BÙI TRỌNG HIỀN : HÁT XẨM, VIETNAM 2007


HÁT XẨM

Image

Xẩm là một loại hình nghệ thuật hát rong của những nhóm nghệ sĩ dân gian sinh sống lang thang nay đây mai đó. Sân khấu của họ đơn giản là gốc đa, bến nước, sân đình, góc phố, đầu chợ, bến đò hay bến tàu xe.., tựu trung là những nơi thường tụ tập đông người, một cơ may để kiếm sống bằng lời ca tiếng hát. Khác với các nghệ sĩ biểu diễn trong rạp hát, khán phòng, cửa đình, cửa đền.., Xẩm thu lợi bằng sự tự nguyện của khán thính giả. Không bán vé, cũng chẳng có định mức tiền thưởng như bên ca trù hay chèo, tuồng.., ai cho bao nhiêu tùy tâm, tùy lực. Tiền thưởng là nguồn thu mong đợi, nhưng thi thoảng, khán giả cũng có thể san sẻ cho Xẩm những món quà, bánh trái hay nhiều khi đơn giản chỉ là bơ gạo, mấy củ khoai, củ sắn trong những dịp giáp hạt, đói kém. Nói vậy để thấy cuộc sống sinh tồn của những nghệ sĩ Xẩm phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh đời sống xã hội đương thời. Không có lấy một mảnh đất cắm dùi, phiêu diêu nay đây mai đó trên những nẻo đường bất tận, không hạn định, Xẩm thực sự là một nghề nghiệp độc đáo. Thế mới hiểu tại sao những chốn phồn hoa đô hội như đất Thăng Long kẻ chợ lại là trung tâm thu hút nhiều bộ môn nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp, trong đó có hát Xẩm.

          Trong một môi trường xã hội vốn coi trọng danh vị như thời kỳ quân chủ phong kiến, thường thì mỗi nghề nghiệp cổ truyền bao giờ cũng tồn tại một truyền thuyết về tổ nghề. Đó là một hiện tượng mang tính quy luật nhằm tôn vinh, đề cao thân phận cũng như vị thế nghề nghiệp. Xẩm cũng vậy. Theo các nghệ nhân truyền tụng, truyền thuyết tổ nghề Xẩm có thể tóm lược như sau: “Tục truyền ngày xưa, lâu lắm rồi, vào đời Trần, vua cha sinh hạ được hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh[1]. Thương yêu hai con như nhau, không biết nhường ngôi cho ai, nhà vua liền truyền lệnh cho hai hoàng tử lên rừng đại ngàn tìm ngọc quý, ai đem về trước sẽ được nối ngôi vua. Vâng lời vua cha, hai anh em tức tốc lên đường. Trải qua nghìn trùng gian lao vất vả, cuối cùng hoàng tử Đĩnh đã tìm được viên ngọc quý. Nhưng rồi với lòng gian tham đố kỵ, Toán bèn lừa lúc Đĩnh ngủ say, rút gươm chọc mù hai mắt Đĩnh rồi cướp lấy ngọc đem về. Trong cơn bĩ cực khốn cùng, với cặp mắt mù lòa, hoàng tử Đĩnh đã lần mò trong rừng sâu, nhặt được hai mảnh tre khô, liền gõ vào nhau giả tiếng chim chóc để chúng  tha thức ăn đến cho chàng cầm hơi, rồi hoàng tử lần mò dần ra cửa rừng. Vô tình quờ quạng được sợi dây rừng, tước nhỏ, se lại, Đĩnh buộc vào cây song mây hình cánh cung để làm đàn. Lần mò được mẩu que tre, ôm cây đàn một dây để gẩy lên những cung bậc thăng trầm, Đĩnh bắt đầu ngân nga những khúc nhạc lòng tự sự, ai oán. Những người sơn tràng nghe thấy, liền đưa chàng ra khỏi rừng. Từ đó, hàng ngày, hoàng tử Đĩnh lần mò ra xóm chợ, ngã ba đường, kiếm sống bằng chính lời ca, tiếng đàn của mình. Tiếng đồn về những khúc nhạc của người nghệ sĩ mù dần vang xa, lan mãi đến tận kinh thành và tới tai nhà vua… Nhờ đó mà vua cha đã tìm được Đĩnh và trừng trị Toán. Tương truyền, khi trở lại hoàng cung, Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục trau dồi và phát triển nghề hát xướng, lại chuyên tâm dạy đàn dạy hát cho nhiều người bị khiếm thị như mình, tiếng đàn câu ca của chàng ngày qua ngày đã dần lan truyền sâu rộng ra dân gian. Nghệ thuật hát Xẩm nước Nam ta bắt đầu từ đấy. Và, Thái tử Trần Quốc Đĩnh được coi là vị Tổ nghề hát Xẩm.

          Ở đây sẽ thấy rõ 3 chi tiết nổi bật:

          +Thứ nhất, về bản chất, Xẩm là nghệ thuật âm nhạc cổ truyền của những người khiếm thị. Dưới thời phong kiến, họ chỉ có thể kiếm sống, tồn tại duy nhất bằng lời ca tiếng hát. Nói cách khác, Xẩm- một cơ may của những người mù lòa, in đậm tính nhân văn của một loại nghề nghiệp trong xã hội xưa. Bởi vậy, về mặt nguyên tắc, mỗi nhóm Xẩm thường bao giờ cũng buộc phải có ít nhất một người khiếm thị làm chủ đạo. Những người sáng mắt thì không hành nghề độc lập, mà chỉ có thể tham gia phụ trợ với tư cách vợ chồng hay con cái của nghệ sĩ khiếm thị. Đó là luật bất thành văn trong xã hội thời phong kiến. Và, thuật ngữ Xẩm vừa có nghĩa tên gọi thể loại, vừa dùng để chỉ nghệ sĩ hành nghề như: bác Xẩm, anh Xẩm, chị Xẩm hay cô Xẩm…

          +Thứ hai, nghệ thuật Xẩm gắn liền với nhạc cụ độc đáo nhất của Việt Nam, đó là cây đàn bầu (tiền thân là cây đàn song). Điều đó đồng nghĩa với sự xác nhận đàn bầu có trước nhất trong hát Xẩm. Vì thế, đàn bầu còn có tên gọi khác là đàn Xẩm.

+Thứ ba, tổ nghề Trần Quốc Đĩnh dòng dõi con vua. Qua đó, có thể thấy những nghệ sĩ Xẩm đã “lựa chọn” vị Thánh sư tổ nghề của mình với một gốc gác thật cao quý. Điều đó hẳn như một hình thức tôn vinh mang tính tự vệ, nhằm đối phó sự miệt thị của người đời với cái nghiệp hát xướng lang thang, nay đây mai đó của người khiếm thị. Khi trở lại hoàng cung, Trần Quốc Đĩnh bắt đầu truyền dạy nghệ thuật của mình cho nhiều người cùng cảnh ngộ. Điều đó đồng nghĩa với sự xác định nghệ thuật hát Xẩm xuất hiện trước nhất ở kinh thành Thăng Long- đất kẻ chợ ngàn năm văn vật. Hàng năm, Xuân Thu nhị kỳ, tùy vào hoàn cảnh cụ thể từng nơi cư ngụ, người làm nghề Xẩm sẽ chọn ngày 22/2 hoặc 22/ 8 âm lịch làm ngày giỗ ông tổ nghề Trần Quốc Đĩnh[2].

Là một nghệ thuật hát rong, nhưng Xẩm đã không ngừng phát triển để rồi định hình như một bộ môn âm nhạc chuyên nghiệp với hệ thống bài bản và làn điệu hết sức độc đáo. Về tổng thể, Xẩm sử dụng khoảng trên 10 làn điệu. Nhưng số lượng lời ca tương ứng thì lại rất phong phú, khoảng 400 bài hát Xẩm đã được các nhà nghiên cứu ghi nhận. Trên bình diện nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, đây là một con số đáng nể, thể hiện sức sống mãnh liệt của một thể loại ca nhạc chuyên nghiệp, đặc biệt khi chủ nhân của nó phần lớn là những nghệ sĩ mù lòa, không nơi nương tựa. Đáng chú ý, nhiều làn điệu của Xẩm luôn được gắn thêm chữ “Xẩm” ở phía trước, như điệu Xẩm xoan, Xẩm chợ, Xẩm thập ân.., ngụ ý khẳng định đó là điệu hát của riêng nghề Xẩm. Điều đáng nói nhất, có những điệu hát của Xẩm đặc sắc tới mức các bộ môn nghệ thuật bạn như Ca trù, Chèo cũng phải “vay mượn” để làm phong phú thêm hệ thống bài bản của mình. Như trường hợp Xẩm xoan, Xẩm chợ, Xẩm ba bậc là các ví dụ điển hình. Khi du nhập vào Chèo, Xẩm xoan và Xẩm chợ vẫn giữ nguyên tên gọi cũng như âm điệu cơ bản. Riêng trường hợp Xẩm ba bậc (còn gọi Ba bậc nhịp bằng), các nghệ sĩ Ca trù và Chèo đã biến đổi làn điệu ít nhiều, tạo ra những khuôn diện mới mang dấu ấn ngành nghề, thường gọi là Xẩm huê tình. Ở Ca trù, người ta còn dùng thêm vài tên gọi khác nữa là Xẩm nhà trò hay Xẩm cô đầu, ngụ ý nhấn mạnh nó đã được “Ca trù hóa”. Việc giữ nguyên chữ “Xẩm” trong tên gọi làn điệu như một sự xác định “bản quyền” của Xẩm. Thế mới thấy giá trị nghệ thuật của Xẩm được các bạn nghề ca xướng trân trọng như thế nào.

 Image

Ở hát Xẩm, mối quan hệ tương tác giữa hoàn cảnh xã hội với dung lượng nghệ thuật được thể hiện khá rõ. Hãy tưởng tượng, trong môi trường diễn xướng nơi đông người, những bài ca ngắn gọn sẽ khó để lại dấu ấn cảm xúc và gây tác động với người nghe. Thế nên không thấy lạ khi đa số lời ca các bài Xẩm thường có dung lượng khá dài và mang đậm phong cách kể chuyện. Thậm chí như Sa mạc, một làn điệu ngâm vịnh mà đơn vị tối thiểu chỉ là một cặp thơ lục bát cũng thường được Xẩm dùng để chuyển tải cả những chuyện thơ. Không hiếm những bài ca có độ dài trên dưới 100 câu thơ. Dài nhất, có thiên truyện Bà Ba Cai Vàng gồm 263 câu thơ hay Đồng tiền Vạn Lịch gồm 628 câu thơ… Tất nhiên, những tác phẩm như vậy bao giờ cũng được chuyển vận bằng nhiều làn điệu khác nhau, có giá trị nghệ thuật cao, tựa như một bản trường ca. Đồng thời nó cũng thể hiện tài năng, một trí nhớ đáng kinh ngạc của những nghệ sĩ khiếm thị.

Bên cạnh chủ đề trữ tình thường thấy ở nhiều bộ môn ca nhạc cổ truyền, ở Xẩm nổi trội chủ đề giáo dục đạo đức, đặc biệt là lễ giáo công cha- nghĩa mẹ. Ai cũng biết làn điệu Xẩm thập ân nổi tiếng, đã tóm lược cả một đời sinh- dưỡng- dục của cha mẹ với con cái. Đây là tác phẩm được xem như một bản giáo hiếu ca rất ấn tượng của hát Xẩm. Hơn thế nữa, Xẩm thập ân còn có chất nhạc riêng biệt, da diết và truyền cảm, đủ để xoáy sâu vào tâm khảm người nghe. Nếu hát đủ phần mở đầu và phần chính từ một ân đến mười ân, bài ca nay thường kéo dài khoảng gần nửa giờ đồng hồ, gây ấn tượng khá mạnh.

Image

 

Bên cạnh đó, tính giáo dục trong Xẩm còn được thể hiện ở chiều cạnh khác, đó là chủ đề hài hước châm biếm, lên án đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội. Đây là chủ đề khá nổi bật ở Xẩm, với hệ thống bài ca rất phong phú và đa dạng. Ngoài ra, Xẩm cũng khai thác thành công chủ đề người phụ nữ. Những bài ca chia sẻ, cảm thông với những nỗi niềm của phận gái má đào, phận làm dâu, kẻ góa bụa, người vắng chồng chinh chiến tha hương… luôn được xem là những chủ đề độc đáo. Trong đó, những bài Xẩm mang tính tự truyện, than thân trách phận được xem như lời nói hộ biết bao thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ. Khai thác chủ đề này, Xẩm đương nhiên chiếm được cảm tình của đám các cô các bà, một đối tượng quan trọng ở những nơi chợ búa, luôn là lượng khán giả không nhỏ của Xẩm. Làn điệu Hà Liễu với tính chất man mác buồn thường được Xẩm sử dụng để chuyển tải chủ đề này.

