DI SẢN VĂN HOÁ CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN


DI SẢN VĂN HOÁ CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

 

 

1. Ngày hội Cồng chiêng Tây Nguyên

2. Phát triển không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

3. Không nên biến cồng chiêng thành chuyên nghiệp và cung đình

4. Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – định hướng bảo tồn và phát huy

5. Những giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Cơ hội và thách thức!

6. Cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác văn hóa của nhân loại

7. Bộ VHTT lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

8. Những bước chuyển mình của văn hoá Cồng chiêng

9. Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

10.Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng

11.Tây Nguyên – “cái nôi” của cồng chiêng Đông-Nam Á

 

Ngày hội Cồng chiêng Tây Nguyên

 

Lễ đón nhận bằng Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại sẽ được tổ chức trang trọng vào tối 28/3 tới tại  TP Pleiku – Gia Lai. Đây cũng chính là tâm điểm của Liên hoan Cồng chiêng chào mừng đại hội đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên (28-29/3).

Bộ Văn hóa – Thông tin đã chỉ đạo Viện Văn hoá – Thông tin chủ trì tổ chức Lễ đón nhận sự kiện văn hoá quan trọng này. Theo đó, Cục Văn hoá Thông tin Cơ sở sẽ chỉ đạo tổ chức các hoạt động liên quan trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên; đồng thời chủ trì tổ chức đêm liên hoan giao lưu văn hoá cồng chiêng mừng thành công của Đại hội Đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên tại công viên Diên Hồng, thành phố Pleiku. Trung tâm Triển lãm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Cục Văn hoá – Thông tin cơ sở tổ chức các hoạt động triển lãm tại trung tâm văn hoá – thể thao thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên. Kịch bản của buổi lễ đón nhận bằng Di sản sẽ do Viện Văn hoá thông tin đảm nhiệm.

Cùng với lễ đón nhận bằng vào đêm 28/3, các hoạt động đáng chú ý khác là Giao lưu văn hoá cồng chiêng, Triển lãm về đặc trưng văn hoá và thành tựu đổi mới của Tây Nguyên, Tuần lễ phim Việt Nam, dựng bia ghi thư của Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946. Cục Điện Ảnh sẽ chủ trì Tuần phim Việt Nam, với các phim như Đất nước đứng lên, Hồn chiêng, Tiếng cồng định mệnh

Diễn ra trên khắp TP. Pleiku trong khoảng một tuần vào trung tuần tháng 3, liên hoan cồng chiêng sẽ tạo nên một không gian thấm đẫm chất lửa truyền thống Tây Nguyên. Cồng chiêng sẽ được chính các nghệ nhân dân tộc trình diễn với các giai điệu gốc. 15 đội cồng chiêng của 5 tỉnh Tây Nguyên sẽ diễn tấu các giai điệu xoay quanh chu kỳ vòng đời của con người, chu kỳ một năm sản xuất… Đội ngũ nghệ nhân cao tuổi – những người ít ỏi còn lại đang nắm giữ các bí quyết và làn điệu cồng chiêng truyền thống – sẽ là nhân tố nắm giữ linh hồn của những buổi trình diễn này.

Liên hoan Cồng chiêng cũng là cơ hội để những chủ nhân đích thực của Không gian văn hoá này thể hiện niềm tự hào của mình trước cả nhân loại. Không có nhiều yếu tố cải biên như cồng chiêng ở các lễ hội khác; ở đây, những giá trị gốc, cổ truyền được tôn vinh.

Tổ chức UNESCO đã công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là “Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại”. Đây là niềm tự hào không chỉ của riêng vùng đất Tây Nguyên mà còn là niềm tự hào của nền văn hóa Việt Nam, mở ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện để gìn giữ vốn văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Trở về

Phát triển không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

Ngày 8/1 vừa qua, Thứ trưởng Bộ VHTT Đặng Quang Ngữ đã có buổi làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Thế Dũng quyết định sẽ tổ chức lễ công bố Bằng công nhận của UNESCO về không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là di sản phi vật thể của nhân loại tại TP.Pleiku (Gia Lai) vào tháng 3/2006. Đây thực sự là một tin vui đối với các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Tuy nhiên, một thực tế đang làm mọi người lo lắng đó là hồn thiêng của tiếng chiêng đang dần mất đi theo năm tháng.

Tuy nhiên hiện nay có một vấn đề đang làm cho các nhà khoa học lo lắng đó là không gian và hồn thiêng trong tiếng cồng đang ngày một dần mất đi. Điều đáng quan tâm hiện nay là, ở lớp người trẻ tuổi, không những đơn giản hóa những quan niệm về chiêng cồng mà khả năng tiếp thu để diễn tấu các bài bản chiêng của họ cũng rất hạn chế. Trong cộng đồng Mạ, Cơho ở Lâm Đồng, nhiều nghệ nhân trẻ không thể nhớ hết nổi “36 điệu chiêng” của ông bà họ để lại. Cũng như vậy, ở cộng đồng Mnông tỉnh Đăk Lăk, vẫn có những người không thể phân biệt đâu là bài bản chiêng dùng trong lễ phát rẫy, lễ phơi rẫy, lễ xuống giống và đâu là bài bản chiêng trong lễ tạ ơn rìu rựa, lễ tắm lúa, lễ cúng bến nước…

Nguy hiểm hơn, xu thế mất dần tính thiêng của chiêng cồng Tây Nguyên còn được thể hiện ở chỗ: Ngày nay, nhiều người đã tỏ ra rất tùy tiện trong việc sử dụng các bộ chiêng thiêng và tùy tiện sử dụng các bài bản. Trong các buôn làng ngày xưa, cồng chiêng thường chỉ được sử dụng trong các lễ lớn của gia đình, dòng tộc hoặc buôn làng thì nay, cũng ngay trong cái không gian buôn làng ấy, việc “mua vui” cho “người ngoài” đã trở nên một hiện tượng không hiếm, nếu như không muốn nói là khá phổ biến.

Chương trình hành động quốc gia sau khi cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới sắp tới sẽ là một chương trình dài hơi và đòi hỏi cần được đầu tư nhiều về vật chất và đặc biệt là trí tuệ. Nhưng với thực trạng như hiện nay, việc triển khai chương trình sẽ rất nhiều khó khăn cần phải vượt qua.

Trở về

Không nên biến cồng chiêng thành chuyên nghiệp và cung đình

 

“Cồng chiêng vẫn ở trong tay người dân, tức là vẫn của cộng đồng, là tài sản của toàn dân chứ không bó hẹp của tầng lớp quý tộc như các nước khác”.

Nhiều quốc gia Đông Nam Á có cồng chiêng, nhưng chỉ có Cồng chiêng Tây Nguyên (CCTN) được UNESCO công nhận, điều này chứng minh giá trị văn hoá phi vật thể của loại nhạc cụ này trong dòng chảy văn hoá nhân loại.

Cồng chiêng rất phổ biến ở Đông Nam Á, thậm chí nó là một nét văn hoá có tính chất cơ tầng của khu vực này. Nhưng nhiều nước đã biến văn hoá cồng chiêng của mình thành chuyên nghiệp và cung đình, như Indonesia, Thái Lan, Malaixia, Mianma, Lào. Còn riêng ở VN, cồng chiêng vẫn ở trong tay người dân, tức là vẫn của cộng đồng, là tài sản của toàn dân chứ không bó hẹp của tầng lớp quý tộc như các nước khác. Thêm nữa, nghệ thuật cồng chiêng gắn chặt với đời sống con người. Người ta có thể ví “cuộc đời dài như tiếng chiêng”. Rồi bất cứ hiện tượng hệ trọng nào đối với đời sống đều có sự góp mặt của chiêng cồng.

Về kỹ thuật, ở các nước khác, mỗi người đánh một chục cái chiêng, cả dàn chiêng. Nhưng riêng ở VN, mỗi người đánh chỉ một chiêng. Và như thế dàn chiêng có bao nhiêu cái thì có bấy nhiêu người. Điều đó chứng tỏ tính âm nhạc phổ biến đến từng người và để thực hiện được một bài chiêng thì mỗi người tuy đánh một chiêng nhưng phải biết tất cả các chiêng khác đánh thế nào! Thế là tài năng của toàn dân rồi! Tiếp nữa, ở Indonesia, người ta ca ngợi rằng dàn cồng chiêng đưa ra được hai hàng âm thanh (musical scales), gọi là slendropelog. Nhưng chúng ta không giống thế. Chúng ta có một hệ âm thanh riêng và tôi đã đề nghị công nhận nó là Musical scales of Vietnam Highlanders (Hàng âm thanh riêng của những người Tây Nguyên VN). Ban thường vụ ICTM nghe tôi trình bày vậy, liền bảo: Được, thế thì chúng tôi bỏ phiếu cho VN!

Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay đồng bào theo đạo Tin Lành rất nhiều, nên không cần cồng chiêng nữa. Vì vậy, ngày càng nhiều cồng chiêng bị bán làm sắt vụn, mà theo tôi biết là chỉ có 3000 đồng/kg. Trong điều kiện tự do tôn giáo tín ngưỡng, thì đây trở thành vấn đề rất phức tạp mà ngành văn hoá cũng không giải quyết được.

Bên cạnh đố là những yếu tố tác động từ những cán bộ văn hoá quần chúng. Họ khăng khăng đòi cải tiến chiêng, bằng cách bảo dân gò lại theo đúng như hàng âm thanh châu Âu – đồ rê mi pha son… Thế thì tức là vứt đi hàng âm thanh mà tôi đã đề nghị thế giới công nhận là của riêng VN (musical scales of Vietnam Highlanders). Bây giờ họ cho hàng âm thanh đó là lỗi thời. Ở Gia-lai đã có những dàn chiêng bị gò lại để đánh các bài mới và không thể đánh được các bài dân tộc nữa… Tôi cho rằng trong chuyện này, người dân cũng không muốn, họ chỉ là nạn nhân thôi…

Có một thực tế hiện nay là số cồng chiêng Tây Nguyên đã giảm đi đáng kể, đồng bào vì cái đói, cái nghèo đã không thể giữ lại đồ vật quý bên mình. Để  ngăn chặn việc chảy máu cồng chiêng, điều cần nhất là phải xoá đói giảm nghèo cho họ, mà việc này thì VN đã có thành tích làm rất tốt. Hai nữa, Nhà nước phải quan tâm và có những biện pháp để có thể duy trì các sinh hoạt cồng chiêng trong các cộng đồng buôn làng Tây Nguyên. Quan trọng nữa là tổ chức việc truyền dạy cho lớp trẻ; quảng bá tuyên truyền giá trị của cồng chiêng.

Để văn hóa cồng chiêng không bị mai một, nhiều người đã đề xuất ý tưởng phục hồi, xây dựng các xưởng chế tác cồng chiêng phục vụ cho người dân tộc, việc này là thiết thực nhưng  từ xưa đến nay, chiêng mà đồng bào sử dụng không phải tự họ đúc ra. Chiêng được mua từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, của người Kinh, dân tộc Lào, Campuchia… Không bao giờ có cái chiêng mua sẵn có âm thanh đúng như người ta cần, mà người Kinh có muốn cũng không thể làm thay họ được! Mỗi một hoặc vài làng bản lại có một người chuyên lên chiêng (hay gọi là người chỉnh chiêng, tiếng Banah là Tul Cheng), sửa để chiêng có một âm thanh đúng như mong muốn. Vậy thì cần gì phải thay đổi nữa? Chỉ cần anh tiếp tục sản xuất nhiều, bán rẻ cho họ để họ tự chỉnh.

Trở về

Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – định hướng bảo tồn và phát huy

Trong số 43 di sản của 46 quốc gia được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại đợt 3 công bố ngày 25-11-2005, có không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam.

Danh tiếng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ nay đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành tài sản của nhân loại. Những giá trị đặc sắc của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, một bộ phận của di sản và tinh hoa văn hóa Việt Nam được cộng đồng quốc tế biết đến và được tôn vinh. Di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã hoàn toàn đáp ứng được những tiêu chuẩn của một Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại do UNESCO đưa ra.

Giá trị nổi bật của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là nơi đây chứa đựng những giá trị sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Chủ nhân của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Cư dân Tây Nguyên không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời. Trong tay các nghệ sĩ dân gian tài hoa ở cộng đồng, mỗi chiếc chiêng giữ nhiệm vụ một nốt nhạc trong một dàn nhạc, để biểu diễn các bản nhạc chiêng khác nhau. Ðồng thời, tùy theo từng dân tộc, họ đã sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Từ xa xưa, cộng đồng cư dân Tây Nguyên đã biết thổi hồn và tiếp thêm sức sống cho cồng chiêng Tây Nguyên để những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người Tây Nguyên, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên.

Cồng chiêng Tây Nguyên giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất muôn mầu, muôn sắc Tây Nguyên. Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau. Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuy không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân trong các p’lei, p’lơi, buôn, bon, v.v. dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời.

