GS TSKH ĐỖ THỊ KIM LIÊN : Hát Giặm Nghệ Tĩnh – Một thể hát dân ca đậm bản sắc văn hoá xứ Nghệ


 

Hát Giặm Nghệ Tĩnh – Một thể hát dân ca đậm bản sắc văn hoá xứ Nghệ
Ngày đăng tin : 6/24/2011
Cùng với thể Hát ví, thể Hát giặm được xem là thể loại dân ca “đặc sản” của Nghệ Tĩnh, nghĩa là chúng chỉ tồn tại ở địa phương Nghệ Tĩnh mà không có ở bất kì một địa phương nào khác. Chữ giặm gần với chữ giắm (phân biệt với lối hát “dặm” ở Hà Nam theo nghĩa là dặm đường, vừa đi vừa hát trong hội lễ mừng Lí Thường Kiệt – như quan niệm của một số người). Theo các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xứ Nghệ giải thích, sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất là một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giắm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại, như bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà. Thể Hát giặm chủ yếu là 5 chữ.
1. Đặt vấn đề

Cùng với thể Hát ví, thể Hát giặm được xem là thể loại dân ca “đặc sản” của Nghệ Tĩnh, nghĩa là chúng chỉ tồn tại ở địa phương Nghệ Tĩnh mà không có ở bất kì một địa phương nào khác. Chữ giặm gần với chữ giắm (phân biệt với lối hát “dặm” ở Hà Nam theo nghĩa là dặm đường, vừa đi vừa hát trong hội lễ mừng Lí Thường Kiệt – như quan niệm của một số người). Theo các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xứ Nghệ giải thích, sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất là một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giắm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại, như bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà. Thể Hát giặm chủ yếu là 5 chữ. Trong một bài, số câu 4, 6, 7, 8 chữ cũng có nhưng những câu phá cách này không nhiều. Ví dụ:

       Mời các vị dạo chơi tỉnh nhà

Bây giờ mùa đó dón rồi (6 chữ)

Xin mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà (8 chữ)

Quỳnh Lưu đó không xa (5 chữ)

Mời các ngài đến thử 

Lụa sồi không mấy trự (đồng)

Cứ may mặc tự nhiên

Chẳng ai dám hỏi tiền,

May một khi mười bộ

May một lần chục bộ (2.tr.22)

 ….

Trong bài này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu đặc điểm của câu giặm (câu lặp lại) trong thể Hát giặm Nghệ Tĩnh. Trong hai tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, do Ninh Viết Giao và Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, chúng tôi thống kê được: ở tập 1, trong tổng số 95 bài có 302 câu lặp lại, trong tập 2, trong tổng số 72 bài có 201 câu lặp.

2. Phân biệt hiện tượng lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh với phép điệp ngữ trong Tu từ học

Theo Đinh Trọng Lạc, điệp ngữ (còn gọi: lặp) là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe (5, tr.275). Điệp ngữ có cơ sở tâm lí: một vật kích thích, xuất hiện nhiều lần sẽ làm người ta chú ý. Điệp ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các phạm vi của lời nói. Trong giới hạn của một phát ngôn, điệp ngữ được dùng như một phương tiện tăng cường lô gích cảm xúc cái nghĩa của phát ngôn đó. Ví dụ:

– Ứ, ừ, bà không chết! Bà không được chết.

– Ừ, bà không chết. Bà chết thế nào được. Bà chết thì ai nuôi dạy cháu bà. Khi nào cháu lớn, học hết lớp 10, cháu đi Liên Xô học đại học, bà mới chết.

– Ứ, ừ, lúc ấy bà cũng không được chết cơ!   (Ma Văn Kháng)

Ở ví dụ trên, từ chết được lặp đi lặp lại 7 lần ở 7 câu nhằm nhấn mạnh điều mà cả người nói và người nghe cùng hướng đến, cùng mong mỏi là bà không chết. Qua sự lặp lại đó, tác giả gián tiếp nói đến tình yêu thương, quí mến lẫn nhau giữa hai bà cháu.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của tác giả Nguyễn Như Ý thì phép lặp có ba cách hiểu:

Việc tăng gấp đôi độ dài của âm tố.

