát suốt đêm đến rạng sáng, rồi nghỉ, rồi lại hát tiếp. Nhưng mà đấy là theo như thời ngày xưa, còn theo như bây giờ, thì cũng không hát được như thế, vì xã hội bây giờ, cái công việc nó cũng không cho phép mình được chơi bời như thế. Ví dụ trong khuôn khổ hạn hẹp một đêm thôi. Ví dụ như ngày xưa các cụ chơi, các cụ giữ lề, giữ lối, các anh hai, chị hai, chơi với nhau gọi là tình tứ, tình cảm lắm, yêu vụng, nhớ thầm, chứ không như bây giờ, họ đi chơi bời với nhau, có khi đi tới hôn nhân, nhưng ngày xưa các cụ chơi kết chạ các cụ không như thế đâu.

Bây giờ, chúng tôi ở đây, cốt lõi là mình phải gìn giữ những gì cổ, nhưng đồng thời vẫn dạy cho các em những cái phát triển lên, là nó phải lồng nhạc vào, để nó biểu diễn trên sân khấu, ví dụ như ở trong tỉnh, mở những cái cuộc liên hoan tiếng hát của các em bé chẳng hạn, thì mình phải đưa lên sân khấu, mình phải lồng nhạc. Các em mà cho ngồi hát ê a, như tôi và các cụ, thì các em cũng chưa hát được. Cho nên bây giờ cũng khuyến khích các em phải học quan họ nhiều, thì mình phải có các bài hát của lứa tuổi thiếu nhi hoặc mình sáng tác thêm những lời mới, đưa các em để tham gia sân khấu biểu diễn liên hoan.

Còn đồng thời mình vẫn dạy thêm các em những cái gì của vốn liếng cổ của mình, mình vẫn cứ giữ.

Càng thêm bạn, càng thấy cần phát huy lối chơi cổ

Tiếp theo đây là tiếng nói của anh hai Hiển (Bắc Ninh), một liền anh được lớn lên trong một gia đình nhiều đời theo quan họ :

Anh hai Hiển : Tôi được đắm mình trong dòng sữa dân ca. Thứ nhất là tôi học lối chơi quan họ, sau là tôi học hát quan họ. Từ đó, tôi đã có sự tâm huyết rồi. Cứ mùa trảy hội, là tôi đi các làng tôi trảy hội, du xuân. Từ đó tôi được kết bạn rất nhiều, các quý vị từ các tỉnh, thành đến với tôi. Tôi có cảm nhận là cuộc đời tôi cứ mỗi năm tôi lại vui thêm lên, nhân rộng lên, do là tôi được đi ra ngoài, tôi biết ứng xử quan họ, tôi cũng biết cách hát quan họ với du khách. Từ đó du khách thân thiện với mình hơn. Cứ lệ làng là các du khách đều hứa hẹn, hẹn hò sẽ về quê hương của chúng tôi. Thứ nhất là để biết cảnh hội, thứ hai là để tìm hiểu cái nét văn hóa ẩm thực nơi đây.

Ông Ngô Công Hiển

06/03/2013

Tôi cũng rất tự hào là xung quanh hàng xóm, hoặc dân làng cứ ca ngợi là tôi được đi ra ngoài lắm bạn bè về, cũng chẳng phải học cùng, chẳng phải họ hàng gì cả, mà cứ ngày hội là đông chật ních hết cả nhà. Nhưng mà người ta chỉ biết là tôi chơi rộng và quan hệ thôi, nhưng mọi người cũng chưa biết cái sâu sắc của người chơi quan họ như thế nào. Cứ một năm đi trẩy hội là tăng thêm bạn bè lên, rồi các du khách từ xa đến nhiều hơn, từ đó tôi nghĩ là mình càng phải phát huy, làm sao càng phải tìm hiểu, phát huy được cái lối chơi càng nhiều hơn nữa.

Vì đi ra ngoài, tôi ít gặp được các bậc tiền bối có cái lề lối chơi như ngày xưa. Bây giờ các bậc tiền bối hầu như đã mất rồi. Những bậc từ 80 trở lên còn rất ít. Được gặp thì tôi cũng hay hỏi, hay lân la tìm hiểu các cụ ngày xưa chơi quan họ như thế nào, những lời văn nào hay hay, thì mình lại tiếp thu. Tôi tâm huyết là giữ được những lời văn như thế, để truyền cho thế hệ sau.

Dịch vụ quan họ trong thời hiện đại

Các tỉnh cũng có những ngày lễ, ngày hội, người ta nhờ về xây dựng cho một buổi tối vui liên hoan văn nghệ cho dân làng, hoặc chương trình chúc thọ, người ta cũng muốn nghe những làn điệu dân ca quan họ, rồi đám cưới, rồi tân gia, nhà mới, khách sạn… Nói chung họ đều sử dụng dòng nhạc dân ca này. Thì chúng tôi gặp chương trình nào, thì chúng tôi dàn dựng theo đề nghị của khách hàng.

RFI : Còn cái lối chơi quan họ, thì nó có thể hiện qua các chương trình này không ?

Anh hai Hiển : Không. Nếu lối chơi quan họ cổ mà mang ra các tỉnh bạn, thì họ không hiểu, họ chưa hiểu, thì mình cảm giác như là bị « cô đọng lại ». Cái lối chơi cổ tôi chỉ mong gìn giữ được ở vùng quê Kinh Bắc thôi. Thời hiện đại này, mình… những bài cổ thì họ có hiểu đâu, mà không hiểu, thì mình mang ra cũng bằng thừa thôi, cho nên nó khác nhau là như thế. Thời hiện đại mình chỉ mang những lời ca mới, cũng theo điệu quan họ, nhưng lời mới là nhiều.

Thật sự là thế này. Bây giờ là thời hiện đại, chúng tôi đi chơi xuân, « làm chương trình », chúng tôi cũng phải có chút hoa hồng mới làm được. Thứ hai là chúng tôi cũng phải bảo đảm cuộc sống gia đình, có đúng không ? Tất nhiên là thời hiện đại, « vấn đề nào » có tiền là bọn tôi làm.

Lề lối xưa mộc mạc, nhưng mà ngấm

Nhưng mà tôi rất thích và mong muốn giữ được lề lối chơi quan họ ngày xưa, để giữ và phát huy được lối chơi cổ : Ăn quan họ, nói quan họ, rồi cười quan họ… đủ kiểu mới gọi là chơi quan họ. Chứ không phải (chỉ) là biết hát quan họ, mà đã vào chơi. Mình nghĩ là làm sao giữ được các lề lối, lấy những ngôn ngữ, lời văn, ý hay ngày xưa, tuy rằng rất mộc mạc, nhưng mà chứa đựng được rất chi là nhiều cái tình trong cái lời nói đó. Thì mới có cái ngấm.

Còn hiện đại bây giờ, theo nhạc, theo mix. Do cái trào lưu, thì cái dòng dân ca quan họ này rất phát triển và lan tỏa, cho nên là, nếu như không có nhạc, không có mix, thì ra không gian rộng, thì cũng không tỏa được hết.