Cồng chiêng Tây Nguyên là bằng chứng độc đáo, là nét đặc trưng của truyền thống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Nó là một loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc được sinh ra cho đến khi trở về với đất trời, với vũ trụ. Trong khi đa số các dân tộc ở Tây Nguyên, chơi chiêng phải là nam giới, thì cũng có một số dân tộc phụ nữ là nghệ nhân trình diễn chiêng; đồng thời phụ nữ tham gia múa cùng với nghệ nhân trình diễn chiêng. Ðiều ấy không chỉ minh chứng cho truyền thống lâu đời của cồng chiêng Tây Nguyên mà còn cho thấy tính độc đáo văn hóa của nó.

Cồng chiêng Tây Nguyên đã gắn bó với cuộc sống của người dân Tây Nguyên từ ngàn đời nay, nhưng nay đang đứng trước nguy cơ bị mai một rất cao do rất nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó là những nguyên nhân bắt nguồn từ những biến đổi hết sức lớn lao trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân, cùng với những biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội mà cư dân Tây Nguyên sinh sống. Như những sự thay đổi trong phương thức canh tác; sự thay đổi trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và thiên nhiên Tây Nguyên; sự bùng nổ công nghệ thông tin, v.v. Những sự biến đổi ấy dẫn đến sự thờ ơ của một bộ phận dân cư, nhất là trong lớp trẻ đối với văn hóa cồng chiêng.

Ðã trở thành một kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, bên cạnh niềm tự hào là một trách nhiệm hết sức nặng nề và to lớn đặt lên vai chúng ta: Trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa cho dân tộc và cho nhân loại – điều mà lâu nay nhiều người chưa thấy hết. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ đây đặt ra những vấn đề to lớn trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nó. Muốn làm tốt công việc nặng nề mà vẻ vang ấy, chúng ta cần phải sớm bắt tay thực hiện hàng loạt công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Cùng với việc nâng cao lòng tự hào, cần nêu cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong việc giữ gìn, bảo vệ giá trị của cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ðây không chỉ là nguyên lý của khoa học bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, mà còn là việc thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa của Ðảng và Nhà nước ta. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là sáng tạo của cộng đồng. Bao đời nay, cộng đồng lưu giữ, trao truyền di sản văn hóa vô giá này. Nét đặc sắc của cồng chiêng Tây Nguyên so với cồng chiêng của một số nước trong khu vực là cồng chiêng Tây Nguyên chưa bị biến thành chuyên nghiệp hóa, vẫn tồn tại một đời sống dung dị nơi p’lei, p’lơi, buôn, bon, v.v.  của người Ba Na, Gia Rai, Ê Ðê, Mạ, v.v. Hàng trăm, hàng nghìn năm nay, những thăng trầm lịch sử không tách cồng chiêng ra khỏi đời sống cộng đồng. Ðặc điểm này của cồng chiêng Tây Nguyên vừa là thuận lợi, đồng thời cũng vừa là khó khăn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên. Vì thế, vấn đề nâng cao lòng tự hào và ý thức giữ gìn của cộng đồng dân cư có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Cần phải đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép những bài chiêng, những sinh hoạt văn hóa, âm nhạc gắn bó với cồng chiêng. Ghi âm, ghi hình các tài liệu, tư liệu về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để lưu giữ, bảo quản và phát huy lâu dài.

Tiếp tục nghiên cứu khoa học về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên một cách hệ thống và toàn diện ở năm tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận.

Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội gắn với vòng đời người và vòng đời cây trồng ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại năm tỉnh Tây Nguyên để tạo môi trường diễn xướng của cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng.

Từng bước xây dựng Phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa – Thông tin) và tại Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên.

Xây dựng một chiến lược dài hạn cho việc phục hồi, bảo tồn và phát huy di sản cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ðẩy mạnh công tác đào tạo trong các trường nghệ thuật về cồng chiêng và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Tổ chức biểu diễn, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, ở các trường học để nâng cao trình độ thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Mở rộng công tác tuyên truyền đến khách du lịch trong nước và nước ngoài để mọi người hiểu được một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá đang được lưu giữ tại Tây Nguyên.

Tăng cường hợp tác, giao lưu văn hóa để quảng bá cồng chiêng trong phạm vi quốc gia và quốc tế, nhằm xây dựng các chương trình nghiên cứu và phục hồi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là niềm tự hào của cả nước và đồng thời vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị của nó cũng lại là vấn đề không kém phần quan trọng và cũng là nhiệm vụ của tất cả mọi người chúng ta. Làm tốt công việc ấy không chỉ có ý nghĩa đối với hôm nay mà cả với mai sau.

Tiến sĩ PHẠM QUANG NGHỊ

Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin 

Trở về

Những giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Cơ hội và thách thức!

 

Sự kiện Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại ngày 25-12, là một trong những sự kiện văn hóa nổi bật nhất của năm 2005.

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên chứa đựng những giá trị nổi bật ngang tầm kiệt tác sáng tạo của nhân loại

Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.

Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:

Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng… cũng thuộc loại này.

Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông.

Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng).

Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.

Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ. Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng, ở người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn: Dàn chiêng nam, dàn chiêng nữ. Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân cả nam lẫn nữ. Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của họ trong tâm thức các tộc người này.

Ngoài ra, ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng, Mnông và đặc biệt tộc người Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng  (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí). Nói cách khác, sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng, cuốn hút tất cả các thành viên tham gia. Đây là bằng chứng chứng tỏ lịch sử lâu đời của cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.

Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt… Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ…

Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã…

Có thể nói, văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện tài năng sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên rất đa dạng, nhưng thống nhất. Đây chính là đặc điểm rất cơ bản của vùng văn hoá Tây Nguyên và cũng là đặc điểm của văn hoá Việt Nam.

Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên bắt rễ từ truyền thống văn hoá và truyền thống lịch sử của cộng đồng có liên quan

 

Từ cơ tầng văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử, vào khoảng cuối nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, trên đất nước Việt Nam ngày nay đã hình thành và phát triển 3 trung tâm văn hoá lớn thuộc thời đại đồ đồng (Bronze Age): Văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc; văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung; văn hoá Đồng Nai ở Nam Bộ. Các cộng đồng dân cư của 3 trung tâm này có những mối giao lưu văn hóa thường xuyên và nhiều chiều với nhau. Cả 3 trung tâm đều có kỹ nghệ đúc đồng đặc biệt phát triển, sáng tạo nên những công cụ, vũ khí, đồ trang sức, đặc biệt là các loại nhạc cụ bằng đồng rất độc đáo. Các hiện vật khảo cổ của văn hoá Đông Sơn như trống đồng, cây đèn Lạch Trường có những hình chạm khắc cách chơi các loại nhạc cụ đó.

Khu vực Tây Nguyên hiện nay nằm trong các tuyến văn hoá truyền thống giao thoa và phát triển của 3 trung tâm đó, đồng thời cũng nằm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ khảo cổ Lung Leng (tỉnh Kon Tum), cũng như ở các di chỉ khảo cổ khác tại Tây Nguyên nhiều hiện vật đồ đồng, đồ sắt, nhất là khuôn đúc rìu đồng (Nguyễn Khắc Sử, Thông báo khảo cổ học, 2004). Điều đó có nghĩa là, cư dân cổ xưa ở Tây Nguyên đã từng có một kỹ nghệ đúc đồng, một nền văn hoá thời kim khí.

Điều đáng nói là tất cả các nhạc cụ trên, nhất là cồng chiêng, đều tiếp tục được sử dụng và tồn tại đến ngày nay như một thành tố hữu cơ trong nền âm nhạc của các dân tộc Việt Nam, dù là họ sinh sống ở phía Bắc hay ở duyên hải miền Trung.

Cồng chiêng đóng vai trò là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hoá dân tộc của cộng đồng các dân tộc ít người ở Tây Nguyên

Di sản văn hoá của các thế hệ tộc người ở Tây Nguyên gồm: Kho tàng ngữ văn dân gian, nghệ thuật điêu khắc dân gian, tri thức dân gian, nhưng nổi trội nhất là sử thi và cồng chiêng. Người dân nơi đây có cồng chiêng để ứng xử với thiên nhiên, cầu xin, giãi bày với thần linh, tổ tiên, đối thoại với cộng đồng và với chính mình. Khó có nhạc khí nào, sinh hoạt văn hoá nào lại có nhiều vai trò đến vậy. Với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc cộng đồng là cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng.

Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có một cách tổ chức dàn cồng chiêng khác nhau, cách chơi cũng khác nhau. Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana – Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn, lảnh lót).

Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm thực dân gian… đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng).

Với các dân tộc Tây Nguyên, phương tiện để nối kết cộng đồng cũng lại là cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng vang lên để nối kết cá thể với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác của cùng một dân tộc. Điều đáng lưu ý là Tây Nguyên có nhiều dân tộc, nhưng các dân tộc luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Các dân tộc đều có thể đến với nhau khi sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, như sự đồng thanh tương ứng khiến họ tìm đến với nhau.

Cư dân các dân tộc ít người ở Tây Nguyên đã đạt đến những hiểu biết sâu và có các kỹ thuật điêu luyện trong việc sử dụng cồng chiêng trong văn hoá và âm nhạc của mình

Điều này thể hiện ở việc chỉnh âm chiêng mua về với tư cách là một hàng hoá để nó trở thành một nhạc cụ trong dàn cồng chiêng của dân tộc; thể hiện ở việc lựa chọn các biên chế dàn chiêng, ở việc quy định giới tính, tư thế và kỹ xảo diễn tấu. Ngoài ra, họ còn sáng tác nhiều bản nhạc chiêng cho những công dụng khác nhau.

Cồng chiêng Tây Nguyên có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng truyền thống văn hoá

Cồng chiêng có mặt trong nền văn hoá của nhiều nước trên thế giới (nhất là châu Á). Tuy nhiên, dạng cồng chiêng được tổ chức thành dàn để diễn tấu độc lập hoặc kết hợp với các nhạc cụ khác thì chủ yếu thấy ở các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, hầu như tất cả các tộc người đều sử dụng cồng chiêng. Nhưng các dân tộc thường chỉ dùng 1-2 cồng phối hợp với một trống dùng trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho múa. Người Mường ở các tỉnh miền núi phía Bắc có dàn cồng sắc bùa, bao gồm một biên chế 8-12 chiếc cồng núm. Biên chế chiêng thành dàn là đặc trưng trong văn hoá của các tộc người Tây Nguyên.

Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên có nhiều điểm tương đồng với cồng chiêng Đông Nam Á. Tuy vậy, nó có những nét khác biệt: Văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là văn hoá và âm nhạc dân gian. Nó là sở hữu cộng đồng, là chuẩn mực văn hoá cho thành viên cộng đồng thực hiện. Ở những tộc người mà cồng chiêng dành riêng cho nam giới thì mọi chàng trai tộc người đó phải biết đánh chiêng. Ở những tộc người, nơi cồng chiêng do nữ giới đảm nhiệm thì mọi cô gái phải biết thực hiện nhiệm vụ này (ở nhóm Noong dân tộc Mnông thì đó là nhiệm vụ của cả nam lẫn nữ). Là sở hữu của cộng đồng, cồng chiêng Tây Nguyên có vai trò như một biểu tượng cho năng lực sáng tạo văn hoá, âm nhạc của người dân trong không gian văn hoá Tây Nguyên. Cho đến nay, cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá gắn bó với cồng chiêng vẫn tồn tại trong từng gia đình, p’lei, bon, buôn. Trong khi ở một số nước Đông Nam Á, cồng chiêng hầu như đã trở thành hoạt động âm nhạc có tính chuyên nghiệp như các dàn Gamelan của Inđônêxia, dàn Khong wong trong Mahori của Thái Lan, trong Pin Peat của Campuchia. Đặc điểm này cho thấy cồng chiêng Tây Nguyên có thể còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa hơn.

Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ của sự mai một

Trước hết là sự suy giảm nhanh chóng về số lượng các dàn cồng chiêng. Theo thống kê của Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong các p’lei/p’lơi của người Giarai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ cồng chiêng. Có gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi p’lei có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm 2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từ năm 1982 đến 1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003 lại mất tiếp 850 bộ, hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng.

Nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.

Đáng tiếc nhất là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được. Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.

Trở thành kiệt tác truyển khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đặt ra những vấn đề cấp thiết trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nó. Bài toán bảo tồn sẽ cực kỳ phức tạp, vất vả. Vì, khác với Nhã nhạc cung đình Huế, là một hiện tượng văn hóa, để bảo tồn chúng ta chỉ cần đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển nghệ nhân biểu diễn, cồng chiêng không chỉ là nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với nghi lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần có một chương trình tổng thể, quy mô cho công việc này. Trước mắt, cần đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Tiến hành phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa để tạo môi trường diễn xướng của sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trên quan điểm kế thừa có chọn lọc. Từng bước xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa-Thông tin) và tại các bảo tàng tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Ðác Lắc, Ðác Nông và Lâm Ðồng. Ðồng thời có kế hoạch đào tạo dài hạn, cơ bản đội ngũ cán bộ khoa học am hiểu về âm nhạc truyền thống, văn hóa, lịch sử Tây Nguyên, chú trọng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số. Mở lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh chiêng, chỉnh chiêng tại cộng đồng.

