TÔN ĐỨC QUANG : Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể


Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể
Xem hình
 

Sáng ngày 25/2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” theo tiêu chuẩn UNESCO và lấy ý kiến đồng thuận đề cử “Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó chủ tịch UBND tỉnh, đã đến dự.

Hội nghị tập huấn Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” do chuyên gia của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam- Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, truyền đạt. Tại đây, các học viên là cán bộ phòng văn hóa thông tin các huyện, xã, phường, thị trấn được bổ sung các kiến thức liên quan đến mục tiêu và biện pháp kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đồng thời quán triệt nhiệm vụ kiểm kê, xây dựng hồ sơ trình UNESCO xem xét, công nhận, đưa nghệ thuật hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tại hội nghị, 100% ý kiến biểu quyết đồng thuận đề cử “Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tôn Đức Quang

Tản mạn về hát giặm, VIETNAM


Tản mạn về hát giặm

  •   KYM
  • Thứ năm, 21 Tháng 6 2012 04:42
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

HÁT giặm cũng như hát ví, là một “đặc sản” ca nhạc dân ca xứ Nghệ. Khác với hát giặm Hà Nam (1) là lối hát kết hợp hát, múa và gõ nhịp, chỉ được trình diễn ở đình làng trong dịp tế thần hàng năm, hát giặm Nghệ Tĩnh là loại dân ca phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày và hát giao duyên nam nữ.

“…Ngày nay, nhiều người không còn rõ nghĩa tiếng “giặm” là gì… Tuồng như tiếng “giặm” đặt trong từ hát giặm đã trở thành một tiếng không có nghĩa. Tuy nhiên… có nhiều người Nghệ – Tĩnh đã hiểu tiếng giặm trong hát giặm theo một nghĩa gần như giắm thêm vào. Nhưng họ lại hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Cách hiểu thứ nhất bắt nguồn từ hiện tượng điệp câu của hát giặm: thường thường người ta bắt buộc phải xen vào những câu láy lại (hay câu điệp)… Cách hiểu thứ hai lại xuất phát từ chỗ hát giặm thường phải chắp vần. Trong lúc hát đối đáp, chữ vần của câu đầu bài đáp phải chắp cùng với vần câu cuối bài hỏi… Việc chắp vần, hay là hát chắp vào ấy tức là hát giặm. Cũng gọi là bắp xắp. Bởi vậy hát giặm cũng có nơi gọi là hát xắp hay hát luồn…(2).

Bài (hoặc “khổ”) hát giặm cơ bản có năm câu, mỗi câu năm chữ gieo vần chân: Câu 1 vần trắc; câu 2 và câu 3 cùng vần bằng; câu 4 vần trắc, và câu 5 – câu láy lại (điệp) – cũng vần trắc.

Ai khun (khôn) bằng Từ Hải

Cũng mắc dại Thúy Kiều

Nghe lời nói cũng xiêu

Về thu binh cuốn giáo

Hạ cột cờ cuốn giáo.

Cũng có khi câu hát chỉ có bốn chữ hoặc dài tới sáu, bảy tám chữ và một bài (khổ) hát giặm có khi kéo dài hàng chục câu bằng cách tăng thêm câu vần bằng.

Những tay đặt chuyện giỏi thì không bị gò bó về câu, vần mà biến hóa rất linh động: “…Về chợ hạ tui (tôi) quen cụ Đình – Vô (vào) Lạc Thiên tui quen cậu ấm Ninh – Quen ông Tâm Ca Lai Thạch (chuyển vần trắc) – Quen ông Bát Trạch ở Giang Đình (trở lại vần bằng) – Quen ông Ký Bưởi ngoài Vinh..”.

Một bài hát giặm tự sự hoặc trữ tình dài hơi có nhiều “khổ” có khi tới hàng mấy chục “khổ” nối tiếp nhau. Loại này thường mở đầu và kết thúc bằng hai câu 6 – 8 hoặc kết thúc bằng một câu 6.

Có loại hát giặm nhất thiết phải “sáng tác ứng khẩu” tại chỗ như bài hát đối đáp, đối thoại, hay là bài hát trình diễn trước đông người bằng độc xướng hoặc hòa thanh để cùng vui, chúc mừng, ca tụng kể sự việc, hay cổ động một sự việc mang tính thời sự. Người ta kiêng hát lại những bài cũ (và cũng khó có bài cũ thích hợp để hát). Đó là nguyên tắc của những tay hát giặm cừ khôi. Do vậy, nghệ nhân hát giặm ngày trước nhất thiết phải là một tay sáng tác giỏi.

Khác với hát ví phường vải thường có nhà nho tham gia hát hoặc làm “ông trùm đầu dạy chuyện”, người hát và người đặt bài bè chuyện hát giặm đều là nông dân, thợ thủ công hay dân buôn nghèo… (buôn bộ).

Với loại hát giặm khác, dài hơi để kể một câu chuyện hoặc diễn đạt một tâm trạng… thì người sáng tác phải chuẩn bị chu đáo, sắp xếp kết cấu bài, trau chuốt văn chương… để kể được hay bày tỏ ý kiến, tình cảm… Những bài hát này là những tác phẩm định hình, nếu hay, thì được truyền bá rộng rãi và có giá trị bền vững. Đó là những bài giặm, (kể) vè hay vè giặm. Một số bài loại này do các nhà nho, kể cả các nhà nho khoa bảng làm như: Đầu phủ Cam, Tú Ngung, Đầu huyện Thân, Giải San, Giải Huân, Nghè Kế,… nhiều bài đã vượt khỏi phạm vi sáng tác dân gian, thực sự trở thành tác phẩm văn học thành văn như bài “Chúc thọ vua Tự Đức” của Tư Ngung chẳng hạn(3).

Âm nhạc của hát giặm cũng như âm nhạc của dân ca Nghệ – Tĩnh nói chung còn mộc mạc, chưa có kết cấu hoàn chỉnh, dựa vào lời theo các thể thơ, trên cơ sở dấu giọng để biến thành giai điệu(4). “khoảng cách giữa hát và nói không xa bao lắm”(5).

Điệu hát giặm nghe không mềm mại, du dương, uyển chuyển như hát ví (nhất là ví đò đưa) mà đều đều, khi khoan thai, khi dồn dập, lắng đọng trong tâm hồn người.

Hát giặm bao giờ cũng “hát chay”, không có đàn, sáo đệm, trừ dặm xẩm.

Tùy theo môi trường diễn xướng và thói quen cảm thụ của người từng vùng mà về làn điệu, tiết tấu, hát giặm có ít nhiều khác biệt, nhưng vẫn không xa nhau bao nhiêu. Các nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc thường gọi theo nhiều tên riêng biệt: Giặm nối, giặm kể, giặm ru, giặm cửa quyền… có người lại gọi theo môi trường diễn xướng: Giặm đò đưa, giặm trèo non, giặm đường trường…

Hát giặm được trình diễn trong nhiều môi trường khác nhau, dưới nhiều hình thức.

1. Hát trong lao động, hát trong sinh hoạt thường ngày:

Có khi, mọi người cùng hát đồng thanh một bài giặm để động viên cổ vũ nhau. Phường đi củi Phù Minh (Can Lộc) có tục lệ, từ lúc tập trung những nơi trên núi, cất gánh lên vai, về tới nhà thì các chàng trai cùng hát những bài hát giặm, đại loại như: “Động Cơn (cây) Mai thì dốc – Động Trộ Đó thì dài – ra đến động Hai Vai – thậm chừng chi là khỏe – chi thậm chừng là khỏe”. Những cô gái (gọi là “mẹ”) cứ sau mỗi bài hát cùng reo to: “hay chưa” làm tiếng bế.

– Có khi một người đọc xướng một bài, bày tỏ niềm riêng với bạn (hoặc với chính mình). Chàng trai phường gặt trước lúc từ giã bạn gái thường thốt lên bằng lời hát: “Rơm cũng đã rã rồi – Toóc (rạ) cũng đã rã rồi – Giừ (giờ) mự (mợ) ngồi với tui (tôi) – Tui giải một đôi lời – Mự rẹ (rẽ) về một nơi – Tui rẽ về một nơi – Mai đàng sá xa xôi – Tui về không gặp mự – Tui về rồi không gặp mự”.

– Có lúc hai người bạn hát gặp nhau, cùng hát đối đáp để mua vui hoặc trao đổi ý kiến, tình cảm. Có nhiều giai thoại về những cuộc hội ngộ loại này: Nguyên Hạnh là tay hát trẻ mới nổi, có lần đi buôn bộ qua Truông Bát, chạm trán với “lão tướng” hát giặm Sợi Đường. Đường hát một bài tỏ ý coi khinh Hạnh, Hạnh liền đáp lại, ý nhún nhường mà cứng cỏi, khiến Đường phải hát xin lỗi: “Voi biết voi trắng ngà – Bợm đã biết bợm thì tha nhau cùng – Bởi trước có quen cung – Nhắc tình đây một tỉ (tí) – Vấn cội đờn (đàn) một tí”.

– Khi một nghệ nhân hoặc phường hát đến nơi xa lạ, gặp dịp tết nhất, tế lễ thì phải hát mừng, hát chúc. Bài hát mừng một gia đình đại loại như: “… Anh em vội mừng “tràng cảnh lưu tiên (?)” – Được hai chữ vững bền – Được bốn chữ bình yên – Thăm hai cội thung huyên – Phúc lộc thọ song tuyền – Thăm cả bến liền thuyền…”.

Đây là bài hát mừng “hàng xã”: “… Nghe chiêng đánh kêu vang – Nghe trống đánh chuyển làng – Anh em bước chân sang – Đáo phong cảnh đất làng. Trời mở rộng phong quang – Trên chư vị Thành Hoàng… Đình hai dãy chiếu ngang – Trên hàng tổng với xã làng… Dưới dân sự hai hàng”.

– Khi thuyền xuôi trên sông về ban đêm, người chèo thuyền thường độc diễn một bài hát giặm vè tự sự hoặc trữ tình: Phụ tử tình thâm; Mẹ dòng; Tình ca 24 tiết, có khi là bài hát có nội dung yêu nước… Tiếng hát khoan thai theo nhịp chèo, chủ yếu là để cho người biểu diễn tự thưởng thức. Đó là hát giặm đò đưa.

– Các bà mẹ xứ Nghệ thường lấy những bài hát giặm trữ tình dài hơn (vè giặm) để ru con. Hát giặm ru rất phổ biến ở Nghệ Tĩnh.

– Các nghệ nhân hát xẩm cũng rất sính hát giặm. Họ ứng tác những bài hát thời sự, hoặc những bài vè giặm có sẵn để diễn tấu. Đặc biệt ở đây hát giặm thường được đệm bằng nhị, bầu.

2. Hát giao duyên, đối đáp nam nữ:

Căn cứ vào một ít bài hát giặm phản ánh tình hình thời Lê – Trịnh sưu tầm được ở Hà Tĩnh, ta ước đoán hát giặm có thể đã ra đời ít nhất là thế kỷ XVII – XVIII, nhưng tục hát giặm giao duyên nam nữ thì chỉ được phản ánh trong bài phú Trung Lễ nhất hòa của Lê Trọng Đôn, năm 1885: “…Ngoài đường thì người dạo từng đoàn: đoàn họp làng, đoàn hát giặm…”. Lúc này chắc là tục này đã rất phổ biến.

Cuộc hát thường do trai gái trong làng (hoặc trai gái các làng lân cận đến) hát với nhau. Mỗi đoàn hát giặm, nam như nữ, thường có từ ba đến năm người, trong đó nhất thiết phải có người sáng tác giỏi. Người này ứng khẩu hát, và những người khác hát cặp theo sát lời, kháp giọng.

Nội dung đối đáp là các cuộc đối đáp giữa hai phe nam nữ, nhưng cuối cùng bao giờ cũng là cuộc “tỏ tình” với nhau. Khác với hát ví, những bài hát đối đáp trong hát giặm không chỉ có năm bảy câu, mà có khi hàng chục, hàng trăm câu. Vì vậy, có người cho đây là “tỏ tình bằng văn xuôi”.

Nhưng lối hát giặm đối đáp thực chất là một cuộc biểu diễn thi tài, chủ yếu giữa các nghệ nhân cầm đầu, còn những người khác mới vào nghề thì chỉ đóng vai phụ. Do đó, lối hát đối này dần dần đi vào “chuyên môn hóa”, mất đi tính quần chúng rộng rãi.

Vào những năm hai mươi của thế kỷ này, lối hát đối đáp nam nữ chỉ còn thấy ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên. Các vùng khác ở Nghệ Tĩnh thì lối hát giặm này nhường bước cho hát ví.

Hát giặm với thể văn ngắn, nôm na, mộc mạc, dùng nhiều thổ ngữ, với nhịp hát dồn dập, gấp gáp và giọng hát như dằn xuống chắc nịch, nghe trầm, buồn… phải là sản phẩm của một vùng xa nơi đô hội, ít giao lưu, không có thuyền lớn sông dài, mà là nơi đồng chua nước mặn, cuộc sống con người vất vả, nhọc nhằn. Đó là vùng phía nam Hà Tĩnh.