Tôi mong các quý vị bên ấy, làm sao có cái thông điệp tôn vinh, có những cái tạo điều kiện, về vùng quê Kinh Bắc. Hát quan họ thì đã đành rồi, nhưng xây dựng được cái lối chơi quan họ mới là cái điểm nhấn. Tại sao bây giờ chúng tôi đi, kể cả các du khách mời chúng tôi đến các nhà hàng, khách sạn, chúng tôi cũng phải nói những lời của các cụ ngày xưa, có khi các du khách cũng chưa được nghe bao giờ.

Thật ra là, nếu (thế hệ) chúng tôi mà không (tiếp nối) nữa, thì may ra chỉ có ngọn, còn gốc không biết ở đâu, trôi đến đâu. Tôi chỉ lo là do điều kiện, do xã hội nó đưa đẩy, do họ không để ý nữa, thì… Mong phải có những gì để giữ gìn, phát huy, bảo tồn… cho thế hệ sau này mới còn cái gốc. Lo là thế thôi, nhưng chúng tôi vẫn còn ở đây, thì cái lối chơi vẫn có, vẫn còn.

Cách tân nghệ thuật truyền thống : mâu thuẫn giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý

Khép lại chương trình là tiếng nói của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan từ Hà Nội. Ông Đặng Hoàng Loan giới thiệu hai quan điểm đối lập nhau về vấn đề tiếp nối truyền thống quan họ, cũng như nhiều môn nghệ thuật cổ truyền khác, tại Việt Nam. Không phải nghệ thuật cổ truyền nào cũng sẵn sàng cho việc cách tân. Trong thời gian gần đây, có nhiều thử nghiệm cách tân di sản nghệ thuật cổ truyền đến từ chính bản thân những người lưu truyền di sản, đặc biệt trong một số môn nghệ thuật mang tính tín ngưỡng như : hát văn, hát then…

Ông Đặng Hoành Loan : Cách nhìn của tôi cũng tương đối thống nhất với một số học giả ở Việt Nam hiện nay, thế nhưng nó lại không thống nhất lắm với các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt những nhà gọi là « văn hóa quần chúng ». Thực hiện cái « văn hóa quần chúng » hiện nay, thì có hai ý kiến khác nhau. Cái ý kiến thứ nhất, nói rằng là phải giữ nó trong không gian văn hóa truyền thống, và tất cả các sinh hoạt của nó là phải theo phương thức truyền thống. Thì cái đó nó căn cứ theo yêu cầu của Unesco là, cái hiện tượng văn hóa ấy nó phải là tập tục sinh hoạt có từ thời xưa và được bảo tồn trong đời sống cộng đồng cho đến ngày nay, vì thế gọi là nó có « gốc gác » và nó có tính truyền thống của nó. Cái thứ hai nữa là, cùng với tính truyền thống đấy, (vấn đề là) con người Việt Nam hiện nay còn yêu thích nó không và thích sinh hoạt theo lối đó không, thì cái hồ sơ quốc gia phải trả lời rất minh bạch. Thì đấy là cái quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng rất chính xác. Năm ngoái, có một cuộc hát quan họ với sự tham gia của hàng nghìn người, thì người ta cho rằng đấy là « phi truyền thống » và làm mất đi cái tính nghệ thuật, tính âm nhạc của chính bản thân quan họ.

Ông Đặng Hoàng Loan

06/03/2013

Thế nhưng các nhà văn hóa quần chúng hiện nay, thì họ cho rằng bây giờ phải làm như thế, thì mới đưa được âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật cổ truyền vào đời sống con người hiện đại. Mà muốn đưa được vào đời sống con người hiện đại, thì họ cho rằng phải cách tân. Cách tân tức là cho nó đông người lên, cho nó sinh hoạt với đầy đủ các thiết bị hiện đại. Thứ hai là phải tạo cho nó những sân khấu lớn để nó có thể được trình diễn trên đó. Hiện nay hai việc đó vẫn cứ tồn tại và vẫn có những ý kiến trái ngược. Hiện nay đây là một mắc mớ khó giải quyết ở Việt Nam.

Đối với nghệ nhân, người ta rất thích trở lại cái không gian truyền thống, mà người ta hát nhỏ nhẹ trong nhà, trong các sinh hoạt nhỏ, vì nó vẫn thể hiện được toàn bộ cái tình cảm, cái nội tâm của họ đối với nhau. Vì thực sự ra, chúng ta biết, quan họ sinh ra để hát trong tất cả các tập tục giao tiếp, tình cảm con người ở Kinh Bắc, chứ nó không phải là một trình diễn nghệ thuật, với người thưởng thức và người ca hát. Hiện nay, chính cái điều mà các nhà nghiên cứu không tán thành lắm, tức là quan họ biến thành nghệ thuật trình diễn. Có nhiều ý kiến cho rằng như thế nó không đúng với truyền thống mà bản thân nó có từ xưa đến nay.

Riêng ý kiến của tôi, thì tôi cho rằng, người dân, nghệ nhân dân gian người ta muốn giữ lại tất cả những gì mà họ biết được từ xưa đến giờ. Họ rất thích trong việc họ gìn giữ, biểu diễn những nghệ thuật đấy đúng như thời xưa. Cho nên, phần lớn khi chúng tôi tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân, thì các cụ nói, bây giờ làm mới nó đi, thì không biết để làm gì ? Vì nếu mới, so với mới hiện nay, thì không mới được, còn so với cái cũ, thì không cũ được. Thì như thế là, nó nằm ở lưng chừng. Đấy là ý kiến của nghệ nhân.

Chúng ta biết rằng, năm nay các cụ quan họ rất thích tự hát với nhau, để tìm đời sống tinh thần thưở xưa mà nó còn tồn tại lại trong tâm hồn của họ. Thì tôi cho là giữa nghệ nhân, giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hiện nay đang chưa có được một cái nhìn thống nhất, toàn diện về cổ truyền và cách tân, chính xác là như thế.

Hát văn, hát then : Nghệ nhân tự cách tân để thu hút công chúng

RFI : Vậy trong các môn nghệ thuật cổ truyền khác ở Việt Nam có sự cách tân hay không ?

Ông Đặng Hoành Loan : Những nghệ thuật « tâm linh » (tín ngưỡng) như là hát văn, hát then… thì lại được bảo lưu rất là tốt. Thì người ta lại không cách tân mấy, thì chính là tự các nghệ nhân, những người hành nghề, người ta cách tân, chúng ta thấy hiện tượng tự cách tân rất lớn. Các nghệ thuật ấy, thì bên ngoài không cách tân nó được, nhưng tự nó thay đổi nó, thì thay đổi được. Thí dụ như, hát văn bây giờ, người ta đưa nhạc cụ mới vào, tức là đưa cả đàn organ vào. Nghệ nhân người ta đưa vào thôi, chẳng ai bảo người ta cả. Người ta đưa thêm những bài hát mới vào. Như thế tức là người ta tự vận động, không ai yêu cầu họ cả. Họ tự vận động với mục đích kéo những người yêu thích cái nghệ thuật ấy (và tín ngưỡng ấy) đến gần nghệ thuật ấy hơn, họ làm cho hấp dẫn hơn. Có nhiều nhóm hát văn đã tạo ra nhiều điệu hát, nhiều âm nhạc khác nhau.

Tôi cho rằng, để cho nghệ nhân họ tự thay đổi, thì hay hơn tác động (từ bên ngoài), vì thường tác động, thì nó biến đổi theo chiều hướng khác. Để cho các nghệ nhân làm, thì tốt hơn là « chúng ta » tác động và tổ chức, vì thường nó sai lệch đi nhiều.