Việc tái lập lại một chữ cái trên văn tự để biểu thị tính chất dài của nguyên âm.

Lối nhắc lại một từ hoặc một ngữ để làm rừ ý nghĩa cần nhấn mạnh. Ví dụ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành thành công, đại thành công. (7, tr.209)

Cách quan niệm phép lặp của Nguyễn Như Ý cũng trùng với cách quan niệm của Đinh Trọng Lạc ở nhóm nghĩa thứ ba.

So sánh cách hiểu phép lặp (hay điệp ngữ) ở hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Như í, chúng tôi thấy câu lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh có điểm riêng, khác với phép lặp trong tu từ học ở những điểm sau:

Về số lượng, trong Hát giặm Nghệ Tĩnh chỉ có hiện tượng lặp ở hai câu đứng cạnh nhau, còn phép lặp trong tu từ học có thể tự do: trong một câu, lặp hai câu, ba câu hoặc lặp cách quãng.

Về tính chất lặp: trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, lặp lại câu đi trước ở câu 2, nhất thiết phải có một từ nào đó biến đổi khác với từ cùng vị trí với câu trước. Còn ở phép lặp trong tu từ học lại không đòi hỏi quy tắc này.

Ví dụ, ở hai câu Hát giặm tuy lặp lại nhưng vẫn có từ ông/ bà; từ ra/ tận không lặp.

Tui giận ông hàng cá/ Tui giận bà hàng cá. (2, tr.193)

Ngọt ra đằng sau ót/ Ngọt tận đằng sau ót. (2, tr. 23)

Trong bài Khi mẹ vắng nhà,  tỏc giả Trần Đăng Khoa có sử dụng phép lặp ở 5 dòng thơ (lặp ngữ) hoàn toàn giống nhau:

– Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai

Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo

Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm

Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ trong vườn

Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng. (4, tr.35)

Chính đặc điểm trên làm nên đặc trưng riêng cho thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh. Có thể nói, trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, một hoặc hai từ ở câu thứ hai tuy không lặp lại hoàn toàn từ ở câu đi trước nhưng luôn bị chi phối bởi một số nhân tố nhất định. Sau đây chúng tôi đi sâu phân tích, mô tả những nhân tố chi phối đó.

3. Sự khác biệt giữa từ (âm tiết) của câu lặp so với từ (âm tiết) của câu đi trước trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

3.1. Về thanh điệu của từ (âm tiết) ở câu lặp so với câu đứng trước

Câu lặp thứ hai luôn chứa một từ nào đó, ở vị trớ giữa câu (âm tiết thứ hai hoặc thứ ba) hoặc đứng cuối câu (âm tiết thứ năm) có sự biến đổi về thanh điệu. Ở hai dòng thơ, sự biến đổi theo quy tắc như sau: Câu đứng trước chứa từ (hay âm tiết) có thanh điệu thuộc âm vực cao, từ (hoặc âm tiết) ở câu lặp luôn có thanh điệu thuộc âm vực thấp hơn. Chúng thể hiện qua 4 dạng:

Dạng  1: thanh không –> thanh huyền. Dạng này chiếm tỷ lệ cao nhất, gồm 319/511, chiếm  62,4 %.

 

Từ thuộc

  âm vực

    Từ chứa thanh                   Ví dụ
     Cao Thanh không Quế Quỳ Châu tốt nhất
     thấp Thanh huyền Quế Phủ Quỳ tốt nhất

 

Ví dụ: – Quế Quỳ Châu tốt nhất / Quế Phủ Quỳ tốt nhất. (2, tr.26)

– May một khi mười bộ / May một lần chục bộ. (2, tr.26)

– Tới Cồn Dinh ta nghỉ /Tới Cồn Đà ta nghỉ. (2, tr.130)

Dạng 2: Thanh không –> thanh sắc. Dạng này chiếm tỷ lệ cao thứ hai, gồm 112/ 511, chiếm  21,9 %.

