Tiếng tơ lòng của người truyền nhân mang ngón út dị dạng, VIETNAM 2012


Tiếng tơ lòng của người truyền nhân mang ngón út dị dạng
(Ngày đăng: 06/04/2012   Lượt xem: 163)

Tơ lòng đã lỡ đôi dây 
Tình tang chi mãi cho đây 
thêm sầu (cổ nhạc)

NSƯT Xuân Hoạch với cây đàn quý của người thầy – Đinh Khắc Ban. Ảnh: Hi Lam

so tiếng của dây tơ ngày xưa với tiếng của dây nilông hiện tại thì đúng là một trời một vực. Tiếng dây nilông vang lên rồi mất ngay, làm âm thanh bị biến dạng. Còn “tiếng dây tơ nghe đã lắm, sâu thăm thẳm, có đục có trầm, chứ không bong như tiếng dây nilông” – lời thầy Đinh Khắc Ban cứ văng vẳng trong tâm trí NSND Xuân Hoạch suốt mấy chục năm trời. Và rồi, ông mày mò tìm cách hồi sinh tiếng tơ cho cây đàn dân tộc.

Một bữa nắng gắt, trong ngôi nhà cổ làm toàn bằng gỗ của hoạ sĩ Bùi Hoài Mai tại Bắc Ninh, diễn ra một chương trình âm nhạc dân tộc thật khó quên. Nhân vật chính là nghệ nhân ca trù Kim Đức và nghệ nhân đàn đáy Xuân Hoạch. Nhân vật phụ, ngoài đài truyền hình địa phương còn có nghệ sĩ Việt kiều Nguyễn Nhất Lý, từng ghi dấu ấn với vở xiếc Làng tôi. Lý vượt đường xa, vác theo dàn âm thanh, là để tranh thủ ghi lại những tác phẩm ca trù chuẩn mực của đôi đào nương – kép đàn gạo cội: Kim Đức – Xuân Hoạch, và cũng vì không muốn bỏ lỡ buổi ra mắt một cây đàn đáy “đặc biệt”, như giới thiệu của NSND Xuân Hoạch. Khi nghệ nhân Xuân Hoạch lựa thế ngồi, nâng cây đàn cổ, những âm thanh đầu tiên phát ra từ đôi bàn tay chai sần biến dạng sau mấy chục năm khổ luyện, hết thảy sững sờ, mà người xúc động hơn cả là nghệ nhân ca trù Kim Đức. Thứ âm thanh tuyệt đẹp này đã mất tích lâu lắm rồi, chỉ còn ngân rung trong nỗi nhớ của bà hơn nửa thế kỷ qua. Nhất Lý cũng bàng hoàng không kém, bởi những sợi tơ mỏng manh anh tìm về cho nghệ nhân Xuân Hoạch, không ngờ, lại là thành tố quan trọng tạo nên thứ âm thanh kỳ lạ, vốn gắn liền với những cây đàn cổ truyền của Việt Nam: tiếng tơ.

Năm 1973, NSND Xuân Hoạch khi ấy đang đầu quân cho nhà hát Ca múa nhạc Trung ương, được giao một nhiệm vụ quan trọng: trong vòng ba tháng, gấp rút học cách chơi đàn đáy để tham gia biểu diễn trong một tác phẩm lớn. Ông tìm đến nghệ nhân Đinh Khắc Ban nhờ chỉ dạy. Thực ra, lúc đầu, cũng chỉ định học tới mức “lấy gân, ngón” là ngưng. Nhưng, không ngờ, càng học càng ngấm, càng say. Khoá đào tạo ngắn hạn chuyển thành dài hạn. Năm năm trời, thầy trò gắn bó với nhau. Có lúc, trò đón thầy về ở cùng, để tiện cho việc học. Cụ Đinh Khắc Ban có một cây đàn quý, sử dụng từ nhỏ, và cũng là cây đàn cụ dùng để đệm cho đào nương Quách Thị Hồ hát bản Tỳ bà hành (tác phẩm này cùng tác phẩm solo đàn đáy của NSND Xuân Hoạch giành giải nhì (không có giải nhất) liên hoan Quốc tế băng từ dân gian, tổ chức tại Mông Cổ). Một bữa, thầy Ban nói với Xuân Hoạch, sau này sẽ tặng lại trò cây đàn. Thời ấy, cây đàn là báu vật của kép đàn, nên nghe thế, Xuân Hoạch sung sướng, cảm động lắm. Dĩ nhiên, đó không phải là lý do chính khiến ông miệt mài với cây đàn đáy. Chìa đôi bàn tay gân guốc có hai ngón út và áp út gần như dính liền nhau, Xuân Hoạch cười bảo: “Không phải bỗng dưng người ta gọi đàn đáy là nhục cầm. Muốn biết ai khổ luyện hay không chỉ cần xoè tay ra là thấy. Ngón út của người chơi đàn đáy bao giờ cũng to bất thường. Ngón út của thầy Ban thậm chí còn to bằng ngón trỏ”. Cũng chính vì nhìn vào đôi bàn tay dị dạng ấy, cụ Đinh Khắc Ban mới tin tưởng trao lại báu vật của mình cho Xuân Hoạch. Đến giờ, cây đàn đã ngoài 90 năm tuổi, nhưng phím đàn vẫn nguyên vẹn, âm thanh phát ra vẫn chuẩn mực như ngày kép đàn Đinh Khắc Ban được làm lễ “đóng đàn”.

Trong thời gian theo học nghệ nhân Đinh Khắc Ban, thi thoảng, Xuân Hoạch lại thấy thầy ôm cây đàn trầm ngâm: “Giá như còn dây tơ…” Hỏi chuyện, thầy kể, ngày xưa, “tiếng trúc, tiếng tơ” là âm thanh đặc trưng của các cây đàn cổ truyền. “Tiếng trúc” là tiếng của bộ gõ, phách. “Tiếng tơ” là tiếng của dây đàn làm bằng dây tơ. Tiếng vang của dây tơ rất lạ, ngay cả khi gần tắt thì vẫn nguyên âm sắc, độ đục, độ trầm sâu thăm thẳm, nghe rất sướng, mà người chơi đàn cũng sướng. Có điều, nó khiến kép đàn mệt hơn nhiều so với dây nilông, vì phải “miết” chặt. Độ “miết” càng chặt, càng cao bao nhiêu thì tiếng đàn càng có sức nặng, có thần bấy nhiêu. Từng ấy chi tiết đủ khiến Xuân Hoạch nôn nao. Mặc dù chưa từng thấy dây tơ, chưa từng nghe tiếng tơ, nhưng trong đầu ông đã nhen nhúm một ý định…

                                                                           Theo SGTT

http://langnghevietnam.vn/?go=New&page=d&igid=671&iid=1067

 

NGUYỄN QUANG LONG : Còn đây một giọt đàn bầu, VIETNAM 2009


Còn đây một giọt đàn bầu

(TT&VH Cuối tuần) – Ai cũng nghĩ đàn bầu, báu vật vô giá của dân tộc, vẫn còn sống rất mãnh liệt khắp chốn nhân gian. Vậy mà, cây đàn bầu mộc đã gần như vắng bóng, và bị thay thế bởi đàn bầu điện. Nhưng mới đây, giữa Hà thành nghìn năm tuổi, du khách có thể thưởng thức tiếng đàn bầu cổ truyền qua tài đàn của NSND Xuân Hoạch tại một nơi hết sức dân dã: chiếu Xẩm Hà thành ở ngay trước cửa chợ Đồng Xuân vào mỗi tối thứ Bảy. Ông cũng chính là người từng mày mò phục chế cây đàn bầu mộc từ trong những tư liệu ảnh của người Pháp…

Long đong phận đàn bầu

Cây đàn bầu vốn chiếm thế độc tôn trong lòng mỗi người con đất Việt nhiều thế kỷ, nhưng tới nửa cuối thế kỷ 20 khi các nhạc cụ điện ngày càng phổ biến thì phong trào cải tiến đàn bầu để âm thanh lớn bắt đầu phát triển và nở rộ. Đó cũng là thời điểm báo hiệu những thăng trầm của đàn bầu.
 
Đàn bầu mộc ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
 
Vào những năm 1950 đàn bầu điện bắt đầu xuất hiện trong các đoàn văn công. GS.TS Phạm Minh Khang – nguyên Chủ nhiệm khoa Lý luận Sáng tác Chỉ huy – Học viện Âm nhạc Quốc gia VN (HV ANQGVN) cho rằng: “Sự xuất hiện tiếng đàn điện phù hợp với thời điểm ấy, khi các đoàn phải tập trung biểu diễn phục vụ chiến sĩ và nhân dân. Để phục vụ đông đảo công chúng một cách hiệu quả cần phải có âm thanh lớn, các nghệ sĩ đã sáng tạo ra việc lắp thêm ô-ri-ông-tông khuếch đại âm thanh”. Sáng tạo này rất độc đáo vì nó vẫn giữ được hồn cốt của tiếng đàn bầu, từ nhấn nhá đến rung, kể cả những tiếng phát ra từ sự tác động giữa que gảy với dây đàn rất đặc trưng của đàn bầu. Vài thập niên sau, thêm một làn sóng cải tiến nhạc cụ, nhiều nghệ sĩ đã lắp thêm mô-bin kèm theo cái loa như loa nén cỡ nhỏ. Cũng từ thời điểm ấy đàn bầu điện có thể rung, nhấn nhá thêm nhiều cung bậc nhưng nó đã khác xa với cây đàn bầu cổ truyền và rất dễ lẫn với âm thanh của nhiều nhạc cụ điện du nhập khác như guitar điện, guitar Hawai…
 
Theo các chuyên gia, lần cuối cùng đàn bầu mộc đến với đông đảo công chúng cách đây đã 30 năm. Năm 1978, Nhạc hội Đàn bầu lần đầu được tổ chức từ sáng kiến của cố GS, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nguyên là Viện trưởng Viện Âm nhạc. Nhạc sĩ Thao Giang, lúc ấy là Phó trưởng Khoa Nhạc cụ Truyền thống của Trường Âm nhạc VN (nay là HV ANQGVN) đã được sự chỉ đạo của GĐ, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương về việc đặt những cây đàn bầu này để khai thác, áp dụng trong giảng dạy tại trường: “Cụ Phước muốn tổ chức Nhạc hội vì cụ muốn cây đàn bầu cổ truyền trở về với vị trí vốn có của nó, đồng thời cũng là dịp nhìn nhận để tiếp tục phát triển cây đàn cải tiến. Không thể quên được lần ấy tiếng đàn bầu mộc độc đáo được các nghệ nhân Thân Đức Chinh (Bắc Giang), Nguyễn Văn Nguyên (Hà Nội), Nguyễn Ngọc Thư, Nguyễn Văn Quang (Hải Phòng)…”.
 
NSND Xuân Hoạch và cây đàn bầu mộc do ông chế tác

Không ai biết thời điểm chính xác cây đàn xuất hiện, song nhà nghiên cứu Hoàng Kiều dẫn lời cụ nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên: Đàn bầu tương truyền chính là báu vật mà Bụt ban cho thái tử Trần Quốc Đĩnh trong lúc bị người em ruột hãm hại bơ vơ giữa nơi rừng sâu. Cũng từ đấy hát xẩm ra đời gắn với đàn bầu. Có lẽ cũng do gắn với hát xẩm và những nghệ nhân mù lòa cơ cực nên đàn bầu cũng cùng chung số phận hẩm hiu! Rồi mãi đến năm 1892 đàn bầu mới được những người hát xẩm Bắc kỳ đưa vào Huế và khoảng đầu thế kỷ 20 người ta mới thấy một số nhạc sĩ tài tử dùng đàn bầu để hòa tấu trong dàn nhạc…

Và mối duyên nợ với “tiếng hồn dân tộc”

NSND Xuân Hoạch được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT năm 1993 và NSND năm 2007 do những đóng góp cho cây đàn nguyệt. Song, ông lại luôn bị tiếng đàn bầu ám ảnh. Quê ông ở Thái Bình, từ nhỏ đã ngấm tiếng bầu cùng những làn điệu chèo. Được học đàn nguyệt chính quy tại Trường Âm nhạc VN nhưng ông vẫn học lỏm đàn bầu ở lớp của thầy Bá Sách. NSND Xuân Hoạch kể: “Đàn bầu với tôi như một món nợ. Chừng nào chưa trả lại được cho nhân dân tiếng đàn bầu dân tộc thì chừng đó gánh nợ vẫn còn đeo đẳng bên tôi”.

