NGUYỄN DUY : Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới


Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới

 

(Dân trí) – Thông tin từ Phòng Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, Dân ca Ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

Mới đây, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới năm 2014. Tất cả hồ sơ về Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh đang được nhanh chóng hoàn thiện để chính thức trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) muộn nhất vào ngày 31/3 tới.

Ví và Giặm là hai thể hát dân ca không có nhạc đệm, được cộng đồng người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt và lao động. Dân ca ví, giặm mang đậm bản sắc địa phương về điệu hát, ca từ, giọng điệu cũng như âm điệu. Theo các chuyên gia ước tính thì hiện nay có khoảng 15 điệu ví và 8 điệu giặm được gọi tên theo bối cảnh cuộc sống, lao động, nghề nghiệp như Ví phường vải, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể…
 
Dân ca ví, giặm Nghệ - Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới
Dân ca ví, giặm chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

Ví, giặm thông thường có ca từ bằng thơ dân gian cô đọng, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hát nên luôn được trao truyền, kế thừa và sáng tạo. Ngoài ra loại hình dân ca này cũng có nội dung phản ánh xã hội, lịch sử; thể hiện những tâm tư, tình cảm, tình yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa. Bên cạnh đó, Dân ca ví, giặm còn giáo huấn, triết lý trọng nghĩa, trọng tình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam.

Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh hiện nay được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở 259 làng, thôn, xóm, khu dân cư của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung Việt Nam). Đa số người Nghệ Tĩnh đều biết hát ví, giặm vì loại hình dân ca này chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa, cuộc sống của họ.

Hiện nay, đã có 51 câu lạc bộ dân ca ví, giặm; có hơn 803 nghệ nhân và nhiều cá nhân ở hai tỉnh; các nghệ sỹ, nhạc sỹ chuyên nghiệp ở Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ ở Nghệ An và Nhà hát nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh quan tâm tới việc diễn xướng, truyền dạy, bảo tồn và phát huy Dân ca ví, giặm. Được biết, tại tỉnh Nghệ An, không gian của Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh tập trung ở 167 làng, thôn, xóm, khu dân cư thuộc 59 xã, phường trong 14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh.
 

Nguyễn Duy

http://dantri.com.vn/van-hoa/dan-ca-vi-giam-nghe-tinh-duoc-de-nghi-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-the-gioi-713123.htm