 

     Từ thuộc

      âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao Thanh không  Trăm cơn chi cũng khô

 

         Thấp Thanh sắc    Ngàn cơn chi cũng héo.

 

Ví dụ: – Trăm cơn chi cũng khô/ Ngàn cơn chi cũng héo (2, tr. 29)

– Trăm cơn chi cũng khô/ Ngàn cơn chi cũng đốt (2, tr. 30)

– Nay o nọ dì kia/ Mốt o ni dì khác (2, tr.70)

– Nước sông Cái chảy sang/ Nước thủy triều lên xuống (2, tr. 132)

Dạng 3 : Thanh không –> thanh nặng. Dạng này chiếm tỷ lệ cao thứ ba, gồm 49/511, chiếm tủy lệ 9,5 %.

 

     Từ thuộc

      âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao – Thanh không/

– thanh huyền

 – Em mừng riêng trong tâm

 

         Thấp – Thanh nặng   –  Em mừng riêng trong dạ.

 

 

Ví dụ: Thanh không –> thanh nặng

– Không kể sớm với trưa/ Không kể hàng với họ (2, tr.123)

– Trách chi mà không xinh/ Trách chi mà không lạ. (2, tr.143)

– Nước chè Gay vàng rộm/ Nước chợ Gay vàng rộm (2, tr.23)

Dạng 4 : Thanh huyền –> thanh nặng. Dạng này chiếm tỷ lệ thấp nhất, tỷ lệ là 31/ 511 từ, chiếm tỷ lệ là 6,09 %.

 

     Từ thuộc

      Âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao – thanh huyền    – Nước chè Gay vàng rộm
         Thấp – Thanh nặng     – Nước chợ Gay vàng rộm

 

Ví dụ: Thanh huyền –> thanh nặng

– Đem của công về làm giàu/ Đem của dân về sinh lợi (2, tr.176)

– Mất cả ruộng bàu/ Mất cả ruộng cạn. (2, tr.46)

– Nước chè Gay vàng rộm/ Nước chợ Gay vàng rộm (2, tr.23)

3.2. Về đặc điểm từ loại và ngữ nghĩa của  từ ở câu lặp so với từ của câu đứng trước 

Câu lặp và câu đứng trước không giống nhau hoàn toàn như phép điệp từ ngữ trong văn học viết, mà chúng luôn có một từ nào đó biến đổi về vỏ ngữ âm. Từ biến đổi về âm thanh này phải cùng từ loại (cùng đại từ, cùng danh từ, cùng tính từ, cùng động từ, cùng số từ) với từ của câu đứng trước. Trong tổng số 511 câu giặm, hiện tượng cùng phạm trù từ loại này xảy ra hoàn toàn. Chẳng hạn: Ông mô rồi cũng có/ Bà mô rồi cũng có (2, tr.23) đều cùng từ loại danh từ; Phúc nhà ta biết mấy/ Phúc nhà mình biết mấy (2, tr. 36) cùng từ loại đại từ; Năm ba tiền cũng được/Vài ba hào cũng được (2, tr.190) cùng từ loại số từ; Ta khoan thai chưa vội/ Ta dần dà chưa vội (2, tr.126) cùng từ loại tính từ.

Bên cạnh sự giống nhau về từ loại, hai từ ở câu lặp và câu đứng trước lại có những điểm khác nhau như sau:

a) Hai từ khác âm nhưng cùng trường nghĩa

a1) Sử dụng đại từ

* Sử dụng đại từ nhân xưng

Đại từ nhân xưng là những từ xưng hô giữa người và người trong hoạt động giao tiếp. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi thường gặp nhất là các cặp từ: ta/ mình; người ta/ mình; ai/ người; kẻ/ người, ta/ bạn…

– Kẻ trôi lợn trôi bò/ Người có chi trôi hết. (2, tr.35)

– Kẻ chở lúa chở ngài/ Người chở tiền chở bạc. (2, tr.36)

