HỒNG MINH : Cần phục hồi nguyên gốc quan họ cổ (phỏng vấn BÙI TRỌNG HIỀN), VIETNAM 2009


  Cần phục hồi nguyên gốc quan họ cổ Oct 10, ’09 2:07 PM
for everyone
Trả lời phỏng vấn Báo Nhân Dân ngày 2/10/2009
 
NDĐT- “Danh hiệu là một sự khích lệ rất lớn để chúng ta tiếp tục những cố gắng của mình trong việc bảo vệ giữ gìn di sản. Chúng ta trân trọng sự vinh danh này là để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng di sản mà chúng ta đang có, và cần tìm về nguyên gốc quan họ cổ…”.

Ngay sau tin vui UNESCO công nhận Dân ca Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại, phóng viên Nhân Dân Điện tử đã có cuộc gặp gỡ và trò chuyện với nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, người có nhiều năm điền dã và nghiên cứu sâu về Quan họ, với mục đích tìm hiểu về giá trị, thực trạng cũng như những định hướng bảo tồn Quan họ trong một danh hiệu mới.

* Thưa ông, ông có thể đưa ra nhận định của mình, vì đâu mà Quan họ được  UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại?

– Dân ca Quan họ Bắc Ninh, vốn là một loại hình âm nhạc truyền thống hấp dẫn, nhìn từ góc độ chuyên môn, cùng với giai điệu đẹp, quan họ luôn gắn liền với những phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hóa đặc sắc. Về mặt lịch sử, quan họ có từ lâu đời và là một vùng dân ca tập trung, chỉ có ở Bắc Ninh và một số ít làng ở Bắc Giang. Đặc điểm này rất quan trọng, và cũng hiếm có trên thế giới. Nó là một thứ “đặc sản văn hóa”, vì vậy đương nhiên nó cũng dễ dàng gây ấn tượng với người ngoài cộng đồng.

Cùng với 76 di sản khác trên thế giới, Quan họ được công nhận vào hạng mục Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại vào dịp này, theo tôi cũng là điều dễ hiểu. Bởi quan họ đúng như di sản của cha ông, thực sự là một loại hình âm nhạc truyền thống hấp dẫn và đặc sắc.

Tuy nhiên, cũng phải thành thật mà nói, rằng, di sản quan họ thực sự đã bị mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước. Vậy chúng ta nên nhìn nhận rõ ràng rằng, việc bây giờ nó được công nhận là Di sản phi vật thể đại diện nhân loại chính là lúc để chúng ta xem lại tình trạng và khả năng phục hồi di sản.

* Ông vừa đưa ra nhận định rằng, quan họ thực sự đã bị mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng thực tế trong cách nhìn nhận của nhiều người, thì quan họ đang rất phát triển?

– Quan họ, thực chất là thú chơi nghệ thuật dựa trên cơ sở những nhóm liền anh liền chị kết nghĩa với nhau giữa làng này và làng khác. Ngày xưa, nếu không phải là làng quan họ kết nghĩa, thì họ không bao giờ hát đối đáp với nhau. Những nhóm chơi cuối cùng đó đã chấm dứt cuộc chơi từ lâu, con cháu họ đã không còn tiếp nối. Kèm theo tục kết nghĩa không còn, thì không gian sinh hoạt văn hóa của quan họ cũng biến mất. Thế hệ những liền chị nổi tiếng như cụ Nghi, cụ Phụng đã không có người tiếp nối.

Các liền chị ở độ tuổi 80 – những báu vật sống của Quan họ.

Ngày nay, quan họ mà bạn thấy đang diễn ra ở các làng quê Kinh Bắc, kể cả những canh quan họ cổ phục dựng, thực chất chỉ là đóng giả. Bởi quan họ đúng nghĩa không thể có chuyện người trong một làng hát đối đáp với nhau, lại càng không thể có chuyện, già trẻ đối đáp lẫn lộn (ngày xưa hát đối đáp với nhau phải là cặp liền anh, liền chị đồng niên).

Ngày nay, có thể nói giọng hát quan họ đúng chuẩn mực trong cả vùng Kinh Bắc rộng lớn còn lại chỉ thực sự đếm trên đầu ngón tay. Quan họ không phải là thú chơi nữa, mà là một sự trình diễn của những người biết hát quan họ. Và bộ trang phục ngày nay mà các liền chị đang mặc với vạt xanh vạt đỏ, thực chất cũng là đã bị cải biên, bắt chước theo văn công. Mà không chỉ trang phục, vì cả một thời gian dài bị đứt đoạn, nên khi phục hồi trở lại, quan họ trong dân đã không biết dựa vào đâu làm chuẩn, nên họ cứ thế nhìn vào hình ảnh của Đoàn văn công quan họ mà theo. Mọi thứ cứ lấy quan họ trình diễn, quan họ văn công làm chuẩn, đó là thứ quan họ trên sân khấu, nên bị sai lệch rất nhiều.

Kể từ năm 2001 đến nay, UNESCO đã công nhận 166 di sản của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới là di sản đại diện của nhân loại. Trong số 76 di sản đại diện được ghi nhận lần này, Trung Quốc có tới 22 di sản được công nhận, Nhật Bản đứng thứ hai với 13 di sản, tiếp theo là Croatia với 7 di sản, Hàn Quốc với 5 di sản.

Theo thông tin từ TS. Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản, người đang có mặt tại Abu Dhabi, thủ đô của Tiểu vương quốc A rập thống nhất để tham dự kỳ họp của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, năm nay có tới 111 hồ sơ của 34 quốc gia là ứng viên của Danh sách Đại diện nhưng chỉ có 15 hồ sơ của 9 quốc gia đăng ký vào danh sách khẩn cấp. Việt Nam cũng đã đăng ký hồ sơ Hát ca trù người Việt vào danh sách Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp và đã được công nhận. Ở danh sách này, Trung Quốc lại dẫn đầu khi có tới 3 di sản được công nhận, bằng số di sản của Mông Cổ, còn Mexico có 2.

* Nói như vậy, có nghĩa là cùng với sự phát triển, thì quan họ đã bị biến dạng, xa rời với nguyên gốc?

– Đúng vậy, quan họ ngày nay đã thực sự bị thương mại hóa rất nhiều. Từ thực tế nhiều năm đi điền dã, tôi thấy ở đâu có quan họ là y rằng ở có đàn oóc, có thuyền rồng làm bằng tôn, và quan họ ngửa nón xin tiền… Thật khó khăn để tìm thấy một lối chơi quan họ đậm  tình đậm nghĩa ngày xưa, với câu  “Đầu mâm đĩa muối cuối mâm đĩa gừng” là vậy. Ngày nay quan họ chủ yếu là một thứ dịch vụ.

Nhưng có một điều tôi lo ngại hơn là nhận  thức của người dân. Họ không thực sự hiểu bản chất giá trị di sản mà họ đang nắm giữ là gì, rất khó để bắt họ phục hồi đúng nguyên bản như của cha ông.

Thực chất, giá  trị của di sản còn lại mà chúng ta đang có chỉ là làn điệu âm nhạc và kho tàng lời ca quan họ cổ, còn những phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hóa bao chứa trong đó thì không còn nữa.

* Vâng, vấn đề này cũng liên quan đến quan điểm bảo tồn. Hiện bên cạnh quan điểm bảo tồn nguyên dạng, thì cũng có quan điểm cho rằng, bảo tồn nghĩa là làm sao di sản sống được trong dân, thích hợp với đời sống hiện tại của người dân,  chứ không phải là lưu giữ di sản trong bảo tàng. Quan điểm của ông về vấn đề này trong việc bảo tồn quan họ?

Một canh quan họ cổ được phục dựng tại làng Đặng Xá.

–   Tôi giữ quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, nếu để biến dạng thì không gọi là bảo tồn nữa. Bảo tồn di sản là phải giữ lại không để mất đi những giá trị nguyên bản. Nếu những giá trị đó không thể giữ được trong đời sống của cộng đồng hiện tại, thì phải lập bảo tàng sống. Thực ra cách làm này đã được các nước trên thế giới làm từ lâu và rất thành công.

Đối với quan họ, cách duy nhất để bảo tồn hiện nay là lập bảo tàng sống cho không gian văn hóa này. Nghĩa là chúng ta có thể khoanh vùng 5, 6 làng kết nghĩa quan họ như ngày xưa, trả lương cho người dân để họ phục hồi và giữ gìn di sản. Thực tế mấy năm gần đây, CLB Quan họ làng Đặng Xá cũng đang cố gắng thực hiện mô hình như vậy, nhưng thực chất theo tôi thì vẫn chưa tới, vẫn chỉ là trình diễn mà thôi, chứ chưa sống thực.

* Trở lại sự kiện UNESCO vinh danh Dân ca Quan họ là Di sản  văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ góc độ của nhà nghiên cứu, theo ông, chúng ta cần phải làm gì để giữ gìn di sản đúng như danh hiệu mà UNESCO đã công nhận?

