BÙI TRỌNG HIỀN : NGHỆ THUẬT HÁT VĂN THỜI NAY…* VIETNAM 2007


NGHỆ THUẬT HÁT VĂN THỜI NAY…*

Như đã biết, sau hòa bình lập lại năm 1954, với chính sách xây dựngmột nền văn hóa mới, chúng ta đẩy mạnh phong trào chống mê tín dị đoan. Trên những quan điểm chung nhất, tín ngưỡng Tứ phủ và hệ thống thiết chế của nó bị phá vỡ. Lên đồng và tục thờ Mẫu bị coi là mê tín dị đoan, là “tàn dư văn hóa độc hại của chế độ phong kiến“. Theo đó, hàng loạt đền, phủ bị đập bỏ tan tành.

Những phế tích còn lại của Phủ Nấp (Yên Đồng- Ý Yên- Nam Định), vớt lên từ ao làng sau khi bị đập phá tan tành năm 1976

Môi trường diễn xướng không còn, các hình thức sinh hoạt cổ truyền của Hát Văn cũng biến mất khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên, do sớm nhìn nhận được những giá trị nghệ thuật độc đáo của Hát Văn, người ta đã bóc tách một phần âm nhạc Hát Văn, đưa lên sân khấu biểu diễn với nhiệm vụ chuyển tải những nội dung lời ca mới. Có thể thấy, công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, cuộc chiến đấu vệ quốc và nhiều đề tài khác của cuộc sống mới là nội dung lời ca của Hát Văn trong nửa cuối thế kỷ XX. Và, Hát Văn đã in một dấu ấn mới trong nền âm nhạc Việt Nam.

Nói vậy không có nghĩa chúng tôi khẳng định sự trường tồn của hệ thống các giá trị nghệ thuật trong Hát Văn cổ truyền. Bởi lẽ cho đến thập niên cuối thế kỷ XX, khi tín ngưỡng Tứ phủ được phục hồi, hình thức sinh hoạt hầu bóng bắt đầu hồi sinh thì các giá trị đích thực của Hát Văn cổ truyền đã mai một khá nhiều. Vậy tại sao chúng ta đã đưa Hát Văn lên sân khấu chuyên nghiệp mà nhiều giá trị vẫn thất truyền?

Một điều dễ hiểu là khi làm Hát Văn mới, chúng ta vốn chỉ kế thừa một phần trong toàn bộ hệ thống các giá trị âm nhạc của Hát Văn cổ truyền. Lớp nghệ sĩ trẻ mà chủ yếu là diễn viên các đoàn Chèo là những người chuyển tải Hát Văn mớiđến với công chúng. Cách làm phổ biến là lấy một vài làn điệu nhất định từ Hát Văn cổ truyền rồi cải biên chút ít cho dễ hát – gọi là để “phù hợp với cuộc sống mới”. Tất nhiên, phần còn lại của những gì tinh túy nhất trong Hát Văn cổ truyền bị bỏ qua. Và, nghệ thuật Hát Văn luôn chỉ được xem như tiết mục phụ trợ trong các chương trình biểu diễn. Trên sóng phát thanh truyền hình cũng vậy, nó được đặt ở vị trí như những bài dân ca đơn lẻ, góp chút hương sắc riêng vào chương trình ca nhạc dân tộc mà thôi. Các nghệ sĩ và người làm chương trình quả thực không có nhu cầu khai thác, lưu truyền toàn bộ các giá trị vốn có của thể loại âm nhạc này. Âu đó cũng là thực trạng chung của cổ nhạc Việt Nam trong nền văn hóa nghệ thuật đương đại.

Chỉ bảo tồn mỗi thứ một tí, còn lại “phải phát triển, cải biên, cải tiến và sáng tạo những giá trị mới hợp thời hiện đại”. Đó vốn là phương châm nhất quán của chúng ta trong nửa cuối thế kỷ XX. Trên thực tế, trong hàng chục năm qua, có những nghệ sĩ Chèo nổi tiếng như một nghệ sĩ Hát Văn hàng đầu. Thế nhưng khi tiếp cận, chúng tôi mới biết rằng sự thực, nghệ sĩ ấy chỉ thuộc vài bài Hát Văn lời mới và… chỉ thế mà thôi! Thậm chí, nhiều “nghệ sĩ Hát Văn” còn không biết đánh phách – một tiêu chuẩn tối thiểu của một cung văn cổ truyền. Trên thực tế, các nghệ sĩ kiểu như vậy được “nổi tiếng” về Hát Văn là do cơ chế vận hành văn hóa nghệ thuật của nhà nước. Chúng ta quảng bá đến đâu, công chúng biết đến đó. Đấy là lô gích của vấn đề.