* Sử dụng đại từ chỉ định

Đại từ chỉ định là những từ thường đi kèm phía sau danh từ để hạn định ý nghĩa không gian, thời gian gần hay xa so với người nói: lúc nãy/ lúc ni; mụ/nào; ni/ này; nớ/ ni; bữa ni/ bữa rày…

– Trâu mi bữa ni tau lấy/ Bò mi bữa rày tau lấy. (2, tr. 37)

– Thầy bỏ tớ lúc ni/ Vợ bỏ chồng lúc khác . (2, tr.72)

a2) Sử dụng danh từ

* Danh từ chỉ người

Đây là những danh từ chỉ người, thuộc tiểu nhóm danh từ tổng hợp, có hai âm tiết, mang nghĩa số nhiều.

– Van anh em sắp bó/ Van bạn bầu sắp bó. (2, tr.79)

– Anh em ta chịu cả/ Chị em mình chịu cả (2, tr.79)

* Danh từ cùng trường nghĩa, gốc Hỏa

– Anh mới cam trong tâm/ Anh mới đành trong dạ. (2, tr.157)

– Em mừng riêng trong tâm/ Em mới đành trong dạ. (2, tr.111)

a3. Sử dụng số từ  (đi kèm danh từ)

Số từ là những từ mang nghĩa số lượng. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, số từ thường xuất hiện thành cặp sóng đôi với nghĩa biểu trưng: năm… mười, mười…trăm, trăm…vạn, năm ba…vài ba… 

– Năm ngày mưa một trộ/ Mười ngày mưa một trộ. (2, tr.30)

– Mười người nhất tâm/ Trăm người như một. (2, tr.119).

b) Hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa là một nghệ thuật biến cải (vỏ ngữ âm của từ) hết sức độc đáo, không gây sự nhàm chán, tạo tính mới mẻ đối với người nghe. Qua khảo sát hai tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi bắt gặp hiện tượng đồng nghĩa xảy ra chủ yếu là 5 từ loại: động từ, danh từ, đại từ, số từ, phụ từ. 

b1. Đồng nghĩa động từ

Đây là nhóm đồng nghĩa xuất hiện với tần số nhiều nhất so với các từ loại khác trong cùng nhóm đồng nghĩa. Qua thống kê, chúng tôi thường gặp nhất là đồng nghĩa từ địa phương với từ toàn dân: nom/ chộ; thấy/ chộ; mắc/ nợ hoặc cả hai đều là từ địa phương.

*Sau đây là những cặp từ đồng nghĩa địa phương và toàn dân:

– Nom bốn phương vui vẻ/ Nhìn bốn phương vui vẻ.(2, tr.115)

– Không mắc ai nửa chữ/ Không nợ ai nửa đồng (2, tr.165)

*Từ địa phương và từ địa phương:

– Nom rừng sâu xanh ngắt/ Chộ mây phủ trong ngoài. (tr.114)

* Đồng nghĩa ngữ cảnh: qua/ về; giao/ nạp; co khu/ co giò; khuyên / dặn…

Đây là trường hợp hai từ vốn không đồng nghĩa nhưng nhờ ngữ cảnh, chúng trở thành đồng nghĩa (có thể khác nhau về sắc thái). Chúng tôi gọi những hiện tượng này là đồng nghĩa ngữ cảnh lâm thời[1][*]. Chẳng hạn: Giao và nạp; qua và về; khuyên và dặn.

– Giao cho bà thủ quỹ/ Nạp cho bà thủ quĩ. (2, tr.188)

– Qua Thanh Chương cũng tiện/ Về Thanh Chương cũng tiện (2, tr.24)

– Ghé qua chơi một tỉ/ Ghé về chơi một tỉ (2, tr.25)

– Ta khuyên mình đừng vội/ Ta dặn mình đừng vội (2, tr.130)

b2. Đồng nghĩa danh từ

* Đồng nghĩa danh từ chỉ người

Cặp danh từ chỉ vợ chồng cũng được sử dụng hết sức tài tình:

– Thuận ông thuận mụ/ Thuận vợ thuận chồng. (2, tr.161)

– Ném quân Tây cho chết/ Ném quân thù cho chết (2, tr.185)

* Đồng nghĩa danh từ chỉ đấng tối cao (theo văn hóa của người Việt)

– Sổ trời xanh đó định/ Sổ Nam Tào đó định (tr.119).