 

NSND Xuân Hoạch cho biết: Cây đàn bầu mộc có nhiều đặc điểm khác biệt với đàn bầu hiện nay. Hộp cộng to, cần đàn cứng cáp, và que đàn thì rất dài, có khi dài bằng cái đũa con. Khi đánh, sự tác động giữa que đàn lên dây đàn sẽ tạo một tiếng phụ nghe rất hay, rất đặc trưng của tiếng đàn bầu mộc, vì thế nó mới được ví như tiếng kêu “tích tịch tình tình tang”. Đàn bầu ngày nay đã hoàn toàn mất đi âm sắc này. Tư thế chơi đàn cũng rất đẹp chứ không phải cúi gầm mặt như đàn bầu điện hiện nay.

Quá trình chế tác đàn bầu mộc của NSND Xuân Hoạch không hề đơn giản. Có quá nhiều khâu phải thực hiện. Đầu tiên phải nhớ lại cây đàn ngày xưa mà nghệ sĩ từng được tận mắt thưởng thức kết hợp với những tấm ảnh đàn bầu do người Pháp chụp đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội, sau đó vẽ ra để định dạng kích thước. Việc chọn chất liệu phục chế cũng không đơn giản. Xưa các cụ dùng gỗ hoặc tre to để làm hộp đàn, sau khi suy nghĩ và tham khảo, ông quyết định chọn chất liệu tre làm bầu đàn. Bỏ ra không biết bao nhiêu thời gian rong ruổi khắp các điểm bán tre nứa mới có thể tìm cho ra một cây ưng ý. Ngay như quả bầu nậm, dù chỉ có tác dụng giúp cho cây đàn thêm duyên dáng nhưng ông cũng phải nhờ anh em họ hàng ở tận Quảng Trị gửi ra. Vì thời điểm ấy không thể tìm được bầu nậm khô ở Hà Nội. Có đầy đủ nguyên liệu làm đàn rồi mới đến khâu quan trọng nhất là chế tác. Phải chú ý từng chi tiết nhỏ để làm sao khi cây đàn thành hình có thể phát ra được âm thanh tốt nhất. Mãi tới năm 1990, ông mới phục chế xong cây đàn bầu mộc đầu tiên. Rồi đàn thử, thu băng và đem “khoe” những người bạn thân thiết.
 
Tiếng đàn bầu mộc hôm đó của NSND Xuân Hoạch đã trở thành cảm hứng ra đời tác phẩm Du thuyền trên sông Hương đậm chất âm nhạc Huế lại pha chút âm nhạc Hát Văn của nhạc sĩ Thao Giang. Đó là một bản nhạc với sự góp mặt của 4 nhạc cụ, trong đó ngoài đàn bầu còn có 3 nhạc khí gõ là mõ, thanh la và trống. Trao tặng NSND Xuân Hoạch tổng phổ bản nhạc, nhạc sĩ Thao Giang động viên: “Đây là tác phẩm viết cho đàn bầu mộc sẽ thể hiện được tính năng cây đàn và tài nghệ của người nghệ sĩ biểu diễn. Nhưng phải tập để làm sao chỉ một mình có thể đảm đương tất cả các nhạc cụ này. Các cụ nghệ nhân đàn bầu xưa vẫn làm được điều này”. Quả là một điều không đơn giản trong khi tay đàn, hai chân phân 3 loại nhạc cụ mà mỗi chân lại phải đảm đương hai kiểu tiết tấu khác nhau (một chân nhịp thuận và một chân là tiết tấu đảo). Các cụ nghệ nhân thời xưa không phải lúc nào cũng sử dụng “chiêu độc” này nhưng cụ nào cũng thạo việc tay vừa gảy đàn vừa đánh trống, chân giậm nhịp rất điệu nghệ…
 
Hiện đang thuộc “quân số” của Nhà hát Ca múa nhạc VN nhưng muốn gặp NSND Xuân Hoạch phải tìm tới Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc VN (Trung tâm) tại đình Hào Nam. Vì cứ rảnh ông lại tới đây truyền dạy cho các bạn yêu nghệ thuật truyền thống về đàn nguyệt, đàn bầu, đàn đáy, hát văn và hát xẩm… Học sinh của ông đủ lứa tuổi, có cụ bà hơn 80 đến học lại những câu hát ru, có cháu bé chỉ hơn 10 tuổi. Nhưng điều ông trăn trở là cho đến nay, vẫn chưa tìm được một học trò cưng để giao lại những bí quyết phục chế đàn bầu nguyên gốc. Ông bảo để có thể thể hiện đàn bầu theo đúng lối truyền thống dân tộc để đạt được yêu cầu đơn giản nhất chí ít cũng phải mất 3 năm dồn toàn tâm toàn lực, còn đạt độ nhuần nhuyễn thì phải mất cả cuộc đời. Mà bây giờ, tìm được một người trẻ yêu và dám hy sinh tất cả cho cây đàn bầu thật như đáy bể mò kim…
 
Nguyễn Quang Long
Thứ Hai, 12/01/2009 16:28 |

NGUYỄN HÀ AN : Làm sống lại cây đàn bầu cổ, VIETNAM 2010


Làm sống lại cây đàn bầu cổ

21/12/2010
Những người yêu nhạc dân tộc và thậm chí cả những nghệ sỹ chơi đàn bầu, rất ít người được mục sở thị cây đàn bầu cổ, mà chỉ biết đến đàn bầu điện vẫn được sử dụng rộng rãi. Con đường tìm kiếm và phục dựng cây đàn bầu cổ là cả một hành trình gian nan.

04-lai-song-35510-300.jpg

NSND Xuân Hoạch kể, trong Nhạc hội Đàn bầu tổ chức tại Hà Nội năm 1978, ông và nhạc sỹ Thao Giang (hiện là Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Âm nhạc Việt Nam) đã tận mắt được xem ông Nguyên, lúc đó là một trong những trùm xẩm nổi tiếng của Hà Nội chơi một cây đàn bầu rất lạ. Nó không chỉ khác về hình dáng mà âm thanh cũng nổi trội hơn. Điều đặc biệt là không cần kích điện nhưng tiếng của nó rất to và vang. Trở về, ông cùng nhạc sỹ Thao Giang tìm trong các tư liệu về đàn bầu thì chỉ có những ghi chép sơ qua mà không có hình ảnh minh họa. Nhạc sỹ Thao Giang đã phải nhờ một người bạn bên Pháp tìm cho bức ảnh mà người Pháp đã chụp hai người Việt hát xẩm trước cổng chợ chơi cây đàn mà ông đã được nhìn thấy ông trùm Nguyên chơi.

Năm 1992, NSND Xuân Hoạch bắt tay phục dựng cây đàn cổ. Nguyên liệu được ông lựa chọn là tre. Theo ông, đàn làm bằng tre dễ làm hơn và mang đậm phong cách dân gian. Nói thì dễ nhưng ông cũng mất 17 năm để phục dựng được nó. Trong quá trình phục dựng, ông đã hiểu vì sao người hát xẩm xưa lại điều khiển cây đàn một cách dễ dàng như vậy. Cần đàn hay còn gọi là vòi đàn được uốn cong như chiếc vòi voi và cao đến 70cm. NSND Xuân Hoạch giải thích, cần cao như vậy giúp cho người hát xẩm khiếm thị vốn đã không nhìn thấy gì, không phải cúi mặt xuống mỗi khi đánh đàn. Khi khép nách lại tạo cự ly vừa phải để có thể đánh đàn mà không phải bò soài trên cây đàn. Dây của cây đàn cổ cách mặt đàn 45cm, cao hơn rất nhiều so với cây đàn cách tân chỉ cách 10cm. Cần đàn được ví như chiếc cổ con hạc “Trường cổ thì đại thanh”, nên người làm đàn xưa đã áp dụng nguyên lý đó để tạo cho tiếng đàn có thể vang xa.

Sau khi làm cây đàn bằng tre, NSND Xuân Hoạch vẫn chưa thỏa mãn. Ông quyết định làm một cây đàn bằng gỗ. Bởi cây đàn ông được nhìn thấy và cây đàn do người Pháp chụp ảnh đều được làm bằng gỗ. Nếu làm cây đàn bằng tre ông phải mất 17 năm thì chuyển sang làm cây đàn bằng gỗ ông chỉ mất 2 tháng. Bởi tất cả những nguyên lý về âm thanh, những khiếm khuyết của cây đàn tre ông đã nắm rất rõ. Điều khó nhất là tìm gỗ để làm đàn. Người xưa thường có câu: “Bầu sòi vòi nhãn”, tức là bầu đàn được làm bằng gỗ sòi, vòi đàn được làm bằng gỗ nhãn. Sở dĩ chọn gỗ nhãn để làm vòi đàn bởi gỗ nhãn có độ dẻo cao giúp người chơi dễ dàng chỉnh âm. Người xưa quan niệm bầu đàn được coi như một bào thai âm thanh từ trong phát ra chứ không phải từ ngoài dội vào nên phải chọn gỗ sòi làm bầu để bảo đảm âm thanh vừa trong vừa vang xa. Không tìm được gỗ sòi ông quyết định chọn lõi thông thay thế. Lõi thông cũng chịu được thời tiết khắc nghiệt của Việt Nam và âm thanh cũng chuẩn không kém gì gỗ sòi. Sau khi hoàn thành việc phục dựng cây đàn bầu cổ bằng gỗ, ông quyết định thêm một chi tiết nữa vào chân đàn, là bộ gõ, giúp người hát xẩm có thể một mình vừa gẩy đàn, vừa gõ, vừa hát.

Những cố gắng của NSND Xuân Hoạch đã được đền đáp. Hầu hết những CD hát xẩm hay độc tấu đàn bầu đều được chơi bằng cây đàn do ông phục chế. Điều ngạc nhiên là nếu chỉ nghe, người nghe tưởng như có hai người gõ đệm cho một người chơi đàn.

Vui vì đã phục dựng được cây đàn cổ nhưng NSND Xuân Hoạch vẫn đau đáu một nỗi niềm, là đến nay chưa có ai thực sự muốn học đánh cây đàn cổ. Bởi để học được nó cũng khó khăn như quá trình ông tìm cách phục dựng nó. Ông cười bảo: nếu có ai say mê nó như tôi, tôi sẽ đóng cửa chỉ ở nhà truyền dạy miễn phí cho họ.

Nguyễn Hà An

Học viện Âm nhạc Quốc gia đứng ngoài cuộc, VIETNAM 2011


Học viện Âm nhạc Quốc gia đứng ngoài cuộc

ANTĐ – 21 tháng trước

Hoc vien Am nhac Quoc gia dung ngoai cuoc

ANTĐ – Sau những thành công từ việc tổ chức và duy trì chiếu xẩm chợ Đồng Xuân, Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam lại có ý định đào tạo âm nhạc chính quy, cụ thể là đưa di sản âm nhạc Bắc bộ vào giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Huế.

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Dự định này được nhiều người trong giới cổ nhạc đánh giá là mạnh dạn song có phần liều lĩnh.

Hát văn, hát xẩm sẽ trở thành môn học chính quy tạiHọc Viện Âm nhạc Huế bắt đầu từ tháng 9-2011

Nói liều là bởi, trong bối cảnh hiện nay, nghệ thuật truyền thống ngày càng lép vế trước những thể loại âm nhạc hiện đại như pop, rock hay hiphop… Và cũng nói là liều bởi, từ trước cho tới nay trong hệ thống giáo trình nhạc cổ truyền dân tộc vẫn được đào tạo theo kiểu mỗi thứ một tí. Theo Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, hệ thống các học viện âm nhạc ở cả 3 miền hiện nay, chủ yếu đào tạo 2 loại nhạc cơ bản là nhạc cổ điển châu Âu và nhạc dân tộc nhưng là nhạc dân tộc cải biên.