– Danh hiệu là một sự khích lệ rất lớn để chúng ta tiếp tục những cố gắng của mình trong việc bảo vệ giữ gìn di sản. Chúng ta trân trọng sự vinh danh này. Trân trọng và tìm về nguyên gốc quan họ  cổ. Việc cấp thiết trước mắt theo tôi, là làm sao bảo tồn lối hát cổ với hệ thống kỹ thuật thanh nhạc ở cấp độ cao. Đó là một kỹ thuật rất phức tạp và việc bảo lưu nó không dễ dàng, thực tế lớp trẻ ngày nay hầu không tiếp thu được kỹ thuật này, họ hát theo lối mới. Nhiều năm đi điền dã, tôi rất khó chịu với lối hát mới này. Riêng đối với quan họ, không có kỹ thuật luyến láy, nẩy hạt thì sẽ rất trơ, không thể nào chấp nhận được.

Mấy năm gần đây, cá nhân tôi tập trung nghiên cứu về kỹ thuật thanh nhạc của lối hát quan họ cổ và tìm ra phương pháp rèn luyện kỹ thuật hát đó. Tôi đang ấp ủ dự định sẽ về Kinh Bắc, tổ chức rèn dạy cho lớp trẻ dựa trên phương pháp mà tôi vừa khám phá.

Thêm nữa, tôi vẫn cho rằng, việc di sản được thế giới công nhận là rất đáng quý, nhưng danh hiệu sẽ chỉ là danh hiệu, sẽ không mấy có ý nghĩa khi chính cộng đồng sở hữu di sản đó không nhận thức được đầy đủ về giá trị đích thực của di sản, để trân trọng và bảo tồn đúng hướng.

Tôi cũng không khỏi lo ngại rằng, sau sự công nhận này, quan họ sẽ bị khuếch trương nhiều hơn, khai thác nhiều hơn, và do đó, sẽ càng có nguy cơ rời xa những giá trị ban đầu hơn nữa.

– Xin cám ơn ông và chúc những dự định về bảo tồn quan họ của ông trở thành hiện thực.

HỒNG MINH thực hiện

BÙI TRỌNG HIỀN’s INTERVIEW / PRESERVING TRADITIONAL MUSIC UPLIFTING ART, VIETNAM 2009


  PRESERVING TRADITIONAL MUSIC UPLIFTING ART

Viet Nam News 13/9/2009

http://vietnamnews.vnagency.com.vn/showarticle.php?num=01INN130909

Traditional musicologist Bui Trong Hien, of the Viet Nam Institute for Culture and Arts Research, has helped prepare documents for Viet Nam’s intangible cultural heritage applications for submission to UNESCO. He talks to Trung Hieu about the work.

Bui Trong Hien was born in 1966 and began to study music at the Ha Noi Music Conservatory when he was 10. For a few years, he was also a lecturer at his alma mater, now known as the Viet Nam National Academy of Music.

He began working for the Viet Nam Institute for Culture and Arts Research in 1996. He has prepared the UNESCO application documents for the Tay Nguyen (the Central Highlands) gong culture, ca tru (ceremonial songs) and quan ho (northern Delta love duets).

His most recent documents were for quan ho, which Viet Nam submitted at the end of last year. Results from UNESCO are expected early next month. If quan ho is recognised, it will be Viet Nam’s third art (after Hue royal music and gong culture) to become recognised as a world intangible cultural heritage.

Inner Sanctum: Do you believe that Viet Nam’s quan ho will be recognised by UNESCO as an intangible cultural heritage?

Compared to our previous documents, such as those for the Tay Nguyen gongs and ca tru, the files for northern Delta love duets were not as perfect.

For example, love duets traditionally consist of ask-and-respond singing sessions between two groups of male and female singers, each group with only five or six people.

However, in the video tapes submitted as part of the file there is a group of a dozen men and another with about twenty women, both young and old.

There are also several other mistakes in the settings.

However, despite these mistakes, I hope UNESCO’s critical expert will be attracted by the sweet and attractive melodies of the art.

 

http://www.baodatviet.vn/Home/vanhoa/Ho-so-Quan-ho-gio-chot-van-lac-duong/20089/14697.datviet

Inner Sanctum: As someone who spent many years studying traditional music and directly participated in preparing cultural heritage documents, including Tay Nguyen gongs, ca tru and quan ho, can you point out the difficulties for persuading UNESCO experts to recognise Vietnamese ancient folk music?

The candidates must be really attractive, with implicit values. Particularly for quan ho, as a musical art, the documentation must highlight this value to persuade UNESCO’s critical expert. I think this is the most difficult thing. In a critical role as a scientist, if this expert is persuaded, he or she would explain our proposal to the board of examiners in the best way. UNESCO often selects a board of examiners made up of representatives from many different social classes, such as politicians, royal figures and business people. During the approval process, the examiners will also depend a lot on the critical expert’s report. All of our submissions to UNESCO for recognition as a cultural heritage are traditional music with high artistic values, so I hope everything will be good!

Inner Sanctum: Currently, many localities are trying to lobby for their local cultural heritage to be recognised as a world heritage. It has even become a race. But many of these proposals and ideas are not very practical. What do you think about this situation?

There are two reasons: First, many people are seeking fame, which is common among our wet rice culture. They want their local heritage to be internationally recognised, so that they will have fame in the international community.

Second, the effort involved in collecting and assembling the documentation for submission to UNESCO can create jobs and income for many people. If they are able to implement the projects successfully, they can earn fame and promotion opportunities.

For the researchers, assembling the files also provides a good opportunity because the project would provide them with funds to implement their studies. For example, assembling the files for ca tru for UNESCO approval was a success. Thanks to project expenditures, researchers were able to take historical field trips between 2005-07 in the 14 cities and provinces where ca tru existed.

Actually, we should be aware that local arts, whether they are compiled into files or not, and whether they are acknowledged by UNESCO or not, are still our nation’s heritage, which were nourished by our forefathers for the last several thousand years.

For example, many ethnic minority people in Tay Nguyen I spoke with did not really care if their local art was recognised by UNESCO or not.

When we, the researchers, came and asked them to play gongs for us to record, then okay, they played the gongs. Afterwards they went on with their daily chores and on to their forest gardens. Many did not even know what UNESCO was.

We have our national pride. I think the way we respect our heritage is more important than recognition from the international community.

In our modern integrated world, all values will become mankind’s common assets.

If our heritage’s are recognised by UNESCO, but we could not preserve them, this would be more painful.

Inner Sanctum: A lot of ancient cultural values in many localities are eroding, and the people who are involved in documentation projects only focus on organising festivals, popularisation and tourism development. What is your opinion about the core of this problem?

This situation is obvious. Many people wish to have the “UNESCO heritage” title for both sincere and self-seeking targets. In truth, many people involved in making these files do not have a real love for ancient values. Some of them have to do it because they are required to do so.

In addition to negative elements, position elements are clear: a local art recognised by UNESCO is very encouraging to the local community, especially local artisans who still preserve the heritage.

As for quan ho, you should remember that its traditional singing sessions are no longer held. All the current sessions are recovered versions, performed mostly to entertain tourists.

In the current market, popularisation for tourism is necessary to help preserve quan ho. The taste among the people for entertainment has changed; so it is very difficult to preserve this art.

Inner Sanctum: After quan ho, what other folk music could be proposed to UNESCO for recognition as an intangible cultural heritage?

I think tai tu (amateur’s music) – cai luong (reformed theatre) from southern Viet Nam could be persuasive candidates after quan ho and ca tru. The reason is, among traditional Vietnamese folk music, this represents the top of stringed musical instruments.

Moreover, people in the South still preserve a lot of ancient songs, musical pieces and plays.

Cheo (traditional operetta) and tuong (classical drama) are valuable, but many of their ancient plays have been lost and the modern versions have changed a lot.

Inner Sanctum: What is the last thing on your mind?

Preserving ancient cultural heritage is really very tiring work. I do it because it’s my passion, because I love it. I do not lay much hope on the work. I just feel anxious for these aspects of our cultural heritage – the things I love – and I hope to share my concerns with my friends. I don’t think about anything bigger. VNS

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/96

ĐIỆP TRẦN : ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT SAU LỚP ÁO CÀ SA, VIETNAM 2009


  ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT SAU LỚP ÁO CÀ SA

 AO CA SA 1

Ít ai biết rằng, bên cạnh cuộc sống chay tịnh tưởng chừng rất khô khan, các vị sư tăng còn sở hữu một thế giới âm nhạc, vũ đạo sống động, đặc sắc và phức tạp tới mức để đạt được nó, họ đã phải trau luyện không khác gì những nghệ nhân thực thụ.

Đàn Mông Sơn tại Chùa Nền, Hà Nội diễn ra khi Rằm Tháng Bảy mới chỉ qua được mấy ngày. Đây là khoa cúng lớn và lâu đời của Phật Giáo để tỏ lòng kính Phật, hiếu thuận với tổ tiên, cha mẹ và cúng thí cho các vong hồn nơi địa phủ.