* Đồng nghĩa danh từ chỉ thời gian (nhờ ngữ cảnh)

– Biết khi nào cho biết/ Biết ngày nào cho biết. (2, tr117)

– May một khi mười bộ/ May một lần chục bộ (2. tr.22)

b3. Đồng nghĩa đại từ

Hai đại từ đồng nghĩa

Hai câu thường có hai từ đồng nghĩa: đồng nghĩa giữa từ địa phương và từ toàn dân: chi/gì; mô/ nào …

– Đánh trận mô cũng được/ Đánh trận nào cũng được (2, tr.189)

– Mi đến mần chi đó nữa/ Mi đến mần gì đó nữa. (2, tr.37)

Có những từ đặt riêng thì không đồng nghĩa nhưng nhờ ngữ cảnh sử dụng, chúng lại trở nên đồng nghĩa. Nhờ đó, nó tạo nên nét phong cách riêng của Hát giặm Nghệ Tĩnh. Chẳng hạn từ ta và từ mình trong câu: Đưa anh em ta đi khẩn/ Đưa anh em mình đi khẩn. (2, tr.183)

b4. Đồng nghĩa số từ

Thuộc nhóm này, chúng ta chỉ gặp cặp số từ chục/ mười

– Xin biếu không chục hũ/ Xin biếu ngài mươi hũ (2, tr.23)

– May một khi mười bộ/ May một lần chục bộ (2, tr.21)

b5. Đồng nghĩa tính từ

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, hiện tượng đồng nghĩa tính từ không nhiều

– Kể còn lâu chưa hết/ Kể còn dài chưa hết (2, tr.129)

– Ta khoan thai chưa vội/ Ta dần dà chưa vội. (2, tr. 126)

b6. Hai phụ từ đồng nghĩa

Phụ từ là những từ không mang nghĩa từ vựng mà thường đi kèm trước (hoặc sau động từ, tính từ) để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ và tính từ đó. Chúng gồm những cặp từ như: nỏ/ không; nỏ/mụ; đừng/ chớ, ra/ tận… Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, cũng như đại từ, ta gặp hiện tượng đồng nghĩa phụ từ giữa từ toàn dân và từ địa phương.

 – Đừng nghe mồm thiên hạ/ Chớ nghe mồm thiên hạ. (2, tr.167)

 – Không chi mạnh bằng gạo/ Nỏ chi bạo bằng tiền. 2, (tr.111).

c) Đảo trật tự các thành tố trong 1 từ ghộp; hay đảo các từ trong cụm từ

*Trong từ

–  Ai cười chê cũng chớ/ Ai chê cười cũng chớ (2, tr.154)

* Trong cụm

 Lờn đình trung đứng nhởi/ Hội giữa đình đứng nhởi. (2, tr.130)

– Viết bức thư gửi lại/ Bức thư tình gửi lại. (2, tr.127)

d. Sử dụng từ đơn ở hai vế mà hai từ đó, nếu gộp lại thì thành một từ gộp

– Ở cho được mùa/ Ở cho được màng. (2, tr.42) –> Mùa màng

– Kiếm nát trong bụi cơn (cây)/ Kiếm nhàu trong bụi cỏ (2, tr.336)–> nhàu nát; cây cỏ

đ. Biến cải hai yếu tố trong kết cấu thành ngữ

– Nỗi nguồn ân bể ái/ Nguyền bể cạn bia mòn (2, tr.85)

Biến cải từ: nguồn ân ái/ sông cạn đá mòn

e. Sử dụng cặp từ trái nghĩa

Nhóm này ít xuất hiện hơn cả. 