Muốn làm tốt công việc này cần phải xác định một số định hướng như sau:

Cần có một chương trình nghiên cứu khoa học cho Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên với 3 nhóm công việc: Sưu tầm và nghiên cứu; bảo tồn và phục hồi; truyền dạy và quảng bá. Trước mắt, phải chặn đứng nạn “chảy máu” cồng chiêng, tiến hành bảo tồn tĩnh lẫn bảo tồn động đối với di sản văn hoá này, tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu là người dân tộc ít người tại địa phương.

Bản chất của cồng chiêng Tây Nguyên là sáng tạo của cộng đồng và cũng chính cộng đồng bảo tồn, lưu giữ, trao truyền nó. Vì vậy, phát huy vai trò của cộng đồng phải là yêu cầu có tính nguyên tắc trong hệ thống các công việc trên.

Xử lý thoả đáng, biện chứng quan hệ giữa hai phạm trù “bảo tồn và phát huy” đối với hàng loạt vấn đề đặt ra của đời sống hàng ngày trong Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Muốn bảo tồn cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng, phải giữ gìn, khôi phục các sinh hoạt văn hoá – tín ngưỡng liên quan đến cồng chiêng, trong đó không nhất thiết phải kế thừa y nguyên (không nên đưa cồng chiêng thành đoàn văn công chuyên nghiệp, sân khấu hoá việc trình diễn cồng chiêng).

Khai thác tiềm năng kinh tế của kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể này nhưng không phá vỡ hay làm tăng thêm nguy cơ mai một của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Là một sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên có khả năng hấp dẫn, thu hút khách du lịch. Đây cũng là cơ hội tốt để tuyên truyền, quảng bá về giá trị của di sản: Tạo ra các tour du lịch, đưa khách du lịch đến xem, nghe trình diễn cồng chiêng tại cộng đồng, in ấn, xuất bản những sản phẩm như sách, băng đĩa, tờ rơi… để khai thác tiềm năng kinh tế của di sản, phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bảo vệ sự bền vững của kiệt tác này cũng là yêu cầu đặt ra và là cam kết của chúng ta với cộng đồng thế giới.

Những nỗ lực đưa Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hoá Phi vật thể của nhân loại đã được đền bù xứng đáng.

Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO là công việc rất vất vả, khó khăn. Trong đợt xét duyệt đầu tiên (2001), Việt Nam đã đệ trình hai hồ sơ là múa rối nước và hát chèo tàu, nhưng do chưa có kinh nghiệm nên di sản chưa được công nhận. Ðối với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chúng ta chưa có sự nghiên cứu toàn diện, các nhà khoa học nước ngoài cũng chưa có chuyên luận nào. Ðịa bàn của không gian văn hóa cồng chiêng lại trải rộng trên năm tỉnh, với 11 dân tộc. Mà thời gian để chuẩn bị hồ sơ lại không nhiều, chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng bộ hồ sơ theo đúng mẫu của UNESCO, gồm: các băng video 120p, 40p, 10p; một bộ ảnh (kèm phim âm bản, phim dương bản); 1 băng ghi âm, 1 báo cáo khoa học đánh giá di sản và chương trình hành động để phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; 1 thư mục nghiên cứu về di sản; cam kết và thỏa thuận của cộng đồng và cơ quan quản lý, ngoài ra là các tài liệu tham khảo như sơ đồ, các công trình nghiên cứu, giới thiệu về di sản…, tất cả đều phải được dịch và giới thiệu bằng tiếng Anh.  Ðể xây dựng hoàn chỉnh hồ sơ về cồng chiêng, ngoài các tư liệu lưu trữ sẵn có, cán bộ của Viện đã phải chia thành nhiều bộ phận, phụ trách những phần việc khác nhau như đi điền dã, biên tập, dịch thuật, lồng tiếng…

Với danh nghĩa là nghệ thuật biểu diễn của từng dân tộc thì cồng chiêng cũng đã có mặt trong một số ngày hội của quốc gia, đã từng đi trình diễn ở nước ngoài, nhưng với tư cách là cồng chiêng Tây Nguyên, thì chuyện lại không đơn giản. Sau lễ công bố danh hiệu, đã có lời mời đưa cồng chiêng đi biểu diễn ở nước ngoài, Bộ Văn hóa – Thông tin đã đồng ý trên nguyên tắc, nhưng phương thức tiến hành thì chúng tôi đang phải cân nhắc. Cần nhấn mạnh đây là một không gian văn hóa, vì vậy, khi giới thiệu, nhất là ra quốc tế, cần hết sức thận trọng. Tôi không đồng ý quan điểm sân khấu hóa nghệ thuật cồng chiêng. Chúng ta đã có bài học đau xót từ việc sân khấu hóa, chuyên nghiệp hóa quan họ Bắc Ninh. Với cồng chiêng, tất nhiên sẽ phải có hình thức quảng bá cho giá trị độc đáo của Di sản, nhưng làm thế nào, thì cần có sự bàn soạn và đồng thuận của các nhà khoa học, và nhất là các cộng đồng làng, những chủ thể trực tiếp của Di sản.

Tìm giải pháp để đưa các đoàn nghệ nhân đi biểu diễn và xây dựng một số buôn làng thành điểm du lịch, với đầy đủ một không gian sinh hoạt và diễn xướng cồng chiêng. Sắp tới, Bộ Văn hóa- Thông tin sẽ tiến hành xây dựng một trung tâm bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể tại TP Hồ Chí Minh, hy vọng sẽ kéo gần một không gian văn hóa đến với đông đảo nhân dân. Hiện nay, chúng tôi đang xây dựng kịch bản cho lễ đón bằng công nhận Kiệt tác truyền khẩu và Di sản phi vật thể nhân loại, dự kiến sẽ tổ chức thành một liên hoan cồng chiêng tại Tây Nguyên, khoảng cuối tháng giêng năm Bính Tuất. Bởi vì nếu làm không khéo thì sẽ tăng nguy cơ mai một vốn truyền thống. Ðược trao danh hiệu là niềm tự hào lớn, nhưng cũng đừng nghĩ rằng điều đó là vĩnh viễn. Cứ hai năm một lần, UNESCO tiến hành xem xét lại các di sản được trao danh hiệu, và giám sát quá trình thực hiện các cam kết bảo tồn, nếu không làm tốt, có thể bị tước danh hiệu.

Thế hệ hôm nay tràn đầy niềm tự hào bởi trong 90 di sản của các nước trên thế giới được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, Việt Nam có Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Niềm tự hào này cũng đặt trên vai chúng ta trách nhiệm phải bảo vệ, giữ gìn các di sản này cho hôm nay và mai sau.

PGS, TS NGUYYỄN CHÍ BỀN

Trở về

Cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác văn hóa của nhân loại

Ngày 25-11-2005, Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới. Điều đó khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.

Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú.

Hiện nay, tại hầu hết các buôn làng Tây Nguyên đều có những đội cồng chiêng phục vụ đồng bào trong sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. Vào ngày lễ tết, hình ảnh quen thuộc ”bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa múa hát trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng” lại xuất hiện trên khắp các buôn làng. Các nghệ nhân dân gian diễn tấu cồng chiêng kết hợp với nhau rất hài hòa, tạo nên những bản nhạc với các tiết tấu, hòa thanh rất phong phú, mang sắc thái riêng với muôn vàn cung bậc. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…  Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là “tiếng nói” của con người và của thần linh theo quan niệm “vạn vật hữu linh”.

Mỗi một dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây Nguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Các tộc người ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình. Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ. Cồng chiêng chính là cuộc sống của người Tây Nguyên. Nghe cồng chiêng thì thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội… Tây Nguyên.

Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của cồng chiêng. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ, hoặc dùng theo dàn, theo bộ từ 2 đến 12 chiếc, cũng có bộ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của người Giarai. Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thể diễn tấu những bản nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau. Điều đặc biệt trong dàn nhạc này mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc chiêng (cồng là loại có núm, chiêng không có núm).

Trong lễ công bố Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại, ông Koichiro Matsuura – Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Tôi đã được thưởng thức loại hình âm nhạc cồng chiêng rất riêng của Việt Nam và cũng được thấy những nhạc cụ rất độc đáo trong dàn nhạc cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên. Đây là nét văn hóa truyền thống rất riêng của Việt Nam, rất tuyệt vời và đặc sắc. Việc công nhân Danh hiệu Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đối với Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là rất xứng đáng”.

 

Lễ đâm trâu diễn ra trong âm thanh cồng chiêng Đánh cồng chiêng cổ vũ cho ngày hội đua voi ở Bản Đôn (Đăk Lăk)
Các thanh niên Giarai luyện tập nghệ thuật đánh cồng chiêng Lễ bỏ mả của người Bana
Trở về

Bộ VHTT lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

Hồ sơ đề cử Vùng Văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại sẽ được hoàn tất chậm nhất là vào ngày 30/8 để 15/9/2005 trình Chính phủ.

Cồng chiêng Tây Nguyên trong  đời sống đồng bào

Mới đây, Văn phòng chính phủ đã có công văn đồng ý cho Bộ VHTT lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên của VN là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào đợt II năm 2005. Các cơ quan được Bộ VHTT giao phối hợp xây dựng hồ sơ gồm: Viện Văn hóa Thông tin, Cục Di sản văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin các tỉnh Đăk Lăk, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng; Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) và Viện Âm nhạc (Nhạc viện Quốc gia Hà Nội).

GS Tô Ngọc Thanh, Tổng thư ký Hội Văn nghệ Dân gian VN, cho biết: “Không phải bây giờ chúng tôi mới bắt tay vào chuẩn bị Hồ sơ ứng viên. Hiện nay êkíp làm hồ sơ đang lăn lộn trong Tây Nguyên. Họ đã quay phim, ghi âm xong ở Lâm Đồng, đang chuyển về Đắc Nông. Phải mất chừng một-hai tháng lấy các tư liệu thô, sau đó về còn phải biên tập lại. Bên cạnh đó, phải có lời giới thiệu, gồm hai phần, một là giá trị và thực trạng, hai là chương trình hành động bảo vệ.”

GS Tô Ngọc Thanh cũng nhấn mạnh, lập hồ sơ là khâu quan trọng trong tiến trình đề nghị công nhận danh hiệu thế giới cho một di sản, và không phải ngẫu nhiên mà ngần ấy cơ quan được đưa vào danh sách thành viên xây dựng hồ sơ ứng cử. Bởi vì, ta “phải bán cái thứ hàng mà người ta muốn mua, chứ không phải là bán thứ hàng mà mình có trong tay”! Do đó, một mặt, cần nhấn mạnh những ưu điểm nào của Văn hoá cồng chiêng mà hợp với các tiêu chuẩn của danh hiệu Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại. Mặt khác, lại không được phép “đánh bóng mạ kền”, sân khấu hoá di sản. Hiện tượng mang đi phải là hiện tượng của thực tế, người chơi cà răng, đóng khố, cởi trần, đen đúa,…đấy, nhưng nó là nguyên bản, ở trong không gian của chính đồng bào các dân tộc.

Cồng chiêng có giá trị đặc biệt trong đời sống tinh thần các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới, tiễn đưa người chết…, đều không thể thiếu tiếng cồng, tiếng chiêng. Tới đây, nhiều tỉnh ở Tây Nguyên sẽ tích cực tổ chức nguyên bản các lễ hội cồng chiêng truyền thống, một phần để phục vụ cho việc quay phim, chụp ảnh lập hồ sơ, một phần khởi đầu cho việc khôi phục lại nhiều lễ hội lớn mà trong đó cồng chiêng được coi là linh hồn.

Trở về

Những bước chuyển mình của văn hoá Cồng chiêng

Ngày 13-10-2004, Viện Văn hóa – Thông tin cùng các nghệ nhân Tây Nguyên gấp rút hoạch định chương trình hành động 5 năm nhằm điều tra, sưu tầm, nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa cồng chiêng. Đây cũng là một bước trong kế hoạch chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản của nhân loại.

1. Từ nguy cơ mai một của văn hoá Cồng chiêng

Hiện nay, nhiều người trong các buôn làng M’nông không còn biết hết các nghi lễ truyền thống. Việc tập hợp đủ người đánh chiêng cũng không dễ dàng như xưa bởi trong một buôn, mọi người lại theo những tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Trong khi đó, bản thân những bản nhạc cồng chiêng còn giữ lại đến nay cũng quá ít ỏi. Với lớp trẻ, nhiều bài cồng chiêng trở nên đơn điệu, nhàm chán, khó hiểu. Người ta không thể thực hiện những bài cồng chiêng cúng lúa trên rẫy giờ đã trồng toàn cà phê, tiêu. Nhiều gia đình mang bán những bộ cồng chiêng

quý để lấy vốn sản xuất và giải quyết đời sống.