 AO CA SA 2 AO CA SA 3 AO CA SA 4 AO CA SA 5

 

Sau lễ Thỉnh Phật và Dâng Lục cúng kéo dài suốt ban ngày, chập tối, Lễ Cầu siêu với màn “Chạy đàn Phá Ngục” theo tích “Mục Liên tầm mẫu” bắt đầu. Khi ấy, giữa tiếng nhạc réo rắt, trống phách rập ràng đệm cho câu canh tiếng kệ ngân nga đưa đẩy, một nhà sư đạo mạo đội mũ hoa sen, áo cà sa, tay cầm tích trượng, quấn theo dải khăn trắng dẫn đầu đoàn lễ cung kính diễu qua năm đàn tế tượng trưng cho năm cửa ngục nơi địa phủ.

 

 AO CA SA 6

 

Tiết tấu bỗng thay đổi khi vị sư đứng trước một cửa ngục cùng hai đồng tử cầm đèn hoa đăng. Trống, kèn, não bạt, thanh la, tiu cảnh…lập tức rộn lên dồn dập, chuyển sang một khúc nhạc mau hoạt đầy tính vũ điệu. Vị sư tay bắt quyết múa lượn liên hồi, dứt khoát, chân di chuyển theo nhịp trống mõ, khi khoan khi nhặt như vẽ những chữ vô hình lên mặt đất. Khi hai đồng tử múa vòng quanh, tay nhà sư uyển chuyển múa lượn, miệng lầm rầm đọc thần chú giữa tiếng trống mõ vang lừng của đám thầy pháp.

Bỗng ai đó hét lên “Phá cửa ngục!!!”, nhà sư tay cầm trượng múa lên chiếc bát úp dưới đất, dí đầu trượng vào đít bát, di chiếc bát trên mặt đất tựa hồ như viết những mật chú rồi bất thần chọc vỡ tan chiếc bát, “khóa cửa ngục” coi như đã mở, nhà sư tiếp tục chọc thủng màng giấy trước đàn tượng trưng cho “cửa ngục”. Cứ thế, nghi thức lại tái diễn với các “cửa ngục” còn lại trên nền trống kèn bạo liệt không ngừng.

 AO CA SA 7

“Phá ngục” chỉ là một phần trong Đàn Mông Sơn – nghi lễ hội tụ đầy đủ các làn điệu đặc trưng của vũ, nhạc nhà chùa. Ở đây, các thầy cúng và sư tăng đều thể hiện những phương pháp âm nhạc độc nhất vô nhị như Canh, kệ, Tụng, Thỉnh, Bạch, Tấu…. hay những chiêu bắt quyết, lướt chân và uốn cổ tay mềm dẻo như rồng bay phượng múa giữa âm điệu biến ảo của dàn lễ nhạc. Quả thực, âm nhạc Phật giáo đã vượt qua những rào cản tín ngưỡng để trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc.

 AO CA SA 8

 

“Một thể loại âm nhạc thực thụ mang danh Phật Pháp”

Đó là nhận định của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền khi bàn về âm nhạc Phật Giáo. Anh cho rằng, việc chuyển hóa những giáo lý đồ sộ của nhà Phật thành lời ca với hệ thống âm điệu mang dấu vết dân ca bản địa là sự khôn ngoan của các nhà truyền giáo khi muốn thu phục lòng người. Ta có thể thấy âm màu của chèo, tuồng và nhiều thể loại dân ca khác trong các giọng nhạc của Phật Giáo.

Cũng theo anh Hiền, các nhà sư đã phát triển âm nhạc nhà chùa thành một hệ thống giọng điệu phong phú như Xướng lễ (man mác, tha thiết); Tụng (đọc kinh có nhịp điệu); Thỉnh (nói – hát kinh với âm vực rộng); Bạch (nhẩn nha, bình thản); Tấu (nhịp đọc sớ ngân nga); Chú (thầm thì, nhanh); Kệ (điệu hát – kể trường hơi); Canh (dàn trải, chậm dãi với nhiều đoạn i..a..kéo dài tối đa) v.v… Những phương pháp âm nhạc chuẩn mực chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của âm nhạc nơi cửa thiền.

 AO CA SA 9

Sự đồ sộ với hơn 350 nghi lễ Phật giáo có xuất hiện âm nhạc và múa cho phép sư tăng đưa kỹ xảo diễn đạt biểu tượng tới mức tinh luyện. Chỉ riêng ý nghĩa của chuỗi động tác thủ ấn (bắt quyết) trong nghi thức múa đã vô cùng tinh tế. Hai bàn tay tượng trưng cho thế giới nhị nguyên, còn mười ngón tay được ví như thập giới. Vì vậy mỗi thế tay đều tượng trưng cho sự biến ảo giữa các giới với nhau trong tiểu vũ trụ tâm linh. Đó là chưa kể đến kỹ thuật di chuyển chân nhẹ như không trên mặt đất hết sức uyển chuyển, linh hoạt. Pháp sư múa càng dẻo, nhanh, phức tạp, sức hút và “tính thiêng” của đàn lễ càng mạnh. Chỉ một câu “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát” các vị sư có thể ngâm nga đến gần 10 phút, còn những bài kinh kệ, thán thì kéo dài khôn cùng. Thử tưởng tượng, để phục vụ cho một đàn Mông Sơn hoàn chỉnh diễn ra trong 7 ngày không ngừng nghỉ với hàng trăm câu tụng, thán cùng diễn xướng, vũ đạo, các vị sư tăng, thầy cúng phải có nội lực cao sâu đến nhường nào?

 AO CA SA 10

Sư tăng, thầy cúng – những nghệ nhân cổ nhạc thực sự

Đẳng cấp trình diễn của nhà sư, thầy cúng được thể hiện ở độ vang, sâu, đều nhưng biểu cảm, giọng khỏe, dai sức để thực hiện những đàn cúng lớn, kéo dài. Muốn vậy, các vị sư phải trải qua quá trình khổ luyện lâu dài với nhiều kỹ thuật ém hơi phức tạp. Thực tế, những kỹ thuật này không chỉ bắt nguồn từ giới các nhà sư mà còn được đóng góp bởi các nghệ nhân cổ nhạc ngoài dân gian. Nếu trong chùa lưu truyền chiêu ém hơi đẩy lên vòm xoang mũi để tạo giọng đều và tiết kiệm hơi, thì kỹ thuật vận hơi nén bằng cơ bụng nhằm tăng tính biểu cảm với lực “tận thổ can tràng” lại được học từ nghệ nhân dân gian. Nhiều trường hợp kỹ thuật âm điệu, vũ đạo trong chùa bị thất truyền, các sư lại tìm học từ thầy cúng bên ngoài. Đó là mối quan hệ khăng khít và gắn bó đã có từ ngàn đời.

AO CA SA 11

Anh Vũ Duy Sinh, một thầy pháp lâu năm với ít nhất ba đời lưu nghiệp cho biết, mặc dù cúng bái ở điện Tứ phủ thờ mẫu nhưng một thầy cúng khi đạt đến trình độ nhất định sẽ được phép hành lễ tại các Trai đàn của Phật Giáo như một vị tăng.“Bản thân tôi đã theo cha học nghề từ năm 9 tuổi nên hiểu đây là một pháp môm rất kỳ công. Vừa luyện chữ Hán, thuộc kinh, kệ, lại thêm luyện thanh, trống mõ, múa, bắt quyết…đâu phải ai cũng làm được. Vì thế, mỗi khi cần lập đàn, các sư thường cầu viện đến thầy cúng. Ba đời nhà tôi sống được cũng nhờ lẽ đó”, anh Sinh tâm sự.

Điều này cũng được nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền xác nhận. Anh cho biết, từ bao đời nay, đội thầy pháp và giới sư sãi đã trở thành một “đối tác chuyên nghiệp” trong thực hành nghi lễ chung nhất. Với thầy cúng, đó là một nghề, còn đối với nhà sư, đó là các kỹ năng cần thiết gắn liền với những nghi thức trọng đại của cuộc sống tu hành./.

 

Bài đã đăng trên báo Thể thao &Văn hóa số ra ngày 11/9/09

Điệp Trần

RADIO RFI FRANCE : Lê Cát Trọng Lý : Người dọn đường âm nhạc dung dị, FRANCE 9 MARS 2013


 
Thứ bảy 09 Tháng Ba 2013
Lê Cát Trọng Lý : Người dọn đường âm nhạc dung dị
Ca sĩ, nhạc sĩ Lê Cát Trọng Lý

Ca sĩ, nhạc sĩ Lê Cát Trọng Lý

DR

« Con chim nhỏ bên bờ hồ xanh ». Đó là biệt danh công chúng yêu âm nhạc tặng cho Lê Cát Trọng Lý. Nếu ai muốn tìm sự lộng lẫy của một ngôi sao, một dàn nhạc với cấu trúc âm thanh đồ sộ, một sân khấu lộng lẫy ánh đèn, hẳn họ sẽ tràn trề thất vọng. Bởi đó là những thứ mà Lý không thể thỏa mãn họ, nhưng Lý là thế, hồn nhiên, mộc mạc cả ngoài đời lẫn trên sân khấu.