RFI xin chân thành cảm ơn anh Ngô Đức Hiển, chị Nguyễn Thị Thềm, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

TÂN LINH : Nhớ bà Hà Thị Cầu: Người đàn bà hát rong qua 2 thế kỷ, VIETNAM 2013


(Thethaovanhoa.vn) – Gần 90 tuổi, hơn 75 năm đem lời ca điệu đàn dân dã mua vui cho công chúng bình dân, người đàn bà ấy đã hát qua 2 thế kỷ. NSƯT độc nhất vô nhị, người đàn bà hát 3/4 thế kỷ ấy là Hà Thị Cầu – nghệ sĩ của một bộ môn nghệ thuật đang đứng trước nguy cơ thất truyền – nghệ thuật hát xẩm. Cuộc đời và tâm sự của bà thật lạ và thật buồn… Nhưng cuộc đời ấy đã dừng lại vào trưa 3/3…

Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu từ trần

Chừng 10 năm trước, tôi tìm về cái thị tứ nhỏ bé có tên chợ Lồng, xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình để cùng bạn tôi thăm “U”, tức NSƯT Hà Thị Cầu. Ngôi nhà của bà có lẽ là ngôi nhà nhỏ bé nhất trong những ngôi nhà ở vùng quê yên ả ấy. Nhà bà thông với đường làng, không cửa, không ngõ gì hết. Ai cũng có thể ghé vào trò chuyện với người nghệ sĩ già. Tôi bước vào cửa, cất tiếng “Chào NSƯT…”.

Một kiếp cầm ca

Chiều cuối Đông, câu chuyện đời hát rong của người nghệ sĩ già đã giữ chân tôi trong căn nhà nhỏ trống huơ trống hoác ấy. Tài sản duy nhất là một chiếc giường cũ kỹ và một cái đài bán dẫn cũng cũ kỹ…

Bà kể: “Năm lên 10 tuổi, tôi đã bắt đầu theo bố mẹ đi hát rong. Xưa gọi là nghề hát xẩm, lấy đầu đường xó chợ làm sân khấu mua vui cho người bình dân. Bố mẹ, con cái cứ thế dắt díu nhau lang thang ra tỉnh, về thành. Trống, nhị phách và lời ca bẩm sinh làm nghiệp, kiếm sống bằng đồng tiền lẻ thiên hạ bố thí.

Năm 16 tuổi tôi lấy chồng, ông cũng là người hát xẩm. Năm ấy chánh trương Mậu đã 49 tuổi. Ông cai quản cả vùng nên thu nạp tôi, bắt làm lẽ… Đò nát đụng nhau. Tôi thành vợ thứ…18 của ông ấy như thể một duyên phận vậy thôi. Đời đi hát rong mà”.

Người đẹp Trà Ngọc Hằng trong một lần đến thỉnh giáo nghệ nhân Hà Thị Cầu

Bà ngừng kể, bỏm bẻm nhai trầu rồi tiếp: “38 tuổi chồng chết. 7 lần sinh, 3 đứa còn sống. Một nách 3 con tôi tìm về quê chồng sống qua ngày đoạn tháng. Cái đận đói phải cho đi một đứa làm con nuôi người ta… Không sống nổi đất quê chồng, mẹ con lại dắt díu nhau đi hát khắp vùng, vào tận Thanh – Nghệ – Tĩnh, lên Hà Đông – Sơn Tây, Đồng Đăng – Kỳ Lừa, Bắc Cạn – Thái Nguyên…

Giọng bà trong trẻo mượt mà, nhưng lời ca thì não nề và tiếng đàn nghe sởn cả gai ốc. Bà kể: “Nếu là văn công thì nghỉ hưu lâu rồi đấy. Còn tôi nhân dân có cho tôi nghỉ đâu (cười) nên giờ còn phải hát. Chả ai đào tạo, chả ai đạo diễn, bẩm sinh trời cho cái giọng, cái tay đàn. Một chữ cắn đôi không biết, một nốt nhạc cũng không biết, thế mà được Nhà nước phong cho nghệ sĩ ưu tú đấy” . Bà cười.

Rồi lại tiếp: “Đời hát xẩm buồn lắm, bạc lắm. Hết đi hát về làm ruộng. Hồi hợp tác xã, thì hát cho văn nghệ xã, hưởng … thóc. Tôi từng đi thi thố cấp huyện, cấp tỉnh, cấp trung ương, rồi ra hát cả nước ngoài… giành không biết bao nhiêu huy chương, giải thưởng, vàng bạc cho làng, cho nước…”.

Nói rồi bà chỉ cho tôi xem từng tấm huy chương, từng tấm bằng khen hoen ố trên tường. Có cả Huy chương vì sự nghiệp VHNT. Tôi thầm nghĩ, đây có lẽ là thứ duy nhất đặng an ủi, nâng bước người nghệ sĩ già.

Và tâm sự của người  hát rong

NSƯT Hà Thị Cầu có lẽ là người nghệ sĩ duy nhất sống nhờ nghề… hát rong. Bà bảo: “Tôi sống được đến hôm nay là nhờ cô Mận, con gái tôi. Thiếu ăn thì “nó” chạy chợ buôn rau quả đỡ đần thêm. Hồi trước em nó từng đi công nhân lên tận trên Lào Cai. Có thằng người Dao mê mệt, nhưng rồi thương tôi đau yếu, già cả đơn chiếc, nó bỏ về… Nghĩ thương con nhỡ thì tội nghiệp, đôi khi tôi định bỏ lên tàu đi hát kiếm sống. Nhưng nghĩ lại, nhà nước phong danh hiệu nghệ sĩ cho mình, lại thôi. Đận đi diễn bên Trung Quốc về, tôi được bà Phạm Thị Thành đón lên Hà Nội nhận danh hiệu NSƯT…”.

Ai về thăm cũng hứa sẽ đề nghị Nhà nước có chế độ trợ cấp, giúp đỡ. Nhưng rồi toàn là người đi không trở lại… Bà nói trong nước mắt: “Chỉ sợ nhỡ mai tôi “tắt” rồi còn chưa thấy gì”.

Bà kể: “Tôi già cả rồi, hay đau yếu, ngặt nỗi chẳng có tiền. Những lúc ốm đau thì … xoa cao sao vàng. Còn ăn thì rau dưa qua ngày, chỉ mong đến bữa có chén rượu, ngày ba chén mà không có đủ. Trầu thuốc cũng tốn tháng năm bảy ngàn nữa…”.

Bà ngồi đó nhai trầu, tay trống tay phách, miệng hát. Lời ca buồn. Lại dừng tay bảo: Mấy năm nay tôi gọi các cháu lại, dạy chúng. Không cần tiền gì sất, tí tình thôi, mà “chúng nó” không thích nữa rồi thì phải…

“Vô cổ bất thành kim”. Không biết sau này có còn ai nhớ đến xẩm. Trung tâm Bảo tồn phát huy nghệ thuật dân tộc có lần đã vinh danh giọng xẩm của bà. Nghĩa cử ấy, cùng số tiền giúp đỡ bà đã ít nhiều an ủi người yêu mến nghệ thuật dân tộc. Rồi bà được phong thêm cái danh hiệu nữa đó là Nghệ nhân dân gian. Thật hiếm có người hát rong nào được mang cái danh hiệu cao quý như vậy.  