DÂN CA, DÂN VŨ – NGÀY XƯA TRỞ LẠI , VIETNAM


Published on Apr 29, 2012

Nhạc dân gian
Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc với một nền văn minh lâu đời, có một nền âm nhạc dân gian phong phú. Những âm điệu, tiết tấu đặc trưng của dân ca, dân vũ là ngọn nguồn vô tận cho những tác phẩm của nhiều nhạc sĩ qua các thời kỳ.
Dân ca Việt Nam bắt nguồn từ ca dao và thơ mà trong đó chiếm phần nhiều là thơ lục bát, qua thời gian của lịch sử dân tộc, được chắt lọc, bổ sung trở thành những thể loại ca hát dân gian khác nhau của từng địa phương, vùng miền, từng dân tộc.
Gần với thơ nhất là thể ngâm. Ru cũng vậy, là một lối phổ nhạc cho những bài ca dao lục bát. Hò là thể loại phổ biến cả nước, đặc biệt là miền Trung và miền Nam. Hò có thể kết hợp chặt chẽ với các động tác lao động như hò kéo gỗ, hò giã gạo… mang tính chất tập thể, một người xướng rồi có những người cùng làm việc hò theo, nhưng cũng có những thể Hò mang tính chất giao duyên và hò hội với các hình thức đối đáp.
Vùng Trị Thiên có đầy đủ các hình thức khác nhau của Hò. Người ta chia thành Hò trên cạn và Hò dưới nước. Các điệu hò của miền Nam là Hò trên nước có tính chất trữ tình, thanh nhàn.
Vùng Nghệ Tĩnh còn có hát giặm, là loại hát có thể dùng lúc làm việc, nghỉ ngơi hay hội họp. Lý là những bài hát giao duyên phổ biến ở miền Trung và miền Nam như Lý chuồn chuồn, Lý ngựa ô, Lý con sáo…
Miền nam thì có rất nhiều điệu Lý. Những câu ca dao không được dùng trong Hò thì được đưa và Lý. Có thể nói, miền Nam là kho tàng vô tận của các điệu lý như Lý bông lựu, Lý cây chanh, Lý xăm xăm, Lý cây bông…
Hát Ví: phổ biến ở Trung du Bắc bộ và vùng Nghệ Tĩnh. Đây là một hình thức hát giao duyên.
Hát Quan họ: có nguồn gốc ở Bắc Ninh, là lối hát rất phong phú về âm nhạc.
Hát Chầu văn: là hình thức hát nhà thờ, có tính chất tôn thờ thần linh. Hình thức này có ở cả 3 miền. MiềnTrung và miền Nam gọi là hát bóng, phục vụ cho việc lên đồng. Hát Chầu văn gồm một cung văn là thầy cúng chuyên nghiệp đánh đàn nguyệt giỏi, có giọng hát hay, thuộc nhiều điệu hát. Ngoài ra còn có trống, thanh là phụ hoạ.
Hát Ả đào: là hình thức đặc biệt của miền Bắc, thịnh hành khoảng thế kỷ XIV. Hát Ả đào gồm có một người hát (đào nương) hai tay gõ phách, một nhạc công đàn đáy, một trống chầu dùng để người nghe (quan viên) khen thưởng những âm, những giọng hay. Đây là lối hát những bài thơ nên cách hát rất khó và có giai điệu phát triển mạnh.
Ca Huế: là một thể loại ca nhạc thính phòng dân gian. Ca Huế được phát triển vào miền Trung và miền Nam, gọi là ca Quảng và nhạc tài tử miền Nam. Nghệ thuật ca Huế là sự sáng tạo những ngón đàn hay. Các nhạc công đánh đàn mang tính ngẫu hứng là chính, miễn sau cuối bài hát họ gặp nhau ở chủ âm. Dàn nhạc ca Huế gồm: đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tam, đàn bầu và sáo. Người hát sử dụng bộ phách để gõ nhịp. Ngoài những hình thức trên, chúng ta còn có những thể loại Chèo, Tuồng, Cải lương.
Tất cả những hình thức của âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam đều đang được bào tồn và phát triển. Đó là nguồn vô tận cho các tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc của nhiều nhà soạn nhạc Việt Nam. Đã có rất nhiều ca khúc lấy cả một làn điệu dân ca rồi đạt lời mới như:Trông cây lại nhớ đến Người, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Những cô gái quan họ, Nổi trống lên núi rừng ơi…
Nghệ thuật âm nhạc dân gian, cổ truyền là kho tàng vô giá cho nhiều nhạc sĩ nghiên cứu, sáng tác.

Vĩnh Phúc : Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh qua báo chí nửa sau thế kỷ XX


Vĩnh Phúc : Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh qua báo chí nửa sau TK XX

   Trên tiêu chí Hát, Hò dân gian, chúng tôi đã tuyển chọn ra được 8/16 bài  phù hợp với mục đích của khảo cứu để tổng lược và nhận xét. Ở đây chúng tôi không làm công việc “tóm tắt nội dung” của các bài chuyên khảo để tổng kết mà chỉ nêu dẫn, nhận xét những vấn đề như quan điểm, thái độ của tác giả bài viết đối với dân ca, những phát kiến, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XX… theo quan điểm riêng của mình.

Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh qua báo chí nửa sau TK XX

Vietsciences- Vĩnh Phúc          15/09/2008

 

 

 ImageNhững bài cùng tác giả

 