Sự xuất hiện của Lê Cát Trọng Lý trong những năm gần đây khiến nhiều người có cảm giác đây là người dọn đường cho một khuynh hướng âm nhạc dung dị độc lập, không ồn ào nhưng gây ấn tượng mạnh, nhằm làm cân bằng lại thị hiếu, làm dịu bớt đi những căng thẳng đang diễn ra tại những cuộc thi âm nhạc đầy bon chen tai tiếng.

Dường như Lý chỉ muốn đưa âm nhạc trở về với bản chất nguyên thủy, như chính từ nơi Lý bước ra, không ồn ào náo nhiệt. Không muốn thay đổi bản ngã, không đem rao, đem bán, mà chỉ xem âm nhạc như cuộc phiêu lưu trải nghiệm thú vị, trên chặng đường định hình bản sắc của chính mình.

… Những ca khúc của Lê Cát Trọng Lý mang nhiều màu sắc triết lý, chiêm nghiệm về cuộc đời, về thân phận con người, về tình yêu, đến nỗi mà không ai nghĩ rằng, chúng lại được viết ra từ một cô gái mới ngoài đôi mươi, gầy gò, bé nhỏ, hồn nhiên…

Trò chuyện với Lê Cát Trọng Lý

 
09/03/2013
 
 

BÙI TRỌNG HIỀN : FESTIVAL HUẾ 2008 –NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DI SẢN ÂM, VIETNAM 2008 NHẠC


FESTIVAL HUẾ 2008 –NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DI SẢN ÂM NHẠC

Với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, festival Huế 2008 đã được kỳ vọng với rất nhiều sự mong đợi của dư luận. Theo báo giới quảng bá, các nhà tổ chức tuyên bố, đây là festival đầu tiên quy tụ được nhiều đoàn nghệ thuật nước ngoài nhất. Tới giờ “G”, ban tổ chức thông báo đã có tới 22 nước đăng ký tham gia các tiết mục với nhiều sắc màu văn hóa nghệ thuật. Rồi đây được xem là festival phục dựng nhiều lễ hội nhất, được đầu tư kinh phí lớn nhất… Với nhiều cái “nhất” như vậy, xem ra mục tiêu “hoành tráng nhất” là ước nguyện rõ ràng của nhà tổ chức. Năm 2008 cũng vừa tròn dịp kỷ niệm 15 năm ngày quần thể di tích cố đô Huế (11/12/1993) và 5 năm ngày Nhã nhạc cung đình Huế (7/11/2003) được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Như vậy, vị thế và vai trò củafestival Huế 2008 lại càng được đề cao hơn bao giờ. Nhiều vị quan chức không ngần ngại khẳng định, trong festival lần này, mục tiêu tôn vinh giá trị của di sản văn hóa dân tộc được đặt lên hàng đầu. Rồi cái ước vọng “khẳng định vị thế, đẳng cấp mang tầm quốc tế của festival Huế” khiến dư luận không khỏi khấp khởi mừng vui, thấp thỏm ngóng chờ ngày khai cuộc.

 

 Image

 

Dưới cái nóng như thiêu của cố đô Huế, cuối cùng giờ phút mong đợi cũng đã đến. Thế nhưng đêm khai mạc đã để lại nhiều dư luận trái chiều khác nhau. Người thì nói chương trình thật hoành tráng, rực rỡ sắc màu vui mắt. Kẻ thì than vãn về tính đơn điệu của các tiết mục nội địa –sự pha trộn ca múa nhạc “hoành tráng”, vốn đã quá nhàm chán trong các kỳ lễ hội quốc gia hàng chục năm qua. Trong đó, người ta luôn cố “gửi gắm” đủ phong vị “truyền thống- hiện đại, dân tộc- quốc tế”… Rồi mọi giá trị nghệ thuật dân tộc luôn được “cải biên, cải tiến, phát triển” cho “mới”, cho “hiện đại”, thể hiện cái gọi là “hội nhập và phát triển”.

 

Image 

 

Ngồi trên khán đài, tôi có nói đùa với một anh bạn làm ở Bộ Ngoại giao rằng thế nào cũng được xem tiết mục các diễn viên đóng giả trai gái H’Mông cầm ô, vác khèn nhảy múa kiểu ba-lê, rồi sẽ pha thêm tí múa Nga hay Ấn Độ… Quả nhiên trúng phóc! Một anh bạn Mỹ ngồi bên (Chuyên viên của quỹ FORD) còn quay sang tôi, chỉ lên sân khấu cười hóm hỉnh với vốn tiếng Việt rành rọt: “Hiphop kìa, hiphop kìa..!” Có lẽ đấy là sự “hội nhập, phát triển, hiện đại” mà người ta muốn hướng tới chăng?!

 

 Image

 

Trong chương trình đêm khai mạc, có thể tạm so sánh thế này, tiết mục của các nước bạn thì giản dị và khá thuần phác, thực sự tạo ấn tượng, luôn nhận được sự hưởng ứng của khán giả. Chính điều đó đã tạo nên sự tương phản rõ ràng, các tiết mục của bạn in đậm dấu ấn văn hóa của họ, giàu chất dân gian hơn của ta. Trong lúc đó, các tiết mục của ta thì cầu kỳ và luôn huy động số đông. Cái nào cũng na ná giống nhau kiểu “nộm” ca +múa +nhạc “hoành tráng”, với quá nhiều ý tưởng đan xen pha trộn “đủ mùi” như đã phân tích. Múa luôn “yểm trợ” cho hát, nên hiệu quả tổng thể đương nhiên đơn điệu. Đây có lẽ làthói quen đã quá phổ biến mỗi khi dàn dựng một chương trình có tầm cỡ lớn như festival Huế của các đạo diễn Việt Nam.

 

 Image

 

Thế mới biết đông người chưa chắc đã hay! Điều tệ hại nhất, trong đêm khai mạc, những người làm chuyên môn sẽ dễ dàng nhận ra thực trạng ca sĩ hát “nhép” (playback- thu âm trước rồi phát ra loa), nhạc công chơi “nhép” trong các tiết mục “hoành tráng” của Việt Nam. Tiết mục “nhép” đàn đá cải tiến song tấu với tù và Tuy An (Nhóm Sao biển- Phú Yên), tuy thu thanh trước nhưng do một số thanh đá chênh âm rất rõ nên hiệu quả âm nhạc đương nhiên hài hước. Thật khó hiểu tại sao người ta vẫn cứ để nguyên thế mà dùng? Chưa hết, trong phần nhạc thu sẵn của các tiết mục đoàn Việt Nam đêm khai mạc, một phần không nhỏ trong số đó lại được thể hiện bằng cây organ điện tử, “bao sân” -thế chỗ cho một dàn nhạc thực thụ. Ngay cả nhạc cụ có âm sắc độc đáo dễ nhận dạng nhất như cây kèn bóp cũng được giả bằng đàn organ. Bởi vậy, về mặt tổng thể, hiệu quả nghệ thuật ở đây là khá phản cảm đối với những người am hiểu âm nhạc. Trong khi đó, các đoàn nghệ thuật của bạn như Pháp, Bỉ, Hàn Quốc, Nhật Bản thì chơi nhạc “sống” đàng hoàng. Có người nói đùa rằng giá nghệ sĩ các nước bạn cũng… chơi “nhép”, hát “nhép” luôn thảy cho đám chúng tôi đỡ xấu hổ!!! Có lẽ điều này phù hợp với kết quả điều tra của các bạn nhóm phỏng vấn bộ phận thiết kế âm thanh cho các sân khấu của festival. Họ cho biết, nhân viên âm thanh phản ánh rằng trong khi các đoàn nước ngoài đòi hỏi rất kỹ lưỡng, khắt khe về thiết bị âm thanh cho các đêm diễn (ví dụ số lượng micro và sự căn chỉnh âm thanh trước giờ diễn) thì các đoàn nghệ thuật của Việt Nam lại không đòi hỏi nhiều như vậy(!) Có lẽ nhiều đoàn Việt Nam không cần cầu kỳ do việc trình diễn “nhép” chăng?

 

 

 Image

Rời lễ khai mạc với nhiều sự ngán ngẩm, chúng tôi tiếp tục tiến vào Đại nội nhập cuộc với màn siêu trình diễn mang tên “Đêm hoàng cung”. Bỏ qua các tiết mục sắp đặt như đánh cờ tướng, đốt pháo bông, thả thơ, đèn chiếu, uống trà, ăn chè Huế… dọc đường vào sâu trong Đại nội, chúng tôi tập trung quan sát Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại được UNESCO công nhận năm 2003- Nhã nhạc cung đình Huế.