Thứ xẩm Hà Thị Cầu là xẩm cổ điển còn sót lại. Tôi từng rong ruổi khắp trong Nam ngoài Bắc, nghe những người hát rong kiếm sống, nhưng không nơi đâu còn xẩm chợ cổ điển nữa. Những người hát rong mà người đời gọi chung một tiếng là xẩm ấy chỉ biết ca những bài tân nhạc mùi mẫn…

Sự cô đơn của thân phận người hát rong không làm bà buồn. Nhưng nỗi buồn lớn lao hơn của người nghệ sĩ lúc ấy là một mình níu giữ cả một nghệ thuật. Bà ngồi đó bên gốc bàng cạnh chợ Lồng. Ai biết được bao nhiêu vui buồn trong kiếp người hát rong 3/4 thế kỷ. Cái “kiếp giời đày” như bà nói cũng sẽ đến lúc dừng. Đời người hữu hạn. Chỉ có tiếng hát ở lại với nhân gian…

Nhưng bây giờ bà lại đã đi rồi. Tôi qua từ Ninh Bình bạn tôi gọi điện bảo: “U đi rồi”. Tôi chắp tay cúi đầu tiễn biệt người nghệ sĩ của bộ môn nghệ thuật gắn với đời sống dân dã này. Bên tôi lúc này vẳng những câu thơ Lương Thế Phiệt về phận người hát xẩm:

Rứt từ gan ruột nát nhàu

Bà tôi chắp lại thành câu xẩm buồn

Chết thì bó chiếu mà chôn

Đồng chinh xấp ngửa gọi hồn xác xao

Tiếng đau như cấu như cào

Hồn cha ông những tác tao một thời

Bây giờ từng tiếng xẩm rơi

Vẫn như xa xót kiếp người quanh ta

Tân Linh
Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nho-ba-ha-thi-cau-nguoi-dan-ba-hat-rong-qua-2-the-ky-n20130305043709534.htm

LÊ TÂM : “Báu vật” Hà Thị Cầu: Khổ một đời, chưa ngừng yêu, VIETNAM 2013


“Báu vật” Hà Thị Cầu: Khổ một đời, chưa ngừng yêu

Thứ Hai, 04/03/2013 08:12 | In trang nàyIn bài viết

Bà Cầu đã sống một đời với những câu hát xẩm, lang thang từ vùng này sang vùng khác, sống nhờ những đồng tiền, củ khoai mà người dân nghèo vì cảm phục tiếng hát, tiếng đàn của bà mà đùm bọc, san sẻ.

Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu từ trần

Lúc 12 giờ 30 ngày 3/3, Nghệ nhân Hát xẩm Hà Thị Cầu đã trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà Yên Mô, Ninh Bình.

Trước Tết Quý Tỵ 2013, Nghệ nhân Hà Thị Cầu đã yếu lắm rồi, những đoàn nghệ sĩ và cũng là học trò của bà từ Hà Nội về thăm, có người bà còn chẳng nhận ra, nhưng với đạo diễn Lương Đình Dũng – người duy nhất đã từng làm một bộ phim tài liệu về bà mang tên “Xẩm đỏ” thì bà nhớ.


Nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Đạo diễn Lương Đình Dũng nhớ lại: “Trước tết, nghe tin bà ốm, chúng tôi xuống thăm, lúc đó bà đã rơi vào trạng thái mê mê tỉnh tỉnh, nhưng khi tôi cầm tay bà, gọi: “Bà ơi” thì bà vẫn mở mắt và nhận ra tôi, bà nói: “Dũng à?”. Chỉ một câu đó thôi rồi lại chìm vào cõi mê. Lúc đó tôi thương bà lắm, người nghệ sĩ như bà một đời chỉ có tiếng hát, vậy mà bây giờ nằm một chỗ, không nói được, không hát được, không cầm được cây nhị, thì hỏi còn gì để mà thiết tha nữa đây?”.

Anh Dũng nói với chúng tôi, trưa 3/3, anh được con rể bà Cầu và nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Bùi Trọng Hiền thông báo về sự ra đi của bà. Từ lúc nghe tin, một sự hẫng hụt và tiếc nuối xâm chiếm cảm xúc của anh, tiếc vì một báu vật nhân văn sống như thế rồi cũng không chống lại được sự hữu hạn của đời người…

Cách đây hơn 2 năm, lúc đó bà Cầu còn hát được, dù tuổi đã cao nhưng giọng vẫn trong vắt, vẫn vang, nẩy, bà đã đồng ý để đạo diễn Lương Đình Dũng làm phim tài liệu về mình. Làm phim về bà mới thấy đời bà sao mà khổ thế, anh Dũng hỏi: “Bà ơi, sao bao nhiêu môn nghệ thuật khác bà không chọn, lại chọn cái môn xẩm để rồi nghèo khổ cả đời thế này?”. Bà cụ trả lời anh chỉ bằng một câu thôi, mà từ đó anh nhớ mãi: “Tham làm gì con?”.

Bà Cầu đã sống một đời với những câu hát xẩm, lang thang từ vùng này sang vùng khác, sống nhờ những đồng tiền, củ khoai mà người dân nghèo vì cảm phục tiếng hát, tiếng đàn của bà mà đùm bọc, san sẻ. Người đàn bà khổ một đời, nghèo một kiếp, thế nhưng chưa lúc nào ngừng yêu tiếng hát xẩm, chưa lúc nào không ngớt lo, khi bà phải rời xa cuộc sống này, sẽ lấy ai tiếp tục để nối dài những tiếng hát mà cất lên là đã thấy buồn thương: “Mặt nước cánh bèo, bấy lâu nay mặt nước lại cánh bèo. Đã từng lưu lạc, đã từng lưu lạc để nhiều điều vất vả gian truân. Ông trời cao có thấu tình chăng. Trời mấy cao có thấu tình chăng. Đời người mấy lúc gian truân mà già…”.
Theo Lê Tâm
Dân Việt

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/bau-vat-ha-thi-cau-kho-mot-doi-chua-ngung-yeu-n20130304081228725.htm

nhạc sĩ DÂN HUYỀN : Nhớ lần đầu thu thanh giọng hát nghệ nhân Hà Thị Cầu , VIETNAM 2013


Nghệ nhân Hà Thị Cầu là người đầu tiên hát xẩm trong chương trình “Dân ca và nhạc cổ truyền” trên làn sóng phát thanh quốc gia.

Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu từ trần

Trong cuộc họp giao ban đầu xuân năm 1967, nhà báo Trần Lâm – Tổng Biên tập của Đài Tiếng nói Việt nam (VOV) lúc bây giờ đã nhắc chúng tôi cần nhanh chóng đưa thêm hát Xẩm trong chương trình Dân ca và Chèo. Chỉ sau 3 ngày một đoàn gồm có Phạm Tuân (Trưởng ban Văn nghệ), Hoàng Điền (chồng nghệ sỹ Như Hoa), Hồ Tăng Ấn (Hoàng Tấn) và tôi cùng anh Nhi (lái xe) xuôi Ninh Bình.