Ta có thể tìm được những bài hát giặm (không kể giặm vè) và gặp nhiều người biết hát giặm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, Hưng Nguyên… và nhiều nơi khác ở Nghệ An, Hà Tĩnh và cả Quảng Bình nữa. Nhưng chỉ ở vùng Thạch Hà (xưa) bao gồm phần đất từ nam Can Lộc đến bắc Cẩm Xuyên bây giờ – từ Nghèn đến Hội – mới có nhiều làng xã có sinh hoạt hát giặm giao duyên nam nữ, mới có những cuộc hát tay đôi của những cặp nghệ nhân hát giặm “đi vào giai thoại”. Vào cuối thế kỷ trước đến đầu thế kỷ này cũng không ở đâu tập trung đông đảo nghệ nhân hát giặm cừ khôi như ở đây.

Nếu các nơi khác lẻ tẻ có vài ba tay hát giặm tiếng tăm “như Xã Tam ở Vĩnh Lại, Cẩm Xuyên: Cháu Tau ở Phù Minh; bà Hiệt ở Thanh Lương; ngoéc Lãm ở Thuần Thiện (Can Lộc); Dĩ Diễn ở Xuân Viên, Nghi Xuân; Sáu Cai ở Đông Khê; cháu Xanh ở Kẻ Lãng (Đức Thọ)… thì ngót ba chục nghệ nhân hát giặm xuất sắc khác là dân Thạch Hà. Số người này đều dồn vào các làng xã quanh tỉnh lị Hà Tĩnh, trong một diện từ 10 đến 15km đường bán kính. Đó là dái Thông, ngoéc Sáu Cai, ông Nhường, dái Bốn, Lương Đấu, Tri Lương, Sợi Đường, nhiêu Ngọ, Nguyên Hạnh, dái Kình, o Tộ, chị đồ Chương, dì Tương, chị Nguyễn, o Hai Vạn, o Tiu Hào và nhiều người khác.

Những cứ liệu trên đây phải chăng có thể giúp ta tin rằng Thạch Hà (xưa) là quê gốc của hát giặm Nghệ – Tĩnh?

TS TRẦN QUANG HẢI : TÌNH YÊU TRONG DÂN CA VIỆT NAM


TÌNH YÊU TRONG DÂN CA VIỆT NAM

 

Tiến sĩ Trần Quang Hải hiện đang làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) của nước Pháp với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.

Dân tộc Việt Nam có một nền dân ca lâu đời và rất phong phú. Người Kinh chỉ có hát chứ không có múa như các sắc tộc khác cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam.

Dân ca trữ tình hay hát giao duyên hay hát đối đáp giữa trai gái được nghe khắp nơi. Từ Bắc tới Nam, từ loại hát làm việc ngoài đồng (hò cấy) đến các việc làm khác như chèo thuyền (hò mái đẩy, hò mái nhì, hò sông Mã), như đập đá (hò nện) hay các công việc có tính cách tập thể (hát phường vải). Rồi các loại hát hội (Quan Họ, Trống Quân) được thịnh hành nhiều nhứt ở miền Bắc.

Tình yêu không phải chỉ có trong thể loại dân ca trữ tình. Chúng ta có thể gặp chủ đề “tình yêu” trong những bài vịnh ca, anh hùng ca, loại hát chọc ghẹo. Tình yêu nam nữ chiếm một số lượng rất quan trọng trong loại hát giao duyên.

Có một số nhà nghiên cứu cho rằng dân ca đối đáp đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ như Hát Quan Họ ở Bắc Ninh đã được nói tới từ thời nhà Lý (thế kỷ XI) do các quan tướng tổ chức chào mừng vua khi vua trở về thăm nơi chôn nhau cắt rún. Thời nhà Trần, cũng có sách vở nói tới loại hát đối nam nữ và một số người hát nổi tiếng về nghệ thuật tức hứng nhạc và lời.

Những bài hát trữ tình cũng được thấy trong các thể loại khác: hò giã gạo miền Trung, hò miền Nam, các loại hát nghi lễ và luôn cả được sân khấu hóa để làm thành những nhạc cảnh hay hoạt cảnh múa hát (điệu Xin Hoa, Đố Chữ trong Hát Xoan, điệu Tiên Cuội tỏ tình trong Tiên Cuội, v.v.)

Từ thời hậu bán thế kỷ XX, có một số nhà nghiên cứu đã công bố những kết quả đáng được chú ý về những lối hát giao duyên (“Quan Họ Bắc Ninh” do Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Tú Viêm, Nguyễn Chung Anh biên soạn; “Hát Ví Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Chung Anh; “Hát Giặm Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giáo; “Dân ca Người Việt” của Tú Ngọc, v.v.)

Các loại hát giao duyên

Có ba loại hát giao duyên hay hát trữ tình:

1. Loại hát dính liền với tục lệ kết bạn

2. Loại hát dính liền với cộng việc làm

3. Loại hát dính liền với đời sống hàng ngày.

Hát Ghẹo

Loại hát giao duyên với tục lệ kết bạn như trong Hát Ghẹo (Phú Thọ) và Quan Họ (Bắc Ninh) chỉ có thể thấy ở miền Bắc mà thôi.

Hát Ghẹo và Quan Họ thường được ca hát trong dịp hội hè, lễ Tết. Điều đáng chú ý là chuyện ca hát chỉ xảy ra trong khung cảnh của những nhóm ở những làng có kết bạn với nhau. Tục lệ này ở Hát Ghẹo còn gọi là “hát nước nghĩa”.

Sự kết nghĩa giữa hai làng là một tục lệ có từ lâu đời ở Việt Nam.

Trong Hát Ghẹo, những người đi hát không tổ chức thành phường, thành họ hay thành bọn. Hàng năm, khi làng mình hoặc làng kết nghĩa mở hội thì dân làng lựa những cậu trai cô gái có giọng hát đẹp và biết rõ các bài bản để hát đối đáp. Nếu đón các người hát “kết nghĩa” thì làng cử một đoàn phụ nữ và một “bà trùm” (một người đàn bà có tuổi) ra đón tiếp và ca hát. Khi đi hát ở một làng khác thì có “ông trùm” và một nhóm đàn ông hát giỏi được gởi đi. Trong năm, những người được lựa chọn đi hát thường gặp nhau để hát chung và ôn lại những bài hát chánh của Hát ghẹo.

Khi đi hát hội, những người hát ngồi trên chiếu hoa hát đối suốt đêm với nhóm bạn “kết nghĩa”. Một đội nam đối đáp với một đội nữ, và thường phải hát có cặp, có đôi, hát đồng âm, với một giọng “dẫn” (giọng chánh), và một giọng “luồng” (giọng phụ).

Mỗi một cuộc thi hát gồm có 4 giai đoạn:

1. Hát mời ăn trầu bằng những câu hát Ví gọi là Ví Trầu

Các bạn hát nói năng rất lịch sự, gọi nhau bằng “quan anh” “quan chị” và xưng bằng em.

Em thưa với anh

Đôi nước anh em ta

Áo vải, dải gai, cổ kim chi nghĩa

Anh đưa chân ra tôn thần đã đoạn

Chị em nhà có cơi trầu đưa tay nâng lại hầu anh.

Hay là:

Em thưa với chị:

Miếng trầu ăn nặng bằng chì

Ăn thì ăn vậy lấy gì trả ơn .

2. Chặng thứ hai gồm những bài hát thuộc giọng “sổng”.

Những câu hát trong chặng này bày tỏ tâm sự, ước vọng về hạnh phúc lứa đôi. Qua hai chặng trên (giọng ví và giọng sổng), cách hát của Hát Ghẹo chỉ dừng lại ở đối lời chứ chưa có đối giọng. Cả hai bên nam nữ chỉ dựa trên một làn điệu duy nhứt mà thay đổi lời ca khác nhau.

3. Chặng thứ ba là phong phú nhứt với nhiều làn điệu chung quanh chủ đề tình yêu.

Chặng này được gọi là “sang giọng”. Thường thì bắt đầu bằng câu:

Tình tang tình, tích tang tích

Anh sang giọng nào cho em sang với.

Vậy là mở màn cho chặng ba với các loại “giọng vặt”

4. Chặng thứ tư là chặng chót gồm các bài Ví tiễn để hẹn gặp nhau lần tới hát với nhau.

Có khi luyến tiếc nhau hát cả mấy tiếng đồng hồ, bịn rịn không chịu chia tay và do đó, Hát tiễn kéo dài cho tới hừng đông.

Quan Họ

Hát Quan Họ là một sản phẩm âm nhạc dân gian đặc sắc nhứt của Việt Nam, có thể so sánh ngang với tranh dân gian làng Hồ (Hà Bắc), nghệ thuật xòe Thái (Tây Bắc), nghệ thuật khảm trai làng Ngô Xá (Hà Tây), và Cũng như Hát Ghẹo, Quan Họ là loại hát giao duyên có nhiều giọng điệu. Do đó đòi hỏi người hát phải có sự tập luyện công phu về sự sáng tạo giai điệu mới.

Những người đi hát thường tập hợp với nhau trong một tổ chức nhứt định, gọi là Quan Họ.

Quan Họ là một tập thể người gồm nam và nữ. Những tập thể như vậy bao giờ cũng ở cùng một làng. Số người chung một nhóm có từ 4 tới 7 người. Đứng đầu nhóm là một người đứng tuổi gọi là “Anh cả, Chị cả” hay còn gọi là “Ông già Quan Họ”, “Bà già Quan Họ”. Do đó trong các điệu hát Quan Họ người ta thường nghe những danh từ “anh hai, anh ba”, “chị hai, chị ba” do vai vế trong gia đình Quan họ.

Một làng ngày xưa ở vùng Bắc Ninh có thể có tới 10 bọn Quan Họ. Nhưng họ không có quyền kết bạn với nhau mà phải lựa một bọn ở một làng khác để kết nghĩa. Thường là một bọn nam của thôn làng này kết nghĩa với một bọn nữ của thôn làng khác. Cuộc kết nghĩa bắt đầu là cuộc gặp gỡ tại một cuộc hát hội. Bên trai vô quán mua trầu cau mời bên nữ. Nếu bên nữ nhận trầu tức là muốn nói là họ chưa có kết bạn với ai. Nếu hai bên hát tâm đầu ý hiệp ở một cuộc hát thì bọn trai mới đi tới nhà gia đình chị cả hay chị hai của bọn gái để xin phép cha mẹ của chị cả chị hai để xin kết bạn. Sau đó họ hát với nhau suốt cả đêm theo lề lối trình tự của một cuộc hát Quan họ.

Các tổ chức Quan Họ thường hát nhân dịp hội đình, chùa, đám cưới, lễ hội hàng năm. Khi đi hát, trai thì áo lụa, áo the, quần ống sớ, khăn xếp, ô lục soạn; gái thì nón thúng quai thao, mặc mớ bảy mớ ba, áo tứ thân nhiễu điều, nhiễu tía, yếm đào xẻ con nhạn, thắt lưng hoa đào, hoa lý, khuyên vàng và xà tích bạc.

Khi gặp nhau, họ ăn nói rất lịch sự khách sáo. Thí dụ khi mời ăn cơm thì nói:

“Hôm nay liền chị đã có lòng sang chơi bên đất nước nhà em, anh em nhà em chạy được mâm cơm thì đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa vừng, mâm đan bát đàn để xin mời đường quan họ dựng đũa lên chén, để anh em nhà em được thừa tiếp, ạ”

Trong bữa ăn, nếu bên nữ ăn nhỏ nhẹ thì bên nam mời khéo:

“Cơm hẩm ăn với rau dưa

Quan họ làm khách em chưa bằng lòng”

Các chị liền đáp lại như sau:

“Liền anh nói vậy chứ

Cơm trắng ăn với thịt gà

Tuy rằng ăn ít nhưng mà no lâu đấy ạ”

Khi muốn mời bên nữ hát, bên nam lên tiếng :

“Cung môn treo cửa mành mành

Gần mà chẳng được nghe canh đồng hồ”

Khi được bên trai mời hát, bên gái lại nhún mình:

“Các liền anh như ông trăng sáng khắp cả bàn dân thiên hạ, chúng em như bóng đèn dầu thấp thoáng trong nhà”.

Trong những ngày hội các Quan họ gặp nhau hát ở cửa đình (“Cây trúc xinh”) sườn đồi, bờ ao, dọc đường cái quan. Nhưng cũng có khi hát trên thuyền thúng ở ao, hồ vừa chèo thuyền vừa hát. Do đó có các bài “Ngồi tựa mạn thuyền”, “Chén son để cạnh mạn thuyền”, “Thuyền thúng”. Khi hát ở ngoài trời tất cả đều phải che dù cho phía nam và đội nón quai thao cho phía nữ.

Cuộc hát Quan Họ phải theo một trình tự cố định :

1. Mở đầu là hát giọng lề lối. Giọng xưa nhứt là Phong thu, Gửi thư, Thơ Đúm, Đàn Đúm. Ngày nay các Quan họ trẻ chỉ hát được các giọng Hừ Là, Là Rằng, Tôi Rằng, Bạn lan, Cây Gạo.