 Image

Trong xã hội thời xưa, khi chưa có hệ thống truyền thông đại chúng, thật dễ hiểu khi chính các nhóm Xẩm luôn được coi là phương tiện phản ánh nhiều thông tin mang tính thời sự nóng hổi. Mọi câu chuyện, những tin đồn, sự vụ sốt dẻo trong vùng thường được các nghệ sĩ Xẩm nhanh chóng biến thành lời ca, tạo sức hấp dẫn riêng của nghệ thuật Xẩm. Thông qua nhiều bài ca, có thể thấy cả những biến động của thời cuộc. Những cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình phong kiến, chống lại thực dân Pháp cũng được Xẩm chuyển tải. Ở đây, sẽ thấy một vấn đề thú vị. Trong thời ly loạn, không phải ai cũng dám công khai bày tỏ thái độ phản kháng lại chế độ thống trị. Nhưng hành động của những nghệ sĩ Xẩm sẽ dễ bề được nhà cầm quyền bỏ qua, bởi họ là những thân phận không được coi trọng trong xã hội cũ. Bởi vậy, ở bất cứ hoàn cảnh khắc nghiệt nào, kể cả dưới thời đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp, Xẩm vẫn có tiếng nói đấu tranh khôn khéo, kêu gọi lòng yêu nước thương nòi. Thời đầu thế kỷ XX, các nhóm Xẩm đã dám công khai ca ngợi những người anh hùng chống Pháp như Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn[3]. Thử tượng tượng, khi cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Thái Nguyên thất bại, dân ta ai mà chẳng đau xót, căm hờn quân cướp nước và triều đình phong kiến nhu nhược. Nhưng tất thảy đều không dám nói ra nỗi lòng mình. Nên khi nơi xóm chợ, bến đò, bến tàu xe.., vẳng nghe tiếng hát kể chuyện về những sự kiện nóng hổi đó, đám đông sẽ khó có thể làm ngơ. Và, các nghệ sĩ Xẩm đương nhiên sẽ được đồng bào thưởng tiền hào phóng. Ở đây, có thể đó là lòng dũng cảm đích thực của Xẩm, nhưng cũng có thể họ hành động đơn giản chỉ vì muốn gây sự chú ý, gây sốc giữa đám đông để dễ bề kiếm miếng cơm manh áo.

Như vậy, từ vui đến buồn, từ hài hước đến trữ tình, các làn điệu Xẩm luôn truyền tải nhiều cảm xúc, nhiều câu chuyện thật đời thường, tạo sức hấp dẫn riêng. Tựu trung, tính kể chuyện- câu khách được xem như sự thích ứng tối ưu của nghệ thuật Xẩm trong môi trường diễn xướng đông đúc náo nhiệt đặc thù, ngõ hầu chiếm được cảm tình của người nghe nơi công cộng, để thiên hạ có thể móc hầu bao mà thưởng tiền. Trong sự câu khách, đương nhiên những yếu tố chiều theo thị hiếu thông tục, cường điệu gây cười quá mức như bôi bác những thân phận tật nguyền, hay nhiều bài ca mang tính “lá cải” là điều khó tránh khỏi. Có người coi đó là hạn chế, là nhược điểm của Xẩm. Nhưng nếu nhìn từ góc độ nhân văn, sẽ thấy đó cũng là điều dễ chấp nhận ở thân phận những nghệ sĩ mù lòa, không còn kế sinh nhai gì khác ngoài lời ca tiếng hát. Xẩm là như vậy!

 Image

Bên cạnh hệ thống làn điệu riêng, Xẩm cũng thường vay mượn, du nhập nhiều làn điệu của các thể loại khác, cũng như dân ca, dân nhạc ở nhiều miền quê để làm phong phú thêm cho kho tàng nghệ thuật của mình. Sẽ không thấy lạ khi nghe Xẩm hát Trống quân, hát Ví, Lảy Kiều, ngâm Sa Mạc, rồi ca Hành Vân, Lưu Thủy, Nam thương… của ca Huế, lối giọng Phú- Sử của Chèo, Chầu Văn và Ca trù… Thậm chí cả những giọng của giới thầy phù thủy bắt mà trừ tà như điệu Sai chẳng hạn, cũng được Xẩm dung nạp tài tình. Điều đáng nói, tất cả những làn điệu du nhập, ít nhiều đều được “Xẩm hóa” để phù hợp với phong cách giang hồ của nghề hát rong. Ví như Trống quân, vốn là làn điệu hát đối đáp trai gái đã được Xẩm sử dụng để chuyển tải những bài ca mang tính châm biếm, điển hình như bài Dâu lười, Rể lười.., hoặc dùng để hát những truyện thơ hay những bài vè đậm chất thời sự. Có thể nói, một hình thức hát rong kiếm cơm độ nhật của những nghệ sĩ khiếm thị đói nghèo mà đạt được tầm nghệ thuật như hát Xẩm là điều rất hiếm thấy trong nội bộ một nền âm nhạc dân tộc.

Thời xưa, không mấy nhóm Xẩm có được mái nhà tranh làm nơi cư ngụ. Thế nên họ thường mượn tạm điếm canh đê, góc chợ quê, gầm cầu, bãi đất hoang… hay bất cứ nơi nào có thể để tá túc sớm khuya. Thế mới thấy nghiệp hát Xẩm thật gian nan, bấp bênh biết nhường nào. Về mặt cơ cấu, do đặc điểm khiếm thị của nghệ sĩ, mô hình gia đình được coi là phù hợp nhất với một nhóm Xẩm điển hình. Vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng dắt díu nhau lập thành từng nhóm riêng lẻ làm nghề, vừa tiện bề chăm sóc người kém mắt. Cũng như nhiều thể loại âm nhạc cổ truyền chuyên nghiệp, những nhóm Xẩm mỗi vùng tụ họp với nhau thành những phường hội nghề nghiệp- một tổ chức xã hội định hình gọi là phường Xẩm, làng Xẩm hay hội Xẩm. Người đứng đầu phường Xẩm thường là người cao tuổi, giỏi nghề nhất và có khả năng quy tụ, chỉ đạo mọi hoạt động nghề nghiệp, gọi là Trùm (hay Trưởng) phường.

Theo nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ[4], ở một số tỉnh phía Bắc, trong các phường Xẩm, chức Trùm phường được cộng đồng bầu chọn định kỳ 2 năm một lần trong dịp giỗ Tổ. Có 3 cấp là Trùm nhất, Trùm nhì và Trùm ba, chia nhau coi sóc công việc chung của phường Xẩm sao cho có quy củ, nền nếp. Mọi sự vụ làm ăn lớn nhỏ như phân chia địa bàn hành nghề, giao thiệp với quan đám, chức sắc địa phương, hay việc giải quyết những mối xung đột đều được các Trùm giải quyết êm thấm. Nhà nào túng thiếu, lâm vào hoàn cảnh ốm đau, phường sẽ cắt cử người giúp đỡ hay kiếm cách cho vay mượn. Nhà nào cần sự hỗ trợ về nghệ thuật như trường hợp đàn địch trống phách hư hỏng, hay thiếu bài bản làn điệu làm vốn sinh nhai, phường cũng đứng ra hỗ trợ tức thời. Ở đây, người đàn ngọt hát hay luôn được coi trọng như những người thầy. Bên cạnh vai thầy- trò dạng cha truyền con nối trong nội bộ mỗi nhóm, họ cũng sẵn lòng nâng đỡ, truyền dạy vốn nghề cho đám con trẻ khác ở trong phường. Có thể nói, “lá lành đùm lá rách” là nết ăn, nết ở thật cảm động ở những nghệ sĩ mù lòa. Đó là phong hóa cao cả ở phường Xẩm, được xem như một “kháng thể” mang tính tự vệ bền vững. “Giàu 2 con mắt, khó 2 bàn tay”, không còn cách nào khác, Xẩm buộc phải dựa vào nhau để kiếm kế sinh tồn trong thời ly loạn cũng như thời bình. Tương truyền khi xưa, lúc hành nghề, khi không dùng hết đồ ăn, vật phẩm kiếm được mỗi ngày, Thánh sư Trần Quốc Đĩnh thường đem phân phát cho những kẻ ăn mày đói khát. Xem ra, việc tương thân tương ái giữa những người cùng cảnh ngộ âu cũng là một truyền thống tốt đẹp đã có từ thời Tổ Xẩm huyền thoại.

          Trong phường Xẩm, bên cạnh các ông Trùm, còn có vai vế của các Bô. Đó là các nghệ nhân cao niên, có giá trị như hội đồng hương lão làng xã. Bô cũng chia 3 cấp là Bô nhất (trên 70 tuổi), Bô nhì (trên 62 tuổi) và Bô ba (trên 56 tuổi). Trong công việc chung, các Bô luôn có tiếng nói nhất định hỗ trợ các ông Trùm, góp phần quan trọng ổn định tổ chức phường hội để các nhóm Xẩm có thể tồn tại.

 Image

Trung bình, một nhóm Xẩm chỉ gồm vài ba người, một cặp vợ chồng thêm 1-2 người con đi cùng phụ trợ tập nghề. Đây là một biên chế vừa đủ để mưu sinh. Trong đó, người chủ đạo vừa đàn vừa hát chính, phần còn lại chơi trống mảnh, gõ sênh, phách và hát đỡ giọng phụ họa khi cần. Thường ngày, mỗi nhóm sẽ chiếm cứ một khu vực nhất định để hành nghề, không lấn sân của nhau bao giờ. Bến tàu bến xe, bến đò, bến phà, cổng chợ hay bên lề quán xá luôn là sự lựa chọn của Xẩm. Ở Hà Nội, đến thời Pháp thuộc, người ta vẫn còn chứng kiến 4 nhóm Xẩm hoạt động khá thường xuyên ở 4 góc hồ Hoàn Kiếm. Hành nghề riêng lẻ, nhưng mỗi khi có dịp vào đám hội làng, các nhóm Xẩm trong cùng địa bàn thường liên kết thành một đội lớn hơn. Ở đây, dễ nhận thấy tính thực dụng của sự hợp tác làm ăn đó. Nơi hội hè náo nhiệt, một vài người đàn hát ắt khó gây ấn tượng với đám đông trẩy hội. Thế nên hình thức đồng ca kết hợp với việc gia tăng số lượng nhạc cụ của 2 hay 3 nhóm Xẩm liên kết luôn tạo hiệu quả mong muốn.

Ở nội thành Hà Nội, bên cạnh những nhóm hoạt động cố định, cũng thấy những nhóm Xẩm “lưu động” trên các tuyến xe điện leng keng khuya sớm. Ở vùng quê, các nhóm Xẩm “lưu động” cũng thường bám theo các chuyến đò dọc, đò ngang, tàu hỏa, tàu thủy như một chương trình ca nhạc trên lộ trình phục vụ hành khách. Bên cạnh đó, Xẩm cũng có thể diễn theo sự “đặt hàng” của khách, là cơ may lớn để tăng thu nhập. Nghệ nhân Ca trù Phó Thị Kim Đức kể lại rằng, từ cái thủa còn “Đào Hồng đào Tuyết” ở nhà hát phố Khâm Thiên, lúc rỗi rãi, mỗi khi thấy Xẩm đi ngang qua, các đào kép cũng thường mời họ vào nhà để nghe hát. Bà cho hay, người hát Xẩm rất có tư cách của một nghệ sĩ, muốn họ vào nhà ca hát, phải có lời mời đàng hoàng tử tế bởi họ không phải là người ăn xin. Ngay ở ngoài chợ, các cô các bà buôn phường bán hội gặp lúc vắng khách cũng hay mời Xẩm đến sạp hàng ca hát cho vui. Rồi gặp khi nhà có đám giỗ hay việc hiếu hỉ, Xẩm cũng thường được mời tới trình diễn những khúc ca có ý nghĩa phù hợp, như điệu Xẩm thập ân kể về công lao cha mẹ dưỡng dục sinh thành… Nhưng cũng nhiều khi, sự “đặt hàng” chỉ đơn giản như trường hợp một chàng trai muốn ngỏ ý yêu thương với một cô nàng, nhưng ngại ngùng chẳng dám nói. Anh ta bèn nhờ bác Xẩm mượn câu hát đánh tiếng giùm, sau khi đã đặt tiền thưởng và nói rõ tên cô gái với một vài thông tin cần thiết để Xẩm thể hiện tài năng ứng tác tài tình của mình. Có thể nói, đó là thời kỳ làm ăn ổn định của Xẩm. Còn vào lúc thiên tai mất mùa, đói kém hay gặp thời ly loạn làm ăn khó khăn, nhiều nhóm Xẩm buộc phải khăn gói lên đường lưu diễn liên tỉnh, có khi lên tận vùng miền ngược, nương cậy bát cơm manh áo với đồng bào thiểu số. Gặp chốn đông người, cả nhà dừng lại trải manh chiếu hành nghề. Khi hết cơ may, cha mẹ con cái lại dắt díu nhau lên đường như những cánh chim không mỏi.

          Trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, như đã biết, ở những nơi thôn dã, các nghệ sĩ Tuồng, Chèo, Ca trù, Chầu văn… còn có ruộng vườn và những nghề phụ khác. Nhưng với Xẩm thì không như vậy, nghề ca hát là kế sinh nhai duy nhất của Xẩm. Bởi vậy, nếu đánh giá trên bình diện chuyên nghiệp của một loại hình âm nhạc, thật không quá khi nói rằng Xẩm có thể sánh ngang với những nghệ sĩ nơi cung đình hay những nghệ sĩ Tuồng, Chèo, Ca trù chốn nhà hát thị thành. Bên cạnh ý thức lưu truyền tự giác vốn liếng làn điệu và bài bản, lễ giỗ Tổ nghề cũng là một trong những biểu hiện tính chuyên nghiệp của Xẩm.

 Mỗi năm, cả phường Xẩm thường tụ họp hành lễ giỗ Tổ nghề. Tất nhiên, chẳng có đình đền miếu điện riêng cho Xẩm, những thân phận mà ngay cả một ngôi nhà trú ngụ cũng không có. Tùy từng nơi, Xẩm sẽ lựa chọn một nơi hoang vắng, như bãi đất trống, góc chợ phiên hay ngôi điếm nhỏ lộ đường để tránh làm phiền đến người làng nước. Ở Hà Nội thời Pháp thuộc, phường Xẩm thường lấy bãi Thuốc lá Yên Phụ làm nơi hội họp. Lễ giỗ Tổ thường có thể kéo dài tới 3 ngày. Nhưng gặp khi làm ăn khó khăn hay khi mất mùa, thiên tai thì chỉ làm nội trong một ngày. Các ông Trùm cùng hội đồng các Bô trong phường sẽ cắt cử từng thành viên lo mọi việc để đảm bảo một lễ nghi vừa trang trọng, vừa phù hợp với thực lực kinh tế của từng phường. Đây là cuộc tụ hội quan trọng, mọi sự vụ lớn nhỏ tồn đọng đều được hội đồng ông Trùm giải quyết êm thấm, công tâm. Trong phường Xẩm, 2 tội danh được coi là nặng nhất là tội thông dâm và tội ăn cắp, thường bị hội đồng ông Trùm xử phạt rất nặng, nhiều trường hợp bị đuổi khỏi địa giới, buộc phải đi tha hương. Đây là điều luật nghiêm khắc nhằm đảm bảo thanh danh cho giới nghề.

Trong lễ giỗ Tổ, tục hát thờ tấu trình Thánh sư Trần Quốc Đĩnh luôn được coi là phần quan trọng nhất. Các nghệ nhân giỏi nghề ở từng nhóm sẽ lần lượt thay nhau đua tài tấu nhạc hát thờ, cầu mong Trần Thánh Sư phù hộ độ trì cho mọi gia đình Xẩm, để tiếng đàn câu ca ngày càng thêm ngọt, thêm say lòng người. Và, đây cũng là dịp hiếm hoi để đám con cháu có được cơ hội học hỏi ngón đàn, nhịp phách, câu ca của lớp đàn anh đi trước. Không thấy có chuyện giấu nghề ở nội bộ những nghệ sĩ Xẩm. Ai cũng cố gắng khoe tài hết mức, những mong nghề Tổ được mãi mãi lưu truyền và ngày càng được nâng cao để có thể giúp ích cho cuộc mưu sinh chung của cả phường. Kết thúc lễ giỗ Tổ, cả nhà Xẩm lại dắt díu nhau trở lại cuộc sống thường nhật.

Nói về nhạc khí của Xẩm, trước nhất phải kể đến vị trí của cây đàn bầu. Nếu căn cứ vào truyền thuyết Tổ nghề, cây đàn này được xem như gắn liền với sự ra đời của nghề hát Xẩm, nên còn gọi là đàn Xẩm. Thánh sư Trần Quốc Đĩnh đã chế tác ra cây đàn một dây đầu tiên với cây song hình cánh cung gảy bằng que tre. Hẳn vì thế mà kiểu dạng đàn bầu khá phổ biến ở các nhóm Xẩm cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vẫn được gọi là “đàn song”. Cây đàn bầu dạng này vẫn bảo lưu cái vòi đàn (cần đàn) dạng hình cây song với dây đàn được mắc khá cao so với mặt đàn.

 Image

Bên cạnh đó, kiểu dạng đàn bầu có quả bầu cộng hưởng với lối mắc dây ở sát mặt đàn cũng dần được Xẩm sử dụng, lưu hành đến tận ngày nay. Trên thực tế, đàn bầu vốn là nhạc cụ khó sử dụng. Thế nên một nhóm Xẩm được xem là mẫu mực thường không thể thiếu nhạc cụ này. Người đứng đầu nhóm vừa chơi đàn bầu vừa hát.

Bên cạnh đàn bầu, đàn nhị cũng là nhạc cụ quan trọng. Cũng như đàn bầu, đàn nhị thuộc hệ nhạc cụ dây không phím, nhờ thế có thể uốn lượn theo mọi cung bậc âm điệu tinh tế, rất gần với nguyên tắc phát âm của giọng người. Trong nhiều nhóm Xẩm, người chơi đàn nhị thường đóng vai trò phụ trợ cho người hát chính. Nhưng cũng không ít nhóm Xẩm do không chơi được đàn bầu nên đàn nhị đảm nhiệm vai trò chính trong dàn nhạc Xẩm. Trong việc mang vác di chuyển, đàn nhị gọn nhẹ hơn đàn bầu, lại không chiếm nhiều chỗ trên chiếu diễn như đàn bầu. Mặt khác, giữa đám đông người, âm lượng cung vĩ kéo của nhị lại vượt trội so với đàn bầu. Có thể vì thế nên nhiều trường hợp, đàn nhị được ưa dùng hơn đàn bầu. Xẩm chơi 2 loại nhị: loại âm khu cao (còn gọi đàn Líu) hợp với giọng nữ và loại âm khu thấp (còn gọi đàn Hồ) hợp với giọng nam.

Bên cạnh đàn bầu và đàn nhị, trong những dịp hợp tác làm ăn ở hội làng, nhiều nhóm Xẩm còn sử dụng thêm tiêu, sáo các loại, tạo sự phong phú cho dàn nhạc Xẩm. Trong đó, sự góp mặt của cây sáo mạng là một hiện tượng độc đáo. Đây là một loại sáo có cấu trúc khá đặc biệt. Ở giữa khoảng cách từ lỗ thổi đến lỗ bấm, người ta khoét thủng một lỗ khác rồi đắp một núm bằng sáp ong tạo thành một lỗ núm. Trên miệng lỗ núm gắn miếng cật măng mỏng để khi thổi, tạo ra âm sắc rè rè, nghe khá ấn tượng. Ở nhiều tộc người thiểu số miền núi phía Bắc, cũng có một nhạc khí tương tự, là cây Pí một lao của người Thái, La Ha, Khơ Mú, Kháng, được dùng trong lễ cúng chữa bệnh. Nhưng sự khác nhau cơ bản ở chỗ, Pí một lao kích âm bằng nguyên tắc lưỡi gà rung tự do. Còn sáo mạng của Xẩm lại kích âm theo nguyên tắc lỗ vòm như các loại sáo thông thường. Trong nội bộ các thể loại âm nhạc của người Kinh, sáo mạng là nhạc cụ chỉ thấy có ở nghệ thuật Xẩm.

Như thế, hệ nhạc cụ giai điệu của Xẩm thiên về những nhạc khí có âm sắc gần với nguyên tắc phát âm của giọng người- là đàn bầu và đàn nhị; hay loại âm sắc độc đáo như sáo mạng. Ở đây, không thấy sự góp mặt của các nhạc cụ họ dây gắn phím. Chắc hẳn Xẩm có chủ ý muốn tìm cho mình một sự nổi trội nhất định nhằm tạo sức hấp dẫn riêng, những mong gây được ấn tượng cho người nghe, ngõ hầu giúp ích cho cuộc mưu sinh thường nhật.

Về các nhạc cụ tiết tấu, Xẩm thường xuyên sử dụng đôi sênh, một cặp trống mảnh (loại trống tang mỏng một mặt) và khi cần, thêm cỗ phách phụ trợ. Trong đó, sênh (còn gọi sênh cặp kè hay cặp kè) là nhạc cụ của riêng Xẩm, không thấy có ở bất cứ thể loại âm nhạc nào khác. Sênh là 2 mảnh tre già (hoặc gỗ cứng) được đẽo gọt thành 2 mặt phiến hình thoi cân xứng, một mặt phẳng, một mặt lưng cong như đáy thuyền dài chừng 20 cm, rộng chừng 5-7 cm. Khi chơi đặt trong lòng bàn tay, hai mặt phẳng úp vào nhau (thế nên mới gọi là cặp kè), kích âm bằng cách nắm- mở, khiến 2 mảnh va đập tạo âm hình tiết tấu giữ nhịp, đệm cho lời ca. Điểm đáng chú ý, tiếng sênh nghe thanh mảnh và sắc nét, khác hẳn với tiếng phách, mõ, vốn cũng là những nhạc cụ toàn thân vang bằng tre, gỗ nhưng được kích âm bằng dùi. Thường người ta chỉ chơi một cặp sênh, nhưng cũng có khi chơi hai tay hai cặp để tạo độ dày của tiết tấu. Sênh của Xẩm khiến người ta liên tưởng đến huyền tích Tổ nghề. Khi lần mò trong rừng sâu, đức ngài Trần Thánh Sư cũng nhặt được 2 mảnh tre già gõ vào nhau, coi như đó là tiền thân của nhạc cụ độc đáo này. Ở đây, sẽ thấy sự tích tổ nghề dù chỉ là một huyền thoại do giới nghề dựng lên nhưng rõ ràng, nghệ thuật Xẩm đã đóng góp vào kho tàng nhạc cụ Việt Nam 3 nhạc cụ thật độc đáo là đàn bầu, sênh và cây sáo mạng. Tài năng của những nghệ sĩ khiếm thị Đại Việt là điều đáng khâm phục.

Về cặp trống mảnh trong hát Xẩm, theo thư tịch cổ cũng như các hình chạm khắc[5], nhạc cụ này (đan diện cổ) đã từng xuất hiện ở nghệ thuật hát Ả đào người Việt. Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ viết: “đan diện cổ là trống mảnh một mặt, tang trống nhỏ và mỏng, sơn son thếp vàng, khi ả đào mới lên chiếu hát hay lúc uốn éo múa may, thì đánh trống ấy, tiếng kêu lung bung, bập bùng rất hay”[6]. Về sau không thấy giới đào kép sử dụng cặp trống mảnh, nhưng lại xuất hiện ở hát Xẩm. Đó cũng là một điểm đáng chú ý. Như đã biết, Ả đào (Ca trù) vốn có vị thế cao trong xã hội phong kiến. Nó luôn có mặt nơi đình đền với tư cách nhạc lễ cổ điển- gọi là hát Cửa đình. Rất có thể theo thời gian, mỗi khi đi hát Cửa đình, do cần tinh giảm số lượng nhạc công nên giới nghề Ả đào đã bỏ cặp trống mảnh khỏi dàn nhạc. Không biết Xẩm quyết định du nhập trống mảnh vào dàn nhạc vì nguồn gốc danh giá của nhạc khí này hay bởi đặc điểm gọn nhẹ, dễ mang vác của nó? Dù sao, đây cũng là một sự bảo lưu đáng trân trọng bởi nếu không có Xẩm, có lẽ bộ nhạc cụ này hẳn đã biến mất khỏi đời sống âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

 Image

Bên cạnh cặp trống mảnh, khi hợp tác làm ăn trong đám hội, nhiều nhóm Xẩm còn sử dụng thêm trống cơm và cỗ phách bàn. Còn trong dịp giỗ Tổ nghề, với sự góp mặt của cả phường Xẩm, trống cái, trống ban, trống cơm được trưng dụng triệt để, tăng cường tính lễ nghi, tạo cảm hứng cao cho các bậc đàn anh thi tài, tế Tổ.