Được sự hướng dẫn tận tình của anh Hoài Long (biên tập văn nghệ) ở Đài Phát thanh Hà Nam Ninh, chúng tôi có mặt ở xã Yên Phong, huyện Yên Mô. Vì đã hẹn trước nên khi đến nơi chúng tôi thu thanh ngay. Bà Cầu hơi hồi hộp, nhưng khi “nhấp” một ngụm rượu rồi hắng giọng cầm cây nhị là như “súng nổ liên thanh” – lời ông Phạm Tuân.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu trên giường bệnh những ngày cuối năm Nhâm Thìn 2012 (ảnh: Nghĩa Lương)

Bà hát cho chúng tôi nghe nhiều bài xẩm. Khi thì kéo nhị, lúc thì tay phải gõ trống, tay trái gõ nhịp sênh. Giọng hát khỏe, vang quyện với tiếng nhị réo rắt đầy quyến rũ. Chúng tôi thấy bà trình diễn như một sự lao động cật lực của người nông dân trên đồng ruộng. Vai vắt chiếc khăn để quệt mồ hôi trán, hoặc lau miệng khi nhai trầu.

Ông Phạm Tuân sợ bà mệt nên nhắc chúng tôi chỉ thu thanh 5 điệu hát: Huê tình, Hà liễu, Ba bậc, Thập ân, Hành vân. Ông Hồ Tăng Ấn cứ muốn thu nhiều bài hơn để về ông còn chép lời ra để cho lớp trẻ hát, mặc dù trong tay ông đã có nhiều bài hát xẩm mà ông sưu tầm được ở Hà Nội. Chúng tôi thích nhất là bài “Xẩm thập ân” kể về công lao của cha mẹ mà bà vừa thu xong. Lời văn hay quá, cứ thích nghe đi nghe lại:

“Mẹ mới có thai kể từ một ân thì con ơi mẹ mới có thai

Âm dương nhị khí để nào ai biết gì

Trong lòng thì con ơi mẹ chịu những sầu bi

Mẹ thì cay đắng, vất vả, mẹ thì héo hon

Bữa cơm ăn mẹ chẳng biết ngon

Con ơi lòng mẹ chua xót về con đêm ngày”…

 

Trong bữa ăn trưa do chúng tôi “chiêu đãi” sau khi gửi bà một chút tiền tạm gọi là “nhuận mồm” – như lời bà nói vui. Đây cũng là một dịp nghe bà kể chuyện đời, chuyện nghề.

Bà Cầu lấy chồng năm 16 tuổi. Bà bảo: “Khi ấy tôi xinh đẹp chả kém ai. Ông Mậu nhà tôi hồi đó làm trùm 6 gánh hát ở Ninh Bình. Tôi đi hát xẩm thì gặp ông rồi theo ông, bằng lòng làm vợ thứ 18 trong cuộc đời ông, thôi thì… “Thà rằng lấy chú xẩm xoan/ Công nợ không có, hát tràn cung mây”. Lúc đó ông ấy đã 49 tuổi rồi, là người to cao vạm vỡ, mặt có nhiều vết rỗ vì bệnh đậu mùa. Tôi theo chồng đi hát rong khắp nơi. Tôi có với ông ấy 7 đứa con.

Dọc đường lang thang mất 4 đứa cũng vì bệnh đậu mùa. Tôi thấu hiểu nỗi đau của người mẹ sinh con, nuôi con và mất con. Những nỗi đau ấy cũng tạo thêm cho tôi một nghị lực, dồn sức vào nghề hát nên ngày càng nhuyễn hơn, đằm hơn. 38 tuổi trở thành góa phụ, bởi ông Mậu nhà tôi mất năm ông 71 tuổi. Ông còn để lại cho mẹ con tôi một cây nhị do ông đặt làm, những mong để con cái sau này kế nghiệp.

Tôi yêu quý cây nhị này, nó bầu bạn với tôi suốt đời…Cây nhị trở thành vật dụng duy nhất để mẹ con tôi kiếm kế sinh nhai. Mấy mẹ con tôi lại tiếp tục hành nghề. Tiếng là dân Ý Yên, Nam Định, nhưng cuối cùng trụ lại trên mảnh đất Yên Mô Ninh Bình này.”

Trong bữa ăn ấy, chúng tôi mở máy để cùng nghe lại. Bà Cầu rất vui khi biết rằng lần đầu tiên được nghe giọng hát của mình trên Đài TNVN. Tổng Biên tập Trần Lâm còn vui hơn khi chúng tôi về kể chuyện lại chuyến đi thu thanh ấy. Ông còn nhắc chúng tôi tiếp tục thu thêm những bài xẩm khác, kể cả hát Chầu văn và Ca trù. Một Tổng Biên tập rất mê dân ca và nhạc cổ truyền.

Sau ngày thống nhất đất nước, chúng tôi lại gặp bà ở Hà Bắc trong hội diễn văn nghệ quần chúng toàn quốc do Bộ Văn hóa tổ chức. Chúng tôi ngạc nhiên khi xuất hiện trên sân khấu trong bài hát xẩm do bà tự sáng tác và trình bày : “Con ơi theo Đảng trọn đời”. Vẫn nhai trầu bỏm nẻm,vẫn chiếc khăn vắt vai, miệng hát tay kéo nhị thể hiện một bài hát rất chính trị và cũng rất nhân văn làm lay động lòng người.

“…Ngày mai dưới ánh quang vinh

Con về với mẹ thắm tình nước non

Vững tin theo Đảng nghe con

Đạp bằng sóng gió sắt son lời nguyền”

Bài hát này vừa chiếm được cảm tình của người xem, vừa giúp bà đạt giải xuất sắc nhất. Sau đó, thính giả của Đài TNVN đã gửi thư về đề nghị được nghe lại nhiều lần.

Năm 1998, trong liên hoan hát dân ca toàn quốc trên sóng phát thanh do Đài TNVN tổ chức, bà được giải A với tấm bằng khen của Đài tặng. Trong dịp này chúng tôi tiếp tục thu thanh thêm một số bài hát xẩm khác của bà như: Hát xuôi hát ngược, Dâu lười, Rể lười, Ngược đời, Sáng cả đêm rằm…

Lần giỗ ông tổ nghề hát xẩm Trần Quốc Đĩnh do Trung tâm phát triển âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), hình ảnh một bà Hà Thị Năm (tức bà Cầu) không thể ôm hết mấy chục bó hoa của khán giả sau khi xem bà biểu diễn. Hình ảnh ấy còn lưu dấu trong lòng chúng tôi.

Đã gần 50 năm kể từ ngày gặp và thu thanh giọng hát của bà để đưa lên làn sóng Đài TNVN. Hôm nay, nghe tin bà đã rời trần gian về với đất trời, với ông tổ của nghề hát xẩm, tôi ghi lại vài dòng này nhớ đến bà – một nghệ nhân dân gian, một nghệ sĩ ưu tú – người đầu tiên hát xẩm trong chương trình “Dân ca và nhạc cổ truyền” trên làn sóng phát thanh quốc gia. Giọng hát và tiếng nhị của bà còn âm vang trong tâm khảm hàng triệu người nghe…

Theo Nhạc sỹ Dân Huyền
VOV

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nho-lan-dau-thu-thanh-giong-hat-nghe-nhan-ha-thi-cau-n20130304110548078.htm

ĐÀO GIA LONG & KHƯƠNG CƯỜNG : Chùm ảnh: Đám tang cụ Hà Thị Cầu đông mà lặng lẽ…, VIETNAM 2013


Thứ Ba, 05/03/2013 19:25 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Đám tang của nghệ nhân Hà Thị Cầu đã diễn ra lặng lẽ ở quê nhà, đâu đó tiếng khóc than ai oán nỉ non. Trên suốt dọc đường đưa tang, các cụ bô lão trong làng luôn miệng cầu kinh niệm Phật để vong linh cụ được siêu thoát, vãng sinh miền cực lạc.