2. Sau đó tới giọng sổng và giọng vặt. Trong giọng vặt có đủ loại hát bắt nguồn từ các điệu dân ca, hát tuồng, chèo, chầu văn, v.v. Nhiều bài hát có quan hệ với bài lý (dân ca miền Trung và miền Nam) như “Lý con sáo”, “Lý Mười Thương”, “Lý cây đa”. Từ bài Lý cây đa nẩy sinh ra nhiều biến dạng “Lý Cây Đa”, “Chẻ tre đan nón”, “Trèo lên quán dốc”.

Trong dân ca Quan Họ tình yêu được bộc lộ một cách bỏng bẩy, khéo léo:

“Vợ anh như ngọc như ngà

Anh còn tình phụ nữ là thân em”

“Em đi đêm lại sợ Ông thầy

Em đi ban ngày sợ Mẹ mấy Cha

Yêu em, anh mở cửa ra”

“Ở nhà có mẹ cùng cha

Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người”

3. Có những bài quan họ mới được sáng tác gần đây. Bài “Ông Tơ” bắt nguồn từ bài “Nỗi dương sông” trong một vở tuồng sân khấu dân gian. Năm 1944, bài quan họ “Ca Đàn” được sáng tác dựa trên bài “Thu trên đảo Kinh châu” của Lê Thương, bài “Hát giã” dựa trên bản dân ca “Cò lả”. Bài “Trống Cơm” được sáng tác vào năm 1954 dựa trên một giai điệu xưa

4. Sau cùng là các giọng Giã bạn, tiễn bạn kéo dài cho tới sáng như trong hát Ghẹo.

Trống Quân

Trống Quân là một hình thức hát giao duyên rất phổ biến từ Thanh Hóa trở ra. Tục truyền rằng hát Trống Quân xuất hiện từ thời nhà Trần vào thời nhân dân ta chống giặc Nguyên. Binh sĩ chia làm hai bên vừa xướng vừa đối trong khi gõ vào trống đánh thành nhịp điệu.

Ông Phan Kế Bính, trong quyển Việt Nam phong tục, cho rằng hát Trống Quân có từ thời Nguyễn Huệ Binh lính giả thành trai gái để hát đối giải sầu trong khi hành quân đánh nhà Thanh.

Lời hát đối rất tình tứ.

Trai hỏi:

“Cái gì mà nó thấp cái gì cao

Cái gì mà sáng tỏ hơn sao trên trời.

Cái gì mà anh giải cho em ngồi

Đêm nằm thời mơ tưởng dạo chơi vườn đào.

Cái gì mà nó sắc hơn dao

Cái gì mơn mởn lòng đào thì anh bảo em.”

Gái trả lời:

“Anh hỏi thì em xin thưa

Thưa rằng thời đất thấp giời cao

Ngọn đèn thời sáng tỏ hơn sao trên giời

Chiếu hoa thời anh giải cho em ngồi

Đêm nằm thời mơ tưởng dạo chơi vườn đào

Nước trong thời nó sắc hơn dao

Trứng gà thời mơn mởn, lòng đào thì em bảo anh.”

Một số hát hội khác

Ngoài ra còn nhiều loại hát giao duyên như Hát Ghẹo Thanh Hóa, Hát Ghẹo Long Xuyên, Trống Quân Phú Thọ, Trống Quân Đức Bắc, Trống Quân Hữu Bổ, Hát Đúm Hải Dương.

Hát đò đưa thuộc huyện Thụy Anh, Thái Bình chỉ hát lúc đò đi trên sông, chứ không hát khi đò cặp bến. Có hai loại hát đò đưa: hát đường trường được hát lúc đông thuyền bè cùng đi trên sông, trai gái hát đối đáp tỏ tình với nhau, và hát bỏ lửng là hát một mình mang tính chất kể chuyện trong các sinh hoạt làm việc có loại hát Ví và hát Giặm rất thịnh hành ở miền Bắc nhứt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Loại hát ví được đổi thành những tên khác nhau theo sinh hoạt: hát phường vải (Nghệ An), hát phường cấy, hát phường buôn, hát chặt củi, hát ví đò đưa, hát phường chiếu, hát phường vá lưới, hát chăn trâu, vv.. Hát Phường Vải ở Nghệ An chú trọng về thi thố văn chương. Hát phường cấy thịnh hành hơn. Mỗi ngành làm việc đều dùng cách hát đối đáp tình tứ để vơi bớt cơn mệt và chọc phá cho thoải mái.

Hò, Lý miền Trung và Nam

Miền Trung và miền Nam có nhiều điệu Lý, Hò thuộc loại hát giao duyên. Hò Sông Mã, Hò Mái Nhì, Hò Mái Đẩy trên sông Hương, Hò Giã gạo, các điệu Lý mười thương, lý con sáo ở miền Trung.

Trong Nam, hò rất phong phú và đa dạng: Hò Đồng Tháp, Hò Cần Thơ, hò Bạc liêu, hò Gò công, hò Lơ, hò cấy,v.v.

Khi đi dạo qua vùng đồng bằng sông Cửu Long, ta thường nghe những câu chọc ghẹo rất tình tứ theo loại Hò Đồng Tháp. Một cậu trai bắt giọng:

“Ơ à ơi, ời à.

Ơ Øà. Gặp mặt em đây không biết chừng nào anh gặp nữa này bạn chung tình,

Ôi em có phân điều chi thì phân một bữa cho tận a tình à.

Ơ à.Kẽo mai sau đây anh về nơi chốn cũ rồi thương bóng nhớ a à hình

Mà tội nghiệp cho thân anh, ơ á à..”

Một cô gái trả lời:

“ Ơ a øà. Ngó lên trời thì trời trong mây trắng

Dòm xuống nước thì nước trắng lại trong.

Nhỏ như ai chứ nhỏ như em đây mà chắc dạ ơ à.

Bền lòng ơ à

Ơ à.. Lỡ duyên thời em chịu lỡ chớ đóng cửa loan phòng ờ ơ à.. Em chờ anh, ơ à..”

Dân miền Nam ăn nói cục mịch, biết sao nói vậy, không màu mè hoa lá, không chải chuốt văn chương. Họ có thể hò như sau:

“ Hò ơ à..

Cô kia má đỏ hồng hồng

Xin cô cho biết (cô) có chồng hay chưa”

Nếu cô bị chọc thấy anh chàng đó dễ thương thì trả lời

“Hò ơ à

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ trước giớ biết vào tay ai à”

Tại miền Nam, cách tán tỉnh rất trực tiếp, không màu mè trong loại hát đối đáp trữ tình.

Một chàng trai có cách chọc gái mạnh bạo như thế này:

“Hờ ơ à.

Thấy em hồi nhỏ cứt mũi chảy lòng thòng

Bây giờ em bới tóc bỏ hai ba vòng anh thương”

Cô gái có lúc cũng la lớn:

“Đứng xa kêu bớ anh Mười

Không thương anh nói chớ đừng cười đẩy đưa”

Hay

“Thương không thương em hổng có cần

Trầm hương khó kiếm chớ ổi bần thiếu chi”

Hò, Lý, hát hội với Quan Họ hát ghẹo, Trống Quân, hát phường vải, hát xoan, cò lả, vv.. rất gần với chúng ta qua lời ca đơn giản, diễn đạt tất cả hình ảnh sống động của xã hội nông thôn Việt Nam và mỗi người hát là một nhà thơ, có khi là một nhà sáng tác nhạc.

Đề tài tình yêu được khai thác từ các loại hát làm việc, hát giao duyên, giúp cho trai gái có dịp bày tỏ tấm lòng của mình. Trong phạm vi của bài viết ngắn này, tôi chỉ muốn đưa ra một vài khía cạnh đặc thù của loại hát trữ tình trong nhạc dân ca Việt Nam của dân tộc Kinh để giúp cho các bạn trẻ có một cái nhìn tổng quát về kho tàng dân nhạc và từ đó tự khám phá thêm những khía cạnh khác của vườn hoa âm nhạc đa sắc, đa âm của nhạc truyền thống Việt Nam.

Sách tham khảo

Lư Nhất Vũ, Lê Giang: “Dân ca Bến Tre”, NXB Ty Văn Hóa Thông Tin Bến Tre, 1981

Lư Nhất Vũ, Lê Giang: “Tìm hiểu dân ca Nam Bộ”, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1983.

Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa: “Dân ca Kiên Giang”, NXB Sở Văn Hóa Thông tin Kiên Giang, 1985

Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa, Thạch An: “Dân ca Cửu Long”, NXB Sở Văn Hóa Thông Tin Cữu Long, 1986.

Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa, Minh Luân: “Dân ca Hậu Giang”, NXB Sở Văn Hóa Thông Tin Hậu Giang, 1986.

Nguyễn Văn Huyên: “Les Chants alternés des garcons et des filles d’Annam”, NXB Paul Geuthner, Paris, 1934.

Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc: “Dân ca Quan Họ Bắc Ninh”, NXB Văn Hóa, Hanoi, 1972.

Nguyễn Chung Anh: “Hát Ví Nghệ Tĩnh”, NXB Sử Địa, Hanoi, 1958.

Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao: “Hát Giặm Nghệ Tĩnh”, tập 1 và 2, NXB Sử học, Hanoi, 1961.

Nhóm Lam Sơn: “Dân ca Thanh Hóa”, NXB Văn Học, Hanoi, 1965.

Trần Quang Hải: “Âm nhạc Việt Nam biên khảo”, NXB Bắc Đẩu, Paris, 1989.

Trần Việt Ngữ, Thành Duy: “Dân ca Bình Trị Thiên”, NXB Văn Học, Hà nội, 1967.

Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, Hoàng Chương: “ Dân ca miền Nam Trung Bộ”, tập 1 và 2, NXB Văn Hóa, Hà nội, 1963.

Tú Ngọc: “Hát Xoan” (dân ca Phú Thọ), Vụ Nghệ Thuật, Bộ Văn Hóa, 1958 (tài liệu in roneo)

Tú Ngọc: “Bước đầu tìm hiểu Hát Xoan Vĩnh Phú”, NXB Ty Văn Hóa Thông Tin Vĩnh Phú, 1981

Tú Ngọc: “Dân ca Người Việt”, NXB Nhà Xuất Bản Âm Nhạc, Hà nội, 1994.

Vũ Ngọc Phan: “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, tái bản lần thứ 7, NXB Khoa học xã hội, Hanoi, 1971.

Tạp chí âm nhạc

Tạp chí Âm Nhạc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hà nội, từ 1978 tới 2000

Tạp chí nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, Bộ Văn Hóa Thông tin, Hà nội, từ1973 tới 1990.

Dân ca đồng bằng Bắc bộ, NXB Âm Nhạc, Hà nội (Ngọc Oánh ghi, gồm 14 bài)

Dân ca Quan Họ Bắc Ninh, NXB Văn Hóa, Ha ønội, 1974 (Tú Ngọc ghi, 8 bài)

Dân ca Trung du, NXB Âm Nhạc, hai tập, Hà nội (Ngọc Oánh ghi, 19 bài)

Dân ca Nam Bộ, NXB Văn Nghệ TP HCM, 1983

Dân ca Thanh Nghệ Tĩnh, NXB Âm Nhạc, Hà nội (Lê Quang Nghệ ghi, 20 bài)

Quan Họ, NXB Mỹ Thuật và Âm Nhạc, Hà nội, (Nguyễn Viêm và Ngọc Oánh ghi, 60 bài / 3 tập), 1960

Dân ca Bình Trị Thiên, NXB Âm Nhạc, Hà nội (Nguyễn Viêm ghi, 32 bài)

Dân ca Nam bộ, NXB Mỹ Thuật Âm Nhạc, Hà nội (Trần Kiết Tường ghi, 29 bài)

Hát Xoan, NXB Âm Nhạc, Ha ønội (Ngọc Oánh và Tú Ngọc ghi, 9 bài)

Hát Ghẹo, NXB Văn Hoá Nghệ Thuật, Hà nội (Ngọc Oánh ghi, 15 bài)

Hát Ghẹo Vĩnh Phú, NXB Văn Hóa, Hà nội, 1974 (Nguyễn Đăng Hòe ghi, 10 bài)

Hò Sông Mã, NXB Văn Hóa Nghệ thuật, Hànội (Lê Quang Nghệ ghi, 9 bài)

18 tập Dân ca phổ biến, NXB Mỹ Thuật Âm Nhạc, Hà Nội, 1960-61 (nhiều người ghi)

5 tập Dân ca Việt Nam, NXB Mỹ thuật Âm Nhạc, Hà nội, 1971-1972 (nhiều người ghi)

nguồn: honque.net

Tác giả Trần Quang Hải

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI : VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH, VIETNAM


VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH

“Trót say câu ví đò đưa/

Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời”…

           Bao đời nay, làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh luôn không thể thiếu trong đời sống của người dân xứ Nghệ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Ca hát dân ca xứ Nghệ là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam… Đặc biệt, cứ mỗi độ Xuân về, làn điệu dân ca xứ Nghệ ân tình lại vang lên khắp nơi nơi trên quê hương Việt Nam và cả khắp cộng đồng người Việt đang sinh sống ở nước ngoài…

 

Dòng sông La

Hát dặm Nghệ Tĩnh

Ai đã từng nghe dân ca Nghệ Tĩnh thì chắc hẳn đều có chung một ấn tượng, đó là ca từ rất bình dị và đậm chất tiếng nói địa phương nhưng lại thể hiện được một “cá tính Nghệ Tĩnh” mà phải ở lâu, ở gần người Nghệ Tĩnh, gần người con gái Nghệ Tĩnh mới thấm, mới ngấm được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng của “cá tính xứ Nghệ”, thô mà tinh, lý đấy nhưng tình đấy.