Trong diễn xướng, do áp lực miếng cơm manh áo phụ thuộc vào lòng tự nguyện của khách qua đường, nên người nghệ sĩ Xẩm buộc phải rèn luyện tính đa năng. Vừa đàn vừa hát hay kiêm nhiệm cùng lúc nhiều nhạc cụ được xem là tiêu chuẩn xếp hạng của giới nghề. Sẽ thấy, sự đa năng đó một mặt thể hiện tài năng của nghệ sĩ, tất gây ấn tượng với khán giả, mặt khác nó cũng là sự tinh giảm biên chế nghệ sĩ mỗi nhóm để đảm bảo tối đa mức thu nhập. Phổ biến kiểu dạng biên chế một người vừa hát vừa đàn bầu (hoặc nhị). Người còn lại, một tay gõ sênh chơi một mô hình tiết tấu, tay kia cầm dùi trống gõ “bập bung” điểm xuyết vào 2 chiếc trống mảnh được kẹp ở tay và kê lên đùi, có nhiều người còn chơi cả cỗ phách bàn bằng chân, với dùi được kẹp ở ngón, đồng thời có thể hát chính hoặc hát phụ họa. Cũng có trường hợp một người vừa tay đàn miệng hát, đồng thời 2 chân gõ trống phách, rất điệu nghệ. Trong các thể loại nhạc cổ truyền Việt Nam, những nghệ sĩ kiêm nhiệm đàn hát hoặc diễn tấu nhiều nhạc cụ cùng lúc như Xẩm không có nhiều. Đó cũng là một đặc điểm độc đáo của Xẩm.

Một điều thú vị khác, trong đồ nghề kiếm cơm của các nhóm Xẩm bao giờ cũng có một chiếc chậu thau đồng. Bên cạnh chức năng gia dụng vốn có trong sinh hoạt, nó còn là thứ “đồ nghề” không thể thiếu mỗi khi Xẩm diễn xướng. Người xưa vốn dùng tiền kim loại. Khán giả thưởng tiền cho Xẩm bằng cách ném vào chậu, sẽ phát ra tiếng kêu. Dù Xẩm mù lòa không nhìn thấy gì nhưng cũng biết rõ mình được trả thù lao nghệ thuật như thế nào. 1 đồng, 2 đồng hay bao nhiêu, Xẩm nghe tiếng tiền rơi vào chậu để rồi thêm phần hứng khởi mà ứng diễn. Ở đây, việc sử dụng chậu thau đồng hứng tiền thưởng có thể xuất phát từ đặc điểm khiếm thị của Xẩm, nhưng cũng có thể là Xẩm học theo lệ hát thẻ của giáo phường Ca trù khi đi hát Cửa đình (?). Ở đó, đám đào kép cũng để chiếc chậu thau đồng phía sau lưng khi đàn hát trước điện thờ thành hoàng. Mỗi khi quan viên cầm chầu báo thưởng bằng cách gõ vào tang trống cái, quan viên đánh cồng sẽ gõ theo một tiếng phụ họa để người cầm bỏ thẻ (trù) ném 1 chiếc vào chậu. Cứ thế, đào kép vừa đàn hát mà vẫn có thể biết mình đã… kiếm được bao nhiêu! Bởi theo thông lệ xưa, mỗi thẻ được tính rất cụ thể theo giá trị tiền bạc hay vật phẩm tùy theo quy định ở từng cửa đình. Như vậy, đào kép Ca trù thì nghe tiếng thẻ tre, còn Xẩm thì nghe tiếng tiền kẽm, tiền xu quăng vào chậu. Điểm tương đồng này giữa Xẩm với một loại hình diễn xướng có vị trí cao trong xã hội xưa như Ca trù quả là điều lý thú!

Trải quá trình mấy trăm năm hình thành và phát triển, Xẩm đã thực sự tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam với những dấu ấn không thể phai mờ. Sự đóng góp to lớn vào kho tàng nghệ thuật dân tộc của những nghệ sĩ khiếm thị là điều đã được khẳng định. Với tính chuyên nghiệp đặc thù, số phận của những nghệ sĩ Xẩm phụ thuộc hoàn toàn vào đời sống xã hội. Nhưng cái nghiệp cầm ca lang thang đầu đường góc chợ chẳng bao giờ thay đổi được số phận. Xẩm luôn được liệt vào tầng lớp dân nghèo, quanh năm sống bằng tiền thưởng tự nguyện của đám đông khán giả, kiếm đủ miếng ăn là đã may mắn lắm. Không nghe ai nói Xẩm sống sung túc bao giờ. Nước nổi bèo trôi, gặp thời loạn lạc giặc dã, hay gặp lúc thiên tai mất mùa, Xẩm bao giờ cũng là tầng lớp gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Trong lịch sử, nạn đói năm Ất Dậu- 1945 chính là thời kỳ đau thương nhất, đã xóa sổ rất nhiều nhóm Xẩm trên khắp các vùng miền từ thành thị đến nông thôn. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, những nghệ sĩ còn sống sót từ khắp nơi mới lại lần mò tập hợp hành nghề trở lại. Sau giải phóng thủ đô 1954, người ta chứng kiến một đợt hoạt động rầm rộ cuối cùng của Xẩm. Đó là những tiếng hát Xẩm chống di cư ở những vùng duyên hải. Đây là những nghệ nhân Xẩm tài hoa của Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình… được chính quyền tập hợp, sắp xếp sáng tác những bài ca chính trị kêu gọi lòng yêu nước, khuyên nhủ người dân bám trụ lại miền Bắc XHCN. Thế nhưng sau đó, do quan niệm “muốn giúp Xẩm tránh khỏi cuộc sống lang thang vất vưởng” nên người ta đã không khuyến khích Xẩm hành nghề. Hầu hết các nghệ nhân được tập hợp vào Hội người mù Việt Nam- thành lập năm 1969. Ở đó, họ được chuyển nghề sang những hợp tác xã thủ công đan lát, làm tăm tre, bện chổi rơm… Nghề Xẩm chính thức “đóng cửa” từ đó. Các bậc nghệ nhân tài danh dần bước vào tuổi xế chiều, toàn bộ vốn liếng nghề nghiệp dần theo họ về bên kia thế giới, chỉ còn lưu lại phần nào ở kho tư liệu của các nhà nghiên cứu tâm huyết. Đây đó còn vang vọng vài bài ca sót lại trên sóng phát thanh hay trên sân khấu Chèo.

 Image

Mãi đến giữa thập niên 90, người Hà Nội mới lại được chứng kiến nghệ thuật Xẩm đích thực qua tiếng hát của nghệ nhân Hà Thị Cầu (Ninh Bình) trong các đợt liên hoan dân ca được tổ chức tại Thủ đô. Từ đó đến nay, ngày càng nhiều người quan tâm hơn đến bộ môn nghệ thuật đặc sắc này. Một số nghệ sĩ chèo, ca múa nhạc dân tộc cũng tổ chức học nghề và lập chiếu Xẩm mới mô phỏng Xẩm cổ truyền, diễn ở chợ đêm Đồng Xuân và đình Hào Nam (Đống Đa- Hà Nội). Vào đầu năm 2008, Lễ giỗ Tổ nghề Xẩm cũng được phục dựng, nhưng dưới dạng trình diễn sân khấu hóa ở Văn miếu Quốc tử giám, những mong chắp nối được vài mảnh vỡ của quá khứ./.

 

(Bài đã in trong tập sách “1000 năm âm nhạc Thăng Long- Hà Nội”, NXB Âm nhạc, Hà Nội- 2010, quyển 2: Nhạc cổ truyền)

 

[1] Cũng có nơi gọi là hoàng tử Ác và Thiện.

[2] Hiện nay vẫn chưa hiểu tại sao Xẩm lại có thể làm Lễ giỗ Tổ vào một trong hai ngày như vậy? Hẳn ngày giỗ Tổ ở đây chỉ là một mốc thời gian mang tính ước lệ, nhằm dịp Xuân sang ấm áp hay tiết thu mát mẻ, thuận tiện cho việc hội họp.

[3] Chưa nghe nói chuyện các quan binh nhà Nguyễn hay mật thám thực dân Pháp bắt bớ những trường hợp Xẩm hát những bài ca có nội dung như vậy. Cũng có thể Xẩm được bỏ qua, nhưng cũng có thể các bài ca được diễn xướng ở từng thời điểm nhất định trong từng khu vực giới hạn.

[4] Trần Việt Ngữ, Hát Xẩm, NXB Âm nhạc, Hà Nội- 2002, tr.8.

[5] Bức chạm tại đền Tam Lang- Ích Hậu, Can Lộc, Hà Tĩnh.

[6] Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, NXB Trẻ, Hội NCGDVH tp.HCM, 1989, tr.46.

Aug 14, ’07 9:31 AM

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/24/24

Giang hồ… phố cổ, nghe Thanh Ngoan hát xẩm


Giang hồ… phố cổ, nghe Thanh Ngoan hát xẩm

Bạn đã nghe hát xẩm bao giờ chưa? Cái nghệ thuật của phố chợ, lề đường bình dân đến vậy mà lại quyến rũ đến không ngờ. Không tin, bạn cứ thử “giang hồ vặt” ra Hà Nội phố cổ một chuyến mà nghe Thanh Ngoan hát xẩm. Bạn sẽ phải lòng… hát xẩm Hà Nội cho coi!

Báu vật sống

Giang ho pho co nghe Thanh Ngoan hat xam
Thanh Ngoan

Cách đây có dễ đã hàng chục năm, trong một liên hoan trích đoạn chèo hay toàn quốc tổ chức ở Hoa Lư, Ninh Bình, cả một tuần lễ trên sân khấu rộn ràng những đào kép chèo trẻ trung xuân sắc nườm nượp thi tài, vào đêm cuối bỗng xuất hiện một bà lão “đặc” nông dân, như bước ra từ cổ tích Tấm Cám

 

: nghệ nhân Hà Thị Cầu. Bà cụ vấn khăn, mặc yếm áo cánh, quần đen, tay kéo nhị, răng đen nhưng nhức, khoan thai bước lên sân khấu, ngồi đĩnh đạc trên chiếc chiếu cói Ninh Bình nổi tiếng và cất tiếng hát… xẩm huê tình, như một tiết mục chào mừng.

Khán giả bất ngờ lặng ngắt, gần như tê điếng lòng dạ trước một cảnh tượng vô cùng hi hữu của nghệ thuật dân gian quê mùa, vốn là của những người hát rong khiếm thị trong những làng xã, chợ búa ngày xửa ngày xưa, hay trong những phố thị tỉnh lẻ, những lòng phố, con ngõ nhỏ nhoi của Hà Nội một thời đã quá xa xăm… Tiếng hát xẩm của nghệ nhân Hà Thị Cầu quả thật độc đáo, sang sảng nội lực, lên bổng xuống trầm, khoan nhặt du dương, dìu dặt huê tình, khiến người nghe như muốn tan nát cả cõi lòng…

Kết thúc Hội chèo Ninh Bình, ấn tượng hát xẩm nghệ nhân Hà Thị Cầu, với tôi, hóa ra lại là khó phai nhất. Và quả nhiên, bà đúng là hiển thị rỡ ràng một thứ báu vật sống của văn hóa phi vật thể trong gia tài di sản văn hóa truyền khẩu độc đáo của người Việt. Tôi và nhiều người nghe hôm ấy đều không hẹn mà cùng ngỡ rằng, có lẽ sau bà, khó có nghệ sĩ nào có thể lặp lại được một thứ mã nghệ thuật gần như có một không hai này.

Lúng liếng là lúng liếng ơi…

Thế rồi có một cô đào chèo sáng giá của Nhà hát chèo VN cũng bị bất ngờ phải lòng cái nghệ thuật hát xẩm đặc biệt bình dân, cũng đặc biệt quyến rũ ấy của nghệ nhân Hà Thị Cầu, mà dốc lòng dốc chí khôi phục nghệ thuật hát xẩm và có gan đưa hát xẩm vào biểu diễn ngay giữa lòng phố cổ Hà Nội, tháng 3-2006, khi Hà Nội mở một tuyến du lịch phố cổ, cho khách du lịch đi bộ dọc theo phố Hàng Đào lên tới chợ Đồng Xuân.

Má lúm đồng tiền, đôi mắt lá răm đen láy như ca dao miêu tả huê tình lúng liếng là lúng liếng ơi, cô đào chèo đầy bản lĩnh, nói theo cách Nam bộ là “gan cùng mình” này chính là NSƯT Thanh Ngoan, tuổi Bính Ngọ, 1966, cái tuổi không chịu khoanh tay ngồi chờ số phận đem điều may mắn đến cho mình, mà chỉ muốn phải tự tay lao động và tự tay gặt hái thành quả nghệ thuật.