 

 

 Image

Tham gia “Đêm hoàng cung” có 2 dàn nhạc của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. Cảm giác đầu tiên của tôi là giật mình! Sau 5 năm được UNESCO công nhận, hiện hình trong festival lần này lại vẫn là dàn Nhã nhạc cải biên với sự tăng cường số lượng mỗi nhạc cụ. Đây vốn là sự “phát triển” theo kiểu tổ -bộ của dàn nhạc giao hưởng. Có tới 3 đàn nguyệt, 2 đàn tam, 3 đàn tỳ bà… cùng diễn tấu, trong khi dàn Nhã nhạc nguyên bản chỉ được biên chế mỗi thứ 1 cây. Đặc biệt dàn Nhã nhạc cải biên ở đây dùng tới 3 đàn tranh, 2 đàn bầu cùng hỗn tấu. Đây là các nhạc cụ vốn không hề được sử dụng trong Nhã nhạc cung đình Huế. Ngoài ra, sự cải biên còn thể hiện ở thành phần nhạc công nữ– là điều không hề có ở Nhã nhạc cổ truyền. Tuy nhiên, so với dàn giao hưởng Nhã nhạc cải biên mấy năm trước, cũng may người ta đã bỏ cây đàn nguyệt “đại”, cây tam thập lục cùng ông nhạc trưởng đánh nhịp nên cũng đỡ chướng mắt! Cải biên, cải tiến Nhã nhạc là thói quen trong nhiều năm qua, như một ước nguyện “hoành tráng hóa”, không thể xóa bỏ(?) Nên nhớ, nhã nhạc cũng đình Huế vừa tròn 5 năm công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Việc trưng diễn biên chế dàn Nhã nhạc cải biên nói trên tất sẽ gây hiểu lầm, ngộ nhận trong khán giả, du khách. Trong nhiều năm qua kể từ khi Nhã nhạc được UNESCO công nhận, cơ cấu dàn Nhã nhạc cải biên được dùng khá thường xuyên(!) Thỉnh thoảng phải tiếp giới nghiên cứu, người ta mới dùng dàn nhạc nguyên bản. Trong đêm diễn, nhiều nghệ sĩ tỏ ra không mấy hào hứng khi chơi thứ di sản âm nhạc lừng danh của xứ Huế. Có người rỉ tai tôi rằng mãi đến vừa rồi, các nghệ sĩ mới được lĩnh tiền thù lao nghệ thuật của… festival 2006, mà cũng chỉ được có 100 lẻ mấy nghìn Việt Nam đồng. Thế mới thông cảm phần nào cho các nghệ sĩ!

 

 

 Image

Nhìn chung, chất lượng nghệ thuật ở đây không có gì đặc biệt. Theo sự sắp xếp, có bài chơi sống, có bài lại chơi “nhép”. Bên cạnh các bài bản Nhã nhạc, các em còn chơi cả chầu văn Huế, rồi làm nhạc nền cho các diễn viên đóng giả vua -quan -hoàng hậu đi ra đi vào… Phía khán giả, dường như không mấy ai thích thú chiêm ngưỡng thứ kiệt tác Di sản của nhân loại. Sau tiết mục vua- quan- hoàng hậu đăng đàn, thướt tha đi đứng khá vui mắt, phần lớn khán giả bỏ đi chơi chỗ khác. Tôi có hỏi các nhạc công sao không chơi đủ liên khúc 10 Bản Ngự, các em cười gượng mà rằng: “Anh không thấy người ta bỏ về hết rồi à!?

 

 Image

 

Có lẽ các tiết mục của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế là một trong số ít những chương trình biểu diễn nghệ thuật nằm trong thành phần “di sản”- một mục tiêu mà ban tổ chức festival Huế đã đề ra lần này. Thử điểm qua biểu mục các chương trình biểu diễn nghệ thuật khác, tính sơ sơ tỷ lệ, sẽ thấy ngay “hàm lượng” di sản âm nhạc dân tộc mà người ta cho xuất hiện trong festival Huế 2008 là rất thấp. Bộ mặt toàn cảnh chương trình biểu diễn đêm khai mạc là sự “lộ diện” ban đầu. Cả chương trình, ngoài mấy đoạn cổ nhạc được phát làm nền cho múa, cộng thêm tí Hò mái nhì mở đầu cho ca khúc kết thúc đêm diễn, di sản âm nhạc dân tộc hầu như không có chỗ đứng. Ngoài ra, nhìn trên tổng thể, xem ra bộ mặt âm nhạc cổ truyền Việt Nam ở festival lần này chủ yếu nhấn mạnh vào di sản xứ Huế, thiếu vắng nhiều giá trị đặc trưng khác của dân tộc. Đặc biệt là sự vắng mặt của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên- Kiệt tác âm nhạc thứ 2 được UNESCO công nhận sau Nhã nhạc cung đình Huế.

Trong festival Huế 2008, có lẽ Lễ tế đàn Nam Giao, Lế tế đàn Xã Tắc, Lễ thi TS võ, Lễ Đăng quang của vua Quang Trung được coi là các tiết mục “đinh”- xác lập “thành phần di sản văn hóa” có tính “tổng hợp”? Đây thực chất là các nghi lễ mang tính phục dựng, như một sản phẩm văn hóa trình diễn phục vụ du khách. Phần còn lại trong festival, hẳn được coi là sự “hội nhập và phát triển”(?) Việc tăng số lượng các đoàn nghệ thuật nước ngoài, được khuyếch trương rầm rộ trước ngày khai mạc là điều dễ nhận thấy của nhà tổ chức. Cái sự “lần đầu tiên quy tụ nhiều đoàn nghệ thuật đến từ 22 nước” xem ra là “kỳ tích hoành tráng” của festival Huế 2008.

Tối 4/6, lúc 19g40, nhóm chúng tôi tiếp tục đến với chương trình Âm sắc Việt tại cung Diên Thọ. Trên đường vào, tiện thể ghé qua sân khấu Tây Thái Hòa. Ở đây, một sàn diễn khá chắc chắn được dựng lên giành riêng cho ban nhạc jazz Kimo &Kimotion đến từ nước Mỹ. Nhóm này lại mời thêm mấy nhạc công tơ-rưng, đàn bầu, violon và sello của Việt Nam tham gia chơi cùng một số bài, chắc để giúp cho tinh thần “hội nhập quốc tế” của festival Huế được thêm phần sâu nặng(!) Xem qua các thao tác chuẩn bị trước giờ diễn, mới thấy rõ nhóm Kimo &Kimotion thực sự là những nghệ sĩ chuyên nghiệp chính hiệu. Họ thử các bước phối hợp, căn chỉnh âm thanh từng nhạc cụ rất cầu kỳ với một kỹ sư âm thanh riêng được mời từ tp.Hồ Chí Minh.

 Image

 

 

Rời Tây Thái Hòa, chúng tôi tiến sâu vào cung Diên Thọ. Âm sắc Việt có lẽ là chương trình biểu diễn hiếm hoi được cấu trúc thuần túy nhạc cổ truyền nguyên bản trong festival Huế 2008. Chương trình bao gồm Ca trù, Ca Huế và Cải Lương, coi như sự đại diện cho 3 miền cổ nhạc Bắc -Trung -Nam, được sắp xếp trong một không gian diễn xướng huyền ảo của cung Diên Thọ. Đại diện cho nghệ thuật Ca trù là nhóm Thái Hà của gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi đến từ Hà Nội với các tiết mục: Hát Nói, Hát Giai –Hát Ru và Tỳ Bà Hành.

 

 

 Image

 Image

 

Nghệ thuật Ca Huế góp mặt với 2 danh ca nổi tiếng là Thanh Tâm và Khánh Vân với các tiết mục: Cổ Bản Dựng (Khánh Vân), Cổ Bản Khách (Thanh Tâm), Tứ Đại Cảnh (Khánh Vân), Hò Mái Nhì- Nam Bình (Thanh Tâm). Dàn nhạc đệm cho các chị có các anh Trần Thảo và Nguyễn Đình Vân- là 2 nghệ nhân có hạng đã được ghi danh trong hồ sơ Nhã nhạc đệ trình UNESCO năm 2002. Bởi vậy, chất lượng nghệ thuật của Ca trù và Ca Huế trong chương trình Âm sắc Việt thật ấn tượng.

 Image

Image

 

 

 

 

Tiết mục Cải lương do 2 nghệ sĩ Lê Tứ và Phượng Hằng đến từ tp.Hồ Chí Minh với trích đoạn “Tình hận thâm cung”. Về mặt chất lượng âm nhạc thì không có vấn đề gì cần bàn bởi họ đều là những nghệ sĩ chuyên nghiệp của một nhà hát Cải lương. Nhưng điều đáng buồn là trong một chương trình cổ nhạc hiếm hoi đến vậy, họ đã hát “nhép”, thu nhạc và các bài ca, lời thoại trước rồi mở máy MiniDisc!