Quê hương ví dặm

Tiếng dặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào nột chỗ thiếu… xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba, bốn trăm năm. Về nội dung, có nhiều bài hát dặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến. Về hình thức, hát dặm là một thể văn vần đặc biệt. Mở đầu bài hát dặm thường là hai câu lục bát, tiếp theo là một loạt câu 5 chữ, cũng có những bài không tuân theo quy chuẩn đó mà mở đầu ngay bằng câu 5 chữ. Phần lớn các bài hát dặm đều gồm cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lấy lại một ý, điệp cả về ý lẫn lời. Ví dụ:

Tôi lấy chân khóa lại
Tôi lấy bản khóa lại

Hay:
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách
”.

Bốn đời hát ví giặm trong một gia đình ở Thanh Chương – Nghệ An

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát nó làm nổi ý của câu hát và của cả bài. Hát giặm có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung và hình thức đều được trau chuốt. Hát giặm Nghệ Tĩnh không phải hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được dân ưa thích và phổ biến rộng rãi.

Ví giặm đã ngấm vào máu thịt của con người nơi đây 

Hát ví Nghệ Tĩnh

Hát ví Nghệ Tĩnh xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn.

Bến đò, con sông… vằng vặc tuổi thơ của con người xứ Nghệ

Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.

“Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng”

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng tiếng gọi con tim.

Đồng quê xứ Nghệ

Dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu. Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ Tĩnh.

Chỉ tại “Dòng sông đa tình”

Trong hát ví có chặng hát đố. Hát đố là theo cách gọi dân gian, còn hát đối là của các nhà nho. Chặng này là chặng quan trọng nhất, chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa sao cho thật chuẩn xác, thật nhanh. Khi đến độ hăng say, họ còn mang cả tri thức trong sách vở, kinh thư vào trong câu hát, lúc này không phải hát đối nữa mà là thi thố về tài năng, về trí tuệ:

“Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”

“Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay”.

Sự tham gia của các nhà nho đã làm cho điệu hát ví dân gian trở màu mè hơn, bác học hơn, hàm súc hơn. Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những “nghệ sỹ” hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Ân tình xứ Nghệ

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải… Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả. Đặc biệt, hát phường vải chỉ có ở xứ Nghệ.

Bảo tồn những nét đẹp xưa

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Nhưng trước sự du nhập của nhiều nền văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập thì có một thực tế đáng buồn là dân ca Nghệ Tĩnh đang dần bị mai một. Các nghệ nhân dân gian bây giờ hiếm như là mùa thu, tuổi các cụ cũng xế chiều. Hiện nay các nghệ nhân đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc. Tuy nhiên những tâm huyết đó chưa được đền đáp xứng đáng. Trẻ con ngày trước được nuôi lớn bằng những khúc hát dân ca trữ tình sâu lắng, đầy tính nhân văn. Ngày nay người mẹ ru con không thể thuộc lấy một câu hát dân ca. lớp trẻ không còn quan tâm nhiều đến dòng nhạc truyền thống. Có thể nói thời nào thì có nghệ thuật của thời đó. Vì vậy, dân ca muốn sống được chỉ còn cách duy nhất phải kịp thời cải tiến, nhưng cải tiến không phải là gieo vừng ra đỗ mà làm mất đi cái tinh túy của ông cha.

Nơi ta ngồi ngóng mẹ

Có một “kênh” giúp bảo lưu, giữ gìn và phát huy vốn dân ca xứ Nghệ tuy âm thầm nhưng diễn ra liên tục, có chiều sâu học thuật. Đấy là khá nhiều đầu sách giá trị của các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung, Dương Hồng Từ, Thanh Lưu… bàn về hát ví phường vải, ví sông Lam, hát dặm Thạch Hà, về dân ca Nghệ – Tĩnh. Sự kiện thành lập Trung tâm Bảo tồn và phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ với tư cách là một cơ quan nghiên cứu khoa học, lưu trữ đã và sẽ đóng một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn di sản dân ca – ví dặm Nghệ – Tĩnh.

Nơi tạo cảm hứng cho những câu ví giặm ân tình

Hy vọng, một ngày không xa, dân ca xứ Nghệ sẽ được tôn vinh.

Bên con sông quê, ví giặm đã ngấm sâu trong lòng mỗi người

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI

GS TSKH ĐỖ THỊ KIM LIÊN : Hát Giặm Nghệ Tĩnh – Một thể hát dân ca đậm bản sắc văn hoá xứ Nghệ


 

Hát Giặm Nghệ Tĩnh – Một thể hát dân ca đậm bản sắc văn hoá xứ Nghệ
Ngày đăng tin : 6/24/2011
Cùng với thể Hát ví, thể Hát giặm được xem là thể loại dân ca “đặc sản” của Nghệ Tĩnh, nghĩa là chúng chỉ tồn tại ở địa phương Nghệ Tĩnh mà không có ở bất kì một địa phương nào khác. Chữ giặm gần với chữ giắm (phân biệt với lối hát “dặm” ở Hà Nam theo nghĩa là dặm đường, vừa đi vừa hát trong hội lễ mừng Lí Thường Kiệt – như quan niệm của một số người). Theo các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xứ Nghệ giải thích, sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất là một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giắm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại, như bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà. Thể Hát giặm chủ yếu là 5 chữ.
1. Đặt vấn đề

Cùng với thể Hát ví, thể Hát giặm được xem là thể loại dân ca “đặc sản” của Nghệ Tĩnh, nghĩa là chúng chỉ tồn tại ở địa phương Nghệ Tĩnh mà không có ở bất kì một địa phương nào khác. Chữ giặm gần với chữ giắm (phân biệt với lối hát “dặm” ở Hà Nam theo nghĩa là dặm đường, vừa đi vừa hát trong hội lễ mừng Lí Thường Kiệt – như quan niệm của một số người). Theo các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xứ Nghệ giải thích, sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất là một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giắm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại, như bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà. Thể Hát giặm chủ yếu là 5 chữ. Trong một bài, số câu 4, 6, 7, 8 chữ cũng có nhưng những câu phá cách này không nhiều. Ví dụ:

       Mời các vị dạo chơi tỉnh nhà

Bây giờ mùa đó dón rồi (6 chữ)

Xin mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà (8 chữ)

Quỳnh Lưu đó không xa (5 chữ)

Mời các ngài đến thử 

Lụa sồi không mấy trự (đồng)

Cứ may mặc tự nhiên

Chẳng ai dám hỏi tiền,

May một khi mười bộ

May một lần chục bộ (2.tr.22)

 ….

Trong bài này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu đặc điểm của câu giặm (câu lặp lại) trong thể Hát giặm Nghệ Tĩnh. Trong hai tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, do Ninh Viết Giao và Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, chúng tôi thống kê được: ở tập 1, trong tổng số 95 bài có 302 câu lặp lại, trong tập 2, trong tổng số 72 bài có 201 câu lặp.

2. Phân biệt hiện tượng lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh với phép điệp ngữ trong Tu từ học

Theo Đinh Trọng Lạc, điệp ngữ (còn gọi: lặp) là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe (5, tr.275). Điệp ngữ có cơ sở tâm lí: một vật kích thích, xuất hiện nhiều lần sẽ làm người ta chú ý. Điệp ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các phạm vi của lời nói. Trong giới hạn của một phát ngôn, điệp ngữ được dùng như một phương tiện tăng cường lô gích cảm xúc cái nghĩa của phát ngôn đó. Ví dụ:

– Ứ, ừ, bà không chết! Bà không được chết.

– Ừ, bà không chết. Bà chết thế nào được. Bà chết thì ai nuôi dạy cháu bà. Khi nào cháu lớn, học hết lớp 10, cháu đi Liên Xô học đại học, bà mới chết.

– Ứ, ừ, lúc ấy bà cũng không được chết cơ!   (Ma Văn Kháng)

Ở ví dụ trên, từ chết được lặp đi lặp lại 7 lần ở 7 câu nhằm nhấn mạnh điều mà cả người nói và người nghe cùng hướng đến, cùng mong mỏi là bà không chết. Qua sự lặp lại đó, tác giả gián tiếp nói đến tình yêu thương, quí mến lẫn nhau giữa hai bà cháu.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của tác giả Nguyễn Như Ý thì phép lặp có ba cách hiểu:

Việc tăng gấp đôi độ dài của âm tố.

Việc tái lập lại một chữ cái trên văn tự để biểu thị tính chất dài của nguyên âm.

Lối nhắc lại một từ hoặc một ngữ để làm rừ ý nghĩa cần nhấn mạnh. Ví dụ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành thành công, đại thành công. (7, tr.209)

Cách quan niệm phép lặp của Nguyễn Như Ý cũng trùng với cách quan niệm của Đinh Trọng Lạc ở nhóm nghĩa thứ ba.

So sánh cách hiểu phép lặp (hay điệp ngữ) ở hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Như í, chúng tôi thấy câu lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh có điểm riêng, khác với phép lặp trong tu từ học ở những điểm sau:

Về số lượng, trong Hát giặm Nghệ Tĩnh chỉ có hiện tượng lặp ở hai câu đứng cạnh nhau, còn phép lặp trong tu từ học có thể tự do: trong một câu, lặp hai câu, ba câu hoặc lặp cách quãng.

Về tính chất lặp: trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, lặp lại câu đi trước ở câu 2, nhất thiết phải có một từ nào đó biến đổi khác với từ cùng vị trí với câu trước. Còn ở phép lặp trong tu từ học lại không đòi hỏi quy tắc này.

Ví dụ, ở hai câu Hát giặm tuy lặp lại nhưng vẫn có từ ông/ bà; từ ra/ tận không lặp.

Tui giận ông hàng cá/ Tui giận bà hàng cá. (2, tr.193)

Ngọt ra đằng sau ót/ Ngọt tận đằng sau ót. (2, tr. 23)

Trong bài Khi mẹ vắng nhà,  tỏc giả Trần Đăng Khoa có sử dụng phép lặp ở 5 dòng thơ (lặp ngữ) hoàn toàn giống nhau:

– Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai

Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo

Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm

Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ trong vườn

Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng. (4, tr.35)

Chính đặc điểm trên làm nên đặc trưng riêng cho thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh. Có thể nói, trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, một hoặc hai từ ở câu thứ hai tuy không lặp lại hoàn toàn từ ở câu đi trước nhưng luôn bị chi phối bởi một số nhân tố nhất định. Sau đây chúng tôi đi sâu phân tích, mô tả những nhân tố chi phối đó.

3. Sự khác biệt giữa từ (âm tiết) của câu lặp so với từ (âm tiết) của câu đi trước trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

3.1. Về thanh điệu của từ (âm tiết) ở câu lặp so với câu đứng trước

Câu lặp thứ hai luôn chứa một từ nào đó, ở vị trớ giữa câu (âm tiết thứ hai hoặc thứ ba) hoặc đứng cuối câu (âm tiết thứ năm) có sự biến đổi về thanh điệu. Ở hai dòng thơ, sự biến đổi theo quy tắc như sau: Câu đứng trước chứa từ (hay âm tiết) có thanh điệu thuộc âm vực cao, từ (hoặc âm tiết) ở câu lặp luôn có thanh điệu thuộc âm vực thấp hơn. Chúng thể hiện qua 4 dạng:

Dạng  1: thanh không –> thanh huyền. Dạng này chiếm tỷ lệ cao nhất, gồm 319/511, chiếm  62,4 %.

 

Từ thuộc

  âm vực

    Từ chứa thanh                   Ví dụ
     Cao Thanh không Quế Quỳ Châu tốt nhất
     thấp Thanh huyền Quế Phủ Quỳ tốt nhất

 

Ví dụ: – Quế Quỳ Châu tốt nhất / Quế Phủ Quỳ tốt nhất. (2, tr.26)

– May một khi mười bộ / May một lần chục bộ. (2, tr.26)

– Tới Cồn Dinh ta nghỉ /Tới Cồn Đà ta nghỉ. (2, tr.130)

Dạng 2: Thanh không –> thanh sắc. Dạng này chiếm tỷ lệ cao thứ hai, gồm 112/ 511, chiếm  21,9 %.

 

     Từ thuộc

      âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao Thanh không  Trăm cơn chi cũng khô

 

         Thấp Thanh sắc    Ngàn cơn chi cũng héo.

 

Ví dụ: – Trăm cơn chi cũng khô/ Ngàn cơn chi cũng héo (2, tr. 29)

– Trăm cơn chi cũng khô/ Ngàn cơn chi cũng đốt (2, tr. 30)

– Nay o nọ dì kia/ Mốt o ni dì khác (2, tr.70)

– Nước sông Cái chảy sang/ Nước thủy triều lên xuống (2, tr. 132)

Dạng 3 : Thanh không –> thanh nặng. Dạng này chiếm tỷ lệ cao thứ ba, gồm 49/511, chiếm tủy lệ 9,5 %.