Nhịp sống hiện đại có sức hút mạnh mẽ với lớp trẻ. Không ít thanh niên con em dân tộc Ê Đê, M’ nông tuy được giáo dục truyền thống dân tộc, nhưng vẫn bị ảnh hưởng của văn hóa hiện đại của phương Tây, coi sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của buôn làng mình là lạc hậu và không phù hợp với hiện đại. Thậm chí họ vận động người già mang bán những bộ cồng chiêng quý để mua những thiết bị âm thanh điện tử hiện đại.

Trước đây, một số nghệ nhân biết sử dụng cồng chiêng ở các buôn làng tỉnh Đác Lắc khá nhiều (trung bình mỗi buôn từ 50 – 70 người), nhưng hiện nay, mỗi buôn chỉ còn chừng dăm bảy người.

2. Đến kế hoạch bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể

Từ trước đến nay, công tác quản lý về văn hóa cồng chiêng chưa được đặt ra một cách cụ thể. Chúng ta chỉ coi trọng các hoạt động quản lý video, băng nhạc, văn hoá phẩm… mà bỏ quên công tác quản lý cồng chiêng. Đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách về công tác này hầu như không có. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng chưa tuyên truyền cho nhân dân hiểu được giá trị văn hóa cồng chiêng của dân tộc mình để cùng gìn giữ, bảo vệ phát huy nó trong nền văn hóa cộng đồng.

Trước thực trạng này, ngày 13-10-2004, Viện Văn hóa – Thông tin cùng các nghệ nhân cồng chiêng Tây Nguyên đã gấp rút hoạch định Chương trình hành động năm năm tới với phương hướng tập trung vào việc điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa cồng chiêng trong không gian văn hóa Tây Nguyên. Theo đó, khoảng 500.000 USD sẽ được chi cho việc nghiên cứu bảo tồn di sản này trong năm năm (2005 – 2009).

Theo thống kê, năm 1993, Đác Lắc có 4.675 bộ cồng chiêng, Đác Nông có hơn 100 bộ cồng chiêng. Năm 2003, Đác Lắc chỉ còn 3.825 bộ và con số này ở Đắc Nông là 360 bộ.

Ngoài việc đẩy mạnh công tác khảo cứu điền dã, trao đổi với các nghệ nhân, xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng, sẽ còn tổ chức đội ngũ nghiên cứu có chuyên môn về âm nhạc truyền thống, thành lập xưởng chế tác cồng chiêng… Bảo tồn, phát huy di sản cồng chiêng Tây Nguyên còn được thể hiện cụ thể bằng việc đẩy mạnh công tác đào tạo trong các trường nghệ thuật của hai tỉnh Gia Lai, Đác Lắc, trường ĐH Tây Nguyên về cồng chiêng.

Theo GS-TS Tô Ngọc Thanh – Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian và Phó Tổng thư ký Hội Di sản: ” Trước mắt chúng tôi sẽ ngăn chặn có hiệu quả sự mai một, nguy cơ biến mất di sản văn hóa cồng chiêng; sẽ phấn đấu để có một giáo trình cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong các trường này”.

Trở về

Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

Ai đã đặt chân lên đất Tây Nguyên đều bị cuốn hút mạnh mẽ bởi những cuộc trình diễn cồng chiêng. Không chỉ trong tháng “ning nơng”, “mùa con ong đi lấy mật”, quanh năm ở cao nguyên đất đỏ tràn ngập tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng theo suốt cuộc đời con người, theo suốt vòng đời cây trồng…

Tiếng cồng chiêng trầm hùng trong tiếng reo hò của cộng đồng khi những chàng trai đâm trâu để hiến tế thần linh ngày bỏ mả; thổn thức trong lễ cầu sức khỏe; da diết ước mong trong ngày lễ phát rẫy trỉa lúa; phấn khởi, mừng vui trong ngày lễ mừng thần lúa. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, để họ tìm đến với nhau.

Âm thanh cồng chiêng là sợi dây kết nối cá thể với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng một cách linh thiêng và thế tục, cộng niệm và cộng cảm. Chiêng cồng đã trở thành biểu tượng cuộc sống các dân tộc Tây Nguyên.

Bắt rễ từ truyền thống văn hóa Ðông Sơn, văn hóa âm nhạc cồng

chiêng Tây Nguyên có lịch sử lâu đời, là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên. Khác với cồng chiêng của các nước trong khu vực, cồng chiêng Tây Nguyên chưa bị chuyên nghiệp hóa, vẫn gắn bó với p’ lei, p’ lơi, buôn, bon, vẹn nguyên dáng vẻ dân gian, thô mộc mà chắc khỏe, tinh tế và sâu lắng nơi núi rừng đại ngàn, cùng với tiếng thác nước ào ạt chảy ngày đêm, tạo nên một không gian văn hóa đậm chất Tây Nguyên.

Giá trị nổi bật của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là chứa đựng những sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Tài nghệ của cư dân Tây Nguyên là biến một sản phẩm hàng hóa vốn không được chính họ chế tạo thành một nhạc cụ tuyệt vời.

Người dân chưa biết đến vật lý học, mà lại chỉnh sửa chiêng rất tài tình. Với đôi tai âm nhạc nhạy cảm, họ sửa chiêng, chỉnh chiêng với trình độ thẩm âm tinh tế, với hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng trong không gian. Ðây là sáng tạo lớn của các dân tộc Tây Nguyên.

Ðể đáp ứng các yêu cầu thể hiện âm thanh khác nhau, đồng bào đã biên chế dàn chiêng cồng không giống nhau: có thể là 6, 8, thậm chí 14 chiếc.

Ở hầu hết các dân tộc Tây Nguyên, nghệ nhân đánh chiêng

Đội chiêng xã Hyao, huyện Krông Pa (Gia Lai).

cồng phải là nam giới. Riêng ở ngành Bin, dân tộc Ê Ðê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng; người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng, nhưng thường chia làm hai dàn: chiêng nam, chiêng nữ. Ngoài ra, ở nhiều dân tộc, dàn múa gồm nhiều thiếu nữ trẻ luôn đồng hành với bản nhạc chiêng. Các điệu múa được coi là thành tố không thể thiếu khi diễn tấu các bài chiêng cồng.

Sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng. Người nghệ nhân Tây Nguyên đánh chiêng theo hai cách chính: dùng nắm tay đấm hay dùng dùi gõ vào chiêng. Là nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là đáp ứng yêu cầu của mỗi lễ thức và là một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc riêng cho nó. Văn hóa và âm nhạc cồng chiêng thể hiện tài năng sáng tạo văn hóa – nghệ thuật ở đỉnh cao của các dân tộc Tây Nguyên.

Và để bảo tồn, phát huy giá trị của Không gian văn hóa

cồng chiêng Tây Nguyên, một hệ thống công việc cần phải thực hiện là sưu tầm và nghiên cứu di sản văn hóa và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên từ các bài chiêng, kỹ xảo chỉnh chiêng đến nghệ thuật trình diễn chiêng, múa xoang, v.v.

Bảo tồn và phục hồi các sinh hoạt văn hóa, lễ hội gắn với vòng đời người và vòng đời cây trồng ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại năm tỉnh Tây Nguyên, trên quan điểm kế thừa có chọn lọc; xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng. Làm tốt việc truyền dạy và quảng bá giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhất là ở một số trường nghệ thuật ở hai tỉnh Gia Lai, Ðác Lắc, Trường đại học Tây Nguyên.

PGS, TS NGUYYỄN CHÍ BỀN

Trở về

Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng

Nói đến Tây Nguyên là nói đến nghệ thuật cồng chiêng, sử thi và mái nhà rông – những giá trị văn hóa đặc sắc nhất của đồng bào thuộc các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Các nhà nghiên cứu khẳng định có một vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên mà độ tập trung đậm đặc nhất tại 5 tỉnh Tây Nguyên, rồi từ đó lan ra những tỉnh lân cận.

Từ xuất phát điểm về giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ngày 19-3-2004, Bộ VH-TT gửi công văn 814/VHTT-DSVH trình Thủ tướng Chính phủ về việc đề cử di sản văn hóa phi vật thể để UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đợt III năm 2005. Ngày 24-3-2004, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề nghị của Bộ VH-TT trong công văn 2557/VPCP-VX.

Để hoàn thiện bộ hồ sơ trình UNESCO, Viện VH-TT, Cục Di sản văn hóa và các sở VH-TT thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên đã khẩn trương thực hiện những công việc do Bộ VH-TT chỉ đạo. Kết quả, ngày 12 và 13-10-2004, cuộc tọa đàm khoa học Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á được tổ chức tại Hà Nội, với sự tham dự của các nhà khoa học thuộc nhiều cơ quan của Bộ VH-TT, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và 3 nhà khoa học đến từ Nhật Bản, Philippin và Cămpuchia.

Chương trình tọa đàm được bắt đầu bằng buổi trình diễn cồng chiêng với sự tham dự của 138 nghệ nhân, vũ công của 5 tỉnh Tây Nguyên như là minh họa trực tiếp cho những giá trị đặc sắc của Tây Nguyên giữa lòng Thủ đô. Ngày làm việc thứ hai mở đầu bằng phát biểu khai mạc của Thứ trưởng Bộ VH-TT Lê Tiến Thọ. Tiếp theo, có thể tạm chia 27 tham luận tại tọa đàm thành ba cụm chủ đề: Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á; Giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên dưới góc độ âm nhạc học. Giá trị văn hóa của cồng chiêng trong đời sống các dân tộc vùng Tây Nguyên.

Tiêu biểu cho cụm vấn đề thứ nhất có tham luận Những nhạc cụ bằng đồng, một di sản văn hóa chung của nhân dân vùng Đông Nam Á của GS. TSKH Tô Ngọc Thanh. Tác giả nhận định trong giai đoạn phát triển văn hóa đồ đồng Đông Sơn (gồm Đông Sơn sớm, phát triển, thịnh đạt và phát triển chuyển sang thời đại đồ sắt) cách nay (thời điểm năm 2004) trên dưới 3.500, Việt Nam đã tìm được nhiều hiện vật bằng đồng thau như mũi tên, dao găm, rìu, giáo, lưỡi câu, vòng tay, trống đồng, chuông đồng.v.v…, trong đó những nhạc cụ được trực tiếp sử dụng và tồn tại đến ngày nay như một thành tố hữu cơ của nền âm nhạc các tộc người ở Việt Nam. Cồng chiêng là loại nhạc cụ bằng đồng phổ biến nhất ở Việt Nam mà tên gọi khá phong phú, tuỳ theo từng cách gọi của mỗi tộc người. Ở người Việt, từ chiêng chỉ chiêng bằng, từ cồng chỉ chiêng núm. Các dân tộc Tây Nguyên cho rằng cồng núm cổ hơn chiêng bằng mặc dù về kỹ thuật chế tác, cồng núm khó chế tạo hơn. Bộ ba cồng núm được nhận định là cồng cổ xưa nhất. Theo tác giả, “chiêng cồng đã tràn vào mọi khía cạnh cuộc sống con người và của cộng đồng”.

Các giá trị văn hóa âm nhạc của bộ gõ bằng đồng ở Philippin với sự tham khảo đặc biệt về âm nhạc của cặp trống chiêng trong nghi lễ Agusan Manobo của TS Jose S. Buenconsejo (Trường đại học Hồng Kông) nêu rất rõ giá trị “tính châu Á” về âm nhạc của bộ gõ bằng đồng gồm các chiêng bằng (gangsa), chùm chiêng (kulintang), chiêng núm treo (tagunggo), chiêng nhỏ cầm tay. Việc tham dự các nghi lễ dân gian của người Agusan Manobos (Philippin) có sự tham dự đặc biệt quan trọng của cặp trống – chiêng (gimboe – agung) khẳng định vị trí không thể thiếu của loại nhạc cụ bằng đồng trong đời sống tín ngưỡng ở đảo Mindanao, nơi ít chịu ảnh hưởng của đạo Hồi và văn hóa thành thị.

Các dụng cụ bằng đồng và ý nghĩa quan trọng của chúng trong âm nhạc thế giới của GS. Tokumaru Yosihiko (Đại học Không gian, Nhật Bản) cho biết nhạc cụ chế tạo từ đồng thiếc và đồng thau gồm chuông, cồng syôko (loại lớn và nhỏ) có vị trí cực kỳ quan trọng trong các đền, chùa và dàn nhạc cung đình gagaku ở Nhật Bản. Các loại cồng – chiêng cũng có vị trí tương tự như ở Myanmar hay Philippin với các cách chơi gangsa (nhạc cụ) topayya và gangsa palook trong Kalinga.