 

 

 Image

Đương nhiên khán giả không thể nhận ra bởi họ cũng cầm micro và mấp máy môi miệng khá ăn khớp. Trò chuyện với tôi sau buổi diễn, các em cho biết vì “điều kiện không cho phép” nên không thể mang theo dàn nhạc đến festival, đành phải thu nhạc trước rồi hát theo khi diễn. Song họ đã nói dối, đối với loại âm nhạc đầy chất ngẫu hứng như Cải lương, chuyện hát khớp với nhạc thu thanh trước trong cả một trích đoạn kịch dài hơi là điều không thể. Là người từng lăn lộn, gắn bó nhiều năm với nhạc Tài tử -Cải lương Nam Bộ, tôi không khỏi chạnh lòng với thể loại âm nhạc đầy chất ngẫu hứng này. Thật đáng buồn!

Nhìn chung, các chương trình nghệ thuật biểu diễn trong tối 4/6 đều được Ban tổ chức sắp xếp người dẫn chương trình đàng hoàng, có chỗ còn kèm theo cả phiên dịch cho khách nước ngoài. Riêng chương trình cổ nhạc dân tộc ở cung Diên Thọ thì không được như vậy. Ở đây, các nghệ nhân, nghệ sĩ Ca trù, Ca Huế và Cải Lương đều tự chia nhau ra mà… “âm thầm” diễn xướng, không có người giới thiệu, dẫn giải. Ngoại trừ tôi là người làm nghề nghiên cứu, còn thì hầu như không ai biết rõ cái gì đang diễn ra trên sân khấu.

 

 Image

 

Trước giờ biểu diễn, một vị trong ban tổ chức tới gặp các nghệ nhân ở hành lang. Anh ta nhắc đi nhắc lại là các nghệ sĩ chỉ được biểu diễn trong đúng 1 tiếng đồng hồ, liệu mà chia nhau ra cho hợp lý(?) Tôi hỏi nguyên nhân thì được trả lời là: “Anh thông cảm! Sau đây có chương trình của đoàn Pháp!” Như thế, mỗi thể loại Ca trù, Ca Huế và Cải Lương chỉ được vỏn vẹn khoảng 20 phút. Kết thúc chương trình, không ai tuyên bố lời “hạ màn”, bất đắc dĩ, tôi đành “nhờ” chính nam diễn viên Cải lương nói lời tạm biệt khán giả!

 

 Image

 

So với các điểm diễn khác, khách xem ở cung Diên Thọ đương nhiên rất thưa thớt. Nếu tính từ cổng vào Ngọ Môn, cung Diên Thọ vốn nằm ở khu tận cùng phía Tây Bắc của Đại Nội, phải chăng đó là lý do vắng khách? Hỏi dò những vị khách có mặt, mới biết hầu hết họ đều tình cờ ghé vào điểm diễn này chứ không hề biết trước nội dung Âm sắc Việt. Nhìn trên tờ rơi do Ban tổ chức cung cấp, cũng không thấy nói Âm sắc Việt là chương trình gì. Rõ ràng các tiết mục cổ nhạc nơi đây không hề được giới thiệu, quảng bá cho du khách. Thực ra, bản thân tôi sở dĩ biết được “gan ruột” của chương trình là vì tự dò hỏi các nghệ nhân Huế từ mấy hôm trước. Trong đám khán giả hiếm hoi, có mấy chị nhà báo đến từ tp Hồ Chí Minh. Ai cũng thốt lên rằng đây là chương trình đáng xem nhất đối với họ, và may mà họ “tình cờ ghé vào đây!”. Chương trình kết thúc chóng váng, nhiều người tỏ ra nuối tiếc vì thời lượng quá ngắn ngủi, mỗi thể loại chỉ hát có vài ba bài. Cầm lòng vậy, duyên phận cổ nhạc chỉ được sắp đặt đến thế!

Thử nhẩm tính, mỗi bộ môn cổ nhạc đại diện cho 3 miền đất nước được khống chế khoảng 20 phút trong chương trình Âm sắc Việt. Trong khi cùng thời điểm đó, hàng loạt các thể loại nhạc “mới”, nghệ thuật “mới” khác đều chiếm trọn cả 1 chương trình, mà phần lớn được quảng bá, bố trí sắp đặt với sự ưu ái cao. Hài hước hơn cả khi anh bạn tôi so sánh “thời lượng 20 phút” của Ca Huế, Ca trù, Cải lương với tiết mục múa bụng của nữ nghệ sĩ Berrak Yedek đến từ Thổ Nhĩ Kỳ ở sân khấu phía Đông cung An Định- được dự kiến chiếm trọn cả 1 tiếng đồng hồ. Đó liệu có phải là việc ưu tiên cho cái sự “hội nhập và phát triển”? Không biết du khách nước ngoài- đối tượng quan trọng của festival sẽ thích nghe các giá trị di sản âm nhạc Việt Nam hơn hay thích nghe jazz, pop, blues … của họ hơn???

 

 Image

 

Rời khỏi cung Diên Thọ, tiếp tục hành trình, chúng tôi rảo bước sang cung Trường Sanh xem chương trình “Cung đàn xưa”, vì trước đó không rõ đây là chương trình gì. Đến nơi mới biết “Cung đàn xưa” là sân diễn của nhạc tiền chiến. Do sự cố mất điện nên “Cung đàn xưa” buộc phải lui giờ khai diễn lại lúc 21g thay vì 20g như dự kiến. Vì thế chúng tôi mới có cơ may quan sát. Lúc bước vào không gian Trường Sanh thì vừa vặn tới tiết mục của ca sĩ Cao Minh với dàn nhạc gồm một đàn organ và 1 cây ghitare thùng. Khán giả mê nhạc tiền chiến ở đây chỉ lác đác vài nhóm, ngồi lọt thỏm trong cả một khoảng sân rộng lớn, trống huếch trống hoác. Không có gì đặc biệt, chúng tôi quay sang Điện Kiến Trung.

 Image

 

 

Cũng do mất điện giống như bên cung Trường Sanh, chương trình của đoàn nghệ thuật Hoa Sen (Quảng Tây- Trung Quốc) buộc phải lui lại 1 tiếng. Thế nên chúng tôi cũng kịp xem mấy tiết mục cuối cùng.

 

 Image

 

Nhìn chung, các tiết mục ở đây thuộc dạng tổng hợp kiểu tạp kỹ bao gồm ca- múa- nhạc- ảo thuật… Xem ra văn nghệ Trung Quốc thời này cũng “thập cẩm” giống như các đoàn ca múa nhạc của ta vậy. Ví dụ các diễn viên đoàn bạn cũng đóng giả người thiểu số rồi giới thiệu như một tiết mục dân gian “xịn”- do các diễn viên thiểu số “xịn” biểu diễn. Sao mà Tàu giống Ta thế không biết? Ai học ai đây nhỉ?

 

 Image

 

Kết thúc chương trình của đoàn nghệ thuật Hoa Sen, đến lượt đoàn nghệ thuật Bông Sen đến từ tp.Hồ Chí Minh. Mở màn, cô MC dẫn chương trình long trọng giới thiệu các vị chỉ đạo nghệ thuật của Bông Sen, nhấn mạnh rằng tất cả đều tốt nghiệp tại Trung Quốc! Họ chính là những người tạo dựng chương trình của Bông Sen ở festival lần này. Giờ thì rõ là vì sao Ta giống Tàu rồi! Đoàn Bông Sen mở màn bằng điệu múa nón Việt Nam quê hương tôi, với bài nhạc nền cùng tên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Tiết mục này vốn đã quá quen thuộc với các sân khấu chuyên nghiệp cũng như… nghiệp dư cả nước! Được một lúc thì mất điện đánh phụp, thế là xong! Tôi liếc đồng hồ, đúng 21g43.

 

 Image

 

           Đợi một lúc, không hy vọng có điện trở lại, chúng tôi chuyển qua Đại cung môn ở mặt tiền khu trung tâm Đại nội. Các tiết mục của đoàn ca múa Kalasin (Thái Lan) được sắp xếp biểu diễn ở đây. Có lẽ đây là chương trình được Ban tổ chức ưu tiên nhất với hệ thống các phóng viên truyền hình tác nghiệp đông đảo. Các diễn viên đoàn Thái Lan thật may mắn khi đám khán giả vây quanh đông đúc (có lẽ vì chương trình được truyền hình trực tiếp chăng?). Thấy rõ, các bạn Thái Lan hạnh phúc rạng rỡ ra mặt khi lao động nghệ thuật của mình được nhiều người hưởng ứng đến vậy. Nhìn chung, các tiết mục của Kalasin cũng có thể xếp vào dạng âm nhạc dân tộc cải biên “xập xình” với 2 cây ghita điện kiểu Tây được đẽo gọt hoa văn uốn lượn giả dạng đàn dân tộc Thái Lan. Chúng giống hệt kiểu đàn Tứ đại cải tiến hay Lạc cầm của Việt Nam. Xem ra, “cơn gió xập xình” cải biên nhạc dân tộc ở Việt Nam đã tràn sang Thái Lan? So sánh tổng thể các chương trình trong đêm diễn với mấy tiết mục cổ nhạc Việt Nam ở Cung Diên Thọ, chợt thấy chạnh lòng tủi tủi, và cảm giác đó cứ lẩn quất trong tôi khi rời bước khỏi khu hoàng thành lúc đêm khuya.

