TRẦN HOÀI : DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI, VIETNAM


DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI
 
QĐND – Thứ Ba, 09/04/2013, 22:34 (GMT+7)

QĐND – Mới đây, hồ sơ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi đến UNESCO, đề nghị xem xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ví, giặm là thể hát dân ca không có nhạc đệm, được sáng tạo và phổ biến trong quá trình sinh hoạt, lao động, sản xuất, mang đậm dấu ấn bản sắc địa phương về ca từ, giọng điệu, âm điệu. Trải qua bao thăng trầm, dân ca ví, giặm vẫn khẳng định sức sống âm thầm mà bền bỉ trong đời sống nhân dân…

Trong đời sống sôi động hiện nay, cũng như dân ca của các vùng miền khác, dân ca Nghệ Tĩnh có những biểu hiện mai một đáng tiếc. Cần phải làm gì và làm như thế nào để bảo tồn và phát huy, phát triển kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh là vấn đề vô cùng lớn và khó khăn… Nói đến bảo tồn dân ca, theo một số nhà nghiên cứu, bao gồm nhiều hình thức: Bảo tồn phục cổ, tức là bảo lưu toàn bộ giá trị nguyên dạng cả làn điệu, cả môi trường, cả không gian diễn xướng và bảo tồn hình thái văn hóa. Thực tế hiện nay, dân ca ví, giặm hiện đang được bảo tồn ở dạng văn bản, tức là các làn điệu; còn vấn đề bảo tồn không gian văn hóa, hình thái diễn xướng thì còn nhiều trở ngại… Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ngành văn hóa Nghệ Tĩnh đã dàn dựng, thể nghiệm các vở diễn sử dụng chất liệu dân ca ví, giặm để phát triển tình huống, xung đột kịch, diễn tả nội tâm nhân vật. Quá trình đó gọi là “sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh” và tạo ra thể kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh, với những vở kịch tiêu biểu như “Mai Thúc Loan”, “Không phải tôi”, “Cô gái sông Lam”…

6969251520130409213014734

 
Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012. Ảnh: http://donghuonghatinh.vn

Tuy vậy, không gian văn hóa và diễn xướng của dân ca ví, giặm không chỉ ở sân khấu, lễ hội được tổ chức “hoành tráng” mà là những nơi diễn ra sự kiện của làng xóm cư dân với sự tham gia của cộng đồng, diễn ra tại khắp mọi nơi như khi đang làm đồng, khi chèo thuyền đánh cá, khi dệt vải… Vì thế, vấn đề bảo tồn không gian văn hóa dân ca ví , giặm đòi hỏi các cấp chính quyền và ngành văn hóa cần tìm tòi, tổ chức và nhân rộng những mô hình hoạt động phù hợp. Hiện nay, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã thành lập được một số câu lạc bộ dân ca ví, giặm. Ví, giặm cũng đã được đưa vào các trường học từ nhiều năm nay. Nhưng qua khảo sát và tìm hiểu thực tế, hiệu quả của phong trào mới chỉ dừng lại ở hoạt động “bề nổi”, chưa tạo ra được chuyển biến thực sự trong nhận thức, tình cảm và kỹ năng hát dân ca ví, giặm trong cộng đồng. Sự tồn tại của di sản dân ca ví, giặm nếu chỉ được đặt ra trên các sân khấu, trong các câu lạc bộ hay ở các tiết học ngắn ngủi của trường học, thì đó chỉ là sự tồn tại một cách “hình thức”. Những người yêu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh cho rằng, cần nhìn thẳng vào thực tế để tổng kết, đánh giá hiệu quả của công tác bảo tồn, phát huy di sản dân ca, xem xét một cách nghiêm túc các giải pháp đã thực hiện có hiệu quả đến đâu, ở mức độ nào; cần có những nghiên cứu chuyên sâu về môi trường văn hóa, tâm lý, thị hiếu âm nhạc của công chúng đương đại để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp bảo tồn, phát huy di sản dân ca cổ truyền. Để thực hiện được điều đó, các cấp, các ngành chức năng cần thay đổi nhận thức, phát huy tính chủ động, sáng tạo nghiên cứu, đồng thời đầu tư thỏa đáng cho bảo tồn và phát triển dân ca ví, giặm; tổ chức tuyên truyền, quảng bá rộng rãi dân ca ví dặm…