Còn Nhạc sĩ Thao Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam cho biết, việc đào tạo cổ nhạc chưa thực sự được coi là biện pháp bảo tồn đấy là còn chưa kể đến, chương trình đào tạo nhạc cụ dân tộc và hát dân ca lại đi theo phương pháp của… Tây. Có thể hiểu, chúng ta đang tiếp cận tinh hoa di sản dân tộc mình với vai trò của khách qua đường, thấy vui thì học, thì xem, chứ không phải là những chủ nhân thực sự của di sản đó.

Không phải bây giờ, khi hàng loạt di sản của Việt Nam được thế giới vinh danh như trường hợp của nhã nhạc, ca trù hay quan họ… thì người ta mới nghĩ đến chuyện cần phải đào tạo thế hệ kế cận cho bài bản hơn, tránh nguy cơ thất truyền. Từ nhiều chục năm về trước, rất nhiều nhà nghiên cứu, nhạc sĩ tâm huyết đã phải than trời! Song, dường như những tiếng than đó không thấu tới… trời.

Và vì thế, việc đào tạo cổ nhạc cứ ngày một xa rời gốc rễ, đến thời điểm này phải thừa nhận, đang có một lỗ hổng lớn. Việc Học viện Âm nhạc Huế, thành lập khoa Âm nhạc di sản, môn học được cấp mã ngành hẳn hoi đã bắt đầu hé mở hy vọng về một lứa sinh viên đầu tiên hiểu biết đúng đắn hát văn, quan họ, xẩm, ca trù, đàn- hát trống quân…

Đó là một viễn cảnh tươi đẹp, nhưng để tháng 9 này, khoa Âm nhạc di sản đi vào hoạt động, chắc chắn những người trong cuộc phải đối mặt với không ít thách thức và phải trả lời thỏa đáng những câu hỏi mà mấy chục năm qua bị bỏ lửng. Đầu ra thế nào? Thực tế là ở đầu vào, các học viện ngốn hàng “núi tiền” ngân sách đào tạo (Nhà nước đã có chính sách giảm 70% học phí cho sinh viên theo nghệ thuật truyền thống) nhưng đầu ra vô cùng… ế ẩm, bởi thực sự xã hội hiện không có nhu cầu ngoài việc cần một cái bằng đại học hay thạc sĩ, tiến sĩ và cần một chân biên chế “chờ đợi thời cơ”.

Nếu giờ đây, chúng ta tiếp tục đưa các thể loại dân ca khác vào đào tạo thì liệu có lặp lại tình trạng “học chỉ để mà học” không? Khó khăn thứ 2 nằm ở chỗ người truyền dạy. Liệu các thế hệ nghệ nhân giỏi có được trưng dụng vào biên chế chính quy hay chỉ được “thỉnh giảng” hoặc mời dạy theo giờ như hàng chục năm qua? Đây là vấn đề hết sức tế nhị, bởi chỉ có một chế độ đãi ngộ và trân trọng đúng mức mới có thể quy tụ được những tài năng cổ nhạc vốn không còn bao nhiêu.

Cách đây hàng chục năm, các chuyên gia nước ngoài đã thẳng thắn nhận xét giáo trình của Việt Nam tụt hậu so với châu Âu tới 80 năm. Hiện tượng vừa thừa vừa thiếu các môn học đã được cảnh báo từ rất lâu, nhưng không hề có thay đổi nào. Ví dụ học sinh học cổ nhạc Việt Nam không cần phải bắt buộc học các môn nhạc châu Âu. Còn nữa, việc đào tạo bấy lâu nay ở môi trường này vẫn dựa trên hệ thống do, re, mi… của Tây phương làm công cụ chính.

Vậy chúng ta tiếp tục dạy cổ nhạc dân tộc theo hướng đó hay trở lại phương pháp đào tạo truyền khẩu, truyền ngón nghề trực tiếp kiểu các nghệ nhân? Còn rất nhiều chi tiết khác trong quá trình đào tạo cần phải tỉnh táo đặt định nếu nhà trường thực sự muốn lưu truyền các giá trị cổ nhạc đích thực?! Chúng ta cần những nghệ sĩ chuyên sâu hay cần những nghệ sĩ biết mỗi thứ một tí như trước đây?

Việc Học viện Âm nhạc Huế đưa dân ca Bắc bộ vào giảng dạy chính quy khiến nhiều người phải băn khoăn đặt câu hỏi. Sao Học viện Âm nhạc Việt Nam tại Hà Nội lại không làm được điều này. Bởi ai cũng biết, mỗi miền có một đặc sản riêng. Vấn đề nên tổ chức đào tạo ra làm sao, bởi các di sản phi vật thể nên gắn nó với không gian văn hóa, và vùng miền nơi nó được sản sinh ra, trước khi được lan truyền đi nơi khác.

Nên đặt mục tiêu di sản âm nhạc địa phương lên hàng đầu nếu chúng ta không muốn rơi vào tình trạng tản mạn thiếu tập trung. Bởi người thầy tài năng vốn đã không có nhiều, làm sao có thể trải rộng mô hình đào tạo “tổng lực” khắp nước. Học viện âm nhạc đặt tại miền nào nên “chịu trách nhiệm” truyền dạy, bảo lưu các giá trị nhạc miền đó.

Vì sao đàn và hát dân ca Bắc bộ (chưa bị cải biên) lại không được đào tạo trước ở cái nôi âm nhạc hàng đầu ở miền Bắc là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam mà lại phải đi đường vòng vào Huế rồi chờ đợi, hy vọng một ngày được ra Bắc?

http://www.baomoi.com/Hoc-vien-Am-nhac-Quoc-gia-dung-ngoai-cuoc/71/6578169.epi

Hành trình hồi sinh nghệ thuật hát xẩm , VIETNAM 2008


Non Nước Việt Nam » Nghệ Thuật Và Di Sản  

Hành trình hồi sinh nghệ thuật hát xẩm

Hát xẩm, loại hình nghệ thuật dân gian chuyên nghiệp có nguồn gốc từ những người khiếm thị ở đồng bằng Bắc bộ, sau hơn một thế kỷ vắng bóng, nay được Trung tâm phát tr

 

“Hà Nội như động tiên sa/Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần/Vui nhất có chợ Đồng Xuân/Mùa nào thức nấy xa gần xem mua…”. Vào các tối thứ bảy hàng tuần, khán giả thủ đô lại được thưởng thức giọng hát nỉ non lúc như tâm tình, kể chuyện lúc lại réo rắt như mời gọi của nghệ sĩ Thanh Ngoan và các nhiều nghệ sĩ khác trong chiếu xẩm Hà Nội 36 phố phường. Đây là chương trình biểu diễn của nhóm hát xẩm thuộc Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đồng thời là nội dung trong kế hoạch phục hồi loại hình nghệ thuật dân gian đang có nguy cơ thất truyền của Trung tâm.
Theo dấu xưa loại hình nghệ thuật thuần Việt
 
Theo trưởng nhóm, nhạc sĩ Thao Giang, nghệ thuật hát xẩm có từ các đây khoảng 700 năm. Ông tổ của loại hình nghệ thuật này là thái tử Trần Quốc Đĩnh. Truyền thuyết kể lại rằng, vào cuối đời Trần, nhà vua truyền lệnh cho hai hoàng tử Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh đi tìm ngọc, ai mang về trước sẽ được nối ngôi. Hoàng tử Đĩnh tìm thấy ngọc nhưng bị hoàng tử Toán lừa lúc ngủ say, trọc mù hai mắt , cướp ngọc của em mang về. Trong cơn bĩ cực, Đĩnh lần ra cửa rừng, nhặt được hai mảnh tre khô, gõ vào nhau giả tiếng chim để chúng tha thức ăn về, rồi quờ được sợi dây rừng, Đĩnh buộc vào cây song mây làm đàn. Ra khỏi rừng, chàng kiếm sống bằng lời ca tiếng đàn. Tiếng đồn về người nghệ sĩ mù lan đến kinh thành, nhờ đó, nhà vua tìm được Đĩnh và trừng trị Toán.
 
Sau này hoàng tử Đĩnh đã đem nghề đàn hát truyền lại cho nhân dân, đặc biệt là những người khiếm thị để họ có cái nghề kiếm sống, bớt đi những lo toan mưu sinh. Tưởng nhớ công ơn vị thái tử, người hành nghề hát xẩm từ xa xưa đã lấy ngày 22/2 và 22/8 âm lịch làm ngày giỗ tổ nghề. Vào ngày này, các nhóm xẩm dù có ở nơi đâu cũng phải tề tựu đông đủ tại một nơi thuận tiện cho việc đi lại để cùng nhau tổ chức lễ giỗ vị tổ nghề.
 
Theo năm tháng, nghệ thuật hát xẩm ngày càng phát triển ở nông thôn miền Bắc Việt Nam và trở thành nghề sinh nhai chính của những người khiếm thị. Người hành nghề hát xẩm vào những dịp nông nhàn: xuân thu nhị kỳ, tại các bến sông, bãi chợ sân đình. Ở nhiêu địa phương như: Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa các nghệ nhân hát xẩm đã tập hợp thành làng, thành phường hát và có một ông trùm (bà trùm) đứng ra lo tổ chức. Tuy nhiên, loại hình nghệ thuật này chỉ trở nên cực thịnh khi nó theo chân các thương nhân, hình thành 36 phố phường Hà Nội, xuất hiện ở đất Hà thành. Trong thời kỳ này, chợ Đồng Xuân là một trong những điểm dừng chân của các nhóm xẩm từ các tỉnh đổ về.
 
Hát xẩm thể hiện được mọi cung bậc tình cảm, song người hát xẩm luôn pha vào đó chút hài hước, lạc qua. Có khi nó là tiếng cười át tiếng oán: “Lại những kẻ cắp như rươi/Hở cơ chốc lát – tiền ôi mất rồi/Giậm chân xuống đất kêu giời/Phulit thời có đến cũng tôi đi đời”, có khi lại mang tính giáo lý sâu sắc: “Một duyên hai nợ ba tình/Chữ duyên kia với chữ tình ai mang /Kẻo còn đi nhớ về thương/Kẻo còn để mối tơ vương bên lòng /Đôi ta chút nghĩa đèo bòng/Dẫu mòn con mắt, tấc lòng nhãn khai”…
 
Theo nghệ sĩ Thao Giang, hát xẩm là một loại hình nghệ thuật thuần Việt có trên 400 bài, hầu hết là truyền miệng (không rõ tên tác giả), nhưng có một số điệu xẩm đặc trưng là: Xẩm chợ, xẩm Nhà thơ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bực nhịp bằng, Phồn huê, Hát ai và Xẩm thập ân. Trong đó, Xẩm chợ  giản dị, ngắn gọn. Xẩm Nhà thơ luyến láy không có tiết tấu. Chênh bong vui vẻ, phấn chấn. Riềm huê thường lồng vào hát những nội dung trao tình, hẹn hò, nhớ thương da diết. Ba bực nhịp bằng thì duyên dáng, tha thiết. Phồn huê là điệu hát kể ràu nghe thương cảm về những nỗi cực nhục khổ đau của người phụ nữ trong xã hội. Hát ai với tính chất than thở, oán trách pha chút hài hước. Xẩm thập ân nói lên những nỗi khổ cực của cha mẹ nuôi dạy con cái từ lúc sinh thành và nhắc nhở con cháu về đạo hiếu. Ngoài ra, các nghệ nhân hát xẩm còn vận dụng các điệu chính sáng tạo nên hàng loạt các điệu phụ như: hát Ví, Trống quân sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Phú lục …
 
Mỗi điệu dù là chính hay phụ lại đi kèm với một hệ thống nhạc khí và một dòng văn học nhất định. Cùng với các loại nhạc cụ dân gian, người khiếm thị đã đã sáng tạo ra những bài hát sẩm nói lên tâm trạng của mình về cuộc sống và nhân tình thế thái với âm điệu riêng, đặc sắc bằng sự cảm nhận cuộc sống qua đôi tai. “Chính vì lối sáng tạo riêng và những quy chuẩn trong hát xẩm mà có thể khẳng định đây là một loại hình nghệ thuật dân gian chuyên nghiệp”, nghệ sĩ Thao Giang khẳng định.
Hành trình phục hồi nghệ thuật hát xẩm
 
Theo Tổng thư ký Hội sử học Việt Nam Dương Trung Quốc, trong thời kỳ Pháp xâm lược nước ta, nhà tư bản Bạch Thái Bưởi, người thành lập đội tàu buôn cạnh tranh với Pháp, đã từng xử dụng thể loại hát xẩm để khích lệ lòng tự hào dân tộc trong đông đảo người dân, dấy lên phong trào yêu nước trong nhiều tầng lớp. Điều đó cho thấy, hát xẩm có sức lan tỏa thật mạnh mẽ và là phương tiện tuyên truyền khá hiệu quả. Tuy nhiên, sau năm 1945, nạn đói và chiến tranh hoành hành khiến hầu hết các nhóm xẩm tan rã và bị xóa xổ, hát xẩm vì thế cũng không còn được biểu diễn và nhắc tới. Sau này, duy nhất trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ có nghệ nhân Minh Sen (Thanh Hóa) đã sử dụng loại hình xẩm và sáng tác bài hát Bước đường cùng của đế quốc Mỹ. 
 