 Image

 

 

Cũng trong ngày 4/6, Lễ tế đàn Nam Giao được tiến hành đồng thời với các chương trình nghệ thuật trong Đại nội. Dù không mục sở thị, nhưng tôi biết chắc rằng nhiều thành phần âm nhạc nghi lễ quan trọng của Lễ tế Nam Giao cổ truyền sẽ không thể tái hiện, như hệ thống Nhạc Chương hay dàn Biên chung, Biên khánh… Bởi các giá trị âm nhạc đó đã thất truyền từ lâu rồi. Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu Lễ tế Nam Giao không có nhạc Chương (ý nghĩa lời ca vũ trụ, trời đất giao hòa) và dàn biên chung, biên khánh thì không thể thành tế Nam Giao. Điều đó có nghĩa âm nhạc dùng trong Tế Nam Giao tất yếu ở dạng phục dựng kiểu chắp vá, không nguyên bản. Các nhạc công của dàn nhạc Trung tâm bảo tồn di tích cho biết, trong chương trình diễn lại tế Nam Giao, buổi sáng, khi rước “vua” xuất cung, dàn tiểu nhạc chơi bài Long Ngâm, dàn đại nhạc chơi bài Đăng đàn cung. Trong lễ tế buổi tối, tiểu nhạc vẫn chơi Long Ngâm, có thêm múa hát Bát Dật (tiểu nhạc đảm nhiệm). Còn dàn nhạc Thài (một sự pha trộn tiểu nhạc và đại nhạc: 1 trống chiến, 1 tam âm la, 1 mõ, 1 nguyệt, 1 nhị, 1 sao, 4 người hát) sẽ chơi bài nhạc Thài tế Nam Giao. Đây là một bài bản mới được phục dựng, nhìn chung còn có nhiều nghi vấn về độ tin cậy chính xác(?)

Cùng ngày, tại đền Huyền Trân Công Chúa đã diễn ra xuất diễn đầu tiên của nhóm ca trù Tràng An (Hà Nội) với tiết mục múa Bài Bông và một số bài ca trù. Đây cũng có thể coi là một thành tố di sản trong festival Huế 2008. Được biết, nhóm Tràng An sẽ chỉ trình diễn 3 đợt ở các nơi công cộng trong chương trình phục vụ du khách miễn phí.

Sáng ngày mùng 5/6- ngày kết thúc tua du lịch thứ nhất của festival, nghe nói buổi tối sẽ có chương trình biểu diễn của Nhà hát tuồng Đào Tấn(?) Nhưng ngay từ trước ngày khai mạc, dù chúng tôi đã cố dò hỏi Ban tổ chức nhưng cũng không thể biết được chương trình biểu mục cụ thể của nhà hát Tuồng. Nhìn chung, với hầu hết các tiết mục nghệ thuật dân tộc (cả cổ truyền và cải biên), Ban tổ chức không hề nắm rõ nội dung chương trình của các nhóm, các đoàn nghệ thuật.

 

 Image

 

Đặc biệt, nghe nói tối 5/6, trên lịch trình “Huyền thoại sông Hương” sẽ có ca Huế và Nhã nhạc, không biết thực hư chất lượng các di sản âm nhạc sẽ thế nào? Giá vé 400.000đ/người trên “thuyền rồng” và 1.000.000đ/ người trên “thuyền cung đình” là quá sức với đám khán giả như chúng tôi, ngay việc vào xem các chương trình “bình dân” hơn cũng đã là cố gắng lắm rồi! Được biết GS.TSKH Tô Ngọc Thanh cũng là khách mời danh dự của chương trình này, tôi đành nhờ ông quan sát rồi mô tả lại để có thể nắm bắt về mặt đại thể của “Huyền thoại sông Hương”. Về sau ông cho biết, ngay khi đoàn thuyền chở khách rời bến đã xảy ra sự cố, “thuyền cung đình” (giành cho khách hạng nhất) do không tính trước trọng tải khi khách lên thuyền nên đã mắc cạn, các thuyền rồng (chở khách hạng hai) buộc phải rời bến trước và vừa đi vừa đợi“thuyền cung đình”. Theo dự kiến kịch bản, lịch trình của “Huyền thoại sông Hương” sẽ tái hiện toàn cảnh sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng, lao động sản xuất của các cư dân 2 bờ sông Hương. Theo đó, du khách sẽ được đắm mình trong một không gian xưa thấm đẫm di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền thời cung đình thịnh trị. Tuyến đi kéo dài 15km từ bến thuyền lăng Minh Mạng đến Nghinh Lương Đình trước Phú Vân Lâu. 18 điểm diễn xướng ven sông với sự huy động khoảng 1000 người tham gia cuộc “tái hiện hoành tráng” mong ước. Thế nhưng điều đó đã không thành hiện thực, do khoảng cách quá xa nên toàn bộ du khách trên đoàn thuyền không nhìn thấy gì và tất nhiên cũng không… nghe thấy gì ở các lễ hội tổ chức 2 bên sông chào đón đoàn thuyền đi qua. GS Tô Ngọc Thanh cho biết, các đại biểu ngồi trên thuyền hài hước nói rằng: “Đúng là… huyền thoại sông Hương, chẳng thấy cái gì cả!”. Đến điểm cuối cùng- Nghinh Lương Đình, đoàn thuyền đỗ quanh một sân khấu nổi để nghe ca múa nhạc tổng hợp, tổng cộng 11 tiết mục, trong đó có ca Huế, múa Lục cúng hoa đăng và màn múa Lân –Sư- Rồng. Nhưng do khoảng cách quá xa giữa sân khấu với vị trí neo thuyền của du khách nên đương nhiên, hậu quả là dễ đoán. Không những không nhìn rõ các tiết mục, mà ngay cả âm thanh phát ra qua hệ thống phóng thanh cũng đã bị không gian rộng lớn của dòng sông phá vỡ, tiếng được tiếng mất. Tất nhiên, đây là lỗi của người tư vấn sắp đặt về mặt kỹ thuật, họ đã không lường trước hết sự ảnh hưởng của mặt sông rộng lớn (luôn rung động) tới hiệu quả tổng thể của âm thanh. Bởi vậy, chưa bàn đến chất lượng nghệ thuật, chỉ xét về mục tiêu tôn vinh di sản của chương trình này thì có thể nói hiệu quả của nó đã không thành công như mong đợi, nếu không nói là đáng thất vọng so với nguồn lực kinh phí đầu tư.

 

 

 Image

Trong ngày 7/6 nghe nói có Nhà hát ca kịch Huế biểu diễn. Như thế, chương trình biểu diễn này không được xếp trong tua thứ nhất, chỉ bắt đầu ở tua thứ 2. Bản thân tôi khi đó đã rời Huế, mọi thông tin có thể nắm bắt đều thông qua các thành viên trong nhóm nghiên cứu trụ lại, quan sát và ghi âm. Tuy vậy, chỉ qua băng âm thanh thu các tiết mục biểu diễn của Nhà hát ca kịch Huế, đã có thể khẳng định đây là một chương trình chẳng có gì liên quan đến ca kịch Huế. Nghệ thuật ở đây thuần chất ca múa nhạc dân tộc cải biên với các yếu tố “hiện đại”- vốn là “đặc sản” được sinh ra từ dòng nhạc viện quốc gia. Đương nhiên không thể coi đó là di sản âm nhạc!

 

Huế mùa Hạ 2008

Bùi Trọng Hiền

HOÀNG THI : Phong tặng danh hiệu và đãi ngộ các nghệ nhân, VIETNAM 2009


Phong tặng danh hiệu và đãi ngộ các nghệ nhân:
Đã muộn thì đừng quên chu đáo, thoả đáng!

Bộ VHTT&DL vừa công bố Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật di sản văn hoá với mong muốn ghi nhận ý kiến từ công luận để kịp trình Quốc hội xét phê chuẩn trong tháng 5 tới đây. Với một vấn đề cụ thể như danh hiệu và đãi ngộ nghệ nhân văn hoá phi vật thể, nhiều băn khoăn đã đặt ra không chỉ khi có Dự thảo này.

DSC01432.jpg

Cung văn lão thành Đào Thị Sại- 97 tuổi

Đưa nghệ nhân vào luật

Dự thảo này bàn đến nhiều vấn đề, trong đó điểm nhấn quan trọng là những ý tưởng, chủ trương trong việc vinh danh, hỗ trợ các nghệ nhân văn hoá phi vật thể. Điều này thể hiện những nhận thức tích cực và ý thức tiến bộ trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc và coi trọng những con người gắn bó, giữ gìn và lưu truyền vốn văn hoá ấy. Ngoài chủ trương“Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ có tài năng xuất sắc, nắm giữ và có công bảo vệ, phổ biến, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể”, bản Dự thảo còn đưa ra vấn đề danh hiệu nghệ nhân qua hai tên gọi“Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú”, cụ thể là:“2. Danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” được quy định tại Điều 65 Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 47/2005/QH11 được áp dụng để xét phong tặng đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này”. Việc xét tặng hai danh hiệu này, Dự thảo cũng cho biết:“Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xét phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể”.