TS. Sam Ang Sam (Đại học Hoàng gia về Mỹ thuật, Cămpuchia) bàn đến những nhạc cụ làm bằng đồng thau, đồng đỏ, sắt và hỗn hợp của những vật liệu trên và giới thiệu nguồn gốc xuất xứ, sự phát triển và chức năng của chúng ở cả phạm vi tôn giáo lẫn thế tục. Những chiếc cồng chiêng hình bán nguyệt, chũm chọe, chũm chọe sử dụng bằng ngón tay… là những nhạc cụ bằng đồng có hình thức, cách diễn tấu mang tính tương đồng khu vực cao.

Ở Việt Nam, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ với văn hóa trống đồng và dàn cồng chiêng 12 chiếc biểu thị 12 tháng trong năm của người Mường (Hòa Bình) hay coong giàm, chuông khánh, trống đồng, chiêng, cồng Mường (Thanh Hóa) cùng với thanh la, trống bột, trống bạt, trống con, cặp nắp, mõ… là những nhạc cụ thiêng gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hóa tín ngưỡng của đồng bào (Tham luận Tỉnh Hòa Bình bảo tồn và phát huy trống đồng cồng chiêng trong thời kỳ mới Bạch Quốc Khánh, và Coong Giàm trong đời sống của đồng bào Thái tỉnh Thanh – Hoàng Minh Tường; Nhạc cụ gõ bằng đồng trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Mường Thanh Hóa – Ngô Hoài Chung)

TS Đặng Văn Bài (Cục Di sản Văn hóa) nghiên cứu Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên biểu hiện cụ thể về sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công ước Bảo vệ sự đa dạng của các nội dung văn hóa và các biểu đạt nghệ thuật (UNESCO) và Luật di sản văn hóa (Việt Nam). Đối với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, “yếu tố văn hóa quốc gia và sắc thái văn hóa địa phương cần được đặt ngang hàng và bình đẳng. Phải hiểu là một dân tộc dù nhỏ bé, dân số không đông, nền kinh tế còn chưa phát triển nhưng hoàn toàn có khả năng đóng góp xứng đáng vào kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc mở rộng đối thoại văn hóa trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế”.

PGS.TS Nguyễn Thụy Loan trong tham luận Giá trị văn hóa của cồng chiêng ở Việt Nam đã nhận định cồng chiêng có vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ nhạc khí cổ truyền ở Việt Nam bởi nó bắt nguồn từ sự tổng hoà các giá trị văn hóa đa dạng, được chỉ mặt gọi tên bằng 10 giá trị như sau: Giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; Giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người, thậm chí cả đặc trưng văn hóa của những nhóm địa phương trong cùng một tộc người; Giá trị phản ánh đa chiều; Giá trị nghệ thuật; Giá trị sử dụng đa dạng; Giá trị vật chất; Giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền uy; Giá trị tinh thần; Giá trị cố kết cộng đồng; Giá trị lịch sử.

Cồng chiêng từ góc nhìn nhân học (dẫn liệu các tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên) của Thạc Sĩ Nguyễn Hữu Thông cũng chỉ ra 5 giá trị: Chiêng – cồng là biểu hiện đa diện sức sống cộng đồng; Chiêng – cồng biểu hiện sức mạnh vật chất; Chiêng – cồng biểu hiện thanh thế của gia đình – dòng tộc; Tiếng chiêng – tiếng cồng là những khúc nhạc theo suốt vòng đời người và chu kỳ sản xuất của cộng đồng; Chiêng cồng gắn kết với hoạt động nghệ thuật.

Tham luận thuộc cụm vấn đề thứ hai đi sâu tìm hiểu giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên dưới góc độ âm nhạc học.

Cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn âm nhạc học (Đặng Hoành Loan); Cồng chiêng Tây Nguyên – thang âm và nghệ thuật diễn tấu (PGS. TS Vũ Nhật Thăng); Cồng chiêng Tây Nguyên một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản (Bùi Trọng Hiền); Phát biểu của PGS.TS Nguyễn Phúc Linh; Phải chăng cồng chiêng Tây Nguyên là hậu duệ lịch sử của đàn đá (Hoàng Hương) đặt cồng chiêng Tây Nguyên trong bối cảnh văn hóa, văn hoá âm nhạc, âm nhạc học để cân – đong – đo – đếm, định tính, định lượng những nét khác biệt và tương đồng khi so sánh cồng chiêng Tây Nguyên với các nước trong khu vực Đông Nam á. Nghiên cứu tương quan cao độ các âm, phương pháp hòa tấu bồi âm, kích âm, nghệ thuật diễn tấu…, các nhà khoa học đã “khẳng định sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến… Trong đó sẽ thấy cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc” (Bùi Trọng Hiền).

Cụm vấn đề thứ ba gồm tham luận của các Sở VH-TT thuộc địa bàn Tây Nguyên. Tổng quan về văn hóa cồng chiêng và thực trạng văn hóa cồng chiêng trong đời sống các dân tộc bản địa Lâm Đồng (Sở VH-TT Lâm Đồng); Cồng chiêng trong đời sống của cư dân bản địa Gia Lai và các hoạt động nhằm bảo tồn văn hóa cồng chiêng ở địa phương (Vũ Ngọc Bình – Sở VH-TT Gia Lai); Đôi nét về giá trị nghệ thuật cồng chiêng (A Đôi – Sở VH-TT Kon Tum); Văn hóa cồng chiêng của các dân tộc bản địa Đắc Lắc (Krông YTuyên – Sở VH-TT Đắc Lắc); Cồng chiêng trong đời sống tinh thần của đồng bào Mnông tỉnh Đắc Nông xưa và nay (Tô Đình Tuấn – Sở VH-TT Đắk Nông). Những tham luận này đưa ra dẫn chứng và những con số thống kê đáng suy nghĩ về thực trạng cồng chiêng Tây Nguyên. Thực trạng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung đang đứng trước những nguy cơ và thách thức như:

Đạo Tin Lành, Thiên Chúa giáo gia tăng nhanh chóng khiến phong tục tập quán đồng bào dân tộc bị biến đổi. Bên cạnh thủ đoạn dùng lợi ích vật chất mua chuộc lôi kéo bà con, lực lượng đội lốt tôn giáo tiến hành xúi giục người dân bỏ hết các lễ hội truyền thống, không được dùng cồng chiêng, không uống rượu cần và múa hát công cộng.v.v… khiến một lượng lớn chiêng, cồng, ché quý bị mang bán hay đập vỡ, làm hỏng, gây ra nạn chảy máu cồng chiêng. Một nguyên nhân khác nữa là do cuộc sống khó khăn, trước đòi hỏi đổi mới tư liệu, công cụ sản xuất, nhiều gia đình đã chủ động bán đi một lượng lớn cồng chiêng để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình. Đối với họ những tình cảm dành cho lễ hội dân gian đã bị mai một nên việc bán đi những bộ cồng chiêng của cha ông để lo cho cuộc sống đời thường việc làm bình thường. Theo thống kê, 5 huyện phía nam tỉnh Đắc Lắc số lượng cồng chiêng từ 1000 bộ (năm 1993) đã giảm xuống còn 360 bộ (năm 2004).

Lực lượng nghệ nhân mỏng đi nhanh chóng. Trước đây, trung bình mỗi buôn có từ 50 đến 70 người biết sử dụng thành thạo cồng chiêng, nay chỉ còn 7 đến 10 người (Đắc Lắc). Trước mắt, chưa có lực lượng kế cận nối tiếp vì lớp thanh niên lớn lên sau giải phóng không mặn mà với truyền thống sinh hoạt cồng chiêng tại buôn làng.

Công tác kiểm tra, quản lý sinh hoạt văn hóa cồng chiêng chưa được đặt ra cụ thể, chưa có những văn bản mang tính pháp lý (cồng chiêng chưa có tên trong danh mục đồ cổ do Bộ VH-TT ban hành) nên việc quản lý và bảo vệ cồng chiêng chưa được quan tâm thỏa đáng.

Việc phân chia thành ba cụm chủ đề chỉ có tính chất tương đối vì các bài viết thường đan xen nhiều thông tin. Do vậy, giải pháp đặt ra thường chưa mang tính tổng hợp và cặn kẽ bởi mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng. Nhìn chung, trước mắt, việc cần làm đối với di sản vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay là:

– Cần cụ thể hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng một cách toàn diện với sự chung tay góp sức của toàn xã hội, không chỉ riêng một ngành, cấp nào.

– Tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu để hoàn thiện hơn hồ sơ trình Chính phủ nhằm xin công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Kế hoạch hành động 5 năm tới (2005-2009) do Viện Văn hóa – Thông tin đề ra với sự phối hợp của 5 tỉnh Tây Nguyên, Cục Di sản văn hóa, Viện Âm nhạc, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Viện Nghiên cứu văn hóa (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Trường đại học Tây Nguyên, Trường Văn hóa nghệ thuật Gia Lai, Trường Văn hóa nghệ thuật Đắc Lắc, Câu lạc bộ Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và nhân dân, nghệ nhân các tỉnh trong vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đã đặt ra những mục tiêu trước mắt và lâu dài cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng. Hy vọng Kế hoạch hành động sẽ đem lại kết quả như mong đợi: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị đích thực của các di sản văn hóa phi vật thể gắn với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Cồng chiêng và các sinh hoạt văn hóa gắn bó với cồng chiêng thực sự trở thành hành trang tinh thần của con người và trở thành động lực thức đẩy sự phát triển xã hội./.

Trở về

 Tây Nguyên – “cái nôi” của cồng chiêng Đông-Nam Á

 

Trước những ý kiến băn khoăn về “căn nguyên”, “cội rễ” của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nhạc sĩ Tô Vũ – một trong những chuyên gia ở Việt Nam có thâm niên cao nhất về lĩnh vực này –  đã cho rằng, căn cứ vào nhiều yếu tố, có thể khẳng định rằng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á.

Nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về cội nguồn, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá – trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo “quy trình tiến hóa” cồng đá, chiêng đá, chiêng… tre, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng…

Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử

Một “vua chiêng” ở Kông Chro,
Gia Lai, vẫn lưu giữ những bộ
chiêng quý do tổ tiên truyền lại.

hơn 4.000 năm. Về lối đánh, “rất nguyên thủy”, người Tây Nguyên vẫn “mỗi người một cái”, chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc ở Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là “vật tổ”); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn).

Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v…, nghĩa là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông -Nam Á khác, cồng chiêng đã “tiến hóa” đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang chức năng giải trí.

Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính năng nhạc khí (ở thời bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm. Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng (mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm.

Trở lại vấn đề lịch sử. Năm 43 sau Công nguyên, khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, tướng Mã Viện của Nam Hán đã cho tịch thu tất cả đồ đồng (bấy giờ chỉ có cồng chiêng, được coi là vật thiêng của người Việt) đem đúc trụ chôn ở vùng biên giới, nhằm tiêu diệt ý chí của người Việt.

Đây là cơ sở giải thích việc thất tán mạnh mẽ loại nhạc khí này trong quá khứ đời sống tinh thần người Việt, song cũng có thể hiểu rằng tổ tiên người Việt đã đem cất giấu ở vùng núi (bắt đầu sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng với các tộc người khác).

Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam, vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây còn có luận điểm gây bất ngờ rằng trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt, Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng là hiển nhiên.

Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về “nắn” lại thanh âm theo cách của mình – đó là những hoạt động “giao thương” theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay. Ngay cả “chiêng Lào” mà người Tây Nguyên sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên. Từ đó dẫn đến quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên cũng chính là cồng chiêng Việt.

(Cinet Tổng hợp)

PHẠM HOA QUỲNH : Nhóm Xẩm Hà Nội: Sẽ hát điệu “Thập ân ngãi mẹ sinh thành” để tiễn đưa “bu Cầu”, VIETNAM 2013


Nhóm Xẩm Hà Nội:

Sẽ hát điệu “Thập ân ngãi mẹ sinh thành” để tiễn đưa “bu Cầu”

Phạm Hoa Quỳnh

Sau một thời gian ngắn “chống đỡ” với bạo bệnh, “báu vật dân gian” – Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu đã trút hơi thở cuối cùng vào trưa ngày 3/3/2013. Bà Cầu sẽ mãi mãi trở về với “tổ xẩm” bên kia thế giới. Bà ra đi và để lại nỗi tiếc thương, một khoảng trống cho hát xẩm ở đời sống hiện tại, sẽ rất khó ai có thể bù đắp được. Và hơn thế, trong tâm tưởng của những người đã được gần gũi với bà, họ sẽ mãi khắc ghi hình ảnh một “bà già” có cuộc đời nhiều truân chuyên, vất vả với tiếng hát nhẩn nha, tiếng nhị réo rắt, lời ca mộc giản dị chan chứa tình quê đã “một đi không trở lại”.