Thanh Ngoan đang học đại học đạo diễn sân khấu tại chức năm thứ hai, ĐH Sân khấu – điện ảnh Hà Nội. Tôi được mời thỉnh giảng môn cơ sở văn hóa VN và lịch sử sân khấu VN đúng vào lớp của Ngoan, chỉ có hơn chục nghệ sĩ kịch, chèo, cải lương Hà Nội mà có đến quá nửa là “sao sân khấu” của các nhà hát, đoàn hát thủ đô: NSND Lê Khanh, NSƯT Thúy Ngần, Thúy Mùi, Chí Trung, Sĩ Tiến…

Giang ho pho co nghe Thanh Ngoan hat xam
Hai đào lệch Thanh Ngoan (trái) – Thúy Ngần và các bạn diễn trong CLB Sắc Việt – Ảnh tư liệu

Thanh Ngoan chăm chỉ ham học như Lê Khanh. Lạ nhất là Khanh rất mê xem Ngoan diễn chèo, nhất là các vai đào lệch. Tôi và nhà văn Hồ Anh Thái cũng mê như Khanh, mê nhất là những vai đào lẳng, đào lệch.

Thanh Ngoan tự nhận mình là một đào chèo may mắn, trời cho duyên sân khấu bẩm sinh, dẫu rằng cả gia đình cô, một gia đình nông dân vùng biển Thái Thụy, Thái Bình, không một ai theo nghiệp hát chèo. Ngôi làng của Ngoan cách bờ biển chừng 3km, Ngoan cười phá lên, tự nhận xét: “Vì thế da em mới ngăm ngăm cô ơi, mà em thì ăn sóng nói gió, lại lận đận tình duyên nữa. Lần đò thứ hai rồi. Nhưng số em có lẽ ăn về hậu vận, lần này xem ra xuôi chèo mát mái…”.

Tôi chẳng tiện hỏi thêm chuyện riêng của Ngoan, biết vậy để mừng cho cô có thể yêu mến nghệ thuật chèo toàn phần, theo đúng tính cách người mà cũng chính là tính cách nghề nghiệp mà cô có khả năng tự thức thật rõ ràng mạch lạc về mình: “Em yêu nghề diễn viên chèo hết mình, từ khi em là đứa con gái quê lúa Thái Bình khăn gói lên Hà Nội, được tuyển thẳng vào Nhà hát chèo từ năm 13 tuổi. 28 năm ở Hà Nội em chỉ ở Nhà hát chèo, không đứng núi này trông núi nọ, miệt mài học nghề từ các nghệ nhân nổi tiếng: Năm Ngũ, Dịu Hương, Minh Lý, Diễm Lộc.

Lúc nào em cũng biết em đang ở đâu, em đang làm gì, em sẽ làm gì để phát triển nghề nghiệp của em. Em muốn trở thành một nghệ nhân chèo đa dạng, biết hát diễn chèo cổ, chèo cách tân, ca trù, chầu văn… Cách đây vài năm, em đâm đầu vào mê hát xẩm, và cô thấy đấy, em đã có riêng một sân khấu ở phố cổ dành riêng cho hát xẩm Hà Nội xen lẫn với một ít làn điệu chèo cổ, ca trù và hát văn…”.

Rồi Thanh Ngoan lúng liếng mắt hạt nhãn, má lúm, môi hồng, cô cất tiếng hát, đầy những nỗi niềm riêng…

Nhị tình em ở nhất tâm… / Sao anh lại ở với em nhị tình?

Đúng là trong cả cuộc đời nghệ thuật, Thanh Ngoan chỉ sợ nhất là người xem quay lưng ngoảnh mặt với chèo hoặc hiểu sai chèo, làm mất giá chèo, vốn được coi là một đồ cổ lành, một viên ngọc không tì vết, như thầy Trần Bảng của cô vẫn dạy. Ngoan ráng thi đỗ vào khoa đạo diễn, chỉ với ý định được làm nghề chèo một cách có học, được đọc sách “công cụ” để hiểu sâu về văn hóa dân gian, nguồn cội của sân khấu chèo.

Không phải ngẫu nhiên, Thanh Ngoan đã cùng hai nghệ sĩ thành lập Câu lạc bộ Sắc Việt, với một không gian biểu diễn thính phòng ở 75 Hàng Bồ, chuyên biểu diễn chèo cổ, ca trù, chầu văn… đều đều vào thứ bảy, chủ nhật hằng tuần và đã trụ vững gần hai năm, như một địa chỉ du lịch nghệ thuật hấp dẫn khách du lịch trong ngoài nước, nhất là những người Hà Nội xa xứ.

Đợi cho đến chín muồi về thời gian nghiên cứu, cũng như nội lực biểu diễn (Thanh Ngoan có tài lôi kéo các bạn nghề cùng xắn tay áo làm nghệ thuật), tháng 8-2006 này Thanh Ngoan mới “xuất chiêu” hát xẩm và cùng với Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc VN thu ba CD: Năm cung chèo, Xẩm Hà Nội, Hát văn tuyển chọn. Dịp 2-9 vừa qua, Thanh Ngoan hân hoan khoe thêm VCD Hà Nội 36 phố phường mới ra mắt.

Theo “lúng liếng là lúng liếng ơi Thanh Ngoan”, chúng tôi thỉnh thoảng “giang hồ vặt”, từ phía nam thành phố, ngã tư Vọng, lên bờ hồ Hoàn Kiếm, gửi xe máy đầu phố Hàng Đào, lững thững đi dọc phố. Trước cửa chợ Đồng Xuân, 8 giờ tối, cô đào Thanh Ngoan rực rỡ xiêm áo đào chèo, yếm thắm, môi hồng, mắt liếc đong đưa, giọng hát mới tình tứ, đa đoan làm sao: Em ơi em ở lại nhà / Vườn dâu em đốn mẹ già em thương / Mẹ già một nắng hai sương / Chị đi một bước trăm đường chị lo

À, mà đấy mới chỉ là một làn điệu xẩm tầu điện thôi nhé, hay còn gọi là xẩm thập ân, xẩm chợ. Còn nhiều nữa. Đêm đầu thu Hà Nội, ta có thể đi chơi suốt đêm trong phố cổ mà bên tai vẫn còn nữa, văng vẳng các làn điệu xẩm da diết tình tự của những ngày xưa xa lắm, nào là xẩm ngâm (sa mạc, bồng mạc), xẩm xoan (chinh bong), xẩm ba bậc (xẩm nhả tơ), xẩm chợ và sau chót là xẩm huê tình… Theo mỗi bước đi thong thả của ta trong đêm sâu Hà Nội, những làn điệu xẩm ấy mới quấn quyện, quyến luyến làm sao.

Không tin, bạn cứ thử “giang hồ vặt” ra Hà Nội phố cổ một chuyến mà nghe Thanh Ngoan hát xẩm. Bạn sẽ phải lòng… hát xẩm Hà Nội cho coi!

Theo Nguyễn Thị Minh Thái
Tuổi Trẻ

Việt Báo (Theo_Tien_Phong)

Theo VOV online : Các nghệ sỹ dân gian tiếc thương nghệ nhân Hà Thị Cầu, VIETNAM 2013


Các nghệ sỹ dân gian tiếc thương nghệ nhân Hà Thị Cầu
(Ngày đăng: 04/03/2013

Sự ra đi của nghệ nhân Hà Thị Cầu là mất mát lớn của nền âm nhạc dân tộc truyền thống nói chung và nghệ thuật hát Xẩm nói riêng.

 

Trên hương án có đàn Nhị – nhạc cụ gắn bó suốt cuộc đời nghệ nhân – NSƯT Hà Thị Cầu (ảnh: Mai Văn Lạng)

Hôm nay, lễ tang và lễ viếng nghệ nhân – NSƯT Hà Thị Cầu (tên thật là Hà Thị Năm) đã được tổ chức trang trọng tại căn nhà nhỏ của bà ở xóm Phú Mỹ (xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình).

 

Đông đảo các nghệ sỹ văn nghệ dân gian, các Nhà hát, đoàn nghệ thuật ở phía bắc như: Nhà hát Chèo Hà Nội, Trung tâm phát triển nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam, Nhà hát Chèo Ninh Bình…đã về viếng. Ông Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội cũng gửi vòng hoa viếng nghệ nhân – NSƯT Hà Thị Cầu.

 

Lễ an táng nghệ nhân – NSƯT Hà Thị Cầu sẽ được cử hành vào lúc 9g30 sáng 5/3 tại nghĩa trang Đầm Thuần (xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình).

 


NSƯT Thúy Mùi – Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội viếng nghệ nhân Hà Thị Cầu (ảnh: Mai Văn Lạng)

Được tin nghệ nhân – NSƯT Hà Thị Cầu đã về với tổ tiên, các nghệ sỹ trong giới văn nghệ dân gian và đông đảo công chúng bày tỏ niềm tiếc thương với bà – một “báu vật dân gian” độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm.

NSND Xuân Hoạch không được học nghệ nhân Hà Thị Cầu ngày nào, thế nhưng ông lại là người tiếp thu được tinh thần của xẩm qua giọng hát của bà. “50 năm nữa liệu chúng ta có được một chất giọng như bà hay không, dù chúng ta có đào tạo? Có những người cũng bảo học bà Cầu, nhận làm con bà Cầu nhưng thử hát một câu như bà Cầu hát cũng khó. Thật lòng, nghe tin bà ra đi, tôi gần như mất đi người mẹ, người mẹ không đẻ ra mình nhưng là người mẹ của nghệ thuật hát Xẩm” – NSND Xuân Hoạch chia sẻ.

Đạo diễn Lương Đình Dũng, tác giả bộ phim tài liệu “Xẩm đỏ” về cuộc đời nghệ nhân Hà Thị Cầu cho biết với anh, Xẩm bà Cầu là một giá trị xuyên thời gian, xuyên qua những binh biến, loạn lạc của thời cuộc, xuyên qua những bất hạnh và nghèo đói của cuộc đời. 35 phút của bộ phim không thể nào nói hết được cuộc đời bà cũng như giá trị của nghệ thuật hát xẩm mà cả đời bà gắn bó. Thế nhưng, hơn một năm tìm kiếm tư liệu và gắn bó với bà, đạo diễn Lương Đình Dũng đã nhiều lần được nghe và ngẫm những bài xẩm qua tiếng hát của nghệ nhân Hà Thị Cầu. Anh đã nhận ra rằng nỗi niềm từ những câu hát của bà cũng chính là từ sự chứng kiến bao đổi thay thời cuộc, được bộc bạch một cách kín đáo nhờ âm nhạc truyền thống.

 

Nhạc sỹ Nguyễn Quang Long (ngoài cùng, bên trái), ca sỹ Trà Ngọc Hằng về thăm nghệ nhân Hà Thị Cầu khi bà đổ bệnh những ngày cuối năm Nhâm Thìn 2012 (ảnh: Nghĩa Lương)

 

Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long cũng chia sẻ nghệ nhân Hà Thị Cầu là một pho sử sống về nghệ thuật hát xẩm, được ca tụng như “báu vật nhân văn sống”. Cuộc đời cụ như một con tằm đã xong kiếp nhả tơ. Không ruộng vườn, không lương hưu, vẫn nghèo khổ như thuở ôm con đi hát rong khắp mọi miền, cụ sống dựa vào tình thương yêu, sự giúp đỡ của những người yêu mến giọng hát của cụ.

Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa – người học trò khá thân thiết và gắn bó với nghệ nhân Hà Thị Cầu từ nhiều năm nay cũng cũng không giấu nổi niềm thương xót và tiếc nuối khi hay tin cụ Cầu đã ra đi: “Cái hay ở bà còn thể hiện ở những góc nhỏ của cuộc đời. Bà có cuộc sống khốn khó nhưng bao năm gắn bó với bà, chưa bao giờ tôi thấy bà kêu ca đòi hỏi, có chăng chúng tôi tìm hiểu tận nơi thì mới biết được”./.

                                                                                                                            Theo: VOV online

http://langnghevietnam.vn/?go=New&page=d&igid=563&iid=7306

MAI XUÂN TÙNG : KTX Mễ Trì chật ních khán giả vì hát xẩm, VIETNAM 2009


KTX Mễ Trì chật ních khán giả vì hát xẩm

 

(Dân trí) – Giọng xẩm điêu luyện, lả lướt đậm chất ngẫu hứng, tiếng đàn nhị réo rắt, tiếng sênh đệm giữ nhịp, vừa đàn vừa hát, NSND Xuân Hoạch đã làm say đắm những sinh viên có mặt tại nhà văn hoá KTX Mễ Trì trong đêm thứ hai giới thiệu về nghệ thuật truyền thống

NSND Xuân Hoạch biểu diễn tại KTX Mễ trì tối 14/5Hội trường chật cứng khán giả thưởng thức xẩm

 

“Gánh xẩm” ông Xuân Hoạch của Trung tâm phát triển âm nhạc vẫn đều đặn chải chiếu hát “miễn phí” vào tối thứ 7 ở khu phố cổ của đất Hà Thành như: Hàng Ngang, Hàng Đào… Nhưng nay mới tối thứ 5(14/5) và ở một địa điểm khác là Nhà Văn hoá KTX Mễ Trì, cùng một số loại hình nghệ thuật cổ nữa, chiếu xẩm có ông và NSƯT Thanh Ngoan được chải trong chương trình “Giới thiệu văn hóa nghệ thuật truyền thống cho cán bộ và sinh viên ĐHQGHN”.