Mãi cho đến cuối những năm 70 đầu 80 thế kỷ 20, qua nhiều cuộc hội thảo về âm nhạc dân gian truyền thống, các nghệ sĩ mới nhận thấy loại hình nghệ thuật này có nguy cơ thất truyền. Vậy là công cuộc phục sưu tầm, phục dựng loại hình nghệ thuật này đã được các nhà nghiên cứu bắt tay vào tiến hành. 
 
Theo nghệ sĩ Thao Giang, các nghệ sĩ tâm huyết với loại hình nghệ thuật này đã tiến hành các cuộc điền dã về khắp các địa phương tìm lại vết tích của nghệ thuật hát xẩm. Đáng tiếc là do chiến tranh, giặc dã nên ở hầu hết các nhóm, làng, phường hát xẩm đều không còn lưu giữ lại được chút tư liệu nào. Những ông trùm phường hát một thời cũng đã về thiên cổ. Việc khảo cứu về nghệ thuật hát xẩm có lúc đã tưởng đi vào ngõ cụt. May mắn, một nhóm nghệ sĩ  trước đó, trong những lần về địa phương khảo cứu nghệ thuật dân gian, đã thu thập và ghi âm được các làn điệu và nghệ nhân sẩm. Đây trở thành nguồn tư liệu vô cùng quý giá cho công cuộc phục hồi loại hình nghệ thuật dân gian này. 
 
Sau một quá trình tích cực sưu tầm và nghiên cứu, từ năm 2005 đến nay, Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đã tổ chức dựng lại nhiều bài hát xẩm, về các miền quê trình diễn, phục dựng các chiếu xẩm đặc biệt, tổ chứ đêm tôn vinh loại hình nghệ thuật này tại nhà hát lớn. Trong dịp này, nhiều nghệ nhân hát xẩm đã được vinh dự biểu diễn trên sân khấu này. “Đó là tấm lòng của chúng tôi dành cho những con người sống hết mình vì nghệ thuật hát xẩm”, nghệ sĩ Thao Giang hổ hởi nói.
 
Cũng theo nghệ sĩ Thao Giang, song song với cáchoạt động phục dựng khác, Trung tâm phát triển nghệ thuật dân gian đã tổ chức chiếu hát xẩm tại phố đi bộ Đồng Xuân – Hàng Đào  (Hà Nội). Khi mới thử nghiệm, nhiều người lo lắng chiếu hát sẽ không tồn tại được trong vòng một vài tháng. Tuy nhiên, sau ba năm thể nghiệm, buổi diễn nào cũng thu hút hàng nghìn người dân Hà Nội, các địa phương và đặc biệt là rất nhiều khách nước ngoài tới tham gia thưởng thức. Không chỉ nhận được đón nhận trong mỗi tối biểu diễn, chiếu hát xẩm còn nhận được rất nhiều lời góp ý của nghệ nhân, chuyên gia. Đặc biệt, mọi kinh phí để duy trì cho nhóm biểu diễn còn được các doanh nghiệp đứng ra tài trợ.  “Đây quả là nguồn cổ vũ lớn lao đối với chúng tôi. Sự ủng hộ của khán giả cũng cho thấy, chính những người dân mới là đối tượng sáng tạo nên các loại hình nghệ thuật, nuôi dưỡng hoặc loại bỏ nó trong đời sống xã hội”, nghệ sĩ Thao Giang nói.
 
baodatviet.vn

LÊ SƠN : Đầu xuân đi nghe hát xẩm, VIETNAM 2013


Đầu xuân đi nghe hát xẩm

Báo Tin tức – 1 tháng trước

Sinh ra từ cuộc sống dân dã, thị thành và kẻ chợ, là loại hình nghệ thuật bước ra từ cuộc sống nhưng xẩm được xem là chất nhạc không dễ nghe trong đời sống hiện đại. Những người có thể hiểu được, cảm được và nhớ đến nó dường như đã quá vãng. Nhưng xẩm không mất, giữa sôi động và hiện đại, những làn điệu “Xẩm chợ”, “Xẩm tàu điện”… vẫn cố công len lỏi và tìm những con đường riêng để “âm vang”…

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

 

Tìm về xẩm ngày Xuân

Nói đến xẩm là nói đến loại hình nghệ thuật rất kén người mê. Xưa thể loại âm nhạc này được lưu truyền chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như: Bắc Giang, Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa… với những hình thức biểu diễn rất độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa khu vực. Đầu thế kỷ 20 xẩm đã phát triển thành một nghề để những người dân nghèo kiếm sống nơi thành thị được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xẩm thành thị ra đời, hối hả hơn, bóng bẩy hơn để phù hợp với cuộc sống nơi đây. Bên cạnh các loại xẩm chính tông như: xẩm chợ, xẩm xoan, xẩm thập ân… nghệ nhân xẩm đã kết hợp, du nhập thêm các loại hình khác như Sa mạc, Trống quân, Cò lả… Việc kết hợp như vậy vừa làm phong phú hơn, mượt mà hơn cho các câu hát xẩm, vừa phổ biến các loại hình khác rộng rãi trong dân gian.

Một tiết mục xẩm ở phố cổ Hà Nội.

Đã có một thời, xẩm là món ăn tinh thần của quần chúng lao động. Với bản chất nghệ thuật ngẫu hứng ứng diễn, hát xẩm có nội dung nghệ thuật rất phong phú và đa dạng. Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống, từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, tình huynh đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời.

Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm, các phường xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa. Các nghệ nhân xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội của nghệ sĩ xẩm không còn. Tại Hà Nội, hầu như chỉ có thể nghe hát xẩm tại chợ Đồng Xuân mỗi dịp cuối tuần. Những buổi diễn ấy, sau rất nhiều cố gắng kỳ công của những người tâm huyết với xẩm, cố giữ cho bằng được xẩm, đã trở thành một nét văn hóa của Hà thành, là một “đặc sản” dành cho khách du lịch, mà phần đông là khách nội địa, đặc biệt là những người đến từ Thái Bình, Nam Định và Hải Phòng.

Bước ra từ cuộc sống

Xẩm bước ra từ cuộc sống, bởi thế nên nó vừa quê lại nhuốm chất thị thành. Quê là bởi phần lớn các gánh xẩm xưa đều xuất phát từ dân quê lên thành phố kiếm miếng ăn, mong đổi đời. Chả thế, giọng hát rất quê, điệu đàn, tiếng sáo, nhịp trống cũng mang hơi hướng ảnh hưởng, “phức hợp” của rất nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác. Âm sắc của xẩm nghe đậm chất dân gian, ngôn từ giản dị, gần gũi. Bên cạnh cái chất quê từ trong hồn cốt thì xẩm lại rất phố, thứ nhất là ở “địa bàn” diễn xướng. Ngay như xẩm chợ là loại hình có sự lan tỏa về mặt địa lý mạnh nhất của xẩm, thì chủ yếu cũng diễn ra ở những nơi phố thị. Bởi chợ quê thì cũng là phần “phố thị” nhất của quê. Xẩm cô đầu thì chỉ có ở những thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, cùng lắm là xuống đến thị trấn, thị tứ. Riêng xẩm tàu điện thì độc đáo chỉ có tại Hà Nội. Loại hình độc đáo này tồn tại ngót trăm năm, gắn liền với hoạt động của tàu điện Hà Nội, gần như xuyên suốt thế kỷ 20.

Các nghệ nhân xẩm từ chốn thôn quê khi ra Hà Nội biểu diễn, để làm vừa lòng nhu cầu thẩm mỹ của người dân chốn đô thị, vốn am hiểu và có trình độ trong việc thưởng thức văn hóa, nên các gánh xẩm đã khéo léo lồng những bài thơ của các thi sĩ như “Anh khóa”, “Cô hàng nước” (của Á Nam Trần Tuấn Khải), “Giăng sáng vườn chè”, “Em đi tỉnh về” của Nguyễn Bính… vào các điệu xẩm, đưa xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố độc đáo ở Thăng Long – Hà Nội. Nghệ nhân đi tới đâu, xẩm âm vang tới đó. Những làn điệu Lỡ bước sang ngang, Vui nhất Hà thành, Mục hạ vô nhân, Anh khóa, Chân quê, Trăng sáng vườn chè, Lơ lửng con cá vàng… từng làm nức lòng khách đi tàu điện, đến bây giờ vẫn còn nhiều người nhớ. Mà thú vị hơn, là những làn điệu cách tân – gọi là xẩm quảng cáo bán hàng như Tăm tre, Thuốc cam Hàng Bạc, Thuốc ho bà lang Trọc, Dầu cù là… với vần điệu, ca từ dí dỏm, thân thuộc.

Là phố thị nên mới có xẩm tàu điện. Những tiếng leng keng của tàu điện, những hình ảnh “hiền lành” của tàu điện luôn hiện diện song hành khiến xẩm tàu điện ghi dấu cả phần ảnh lẫn phần thanh. Tàu điện trở thành “sân khấu” của xẩm. Ở mỗi trạm đón/đỗ của tàu và trên cả những chuyến đi, trên những toa tàu lại vang lên tiếng trầm bổng “ư hự”, “ư hừ” cùng tiếng nhị, tiếng phách của “nghệ sĩ đường phố”. Và cũng bởi gắn với nhau như máu thịt, tàu điện mất thì xẩm tàu điện cũng chẳng còn.

Ngày xưa, người thưa cảnh vắng, tàu điện mới có chỗ cho xẩm. Giờ đây, trong cái ồn ào chật chội như nêm cối của những chuyến xe buýt, thật khó hình dung lại có được một loại hình nghệ thuật nào song hành cùng. Âm nhạc, nếu có, may chăng chỉ phát ra từ… VOV giao thông.

Giữ xẩm lại với mùa Xuân

Theo nhạc sĩ Thao Giang, người đang “giữ lửa” cho xẩm thì trong quá trình bảo tồn loại hình này, ông và Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam bằng cách này cách khác vẫn đang “giữ” xẩm lại trước những nguy cơ bị mai một. Từ năm 2010, ông cùng trung tâm của mình đã được đào tạo ở trình độ đại học và sau đại học cho các chuyên ngành Âm nhạc dân tộc, bao gồm: hát xẩm, trống quân, hát văn, ca trù, quan họ… Năm vừa qua trung tâm đã có 16 bạn sinh viên theo học và chỉ tiêu cho năm nay là 50 sinh viên. Ở chương trình đào tạo sau đại học thì ai muốn nghiên cứu sâu hơn về xẩm sẽ được tạo điều kiện tối đa. Đây là những nhân tố quan trọng trong việc bảo tồn xẩm nói riêng và các loại hình âm nhạc dân tộc khác nói chung. Với cơ sở đầu vào có trình độ tương đương với trung cấp âm nhạc, các em sẽ được học nửa lý thuyết nửa thực hành và gắn thực hành với thực tế.