 

     Từ thuộc

      âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao – Thanh không/

– thanh huyền

 – Em mừng riêng trong tâm

 

         Thấp – Thanh nặng   –  Em mừng riêng trong dạ.

 

 

Ví dụ: Thanh không –> thanh nặng

– Không kể sớm với trưa/ Không kể hàng với họ (2, tr.123)

– Trách chi mà không xinh/ Trách chi mà không lạ. (2, tr.143)

– Nước chè Gay vàng rộm/ Nước chợ Gay vàng rộm (2, tr.23)

Dạng 4 : Thanh huyền –> thanh nặng. Dạng này chiếm tỷ lệ thấp nhất, tỷ lệ là 31/ 511 từ, chiếm tỷ lệ là 6,09 %.

 

     Từ thuộc

      Âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao – thanh huyền    – Nước chè Gay vàng rộm
         Thấp – Thanh nặng     – Nước chợ Gay vàng rộm

 

Ví dụ: Thanh huyền –> thanh nặng

– Đem của công về làm giàu/ Đem của dân về sinh lợi (2, tr.176)

– Mất cả ruộng bàu/ Mất cả ruộng cạn. (2, tr.46)

– Nước chè Gay vàng rộm/ Nước chợ Gay vàng rộm (2, tr.23)

3.2. Về đặc điểm từ loại và ngữ nghĩa của  từ ở câu lặp so với từ của câu đứng trước 

Câu lặp và câu đứng trước không giống nhau hoàn toàn như phép điệp từ ngữ trong văn học viết, mà chúng luôn có một từ nào đó biến đổi về vỏ ngữ âm. Từ biến đổi về âm thanh này phải cùng từ loại (cùng đại từ, cùng danh từ, cùng tính từ, cùng động từ, cùng số từ) với từ của câu đứng trước. Trong tổng số 511 câu giặm, hiện tượng cùng phạm trù từ loại này xảy ra hoàn toàn. Chẳng hạn: Ông mô rồi cũng có/ Bà mô rồi cũng có (2, tr.23) đều cùng từ loại danh từ; Phúc nhà ta biết mấy/ Phúc nhà mình biết mấy (2, tr. 36) cùng từ loại đại từ; Năm ba tiền cũng được/Vài ba hào cũng được (2, tr.190) cùng từ loại số từ; Ta khoan thai chưa vội/ Ta dần dà chưa vội (2, tr.126) cùng từ loại tính từ.

Bên cạnh sự giống nhau về từ loại, hai từ ở câu lặp và câu đứng trước lại có những điểm khác nhau như sau:

a) Hai từ khác âm nhưng cùng trường nghĩa

a1) Sử dụng đại từ

* Sử dụng đại từ nhân xưng

Đại từ nhân xưng là những từ xưng hô giữa người và người trong hoạt động giao tiếp. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi thường gặp nhất là các cặp từ: ta/ mình; người ta/ mình; ai/ người; kẻ/ người, ta/ bạn…

– Kẻ trôi lợn trôi bò/ Người có chi trôi hết. (2, tr.35)

– Kẻ chở lúa chở ngài/ Người chở tiền chở bạc. (2, tr.36)

* Sử dụng đại từ chỉ định

Đại từ chỉ định là những từ thường đi kèm phía sau danh từ để hạn định ý nghĩa không gian, thời gian gần hay xa so với người nói: lúc nãy/ lúc ni; mụ/nào; ni/ này; nớ/ ni; bữa ni/ bữa rày…

– Trâu mi bữa ni tau lấy/ Bò mi bữa rày tau lấy. (2, tr. 37)

– Thầy bỏ tớ lúc ni/ Vợ bỏ chồng lúc khác . (2, tr.72)

a2) Sử dụng danh từ

* Danh từ chỉ người

Đây là những danh từ chỉ người, thuộc tiểu nhóm danh từ tổng hợp, có hai âm tiết, mang nghĩa số nhiều.

– Van anh em sắp bó/ Van bạn bầu sắp bó. (2, tr.79)

– Anh em ta chịu cả/ Chị em mình chịu cả (2, tr.79)

* Danh từ cùng trường nghĩa, gốc Hỏa

– Anh mới cam trong tâm/ Anh mới đành trong dạ. (2, tr.157)

– Em mừng riêng trong tâm/ Em mới đành trong dạ. (2, tr.111)

a3. Sử dụng số từ  (đi kèm danh từ)

Số từ là những từ mang nghĩa số lượng. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, số từ thường xuất hiện thành cặp sóng đôi với nghĩa biểu trưng: năm… mười, mười…trăm, trăm…vạn, năm ba…vài ba… 

– Năm ngày mưa một trộ/ Mười ngày mưa một trộ. (2, tr.30)

– Mười người nhất tâm/ Trăm người như một. (2, tr.119).

b) Hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa là một nghệ thuật biến cải (vỏ ngữ âm của từ) hết sức độc đáo, không gây sự nhàm chán, tạo tính mới mẻ đối với người nghe. Qua khảo sát hai tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi bắt gặp hiện tượng đồng nghĩa xảy ra chủ yếu là 5 từ loại: động từ, danh từ, đại từ, số từ, phụ từ. 

b1. Đồng nghĩa động từ

Đây là nhóm đồng nghĩa xuất hiện với tần số nhiều nhất so với các từ loại khác trong cùng nhóm đồng nghĩa. Qua thống kê, chúng tôi thường gặp nhất là đồng nghĩa từ địa phương với từ toàn dân: nom/ chộ; thấy/ chộ; mắc/ nợ hoặc cả hai đều là từ địa phương.

*Sau đây là những cặp từ đồng nghĩa địa phương và toàn dân:

– Nom bốn phương vui vẻ/ Nhìn bốn phương vui vẻ.(2, tr.115)

– Không mắc ai nửa chữ/ Không nợ ai nửa đồng (2, tr.165)

*Từ địa phương và từ địa phương:

– Nom rừng sâu xanh ngắt/ Chộ mây phủ trong ngoài. (tr.114)

* Đồng nghĩa ngữ cảnh: qua/ về; giao/ nạp; co khu/ co giò; khuyên / dặn…

Đây là trường hợp hai từ vốn không đồng nghĩa nhưng nhờ ngữ cảnh, chúng trở thành đồng nghĩa (có thể khác nhau về sắc thái). Chúng tôi gọi những hiện tượng này là đồng nghĩa ngữ cảnh lâm thời[1][*]. Chẳng hạn: Giao và nạp; qua và về; khuyên và dặn.

– Giao cho bà thủ quỹ/ Nạp cho bà thủ quĩ. (2, tr.188)

– Qua Thanh Chương cũng tiện/ Về Thanh Chương cũng tiện (2, tr.24)

– Ghé qua chơi một tỉ/ Ghé về chơi một tỉ (2, tr.25)

– Ta khuyên mình đừng vội/ Ta dặn mình đừng vội (2, tr.130)

b2. Đồng nghĩa danh từ

* Đồng nghĩa danh từ chỉ người

Cặp danh từ chỉ vợ chồng cũng được sử dụng hết sức tài tình:

– Thuận ông thuận mụ/ Thuận vợ thuận chồng. (2, tr.161)

– Ném quân Tây cho chết/ Ném quân thù cho chết (2, tr.185)

* Đồng nghĩa danh từ chỉ đấng tối cao (theo văn hóa của người Việt)

– Sổ trời xanh đó định/ Sổ Nam Tào đó định (tr.119).

* Đồng nghĩa danh từ chỉ thời gian (nhờ ngữ cảnh)

– Biết khi nào cho biết/ Biết ngày nào cho biết. (2, tr117)

– May một khi mười bộ/ May một lần chục bộ (2. tr.22)

b3. Đồng nghĩa đại từ

Hai đại từ đồng nghĩa

Hai câu thường có hai từ đồng nghĩa: đồng nghĩa giữa từ địa phương và từ toàn dân: chi/gì; mô/ nào …

– Đánh trận mô cũng được/ Đánh trận nào cũng được (2, tr.189)

– Mi đến mần chi đó nữa/ Mi đến mần gì đó nữa. (2, tr.37)

Có những từ đặt riêng thì không đồng nghĩa nhưng nhờ ngữ cảnh sử dụng, chúng lại trở nên đồng nghĩa. Nhờ đó, nó tạo nên nét phong cách riêng của Hát giặm Nghệ Tĩnh. Chẳng hạn từ ta và từ mình trong câu: Đưa anh em ta đi khẩn/ Đưa anh em mình đi khẩn. (2, tr.183)

b4. Đồng nghĩa số từ

Thuộc nhóm này, chúng ta chỉ gặp cặp số từ chục/ mười

– Xin biếu không chục hũ/ Xin biếu ngài mươi hũ (2, tr.23)

– May một khi mười bộ/ May một lần chục bộ (2, tr.21)

b5. Đồng nghĩa tính từ

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, hiện tượng đồng nghĩa tính từ không nhiều

– Kể còn lâu chưa hết/ Kể còn dài chưa hết (2, tr.129)

– Ta khoan thai chưa vội/ Ta dần dà chưa vội. (2, tr. 126)

b6. Hai phụ từ đồng nghĩa

Phụ từ là những từ không mang nghĩa từ vựng mà thường đi kèm trước (hoặc sau động từ, tính từ) để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ và tính từ đó. Chúng gồm những cặp từ như: nỏ/ không; nỏ/mụ; đừng/ chớ, ra/ tận… Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, cũng như đại từ, ta gặp hiện tượng đồng nghĩa phụ từ giữa từ toàn dân và từ địa phương.

 – Đừng nghe mồm thiên hạ/ Chớ nghe mồm thiên hạ. (2, tr.167)

 – Không chi mạnh bằng gạo/ Nỏ chi bạo bằng tiền. 2, (tr.111).

c) Đảo trật tự các thành tố trong 1 từ ghộp; hay đảo các từ trong cụm từ

*Trong từ

–  Ai cười chê cũng chớ/ Ai chê cười cũng chớ (2, tr.154)

* Trong cụm

 Lờn đình trung đứng nhởi/ Hội giữa đình đứng nhởi. (2, tr.130)

– Viết bức thư gửi lại/ Bức thư tình gửi lại. (2, tr.127)

d. Sử dụng từ đơn ở hai vế mà hai từ đó, nếu gộp lại thì thành một từ gộp

– Ở cho được mùa/ Ở cho được màng. (2, tr.42) –> Mùa màng

– Kiếm nát trong bụi cơn (cây)/ Kiếm nhàu trong bụi cỏ (2, tr.336)–> nhàu nát; cây cỏ

đ. Biến cải hai yếu tố trong kết cấu thành ngữ

– Nỗi nguồn ân bể ái/ Nguyền bể cạn bia mòn (2, tr.85)

Biến cải từ: nguồn ân ái/ sông cạn đá mòn

e. Sử dụng cặp từ trái nghĩa

Nhóm này ít xuất hiện hơn cả. 

*Danh từ thời gian trái nghĩa

– Ngày núi khe làm bạn/ Đêm vượn hót làm vui. (2, tr.115)

*Danh từ trừu tượng

– Lắm điều vui, điều tủi/ Lắm điều buồn, điều tủi. (2. tr.264)

* Danh từ chỉ người trái nghĩa: Tui giận ông hàng cỏ/ Tui giận bà hàng cỏ (2, tr.193)

4. Vai trò của việc sử dụng từ biến đổi ở câu giặm trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

4.1. Tạo sự mới mẻ đối với người nghe

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, câu giặm có vai trò nhấn mạnh giống phép lặp trong tu từ học (điệp ngữ, điệp cú). Tuy nhiên, ở Hát giặm Nghệ Tĩnh luôn có ít nhất là một từ (ở câu giặm) biến đổi khác so với từ cùng vị trí ở câu đứng trước nhằm mục đích nhấn mạnh tạo sự mới mẻ với người nghe, không đơn điệu, nhàm chán. Chúng làm nên đặc trưng riêng, đậm bản sắc của người Nghệ Tĩnh. Ví dụ: Kẻ thua năm ba quan/ Người thua năm bảy chục (2, tr.165) biến đổi từ ở vị trí thứ nhất; Ta lựa đi một trận/ Ta cũng lựa một trận (2, tr.183) biến đổi từ ở vị trí thứ hai; Tài chi ai chịu nổi/ Tài chi mình chịu nổi (2, tr.193) biến đổi từ ở vị trí thứ ba; Đưa anh em ta đi khẩn/ Đưa anh em mình đi khẩn (2, tr.187) biến đổi ở vị trí thứ tư; Khen cho bà khéo mua/ Khen cho bà khéo chọn (2, tr.193) ở vị trí thứ năm.