Với thực trạng đó, tất nhiên phần còn lại của Hát Văn cổ truyền dần mai một theo năm tháng. Và, rất nhiều giá trị đã ra đi theo các bậc cung văn cao tuổi. Ngày nay, nhiều người trong chúng ta thường tự hỏi tại sao không ai học hết những tinh hoa của các cụ để gìn giữ cho muôn đời sau??? Đó là một câu hỏi rất khó trả lời! Song chúng ta cũng có thể tạm hiểu rằng:

Thứ nhất, Hát Văn vốn là âm nhạc tín ngưỡng. Nếu đời sống tín ngưỡng không còn thì làm sao nó có thể trường tồn được?

Thứ hai, cũng như các thể loại âm nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, Hát Văn là loại âm nhạcphi văn bản, hệ thống các giá trị nghệ thuật được lưu truyền qua phương thức truyền miệng, truyền ngón nghề trực tiếp. Nếu không có tròtheo học thì tất nhiên các giá trị trong ngườithầy rồi sẽ cùng ông về nơi chín suối. Trong xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, đời sống của âm nhạc dân tộc cổ truyền bị phá vỡ hoàn toàn so với nửa đầu thế kỷ. Môi trường thưởng thức bị thu hẹp và biến dạng đến mức báo động.Cầu không có thìcung sẽ không còn. Đó là lẽ tự nhiên. Còn vấn đề tại sao thì đó lại là cả một câu chuyện dài[1].

Giếng tự nhiên ở đền Cô Chín Giếng (quần thể đền Sòng Sơn- Thanh Hóa) đã bị lấp, nay chỉ còn ba cái

Hiện nay, khi sinh hoạt tín ngưỡng Tứ phủ đã và đang hồi sinh, Hát Văn được quay trở lại đúng môi trường xã hội của nó thì các bậc nghệ nhân lão thành năm xưa không còn nhiều. Giới cung văn hành nghề trong vòng 10 năm qua chủ yếu là những người được “đào tạo” (hoặc “tự đào tạo”) “cấp tốc” để hành nghề. Sau nhiều năm quan sát, chúng tôi khẳng định rằng chất lượng nghệ thuật của Hát Văn hiện nay đã suy giảm rất nhiều so với cổ truyền. Kèm theo đó, trình độ nhận thức và thưởng thức nghệ thuật Hát Văn cũng không còn được như xưa. Sự lẫn lộn giữa “hàng chợ” và “hàng chất lượng cao” trở nên rất phổ biến. Thậm chí chính bản thân nhiều cung văn giờ đây cũng không ý thức được vẻ đẹp đích thực của Hát Văn cổ truyền. Đây là điều khá bất ngờ với chúng tôi bởi hiện nay, họ đương nhiên là lớp người nắm giữ nhiệm vụ lưu truyền các giá trị tinh hoa của thể loại.

Cung văn đền Phố Cát (Thuận Thành- Thanh Hóa)

Về hiện trạng này, các bậc cung văn lão thành thường phàn nàn với chúng tôi rằng “cung văn bây giờ thường hát bừa bãi, không đúng lề lối, giọng điệu, nhịp phách mỗi anh một ngả“. Ngày xưa khi các cụ ngồi hát cho người hầu đồng, cung văn đánh nhịp phách ngồi giữa, 4 cung văn hát ngồi 4 bên hợp ca thật đồng đều, không sai một chữ. Ngày nay rất ít cặp cung văn dám hát song ca các điệu Dọc, Cờn, Luyện, Phú Nói, Phú Chênh, Phú Bình, Dồn, Dồn Đại Thạch, Kiều Dương như ngày xưa. Trước các cung văn “ngồi với nhau thì phải biết khổ nhịp, khổ phách đi bao nhiêu để diễn xướng ăn nhập. Khổ đàn ngày xưa cũng có cữ, nghe đến chữ nào là biết ngay hết khổ đàn để bắt vào nhịp hát“. Nhìn chung, “nhịp của các cung văn bây giờ lúc thì dôi ra, lúc thì thụt vào“. Thời trước, các cụ gọi hiện tượng đó là… “chầu câu văn không nổi“!