Với xẩm, khó có thể sân khấu hóa, nhà hát hóa. Xẩm là phải ở trong môi trường diễn xướng dân gian, là ở ngoài đường, ngoài chợ. Hiện nay, ngoài buổi biểu diễn hàng tuần ở chợ Đồng Xuân, chúng ta vẫn có thể bắt gặp các buổi khác tại đình Hào Nam (nơi đặt trụ sở của Trung tâm Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam). Và vào những ngày đầu xuân năm mới những người yêu mến loại hình độc đáo này sẽ được thưởng thức các làn điệu xẩm tại các đường phố trong khu phố cổ Hà Nội. Xẩm đã từng ra quốc tế, sang Pháp và được bạn bè quốc tế thể hiện tình cảm yêu mến! Cũng có những CLB hát xẩm được tạo nên để duy trì việc biểu diễn hát xẩm.
Tuy nhiên theo nhạc sĩ Thao Giang, trong thời gian tới, việc bảo tồn xẩm chỉ nên làm ở phạm vi nhỏ, để thực sự tìm kiếm được và giữ gìn đúng đắn những tinh hoa của loại hình này. Còn việc phát triển, nhân rộng mô hình hát xẩm, cần phải có thời gian và làm một cách bài bản. Hiện nay, ngay cả với sân khấu chính của hát xẩm là Đồng Xuân thì việc duy trì được cũng hoàn toàn là do tài trợ. Các nghệ nhân, nghệ sỹ hiện nay biểu diễn hát xẩm cho du khách hoàn toàn miễn phí, tuy nhiên để thu hút được người nghe, trung tâm cũng phải lựa chọn các làn điệu phù hợp, không lê thê, thay đổi cách trình diễn, trang phục, nhạc cụ… để hấp dẫn hơn.

Năm 2005, Trung tâm Văn hóa âm nhạc nghệ thuật Việt Nam ra đời với ba mục tiêu chính là sưu tầm – nghiên cứu, truyền dạy – đào tạo và biểu diễn nghệ thuật. Từ đó tới nay, trung tâm có đóng góp lớn trong việc đưa hát xẩm trở lại với công chúng. Đặc biệt, nhạc sĩ Thao Giang đã đào tạo được nhiều nghệ sĩ trẻ yêu xẩm, trong đó có cả những sinh viên các trường nghệ thuật.

Lê Sơn

http://www.baomoi.com/Dau-xuan-di-nghe-hat-xam/52/10315994.epi

THÀNH HUẾ : Xẩm tàu điện thịnh suy trong lòng Hà Nội, VIETNAM 2010


Xẩm tàu điện thịnh suy trong lòng Hà Nội

Đời sống & Pháp luật – 34 tháng trước

Xam tau dien thinh suy trong long Ha Noi

LENG KENG LENG KENG… Trong ký ức của nhiều người Hà Nội chắc hẳn vẫn chưa thể quên những âm thanh quen thuộc ấy của tàu điện trong thế kỷ XX. Nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng, xẩm đã kết duyên với tàu điện để sản sinh ra một loại hình nghệ thuật độc đáo, chỉ riêng có ở Hà Nội. Đó là xẩm tàu điện.

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Cách diễn xướng độc đáo

Xẩm là âm nhạc đường phố. Nhưng tại sao nó không gắn với một địa danh khác mà lại gắn với Bờ Hồ mà người ta gọi là xẩm Bờ Hồ? Lại có người gọi xẩm tàu điện? Thực ra cách gọi khác nhau nhưng cơ sở để gọi lại không khác: Tàu điện muốn chạy đi đâu thì cũng bắt đầu từ Bờ Hồ và từ đâu về thì cũng dừng ở Bờ Hồ. Tại sao những người hát xẩm không chọn ga Hàng Cỏ cũng là bến tàu còn đông đúc hơn bến tàu điện? Giản đơn là tàu điện tuy chỉ có 3 toa, chở ít khách hơn nhưng liên tục chuyến đi chuyến về nên khách luôn mới. Còn tàu hỏa lại không đi về liên tục, hơn nữa, xuống tàu là người ta về nhà hay đến ngay nơi cần đến. Do vậy bến tàu điện được người hát xẩm “chọn mặt gửi lời vàng” .

Nhạc sĩ Thao Giang, Phó giám đốc Trung Tâm phát triển âm nhạc Việt Nam cho biết: Xẩm tàu điện là một trong ba loại hình của nghệ thuật xẩm Hà Thành, và cũng là loại hình mang nhiều đặc trưng về văn hóa của người Thăng Long xưa. Những nghệ sĩ đầu tiên mang giai điệu xẩm về Hà Nội đều đến từ những vùng quê Bắc Bộ, họ theo chân những tiểu thương về đây để tìm một môi trường thích hợp làm nghề. Hát xẩm khi khai sinh đã là một loại hình âm nhạc đường phố, người ta thường thấy xuất hiện những chiếu xẩm ở cổng chợ, bến tàu, nhà ga… Khi thâm nhập vào một địa bàn mới với những đặc trưng về văn hóa, xã hội mới, loại hình này đã phải thay đổi để phù hợp với đối tượng công chúng sành hơn của thủ đô.

Bắt đầu là sự cấu trúc lại âm nhạc, tiết tấu. Xác định khu vực biểu diễn là những con phố sầm uất, hoạt động trong một môi trường nhiều tạp âm như: tiếng máy tàu điện, tiếng chuông tàu điện, tiếng rao hàng, tiếng người ta trao đổi mua bán, loại hình xẩm tàu điện đã thay những bài ê a dài dòng lê thê bằng những bài có tiết tấu nhanh hơn, những bài ngắn hơn để phù hợp với thời gian của mỗi chuyến tàu.

Tiếp đến là sự thay đổi về văn học. Những công chúng của thủ đô có sự hiểu biết về văn học đương thời, họ yêu thích thơ ca và những nghệ sĩ hát xẩm đã thấy rằng việc sử dụng những bài thơ nổi tiếng mà ai cũng biết để đưa vào hát xẩm sẽ đi vào lòng công chúng nhanh hơn. Do vậy mà những bài thơ của Nguyễn Bính, á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Khuyến, Tản Đà thường được đưa vào làn điệu xẩm và được rất nhiều công chúng ưa thích, đặc biệt là thơ Nguyễn Bính. “Giăng sáng vườn chè”, “Lỡ bước sang ngang”, “Chân quê” đã hóa thân vào làn điệu xẩm và được biểu diễn trên tàu điện thực sự mang lại những cảm nhận rất mới mẻ cho công chúng Thủ đô.

Ngay cả đến nhạc khí của xẩm tàu điện cũng “rôm rả” hơn xẩm truyền thống. Bởi như vậy, ca từ và nhạc lý mới không bị loãng trong môi trường diễn xướng công cộng. Cần phải thay đổi để thích hợp với môi trường mới, do vậy, xẩm tàu điện mới rôm hơn, nhộn nhịp hơn là vì thế.

Bên cạnh đó còn có sự thay đổi về trang phục. Khi nói đến người hát xẩm là người ta hình dung ra cảnh người phải mặc áo tơi, đội nón lá để chống chọi với cảnh dầm mưa dãi nắng thì nghệ nhân xẩm tàu điện lại vô cùng ăn diện. Nam thì mặc quần áo nâu, mùa rét thì khoác bên ngoài tấm áo veston, đầu đội mũ cát (giống như mũ cối nhưng màu trắng) nhưng vẫn phải đeo kính đen để thể hiện sự “bơ” đời, tránh cái nhìn không thiện cảm về “nghiệp xướng ca vô loài hè phố”. Nữ thì mặc áo tối màu (nâu hoặc xám), có áo yếm sáng màu, váy lưng lửng đầu gối. Sở dĩ có sự khác biệt về trang phục như vậy là bởi môi trường diễn xướng của nó đã khác hẳn không gian diễn tấu của xẩm truyền thống.

“Sống chết cùng tàu điện”

Trong làn điệu xẩm tàu điện, có nhiều bài kể đến những thân phận, những cảnh quan, những con người Hà Nội như “Hà Nội 36 phố phường”, “Vui nhất Hà Thành”, trong đó những địa danh làng quê, làng nghề, những nếp sinh hoạt và đặc thù xã hội của cả Thủ đô được tái hiện: “Hà Nội như động tiên sa / Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần /Vui nhất có chợ Đồng Xuân/ Mùa nào thức ấy xa gần xem mua” hay: “Bắc kỳ vui nhất Hà Thành/ Phố phường sầm uất văn minh rợp trời / Thanh tao lịch sự đủ mùi / Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy / Đâu đâu khắp hết đông tây /Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đồn / Cũ thời băm sau phố phường / Ngày nay mở rộng đến hàng vài trăm / Người đi xe chạy ầm ầm / Đua chen thương mại bội phần hơn xưa / Nhất vui là cảnh Bờ Hồ”.

Nhạc sĩ Thao Giang

Dù là một loại hình nghệ thuật dân gian, xẩm tàu điện cũng không thể đứng ngoài những biến cố của xã hội. Sau kháng chiến chống Pháp, nhiều loại hình âm nhạc truyền thống chìm xuống, các nhóm xẩm ít dần. Nhưng sau năm 1954, trong phong trào tuyên truyền bình dân học vụ, hay tinh thần dân tộc trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân Bạch Thái Bưởi cũng có đóng góp của những gánh xẩm tàu điện Hà Thành.

Đến năm 1992, khi tàu điện Hà Nội bị dỡ bỏ, đồng nghĩa với việc môi trường diễn xướng quan trọng đã không còn, xẩm Hà Nội nói chung, trong đó có xẩm tàu điện đứng trước bờ vực bị thất truyền. Xẩm tàu điện chỉ với một làn điệu nhưng nhiều lời ca đã tồn tại trên chính những con phố trung tâm của thủ đô bằng nét giản dị, bình dân mà không kém phần thanh tao. Một dòng hát xẩm độc đáo nhất trong hệ thống Xẩm Hà Nội như xẩm tàu điện là những di sản quý báu của nghệ thuật âm nhạc dân tộc.

Chờ ngày “tái xuất”

Nhạc sĩ Thao Giang đã sớm quan tâm đến xẩm, đặc biệt là dòng xẩm chỉ có ở Hà Nội nhưng đã mai một và ông mong một ngày có thể làm sống lại những giai điệu này. Mong ước lớn dần cho tới khi ông gặp được những người bạn cùng chí hướng, đủ các mặt anh tài, từ những cây gạo cội như: GS.TS Phạm Minh Khang, NSND Xuân Hoạch, NSưT Thanh Ngoan, NSưT Văn Ty, NSưT Thúy Ngần đến những gương mặt trẻ như Mai Tuyết Hoa, Quang Long, Khương Cường… Từ những cuốn băng cassette cũ kĩ mà nhạc sĩ Thao Giang, Văn Ty đã ghi âm tiếng hát của các nghệ nhân những năm 1970-1980, được phát đi phát lại để làm tư liệu cho cả nhóm. Bên cạnh đó các nghệ sĩ cũng phải chắp nối từng mảnh ký ức của những bậc cao niên, tham khảo ý kiến các nhà nghiên cứu có uy tín, trong đó có nhà nghiên cứu Hoàng Kiều, Trần Việt Ngữ…

Người Hà Nội sau hơn nửa thế kỷ lại được nghe những giai điệu xẩm xưa ở đúng môi trường diễn xướng của nó: tuyến phố Hàng Đào, Hàng Ngang và chợ Đồng Xuân. Cùng sự chuyển mình, phát triển không ngừng của đô thị, xẩm Hà Nội ngày nay cũng mang một vóc dáng mới mà nếu so với những biến đổi (từ thôn quê lên thành thị) của một trăm năm trước thì đây cũng là một trong những bước ngoặt quan trọng của nghệ thuật hát xẩm: Xẩm vẫn xuất hiện ở nơi xưa kia đã từng nuôi dưỡng nó, chỉ có điều thay vì những nhóm hát xẩm đứng ở một góc phố thì giờ đây là cả một sân khấu được trải thảm đỏ một cách trân trọng.