4.2. Tạo cấu trúc cân đối nhịp nhàng, hài hòa

Con người Nghệ Tĩnh nói riêng và người Việt nói chung ưa sử dụng cấu trúc câu theo lối nhịp nhàng, hài hòa, cân đối. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng câu lặp luôn chứa một hoặc hai từ có sự biến cải đi so với từ ngữ cùng vị trí ở câu đi trước được tuân theo sự đối ứng một cách khá nghiêm ngặt. Đặc điểm này nói lên người Nghệ Tĩnh ưa sử dụng cấu trúc cân đối, hài hòa. Biểu hiện ưa sử dụng cấu trúc có tính cân đối hài hòa này cũng được thể hiện rõ qua cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ của người Việt. Theo Hoàng Văn Hành, “thành ngữ đối là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt. Chúng chiếm tới 56% tổng số thành ngữ có trong thực tế tiếng Việt. Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ. Chẳng hạn: Mẹ tròn/ con vuông, đầu tắt /mặt tối, ăn xổi/ ở thì, tay bắt/ mặt mừng, đầu cua /tai nheo, thay lòng/ đổi dạ” (3, tr.38). Theo Đỗ Thị Kim Liên trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng, trong ba kiểu quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong tục ngữ: quan hệ lập luận, quan hệ so sánh, quan hệ đối lập thì quan hệ đối lập cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (6, tr.166-168). Điều kiện để xem hai vế A và B có quan hệ đối lập khi:

– Cấu trúc phải cân đối, gồm hai phần Đề và Thuyết

– Nghĩa của từ ở phần Đề và ở phần Thuyết, hoặc của cả phần Đề và Thuyết phải trái ngược nhau: Tiên trách kỉ (A)/ Hậu trách nhân (B); Cháu bên nội (A), tội bên ngoại (B); Khoai đất lạ (A), Mạ đất quen (B)…. Đây cũng chính là biểu hiện của việc người Việt thiên về sử dụng cấu trúc cân đối nhịp nhàng.

4.3. Tạo nhịp lẻ/chẵn cho lời hát

Đối với thể Hát giặm Nghệ Tĩnh, ai cũng biết khi hát thường có nhịp 3/2, tạo sự ngắt gãy, ngắn gọn. Ví dụ: Nhút Thanh Chương/ cũng ngọt, Kể chẳng mấy/ đồng tiền, Xơ mít chất/ đầy hiên, Băm một khi/ tám nống, Băm một lần/ tám nống (2, tr.25). Ngay bài thơ của Huy Cận Gửi bạn người Nghệ Tĩnh được Phạm Tuyên phổ nhạc thành bài hát với những câu mở đầu cũng ngắt nhịp tương tự như ngắt nhịp trong Hát giặm: Ai ơi cà/ xứ Nghệ, Càng mặn lại/ càng giòn, Nước chè xanh/ xứ Nghệ, Càng chát lại/ càng ngon… Trong khi đó, ở những câu thơ bình thường 5 chữ, theo ngắt nhịp truyền thống, người đọc thường hay ngắt nhịp 2/ 3 để tạo độ kéo dài, ngân vang cho câu thơ (Em ơi/ đợi anh về hoặc Bổ cam/ ngoài cửa trước, Hương/ bay vào cửa sau). Các nhà ngôn ngữ học gọi đó là nhịp thể loại. Tuy vậy, tùy theo cảm xúc, mạch thơ, người đọc có thể ngắt nhịp, hay phải ngừng giọng theo những kết cấu gồm các từ có quan hệ về nghĩa, không bắt buộc theo nhịp 2/3. Sau đây, chúng tôi chọn bài thơ 5 chữ của Trần Đăng Khoa làm ví dụ minh họa.

Nửa đêm tỉnh giấc

Nửa đêm / em tỉnh giấc

Bước ra hè / em nghe

Nghe tiếng sương/ đọng mật

Đọng mật/ trên cành tre

Nghe ri rỉ /tiếng sâu

Nó/ đang thở cuối tường

Nghe rì rầm/ rặng duối

Há miệng/ đòi uống sương.

(Trần Đăng Khoa, 4, tr.35)

5. Kết luận

Trên đây, chúng tôi đó đi sâu tìm hiểu những khác biệt về câu lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh so với biện pháp lặp trong tu từ học nói chung. Sự khác biệt giữa câu lặp so với câu đứng trước thể hiện chủ yếu qua sự biến đổi 1 từ (hay âm tiết) đứng ở vị trí thứ ba hoặc thứ năm của câu lặp so với từ cùng vị trí ở câu đi trước. Tuy nhiên, giữa hai từ cùng vị trí luôn đó có mối quan hệ, sự ràng buộc nhất định. Đó là, chúng có thanh điệu thuộc hai âm vực cao thấp khác nhau; cùng từ loại nhưng khác vỏ ngữ âm, thuộc cùng trường nghĩa, trái nghĩa, đồng nghĩa; đảo thành tố trong từ hay trong cụm nhằm tạo nên nghĩa mới. Vai trò của câu lặp có ba vai trò: a) nhấn mạnh; b) có sự biến đổi ít nhất một từ nhằm tạo nên sự đổi mới, thú vị cho người nghe; c) tạo sự ngắt nhịp lẻ/ chẵn (3/2) trong lời hát, tạo sự ngắt nhịp riêng của thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh.

Từ kết quả đưa lại do sự khảo sát trên, có thể khẳng định Hát giặm Nghệ Tĩnh là kho tư liệu quí giá lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của người Nghệ Tĩnh.

 

Tài liệu tham khảo

Diệp Quang Ban, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010

Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Nxb Khoa học, tập 1+ 2, năm 1962.

Hoàng Văn Hành, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

Trần Đăng Khoa, Thơ chọn lọc, Nxb Văn hóa-Thông tin, năm 1998.

Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, năm 1998.

Đỗ Thị Kim Liên, Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng, Hà Nội, năm 2006.

Nguyễn Như Ý, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 1996

 

 

[1][*] GS.TSKH ĐỖ THỊ KIM LIÊN

http://www.ngheandost.gov.vn/JournalDetail/ar966_Hat_Giam_Nghe_Tinh_-_Mot_the_hat_dan_ca_dam_ban_sac_van_hoa_xu_Nghe.aspx


 

LÊ HÀM : Hát giặm Nghệ Tĩnh


Hát giặm Nghệ Tĩnh

  •   Lê Hàm
  • Thứ năm, 21 Tháng 6 2012 04:40
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

CŨNG như hát ví, hát giặm là một thổ sản đặc biệt của nhân dân Nghệ Tĩnh. Trong khi hát ví thịnh hành khắp xứ Nghệ thì hát giặm chỉ thịnh hành ở một số địa phương, đáng kể nhất là các huyện ở phía Nam Nghệ Tĩnh mà cụ thể là các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh và ở Nghệ An chủ yếu là Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Nam Đàn. Hát giặm cũng có cuộc sống độc lập, nghĩa là có phát sinh, phát triển, lưu hành nhưng bị thu hẹp.

Hát giặm có hai hình thức: Hát giặm nam nữ và Hát giặm vè (tức vè sáng tác theo thể hát giặm)

Hát giặm nam nữ là một hình thức văn nghệ “tự túc” của nhân dân lao động; Từ một dân ca lao động – nghề nghiệp tiến lên thành một dân ca sinh hoạt – trữ tình.

Hát giặm nam nữ có các đặc điểm:

+ Hát giặm Nghệ Tĩnh là hát của trai gái trong khi trao đổi tình cảm, thường là để tỏ tình. Cũng như hát ví, họ hát giặm quanh năm, không phân biệt mùa xuân hay mùa thu, hễ mỗi khi có dịp cùng nhau lao động, cùng gặp gỡ giữa trai và gái là có hát giặm nam nữ. Khác hát giặm Hà Nam (làng Quyền Sơn, huyện Kim Bảng), kết hợp hát, múa và gõ nhịp, thường được biểu diễn trong những dịp tế thần vào những ngày nhất định mỗi năm khi mùa xuân về.

+ Hát giặm nam nữ, giống hát ví, cũng có phường có cuộc, song thủ tục một cuộc hát giặm nam nữ không chặt chẽ như thủ tục một cuộc hát ví, nhất là hát phường vải. Nó chỉ có ba chặng cơ bản là chặng hát dạo, chặng hát đố, hát đối và chặng hát xe kết. Các bước trong mỗi chặng không nhất luật phải tuân theo mà tùy phường hát, người đi hát và cuộc hát mà gia giảm.

+ Hát giặm Nghệ Tĩnh, giọng hát thô sơ, đều đều, nhạc điệu đơn giản, tưởng như còn giữ được ít nhiều hình thức nguyên thủy và tính chất hùng dũng; Nó khác các loại dân ca khác, ngay cả với hát ví, giọng hát nghe uyển chuyển, êm ái, nhạc điệu phong phú và phức tạp…

+ Các lối hát nam nữ khác, mỗi lần diễn xướng, người hát chỉ hát 2 câu, 4 câu, nhiều nhất mươi câu là cùng. Còn hát giặm nam nữ Nghệ Tĩnh, mỗi lần hát thường đến mươi lăm câu, có khi ba bốn chục câu… mà toàn ứng khẩu. Do khả năng kéo dài như vậy, nên có người đã cho hát giặm nam nữ là sự tỏ tình bằng văn xuôi. Hát giặm Nghệ Tĩnh không có đệm bất cứ một khí cụ âm nhạc gì khi trình diễn.

+ Lời của bài Hát giặm là một thể văn vần đặc biệt. Mỗi câu thường có năm chữ. Vần thì vần chân, thỉnh thoảng lại có một câu láy lại. Nó tương tự lối vãn tư về cách cấu tạo câu và vần, chỉ khác về số chữ, số câu và có câu láy lại. Vần chân cũng đáng chú ý, người sáng tác thường làm hai câu vần chân liền với nhau trong một khổ, nhưng đôi khi cao hứng kéo dài mười mấy câu mà toàn một vần chân thuộc thanh bằng.

+ Do câu hát và cách hát, nên hát giặm Nghệ Tĩnh vừa dùng vào việc phô diễn tình yêu trai gái, vừa dùng để kể chuyện cho công chúng nghe và vừa để tụng thần, mặc dù ngày nay không thấy nơi nào dùng hát giặm vào việc tụng thần.

Tìm hiểu về âm nhạc của thể hát giặm này, có thể thấy, hát giặm nam nữ có làn điệu khá phong phú, nhưng cấu trúc hát giặm có đặc điểm cơ bản là hát theo thể thơ 5 chữ, vần nằm cuối câu, đoạn giữa thỉnh thoảng có một câu láy lại.

+ Một khổ hát giặm gồm 3 đoạn có 4 câu hoặc 5 câu:

– Đoạn 1: Gồm một câu có chữ cuối cùng là vần trắc.

– Đoạn 2: Gồm hai câu có chữ cuối cùng là vần bằng và có vần với nhau.

– Đoạn cuối: Gồm một câu có chữ cuối cùng là vần trắc và có thể có một câu láy lại, cũng có nhiều bài câu cuối không thấy có câu láy lại.

Ví dụ một khổ hát giặm thông thường:

Xưa tây bắt đi lính (trắc – đoạn 1)

Lính khố đỏ khố xanh (bằng – đoạn giữa)

Ra gác cửa gác thành (bằng – đoạn giữa)

Cho thằng Tây hắn ngủ (trắc – đoạn cuối)

Cho mệ đầm hắn ngủ (trắc – láy lại – đoạn cuối).

Có thể tiếp tục các khổ khác cho hết nội dung mình muốn trình bày.

+ Số câu chữ trong khổ có khi biến dạng.

Ôm lấy cam tiếc quýt            (5 chữ)

Ôm lấy bưởi tiếc bòng          (5 chữ)

Ôm lấy thị tiếc hồng              (5 chữ)

Ôm lấy nồi đất tiếc nồi đồng (7 chữ)

Ôm lấy con gái tiếc mẹ giòng (7 chữ)

Lạ chi cái thói đàn ông          (6 chữ)

Muốn ôm lắc đi cả                (5 chữ)

Muốn vơ quàng đi cả                        (5 chữ)

Một hình thức sinh hoạt khác, những người đi củi ở vùng núi Hống và ở lèn Hai Vai thường hát:

Động Cô Mai thì hốc (dốc)

Động Trộ Đọ thì dài

Ra đến động Hai Vai

Thầm (thậm) chừng chi là khỏe.

Chi thầm chừng là khỏe.

Sau khi người đi đầu hát như vậy, những người đi sau cùng hát khen:

Hay răng là hay/Khỏe răng là khỏe!

Như vậy  về âm nhạc, cấu tạo nhịp điệu của hát giặm chủ yếu là nhịp chẵn 2/4 hoặc 4/4. Giai điệu hát giặm nằm trong ngũ cung khuyết (rề pha sol la hoặc đố rế mi). Vài bài: Giặm Đô Lương quãng 2 trưởng; Giặm Thạch Hà quãng 3 thứ.

Hát giặm vè là một loại/cách hát có chuẩn bị nội dung, có bố cục, có trau chuốt về mặt câu văn, nghĩa là nó được sáng tác ra với mục đích kể sự việc, thường là sự việc mới xảy ra. Có khi nội dung lời hát là kể chuyện lịch sử, hay tuyên truyền cổ động một điều gì, chẳng hạn như tuyên truyền cho việc xuất dương du học, cổ động chống thuế năm 1908, tuyên truyền cách mạng trong hai năm 1930-1931… Nhiều bài cũng có nội dung trữ tình như tình yêu trai gái, tình vợ chồng, tình cha con, nhiều bài nói về phong tục tập quán cũ và đấu tranh trong làng xã, … Loại này tập trung ý nghĩa vào lời văn hơn là giọng hát. Bài đặt xong, phổ biến một lần, nếu đặc sắc sẽ được nhiều người học thuộc rồi phổ biến rộng rãi. Đó là hát giặm vè.