 

Nhà nghiên cứu âm nhạc, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long, một trong những nghệ sĩ tham gia phục hồi nghệ thuật Hát Xẩm cùng với Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc VN kể từ năm 2005, là người may mắn có nhiều dịp được “ăn cơm” và “tấu xẩm” cùng với nghệ nhân Hà Thị Cầu. Qua những lần “giãi bày” về chuyện đời, chuyện nghề với nghệ nhân Hà Thị Cầu, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long như được tiếp thêm tình yêu với nghệ thuật hát xẩm. “Bu Cầu” (cách xưng hô của nhóm xẩm Hà Nội với bà Hà Thị Cầu) đã cho anh sức mạnh, niềm tin để gìn giữ những câu hát ấy cho hôm nay và mai sau.

 

Khi tôi liên lạc với nhạc sĩ Long để báo tin bà Cầu vừa qua đời và viết bài báo này, anh Long đang đi dọc miền Kinh Bắc với một vài người bạn. Khi biết “tin dữ” của bà Cầu, anh đã mất vài phút cảm thấy hụt hẫng và trống trong lòng. Nhạc sĩ Long bỏ ngay cuộc vui và lập tức trở về Hà Nội để chuẩn bị cùng các bạn bè cho chuyến đi về Ninh Bình tiễn biệt bà Cầu.

 

Gặp lại nhạc sĩ Long tại Hà Nội khi anh vừa “tốc hỏa” từ Bắc Giang về, anh buồn rầu chia sẻ: “Bu Cầu mất rồi. Đây là một mất mát vô cùng lớn. Bởi kể từ giờ phút này, loại hình nghệ thuật Hát Xẩm với đầy đủ ý nghĩa của nó như là một nghề ca hát dân gian người hát lấy tiếng đàn, lời ca làm kế sinh nhai đã hoàn toàn bị mất đi, sự độc đáo trong cách thể hiện tiếng đàn, giọng ca như bu Cầu hay nghệ nhân Nguyễn Văn Khôi ở Hà Đông trước đây đã coi như thất truyền”. Anh Long cũng nhận định: “Lớp nhà nghiên cứu, nghệ sĩ chúng tôi cố gắng hết mình thì cũng chỉ giữ lại được phần nào âm nhạc chứ không thể giữ được không gian văn hóa gắn liền với nó. Từ nay hát xẩm gần như sẽ không còn tồn tại trong tự nhiên.”

 

Nhạc sĩ Mai Tuyết Hoa, một người học trò của nghệ nhân Hà Thị Cầu cũng tiếp lời: “Bu Cầu hóm vô cùng, mỗi lần trò chuyện với bu Cầu giống như cuộc trò chuyện giữa hiện tại và truyền thống, từng lời nói, từng cái liếc mắt hay cái phong cách cử chỉ của bà đều như đưa ta trở về với những năm nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước nữa. Tôi nhớ có lần nghệ nhân Hà Thị Cầu hát ở đêm Xẩm Hà thành, khi ấy nghệ nhân hát bài “Theo Đảng trọn đời” do chính bà sáng tác từ năm 1977. Có tới hơn 30 năm hát bài ấy nhưng chẳng hiểu sao hôm đó, ngồi giữa manh chiếu được trải ra đúng trung tâm của sân khấu Nhà hát lớn, bu Cầu lại bỗng dưng quên lời, mà quên hẳn tới 1/3 bài. Đang dẫn dắt người nghe vào những cung bậc bổng trầm của Xẩm bỗng dưng im bặt, một lúc sau thấy mặt bà tỉnh bơ, kéo kéo cái vĩ thì đàn phát ra hai tiếng “téo tèo”. Chúng tôi, ai cũng ngơ ngác, thì bà lại kéo thêm một lần nữa, lúc này mới ngớ người bởi tiếng đàn nhị ấy là lời bà bảo “hết rồi”. Sau vài giây định hình mới biết đó cũng là cách xử lý khôn khéo và đầy thông minh sau một tai nạn nghề nghiệp như vậy”.

 

Tất cả các thành viên trong nhóm Xẩm của Mai Tuyết Hoa và Quang Long dường như đều đã “ăn không ngon, ngủ không yên” khi được nghe lời dặn dò của nghệ nhân Hà Thị Cầu lúc bà có “cảm giác” chuẩn bị về với “Tổ Xẩm”: “Khi bu về với tổ Xẩm, hãy mua cho bu một mẩu vàng để bu gối lên đầu, phải làm như thế để cho nghề Hát Xẩm tiếp tục được phát triển, được nhiều người yêu mến và gìn giữ”. Theo Mai Tuyết Hoa, đây là một hình ảnh đầy cao thượng và vô cùng đẹp của người Hát Xẩm. Bởi ai cũng biết cuộc sống của người Hát Xẩm, bà Cầu là một điển hình vốn luôn khó khăn, túng quẫn, nhưng ngay cả đến lúc lâm chung vẫn còn phải nghĩ sao để giữ trọn đạo với Tổ nghề, vẫn nghĩ cho cuộc đời chứ không chỉ có riêng cá nhân mình.

 

Gần gũi và thân thuộc như con của nghệ nhân Hà Thị Cầu, nên các nghệ sĩ trong nhóm xẩm cũng rất thấu hiểu “bu Cầu”. Dẫu không có công sinh thành, nhưng có công dưỡng dục, đối với họ, nghệ nhân Hà Thị Cầu là người thầy vô cùng kính yêu. Khi còn sống, nghệ nhân Hà Thị Cầu đã từng được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân dân gian, giải thưởng Đào Tấn… Tuy nhiên, theo anh Long,  những điều đó là sự ghi nhận của cuộc đời đối với bà chứ anh nghĩ bà không màng tới những điều ấy. Đối với bà, từ riêng góc nhìn của nhạc sĩ Long, được cất lên tiếng xẩm là mãn nguyện rồi, bất kể nơi đâu dù là một nơi cao sang quyền quý, dù là chốn linh thiêng hay chỉ nơi dân giã như bến sông, bãi chợ thì bà cũng hết mình hiến dâng cho người nghe. Đó mới là một người nghệ sĩ thực thụ!

 

Cả Quang Long và Mai Tuyết Hoa đều chắc chắn: “Ngày chúng tôi về tiễn đưa bu Cầu về với “Tổ Xẩm” ở bên kia thế giới, các thành viên trong nhóm Xẩm sẽ hát những câu trong điệu “Thập ân Ngãi mẹ sinh thành”. Đây là một bài điển hình của Hát Xẩm, được lưu lại đến ngày hôm nay chính là qua giọng hát của nghệ nhân Hà Thị Cầu. Chúng tôi sẽ hát và hát trước linh cữu của nghệ nhân Hà Thị Cầu”.

 

Nghệ nhân Hà Thị Cầu sinh năm 1928 chứ không phải 1917 như trên giấy tờ. Theo chị Mận (con gái bà Cầu), vì một số lý do và do hoàn cảnh nên lúc ấy phải khai tuổi của nghệ nhân Hà Thị Cầu tăng lên nhiều hơn. Như vậy, nghệ nhân Hà Thị Cầu hưởng dương 86 tuổi. Lễ viếng bà Cầu được bắt đầu từ lúc 7 giờ sáng ngày 4/3. Bà sẽ được an táng vào lúc 9g30 sáng 5/3 tại nghĩa trang Đầm Thuần (xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình). Tại lễ an táng bà Cầu, nhóm xẩm sẽ tiễn một “tượng đài Xẩm” – nghệ nhân Hà Thị Cầu bằng những câu hát chở nặng ân tình do chính bà Cầu là người có công lưu giữ: “Công cha ngãi mẹ sinh thành/ Mang thai 9 tháng khai sinh một ngày/Trong lòng chẳng ngại tanh dơ/ Nuôi con từ thủa tanh dơ như là/…/Nào khi bồng bế nâng niu/ Sinh con đâu quản công lao nhọc nhằn/…/ Dạy con phải giữ đạo trời/ Kính thờ cha mẹ là người hiếu trung…” .

==

tac gia va ba Ha Thi Cau (2)

Ảnh: Nghệ nhân Hà Thị Cầu với tác giả bài viết.

 

 

 

 

HẢI LƯU : Vẫn còn một đời xẩm như thế! , VIETNAM 2011


Vẫn còn một đời xẩm như thế!

Chiều xuống.Trời miền Bắc chợt hửng ấm, tôi tìm đến nhà nghệ nhân, NSƯT Hà Thị Cầu ở Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình. Bà được xem là người còn lại cuối cùng của xẩm chợ, một loại hình nghệ thuật phổ biến của những người bình dân ở nhiều thập kỷ trước.

Trước khi quyết định đi thăm bà, tôi đã nghe nhiều lần những bài xẩm bà hát được đưa lên mạng, tôi cũng đọc nhiều bài viết về bà, xem được một số chương trình truyền hình có bà tham gia. Nhưng tôi chưa bao giờ hình dung nổi một nghệ nhân hát xẩm, nếu nhìn từ một cuộc sống thật thì sẽ như thế nào. Và tôi bất ngờ, thực sự bất ngờ. Những cảm xúc trong tôi luôn bị xới tung lên mỗi chiều ngồi nghe lại xẩm, xẩm của nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Từ căn nhà xẩm

Về đến Yên Mô, trời bỗng xám ngoét sau vạt bụi xe lướt qua chợ Quảng Phúc, chợ nằm ngay trung tâm xã Yên Phong. Chợ chiều im im, lẳng lặng. Tôi hỏi nhà bà cụ hát xẩm, mọi người xôn xao chỉ tay về phía ủy ban nhân dân xã. Căn nhà nhỏ quá đỗi, chỉ hơi nhích thêm ga là xe đã vọt qua mất cái cổng, đi qua cả giới phận căn nhà. Tôi đã hơi ngần ngại nhưng cậu em đi cùng níu lấy tay áo thì thầm như reo lên: “Bà đang ngồi ăn trầu kìa!”.

Cô Mận, con gái nghệ nhân Hà Thị Cầu xót xa, bà đang ốm, năm rồi  vẫn đi hát ở vài nơi, nhưng những ngày cuối năm bà cứ lo không có tiền ăn Tết, bà thì không sao nhưng con cháu thì không đành. Cũng mang tiếng là Nghệ sĩ ưu tú, giải thưởng nọ kia nhưng những năm gần đây, bà cụ cứ lủi thủi vậy chứ đâu có nhận được thêm sự quan tâm nào. Số tiền duy nhất bà có được hiện nay là tiền hỗ trợ của nhà nước dành cho người cao tuổi. Bà cũng lẫn rồi, nhưng hát thì không sai một từ nào so với trước. Dù ốm nhưng có kháchđến chơi là bà mừng, bà khỏe ra ngay.

Đời xẩm: buồn dài…

Đã 88 tuổi đời và gần 80 năm kéo nhị hát xẩm. Bước chân nghệ  sĩ nông dân của  bà đã đi qua biết bao buổi chợ, qua biết bao ga tàu, qua bao làng mạc, phố xá… Được chứng kiến biết bao nhiêu chuyện cũ, mới của đời… bà bảo cuộc đời khổ lắm. Khổ nhưng có cái vui là được hát, vui nhất, thích nhất là hát xẩm Thập ân cho mình và cho thiên hạ. Những ngày xưa cứ như

một thước phim, rõ mồn  một từng chi tiết qua lời bà kể. Cái thời con gái của bà, sao mà lắm khổ đau đến thế. 10 tuổi đã theo bố đi hát, biết uống rượu từ đó và đến đâu là nhà, ngả đâu thì là giường. 16 tuổi đã “gật gù” (từ của cô Mận) với ông Mậu, lúc đó đã 49. Ông là chủ một  gánh xẩm ở Yên Mô, và dẫu bị lòa nhưng ham tài ông, nhiều cô vẫn theo về làm vợ. Bà Cầu là người vợ thứ 18. Bà bảo, có mà ông bỏ bùa bà, chứ bà mà lại mê ông từ ngày còn nhỏ thế à ?