TỔNG LƯỢC & NHẬN XÉT

  Trên tiêu chí Hát, Hò dân gian, chúng tôi đã tuyển chọn ra được 8/16 bài  phù hợp với mục đích của khảo cứu để tổng lược và nhận xét. Ở đây chúng tôi không làm công việc “tóm tắt nội dung” của các bài chuyên khảo để tổng kết mà chỉ nêu dẫn, nhận xét những vấn đề như quan điểm, thái độ của tác giả bài viết đối với dân ca, những phát kiến, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XX… theo quan điểm riêng của mình.   Cả một “xứ Thanh“, một vùng văn hóa, một vùng dân ca phong phú, đặc sắc đến thế mà trong giai đoạn này, chúng tôi chỉ gặp có một bài nghiên cứu về Âm nhạc hò sông của nhạc sĩ Hoàng Sâm 1. Nhưng điều đáng nói, đây là một trong số rất ít bài chịu đi thẳng vào vấn đề âm nhạc bằng việc phân tích, mổ xẻ cấu trúc nội tại của làn điệu, biểu hiện trong các yếu tố giai điệu, tiết tấu, điệu thức…để nêu lên những giá trị âm nhạc của hò Sông Mã. Tuy nhiên, vì lệ thuộc quá nhiều đến cơ sở lý thuyết âm nhạc cổ điển châu Âu, nên cảm giác như đang nghe tác giả  phân tích tác phẩm âm nhạc cổ điển phương Tây!  Hình như tác giả bài viết đang tìm cách tiêu thụ các thuật ngữ âm nhạc thường dùng trong lý thuyết nhạc cổ điển như “chủ đề I, chủ đề II”, “âm hình chủ đạo”, “canon đơn giản”, “đối vị 2 bè đơn giản, đối vị 3 bè”…Đôi chỗ,  lạm dụng đến nghi ngờ và khó hiểu: “Giai điệu trong Hò Sông Mã đã kết hợp nhuần nhuyễn các âm thanh có quãng đặc trưng (chủ yếu quãng 4, quãng 5, quãng 7 và quãng 2 đúng (!)…kể cả hai chiều…đã hoàn thành được chức năng biểu hiện mạnh mẽ nhất, toàn diện nhất của ngôn ngữ âm nhạc. Đặc biệt sử dụng nhảy quãng giai điệu, kết hợp với quãng liền bậc và quãng đồng âm…tạo ra những âm không ổn định để giải quyết về ổn định, một cách táo bạo”, và “cuối cùng là những bài hò mang điệu thức 5 âm hoàn chỉnh và đan xen các điệu thức 5 âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy Vũ và Oán…Đặc biệt trong bài hò theo nhịp đơn II gần với điệu thức cổ Hy Lạp MyXolidien đan xen với điệu thức Oán-Oán là điệu thức tiêu biểu cho dân ca người Việt”. Chưa kể những cách nói ngường ngược kiểu như: “Hò Sông Mã là âm nhạc dân gian quan trọng nhất trong nền âm nhạc dân ca Thanh Hoá” !  Hiện tượng nghiên cứu, phân tích âm nhạc cổ truyền như trên, kể cả một số trường hợp chúng tôi đã nêu ở trước, là sự áp đặt, là kinh viện hoá âm nhạc dân gian, nếu không muốn nói là đánh đồng truyền thống, đánh đồng ngôn ngữ cấu trúc âm nhạc phương Tây cổ điển với dân ca dân gian Việt Nam.   Dân ca Nghệ – Tĩnh, mà tiêu biểu là Giặm là một hiện tượng sinh hoạt văn hóa đặc sắc riêng của Xứ Nghệ, đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực, đặc biệt, trong lĩnh vực văn học, văn hóa. Từ năm 1944, đã xuất bản sách Hát Giặm Nghệ – Tĩnh của Nguyễn Đổng Chi; năm 1958 lại xuất bản cuốn Hát Ví Nghệ – Tĩnh của Nguyễn Chung Anh; năm 1961 có Hát Phường Vải, dân ca Nghệ – Tĩnh của Ninh Viết Giao… Trên các tạp chí ở miền Nam trước 1975 có Thú Hát Ví ở Nghệ An – Hà Tĩnh của Hoàng Điệp – Thiết Mai năm 1962, nhưng đáng kể là khảo cứu dân tộc học Vài nét về sinh hoạt của Hát Giặm và Hát Ví dân ca Nghệ – Tĩnh của Lê Văn Hảo năm 1963… Nghiên cứu Hát Giặm và Hát Ví trên lĩnh vực âm nhạc học tương đối ít, có thể kể: Hát Ví Nghệ Tĩnh (1972) và Hát dặm Nghệ Tĩnh (1981) của nhạc sĩ Đào Việt Hưng; Hát Giặm Nghệ Tĩnh (1984) của nhạc sĩ Vĩnh Long và chùm 3 bài của các tác giả Vi Phong, Bích Lộc, Nguyễn Mỹ Hạnh cùng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số chuyên đề tháng 6/1992.