DSC01372.jpg

Nghệ nhân lão thành Hà Thị Cầu

Không phải bàn luận thêm về nguyện vọng của ngành VHTT&DL, tôn vinh các cá nhân xuất chúng, nhiệt thành trong lĩnh vực văn hoá dân gian, nghệ thuật truyền thống, điều này đã thể hiện rõ, dù khá muộn – bởi ngay trong hiện tại, nhiều nghệ nhân tài năng, có công lao với nền nghệ thuật dân tộc vẫn đang sống kham khổ và lặng lẽ; và có những nghệ nhân danh tiếng đã ra đi trước khi kịp nhận một hình thức vinh danh, đãi ngộ nào đó, dù rất nhỏ. Nhưng nếu đi thẳng vào Dự thảo này thì rất nhiều vấn đề còn đặt ra câu hỏi, liên quan đến chế độ đãi ngộ, danh hiệu nghệ nhân, quy trình xét tặng danh hiệu v.v. Đãi ngộ thế nào cho xứng đáng với công sức của nghệ nhân, cả đời học hỏi, lưu giữ và truyền dạy một môn nghệ thuật nào đó?

DSC01484.jpg

Nghệ nhân lão thành Hoàng Trọng Kha

Hỗ trợ phải xứng tầm

Thiết nghĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các mẹ liệt sĩ được trao tặng nhà, được xã hội trân trọng vì đã đóng góp máu xương cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc, thì các nghệ nhân cũng cần được hình thức tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng bởi cuộc đời họ đã gắn với trách nhiệm tự thân – giữ gìn, truyền tụng những tinh hoa văn hoá của một vùng đất, của cả dân tộc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên ĐH KHXH&NV Hà Nội cho rằng: Nên có những cuộc ghi âm, ghi hình các nghệ nhân một cách đầy đủ, thu gom tận độ những bài bản nghệ thuật dân gian mà các cụ còn nhớ được. Kèm theo là thù lao, bồi dưỡng xứng đáng, có thể là vài chục triệu. Với số tiền đó, các cụ có thể gửi tiết kiệm hoặc con cháu để sống tạm đầy đủ đến lúc qua đời. Nhà nghiên cứu cổ nhạc Bùi Trọng Hiền “cám cảnh” về trường hợp nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu ở Ninh Bình: Cụ được phong tặng danh hiệu NSƯT, nhưng mà các chế độ và sự đãi ngộ hầu như không có gì! Bây giờ cụ cùng con gái vẫn sống rất khó khăn.

n8

Nghệ nhân lão thành Nguyễn Thị Nguyên

Danh hiệu nghệ nhân được đưa ra: “Nghệ nhân ưu tú”, “Nghệ nhân nhân dân”, như vậy đã hợp lý và thoả đáng chưa? Hay chỉ là sự là “sự ứng dụng” danh hiệu “ưu tú” và “nhân dân” của các nghề nghiệp nghệ sĩ, thầy thuốc, nhà giáo đã có sẵn? Thực chất, do hoàn cảnh cụ thể, các nghệ nhân không phải lúc nào cũng có điều kiện đem tài năng, vốn liếng của mình phục vụ xã hội, cộng đồng như các nghề nghiệp kia, hoặc như những người công tác trong biên chế nhà nước. Chưa kể yếu tố thời cuộc, khi nghệ thuật truyền thống không thực sự được coi trọng, các nghệ nhân chỉ ngậm ngùi mà âm thầm giữ lấy nghề tổ. Ở đây, ca trù, hát văn là trường hợp tiêu biểu. Hay với những loại hình khác: hát chèo, hát xẩm, quan họ v.v, hiện nay cũng “lép vế” trước văn hoá nghệ thuật mới và ngoại lai, làm gì có nhiều cơ hội phổ biến, ứng dụng trong đời sống. Cộng thêm vấn đề tế nhị, với người sống thì còn dễ hơn, nhưng rất nhiều nghệ nhân danh tiếng, tài năng đã ra đi trước khi được biết ơn, ca tụng, việc xét truy tặng danh hiệu cho các cụ sẽ như thế nào? Đồng thời, cần đãi ngộ những cá nhân học trò hoặc gia đình, cộng đồng còn tiếp tục lưu truyền vốn liếng, tinh hoa của các nghệ nhân đó ra sao? Một ví dụ là cụ Nguyễn Thị Khướu, nghệ nhân quan họ ở làng Ngang Nội, xã Hiên Vân, Tiên Du, Bắc Ninh, cụ đã ra đi ở tuổi 106, trước khi nhận được một hình thức hỗ trợ nào. Hoặc như cụ Nguyễn Đức Sôi, một nghệ nhân tài hoa danh tiếng, người thầy đầu tiên của Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh. Cả đời cụ học tập, lưu truyền và sáng tạo đến mấy chục bài quan họ được sử dụng phổ biến trong dân gian, nhưng cụ đã ra đi vào năm 2001 mà chưa kịp được vinh danh, đãi ngộ.

KS5

Nghệ nhân lão thành Kim Sinh

Không “làm phiền” nghệ nhân

Quy trình, thủ tục cũng là vấn đề hành chính rất “đáng ngại” với các cụ già, nhất là những người “cả đời đã không được mấy”, đến nay tóc bạc đầu râu nếu lại phải viết đơn từ, thảo đề nghị, xin xác nhận dấu má, thẩm định của chính quyền và các cơ quan chuyên môn thì sẽ thật là nhiêu khê. Mà việc xét phong tặng sẽ luôn luôn trải qua việc so bì hơn kém, quyết người này mà loại người khác v.v. Với các nghệ nhân – những di sản của dân tộc, tài năng có có khi còn là bậc thầy những nghệ sĩ danh tiếng, thì việc đưa các cụ vào vai trò “thí sinh” này thật là vô cùng tế nhị và khó khăn! Thêm nữa, “Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xét phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú”, việc này chắc chắn cần sự cố vấn của giới chuyên môn. Vậy thì năng lực, uy tín của các chuyên gia thẩm định, đánh giá và biết tôn vinh các nghệ nhân từ cấp cơ sở đến trung ương cũng là một thách thức. Không thể có trường hợp chuyên gia loại hình này xét chọn nghệ nhân loại hình khác, cũng như rất khó để các chuyên gia thế hệ sau xét chọn các nghệ nhân đã đóng góp đáng kể cho quá trình điền giã, nghiên cứu của các chuyên gia thế hệ trước mình. Với các địa phương có hàng trăm người cao tuổi tham gia sinh hoạt quan họ trong các làng quan họ gốc, các CLB như huyện Tiên Du, Bắc Ninh thì việc tôn vinh những gương mặt xuất chúng quả không phải dễ! Ở địa bàn này, cũng như những nơi khác, xây dựng được những tiêu chí xác đáng cho việc xét chọn, hỗ trợ nghệ nhân là rất cần thiết, như các yếu tố thâm niên rèn luyện, sinh hoạt và truyền dạy nghệ thuật, phẩm những cống hiến về bài bản, kỹ năng v.v. Ngoài ra, vinh danh, hỗ trợ các nghệ nhân không phải đã xong, cách vinh danh ý nghĩa nhất là nối dài thành quả, phẩm chất nghệ thuật của các cụ bằng cách lưu giữ vốn liếng, giới thiệu tinh hoa của các cụ đến thế hệ sau mà trước hết là ở địa phương.

18

Cố nghệ nhân lão thành Bùi Văn Đông, thọ 87 tuổi

Và xét đến cùng thì như trên đã nói, các nghệ nhân đã một phần ba, một nửa và cả cuộc đời cống hiến cho nghệ thuật truyền thống, cho sinh hoạt văn nghệ truyền thống ở vùng, miền một cách vô tư. Thì nay, lúc đã trung tuổi, đã mãn chiều xế bóng, việc công nhận, tôn vinh các cụ có lẽ cũng chỉ là “trang sức” trên một hành trình văn hoá. Vậy thì làm thế nào để món “trang sức” đó tôn lên vẻ đẹp nghệ thuật và tấm gương nghệ thuật chứ đừng làm loè loẹt, làm mờ đi phẩm chất nghệ thuật vốn có. Đồng thời, tôn vinh và đãi ngộ phải thoả đáng để động viên các cụ còn sức thì nhiệt tình với nghiệp tổ, các cụ già yếu và con cháu thì cũng hởi lòng hởi dạ để trân trọng bộ môn đã theo đuổi bấy nay. Chứ chỉ “rầm rộ” trao một bằng chứng nhận với ít kinh phí động viên trong bối cảnh giải thưởng, danh hiệu phát triển “rực rỡ” như hiện nay thì một cái danh nghệ nhân có lẽ cũng thật bình thường!

Hoàng Thi

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/22