Về mối tương tác giữa cung văn và chân đồng, các bậc nghệ nhân lão thành nhận định: “So với ngày xưa, hát hầu đồng bây giờ dễ, các bà đồng chỉ thích nịnh, còn văn học nghệ thuật thì rất ít người hiểu. Thí dụ:tang bồng hồthỉ thì cung văn lại hát thànhtang bồng hồthủy[2]. Những chữ sai đó ngay cả người cung văn cũng không hiểu”. Ngày xưa các cụ “hát là để ca ngợi ông thánh chứ không phải ca ngợi “cái ghế” của người ngồi đồng như bây giờ. Hát Văn mẫu mực là phải thể hiện được nội tâm của các vị thánh“.

Trên thực tế, chúng ta cũng nhận thấy rằng khi lên đồng, người hầu đồng phải tự kỷ ám thị, tưởng tượng ra sự nhập đồng của vị thánh. Thế nhưng về cơ bản, họ vẫn tỉnh táo. “Thánh giáng, thánh nhập” ở đây không phải là sự “thay thế” hoàn toàn mà bản thân người hầu đồng “vẫn có sự khống chế nhất định“(tức vẫn làm chủ được bản thân). Đây thực chất là một sự “hóa thân” về mặt tinh thần. Các cụ thường gọi là “có 1 li, 1 lai, là cái tưởng tượng của người ta mà thôi“!

Vì thế, thời xưa,biết nghe văn được coi là chuẩn mực của các chân đồng. Ngày nay, chuẩn mực ấy dường như đã thoái hóa. Điều này có lẽ bởi tại sau hàng chục năm bị cấm đoán, trong xã hội ta nói chung,truyền thống thưởng thức Hát Văn cổ truyền đã bị đứt đoạn, tầng lớp những chân đồng sành điệu thời xưa (đồng cựu) hầu hết đã khuất núi. Trong vòng 10 năm trở lại đây, khi tín ngưỡng Tứ phủ được phục hồi, lớp các chân đồng mới (đồng tân) hình thành thực sự thiếu hẳnchỗ dựa truyền thống (tức lớp người đi trước). Đây là quy luật tiếp nối của bất kỳ một giá trị văn hóa nghệ thuật nào trong xã hội loài người. “Các ông bà đồng thời nay thực sự không biết nghe Văn cổ truyền“. Đó là điều mà các bậc nghệ nhân lão thành đã khẳng định. Tất nhiên, theo quy luật cung – cầu, trình độ nghệ thuật của cung văn với trình độ thưởng thức của chân đồng hình thành mối quan hệ hai chiều. Hiện nay, khi mà các chân đồng không còn nhận thức được giá trị đích thực của nghệ thuật Hát Văn thì sự lai tạp, méo mó đến nhăng nhố về nghệ thuật ở những cung văn hành nghề cũng là lẽ tự nhiên.

Cũng theo các nghệ nhân lão thành, ngày nay, do môi trường làm ăn mở rộng và khá thuận lợi về nhiều mặt nên kéo theo sự nảy sinh một số lượng đông đảo cung văn hành nghề. Tầng lớp các cung văn trở nên “dễ dãi” hơn! Họ chỉ cần học vài làn điệu cơ bản, trong đó chú trọng hơn cả đến những điệu dễ diễn tấu, mang tính vũ khúc rõ rệt nhưXá thượngXá bằngđể câu khách. Đây là những làn điệu chuyên dùng cho các chân đồng nhảy múa trong các giáChầu,Cậu bé hay Cô bé thượng ngàn. Trong các vấn hầu, đây luôn được coi là giai đoạn cao trào hấp dẫn đám đông khán giả, là lúc khiến cho các ông bà đồng dễ phấn khích nhất. Tất nhiên sự vui vẻ, phấn khích của chân đồng luôn kèm theo hành động “ban tài, phát lộc… mạnh tay” cho các cung văn.