 

Một số vấn đề về Hát Giặm

Bài khảo cứu Vài nét về sinh hoạt của Hát Giặm và Hát Ví 2 của nhà nghiên cứu văn hóa, dân tộc học Lê Văn Hảo đăng trên tạp chí Đại Học dài 35 trang nhưng chỉ chú trọng về môi trường sinh hoạt, phong tục và phần văn học của hai thể loại này mà chủ yếu là phân giải tư liệu từ các tác giả Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Nguyễn Chung Anh…nên, phần nào đó có giá trị về mặt cô đọng tư liệu. Một vài nhận xét về âm nhạc cũng được rút ra từ những sách này. Chẳng hạn như việc nhận xét 2 câu láy trong Hát Giặm, được gọi là “vật cốt yếu của con nhà hát nam nữ, có nghe hát rồi mới thấy được hết giá trị của nó về nhạc điệu, mới biết là bao nhiêu cái hay chung đúc vào đó cả; ví như dòng nước đang cuồn cuộn chảy bổng trút cả vào một cái thác“. Nói chung, câu láy ở vần trắc này, “ảnh hưởng nhiều đến nội dung lời ca, làm cho người nghe như có nhấn mạnh, nhắc nhở, quyến luyến hơn“.

Trong tài liệu của Lê Văn Hảo, dẫn theo ý kiến của Nguyễn Đổng Chi về ý nghĩa của từ Giặm, là trong lúc hát đối đáp, câu của người trả lời phải chấp theo vần ở cuối câu của người hỏi. Sự chắp vần hay hát chắp vào ấy tức là giặm. Nhưng theo nhạc sĩ  Đào Việt Hưng thì chính vì câu láy ở cuối mỗi khổ, tức là câu nhắc lại ấy được gọi là câu dặm. Vì vậy mà nhân dân gọi thể loại này là hát dặm. Bài viết của Đào Việt Hưng về Hát dặm Nghệ Tĩnh 3, mặc dù còn nặng về giới thiệu sưu tầm, ít tính nghiên cứu nhưng đã nêu được vấn đề biến thái, phát triển trong làn điệu Hát Giặm. Cụ thể là trong mô hình tiết tấu, sự mở rộng kết cấu hình thức mà tác giả đã so sánh qua hai bài hát Giặm của 2 thời kỳ, được biết là cách nhau trên 150 năm. Vấn đề ông đặt ra, về sau được triển khai đầy đủ và khoa học hơn trong các bài nghiên cứu của Bích Lộc, Nguyễn Mỹ Hạnh. Ngoài vấn đề nêu trên, mà tác giả Bích Lộc cho là đã làm nên một loại giặm mới, được gọi là giặm nối trong bài nghiên cứu Âm nhạc của hát Giặm Nghệ Tĩnh 4, chị đã nêu thêm những biến dạng (hay là phát triển) cao hơn. Đặc biệt trong những bài vè hát dặm (giặm vè), đã dùng đến cả nhịp hỗn hợp: 7/4 (4/4 + 3/4) làm xáo trộn chu kỳ của các phách mạnh nhẹ. Về giai điệu Hát Giặm, Bích Lộc nhận xét : “có đặc điểm hay dùng luyến từ dưới đi lên và yếu tố “nói” có phần chiếm ưu thế hơn là yếu tố “nhạc”. Nguyễn Mỹ Hạnh trong Hò, Ví và Giặm Nghệ Tĩnh 5 đã quy các chu kỳ tiết tấu cơ bản của hát dặm vào trong 2 mô hình tiết tấu gồm 5 điểm tựa, mỗi điểm tựa ứng với một từ trong thể thơ 5 từ. Mô hình 1 ứng với khuôn nhịp 2/4, tính chất bình ổn, nhịp nhàng; mô hình 2 ứng với khuôn nhịp 7/8, tính chất xáo động và một sơ đồ dẫn giải 2 phương thức biến tấu chính trong Hát Giặm. Đấy cũng là sự tóm lược bằng mô hình các nhóm tiết tấu của làn điệu Giặm gốc và các biến dạng của nó như Đào Việt Hưng, Bích Lộc đã nêu. Bài viết của Nguyễn Mỹ Hạnh tận dụng nhiều khả năng của phương pháp thống kê và mô hình hoá, nhưng nhiều khi lại vô tình phức tạp hoá các vấn đề vốn đơn giản. Một điều có thể tác giả nhầm khi nói: “Hát dặm Nghệ – Tĩnh cũng khác hẳn hát giặm Quyền Sơn về nhiều mặt, trong đó có cả phần âm nhạc”. Loại hát ở Quyền Sơn Hà Nam Ninh là Hát giậm chứ không phải giặm; là một loại hát lễ nghi phong tục, hát cửa đền, gắn với nghi lễ thờ vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Cũng tham khảo cùng một nguồn tư liệu như Lê văn Hảo, nhưng trong cách giải thích ý nghĩa chữ giặm, nhạc sĩ Vĩnh Long trong bài Hát Giặm Nghệ Tĩnh 6 đã nêu ra cả hai cách hiểu: Chữ Giặm là để chỉ hiện tượng láy lại câu cuối; và Giặmgiặm lại vần của bài hỏi. Không sơ lược như bài viết của nhạc sĩ Đào Việt Hưng, nhạc sĩ Vĩnh Long đã đi vào từng vấn đề một cách kĩ càng hơn. Đặc biệt về âm nhạc, ông đã nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa âm điệu Hát Giặm và thanh điệu của giọng nói Nghệ – Tĩnh.