Hát giặm vè còn là phương tiện để giáo dục, phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, đả kích và trào phúng, cũng có những bài hát giặm vè mang tính chất biểu dương người tốt việc tốt.

Về lời ca, hát giặm vè thường có lối ẩn dụ nhưng cũng có nhiều bài tả thực mộc mạc chân thành, sinh động hấp dẫn.

Hát giặm vè Nghệ Tĩnh có khi chỉ lưu truyền trong một làng hay một vài xã, nhưng vẫn có những bài được lưu truyền rộng rãi, có giá trị về tư tưởng và giá trị về văn học, về lịch sử…

Ở Hà Tĩnh, trong sinh hoạt gia đình, có khi mẹ hát vè để dạy con muối cà muối dưa, rửa bát.

Ví dụ: (Chĩnh) Trĩnh nhút, trĩnh dưa

         Em ăn tứ mùa em nhớ em bưng

         Đừng cho con dán con giun lọt vào

         Rửa đọi (bát) thì chớ trồng (chồng) cao…

          Đến khi đổ vỡ tan hao cửa nhà

Trong hát giặm vè ngữ âm địa phương rất phong phú:

Ví dụ:  Mấy trăm dân cùng chộ (thấy)

          Mấy ngàn dân cũng tường (tỏ)

         Kháp (gặp) đâu đánh đó

         Cứ phép thôn dân

         Côộc (gậy) tre hãy dần (đánh nhừ tử)

Về âm nhạc, hát giặm vè không phải là những bài ca có nhịp lao động nên nhịp điệu vè cấu tạo chủ yếu là nhịp 7/8-4/4+3/4, một vài bài nhịp 2/4 nhịp chậm. Thực ra vè hát giặm là một kiểu nói lối – hát nói.

Cách mở đầu kết thúc đều dựa vào lời ca dài hay ngắn. Hát giặm vè do dựa vào những bài thơ 5 chữ, 4 chữ, hoặc song thất lục bát biến thể hoặc nguyên dạng, nên âm nhạc của nó không cố định một tuyền luật nhất định.

Hát giặm vè thông qua những người hát rong, hát dạo như xẩm với một nhạc cụ đệm theo tiếng hát như bầu, nhị nên âm nhạc cũng phong phú. Bài hát giặm vè văn tư văn năm hát trên giai điệu: Rề sol la theo vận tiết lời.

Về lời ca của vè:

– Loại 5 chữ:

Đất Đông Môn dệt vải

Đất Cổ Đạm vắt nồi

Đất Xuân Liệu bầy tui (tôi)

Bắt một nạm cáy hôi

Về đâm đâm phơi phơi

– Biến thể:

Tay tui múc, miệng tui mời

Ruốc tui ngọt lắm bà ơi

Ngọt bằng năm ruốc bể? (biển)

Ngọt bằng mười ruốc bể?

– Loại 3 chữ:

       Xỉa cá mè

       Đè cá chép…

– Loại 4 chữ:

       Lẳng lặng mà nghe

       Cái vè nói ngược

       Con cháu sinh trước

       Ông bà đẻ sau

       Con rùa chạy mau

       Con thỏ chạy chậm

– Loại 5-7 chữ:

       Chàng ơi chàng ngồi lại

       Cho thiếp tôi phân giải đôi lời…

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy, tuy rằng không phong phú bằng dân ca của một số vùng miền khác, nhất là vùng Bắc bộ, nhưng hát giặm Nghệ Tĩnh không quá nghèo nàn về làn điệu (thậm chí có người còn cho rằng chỉ có một làn điệu (!?) Sau đây là một số điệu hát giặm nam nữ và hát giặm vè mà chúng tôi sưu tầm được: Giặm xắp, Giặm kể, Giặm nói, Giặm ru, Giặm xẩm, Giặm cửa quyền, Giặm Đức Sơn, Giặm vè, Giặm kể vè.

Hát giặm Nghệ Tĩnh gắn liền với cuộc sống lao động, diễn tả, phản ánh nhận thức, tình cảm của người dân trong lao động sản xuất. Môi trường diễn xướng của hát giặm chính là môi trường lao động. Tùy vào tính chất từng công việc, từng thời điểm, lại không có nhạc cụ làm chuẩn về âm nhạc nên hát giặm được thể hiện trong cuộc sống cộng đồng rất phong phú, không chỉ về lời ca mà cả về giai điệu, làn điệu. Tiếc rằng, môi trường lao động của người dân đã có nhiều khác xưa nên sự tồn tại của hát giặm chưa theo kịp cuộc sống. Hy vọng đến một lúc nào đó, hát giặm sẽ trở lại với cộng đồng với một sắc thái mới phù hợp với cuộc sống mới nếu ngay từ bây giờ chúng ta biết cách bảo tồn và phát triển.

http://vanhoanghean.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/dat-nuoc-xu-nghe/hat-giam-nghe-tinh

NGUYỄN THỊ NHÀN : Cảm nhận về dân ca xứ Nghệ, VIETNAM


Thứ Hai, 04/04/2011 14:26

Cảm nhận về dân ca xứ Nghệ

Trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, ca dao, dân ca là món ăn tinh thần không thể thiếu, đặc biệt là những câu dân ca thắm đượm nghĩa tình, được đúc kết từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, từ cái hay cái đẹp tinh tuý trong cuộc sống của người lao động. Trong đó, dân ca được xem là viên ngọc bích trong hoạt động văn hoá dân gian.

Mỗi bài ca với những nhịp điệu và tiết tấu phong phú với những hình tượng đặc sắc, tế nhị, sinh động duyên dáng gắn bó với những kỷ niệm thân thương, gợi nhớ những tình cảm trìu mến với quê hương làng bản; gắn chặt với phong tục tập quán của từng vùng miền.

Dân ca xứ Nghệ ngân vang lắng đọng trong hồn người cũng bởi nét dung dị, trữ tình, gợi nhớ, gợi thương, nơi neo đậu một hồn quê sâu thẳm.

Cảm nhận về dân ca xứ Nghệ
Dân ca xứ Nghệ gắn liền với mỗi ngọn núi, con sông và ăn sâu trong tiềm thức của người dân Nghệ – Tĩnh

Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được nhân dân ca hát theo tập tục của địa phương. Đó là những tinh hoa văn hoá được cha ông gạn lọc và gọt giũa qua các thế hệ dựa vào tục ngữ và ca dao.

Mỗi làn điệu dân ca thể hiện trí tuệ, phẩm chất tinh hoa trong tư duy, lối sống của con người Việt Nam qua các thời đại. Đó là một loại hình sáng tác dân gian mang tính tổng hợp bao gồm: lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với diễn xướng; là những bài hát có hoặc không có chương khúc do nhân dân sáng tác và lưu truyền trong dân gian có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc.

Ta hãy nghe âm điệu dịu dàng quyến rũ của một làn điệu dân ca xứ Nghệ: Ai đi vô nơi đây, xin dừng chân xứ Nghệ/ Nghe câu hò ví dặm, càng lắng lại càng sâu/ Như sông Lam chảy chậm, đọng bao thửa vui sầu/ Tình xứ Nghệ không mau, nhưng bén rồi sâu lắng/ Quen xứ Nghệ quen lâu, càng tình sâu nghĩa nặng.

Những câu ca trên vừa dung dị, trữ tình vừa gợi nhớ, gợi thương với hồn người xa quê, để không nguôi ước mong một lần được nghe câu hò ví dặm thấm đượm tình người, tình đất của xứ Nghệ… Dân ca là bản sắc của mỗi vùng quê, riêng mảnh đất xứ Nghệ, những điệu dân ca dường như là tâm hồn, diện mạo, cốt cách của người dân nơi đây.

Đó là những điệu hát ru đưa trẻ thơ vào giấc ngủ, nuôi lớn tâm hồn và chấp cánh cho những ước mơ; những điệu hát giao duyên vừa hài hước, vừa dí dỏm thông minh, mà lại sâu lắng thiết tha, những điệu ví phường vải, ví đò đưa bay bổng… lặng lẽ ngân vang đâu đó trên những dòng sông và sau luỹ tre làng. Náo nức vui tươi trong buổi giao duyên hay những buổi lao động thường nhật…

Dân ca xứ Nghệ quyến rũ hồn người với câu ví dặm Mời trầu. Thâm trầm nhưng cảm động của lời hát ru Phụ tử tình thâm và cả cái thông minh hóm hỉnh của Bần hát ghẹo mênh mông cùng điệu hò trên sông trong Nhớ người em đứng trông trăng và trĩu nặng nỗi niềm cùng Giận thương. Mỗi điệu hát, một nỗi niềm, với một cách thể hiện riêng, nhưng tất cả đều tha thiết lắng đọng, mộc mạc chân chất như chính hồn quê.

Có thể hình dung một số thể loại dân ca xứ Nghệ như: hát ví; hát dặm Nghệ Tĩnh; hát ru; hò Nghệ Tĩnh; hát ghẹo… Mời trầu là một trong số những bài dân ca tiêu biểu được diễn xướng nhiều nhất: Miếng trầu thơm đượm đượm tình làng nghĩa xóm/ Mộc mạc quê nhà nhưng đậm đà đằm thắm, đượm câu ví dặm/ Mời trầu để chọn bạn tri âm tri kỷ/ Mời trầu để xe duyên đôi lứa.

Người Việt thường có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Vậy nên, thắm đượm nghĩa tình trong câu ví dặm Mời trầu nghe tha thiết quyến rũ đến say lòng. Cũng là một phương thức giao tiếp nhưng qua điệu ví xứ Nghệ thấy tình quê tình người sâu sắc đến khó quên. Với tiết tấu nhanh, vui nhộn trong lời ca tha thiết. Lối hát bè cộng hưởng khiến cho điệu ví Mời trầu mang một sức lay gọi mãnh liệt, dư âm mãi trong đáy sâu hồn người.

Liên hoan dân ca Việt Nam năm 2011 khu vực Bắc Trung Bộ
Đoàn nghệ thuật Hà Tĩnh biểu diễn tại Liên hoan Dân ca Việt Nam năm 2011 khu vực Bắc miền Trung

Bài Giận thương có từ những năm 1966 – 1967. Về bố cục dựa trên hình thức của những bài hát đò dọc, hát ru. Dựa trên chất liệu âm nhạc là điệu hát ví, hát giặm. Điều đáng chú ý là câu hát giặm năm chữ cổ truyền đã được biến dạng thành bảy chữ, tiết tấu cũng như tốc độ đều được nâng lên thanh thoát hơn.

Người có công dựng lên bài hát này là ông Nguyễn Trung Phong, quê ở xã Diễn Minh, Diễn Châu Nghệ An. Ông là người biết hát dân ca Nghệ Tĩnh gần 30 năm nay, góp phần xây dựng một số vở kịch dân ca, lúc ấy ông phong là cán bộ lao động văn nghệ quần chúng của Ty văn hoá Nghệ An (nay là Sở VH-TT-DL). Bài Giận thương sau khi đoàn dân ca Nghệ An biểu diễn đã nhanh chóng phổ cập trong nhân dân các vùng trong tỉnh và trở thành bài dân ca mới: Anh ơi khoan vội bực mình/ Em xin kể lại phân minh tỏ tường/ Anh cứ nhủ rằng em không thương/ Em đo lường thì rất cặn kẽ/ Chính thương anh nên em bàn với mẹ/ Phải ngăn anh không đi chuyến ngược lường…

Giận thương được viết ở giọng pha trưởng với nhịp 2/4. Đây là bài ví dặm mới bởi giai điệu đã được biến dạng, tiết tấu được phát triển bước đều, tốc độ được nâng lên ăn nhịp với sức sống mới. Thỉnh thoảng, trong bài xuất hiện các dấu nối độ dài làm cho giai điệu như mênh mang một nỗi niềm thương nhớ, cho ta cảm nhận được tình cảm dào dạt vô bờ bến của người vợ đối với chồng. Ngoài ra cái dấu luyến để nối chung các nốt vào một lời ca khiến cho các âm quyện chặt vào nhau như tình cảm vợ chồng son sắt, mặn nồng thuỷ chung.

Nhip điệu bài hát chuyển từ chậm sang nhanh, từ nhanh lại về chậm nghe như tâm trạng của người vợ với chồng: giận rồi lại thương. Lời ca bình dị giản đơn nghe như trôi chảy nỗi niềm giận thương đáng yêu chân chất. Giận, thương, buồn tủi hay hạnh phúc sướng vui ấy là những cung bậc tình cảm thường nhật của cuộc sống. Điều quan trọng là giận rồi để mà thương đấy là chân lý được tìm thấy, là hành trang mang theo trong cuộc sống lứa đôi để trong sóng gió thường nhật biết vượt qua và giữ gìn hạnh phúc. Bài hát kết thúc bằng dấu luyến kết hợp với dấu chấm đôi ở nốt rê làm cho âm điệu vừa ấm áp vừa ngân dài mãi ra. Qua đó thể hiện một tình cảm thật lớn lao, sâu sắc và ấm áp của người vợ đối với chồng.