Đối với tầm thị hiếu hiện nay của đám con nhang đệ tử “đời mới”, thế là quá đủ! Và, vốn liếng nghệ thuật của các cung văn cũng chỉ cần có thế là hành nghề thoải mái. Hiện nay, việc hát được những điệu khó như Miễu, Thổng, Vãn, Vãn Trinh Nguyên, Cờn Luyện, Luyện Tam Tầng, Hãm, Kiều Dương hay sự thể hiện rạch ròi hệ thống các điệu Phú… là chuyện ít thấy trong giới cung văn đương đại. Những ngón đàn tinh xảo, những kỹ thuật nhả chữ nẩy hạt và những lối phách điêu luyện – vốn là chuẩn mực để phân định đẳng cấp cung văn lại càng hiếm thấy hơn. Nhiều năm qua, trong các cuộc điền dã tại Phủ Dầy, chúng tôi gặp nhiều cung văn còn không biết đánh phách hoặc không biết đánh dùi kép. Nhiều người hát mà chẳng cần đàn nguyệt hoặc có người chơi những chiếc đàn nguyệt phím lệch, dây chênh mà vẫn không biết. Tệ hơn nữa, có những cung văn không biết đàn nguyệt mà vẫn cứ ôm đàn kiếm ăn, họ chỉ “gảy phừng phừng như quạt chả” gọi là cho có tiếng đàn kêu, điềm nhiên hành nghề. Có những vấn hầu, cung văn đàn hát đi một giọng, cung văn thổi sáo đi lệch sang một giọng khác cao hơn, thế nhưng họ vẫn say sưa cùng nhau trình diễn như không có chuyện gì xảy ra! Nói chuyện với họ, chúng tôi càng thấy rõ “vấn đề” về trình độ thẩm mỹ âm nhạc của họ!

Nhiều giọng hát lơ lớ pha Cải lương, không rõ là điệu nào, hay việc hát chênh, sai nhịp là khá phổ biến. “Họ hát đúng lối cổ đấy!”, nhiều người trong đám khán giả khẳng định với chúng tôi như vậy!? Tuy nhiên, trong số đó, chúng tôi vẫn tìm thấy một vài cung văn có nghề. Tuy năng lực nghệ thuật của họ chưa thể liệt vào hàng chuẩn mực so với cổ truyền nhưng trong một “rừng” cung văn hiện nay, đó cũng là những giá trị hiếm thấy. Họ bảo với chúng tôi rằng có hát hay đàn ngọt như các cụ ngày xưa thì cũng chẳng ai biết nghe mà mời làm. Hát văn bây giờ cốt sao phải “lả lướt, mùi mẫn”, phải “bốc” cho các bà đồng còn thưởng tiền(!).

Nghệ nhân Đào Thị Phòng

Nghệ nhân Trần Văn Thêm

Với dấu ấn của thời đại điện tử, hệ thống tăng âm đủ loại của các nhóm cung văn được tận dụng hết cỡ. Trong đó, tâm lý muốn nổi trội khiến bộ khuyếch đại tiếng vọng âm thanh (phần nhại tiếng) luôn được các cung văn sử dụng triệt để. Nó khiến cho tiếng đàn nguyệt nghe “lanh tanh, lầu nhầu” không rõ ràng, còn tiếng hát thường trở nên méo mó. Đó quả thực là dấu ấn thẩm mỹ của sinh hoạt KARAOKE ngoài đời. Tất cả mọi thứ âm thanh hỗn độn đó đan xen, chồng chéo, lấn át lẫn nhau trong những ngày đền phủ có nhiều đám hầu. Dưới góc độ thẩm mỹ nghệ thuật, cố nhiên có thể coi đó là một sự phản cảm!