Một số vấn đề về Hát Ví.

Cũng như trong Hát Giặm, ở Hát Ví, Lê Văn Hảo 2 vẫn chú trọng khai thác về truyền thống sinh hoạt, phong tục của thể hát này. Ông đã nêu ra những hình thái văn hóa phong phú của Hát Ví, mà ở đó, đặc điểm sinh hoạt hình thành những phường hát theo môi trường nghề nghiệp khác nhau, như Ví phường cấy, Ví phường vải, Ví phường nón, Ví phường củi v.v…Trong đó, Ví phường vải có cách thức tổ chức, lề lối phức tạp nhất trong các loại hát Ví, vì có sự tham gia của các nhà Nho, các ông đồ Xứ Nghệ mà ngày nay tên tuổi nổi tiếng trong văn học sử nước nhà như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Phan Bội Châu… Sự phức tạp của Ví phường vải được biểu hiện đầu tiên là ở thủ tục của một cuộc hát, mà thường kéo dài trong nhiều đêm với đủ mọi chặng, mọi bước: “hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi, hát đố, hát đối, hát mời, hát xe kết và hát tiễn“.

Nhạc sĩ Đào Việt Hưng cho biết, mặc dù Hát Ví Nghệ-Tĩnh 7 được gọi theo nhiều tên gọi vì kèm theo tên các phường nghề khác nhau nhưng thực chất về âm nhạc chỉ có thể phân chia theo cách cổ truyền trong dân gian là lối Ví phường vải và lối Ví đò đưa. Cả hai lối Ví đều xây dựng trên dạng điệu thức 5 âm không bán âm; lấy tiết tấu thơ làm cơ sở cho tiết tấu nhạc, lấy âm điệu 4 làm cơ sở cho cơ cấu giai điệu. Ở lối Ví đò đưa còn lấy quãng 3 thứ làm điểm tựa cho các bước nhẩy của giai điệu. Vấn đề này, Nguyễn Mỹ Hạnh đã triển khai thêm đầy đủ hơn, chẳng hạn, âm điệu quãng 4 dẫu vẫn quán xuyến trong các làn điệu ví, song sự xuất hiện thường xuyên của những quãng 2 trưởng, 3 thứ xen giưã khung quãng 4, kết hợp với tiết tấu chậm rãi, đều đặn đã đem lại cho âm điệu quãng 4 trong Hát ví tính chất mềm dịu. Cũng theo Nguyễn Mỹ Hạnh 5, Hát Ví Nghệ-Tĩnh sử dụng nhiều hơn cả là thang 4 âm theo dạng: a-c-d-e; e-a-c-d, một số bài hoàn toàn chỉ dùng 3 âm: e-a-c và a-d-e có vai trò nòng cốt ngay trong những bài đã xuất hiện 4, 5 âm. “Điều này một mặt làm cho Ví khác với Hò, mặt khác lại làm nó có phần gần với Hát dặm“.   