Điều đặc biệt trong đám tang của nghệ nhân Hà Thị Cầu là có hẳn một đội múa sinh tiền rất oách. Chị Mận, con gái cụ cho hay, sau trận ốm hồi trước tết, tỉnh dậy mẹ đã nhờ chị viết một bản di chúc, dặn dò tới 4 trang giấy. Bên cạnh đó là kể những câu chuyện về cuộc đời hát xẩm của mình. Nghệ nhân có một mong muốn là đám tang phải có một đội múa sinh tiền. Con gái hỏi, đám ma buồn sao lại múa sinh tiền, nghệ nhân Hà Thị Cầu thủng thẳng đáp. Múa cho vui, mẹ thích nằm xem như vậy.

Hình ảnh đội múa sinh tiền tại đám tang

Nghệ nhân Hà Thị Cầu cũng dặn con khi mất đi thì mua cho cụ một chút vàng mang theo bên người, đặt dưới đầu chứ không đặt ở miệng. Cụ bảo, đặt vào miệng là khóa miệng lại, còn đặt ở dưới đầu để cụ mang theo cho nó giàu có, như thế Xẩm mới lớn mạnh được.

Báu vật dân gian mất đi, một tổn thất rất lớn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà. Tham gia lễ viếng cụ tại căn nhà nhỏ nằm ven đường có cả thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vương Duy Biên, đại diện Cục di sản, Cục nghệ thuật Biểu diễn, đồng chí Phạm Quang Nghị – Bí thư Thành Ủy Hà Nội, Ủy viên trung ương Đảng – bí thư tỉnh ủy Ninh Bình Đặng Văn Nam, Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam – NS ƯT Thanh Ngoan, Giám đốc Nhà hát chèo Hà Nội, Nhà hát chèo Ninh Bình, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội nghệ sĩ sân khấu, Ban Nhà văn trẻ – Hội Nhà văn Việt Nam, Viện Âm nhạc cùng nhiều nghệ sỹ… Đặc biệt, nhiều thế hệ học trò của nghệ nhân Xẩm Hà Thị Cầu cũng có mặt, lặng lẽ bên cụ. Họ cũng sẽ là thế hệ tiếp nối cuộc đời vinh quang của nghệ nhân Hà Thị Cầu .

Nguyễn Thị Thanh – con gái anh Nguyễn Văn Cầu, cháu nội của nghệ nhân Hà Thị Cầu cũng đã bắt đầu yêu những câu hát xẩm. Dù được tiếp xúc với Xẩm từ nhỏ nhưng Thanh luôn ngại ngần mỗi khi bị chúng bạn trêu đùa. Nhưng giờ đây Thanh đã không còn ngần ngại nữa và đã tập hát được bài Theo Đảng trọn đời của bà nội mình sáng tác. Thông tin này khiến cho những nhà nghiên cứu, nghệ sĩ cảm thấy rất vui mừng.

Nguyễn Thị Thanh cháu nội cụ Cầu

Nhóm nghệ sỹ Xẩm Hà Thành, nghệ sỹ Mai Tuyết Hoa, nhạc sĩ Quang Long, Giáng Son, Khương Cường đã về với “bu Cầu” từ chiều hôm trước. Thắp cho người thày dạy những nén nhang thơm. Đêm xuống, trước vong linh người, họ còn mang nhị, phách ra để hát cho “U” nghe. Những bản Xẩm như Thập ân có sức lay động lòng người. Họ cùng chia sẻ, được về và hát trước vong linh của “U Cầu” là tâm nguyện của các nghệ sỹ. Sáng nay, cũng họ đưa nghệ nhân ra đồng, ném cho cụ nắm đất, về nhà vái lạy trước vong linh người một lần nữa mới nguyện lòng rời xa…

Nhóm nghệ sỹ Xẩm Hà Thành: Mai Tuyết Hoa, Quang Long, Giáng Son, Khương Cường

Sau đây là những hình ảnh đưa tiễn cụ Cầu:

Linh cữu của nghệ nhân Hà Thị Cầu bên các con cháu.

Ban lễ tang do UBND xã Yên Phong (Yên Mô, Ninh Bình) thành lập gồm nhiều cán bộ ban ngành ở địa phương

Ban lễ tang đọc công trạng, vinh danh người hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ.

Ông Vương Duy Biên – Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến chia buồn cùng gia đình từ tối 4/3.

Ông Cầu, con trai nghệ nhân đã nói lời cảm ơn bà con, các ban ngành đã tới phúng viếng, tiễn đưa mẹ.

Đám tang có rất nhiều bà con thương tiếc, tiễn đưa.

NSƯT Nguyễn Quang Thập- Giám đốc NH Chèo Ninh Bình (mặc vest trắng) đưa cụ tới nơi an nghỉ cuối cùng

Đây có lẽ là đám tang đông hiếm có ở nơi làng quê Ninh Bình. Ấy vậy mà rất lặng lẽ.

Các cụ tụng kinh, niệm Phật để vong linh nghệ nhân Hà Thị Cầu siêu sinh tịnh độ.

Học sinh của làng cũng được huy động để vác cờ và hoa viếng cụ.

Đám tang được thực hiện theo phong tục cổ truyền của người Việt

Cha đưa, mẹ đón, con trai cụ Hà Thị Cầu đi giật lùi đón mẹ.

Cầu mong cho hương hồn cụ sớm siêu thoát, vãng sinh miền cực lạc

Song Long

Ảnh Đào Gia Long, Khương Cường

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/chum-anh-dam-tang-cu-ha-thi-cau-dong-ma-lang-le-n20130305193313234.htm

LAM NGỌC & THỂ THAO VĂN HÓA : NSƯT Hà Thị Cầu ra đi: Xẩm vẫn thiếu “truyền nhân”, VIETNAM 2013


NSƯT Hà Thị Cầu ra đi: Xẩm vẫn thiếu “truyền nhân”

Thứ Tư, 06/03/2013 04:57 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Trước sự ra đi của nghệ nhân bậc thầy hát xẩm Hà Thị Cầu, có lẽ bên cạnh sự tiếc thương, buồn đau của những ai yêu tiếng hát, tiếng đàn của cụ, sẽ còn có những lo lắng khi mất đi sự kết nối giữa các thế hệ trong việc gìn giữ, lưu truyền nghệ thuật hát xẩm.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu trên chiếu xẩm (Ảnh tư liệu).

Kể từ khi ra đời, nghệ thuật hát xẩm đã chịu không ít thăng trầm từ sự nhìn nhận về nghề, sự bỏ quên không được chăm sóc, sự đứt đoạn giữa các thế hệ.