 

Xuất hiện trên sân khấu Mễ Trì với trang phục biểu diễn chỉnh tề, trông ông còn xuân và sung sức lắm. Ít ai có thể ngờ được, tính đến năm con trâu – Kỷ Sửu này “ông xẩm của nhân dân” Xuân Hoạch đã ở tuổi lục tuần.

 

Khoảng 19h30, màn “Trống hội” – hoà tấu nhạc cụ gỗ sôi nổi đã bắt đầu cho đêm diễn thứ hai trong loạt chương trình đưa nghệ thuật truyền thống đến với sinh viên. Khán giả như được sống trong không khí tưng bừng, hứng khởi của một ngày hội thực sự. Và được thấy Xuân Hoạch trong vai trò tay trống chính của tiết mục vẫn vững vàng, linh hoạt, nhuần nhị lắm.
 

Hát xẩm chợ “Sướng khổ vì chồng” do NSND Xuân Hoạch và NSƯT Thanh Ngoan biểu diễn

 

Đến tiết mục hát xẩm chợ “Sướng khổ vì chồng”, khán giả được thưởng thức tài năng vừa đàn vừa hát của ông. Một chất giọng xẩm đạt đến độ điêu luyện lả lướt đầy ngẫu hứng, tiếng đàn nhị réo rắt khiến lòng người không khỏi thổn thức. NSND Xuân Hoạch và người bạn diễn NSƯT Thanh Ngoan đưa cả hội trường chìm vào âm hưởng đặc trưng của làn điệu xẩm chợ – một trong hai điệu chính của loại hình nghệ thuật cổ xưa hát xẩm. Một điệu xẩm có giọng hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng hơi đều hát nối tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay đàn nhị với sênh phách. Tiết mục của hai nghệ sĩ nhận được tiếng vỗ tay nhiệt của khán giả.

 

Khán giả còn tiếp tục được gặp ông trong tiết mục hát Hầu Văn “Xá thượng” cầu tài lộc đầu xuân. 

 

Ngoài hát xẩm, trong chương trình giới thiệu văn hoá nghệ thuật truyền thống, NSND Xuân Hoạch đã cùng các nghệ sĩ Nhà hát ca múa nhạc Trung ương mang đến nhiều âm hưởng độc đáo của dân tộc như: Chùm sáo dân tộc – NS Xuân Trung; Độc tấu đàn bầu – NS Xuân Bình; Quan họ Bắc Ninh (Tương phùng tương ngộ, Hát Giã Bạn) – NS Mạnh Thắng và NSUT Vương Hà; Hoà tấu đàn Tra Ngô: Dân ca Thái – “Inh Lả ơi” … 

 

Và dù là đêm văn nghệ truyền thống; chưa đến cuối tuần lại đang độ thi cử nhưng chương trình vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ. Tham dự có sinh viên trường KHXHNV, ĐHTN và các trường ĐH Hà Nội, ĐH Kiến Trúc… Nhà Văn hoá KTX Mễ Trì, các dãy ghế chật ních khán giả. Không khí cổ vũ không kém phần sôi nổi như những đêm văn nghệ hiện đại.
 
Một tiết mục giao lưu của các nghệ sĩ với sinh viên KTX Mễ Trì tối qua 14/5

 

Nguyễn Văn Chương (sinh viên năm thứ 3 trường KHXHNV) bộc bạch: “Quả không phí. Đây là lần đầu tiên em được thưởng thức một chương trình đặc sắc và chuyên nghiệp, tổng hợp nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống. Đó là cơ hội để em biết thêm về nét đẹp tinh hoa cội nguồn dân tộc mình”.

 

“Giới thiệu văn hóa nghệ thuật truyền thống với cán bộ và sinh viên ĐHQGHN sẽ là một hoạt động thường xuyên. Mỗi tháng sẽ có hai buổi diễn ở hai địa điểm là: Kí túc xá Mễ Trì (182 Lương Thế Vinh – Hà Nội) và Hội trường 10-12 (144 Xuân Thuỷ – Hà Nội)”, thầy Vũ Minh Giang – Phó GĐ ĐHQG cho biết.

 

Mai Xuân Tùng

(K51-Ngôn ngữ học, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN)

Thứ Sáu, 15/05/2009 – 09:34

PHẠM HẠNH : Độc đáo cây đàn đáy cổ tuổi đời gần 1 thế kỷ, VIETNAM 2012


Độc đáo cây đàn đáy cổ tuổi đời gần 1 thế kỷ

Nguoiduatin.vn – 4 tháng trước

(Nguoiduatin.vn) – Điểm quý báu của cây đàn không chỉ nằm ở âm thanh, chất liệu mà nó còn ở giá trị vô hình về thời gian và những cống hiến không mệt mỏi cho nghệ thuật ca trù nước nhà của nhiều đời nghệ nhân, nghệ sĩ.

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Trường cổ đại thanh

Sau rất nhiều lần hẹn gặp, cuối cùng tôi cũng có may mắn được đến tư gia của NSND Nguyễn Xuân Hoạch để có cơ hội tận mắt chiêm ngưỡng cây đàn đáy vốn được người trong giới âm nhạc dân tộc mệnh danh là cây đàn đáy cổ nhất Long Thành.

NSND Xuân Hoạch trong một lần đi diễn.

Đến với ca trù như một sự tình cờ, bởi trước đó NSND Xuân Hoạch theo học đàn nguyệt. Ông là một trong những người đầu tiên được trường âm nhạc Việt Nam nay là Học viện âm nhạc Việt Nam được cử đi học đàn đáy để hiểu về môn ca trù và phục vụ cho đoàn ca múa nhạc dân tộc. Lại thêm một sự tình cờ tưởng chừng như duyên tiền định.

Năm 1982, sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương (Nhà hát Ca múa nhạc Quốc gia Việt Nam hiện nay) và được nhà hát tin tưởng giao cho một cây đàn đáy. Trước đó, vào năm 1972, hướng tới phát triển các loại hình nghệ thuật dân gian, Đoàn Ca múa Trung ương quyết định chi 4.200 đồng (tương đương khoảng 2 cây vàng) để mua cây đàn này. Thời điểm ấy, lương của các nghệ sĩ còn rất thấp chỉ khoảng 50-80 đồng, nhưng Đoàn vẫn dành số tiền khổng lồ ấy để mua lại cây đàn.

Sau khi đánh mấy điệu cơ bản, NSND Xuân Hoạch tỉ mỉ giới thiệu cho tôi nghe về cây đàn. Lúc nhận cây đàn từ thầy Đinh Khắc Ban, ông đã được nghe kể về sự kỳ công khi vị thân sinh ra cụ Ban chế tác cây đàn này cách đây gần trăm năm. Khi làm đàn, nguyên liệu phải được chuẩn bị chừng 3-4 năm trước. Cần đàn dài khoảng 1,5m được đẽo từ gỗ lim nguyên khối. Thành đàn làm bằng gỗ trắc mật, mặt hộp đàn làm từ gỗ vàng tâm. Đây đều là những loại gỗ quý và rất khó để tìm kiếm được. Bộ phím của cây đàn này được làm từ thân cây tre đực, phơi sương phơi nắng qua nhiều năm liền nên rất chắc chắn. Ở giữa các phím có chế tạo một rãnh nhỏ để đặt các suốt tre.

Dây đàn được làm bằng dây tơ rất tỉ mỉ, kỳ công. Chính từ những nguyên liệu đặc biệt ấy mà âm thanh của cây đàn cũng rất đặc trưng, vừa trầm đục nhưng lại chắc nịch và rất vang. Có lẽ lý do khiến cụ thân sinh của nghệ nhân Đinh Khắc Ban kỳ công chế tác cây đàn này không chỉ vì cụ muốn con trai mình có được tiếng đàn hay nhất mà còn như gửi gắm vào đó cả tâm huyết một đời với nghệ thuật ca trù.

Theo tục lệ gia đình, cụ Đinh Khắc Ban còn được làm lễ đóng đàn trước tổ tiên. Với niềm đam mê với môn nghệ thuật truyền thống được cha truyền dạy lại, cụ Đinh Khắc Ban không ngừng học hỏi để trở thành một kép đàn nổi danh. Sau này, nhắc đến ca trù thế kỷ 20 người ta không thể không nhắc đến những cái tên như ca nương Đinh Thị Bản và kép đàn Đinh Khắc Ban. Không chỉ sinh sống và tham gia vào các giáo phường ca trù ở Khâm Thiên (Hà Nội), cụ Ban còn cùng cây đàn bôn ba khắp nơi để diễn hát ca trù. Cụ thường đem theo cây đàn, lọc cọc đạp xe sang các vùng Lỗ Khê, Sơn Tây (Hà Tây cũ) hoặc xuống những vùng liên quan đến ca trù để đàn hát, đem ca trù đến với công chúng.

Lại nói về cây đàn, ngày nay do sự khó khăn của nguyên liệu nên người ta hay dùng dây nilon để thay thế dây đàn. Tuy nhiên, theo NS Xuân Hoạch, để đàn đáy có được âm sắc cổ kính và giống với tiếng người nhất thì dây đàn phải làm từ dây tơ. Để có được những cuộn dây ấy, ông đã phải xuống tận làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) để tìm mua những sợi tơ vừa được tằm nhả ra. Có tơ rồi, NS Xuân Hoạch kỳ công xe đi xe lại. Chập hai sợi tơ thành một, rồi từ những sợi to ấy lại xe thành một dây đàn. Để dây tơ bền và dùng được lâu, ông đã tham khảo cách làm dây của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

NSND Xuân Hoạch bên cây đàn cổ.

Giữ cho âm sắc mãi ngân vang

NS Xuân Hoạch năm nay đã ngoài 60 tuổi. Năm 1982 ông được nhận cây đàn từ Đoàn ca múa nhạc Trung ương. Nhẩm tính, cây đàn cũng đã bên ông nửa đời người. Ông hiểu được, đó không chỉ là một nhạc cụ bình thường mà còn là một chứng nhân cho một thời kỳ dài lắm “truân chuyên” của nghệ thuật ca trù và tình yêu của các nghệ nhân, nghệ sĩ. Do vậy, từ thời khắc nhận đàn, NS Xuân Hoạch đặc biệt coi trọng việc lưu giữ và phát triển loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

Thời đó, để tìm được đào nương cho mình đệm đàn không phải dễ, nên ông đành luyện chay cả ngày. Sau này, khi được đi diễn, được sự ủng hộ của các NS trong đoàn ca múa nhạc mà đặc biệt là NSND Thanh Hoài, NSƯT Đoàn Thanh Bình thì ông mới có nhiều cơ hội đệm đàn hơn. Ông đã cùng cây đàn tham gia nhiều hội diễn, cuộc thi và đạt được những thành công vang dội.

Bộ phím bằng tre chắc chắn và chưa khi nào phải thay.

Hai năm gần đây, ông được nghệ nhân, NSƯT Phó Thị Kim Đức (đào nương cuối cùng của giáo phường Khâm Thiên xưa) truyền dạy cho những khuôn khổ, lòng bản của nghệ thuật đệm hát lối đàn hát khuôn (lối hát theo khuôn bậc, nắn nót từng tiếng; luyến láy công phu, tròn vành rõ chữ). Nghệ nhân Kim Đức vốn am hiểu ca trù và ngấm tiếng đàn, tiếng thơ từ bé đã hết lời khen ông. Nhiều người nghe tiếng đàn ông còn ngỡ như được trở về không gian cổ kính, tinh hoa ngày xưa.

Những lời khen giản dị ấy khiến NS Xuân Hoạch có thêm động lực chơi đàn và ngày đêm truyền dạy học trò tiếp bước mình. Hiện nay, một số học trò của ông cũng rất say mê với nghề. Tuy nhiên, người nghệ sĩ già vẫn trăn trở ngày đêm tìm cho mình một người học trò xứng đáng để một ngày nào đó yên tâm trao lại cây đàn và giữ lấy tiếng đàn.

Chưa tìm được trò để gửi gắm cây đàn

Những năm gần đây, biết được giá trị của cây đàn, không ít người đã tìm đến hỏi mua với ước mong có thể sở hữu được cây đàn quý gần 1 thế kỷ ấy. NS Xuân Hoạch chia sẻ: Đến giờ phút này, không dám khẳng định rằng mình đã làm tròn tâm nguyện của người thầy, nhưng tôi cũng có thể tự hào rằng mình đã tiếp nối người đi trước để tiếng đàn đã và đang ngân vang. Cây đàn là một báu vật và báu vật không tồn tại ở dạng tĩnh tại mà nó đang được lan tỏa trong cuộc sống. Giờ đây, tôi chỉ có một mong ước là sớm tìm được một học trò xuất sắc trao lại cây đàn để tiếng đàn ấy tiếp tục đồng hành cùng nền nghệ thuật dân gian nước nhà.