Nhạc sĩ Vi Phong không đồng tình với một số nhà nghiên cứu cho rằng Ví Nghệ – Tĩnh là loại dân ca một làn điệu, và đã nêu lên sự khác biệt về âm nhạc giữa 2 điệu Ví đò đưa sông LaVí đò đưa sông Lam trong bài Đôi điều về hát Ví và sức mở của dân ca Nghệ Tĩnh 8. Tuy vậy, tác giả bài viết chỉ dẫn chứng bằng 2 nét nhạc mở đầu có cùng âm điệu chủ đạo của thang 4 âm dạng : e-a-c-d, thì chưa thể là một dẫn chứng thuyết phục đối với loại hát đối đáp dân gian có đặc tính đối lời này. So với đa số bài nghiên cứu về dân ca khu vực Đồng bằng Bắc Bộ ở cuối chương trước thì hầu hết các bài khảo cứu dân ca Thanh – Nghệ – Tĩnh đều trội hơn hẳn về khuynh hướng nghiên cứu âm nhạc. Dù vẫn còn cảm tính, nhưng rõ ràng, qua phương pháp nghiên cứu âm nhạc mới có thể nêu ra được những đặc điểm của mỗi thể loại dân ca.  

TÀI LIỆU DẪN

1. Hoàng Sâm. Về âm nhạc Hò Sông Mã.
T/c NCNT số 7/1989.

2. Lê Văn Hảo. Vài nét về sinh hoạt của hát Giặm và hát Ví.
Tạp chí Đại học số 34/1963.

3. Đào Việt Hưng. Hát Giặm Nghệ Tĩnh.

T/c Âm nhạc số 3,4/1981.

4. Bích Lộc. Âm nhạc của hát Giặm Nghệ Tĩnh
T/c Nghiên cứu VHNT số 6/1992.

5. Nguyễn Mỹ Hạnh. Hò, Ví và Giặm Nghệ Tĩnh.
T/c Nghiên cứu VHNT số 6/1992.

6. Vĩnh Long. Hát Giặm Nghệ Tĩnh.
Văn hóa dân gian số 4/1984.

7. Đào Việt Hưng. Hát Ví Nghệ Tĩnh.
Báo Văn hóa số 4/1972.

8. Vi Phong. Đôi điều về hát ví và sức mở của dân ca Nghệ Tĩnh.
T/c Nghiên cứu VHNT số 6/1992.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Màu sắc dân ca Thanh Hoá phục vụ cho sáng tác ÂN hiện nay. Xuân Liên. VHNT số 15/76

2. Hò tiếp vận Thanh Hoá. Mã Giang Lân. VHNT số 12/76

3. Tản mạn về hát Giặm. Thái Kim. NCNT số 6/92

4. Bông hoa nghệ thuật mới: Kịch hát Nghệ Tĩnh. Từ Lương.
Sân khấu số 5,6/83

5. Dân ca Nghệ Tĩnh và nền âm nhạc chuyên nghiệp. Lê Hàm.

Sông Lam số 7. 1/12/95
6. Cội nguồn sâu xa từ dân ca Nghệ Tĩnh. Thái Cơ. ÂN số 3,4/81

7. Thú hát ví ở Nghệ An Hà Tĩnh. Hoàng Diệp và Thiết Mai.
VH nguyệt san 69/62

8. Hát ví Nghệ Tĩnh. Đào Văn Hồng.

Những vấn đề Âm nhạc & múa – tập 2/70

 

            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org Vĩnh Phúc

HÁT DẶM NGHỆ TĨNH , VIETNAM


Ai trả lời cho tôi về hát dặm được không   ?