Xẩm “sống” trên phố cổ Hà Nội

Sau cả một thời gian dài từ những năm 1954 bị “bỏ quên” trong lịch sử cũng như trong đời sống bởi nhiều lý do, cho đến năm 2005, Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam mới chủ trương khôi phục hát xẩm bằng việc trình diễn trước công chúng vào tối thứ 7 hằng tuần tại con phố đi bộ Hàng Ngang, Hàng Đào.

Đã gần 10 năm thực hiện dự án này, không kể ngày nắng cũng như ngày mưa, chương trình không quảng cáo, không bán vé, cũng không có ghế ngồi nhưng vẫn luôn thu hút khán giả.

Nhà nghiên cứu Thao Giang – Phó GĐ Trung tâm – chia sẻ: “Vào thời điểm 2005, có thể nói việc khôi phục lại xẩm là một hành động liều lĩnh của trung tâm. Khi thuyết trình để đưa xẩm ra phố cổ, nhiều người không đồng tình vì họ nghĩ hát xẩm là ăn xin. Còn thực tế, hát xẩm không phải là hát rong, hát xẩm có đầy đủ tư cách như một nghề, một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp. Và chương trình diễn ra được công chúng đón nhận là bởi chúng tôi làm đúng theo những cái nhân dân chờ đợi”.

Xây dựng lại một diện mạo đầy đủ của xẩm qua chương trình này, những người tổ chức đã học tập cách làm của những nghệ nhân xưa mặc dù trên một sân khấu ngoài trời, việc tái hiện môi trường diễn xướng dành cho từng loại xẩm là hạn chế.

Với 25 nghệ nhân, trung tâm duy trì bốn điểm diễn xẩm là đình Kim Ngân, đình Đồng Lạc (Hàng Đào), đình Quan Thánh Đế (Hàng Buồm) và đình Cổ Vũ ( Hàng Gai). Từ 2010 đến nay, cứ từ mùng 2-10 Tết hằng năm chương trình diễn ra tại cả bốn địa điểm, còn chương trình hằng tháng chỉ thực hiện được tại Hàng Đào vì lý do thiếu kinh phí.

Rất nhiều nỗ lực phục hồi hát xẩm

Chưa ai học được “chất” của bà Cầu

Nghệ nhân Hà Thị Cầu – người duy nhất làm nên diện mạo của hát xẩm làng quê đã ra đi, điều đó cũng có nghĩa một lần nữa trong lịch sự lại diễn ra sự “đứt –gãy” trong việc nối tiếp các thế hệ của các nghệ nhân.

Đã có rất nhiều thế hệ trẻ đến học bà Cầu, từ ca sĩ Thái Thùy Linh, Vũ Thị Sợi, Mai Tuyết Hoa nhưng có người không học nổi một câu hát, có người học được một bài, có người đến thỉnh giáo chứ chưa học được gì. Cái sự học của lớp trẻ dù chỉ là chút chút hay tinh hoa đều “bất thành” nên để gọi là truyền nhân của bà xem ra còn xa vời lắm. Thậm chí, hiện nay chúng ta không thể bắt chước cũng như chưa hệ thống được những phương pháp thanh nhạc của nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Nhà nghiên cứu Thao Giang thừa nhận: “Chúng ta đã cố gắng làm như nghệ nhân xưa nhưng cũng chợt giật mình vì chúng ta không sáng tạo được như bà cho dù ngày nay chúng ta được trang bị kiến thức đầy đủ. Lớp kế cận hiện nay là những người còn rất trẻ, họ vẫn đang cố giữ lại những phương pháp hát của những nghệ nhân xưa nhưng có lẽ một khi di sản sống đã mất đi thì dù qua băng đĩa cũng khó có thể học được”.

Còn tài liệu hát xẩm hiện có ở trung tâm cũng rất ít ỏi, có những tư liệu chỉ còn hình ảnh mà không xác định được là nghệ nhân nào, hát bài bản gì, diễn xướng ở đâu? Trong số 50-60 bài đã thu âm của xẩm tại trung tâm chỉ có khoảng 20 bản của cụ Hà Thị Cầu – một con số quá ít ỏi đối với sự nghiệp cả đời của bà.

Trò chuyện về nghệ nhân Hà Thị Cầu – một người cả đời sống chết vì nghề, cuộc sống từ lúc trẻ đến lúc già đều không được đầy đủ, no ấm là một nỗi buồn cho những ai yêu tiếng hát, tiếng đàn, sự sáng tạo nghệ thuật của bà, nhà nghiên cứu Thao Giang bày tỏ sự tiếc nuối, giá như tỉnh Ninh Bình tổ chức mỗi tuần hoặc mỗi tháng một buổi để bà Hà Thị Cầu dạy xẩm thì có lẽ không chỉ khiến bà vui, cuộc sống của bà cũng đỡ vất vả mà thế hệ trẻ còn được thừa hưởng những tinh hoa của một nghệ nhân. Nhưng tiếc rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra được nữa!

Sẽ truy tặng danh hiệu NSND cho bà Hà Thị Cầu? 

Tới dự đám tang nghệ nhân Hà Thị Cầu, ông Vương Duy Biên – Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL – chia sẻ tâm nguyện cần đề nghị truy tặng cho bà danh hiệu NSND. Bà Cầu đã được phong tặng danh hiệu NSƯT.

Quá trình cống hiến cũng như những huy chương mà bà đạt được cho đến nay quá xứng đáng để được truy tặng NSND rồi. Thời gian tới, Bộ VH,TT&DL sẽ xúc tiến thực hiện việc này.

Lam Ngọc

Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nsut-ha-thi-cau-ra-di-xam-van-thieu-truyen-nhan-n20130306045309937.htm

NGUYỄN QUANG LONG : Về Ninh Bình chia tay nghệ nhân Hà Thị Cầu, VIETNAM 2013


Về Ninh Bình chia tay nghệ nhân Hà Thị Cầu

Thứ Tư, 06/03/2013 08:30 | In trang nàyIn bài viết

“Thế là hết đời bà Cầu” – cậu thanh niên địa phương thốt lên khi nấm mồ nghệ nhân Hà Thị Cầu được đắp gần xong. Nghe hơi bạc bẽo nhưng nó thể hiện sự hồn nhiên, chân chất của người dân quê với bu Cầu.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu đã về với tổ Xẩm. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Bà già quê mùa danh giá

Tiếng băng cassette phát ra từ loa đài cũ kỹ nghẹt nghẹt nhưng cũng đủ để người tới chia tay nghe rõ tiếng nhạc lời ca mà bu đã thu âm năm nào. Tiếng hát của bu với phường bát âm xen lẫn nhau nghe não nề.

Chị Mận – con gái bu Cầu vừa thấy chúng tôi đã òa lên “Các em ơi bu mất rồi”. Trông chị mệt mỏi, vì nỗi đau và có lẽ cả vì phải tiếp quá nhiều khách trong một ngày. Một bà già cả đời cơ cực với cái nghề vẫn chịu sự coi khinh hiểu lầm, ấy vậy mà khi mất đi lại nhiều người quan tâm đến thế.

Lướt qua những vòng hoa viếng thấy có Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, rồi Hội Văn nghệ dân gian VN, Nhà hát Chèo VN, Nhà hát Chèo Hà Nội… Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền đang công tác Tây Nguyên không thể kịp tiễn bu nhưng chị vợ cũng về đến, mang theo vòng hoa tiễn biệt.