*Danh từ thời gian trái nghĩa

– Ngày núi khe làm bạn/ Đêm vượn hót làm vui. (2, tr.115)

*Danh từ trừu tượng

– Lắm điều vui, điều tủi/ Lắm điều buồn, điều tủi. (2. tr.264)

* Danh từ chỉ người trái nghĩa: Tui giận ông hàng cỏ/ Tui giận bà hàng cỏ (2, tr.193)

4. Vai trò của việc sử dụng từ biến đổi ở câu giặm trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

4.1. Tạo sự mới mẻ đối với người nghe

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, câu giặm có vai trò nhấn mạnh giống phép lặp trong tu từ học (điệp ngữ, điệp cú). Tuy nhiên, ở Hát giặm Nghệ Tĩnh luôn có ít nhất là một từ (ở câu giặm) biến đổi khác so với từ cùng vị trí ở câu đứng trước nhằm mục đích nhấn mạnh tạo sự mới mẻ với người nghe, không đơn điệu, nhàm chán. Chúng làm nên đặc trưng riêng, đậm bản sắc của người Nghệ Tĩnh. Ví dụ: Kẻ thua năm ba quan/ Người thua năm bảy chục (2, tr.165) biến đổi từ ở vị trí thứ nhất; Ta lựa đi một trận/ Ta cũng lựa một trận (2, tr.183) biến đổi từ ở vị trí thứ hai; Tài chi ai chịu nổi/ Tài chi mình chịu nổi (2, tr.193) biến đổi từ ở vị trí thứ ba; Đưa anh em ta đi khẩn/ Đưa anh em mình đi khẩn (2, tr.187) biến đổi ở vị trí thứ tư; Khen cho bà khéo mua/ Khen cho bà khéo chọn (2, tr.193) ở vị trí thứ năm.

4.2. Tạo cấu trúc cân đối nhịp nhàng, hài hòa

Con người Nghệ Tĩnh nói riêng và người Việt nói chung ưa sử dụng cấu trúc câu theo lối nhịp nhàng, hài hòa, cân đối. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng câu lặp luôn chứa một hoặc hai từ có sự biến cải đi so với từ ngữ cùng vị trí ở câu đi trước được tuân theo sự đối ứng một cách khá nghiêm ngặt. Đặc điểm này nói lên người Nghệ Tĩnh ưa sử dụng cấu trúc cân đối, hài hòa. Biểu hiện ưa sử dụng cấu trúc có tính cân đối hài hòa này cũng được thể hiện rõ qua cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ của người Việt. Theo Hoàng Văn Hành, “thành ngữ đối là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt. Chúng chiếm tới 56% tổng số thành ngữ có trong thực tế tiếng Việt. Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ. Chẳng hạn: Mẹ tròn/ con vuông, đầu tắt /mặt tối, ăn xổi/ ở thì, tay bắt/ mặt mừng, đầu cua /tai nheo, thay lòng/ đổi dạ” (3, tr.38). Theo Đỗ Thị Kim Liên trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng, trong ba kiểu quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong tục ngữ: quan hệ lập luận, quan hệ so sánh, quan hệ đối lập thì quan hệ đối lập cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (6, tr.166-168). Điều kiện để xem hai vế A và B có quan hệ đối lập khi:

– Cấu trúc phải cân đối, gồm hai phần Đề và Thuyết

– Nghĩa của từ ở phần Đề và ở phần Thuyết, hoặc của cả phần Đề và Thuyết phải trái ngược nhau: Tiên trách kỉ (A)/ Hậu trách nhân (B); Cháu bên nội (A), tội bên ngoại (B); Khoai đất lạ (A), Mạ đất quen (B)…. Đây cũng chính là biểu hiện của việc người Việt thiên về sử dụng cấu trúc cân đối nhịp nhàng.

