THƯƠNG THƯƠNG HOÀI : VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH, VIETNAM


VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH

“Trót say câu ví đò đưa/

Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời”…

           Bao đời nay, làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh luôn không thể thiếu trong đời sống của người dân xứ Nghệ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Ca hát dân ca xứ Nghệ là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam… Đặc biệt, cứ mỗi độ Xuân về, làn điệu dân ca xứ Nghệ ân tình lại vang lên khắp nơi nơi trên quê hương Việt Nam và cả khắp cộng đồng người Việt đang sinh sống ở nước ngoài…

 

Dòng sông La

Hát dặm Nghệ Tĩnh

Ai đã từng nghe dân ca Nghệ Tĩnh thì chắc hẳn đều có chung một ấn tượng, đó là ca từ rất bình dị và đậm chất tiếng nói địa phương nhưng lại thể hiện được một “cá tính Nghệ Tĩnh” mà phải ở lâu, ở gần người Nghệ Tĩnh, gần người con gái Nghệ Tĩnh mới thấm, mới ngấm được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng của “cá tính xứ Nghệ”, thô mà tinh, lý đấy nhưng tình đấy.

Quê hương ví dặm

Tiếng dặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào nột chỗ thiếu… xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba, bốn trăm năm. Về nội dung, có nhiều bài hát dặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến. Về hình thức, hát dặm là một thể văn vần đặc biệt. Mở đầu bài hát dặm thường là hai câu lục bát, tiếp theo là một loạt câu 5 chữ, cũng có những bài không tuân theo quy chuẩn đó mà mở đầu ngay bằng câu 5 chữ. Phần lớn các bài hát dặm đều gồm cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lấy lại một ý, điệp cả về ý lẫn lời. Ví dụ:

Tôi lấy chân khóa lại
Tôi lấy bản khóa lại

Hay:
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách
”.

Bốn đời hát ví giặm trong một gia đình ở Thanh Chương – Nghệ An

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát nó làm nổi ý của câu hát và của cả bài. Hát giặm có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung và hình thức đều được trau chuốt. Hát giặm Nghệ Tĩnh không phải hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được dân ưa thích và phổ biến rộng rãi.

Ví giặm đã ngấm vào máu thịt của con người nơi đây 

Hát ví Nghệ Tĩnh

Hát ví Nghệ Tĩnh xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn.

Bến đò, con sông… vằng vặc tuổi thơ của con người xứ Nghệ

Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.

“Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng”

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng tiếng gọi con tim.

Đồng quê xứ Nghệ

Dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu. Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ Tĩnh.

Chỉ tại “Dòng sông đa tình”

Trong hát ví có chặng hát đố. Hát đố là theo cách gọi dân gian, còn hát đối là của các nhà nho. Chặng này là chặng quan trọng nhất, chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa sao cho thật chuẩn xác, thật nhanh. Khi đến độ hăng say, họ còn mang cả tri thức trong sách vở, kinh thư vào trong câu hát, lúc này không phải hát đối nữa mà là thi thố về tài năng, về trí tuệ:

“Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”

“Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay”.

Sự tham gia của các nhà nho đã làm cho điệu hát ví dân gian trở màu mè hơn, bác học hơn, hàm súc hơn. Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những “nghệ sỹ” hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Ân tình xứ Nghệ

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải… Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả. Đặc biệt, hát phường vải chỉ có ở xứ Nghệ.

Bảo tồn những nét đẹp xưa

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Nhưng trước sự du nhập của nhiều nền văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập thì có một thực tế đáng buồn là dân ca Nghệ Tĩnh đang dần bị mai một. Các nghệ nhân dân gian bây giờ hiếm như là mùa thu, tuổi các cụ cũng xế chiều. Hiện nay các nghệ nhân đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc. Tuy nhiên những tâm huyết đó chưa được đền đáp xứng đáng. Trẻ con ngày trước được nuôi lớn bằng những khúc hát dân ca trữ tình sâu lắng, đầy tính nhân văn. Ngày nay người mẹ ru con không thể thuộc lấy một câu hát dân ca. lớp trẻ không còn quan tâm nhiều đến dòng nhạc truyền thống. Có thể nói thời nào thì có nghệ thuật của thời đó. Vì vậy, dân ca muốn sống được chỉ còn cách duy nhất phải kịp thời cải tiến, nhưng cải tiến không phải là gieo vừng ra đỗ mà làm mất đi cái tinh túy của ông cha.

Nơi ta ngồi ngóng mẹ

Có một “kênh” giúp bảo lưu, giữ gìn và phát huy vốn dân ca xứ Nghệ tuy âm thầm nhưng diễn ra liên tục, có chiều sâu học thuật. Đấy là khá nhiều đầu sách giá trị của các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung, Dương Hồng Từ, Thanh Lưu… bàn về hát ví phường vải, ví sông Lam, hát dặm Thạch Hà, về dân ca Nghệ – Tĩnh. Sự kiện thành lập Trung tâm Bảo tồn và phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ với tư cách là một cơ quan nghiên cứu khoa học, lưu trữ đã và sẽ đóng một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn di sản dân ca – ví dặm Nghệ – Tĩnh.

Nơi tạo cảm hứng cho những câu ví giặm ân tình

Hy vọng, một ngày không xa, dân ca xứ Nghệ sẽ được tôn vinh.

Bên con sông quê, ví giặm đã ngấm sâu trong lòng mỗi người

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s