Phạm Hạnh

http://www.baomoi.com/Doc-dao-cay-dan-day-co-tuoi-doi-gan-1-the-ky/71/9715134.epi

Đàn đáy cổ nhất Long thành, VIETNAM 2009


Đàn đáy cổ nhất Long thành

Tiền Phong – 41 tháng trước

Dan day co nhat Long thanh

TP – Cây đàn có tuổi đời cỡ 100 năm là vật gia truyền của gia đình nghệ nhân đàn đáy nổi tiếng Đinh Khắc Ban đang được NSND Xuân Hoạch lưu giữ như một báu vật. Nó chính là cây đàn đáy cổ nhất Long thành hiện vẫn còn sử dụng được.

 

Sau bao năm thế kỷ 20 nhiều thăng trầm, ca trù gần như bị mai một và lãng quên trong đời sống tinh thần. Vậy nhưng chính trong giai đoạn khốn khó ấy ca trù vẫn âm ỉ cháy một cách bền bỉ ở đâu đó trong hut hút những con ngõ nhỏ khắp Long thành.

Men theo một trong những con ngõ ấy chúng tôi tới nhà NSND Xuân Hoạch, người đang giữ cây đàn đáy có tuổi đời cỡ trăm năm, một báu vật có thể nói vô giá của nghệ thuật ca trù. Cả hai vợ chồng ông đều có nhà.

Vừa dẫn chúng tôi lên cầu thang của căn nhà 5 tầng để đến nơi cất giữ cây đàn ông vừa cởi tấm lòng: “Tôi nâng niu cây đàn như báu vật gia đình gần ba chục năm nay”, “Cây đàn hẳn xưa đã từng được thể hiện trong các canh hát ca trù với đúng nghĩa thưởng thức?”, “Đúng thế” – NSND Xuân Hoạch cho biết.

Phòng trưng bày, cũng là nơi tập luyện của ông đủ loại nhạc cụ dân tộc, từ cây đàn bầu mộc, đàn nhị, đàn nguyệt đến trống phách… cây đàn đáy được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Thoạt trông, cây đàn không có gì đặc biệt, NSND Xuân Hoạch cũng như tán đồng:

“Thực ra về hình dáng nó không có gì khác biệt nhưng có điều gỗ rất tốt và được chế tác cầu kỳ. Chẳng hạn lấy những chỗ tốt nhất của một cây tre làm bộ phím.

Cây đàn chứa đựng sự sáng tạo rất cao bởi vì người chế tác đã tính đến chuyện không phải thay bộ phím rất rườm rà như bao cây đàn khác bằng cách đắp miếng cật tre vào một cái rãnh ở trên phím, khi mòn chỉ việc thay cật, rất đơn giản mà nhanh.

Thành đàn làm bằng gỗ trắc mật để có màu đẹp, mặt đàn là gỗ vàng tâm, cả hai đều là gỗ quý, cho nên tiếng đàn rất đẹp, trầm đục, chắc nịch mà lại vang.

Ngày trước dùng dây tơ, nhưng sau này dây tơ hiếm quá nên tôi chuyển sang dây ni-lông” – NSND Xuân Hoạch cho biết.

Cây đàn vốn là vật gia truyền của một gia đình gốc Vĩnh Phúc di chuyển xuống Hà Nội có nhiều đời gắn với ca trù nhưng nay đã thất truyền.

Tới thế hệ ca trù cuối cùng của gia đình ấy có những cái tên rất nổi tiếng của ca trù thế kỷ 20 như ca nương Đinh Thị Bản và kép đàn Đinh Khắc Ban. Cụ Ban chính là chủ nhân cây đàn cổ này.

“Tôi vẫn nhớ như in lời cụ Ban nói, theo truyền thống gia đình, ngay từ nhỏ cứ con gái thì học hát, con trai sẽ học đàn. Lúc ấy người cha đã phải tính chuyện đóng một cây đàn tốt cho con trai. Nhưng trước khi nhận đàn, người con trai phải được làm lễ đóng đàn trước tổ tiên” – NSND Xuân Hoạch kể. Cụ Ban được cha trao đàn khi vẫn chưa tới tuổi thanh niên.

Năm 1982, cảm thấy sức khỏe ngày càng yếu, hai người con một trai một gái của cụ không ai theo nghề, cụ đã chọn người học trò xuất sắc nhất, NSND Xuân Hoạch để truyền lại cây đàn. Tới năm 1992 cụ về với tổ tiên ở tuổi 78. Cho tới thời điểm này thì cây đàn có cỡ 100 năm tuổi.

Năm 1966, tròn 16 tuổi, Xuân Hoạch học Trường Âm nhạc VN lúc đó sơ tán tại Xuân Phú (Bắc Giang). Thời điểm ấy, ca trù gần như bị lãng quên. Ngay thời gian ấy Xuân Hoạch đã ngưỡng mộ nghệ nhân Đinh Khắc Ban qua lời kể của các thầy và đồng nghiệp, lại thêm một may mắn con gái của cụ (Nghệ sĩ đàn tranh Đinh Thị Nội, hiện là giảng viên Học viện Âm nhạc Quốc gia VN) học chung lớp.

Năm 1970 tốt nghiệp, ít lâu sau, Xuân Hoạch về công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương (Nhà hát Ca múa nhạc Quốc gia VN hiện nay).

Cuộc sống thời đó khó khăn, nên dù đã về Hà Nội nhưng ông vẫn chưa thực hiện được mong ước được học đàn cụ. Bẵng đi tới quãng năm 1975 – 1976, nhân Đoàn dựng tác phẩm của NS Hoàng Đạm phổ thơ Hồ Chí Minh khai thác chất ca trù, Xuân Hoạch mới đề nghị được đến học cụ Ban.

Dù không học đàn để chơi trong ca trù nhưng khỏi phải nói cụ Ban vui thế nào bởi ở cái thời ca trù gần như chẳng ai còn quan tâm, mà ngay cả những nghệ nhân tài năng cũng phải náu vào những nghệ thuật “bình dân” hơn, bản thân cụ Ban về công tác tại tổ dân ca Đài Tiếng Nói VN chuyên đệm ngâm thơ, ca Huế, Chèo… mà lại có người tới xin học.

Đang mạch chuyện bỗng người bạn đời của NSND Xuân Hoạch mắt sáng lên với kỷ niệm khó phai: “Hồi đó còn đang yêu nhau, mỗi lần học xong ông ấy lại đeo cái đàn dài dài đạp xe đến nhà tôi ở Liễu Giai chơi.

Cả nhà tôi nhìn thấy còn trêu: Đeo cái đàn gì thế hả thằng thầy cúng?! Ông ấy mới giải thích là đàn hát ả đào”. Một chàng trai mới chừng đôi mươi khi ấy lại bị đùa như thế có ngại không? Xuân Hoạch gạt phắt: “Nghiệp rồi mà!”.

Quãng thập niên 80 thế kỷ trước vẫn còn nghèo lắm, ấy thế mà hai thầy trò gắn bó tới mức cụ Ban có thời gian tới ở nhà học trò chừng năm rưỡi để thầy trò cùng say sưa với ca trù.

Quãng thời gian đấy, Nhà hát Chèo VN gửi gắm cụ 4 diễn viên gồm NSND Thanh Hoài, NSUT Đoàn Thanh Bình học ca và hai kép học đàn.

Cụ dạy ngay tại nhà NSND Xuân Hoạch. Trong 4 người đó một kép đàn đã bỏ nghề, 3 người còn lại đều thành danh. NSƯT Công Hưng hiện đang chơi đàn đáy trong nhóm NSUT Kim Đức.

Học trò của cụ Ban còn phải kể tới nghệ sĩ Trang Nhung, Thúy Đạt… Như vậy người giữ tiếng đàn Đinh Khắc Ban giờ chỉ còn 2 là NSND Xuân Hoạch và NSUT Công Hưng.

“Tôi nghe cụ Ban nói ca trù xưa có nhiều phong cách, mỗi giáo phường mỗi phong cách riêng. Nhưng hiện nay đã mất đi sự phong phú, tất cả chỉ thể hiện theo một lối chung” – NSND Xuân Hoạch cho biết.

Tiếng đàn của cụ Ban chắc, khỏe và luôn có cái gì đó mới làm tăng sức quyến rũ – theo NSND Xuân Hoạch – gia đình cụ Ban có được tiếng đàn ấy có lẽ bởi lúc đương thời được mời đi giao lưu biểu diễn khắp nơi.

Năm 1988, tham gia Hội diễn Ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc, NSND Xuân Hoạch đã tự soạn tác phẩm độc tấu đàn đáy mang theo cái hồn của tiếng đàn đáy ấy.

Người bạn đời của ông kể: “Tôi nhớ mãi hôm ông ấy thi ở Nhà hát Lớn HN tôi ngồi ở ghế khán giả, trên hàng tôi có mấy cụ lớn tuổi xì xầm nhau: Lâu lắm mới lại được nghe tiếng đàn Đinh Khắc Ban, giờ chỉ có chú ấy chơi được”.

Và Xuân Hoạch đã thành công với tấm Huy chương Vàng, nhưng quan trọng hơn, chính ông là người đầu tiên đưa đàn đáy lên sân khấu ca nhạc chuyên nghiệp với tư cách một nhạc cụ độc tấu.

Gần đây lại thấy Xuân Hoạch ôm cây đàn đáy trong một nhóm ca trù. Tò mò hỏi tại sao mấy chục năm không thường xuyên đánh vẫn giữ được hồn của tiếng đàn? Xuân Hoạch cười bảo: “Quên làm sao được, lời thày dạy chưa bao giờ dứt vang lên trong tôi”.

Bên cạnh tình yêu ca trù và cây đàn mà người thầy đã truyền lại, ông còn bị cuốn hút bởi những âm thanh trầm đục rất sâu của tiếng đàn khi kết hợp với giọng đào nương trong sáng và sự chộn rộn của phách, sự đan tỉa vào những chỗ hay nhất của trống chầu tạo hiệu quả âm thanh rất đặc trưng đã ngấm thì không dễ quên.

Ở Liên hoan Ca trù toàn quốc 2009 vừa rồi nhóm ông (còn có ca nương Thu Yên, nghệ nhân trống chầu Phạm Lãm) gây được chú ý khi cả 3 thành viên đều đoạt Huy chương Vàng.

Nhưng lịch sử dường như lặp lại, mấy người con của NSND Xuân Hoạch không ai nối nghiệp cha. Điều ông trăn trở nhất là làm sao có một người trò xứng đáng để một ngày nào đó trao lại cây đàn và giữ lấy tiếng đàn.

http://www.baomoi.com/Dan-day-co-nhat-Long-thanh/71/3721960.epi

HƯƠNG LAN : Chuyện giữ hồn xẩm, VIETNAM 2012


 

by

Từ 26 – 28.10, tại sân bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (Hà Nội) diễn ra chương trình tái hiện xẩm tàu điện, kết hợp giới thiệu ẩm thực Hà thành. Sự kiện này gây tò mò cho những ai mê xẩm, nhưng lại đem đến cho những người bao năm qua vẫn miệt mài giữ xẩm đôi chút ngẫm ngợi…

Xẩm tàu điện xưa, xẩm tàu điện nay…

Thập niên 70, Xuân Hoạch còn là một nghệ sĩ trẻ măng, từng có không ít bữa bám lỳ tàu điện hàng giờ, chỉ để nghe xẩm. Ngày đó, ông mê mệt giọng hát và tiếng đàn của cụ trùm xẩm Nguyễn Văn Nguyên. Ông bảo: “Cụ Nguyên kéo đàn hồ hay lắm. Tàu điện chạy xình xịch, ồn ã thế mà tiếng đàn vẫn vang rất rõ, bay rất xa”. Cùng với nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên, xẩm tàu điện khi ấy có một “ông trùm” nổi bật khác là nghệ nhân Vũ Đức Sắc, ngoài giọng hát còn lừng danh với tiếng đàn nhị. NSND Xuân Hoạch nhớ rất rõ, những chuyến tàu điện toả đi từ Bờ Hồ suốt một thời đã trở thành sân khấu lưu động của các nghệ sĩ xẩm. Và những người soát vé, phần vì mê xẩm, phần vì cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của các nghệ sĩ, thường là bị khiếm thị, nên luôn coi họ như hành khách đặc biệt, không bao giờ thu phí hay gây khó dễ. Tất cả những yếu tố ấy, cộng hưởng với nhau, đã tạo nên một “đặc sản” riêng có cho xẩm Hà Nội: xẩm tàu điện, với cách hát, nhạc cụ và trang phục có những nét riêng so với xẩm chợ và xẩm cô đầu, chủ yếu là để phù hợp với sân khấu lưu động tàu điện.