Ngoài ra, cũng xin nói thêm rằng hiện nay, so với cổ truyền,hát hầu đồng có lẽ là hình thức còn tồn tại duy nhất của nghệ thuật Hát Văn. Các hình thức khác có lẽ chưa thể “hồi sinh”. Có nhiều nguyên nhân của hiện trạng này. Có thể do chúng ta chưa có điều kiện(?). Nhưhát văn thi chẳng hạn. Bây giờ mà khôi phục như cổ truyền thì khó mà tìm ra được một ban giám khảo chuẩn mực như xưa. Và, nếu tìm được thì nó phải kèm theo mô hình thiết chế nghề nghiệp cổ truyền với vai trò của những trưởng cung văn bậc thầy và những đồng đền tâm huyết, sành điệu. Rồi ai sẽ dám ra ứng thí, vì các cung văn bây giờ nếu thi thì trượt hết. Chúng tôi khẳng định điều này!

Nghệ nhân Bùi Văn Đông- nguyên trưởng cung văn đền Cửa Cát- Xuân Trường- Nam Định

Với các hình thức sinh hoạt còn lại, việc phục hồi là chuyện không khó. Nó phụ thuộc vào tâm lý của cộng đồng. Nói nôm na là người ta có thích hay không, thế thôi! Trong các hình thức đó, chúng tôi cho rằnghát Chầu thờ là một hình thức đặc biệt hơn cả bởi nó gắn liền với các lễ tiết quan trọng của tín ngưỡng Tứ phủ. Hiện nay, có lẽhát Chầu thờ vẫn chưa được các thủ nhang đồng đền phục hồi nguyên vẹn tại đền phủ của họ. Theo quan sát của chúng tôi, đây không phải là điều khó thực hiện mà có lẽ là do các bản đền chưa ý thức được tầm quan trọng của hình thức sinh hoạt này. Cũng có người nói với chúng tôi rằng vìhát Chầu thờ không phải là hình thức thu lợi nên người ta mới bỏ qua, với cái cớ “không sắp xếp được” và “cho đỡ rườm rà”. Nếu đó là sự thực thì đây quả là một câu chuyện đáng buồn cho đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người đời nay. Hình như bây giờ người ta luôn đặt mục đích lợi nhuận kinh tế lên hàng đầu. Những câu chuyện về sự đua chen, giành giật quyền lợi, thậm chí xung đột bằng hung khí giữa các thủ nhang đồng đền ở nhiều nơi đã minh chứng phần nào cho ý kiến vừa nêu. Và, chúng ta buộc phải xem lại câu chuyện có hay không vấn đề “nhân danh tín ngưỡng để buôn thần, bán thánh” trong một số thủ nhang đồng đền thời nay?

Như vậy, so với cổ truyền,chuẩn mực nghệ thuật trong mối tương tác giữa cung văn và các chân đồng đã thay hình đổi dạng một cách đáng kể. Cũng cần phải thấy rằng, đây không chỉ là “vấn đề” của riêng nghệ thuật Hát Văn mà còn là thực trạng chung của đời sống văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam hôm nay. Với chuẩn mựcbảo tồn nguyên vẹn các giá trị kinh điển của truyền thống, đây là một thực trạng đáng báo động. Trên quan điểm của chúng tôi, đó không phải là sự phát triển mà là sự thoái hóa cả về loại hình lẫn môi trường diễn xướng của một thể loại nghệ thuật cổ truyền, mà đã từng một thời danh giá!

Hai anh em nghệ nhân Bùi Văn Đông và Nguyễn Thế Tuyền

Ở đây, chúng ta không đổ trách nhiệm cho ai cả, mà chỉ cùng phân tích để tìm ra nguyên nhân của thực trạng, rồi tìm ra phương án tháo gỡ tối ưu. Hiện nay, muốn chấn chỉnh lại môi trường nghề nghiệp này, các cơ quan chức năng nhất thiết phải mở những lớp tập huấn, tu nghiệp bắt buộc cho những cung văn hiện đang hành nghề trên các địa bàn tín ngưỡng Tứ phủ. Trong đó, nhà nước cần đầu tư kinh phí ở mức tối đa để mời được các bậc cung văn lão thành bậc thầy tham gia. Theo điều tra của chúng tôi, những nghệ nhân có hạng như vậy hiện chỉ còn vài người và phần nhiều đã ở bóng tuổi xế chiều. Do đó, cơ hội còn lại của chúng ta là không nhiều!

Nghệ nhân Đào Thị Sại

(Còn tiếp)


[1] Về vấn đề này, xin xem bàiVấn đế bảo tồn nhạc cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 6-7, 2003.

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/34

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s