Thêm một điều nữa để những người yêu thích loại hình nghệ thuật dân gian này hi vọng ngày trở lại vì khu phố cổ sắp tới sẽ đưa vào sử dụng loại phương tiện giao thông công cộng là xe điện. Sẽ có nhiều đổi khác, nhưng cùng với những con người tâm huyết với hát xẩm như nhạc sĩ Thao Giang, chúng ta có quyền hi vọng trong tương lai không xa, những giá trị nghệ thuật và giá trị văn hóa của xẩm tàu điện sẽ lại hồi sinh.

Thành Huế

http://www.baomoi.com/Xam-tau-dien-thinh-suy-trong-long-Ha-Noi/52/4580787.epi

HUY QUÂN : Nhạc sĩ Thao Giang “Hát Xẩm đã đi được vào cuộc sống!”, VIETNAM 2010


Nhạc sĩ Thao Giang
“Hát Xẩm đã đi được vào cuộc sống!”
 
QĐND – Thứ Sáu, 23/04/2010, 9:52 (GMT+7)

Sau nhiều chục năm gián đoạn, ngày 29-3-2008 (22 tháng 2 âm lịch), lễ giỗ tổ nghề hát xẩm đã được phục hồi và tổ chức một cách trọng thể tại Quốc Tử Giám, Hà Nội. Sự kiện ấy đánh dấu sự trở lại của một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, đã ăn sâu vào tâm khảm nhiều người Hà Nội cũ. Kể từ đó, nghệ thuật hát xẩm đã và đang được giới thiệu tới công chúng qua hoạt động định kỳ vào tối thứ bảy hàng tuần của nhóm các nghệ sĩ Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan, Đoàn Thanh Bình trước cổng chợ Đồng Xuân.

Nhạc sĩ Thao Giang.

Phóng viên Quân đội nhân dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi cùng nhạc sĩ Thao Giang, Phó giám đốc Trung tâm phát triển Âm nhạc Việt Nam, về những thành công, cũng như những vấn đề còn tồn tại trong khuôn khổ dự án phục hồi nghệ thuật hát xẩm do Trung tâm thực hiện.

Phóng viên (PV): Cùng là di sản văn hóa phi vật thể nhưng nguy cơ thất truyền của hát xẩm rất lớn, thậm chí có thể lớn hơn cả ca trù, hay quan họ. Nhưng vì sao, đến gần đây, Trung tâm phát triển Âm nhạc Việt Nam mới quyết định thực hiện dự án phục hồi loại hình nghệ thuật này, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Từ những năm 1987, 1988, tôi đã cùng một nhóm anh em đi tìm những nghệ nhân và các ca khúc hát xẩm. Lúc đó, làm mà không tính toán gì, chỉ mang màu sắc cá nhân mong muốn tìm hiểu về loại hình nghệ thuật này. Khi mình tiếp cận hát xẩm, thấy hay quá! Ca khúc bây giờ có thể chỉ sống được độ chục năm, trong khi hát xẩm có thể sống hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm. Nhiều bài từ thế kỷ 19, đến đầu thế kỷ 21, khi biểu diễn, người nghe vẫn bảo, bài này ông bà, cụ kỵ tôi đã từng nghe.

Vì thế, năm 2005, chúng tôi quyết định công bố thực hiện dự án và được nhân dân đón nhận ngoài sức tưởng tượng. Đó là điều hết sức vui mừng! Bất ngờ hơn là trong 5 năm vừa rồi, thanh niên nghe hát xẩm rất đông. Một anh bạn tôi làm công tác điều tra xã hội học cho biết, tại chiếu xẩm chợ Đồng Xuân, có tới 85% người nghe là đối tượng thanh niên. Còn tại Trung tâm, các em đăng ký học hát xẩm toàn là sinh viên.

Để đạt được điều đó, có một thực tế là, hát xẩm phải hay, phải hấp dẫn. Cứ nói nó quý lắm mà người ta không nghe thì cũng chẳng có nhiều ý nghĩa.

PV: Sân khấu hát xẩm trước cổng chợ Đồng Xuân đang rất thành công. Tuy nhiên, theo truyền thống, môi trường diễn xướng của hát xẩm là nơi công cộng. Vậy nếu sân khấu hóa hát xẩm liệu còn giữ được cái hồn, cái cốt của nó, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Đúng! Thực ra, hát xẩm phải được “ném” vào đúng môi trường của nó. Tuy nhiên, nếu giữ theo đúng lối cũ thì mình không có điều kiện. Bây giờ lấy đâu ra tàu điện mà làm môi trường diễn xướng cho xẩm tàu điện? Hôm trước ở hội chợ hoa, cũng dựng một mô hình tàu điện. Anh em lên hát nhưng sợ nhân dân xô lên thì ngã nên lại xuống đường hát.

Khó là vậy nhưng mình vẫn phải tìm cách gì đó để duy trì hoặc gợi cho người ta liên tưởng tới môi trường diễn xướng gốc. Khi trình diễn tại chợ Đồng Xuân, chúng tôi khai thác triệt để phong cách của các nghệ nhân trước kia khi từ các tỉnh về. Họ phải loại bỏ những gì, họ phải thêm những gì để phù hợp với môi trường thành thị. Ở làng quê có thể ê a. Còn ở đây, ê a thì người xem đi hết. Điển hình là xẩm tàu điện, tiết tấu được đẩy rất nhanh, lại rất ít hát những bài dân gian mà toàn hát những tác giả đang nổi tiếng ở Hà Nội như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Bính…

PV: Với ca trù, chèo, rối nước… chúng ta vẫn có thể tạo dựng được môi trường diễn xướng nguyên gốc. Trong khi đó, đối với hát xẩm thì rất khó. Nhưng nếu không giải quyết được cái khó đó, sẽ dẫn tới tình trạng, những khán giả của ngày hôm nay không thể hình dung ra được hát xẩm nguyên gốc như thế nào. Trong dự án khôi phục hát xẩm, các ông có tính tới việc đó?

Nhạc sĩ Thao Giang: Có chứ! Năm kia, bên VCTV đã giúp chúng tôi về chuyện này, làm các chương trình về hát xẩm trên truyền hình. Tôi cũng từng đề nghị với Ban quản lý Công viên Thống Nhất, hoạt động văn hóa ở đó ít quá, nên đưa hát xẩm vào. Vì trong đó có hồ, có tàu điện. Họ cũng đồng ý nhưng khi chúng tôi lập dự án xong thì họ bảo khó quản lý, không thu được vé. Không được, chúng tôi phải ra cổng chợ Đồng Xuân. Rất may Ban quản lý chợ ủng hộ. Nhưng ủng hộ gì thì cũng không bằng nhân dân.

PV: Đến nay, hát xẩm đã phải trải qua một giai đoạn ngắt quãng khá dài. Chúng ta phải làm gì để hát xẩm sống lại “khỏe khoắn”, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Từ 2005 đến nay, qua thể nghiệm ở phố đi bộ, qua trải nghiệm hàng đêm, chúng tôi có thể khẳng định, hát xẩm sẽ được duy trì. Năm 2007, tại rất nhiều tỉnh mà chúng tôi qua đều đã khôi phục lại được hát xẩm.

Hát xẩm là một loại hình ca nhạc mang tính chuyên nghiệp. Tại sao? Càng đi sâu, chúng tôi càng thấy nó là một dòng âm nhạc riêng, không bị lai tạp các dòng khác. Ca từ rất riêng. Nhạc sĩ cũng rất riêng. Thứ nữa, môi trường diễn xướng của hát xẩm cũng rất khác. Hơn nữa, nó đi gần tới mức độ quy chuẩn. Làn điệu chính chỉ có khoảng 8. Trong mỗi làn điệu lại có những biến thể. Ví dụ, xẩm chợ không thích hợp trên tàu điện. Hay xẩm nhà tơ không thích hợp với sông nước. Cấu trúc âm nhạc khác, ca từ khác. Xẩm ngoài chợ đề cập con tôm, con cá, cái nong, cái nia. Xẩm nhà tơ lại đề cập tới con cá vàng, con chim công, chim phượng hay tích Trung Quốc như Tư Mã Tương Như, hay Trác Văn Quân… Tuy nhiên, có một thứ giống nhau là, nó là thứ đi vào đời thường, mỗi bài là một câu chuyện nhỏ. Chính vì thế nó gần với người ta. Ví dụ, khi chúng tôi dựng bài “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính, mấy bà chị nói: “Nghe cái này nó mát cả gan cả ruột cậu ạ!” Nhưng nghe một lúc thấy sụt sùi hết.

Thân phận là đề tài rất quan trọng của hát xẩm. Chính vì thế, khi khai thác được đề tài này, các nghệ nhân sinh sống được. Khi người nghe chạnh lòng, người ta mới có thể thò tay vào túi ngay được. Tại chiếu xẩm Đồng Xuân, dù mục đích biểu diễn không phải vì tiền, nhưng tôi bảo, các em hát làm sao mà đánh được tim người ta thì người ta sẽ chạy theo các em mà ném tiền vào. Nghệ nhân hát xẩm không phải ăn mày, ăn xin. Người ta cho vì động lòng, vì họ thấy thân phận mình trong đó.

PV: Sau 5 năm thực hiện dự án phục hồi hát xẩm, ông có thể đúc rút, điều gì là khó khăn nhất?

Nhạc sĩ Thao Giang: Phải có tầm và có tâm. Có tâm vì làm việc này không có tiền. Có tầm thì mới đủ năng lực thực hiện. Ngoài ra, còn phải có chí vì phải mày mò tìm kiếm tư liệu. Khó hơn nữa là phải hay thì mới có người nghe.

Một vấn đề nữa là việc đào tạo nghệ nhân hát xẩm. Phương pháp thanh nhạc của hát xẩm, đầu tiên mình tưởng dễ, nghe chân phương, mộc mạc, bắt chước được ngay. Nhưng khi nghe kỹ, lần thứ 2, thứ 3, thứ 10, thứ 20, càng nghe nhiều càng phát hiện ra, phương pháp thanh nhạc của các nghệ nhân hoàn toàn không đơn giản. Nghệ sĩ hát chèo vào hát xẩm, thì lại thành chèo chứ không còn là xẩm nữa. Hát xẩm, hát chầu văn, hát chèo… đều có những phương pháp thanh nhạc rất khác nhau, tạo nên đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật. Tôi nói ngay nhạc Tây, Bách, Bê-thô-ven, Mô-da cùng là nhạc giao hưởng nhưng vẫn rất khác nhau. Chính vì thế, đến giờ phút này, những nghệ sĩ nổi tiếng như Thanh Ngoan, Xuân Hoạch, Văn Ty cũng chỉ đọng lại được một số bài nhất định chứ không phải là chơi được tất. May mắn, hôm trước, ca sĩ trẻ Thái Thùy Linh đã đến Trung tâm tập phương pháp của bà Hà Thị Cầu. Cô ấy khá thành công. Tôi nói, cô ấy nên cố gắng học, vì đây là vốn quý của dân tộc. Còn những thứ kia, rồi người ta sẽ quên.