Chính vì những ký ức còn tươi rói nên với xẩm tàu điện nay, NSND Xuân Hoạch đã mường tượng ngay một không gian biểu diễn, mà theo ông, giúp khán giả cảm nhận rõ nét hơn cái hồn của xẩm tàu điện: Các toa xe điện cũ còn “nằm” ở đường Thuỵ Khê. Nếu sử dụng một toa nhỏ, tái hiện một phần không gian, để người nghệ sĩ ngồi ngay cửa toa vừa hát xẩm vừa kéo đàn thì rất hay… Và giọng ông có chút bần thần khi biết, trong chương trình tái hiện xẩm tàu điện, cái gợi nhớ đến xẩm tàu điện xưa chỉ là tiếng tàu điện leng keng phát ra từ loa. Không gian của xẩm tàu điện nay, ngoài xẩm, còn dành chỗ để giới thiệu về ẩm thực Hà thành, với những món quà quê, những đồ uống dân dã. Thì cũng là một cách làm…

Và chuyện giữ hồn xẩm

Không có gì ngạc nhiên khi giới nghiên cứu đón nhận sự kiện xẩm tàu điện nay với thái độ từ tốn. Bởi trong những năm qua, đã có không ít nỗ lực đổ ra nhằm khôi phục xẩm mà kết quả không phải bao giờ cũng được như mong đợi. Đạt được thành tựu lớn hơn cả, phải kể đến dự án khôi phục xẩm do trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (trực thuộc hội Nhạc sĩ Việt Nam) thực hiện, với sự góp sức của nhiều tên tuổi lớn như: Thao Giang, Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan… Sau bốn năm dốc sức sưu tầm, nghiên cứu, đào tạo, trung tâm đã khôi phục được rất nhiều làn điệu xẩm, đặc biệt là hai điệu xẩm đã hoàn toàn thất truyền: Điệu xẩm tàu điện và Hò bốn mùa. Ngoài ra, một sân khấu xẩm miễn phí cũng liên tục sáng đèn mỗi tối cuối tuần tại chợ Đồng Xuân, suốt từ năm 2006 đến nay…

Nhưng thật bất ngờ khi biết, những người đã có công hồi sinh xẩm ngày ấy nay hầu hết đều rời trung tâm. NSND Xuân Hoạch chia sẻ: “Tôi rút lui, một phần vì thấy… nản”. Hơn nữa, ông có tới ba cái nản. Thứ nhất, những người dám sống trọn vẹn với xẩm, giờ đếm trên đầu ngón tay. Xưa, các nghệ sĩ xẩm vừa hát vừa đàn, không biết đàn thì chí ít cũng phải biết sử dụng bộ gõ, đó là một nguyên tắc bất di bất dịch. Nay, tìm mỏi mắt không ra một người vừa đàn giỏi, vừa hát hay, mà hình ảnh thường thấy là người đàn cứ đàn, người hát cứ hát. Thứ hai, đội ngũ chèo đổ sang hát xẩm nhiều, chưa học xẩm cho tới đã hát khiến xẩm bị chèo hoá quá nhanh. Thứ ba, đạo đức nghề nghiệp càng lúc càng lung lay, mà đỉnh điểm là việc không hiếm nghệ sĩ xẩm chọn cách hát nhép, đàn nhép. Chừng ấy hiện tượng khiến NSND Xuân Hoạch không khỏi lo rằng không lâu nữa cả nghệ sĩ lẫn công chúng rồi sẽ bị lẫn lộn giữa xẩm thật, xẩm giả. Cùng chung suy nghĩ, nhà nghiên cứu Thao Giang bày tỏ, ông cảm thấy buồn khi người ta đưa xẩm ra biểu diễn ở những không gian không phù hợp, hay đem một bài xẩm vốn dành cho cặp đôi nghệ sĩ là vợ chồng “nhét” vào miệng một cô bé đang được xem như một gương mặt triển vọng của xẩm….

Chính vì nóng ruột trước những phương thức khôi phục xẩm như thế, nên năm ngoái, ông đã tìm cách liên kết với học viện Âm nhạc Huế, mở lớp đào tạo (bậc đại học) nghệ nhân cho năm loại hình nghệ thuật: hát xẩm, trống quân, quan họ, ca trù, hát văn. Khoá đầu tiên, chỉ chọn được 16 sinh viên đủ tiêu chuẩn. Đầu vào phải “tinh”, vì nội dung học chắc chắn rất vất vả. Để đảm bảo khi ra trường, với việc tinh tường cả hát, đàn, và phương pháp luận, đây sẽ là lứa nghệ sĩ có khả năng đi đến cùng với xẩm và quan trọng nhất, đó là giữ được hồn xẩm.

HƯƠNG LAN

Theo SGTT

Tin tức — October 27, 2012 at 8:20 am

http://thegioif5.com/chuyen-giu-hon-xam/

WIKIPEDIA : XẨM , VIETNAM


Xẩm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. “Xẩm” cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm – thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm còn có thể coi là một nghề. Cho đến tháng 2 năm 2013, tỉnh Ninh Bình với nghệ nhân Hà Thị Cầu (1928-2013) được coi là người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ 20, đang có những nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp.

Những người hát xẩm ở Hải Phòng thời thuộc Pháp

Mục lục

Truyền thuyết về nguồn gốc

Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc ToánTrần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống.[1] Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông. Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008.

Theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc hát xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử.[2]

Nhạc cụ

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhịsênh. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnhphách bàn. Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng.[3] Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáothanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.

Phân loại và làn điệu

Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. “Hát xẩm chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hát xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị.”[4]. Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,… hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc[5]. Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát xẩm đã được “xẩm hoá” theo phong cách đặc trưng của xẩm. Trên thực tế, cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác:

  • Tên bài xẩm nổi tiếng: xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải)…
  • Theo mục đích, nội dung bài xẩm: xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)…
  • Theo môi trường biểu diễn: ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện.
  • Theo địa phương có hát xẩm Hà Nội, hát xẩm Ninh Bình,… Miền Trung và miền Nam cũng có thể loại hát xẩm tuy khác ngoài Bắc. Xẩm miền Trung lấy bài bản từ ca Huế trong khi mền Nam gọi là “nói thơ” chẳng hạn như “nói thơ Lục Vân Tiên”.[6]

Ca từ

Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu. Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận; nêu gương các anh hùng, liệt sỹ hay châm biếm những thói hư, tật xấu… hoặc trữ tình. Những bài thơ thường được diễn ca trong hát xẩm: thơ Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính

Hát xẩm ngày nay

Từ khi ra đời cho đến giữa thế kỷ 20, hát xẩm được nhiều người khiếm thị sử dụng làm nghề kiếm sống nơi bến đò, chợ búa hay lang thang trên những nẻo đường… Họ tổ chức thành các phường hội để truyền nghề và giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống. Vào cuối năm 1954 đầu 1955, để chống lại việc người dân miền Bắc di cư vào miền Nam sau Hiệp định Genève, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tập trung nhiều nhóm hát xẩm (gồm nhiều nghệ nhân xẩm của các vùng Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Nội…), cử người viết bài và đến các vùng duyên hải phía Bắc biểu diễn nhằm vận động nhân dân không di cư.[7] Sau đó, khi Hội Người mù được thành lập, những người hát xẩm được dạy nghề về thủ công và chuyển sang sống bằng nghề mới này nên xẩm dần vắng bóng. Hát xẩm hiện nay chỉ đôi khi xuất hiện trên sóng phát thanh, sân khấu như một tiết mục văn nghệ thuần túy do những diễn viên chuyên nghiệp biểu diễn chứ hát xẩm không còn tồn tại với hình thái xã hội vốn có của nó. Gần đây, khi công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn dân ca được chú trọng, các nghệ nhân hát xẩm hiếm hoi còn lại như bà Hà Thị Cầu đã được tổ chức truyền lại cho thế hệ sau loại hình dân ca này. Sau mấy chục năm gián đoạn, ngày 29 tháng 3 năm 2008 (22 tháng 2 âm lịch), lễ giổ tổ nghề hát xẩm cũng đã được phục hồi và tổ chức một cách trọng thể tại Quốc tử giám, Hà Nội. Thời gian gấn đây, được sự đồng ý của Sở Văn hoá, du lịch và thể thao Hà Nội cùng với sự tài trợ của một số doanh nhiệp; các nghệ sĩ Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan, Đoàn Thanh Bình thường tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật hát xẩm vào tối thứ bảy hàng tuần tại truớc cổng chợ Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm trong khuôn khổ các hoạt động văn hóa nghệ thuật tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Đề cử hát xẩm là di sản thế giới

Ngày 26/11/2011, Nhà hát Chèo Ninh Bình đã tổ chức lễ khai trương công trình khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát xẩm[8] nhằm sưu tầm, biên soạn, truyền dạy và phổ biến các bài hát xẩm theo các làn điệu cổ truyền, dàn dựng chương trình hát xẩm, bảo tồn, phát triển nghệ thuật hát xẩm. Các nghệ sĩ đã sưu tầm các làn điệu, các bài hát xẩm cổ truyền, biên soạn chương trình và trực tiếp truyền dạy nghệ thuật hát xẩm cho các diễn viên, nhạc công Nhà hát Chèo Ninh Bình và các diễn viên quần chúng ở xã Yên Phong (Yên Mô) – quê hương của nghệ nhân Hà Thị Cầu. Theo kế hoạch, đến tháng 12-2011 Dự án sẽ được báo cáo phần khung với lãnh đạo tỉnh Ninh Bình. Đồng thời, thông qua các hoạt động của Dự án cũng chính là bước đệm để trình UNESCO công nhận hát xẩm là Di sản văn hóa phi vật thể của Thế giới.

Những nghệ nhân, nhà nghiên cứu

Dấu ấn văn hoá

Tham giàu lấy chú biện tuần
Tuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chan
Thà rằng lấy chú xẩm xoan
Công nợ không có hát tràn cung mây.
Tối trời bắt xẩm trông sao
Xẩm thề có thấy ông nào, xẩm đui.

Tham khảo

  • Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Việt Nam (tái bản lần thứ 15 có sửa chữa, bổ sung), NXB Văn học 2007.
  • Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Văn hoá Thông tin, 2005.

Chú thích

  1. ^ http://www.vnmedia.vn/print.asp?newsid=124538
  2. ^ Trần Việt Ngữ. “Hát Xẩm, loại ca nhạc đặc biệt của người mù Việt Nam”. Di sản văn hóa dân gian. Hà Nội: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, 1992. Trang 76.
  3. ^ Bàn về sênh và phách trong hát cô đầu truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008
  4. ^ Vũ Ngọc Phan, Tr.408.
  5. ^ Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam
  6. ^ Trần Văn Khê. Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. TP HCM: nxb Trẻ, 2004. tr 144-5
  7. ^ Bài trả lời phỏng vấn của nhà nghiên cứu xẩm Trần Việt Ngữ truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008.
  8. ^ Công trình khôi phục, bảo tồn hát xẩm ở Ninh Bình

Liên kết ngoài

1.CD Hát Xẩm – Xẩm “Anh Khóa” – Tác giả: Á Nam Trần Tuấn Khải – Trình diễn: Văn Ty & Xuân Hoạch
2.CD Hát Xẩm – Xẩm tầu điện “Giăng sáng vườn chè” – Thơ: Nguyễn Bính – Trình diễn: Tuyết Hoa
3.CD Hát Xẩm – Xẩm xoan (Chinh bong) – Dân gian – Trình diễn: Thanh Ngoan
4.CD Hát Xẩm – Xẩm ba bậc (Xẩm nhà trò) – Dân gian – Trình diễn: Xuân Hoạch
5.CD Hát Xẩm – Xẩm tầu điện,thập ân,chợ – Thơ: Nguyễn Bính – Trình diễn: Thanh Ngoan & Tuyết Hoa
6.CD Hát Xẩm – Xẩm huê tình – Dân gian – Trình diễn: Đoàn Thanh Bình
7.CD Hát Xẩm – Xẩm chợ “Mục hạ vô nhân” – Thơ Nguyễn Khuyến – Trình diễn: Văn Ty

Xẩm Hà Nội với XUÂN HOẠCH, THANH NGOAN, MAI TUYẾT HOA, VĂN TY, đoàn THANH BÌNH, VIETNAM 2012


Published on May 29, 2012

Các bài hát Xẩm Hà Nội:
1. Quyết Chí Tu Thân – Xuân Hoạch
2. Cái Trống Cơm – Xuân Hoạch
3. Cô Hàng Nước – Thanh Ngoan & Mai Tuyết Hoa
4. Hà Thanh 36 Phố Phường – Đoàn Thanh Bình
5. Xẩm Chợ – Văn Ty