NSND Bạch Tuyết từ TPHCM muốn qua chúng tôi gửi một lẵng hoa thật đẹp thay lời chia tay nghệ nhân chị ngưỡng mộ nhưng chưa quen đường sá Ninh Bình, chúng tôi không tìm được lẵng hoa, đành thay bằng vòng hoa. Vừa viếng bu xong thì đoàn của Bộ VHTTDL – Cục Nghệ thuật Biểu diễn, Cục Di sản văn hóa do ông Thứ trưởng Vương Duy Biên dẫn đầu vào tới.

Cây đàn nhị đặt trên ban thờ ở ngoài hiên, bên khung cửa sổ nơi bu vẫn ngồi đó nói vắt ra mỗi lần chúng tôi về thăm. Còn một cây đàn nữa, Mận bảo đang cất trong buồng, phải đưa bu ra đồng về mới bày lên bàn thờ chính.

Mận kể, lúc bu hồi hồi lại đã dặn dò tỉ mỉ rằng khi bu chết nhớ phải mời bằng được đội sinh tiền múa cho bu xem. Ai đời đám hiếu lại có loại múa vốn chỉ xuất hiện trong những đám rước trang trọng hay hội hè, tiệc mừng thọ… tươi vui.

Mận nói với bu như thế nhưng bu bảo “kệ, bu thích xem cho vui”. Thế rồi lúc đưa bu ra đồng có đủ đội múa sinh tiền chừng 6 cô gái mặc áo dài tân thời sặc sỡ đội khăn đóng múa ngay trước xe tang.


Cảnh đưa tiễn nghệ nhân Hà Thị Cầu. Ảnh Đào Gia Long

Long đong tới phút cuối

Chừng 21 giờ, nhân lúc khách thăm viếng thưa dần, chúng tôi thực hiện tâm nguyện hát mấy câu Xẩm để bu thêm yên lòng. Nhạc sĩ Giáng Son không đàn cũng chẳng hát nên có nhiệm vụ cầm micro.

Còn chúng tôi, tất nhiên chẳng thể thiếu Thập ân – Mai Tuyết Hoa hát, Khương Cường – Dứa dại không gai, bạn trẻ tên Linh ở Hải Phòng hát Nhị tình còn tôi hát Xẩm Chợ. Có lẽ đó là lần biểu diễn đặc biệt chẳng bao giờ có thể quên.

Chưa tới 8h sáng đã thấy đạo diễn, NSƯT Nguyễn Quang Thập, Giám đốc Nhà hát Chèo Ninh Bình cùng anh chị em diễn viên trẻ trong đoàn tề tựu đông đủ.

Nghệ sĩ Thập cho biết, cả ngày hôm qua anh em luôn bên linh cữu bu. Đó là trách nhiệm, sự ghi nhận công ơn đồng thời thể hiện tình cảm của nhà hát và cá nhân các nghệ sĩ với một nghệ nhân lớn, nhân tài quý giá của đất nước nói chung, quê hương Ninh Bình nói riêng.

Đoàn đưa bu ra đồng với quá nhiều hoa, phướn. Một đoàn dài các cụ cầm cái phướn trải dài vài chục mét. Rồi phường bát âm, đội múa sinh tiền với đủ sắc màu sặc sỡ… Trong tôi cứ mường tượng tới đám rước của một bà chúa, bà hoàng nào đó thời xa xưa.

Mà quả thực, có thể coi bu ngày hôm nay như “bà thánh” của Xẩm trên cõi nhân gian có một đoàn người tháp tùng để đưa bu trở về với tổ Xẩm, với đất mẹ ngàn đời. Lại chạnh nghĩ nghệ nhân Quách Thị Hồ được trao danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân. Vậy sao Hà Thị Cầu lại chưa?

Đoàn cờ trống bát âm sinh tiền đưa tiễn bu tới nghĩa trang Đồng Thuần. Chẳng hiểu có phải nghiệp Xẩm long đong đã vận vào bu hay sao, thời khắc quan trọng đã điểm mà mấy nam giới vẫn hì hục hất xúc từng xảng đất chuyển lên bờ. Phải chờ một lúc công việc mới hoàn thành, để đất mẹ ôm bu vào lòng. Chúng tôi mỗi đứa ném nắm đất, thắp nén nhang, đi vòng quanh khu mộ ngập tràn hoa tươi rồi đứng yên như bất động.

Theo Nguyễn Quang Long
     
 Tiền phong

LAM NGỌC : Sẽ truy tặng danh hiệu NSND cho bà Hà Thị Cầu?, VIETNAM 2013


 

Sẽ truy tặng danh hiệu NSND cho bà Hà Thị Cầu?

Thứ Tư, 06/03/2013 10:26 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Tới dự đám tang nghệ nhân Hà Thị Cầu, ông Vương Duy Biên – Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL – chia sẻ tâm nguyện cần đề nghị truy tặng cho bà danh hiệu NSND. Bà Cầu đã được phong tặng danh hiệu NSƯT.


Ông Vương Duy Biên chia buồn cùng gia quyến. Ảnh Khương Cường

Quá trình cống hiến cũng như những huy chương mà bà đạt được cho đến nay quá xứng đáng để được truy tặng NSND rồi. Thời gian tới, Bộ VH,TT&DL sẽ xúc tiến thực hiện việc này.

Lam Ngọc

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/se-truy-tang-danh-hieu-nsnd-cho-ba-ha-thi-cau-n20130306102448536.htm

TRẦN THẢO NHI : Bảo tồn làn điệu dân ca, dân vũ Tây nguyên, VIETNAM


Bảo tồn làn điệu dân ca, dân vũ Tây nguyên

TRẦN THẢO NHI | 06/03/2013 11:27 (GMT + 7)
TTO – Đêm 5-3, Liên hoan dân ca Việt Nam lần thứ 5 khu vực Tây nguyên do Trung tâm Truyền hình VN tại Đà Nẵng phối hợp 5 tỉnh khu vực Tây nguyên (Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai và Kon Tum) tổ chức diễn ra tại Khu du lịch sinh thái Măng Đen (Kon PLông, Kon Tum).
  • Bạn trẻ các dân tộc Tây nguyên trình diễn các nhạc cụ dân tộc

70 nghệ nhân đại diện các dân tộc Ba Na, Jơ Rai, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Mơ Nông, Mạ, Chu Ru, K’Ho, Ê Đê… tuổi đời 15-70 đã trình diễn nhiều làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc nguyên gốc và sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc phù hợp với các làn điệu dân ca, biểu diễn nhạc cụ, tái hiện lễ hội, kể sử thi… thể hiện rõ bản sắc riêng của mỗi dân tộc, mỗi địa phương.

Diễn ra trong hai ngày 5 và 6-3, liên hoan nhằm tìm kiếm, duy trì, bảo tồn và phát hiện những làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc nguyên thể mang đặc trưng của vùng đất Tây nguyên. Những tiết mục đặc sắc sẽ được lựa chọn tham gia chung kết Liên hoan dân ca toàn quốc tổ chức tại Hà Nội vào tháng 4-2013.

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/536743/bao-ton-lan-dieu-dan-ca-dan-vu-tay-nguyen.html