Thế mà hai người cũng có với nhau những 7 mặt con, nhưng bệnh, còn lại 3. Ông Mậu mất, bà bơ vơ với 3 người con, không biết làm gì. Đói không nuôi nổi, phải đem cho đi một người con. Đi vay được một bò sắn phải giã ra chia ăn hai ngày. Đến ngày giỗ chồng cả nhà cũng ăn cháo khoai vì không vay được gạo, vay gạo chỉ sợ không trả được. Kể đến đó, bà lặng lẽ khóc, rồi với tay lau thật nhanh, sợ như mọi người sẽ thấy được những giọt nước mắt của bà lại buồn thêm. Những giọt nước mắt cam chịu ấy bà đã tự giấu đi từ những năm còn trẻ, khi bị ông Mậu đánh vì ghen, mà ông thì ghen nhiều lắm…

Những năm sau đó, không đi khắp nơi hát xẩm nữa, bà đi hát đám ma để lấy tiền đong gạo nuôi con. Chỉ đủ tiền nuôi ăn đã khó, lấy đâu ra mà lo nhà cửa. Căn nhà nhỏ bé của bà đã từng 5 lần đổ, sau mỗi lần như thế hàng xóm lại cho thêm tre để dựng lại thành lều. Bây giờ, sau 6 năm chị Mận lấy chồng,  nhà mới được xây lên, căn nhà còn lộ rõ 3 nấc thêm nếm để được như hiện nay. Người ta bảo, phận bà “đánh phấn đeo hoa”, nhưng mãi đến khi già rồi, bà mới được người ta cho  một đôi khuyên tai. Có mẹ có con, bà lại chia đôi, bảo đi đánh ra làm hai, mẹ một nửa, con một nửa…Giờ bà yếu đi nhiều rồi, nhưng ngày đêm vẫn “nhất nhị, nhì hát”. Bà bảo, nói chuyện thì quên chứ hát thì bà chẳng quên câu nào. Cứ hát là nhớ hết, cứ hát là nhời (lời) ra.

Giờ bà cũng hay buồn, buồn vì lâu lâu không thấy học trò (những người đã từng tìm đến học xẩm mà nay đã thành danh) đến chơi với bà. Buồn vì bọn trẻ giờ chẳng đứa nào dẻo tay kéo được nhị, hát là chỉ hát thôi… Tôi hỏi bà giờ bà mong nhất điều gì, bà vừa thật, vừa tếu, vừa đùa bằng cái giọng đã thấm đẫm vị xẩm trong ấy bảo: “Giờ bà chỉ thèm rư-ượu thôi! Có rượu bà uống cho vui â-ấy mà”.

Bà tiễn tôi về trong cái nắm tay thật chặt và ánh mắt buồn buồn ám ảnh. Nỗi buồn thường ở lại rất sâu trong lòng. Nỗi khổ đau của đời cũng thật dài, nhưng của một đời hát như bà, còn dài hơn…

Tôi vẫn cứ cảm thấy đau đớn, xáo trộn mỗi khi ngồi nghe lại xẩm của nghệ sĩ ưu tú Hà Thị Cầu, nhất là sau khi được gặp và thấy tận mắt cuộc sống của bà hiện tại. Một đời đi hát, một đời giữ gìn di sản không toan tính như thế nhưng cuối đời vẫn sống nghèo khổ và kham kiệm quá mức. Những bù đắp dành cho thời con gái, cho thời trẻ của bà là không thể, nhưng cuộc sống hiện tại thì nên khác, tôi chỉ nghĩ thế thôi, vậy mà cứ thấy băn khoăn mãi trong lòng.

Hải Lưu ANVN8 (03/2010)

Thứ sáu, 22 tháng 4 2011 14:00
Hải Lưu
http://www.songnhac.vn/di-san/muc-luc/nghe-thuat-dangian/1890-van-con-mot-doi-xam-nhu-the.html

NGUYỄN CAO : Xẩm ơi… , VIETNAM 2012


Xẩm ơi…

Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008.

Vậy Trần Quốc Đĩnh là ai? – Ông tổ ca hát của cái bang!

Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về.

Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung.

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng. Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.

Nghệ nhân hè phố

Ca dao có câu: Tham giàu lấy chú biện tuần – Tuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chan – Thà rằng lấy chú xẩm xoan – Công nợ không có hát tràn cung mây; Tối trời bắt xẩm trông sao – Xẩm thề có thấy ông nào, xẩm đui…

Nghệ nhân hát xẩm thường mù loà, đi hát rong khắp các thôn xóm, chợ búa,… để kiếm sống. Nhạc của hát xẩm lấy từ một số làn điệu dân ca quen thuộc  của miền Bắc như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,… Có khi kể các chuyện thơ như “Truyện Kiều”, “Nhị độ mai”, “Lục Vân Tiên”, “Thạch Sanh”,… Người hát xẩm tự đệm đàn bầu hoặc nhị, có khi thêm vài người phụ họa bằng trống, sênh, phách. Có xẩm chợ và xẩm cô đào, khác nhau ở trống đệm, tiếng hơi mạnh hoặc dịu dàng. Nhạc và lời hát xẩm thường rung động lòng người. Bởi có như vậy thì người ta mới móc hầu bao để cho các nghệ sĩ mù mưu sinh trên đường phố này.

Cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác: Tên bài xẩm nổi tiếng: xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải)… Theo mục đích, nội dung bài xẩm: xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)… Theo môi trường biểu diễn: ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện.

Miền Trung và miền Nam cũng có thể loại hát xẩm tuy khác ngoài Bắc. Xẩm miền Trung lấy bài bản từ ca Huế trong khi miền Nam gọi là “nói thơ” chẳng hạn như “nói thơ Lục Vân Tiên”.

Nguyễn Cao ANVN26 (09/2012)


Bài liên quan:

Tái hiện “Xẩm Tàu điện” Hà thành , VIETNAM 2012


Tái hiện “Xẩm Tàu điện” Hà thành

Từ ngày 26 đến 28/10/2012 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam sẽ diễn ra chương trình Xẩm tàu điện – Văn hóa đường phố Hà thành, nhằm tái hiện một nét văn hóa độc đáo của phố cổ Hà Nội. Khác với Xẩm chợ Xẩm cô đầu, Xẩm tàu điện là một đặc sản riêng của Hà Nội, ra đời và phát triển gắn liền với hệ thống tàu điện của thành phố (1900 – 1992) với những đặc trưng về ca từ, nhạc cụ và trang phục của người biểu diễn. Nhà ga, những chuyến tàu điện đã trở thành không gian diễn xướng lý tưởng cho loại hình này.

Chương trình có sự tham gia biểu diễn của NSƯT Hoàng Anh Tú, nghệ sĩ nhí Thanh Thanh Tấm, NSƯT Thanh Ngoan, NSƯT Thế Dân… với nhiều làn điệu như: Lỡ bước sang ngang, Vui nhất Hà thành, Mục hạ vô nhân, Anh khóa, Chân quê, Trăng sáng vườn chè, Lơ lửng con cá vàng… Bên cạnh đó còn có các bài Xẩm quảng cáo bán hàng như tăm tre, thuốc cam Hàng Bạc, thuốc ho bà lang Trọc, dầu cù là…

Cũng trong dịp này, khách đến Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, ngoài nghe hát Xẩm Tàu điện, còn có thể “tham quan” không gian phố cổ Hà Nội qua tranh 3D, thưởng thức ẩm thực đường phố Hà Nội qua trao đổi mua bán bằng tem phiếu thời bao cấp.

P.V (TT&VH)


Bài liên quan:

NGUYỄN LƯU : Chiêng cồng Ê Đê ở Đắc Lắc: Hiểu sao cho đúng , VIETNAM 2013


Chiêng cồng Ê Đê ở Đắc Lắc: Hiểu sao cho đúng

Nguyễn Lưu
  • Email
  • In
  • PDF.

Đến bây giờ, khi tổ chức UNESCO đã chính thức xem Không gian cồng chiêng Tây nguyên là một trong những kỳ quan phi vật thể của nhân loại, những chiếc chiêng cồng của Tây nguyên đã được đối xử đúng như cái nó có. Và một lần nữa, các nhà nghiên cứu lại đua nhau đi tìm thêm những nét đẹp của hình thái âm nhạc này.

Cách đây đã nửa thế kỷ, nhà dân tộc học tài ba Georges Condominas, người mới chia tay  gia đình và bè bạn vào cuối năm ngoái, đã thốt lên: “Tôi cảm nhận rằng có một điều kỳ diệu nào đó, từ lâu đã ngấm vào máu thịt của con người tôi, thôi thúc, tạo cảm xúc mạnh mẽ cho tôi hay cho cả cộng đồng – đó chính là âm thanh của dàn chiêng Ê-Đê. Tiếng chiêng ấy vừa mang âm hưởng của huyền thoại, vừa mang hơi thở say đắm, nồng nhiệt của đời sống hiện thực…” Georges Condominas đã cảm thấy hạnh phúc mỗi khi có mặt ở những ngôi nhà dài Ê Đê và chỉ có những lúc như thế ông mới cảm nhận điều này.

Đã quá nhiều lần nghe rằng, đối với cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên, chiêng cồng không chỉ là nhạc cụ mà còn là tài sản của bà con, dòng họ, của các bộ tộc. Cũng từ rất lâu rồi, tiếng chiêng được xem là có khả năng giao tiếp giữa con người với thần linh, với một thế giới siêu nhiên nào đó mà sự hiện hữu là có thật. Ngày nay, tiếng chiêng cũng mang trong mình những gì mà cuộc sống mới đang diễn ra. Vậy thứ nhạc cụ hết sức độc đáo và cũng có phần “bí hiểm” ấy đã được tấu lên theo cách thức nào?

Gần 15 năm bôn ba trên mảnh đất Tây nguyên, đã bao lần tôi nghe thấy tiếng vang vọng của dàn chiêng Ê Đê trong các ngôi nhà dài truyền thống.

Khác xa vẻ “âm u” trong một cấu trúc âm thanh của người Mơ nông, tiếng chiêng Ê Đê sầm sập “như trời đổ mưa” (Truyện Kiều) vang lên bởi bàn tay của các nghệ nhân (nam) ngồi đánh trên những chiếc ghế Kpan truyền thống. Sự khác biệt về hình thức giữa chiêng của hai dân tộc đông dân nhất tại Đắc Lắc là rất rõ: người Mơ nông lấy tay đánh vào mặt lồi của chiêng, còn người Ê Đê lại lấy dùi gỗ đánh vào mặt trong của những chiếc chiêng lõm. Trong các lễ hội, các bài chiêng thể hiện có quy định chặt chẽ nhưng cũng không kém phần ngẫu hứng, sáng tạo, mang những tiết tấu riêng của từng dân tộc. Năm 1985, tôi may mắn đi cùng GS Tô Vũ, Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, GS Tô Ngọc Thanh và cả vị GS Marceda,  người Philippines, đi điền dã để chuẩn bị cho Hội thảo chiêng cồng Đông Nam á. Và tại đó, tôi có dịp tiếp cận và tìm hiểu thêm nhiều điều hay của dàn chiêng Ê Đê. Trong dàn chiêng 9 chiếc của đồng bào Ê Đê, chiếc Char lớn nhất, âm thanh trầm ấm,  GS Tô Vũ chỉ vào nó rồi nói với vị đồng nghiệp người Philippines: “contrebass”, ông đã ví chiếc chiêng lớn nhất này như cây đàn lớn nhất ở bộ giây của dàn nhạc giao hưởng vậy. Bên cạnh là hai chiếc chiêng có núm mang tên là M’du và Ana, chúng phụ trách phần tiết tấu trong dàn chiêng, điều đặc biệt là chiếc M’du khi tấu sẽ đặt úp xuống, nghệ nhân dùng chiếc  dùi gỗ đầu bịt da thú đánh vào làm M’du kêu như tức thở,tiếng vang xa nhất dàn. Tuy nhiên, nhân vật trung tâm của cả dàn là 6 chiếc chiêng khác, lần lượt mang tên là Knati, Hliang, Khơc, Hluê khơc, Hluê liang và M’du khơc diêt… kết thành tiếng đối thoại của hai nhóm chiêng Hliang và Khơc, được ví như sự qua lại giữa giọng nam và giọng nữ. Sự liên tưởng ấy là có nguyên nhân của nó. Một thành viên (không thường trực) của dàn chiêng này là chiếc trống lớn, gọi là H’Gơr.

Hãy hình dung dàn chiêng này như một gia đình mẫu hệ của người Ê Đê cổ xưa. Gia đình lớn sẽ có bà chủ, chính là H’Gơr. Chiếc Char tượng trưng cho già làng, còn hai chiếc chiêng M’du và Ana là ông bác và ông chú. Còn 6 chiếc chiêng kia là những anh em trong gia đình, trong đó Khớc (số 3) là nhạc trưởng, khó đánh nhất. Tiếng Ê Đê, khớc nghĩa là ngắt, liang nghĩa là theo, còn diêt là nhỏ, M’du khơc diết y như cô gái út trong gia đình. Khi tấu nhạc, không kể chiếc M’du và chiếc Ana đối thoại nhau, nguyên tắc là nhóm Khớc dẫn dắt và nhóm liang đi theo, y như những luật tục thời mẫu hệ vậy. Thành thử, mọi cuộc tấu chiêng của người Ê Đê chẳng qua chỉ là những câu chuyện qua lại về thế tục và là sự tưởng nhớ đến thần linh, tổ tiên, thông qua các cuộc đối thoại của 2 nhóm nam-nữ. Hơn mười năm ở Đắc Lắc, dù tự xem là người có chút vốn liếng về âm nhạc và đã nhiều lần được bà con cho phép thử ngồi vào dãy ghế Kpan tấu chiêng cùng bà con mà tôi chưa sao đủ tự tin ngồi vào vị trí của chiếc chiêng Khớc, thế rồi sau nhiều ngày suy đi nghĩ lại, tôi cho rằng cái thiếu chủ yếu của mình chưa phải là vấn đề kỹ năng mà chính là tâm hồn âm nhạc của người Ê Đê, điều mà nói thì dễ mà làm thì thật khó.