Ở Nghệ Tĩnh

Câu trả lời hay nhất – Do người đọc bình chọn

Hát dặm là một thể loại hát của người Trần Việt Hà, thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn (thơ – vè). Âm nhạc đi theo thường là phách. “Dặm” có nghĩa là ghép vào, xen kẽ với nhau, thường 2 hay 3 người hát đối diện nhau hát.
Các làn điệu Dặm xẩm, dặm nối, dặm vè, dặm điên, dặm của quyền, dặm kể. Có các tiết tấu phách mạnh, phách nhẹ, những nhịp trong và ngoài. Các thể loại này rất giàu tính tự sự, kể lể, khuyên răn, phân trần, giãi bày,…thuộc dạng thể thơ năm chữ,cách gieo vần,ngắt nhịp, Ngôn ngữ

Đậm màu sắc địa phương. Mỗi câu 5 chữ, có nhiều khổ từ 4 đến 9 câu, cuối khổ có ghép lời láy ý.
Hình thức

Thường là đối đáp nam nữ, nhưng có những bài có tính chất tự sự, kể lại một chuyện vừa xảy ra mình biết. Nhằm mục đích phê phán, khuyên răn, tuyên truyền một việc gì đó. Cuộc sống lao động của nhân dân được ghi lại khá đầy đủ và chi tiết.

(Các) nguồn

Wikipedia
  •  
 

Trả lời khác (2)

CŨNG như hát ví, hát giặm là một thổ sản đặc biệt của nhân dân Nghệ Tĩnh. Trong khi hát ví thịnh hành khắp xứ Nghệ thì hát giặm chỉ thịnh hành ở một số địa phương, đáng kể nhất là các huyện ở phía Nam Nghệ Tĩnh mà cụ thể là các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh và ở Nghệ An chủ yếu là Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Nam Đàn. Hát giặm cũng có cuộc sống độc lập, nghĩa là có phát sinh, phát triển, lưu hành nhưng bị thu hẹp. Hát giặm có hai hình thức: Hát giặm nam nữ và Hát giặm vè (tức vè sáng tác theo thể hát giặm)

Hát giặm nam nữ là một hình thức văn nghệ “tự túc” của nhân dân lao động; Từ một dân ca lao động – nghề nghiệp tiến lên thành một dân ca sinh hoạt – trữ tình.

Hát giặm nam nữ có các đặc điểm:
Image
+ Hát giặm Nghệ Tĩnh là hát của trai gái trong khi trao đổi tình cảm, thường là để tỏ tình. Cũng như hát ví, họ hát giặm quanh năm, không phân biệt mùa xuân hay mùa thu, hễ mỗi khi có dịp cùng nhau lao động, cùng gặp gỡ giữa trai và gái là có hát giặm nam nữ. Khác hát giặm Hà Nam (làng Quyền Sơn, huyện Kim Bảng), kết hợp hát, múa và gõ nhịp, thường được biểu diễn trong những dịp tế thần vào những ngày nhất định mỗi năm khi mùa xuân về.

WIKIPEDIA : HÁT DẶM NGHỆ TĨNH , VIETNAM


Hát dặm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Image

Hát dặm là một thể loại hát của người Trần Việt Hà, thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn (thơ). Âm nhạc đi theo thường là phách. “Dặm” có nghĩa là ghép vào, xen kẽ với nhau, thường 2 hay 3 người hát đối diện nhau hát.

Mục lục

Các làn điệu

Dặm xẩm, dặm nối, dặm vè, dặm điên, dặm của quyền, dặm kể. Có các tiết tấu phách mạnh, phách nhẹ, những nhịp trong và ngoài. Các thể loại này rất giàu tính tự sự, kể lể, khuyên răn, phân trần, giãi bày,…thuộc dạng thể thơ năm chữ,cách gieo vần,ngắt nhịp,…

Ngôn ngữ

Đậm màu sắc địa phương. Mỗi câu 5 chữ, có nhiều khổ từ 4 đến 9 câu, cuối khổ có ghép lời láy ý.

Hình thức

Thường là đối đáp nam nữ, nhưng có những bài có tính chất tự sự, kể lại một chuyện vừa xảy ra mình biết. Nhằm mục đích phê phán, khuyên răn, tuyên truyền một việc gì đó. Cuộc sống lao động của nhân dân được ghi lại khá đầy đủ và chi tiết.

Liên kết ngoài