Gánh hát xẩm tại lễ hội hoa Hà Nội. Ảnh: TG

Hát xẩm rất bình dị nhưng lại có phương pháp bình dị của nó. Uốn éo là không được. Đơn cử như điệu ngâm sa mạc, hát chèo, ca trù, hát xẩm đều có điệu ngâm này. Nhưng trong hát xẩm, điển hình như bài “Anh khóa ơi!”, đầu tiên nghe thấy đơn giản tưởng như hát chèo, đến khi nghe ông trùm Nguyên hát, mới “Chết… chết… em sai hết rồi anh ạ!”.

 PV: Dự án đã nghiên cứu một cách hệ thống phương pháp hát xẩm, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Hiện vẫn chưa tổng kết được vì đó là một công trình khoa học công phu. Chúng tôi hy vọng các nhà nghiên cứu sẽ đúc kết thành quy luật để  rút ra âm luật.

PV: Theo ông, cái được lớn nhất sau 5 năm cất công phục hồi nghệ thuật hát xẩm là gì?

Nhạc sĩ Thao Giang: Cái được lớn nhất là hát xẩm đã đi vào đời sống nhân dân. Đoàn chúng tôi đi cả vào miền Trung, miền Nam diễn đều được ủng hộ nhiệt tình. Giờ đám cưới người ta cũng mời tôi rất nhiều. Ví dụ như bài “Đón dâu về làng” của tác giả Phạm Ngọc Cảnh, đi đến đâu người ta cũng thích. Chúng tôi hết sức cảm ơn nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã cho chúng tôi một ca khúc hát xẩm mới.

Cái tiếp nữa, hiện nay một số trường như Đại học Quốc gia thường xuyên mời chúng tôi đến nói chuyện. Trường Đại học Văn hóa đã gửi chúng tôi tổng cộng 3 lớp học. Nhân dân thì đã có khoảng 200 người đến đây học.

PV: Trong khuôn khổ dự án có đề cập tới vấn đề làm những ca khúc xẩm mới, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Tại chiếu xẩm Đồng Xuân, “Theo Đảng trọn đời” là một bài rất thành công. Thậm chí, có khán giả vòng ra sau cánh gà dúi cho dăm trăm, một triệu đồng. Bài đó là của bà Hà Thị Cầu, một người không biết chữ, nhưng khái quát được trọn vẹn các giai đoạn hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua việc dạy con. Chúng tôi đã cấu trúc lại, đẩy tiết tấu lên và tạo thêm kịch tính cho tác phẩm.

PV: Để hát xẩm thực sự được phục hồi nguyên gốc, ông có nghĩ chúng ta nên thành lập ra những gánh hát xẩm. Tôi tin, những nghệ nhân hát xẩm có thể sống “khỏe”, thậm chí hơn cả trước. Vì giờ đây, khả năng vật chất của công chúng khá hơn. Mối quan tâm tới nghệ thuật truyền thống cũng dần trở lại. Hơn nữa, phải để nghệ nhân sống bằng nghề hát xẩm thì họ mới tha thiết với nghề được.

Nhạc sĩ Thao Giang: Có một nhà báo hỏi tôi: “Trước đây các nghệ sĩ hát xẩm sống như thế nào?”. Tôi bảo: “Cứ nhìn ông trùm Nguyên ở ngõ Thông Phong thì biết. Bằng hát xẩm, ông ấy nuôi được 8 bà vợ”.

Thành lập được các gánh hát xẩm thì tốt quá! Nhưng hơi khó! Phải có tài trợ chúng tôi mới làm được.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Huy Quân thực hiện

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/91/110045/print/Default.aspx

ĐỖ DIỄM HUYỀN : Những điều đọng lại sau một cuộc thi…, VIETNAM 2003


 

Những điều đọng lại sau một cuộc thi…

 
Nhung dieu dong lai sau mot cuoc thi
Biểu diễn nhạc cụ dân tộc Tây nguyên.
 

Chứng kiến Lễ trao giải cuộc thi Độc tấu nhạc cụ dân tộc lần II ngày hôm qua, 21/12, người ta vui mừng thấy nền âm nhạc truyền thống của Việt Nam đã tiến được một bước khá xa so với cách đây 5 năm. Nhưng từ đây lại xới lại những vấn đề dù cũ nhưng không kém phần cấp bách.

 

Giải thưởng: đàn nhị lên ngôi

Đàn nhị giành Giải nhất toàn bảng A (không chia theo bộ môn) và giải nhất bộ môn ở bảng B. Điều đáng nói ở đây là hai thí sinh đó có số điểm cao nhất trong số những người được nhất: Nguyễn Thành Nhân, nhất bảng A, đạt 19,63 điểm, và Lê Quang Dũng, bảng B, 19,65 điểm (trong khi đó nhất bộ môn sáo trúc bảng B chỉ 19,00 điểm và đàn tranh 19,57 điểm).

Vui mừng nhất lần này có lẽ phải kể đến Nhạc sĩ Thao Giang, Ủy viên tiểu ban đàn Nhị và là người đã tận tụy với nghiệp đàn Nhị bao nhiêu năm nay. Ông tâm sự: “Trước đây 5 năm, nhìn Trung Quốc họ chơi mà “dân Nhị” của Việt Nam mình … run! Có thể nói là “cay cú” bao nhiêu năm, nay, nói như Cục trưởng Cục NTBD, chúng ta đã có thể ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào Trung Quốc”.

Nhung dieu dong lai sau mot cuoc thi
Độc tấu đàn nhị

Số thí sinh tham dự bộ môn đàn Nhị lần này chỉ bằng 1/4 số thí sinh đàn tranh và đàn bầu. Số học sinh dám dấn thân vào bộ môn này không nhiều, mặc dù trong thực tế, một dàn nhạc có thể nhận vào tới 10 đàn nhị nhưng không thể lấy hơn 1 đàn bầu. Nhạc sĩ Thao Giang giải thích tình trạng này: “Nhị giống như violon nhưng chơi có phần khó hơn. Đó là một loại đàn dây không phím, khoảng cách giữa dây và cần lớn, không có điểm tì như violon,… Luyến láy, nhấn nhá của nhị gần với âm điệu tiếng hát dân ca, đấy là những cái mà violon và piano không làm được. Ngón bấm cần tinh tế và chuẩn xác, âm thanh phải trong vắt, chệnh đi một cái là thành ra “kọ kẹ kọ kẹ” nghe rất buồn cười”.

Với thành công này, có thể khẳng định đàn nhị có thể bước đầu đi vào cuộc sống đương đại, “ngồi”cùng Pop, rock, hay hòa tấu cùng các nhạc cụ dân tộc khác.

Cần có đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp

Theo dõi cuộc thi ta dễ dàng nhận thấy các sáng tác quen thuộc được lặp đi lặp lại đến nỗi ban giám khảo phải nhức đầu, phát chán. Quanh đi quẩn lại chỉ thấy: Kể chuyện ngày mùa, bài kinh điển của Nhị; Lý hoài nam, kinh điển của Sáo; Vì miền Nam, kinh điển của đàn bầu; Hương sen Đồng Tháp, kinh điển của đàn tranh… Tình trạng “đổ xô”, trùng lặp đó một phần vì tâm lý các thí sinh muốn chọn những bài phổ cập, dễ thể hiện; nhưng một phần lớn nữa là do sự nghèo nàn của lượng bài sáng tác.

NSND Trần Quý, Chủ tịch Hội đồng Giám khảo bức bối: “Phần lớn thí sinh phải dùng những bài cũ đã sáng tác từ 15 đến 40 năm trước. Hàng chục thí sinh độc tấu trùng một bài chỉ vì bài đó có đủ những nhân tố để thể hiện tính năng kỹ thuật của nhạc khí”.

Nhìn chung sáng tác cho nhạc cụ dân tộc ngày nay đi vào lối mòn và thiếu tính chuyên nghiệp. Chẳng hạn, riêng sáng tác cho đàn Nhị, một loại đàn tính năng rất khó, nhiều nhạc sĩ còn thậm chí chưa nắm rõ tính năng của nó. Thế là rơi vào tình trạng như “vẽ ma”, người sáng tác hoàn toàn theo cảm hứng. Viết cho Nhị mà cứ như viết cho violon. Ta có thể tiếp thu, nhưng violon không thể thay thế cho nhị được. Nếu viết ra một bài mà bài ấy dùng cho violon cũng được, cho nhị cũng được, thì ta thất bại rồi! Rõ ràng hiện nay, để sáng tác được thì tối thiểu, người sáng tác phải đi học tính năng của các nhạc cụ.

Nhiều thí sinh, như Hồng Giót, Thế Dân (Nhạc viện HN) của cuộc thi lần I thậm chí phải tự sáng tác lấy bài để biểu diễn, có người tự bỏ tiền túi đi đặt bài. Theo NSƯT Huỳnh Tú, Đoàn trưởng Nhà hát ca múa nhạc Thăng Long, một người có nhiều sáng tác cho nhạc cụ dân tộc, sáng tác cho nhạc cụ truyền thống nhưng cũng cần đưa tính thời đại vào. Nên chăng hoặc thường xuyên, hoặc trước khi tổ chức cuộc thi 1, 2 năm chúng ta nên đầu tư, phát động sáng tác những tác phẩm độc tấu có những đặc tính kỹ thuật chuẩn mực cho từng loại nhạc cụ để dùng trong các giáo trình giảng dạy và dùng làm những bài bắt buộc phải có trong chương trình thi, như vậy mới phân định chính xác được tài năng cao thấp của từng thí sinh.

Cần có đội ngũ biên soạn giáo trình

Nhạc sĩ Thao Giang kiến nghị nên có sự kết hợp, nâng hứng giữa các nhạc viện với Viện nghiên cứu Âm nhạc. Tình hình hiện nay có thể hình dung đại khái là Viện Âm nhạc, mà công vịêc là nghiên cứu sưu tầm, cứ nghiên cứu sưu tầm, hệ thống hóa, rồi …lưu kho, còn các trường nhạc thì thiếu giáo trình vẫn cứ tiếp tục thiếu giáo trình. Các giáo viên trường nhạc phải “è cổ” ra gánh trên vai mình đến vài thứ trách nhiệm: nào dạy, nào soạn giáo án, lại soạn cả giáo trình, rồi lại nhân thể sáng tác, biểu diễn luôn! Vì nếu họ không làm thì không biết ai làm cho! Trong khi đó không có sự chuyển giao những thành quả của Viện Âm nhạc cho bên dạy nhạc để biến những kiến thức đó thành sống động.

Hậu giải thưởng hay cuộc mưu sinh chật vật của các học sinh nhạc cụ truyền thống

Theo nhận định có phần lạc quan của một số vị đầu ngành trong lĩnh vực nhạc cụ truyền thống thì chỉ 20 % số học sinh Nhạc viện ra trường tiếp tục theo nghề, còn lại đành ngậm ngùi dứt áo sau 16 năm dày công khổ luyện. Nhạc sĩ Thao Giang một lần nữa lại chua chát: “Vào học từ năm 7 tuổi, khi ra trường đã hai mươi mấy, gần một phần ba cuộc đời ở trong Nhạc viện! Đã theo được ngần ấy năm, chả phải nhân tài kiệt xuất gì thì cũng phải có năng lực ở một mức độ nào đó. Thế nhưng ra trường, nếu có biên chế thì được nhà trường giữ lại làm giảng viên. Còn thường thì về các đoàn sâu khấu dân tộc, đoàn ca múa nhạc, dàn nhạc, các nhà văn hóa, đài phát thanh, sở Văn hóa, bấy giờ nhìn cái lương cơ bản 270 ngàn đồng một tháng mà những người tâm huyết nhất cũng phát hoảng!”.

Nên chăng Nhà nước có một chế độ đãi ngộ đặc biệt với những thí sinh đã đoạt giải trong lần này, để họ không đến nỗi bị lãng quên như sau lần thi I. Trong số các gương mặt sáng giá của lần I, có lẽ chỉ có Lê Minh (giải nhì về Nhị) là có một triển vọng tương đối trong sự nghiệp: được giữ lại trường làm giảng viên.