4.3. Tạo nhịp lẻ/chẵn cho lời hát

Đối với thể Hát giặm Nghệ Tĩnh, ai cũng biết khi hát thường có nhịp 3/2, tạo sự ngắt gãy, ngắn gọn. Ví dụ: Nhút Thanh Chương/ cũng ngọt, Kể chẳng mấy/ đồng tiền, Xơ mít chất/ đầy hiên, Băm một khi/ tám nống, Băm một lần/ tám nống (2, tr.25). Ngay bài thơ của Huy Cận Gửi bạn người Nghệ Tĩnh được Phạm Tuyên phổ nhạc thành bài hát với những câu mở đầu cũng ngắt nhịp tương tự như ngắt nhịp trong Hát giặm: Ai ơi cà/ xứ Nghệ, Càng mặn lại/ càng giòn, Nước chè xanh/ xứ Nghệ, Càng chát lại/ càng ngon… Trong khi đó, ở những câu thơ bình thường 5 chữ, theo ngắt nhịp truyền thống, người đọc thường hay ngắt nhịp 2/ 3 để tạo độ kéo dài, ngân vang cho câu thơ (Em ơi/ đợi anh về hoặc Bổ cam/ ngoài cửa trước, Hương/ bay vào cửa sau). Các nhà ngôn ngữ học gọi đó là nhịp thể loại. Tuy vậy, tùy theo cảm xúc, mạch thơ, người đọc có thể ngắt nhịp, hay phải ngừng giọng theo những kết cấu gồm các từ có quan hệ về nghĩa, không bắt buộc theo nhịp 2/3. Sau đây, chúng tôi chọn bài thơ 5 chữ của Trần Đăng Khoa làm ví dụ minh họa.

Nửa đêm tỉnh giấc

Nửa đêm / em tỉnh giấc

Bước ra hè / em nghe

Nghe tiếng sương/ đọng mật

Đọng mật/ trên cành tre

Nghe ri rỉ /tiếng sâu

Nó/ đang thở cuối tường

Nghe rì rầm/ rặng duối

Há miệng/ đòi uống sương.

(Trần Đăng Khoa, 4, tr.35)

5. Kết luận

Trên đây, chúng tôi đó đi sâu tìm hiểu những khác biệt về câu lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh so với biện pháp lặp trong tu từ học nói chung. Sự khác biệt giữa câu lặp so với câu đứng trước thể hiện chủ yếu qua sự biến đổi 1 từ (hay âm tiết) đứng ở vị trí thứ ba hoặc thứ năm của câu lặp so với từ cùng vị trí ở câu đi trước. Tuy nhiên, giữa hai từ cùng vị trí luôn đó có mối quan hệ, sự ràng buộc nhất định. Đó là, chúng có thanh điệu thuộc hai âm vực cao thấp khác nhau; cùng từ loại nhưng khác vỏ ngữ âm, thuộc cùng trường nghĩa, trái nghĩa, đồng nghĩa; đảo thành tố trong từ hay trong cụm nhằm tạo nên nghĩa mới. Vai trò của câu lặp có ba vai trò: a) nhấn mạnh; b) có sự biến đổi ít nhất một từ nhằm tạo nên sự đổi mới, thú vị cho người nghe; c) tạo sự ngắt nhịp lẻ/ chẵn (3/2) trong lời hát, tạo sự ngắt nhịp riêng của thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh.

Từ kết quả đưa lại do sự khảo sát trên, có thể khẳng định Hát giặm Nghệ Tĩnh là kho tư liệu quí giá lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của người Nghệ Tĩnh.

 

Tài liệu tham khảo

Diệp Quang Ban, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010

Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Nxb Khoa học, tập 1+ 2, năm 1962.

Hoàng Văn Hành, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

Trần Đăng Khoa, Thơ chọn lọc, Nxb Văn hóa-Thông tin, năm 1998.

Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, năm 1998.

Đỗ Thị Kim Liên, Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng, Hà Nội, năm 2006.

Nguyễn Như Ý, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 1996

 

 

[1][*] GS.TSKH ĐỖ THỊ KIM LIÊN

http://www.ngheandost.gov.vn/JournalDetail/ar966_Hat_Giam_Nghe_Tinh_-_Mot_the_hat_dan_ca_dam_ban_sac_van_hoa_xu_Nghe.aspx


 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s