Một trong những hình thức văn hoá giao tiếp của người Việt trong dân gian độc đáo, ý nhị và sâu sắc nhất có lẽ phải kể đến câu hát giao duyên đã từng se duyên cho bao đôi lứa. Bần hát ghẹo một điệu dân ca nằm trong thể loại này có thể xem là một hiện tượng nghệ thuật, một sản phẩm tinh thần độc đáo của miền quê xứ Nghệ. Qua những câu hát giao duyên, lời tỏ tình được bật ra đày ý nhị, tinh tế mà cũng không kém phần tha thiết: Trăng kia đã đến hôm rằm hay chưa/ Trăng đang mười bốn chưa rằm/ Dâu xanh đang đợi con tằm kéo tơ.

Rồi như thách đố sự thông minh, lòng thuỷ chung và tình cảm chân thành của nhau, những lời đối đáp hài hước, dí dỏm, thông minh khiến cho đôi trai gái càng hiểu nhau hơn. Bần hát ghẹo là một bài hát dân gian có cái tình tứ, ý nhị và e ấp. Có cái thông minh, nghịch ngợm của những chàng trai, cô gái trong dân gian, nhưng kết lại vẫn là điều gì đó tha thiết chân thành, hứa hẹn một cuộc tình duyên đầy mộng đẹp.

Nhắn bạn (hò Nghệ Tĩnh) là loại hình dân ca có âm điệu và tiết tấu đơn giản, gồm 2 phần, phần xướng và phần xô. Với những câu hát mộc mạc, dung dị nhưng rất tinh tế và khéo léo người con gái đã thể hiện được tâm tư, tình cảm mà mình muốn gửi gắm với chàng trai: Lên non truông ngái đường xa/Anh chờ em với để mà đi chung/Đường vô trong rú trong rừng/Mình em đơn chiếc hãi hùng lắm thay.

Để đáp lại tình cảm của cô gái, chàng trai đã dùng những hình ảnh Hùng Sơn Nam Giang để ví tình yêu mà mình dành cho cô gái: Hùng Sơn cao ngất mấy trùng/Nam Giang mấy trượng thì lòng bấy nhiêu.

Và rồi tình yêu đôi lứa được đúc kết trọn vẹn trong Nhắn bạn. Trên đường đời dù gặp nhiều khó khăn thư thách, nhưng với tình cảm chân thành và tình yêu đủ lớn sẽ vượt qua tất cả.

Phụ tử tình thâm một điệu hát ru quen thuộc của dân ca xứ Nghệ, chứa đựng trong nó những lời răn dạy đạo lý sâu sắc. Trải dài trong lời ru là nỗi lòng của người cha, người mẹ với những hy sinh thầm lặng, mong mỏi yêu thương luôn dõi theo từ khi con mới lọt lòng đến khi khôn lớn: Rồi mười ngày chín tháng/Mẹ thúc giục lên thai/Con nên một nên hai/Thầy ấp yêu bồng bế/Đứa mười chín đôi mươi/Lo cửa nhà dựng vợ…

Bởi vậy, đi giữa cuộc đời, đạo làm con phải giữ gìn cho trọn nghĩa. Những lời ru như rót chảy vào tim những nỗi niềm diệu vợi, thấm cảm hơn những bài học đạo lý sâu xa với những câu răn mình khuyên người đậm đà triết lý. Để rồi lắng sâu trong đó và vượt lên trên mọi pha tạp của cuộc sống đời thường, tôi luyện thêm cái gốc của tình người và đạo lý.

Mỗi lần nghe, mỗi lần cảm nhận là một lần đắm mình vào hồn quê xứ Nghệ, bởi, hoá thân trong những lời ca ấy là điệu hồn của người dân quê tôi, mộc mạc mà chân chất ân tình… Với lớp ngôn từ mượt mà, tha thiết diễn tả những nỗi lòng sâu kín, tinh tế diệu vợi, khiến cho mỗi lần nghe là một lần thấm cảm, một lần đưa ta về với nguồn cội, để đối diện với chính mình mà biết sống và ước mơ. Dân ca Xứ Nghệ tồn tại như một biểu tượng vững bền trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam- như một con thuyền chở hồn người về neo đậu bến quê ân tình.

Nguyễn Thị Nhàn

http://baohatinh.vn/home/van-hoa-nghe-thuat/cam-nhan-ve-dan-ca-xu-nghe/1k55508.aspx

Hò ví dặm – Đi tìm cội nguồn câu hát xứ Nghệ, VIETNAM


Hò ví dặm – Đi tìm cội nguồn câu hát xứ Nghệ

Nghĩ về Xứ Nghệ là nghĩ tới núi Hồng, sông Lam. Về Xứ Nghệ là về với quê hương Ví Dặm, nơi có những câu dân ca thấm đượm nghĩa tình, được đúc kết từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, từ cái hay cái đẹp tinh tuý trong cuộc sống của người lao động.

Dân ca xứ Nghệ được coi là viên ngọc bích trong hoạt động văn hoá dân gian; những câu hát Ví, hát Dặm ngân vang lắng đọng trong hồn người bởi nét dung dị, trữ tình, gợi nhớ, gợi thương, nơi neo đậu một hồn quê sâu thẳm…

https://i2.wp.com/a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2013/best_2131625135-1-Hovidamkhuchatantinhxunghe1.JPG.jpeg

Mỗi lần nghe, mỗi lần cảm nhận là một lần đắm mình vào hồn quê xứ Nghệ, bởi, hoá thân trong những lời ca ấy là điệu hồn của người dân quê, mộc mạc mà chân chất ân tình… Với lớp ngôn từ mượt mà, tha thiết diễn tả những nỗi lòng sâu kín, tinh tế diệu vợi, khiến cho mỗi lần nghe là một lần thấm cảm, một lần đưa ta về với nguồn cội, để đối diện với chính mình mà biết sống và ước mơ. Có thể nói dân ca xứ Nghệ là một di sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, tình yêu và tài hoa của bao thế hệ của cộng đồng dân cư trên quê hương Nghệ An – Hà Tĩnh. Những câu hò, câu ví xứ Nghệ ân tình ấy luôn được nhân dân gìn giữ.

Dân ca Xứ Nghệ tồn tại như một biểu tượng vững bền trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam- như một con thuyền chở hồn người về neo đậu bến quê ân tình.

 

 

Việt Báo.

Sức sống mãnh liệt của dân ca ví dặm, VIETNAM


Sức sống mãnh liệt của dân ca ví dặm

27/03/2013 00:01 (GMT + 7)
Tin dịch vụ – Dân ca ví dặm xứ Nghệ là loại hình nghệ thuật của vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Trải qua nhiều năm, loại hình dân ca này ngày càng chứng tỏ sức sống mãnh liệt và nét đặc sắc vốn có. Năm 2014, Dân ca ví dặm sẽ là đại diện của Việt Nam tham gia ứng cử danh sách các Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.
 

Không biết chính xác dân ca ví dặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.

Ví là ví von, còn dặm là dặm lúa, điền nam… bởi là lối hát ra đời từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người nông dân nên những lời hát ví dặm cũng rất gần gũi, mộc mạc, đa số đều miêu tả lại đời sống hàng ngày, thân phận con người cũng như cách thức sản xuất, lao động và các nghề truyền thống. Ví như Thân em như hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đồng hay Đến đây hò hát làm thân/ Cúi đầu bái lạy trước sân làm gì?/ Đất chi có đất lạ lùng/ Đứng thì không chịu, nằm cùng lại cho…

Không gian diễn xướng của loại hình này cũng đa dạng, không chỉ phục vụ các lễ hội, những sự kiện của làng mà xưa kia hát ví, dặm diễn ra tại khắp mọi nơi như khi đang làm đồng, khi chèo thuyền đánh cá, khi dệt vải…Những năm gần đây, ví dặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước.

Khi mới xuất hiện, dân ca ví dặm xứ Nghệ còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Kể từ khi chính thức được xếp vào danh sách các di sản văn hóa sẽ được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới, dân ca ví dặm xứ Nghệ ngày càng được phổ biến, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng, đặc biệt là những người con của xứ Nghệ. Cái hay cũng là cái đặc biệt của loại hình nghệ thuật dân gian này đó là sức sống của nó cho đến ngày hôm nay. Đến vùng đất xứ Nghệ có thể dễ dàng nghe thấy những điệu hò, điệu hát vẫn từng ngày vang lên trong cuộc sống của người dân nơi đây. Theo UBND tỉnh Nghệ An, hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát với khoảng hơn 2.000 thành viên trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Được biết, Hồ sơ khoa học của Dân ca ví dặm đến thời điểm này cơ bản đã hoàn tất và dự kiến sẽ được đệ trình lên UNESCO trước ngày 31-3.

Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

http://tuoitre.vn/can-biet/du-lich/539823/suc-song-manh-liet-cua-dan-ca-vi-dam.html

VŨ HẠNH : Hò, ví, dặm “đặc sản” của văn hóa xứ Nghệ


Hò, ví, dặm “đặc sản” của văn hóa xứ Nghệ

QĐND – Tôi tìm đến căn phòng nhỏ ở khu chung cư Quang Trung (phường Quang Trung, TP Vinh, Nghệ An) để gặp nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ninh Viết Giao. Có một điều rất đặc biệt, có người nói đó là một hiện tượng, PGS Ninh Viết Giao, một người dành cả cuộc đời của mình để nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ lại là người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Thanh.

PGS Ninh Viết Giao lý giải với tôi: Tôi “say” dân ca xứ Nghệ (hò, ví, dặm), bởi nó là một di sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, tình yêu và tài hoa của bao thế hệ cộng đồng dân cư, của các dân tộc anh em trên quê hương Nghệ An -Hà Tĩnh. Có thể xem đó là một thứ rượu đặc biệt, được chưng cất từ nụ cười và những giọt nước mắt, từ những say đắm mãnh liệt cũng như nỗi buồn đau khắc khoải, từ mồ hôi, nước mắt và máu của nhân dân, là tấm gương phản chiếu một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất đời sống vật chất và tinh thần, những nét riêng trong truyền thống, bản sắc, cuộc sống và con người xứ Nghệ.

Một tiết mục trong liên hoan dân ca ví, dặm xứ Nghệ của Nghệ An tổ chức năm 2012. Ảnh: Chu Anh

Những câu dân ca, ví, dặm đã gắn bó thân thiết với mỗi người dân xứ Nghệ. Ngay từ khi còn thơ ấu, các em nhỏ đã được nghe câu dân ca ru hời của bà, của mẹ, rồi trước mảnh sân nhà, các em truyền cho nhau những trò chơi dân gian qua các bài đồng dao, bài vè quen thuộc. Thời niên thiếu qua đi, những bài đồng dao trả lại cho đàn em, các anh chị đã đến tuổi trưởng thành, họ lại hát những bài ví, bài dặm để đối đáp, bày tỏ tình cảm với người mình yêu.

Theo PGS Ninh Viết Giao, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: Ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ nhưng cũng có thể nhiều hơn. Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.
Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hóa, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Câu ví truyền thống được xây dựng trên hệ thống điệu thức năm âm, giai điệu được hình thành trên một câu thơ lục bát hoàn chỉnh mà những âm chính của điệu thức được vận động biến hóa ở âm thứ sáu của cả hai vế trong câu thơ. Vậy là vần của thơ đã gắn liền với điệu của nhạc, nhịp điệu của câu hát được gắn liền với tiết tấu câu thơ.
Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng quyền tự do của chính mình. Rõ ràng, họ đã lấy hát ví làm ngọn giáo để chống lại tư tưởng kìm kẹp, o ép của chế độ phong kiến bấy giờ.

Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sĩ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ -Tĩnh.

Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Cách vận dụng những tiếng đệm này vào trong cơ cấu giai điệu còn được gọi là bắt giọng, giữ giọng, lấy hơi, giữ hơi… Đó là yếu tố xây dựng cao độ, trường độ, cường độ, là những nhân tố tạo màu sắc không thể thiếu trong cơ cấu giai điệu của hát ví. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những nghệ sĩ nông dân hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Hát ví xứ Nghệ đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức: Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam). Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Trong hát ví thì ví phường vải có phần phong phú và thông dụng hơn cả. Hát phường vải thường diễn ra vào ban đêm, sau thời gian lao động nơi sông nước, ruộng đồng. Hễ nơi nào có quay sa, kéo sợi thì nơi ấy có hát phường vải. Họ hát vào lúc tuổi trưởng thành, trai thanh, gái lịch. Nhiều đôi trai gái bắt đầu từ hát ví phường vải mà nên vợ nên chồng, bằng không thì cũng là sự giao lưu, trao đổi tình cảm, thi thố tài năng, tô thêm nét đẹp cho cuộc đời. Đây là một nét sinh hoạt văn hóa lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Vũ Hạnh
qdnd.vn

http://tennguoidepnhat.net/2012/12/18/ho-vi-dam-dac-san-cua-van-hoa-xu-nghe/