Danh sách thí sinh đoạt giải

Bảng A:

Giải nhất: Nguyễn Thành Nhân, đàn nhị, Nhạc viện HN

Giải nhì: Lã Cẩm Uyên, đàn tranh, Trường CĐ VHNT Hà Nội; Đồng Minh Anh, đàn bầu, Nhạc viện HN.

Giải ba: Trần Thị Bích Hồng, đàn bầu, Nhạc viện HN; Bùi Thị Phương Nhung, đàn tranh, Nhạc viện HN.

Giải khuyến khích: Bùi Công Thơm, Sáo trúc, Nhạc viện HN; Nguyễn Huỳnh Sơn, đàn bầu, thí sinh tự do.

Bảng B:

Bộ môn đàn tranh: Giải nhấtVũ Thị Việt Hồng, Nhạc viện HN; Nhì Đặng Thị Quỳnh Nga, Trường VHNT Huế; baVương Thúy Hồng, Nhạc viện HN; Khuyến khíchPhạm Hồng Hạnh, Nhạc viện HN, Kiều Vũ Chinh, Nhạc viện TP.HCM

Bộ môn đàn nhị: NhấtLê Quang Dũng. Nhì Lê Minh; BaTrần Đức Xâm; Khuyến khíchNguyễn Kim Ơn, Ngô Hồng Quang. Các thí sinh đều của Nhạc viện HN.

Bộ môn Sáo trúc: NhấtNguyễn Hoàng Anh, Nhạc viện HN; Nhì Đồng Quang Vinh, Nhạc viện HN; BaNguyễn Xuân Chung, Trường CĐ VHNT HN; Khuyến khích Nguyễn Ngọc Anh, Mạc Đức Phương, Nhạc viện HN.

Bộ môn Đàn bầu: NhấtLê Hoài Phương, Nhạc viện HN; NhìNguyễn Thị Mai Thuỷ, Trường CĐ VHNT HN; BaNguyễn Thị Thuỷ, Nhạc viện HN; Khuyến khíchNguyễn Duy Thịnh, Nguyễn Quang Hưng, Nhạc viện HN.

  • Đỗ Diễm Huyền

Việt Báo (Theo_VietNamNet
Thứ hai, 22 Tháng mười hai 2003, 16:16 GMT+7

MẠNH KIÊN : Xẩm tàu điện của người Hà Thành, VIETNAM 2013


Tin tức — February 18, 2013 at 6:18 am

Xẩm tàu điện của người Hà Thành

by

Xẩm và tàu điện đã đến với Hà Nội như một cơ duyên. Hai thứ ấy đã kết hợp với nhau để sản sinh ra một loại hình nghệ thuật độc đáo – xẩm tàu điện chỉ riêng có ở Hà Nội. Khác với các loại hình xẩm truyền thống như xẩm chợ, xẩm cô đầu (hay còn gọi xẩm ba bậc, xẩm nhà tơ, xẩm huê tình) thì xẩm tàu điện sở hữu những nét độc đáo không giống với bất kỳ loại xẩm nào. Cái khác không đơn thuần là nó thường được hát trên tàu điện mà còn ở ca từ, nhạc cụ cho đến trang phục của người biểu diễn.

Sau gần 1 thế kỷ gắn bó với người dân Hà thành, năm 1992, hình ảnh những tuyến tàu điện leng keng đã chính thức từ giã 36 phố phường và mang theo những làn điệu xẩm trở về dĩ vãng; song đến nay, mỗi khi nhắc đến loại hình âm nhạc này là không ít người lại nao lòng tiếc nuối.

Người Hà thành từng nghĩ rằng, xẩm sẽ bị lãng quên khi tàu điện biến mất khỏi mạng lưới giao thông Hà Nội. Thế rồi gần 2 thập niên sau, người ta đã chứng kiến những chiếu xẩm tại cổng chợ Đồng Xuân vào các tối thứ Bảy hàng tuần; Xẩm vào nhà hát và đến với các sân khấu rộng lớn hơn. Cái tên dân dã người ta hay nhắc đến nhất đó là “xẩm tàu điện”.

Nhạc sĩ Thao Giang đã có 20 năm nghiên cứu, gìn giữ và phát huy những giá trị xưa của xẩm tàu điện.

Nguồn gốc và quá trình xuất hiện của xẩm tàu điện

Thế kỷ XX, phương tiện đi lại ở Hà Nội chủ yếu là xe tay kéo và tàu điện. Nơi đây đã sản sinh ra một nhánh trong loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo của dân tộc đó là xẩm tàu điện. Mặc dù xẩm có nhiều loại nhưng xẩm tàu điện thì chắc chắn chỉ Hà Nội mới có. Nó gắn liền với nhịp sống của tàu điện một thời. “Xẩm tàu điện” đặc sắc bởi đây chính là điệu xẩm của riêng Hà Nội. Nếu ca trù, hát cô đầu là “đặc trưng” của phố Khâm Thiên, thì hát xẩm là đặc trưng của chợ Đồng Xuân và phố cổ. Hồi ức của nhà văn Băng Sơn đã từng nhắc đến một bài ca dao khuyết danh nói về tàu điện thuở đó:

“Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài


Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh

Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành

Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường

La ga thì ở Thụy Chương


Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên

Bồi bếp cho chí bồi bàn

Chạy tiền ký cược đi làm sơ vơ

Xưa nay có thế bao giờ


Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba”…

Lịch sử đã chứng minh các tuyến tàu điện ở Hà Nội đã tồn tại gần một thế kỷ. Sự hiện diện của phương tiện này được bắt đầu vào ngày 13-9-1900, khi nhà máy xe điện của Pháp tiến hành chạy thử tuyến đường Bờ Hồ – Thụy Khuê nhằm phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa. Trong những thập niên sau đó, các tuyến tàu điện liên tục được mở rộng. Từ ga trung tâm ở bờ hồ Hoàn Kiếm, các tuyến đường tỏa ra 6 ngả: Yên Phụ, chợ Bưởi, Cầu Giấy, Hà Đông, chợ Mơ và Vọng, cũng là 6 cửa ngõ nối nông thôn với nội thành. Và luôn bắt gặp ở đây những nhóm người hát xẩm, dắt díu nhau lên tàu hành nghề.

Xẩm tàu điện ra đời vào đầu thế kỷ XX, được cho là một nhánh sau của xẩm cổ. Xẩm tàu điện khác với xẩm chợ, xẩm lễ hội là luôn phải chuyển tàu, chuyển toa tìm khách mới nên các đoạn hát thường ngắn gọn, luôn thay đổi nội dung nếu không khách sẽ chán vì phải nghe đi, nghe lại, nhất là các khách thường ngày đi tàu. Đã có một thời, xẩm tàu điện là những khúc tâm tình gắn với tâm trạng của những khách đi tàu là dân lao động nghèo khổ vất vả, tần tảo trên phố phường Hà Nội.

Dành 20 năm nghiên cứu về hát xẩm, nhận thấy hát xẩm đang dần bị lãng quên, nhạc sĩ Thao Giang đã bắt đầu công việc tìm tòi, sưu tập và biên soạn với mong muốn bảo vệ, khôi phục một nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội xưa. Nhạc sĩ đã cùng với Giáo sư Phạm Minh Khang thành lập Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam. Trung tâm được thành lập từ năm 2005 với 3 mục tiêu chính là sưu tầm – nghiên cứu, truyền dạy – đào tạo và biểu diễn nghệ thuật.

Nhạc sĩ cho rằng, xẩm tàu điện là đặc sản của thủ đô. Sở dĩ, Hà Nội “độc chiếm” xẩm tàu điện là vì xẩm phát triển mạnh hồi thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Giống như tính cách của người Hà Nội, xẩm tàu điện khá tao nhã. Những nghệ nhân đã “chế” các bài thơ được ưa chuộng thời bấy giờ thành các bài hát xẩm. Ðặc biệt trong số đó là thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải và Nguyễn Bính. Tiêu biểu là các bài như “Anh Khóa”, “Trăng sáng vườn chè”, “Lỡ bước sang ngang”…

Xẩm tàu điện tái hiện trên sân khấu ngày một gần gũi với công chúng.

Theo tài liệu do nhạc sĩ Thao Giang sưu tầm và cung cấp thì “cha đẻ” của xẩm tàu điện là nghệ nhân Tùng Nguyên và nghệ nhân Thân Đức Chinh. Đặc trưng của xẩm là ở đâu cũng có thể trở thành môi trường diễn xướng như bến sông, bãi chợ, sân đình và cả trong thính phòng. Vì thế, khi Pháp mở tuyến tàu điện đầu tiên, với lượng khách đông đúc, xẩm tàu điện ngay lập tức có được chỗ đứng.

Sau này có rất nhiều người cũng hành nghề xẩm tàu điện. Chính cụ Tùng Nguyên, một nghệ nhân nổi tiếng đã tìm cách đưa hát xẩm lên tàu điện với cách mượn thơ Nguyễn Bính để hát. Vì thơ lục bát rất hợp với làn điệu xẩm, mà xẩm tàu điện về cơ bản chỉ có một làn điệu, nhưng các nghệ nhân đã vận dụng thêm các câu hát xẩm khác xen kẽ, như điệu trống quân, xẩm chợ, điệu huê tình, nên xem ra xẩm tàu điện nghe cũng đỡ nhàm.

Độc đáo “xẩm tàu điện”

Đi sâu để hiểu rõ hơn về loại hình hát “xẩm tàu điện”, theo những tài liệu nghiên cứu, nghệ thuật hát xẩm xuất hiện ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam như: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Giang… với môi trường diễn xướng là các bến sông, bãi chợ, sân đình ở khắp các nẻo đường làng quê. Xẩm tàu điện xuất hiện muộn hơn nhưng có nét đặc trưng riêng và môi trường diễn xướng là… trên toa tàu và các bến tàu điện. Bởi tàu điện là nơi tập trung đông người, họ có một khoảng thời gian rảnh rỗi nhất định, đó là điều kiện tuyệt vời cho những người hát xẩm hành nghề.

Khác với xẩm chợ, trang phục của nghệ nhân là mặc áo tơi, đội nón lá thì xẩm tàu điện nghệ nhân lại khá diện. Nam thường mặc quần áo nâu, mùa rét khoác bên ngoài tấm áo veston, đầu đội mũ cát, đeo kính đen để thể hiện cái “phớt đời”, tránh cái nhìn không thiện cảm về cái nghiệp “xướng ca vô loài” hè phố. Nữ luôn mặc áo tối màu (nâu hoặc xám), có áo yếm sáng màu, váy lưng lửng đầu gối. Sự khác biệt về trang phục như vậy là bởi môi trường diễn xướng của xẩm tàu điện quá tân thời, khác hẳn không gian diễn tấu của xẩm truyền thống. Có người yêu quý còn liên tưởng vui đến hình ảnh những nhân vật được khắc họa trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

Nhưng quan trọng hơn là những giai điệu đã đi cùng thời gian cho đến hôm nay. Để phù hợp với đời sống thẩm mỹ của người thành thị, nội dung các bài xẩm thường “cao cấp” chứ không dân dã như xẩm ở làng quê, xẩm chợ. Những bài xẩm chợ có thể hát theo lối tự sự (như than thân trách phận), hoặc nêu gương các anh hùng liệt sĩ, hoặc châm biếm những thói hư tật xấu, hoặc trữ tình… Vì thế, những điệu xẩm cũng dài lê thê, có khi hát cả đêm không hết và giai điệu rất buồn.

Ngược lại, Hà Nội là phố buôn bán tấp nập, tàu điện lại chạy liên tục chuyến đi chuyến về trên các tuyến phố ngắn từ Bờ Hồ đi Cửa Nam, chợ Hôm, Cầu Giấy, chợ Bưởi, Hà Đông… người ta không có thời gian để nghe hàng tiếng đồng hồ, vì thế, các điệu xẩm cũng ngắn gọn hơn, tiết tấu nhanh và rộn ràng hơn.

Mạnh Kiên

Theo Petrotimes

http://thegioif5.com/xam-tau-dien-cua-nguoi-ha-thanh/