Trong các sách về văn hóa dân gian Tây Nguyên, người ta có ghi rằng chiêng Ê Đê có nhiều chủng loại với các nhóm tộc người khác nhau trong cùng dân tộc Ê Đê. Ví như chiêng Jhô của người Ê Đê Bih, hoặc chiêng Knah của người Ê Đê Kpă… Cũng có nhiều loại chiêng được gìn giữ từ lâu đời và được coi là vật quý. Nó được làm từ nhiều chất liệu khác nhau, đại đa số là thép (non), gang, đôi khi có pha cả các kim loại quý như vàng, đồng đen hay bạc thường được nói đến trong các trường ca. Âm thanh của dàn chiêng sẽ vang xa hay không là do cách pha chế chất liệu khi đúc chiêng và theo nghiên cứu của chúng tôi, những lò đúc chiêng “xịn” để cung cấp cho Tây Nguyên đều từ Bình Định hay Thuận Hải mà ra. Nhưng dù là chất liệu gì thì các dàn chiêng đều được diễn tấu trong các sự kiện quan trọng của dân tộc, cộng đồng mình hay các sự kiện lớn của quê hương, dòng tộc.

Ông Krông Y Tuyên, nguyên  Giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Đắc Lắc từng tâm sự với báo chí rằng: “Kể từ khi Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại, cả thế giới lắng nghe cồng chiêng với một tâm thế ngưỡng mộ, sẻ chia và đồng cảm. Không những thế, để tôn vinh văn hoá nghệ thuật cồng chiêng, vào cuối năm 2007, UBND tỉnh Đắc Lắc còn tổ chức một Festival văn hoá cồng chiêng khá hoành tráng nhằm quảng bá bản sắc riêng của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên đến bạn bè thế giới. Điều đặc biệt hơn nữa là Festival cồng chiêng sẽ được tổ chức thường kỳ hằng năm để khuếch trương và quảng bá nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhưng rồi làm gì để mong muốn tốt đẹp ấy trở thành hiện thực, đó lại là một vấn đề không đơn giản.

Mới đây, khi phát biểu về đề tài này, nhạc sĨ Võ Đức Trí, người có nhiều sáng tác về Tây Nguyên đã cho rằng: “Ứng dụng cồng chiêng vào dàn nhạc lúc này là đáng khuyến khích, không sớm cũng không là muộn, chỉ có điều là phải cân nhắc, thận trọng, phải có thủ pháp, tay nghề và nhất thiết người dàn dựng, sáng tác phải nắm được tính năng của từng loại chiêng cồng. Thử lấy một ví dụ như trong bộ chiêng Knah của đồng bào Ê Đê, có người đã sử dụng chiếc M’du treo trên giá chiêng hoặc đeo vào vai mà đánh thì không thể đúng với phong cách, tính năng của nó, vì lối đánh này chỉ dùng cho chiếc Ana Ching có núm hoặc các dàn chiêng của người Gia Rai, Ba Na, người Mường… Còn chiếc M’du người Ê Đê chỉ có một lối đánh là để úp xuống với âm sắc tối, đục, câm tiếng, chứ không đánh vang lên, bung tiếng như các chiêng khác. Vả lại cái hay của dàn chiêng là cùng lúc kết hợp 8,9 chiếc hòa âm trên một điệu thức, có bài bản khác nhau, nếu đem tách rời một vài chiếc trong cả bộ chiêng thì khi tấu lên không thể tạo được tính độc đáo của giai điệu, tiết tấu, đôi khi còn tai hại hơn khi bị dàn nhạc điện tử lấn át bởi màu sắc hòa âm của Tây phương. Cuối cùng chỉ có tác dụng như một loại nhạc khí gõ, làm tô điểm màu sắc chứ không đảm bảo được tính cộng hưởng trong thang âm của dân tộc…”. Những kiểu tìm tòi lạ lẫm, chẳng hạn đưa chiêng cồng vào nhạc nhẹ, thậm chí vào cả dàn nhạc giao hưởng hay lên sân khấu nào đó đều vấp phải những rào cản không dễ vượt qua.

Xem ra, những nhạc cụ cổ truyền sẽ chỉ được nhận rõ nhất và trân trọng nhất nếu như được đặt giữa chính cái không gian đã tạo nên chúng.

Nguyễn Lưu ANVN28 – Số Xuân (01/2013)

Thứ tư, 20 tháng 2 2013 08:17

http://www.songnhac.vn/di-san/muc-luc/nghe-thuat-dangian/3357-chieng-cong-ede-o-dac-lac-hieu-sao-cho-dung.html

ANH THẾ : “Nghề làm tranh Đông Hồ” sẽ được đệ trình lên UNESCO, VIETNAM 2013


“Nghề làm tranh Đông Hồ” sẽ được đệ trình lên UNESCO

 

(Dân trí) – Được sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh đã gấp rút chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” đệ trình UNESCO.

Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Văn Giáp – Trường phòng Di sản, Sở VHTT&DL tỉnh Bắc Ninh cho biết: Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch vừa phê duyệt danh sách di sản văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO. Trong đó, “Nghề làm tranh Đông Hồ” đã được duyệt. UBND tỉnh Bắc Ninh đã gấp rút triển khai các thủ tục cần thiết để xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” theo quy định của UNESCO”.

 Image

 
UBND tỉnh Bắc Ninh đang gấp rút triển khai các thủ tục cần thiết để xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ”.

Theo ông Giáp, việc lập hồ sơ khoa học sẽ được tiến hành đúng các bước theo lộ trình và dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Trước đó, “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian với xuất xứ từ làng Đông Hồ – xã Song Hồ – Thuận Thành – Bắc Ninh.

Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe)…

 

 Image
Chỉ còn rất ít gia đình tại làng Đông Hồ giữ nghề làm tranh truyền thống.

Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy, người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ tồn tại từ thế kỷ 16, phát triển rực rỡ vào thập niên 40 của thế kỷ XX. Đến nay, do cơ chế thị trường khiến dòng tranh dân gian Đông Hồ đang bị mai một. Hiện nay, cả làng có gần 400 hộ với hơn 1.500 nhân khẩu, thì có hơn 90% số các hộ sản xuất và buôn bán vàng mã. Làng Đông Hồ chỉ còn một vài gia đình bám trụ với nghề như gia đình ông Nguyễn Đăng Chế, gia đình ông Nguyễn Hữu Sam, Trần Nhật Sở…

Việc làm hồ sơ khoa học trình UNESCO đưa “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa đặc biệt này.

 

Anh Thế

Thứ Bẩy, 09/03/2013 – 01:59

PHẠM HOA QUỲNH : Đám cưới lại có ca trù, VIETNAM , 2013


Đám cưới lại có ca trù

> Quảng bá di sản văn hóa phi vật thể nhân loại
> Nhịp phách ca trù ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám

TP – Ca trù biểu diễn phục vụ đám cưới! Việc tưởng như không tưởng trong thời đại này vừa diễn ra tại một đám cưới theo phong cách truyền thống ở Hà Nội. Gần một thế kỷ qua, ca trù mới xuất hiện trở lại nơi đám cưới.

 

Đây chắc là đám cưới đầu tiên ở thế kỷ XXI có ca trù góp vui
Đây chắc là đám cưới đầu tiên ở thế kỷ XXI có ca trù góp vui .

Ông Nguyễn Sỹ Tuyên ở số 125B phố Nguyễn Khuyến là người nảy ra ý định mời phường ca trù về hát tại đám cưới của con gái mình. Ông Tuyên chuyên sưu tập, nghiên cứu đồ cổ và chế tác đồ giả cổ.

Khách dự tiệc bước qua cái rạp chừng 10m2, vào nhà chính, ai cũng ngỡ ngàng bởi những vật dụng trong nhà ông như bàn, ghế, bình hoa, tủ đựng đồ, lục bình, sập tiếp khách… không màu nâu thì cũng có sắc vàng, đầy tinh thần hoài cổ.

Ông Tuyên chia sẻ việc mời nghệ nhân ca trù biểu diễn tại đám cưới của con gái mình: “Chúng tôi là những con người Việt Nam, từng nghe ông cha nói nhiều về loại hình văn hóa – hát ca trù. Trước khi giáo phường Thăng Long biểu diễn hôm nay, tôi đã mời họ về đây ít ngày để diễn như thật nhằm kiểm định chất lượng. Và tôi đã bị thuyết phục hoàn toàn bởi tiếng ca, nhịp phách mà các nghệ sĩ đem đến. Tôi không sử dụng âm nhạc hiện đại vì ít nhiều bị lai căng, ồn ào không đúng tính chất của một lễ trọng như đám cưới!”.

Trong tiệc cưới, các nghệ sĩ của giáo phường ca trù Thăng Long được bố trí ngồi trên một cái sập gần trung tâm của ngôi nhà. Quan khách dự tiệc ngồi sát nghệ sĩ biểu diễn.

Ranh giới giữa người diễn và người thưởng thức dường như không có, đặc biệt ca nương hát mộc mà không qua bất kỳ hệ thống xử lý âm thanh nào. Các nghệ sĩ sẽ cũng đối mặt trực tiếp với áp lực, nhất là khi gặp phải khán giả sành ca trù.

Vì họ sẵn sàng đưa ra những yêu cầu, thậm chí khen chê đào nương tại trận. Nếu ca nương không có nhiều vốn nghề, trải nghiệm và đủ tỉnh táo để đáp ứng được những “đơn đặt hàng” từ khán giả thì rất dễ “vỡ trận”.

Trước một không gian không theo ý mình, trong tiếng nói chuyện ồn ào của khách dự đám cưới, người qua kẻ lại…, ca nương vẫn phải tập trung vận khí để giọng hát vang và truyền tải được “cái hồn” của ca trù tới người thưởng thức.

Ca nương hát chính trong buổi diễn tại đám cưới kể trên là Phạm Thị Huệ và Phạm Thị Mận. Cả hai cô đào cũng như các nghệ sĩ giáo phường Ca trù Thăng Long biểu diễn tại đám cưới hôm đó, đã thể hiện được đẳng cấp cũng như tính chuyên nghiệp của mình.

Bởi lẽ, nhiều vị khách tới yêu cầu và “bắt bẻ” đào Huệ hát những bài được xem là kinh điển như: Kiếp nhân sinh (Nguyễn Công Trứ), Tự tình (Cao Bá Quát), Đào Hồng đào Tuyết (Dương Khuê), Gặp xuân (Tản Đà), Duyên nợ (Nguyễn Khuyến)…

Bằng kinh nghiệm và tài năng, họ đã đem đến những bản ca trù rất có hồn bằng một giọng thanh, cao, vang, ém hơi nhả chữ thuần thục. Hát tròn vành rõ chữ, nảy hạt, đổ con kiến đâu ra đấy. Các ca nương vừa hát vừa gõ phách, tiếng phách vừa chắc vừa giòn, lời ca và tiếng phách ăn khớp khiến cho quan khách bị thu hút, lắc lư theo.

Sau buổi diễn, ông Đinh Trọng Cân – giám đốc một công ty vận tải bày tỏ: “Ca trù hay thật. Trước đây tôi chỉ được nghe trên sóng phát thanh, giờ mắt thấy tai nghe lại càng thấm thía”.

Anh Nguyễn Xuân Thủy, một trí thức trẻ thì nói: “Đây là lần đầu tiên tôi được nghe hát ca trù trực tiếp. Hay và ý nghĩa hơn khi tiếng hát, nhịp phách ca trù lại vang lên ở trong không gian là buổi tiệc cưới. Tuy nhiên tôi thấy hơi tiếc, bởi nếu sắp xếp chương trình ở một không gian tách biệt thì sẽ chất lượng hơn, tránh được tiếng ồn ào, đúng với tính chất của ca trù. Dù sao nên nhân rộng cách làm này để bảo tồn và phát huy ca trù”.

Khoảng 70 năm trước, nghệ nhân Phạm Phú Đệ (90 tuổi) thầy của đào Huệ cũng từng đi đàn hát đám cưới, khao vọng thời đó. Nghĩa là, trải qua gần một thế kỷ, ca trù mới xuất hiện trở lại nơi đám cưới. Có thể thấy đây là tín hiệu đáng mừng, vì ca trù xem ra đã bắt đầu trở lại với đời sống của người dân Hà thành.

Sự tái hợp này không chỉ góp phần tiếp sức cho ca trù mà còn là cơ hội để nhiều khán giả được tiếp xúc với loại hình âm nhạc vẫn đang trong nguy cơ thất truyền này.

Phạm Hoa Quỳnh

07:11 | 09/03/2013