Một sự thật khách quan là không gian diễn xướng dân ca ví,  giặm nguyên bản như “cây đa, giếng nước, sân đình” cổ xưa đã không còn. Nhưng để tồn tại với tư cách là một hình thức văn nghệ dân gian thì ví, giặm phải được tồn tại trong chính cuộc sống của cộng đồng. Điều đó có nghĩa di sản dân ca ví, giặm đang đòi hỏi cần có không gian mới để tồn tại và phát triển, phát huy sức mạnh văn hóa, tinh thần trong cuộc sống hiện đại ngày nay…

TRẦN HOÀI

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/103/103/103/236986/Default.aspx

Hát ví xứ Nghệ, VIETNAM


Hát ví xứ Nghệ PDF In Email

Hát ví là lối hát giao duyên nam nữ phổ biến ở Nghệ Tĩnh vào cuối thế kỷ XIX. Chưa được chứng minh rõ ràng nhưng có nhiều cơ sở để nhận định rằng có thể hát ví đã thịnh hành từ thế kỷ thứ XVII.

Nếu đưa ra nhận xét rằng hát ví bắt nguồn từ điệu hát ca của cư dân vùng sông nước Lam thì cũng chưa hẳn đã là lời lý giải thuyết phục . Thực tế có rất nhiều loại hát ví như : Ví đò đưa, ví phường vải, ví phường nón, ví phường cấy, ví phường buôn, ví trèo non … “Phường” là từ địa phương dùng để chỉ một hoạt động mang tính tập thể. Theo cách nghĩ của tôi hát ví là làn điệu dân ca mang tính ngẫu hứng bắt nguồn từ lối sống cộng đồng, được dân gian hóa và trở thành quen thuộc trong lối sống thường nhật, sự ngẫu hứng này đã làm cho cuộc sống sinh động hơn, sự ngẫu hứng, khoáng đạt được đan xen cả trong quá trình lao động và nông nhàn.

Hát ví chủ yếu là lối hát trữ tình .Có một nét rất đặc trưng là lời hát ví thường là câu văn thể lục bát hay lục bát biến thể nhưng sử dụng rất ít từ Hán – Việt. Với cách sử dụng rất nhiều từ địa phương thân thuộc nhưng lại đạt được phong thái tự nhiên. Sự chải chuốt đó mang đến cho lời hát trữ tình giàu tính nhạc điệu bay bổng ngân vang mà rất gần gũi mang đậm chất của người dân xứ Nghệ.

– Một ngày hai bận trèo non
Lấy chi mà đẹp mà giòn hỡi anh

– Một ngày hai bận cơn đèn
Lấy chi má phấn răng đen hỡi chàng

– Đưa anh ra tận cầu Dằng
Tình so Ngàn Hống, ngãi bằng rào Trum

Hát đò đưa cũng là một lối hát ví đặc trưng của cư dân sông nước. Giọng hát ngân nga lẫn vào dòng chảy của con nước, khi là lời tự tình của trai gái , khi bày tỏ mối đồng cảm. Khi thì hát với những con thuyền xuôi ngược, khi thì hát với chính mình với đất trời với tiếng khua của mái chèo, với tiếng sóng vỗ của mạn thuyền rồi bỗng nhiên có tiếng hát đối vọng lại từ bờ, cứ như thế như thế con thuyền khuất dần cùng giọng hát âm vang hòa vào tiếng sóng

– Bóng trăng em tưởng bóng đèn
Bóng cơn em tưởng bóng thuyền anh xuôi

– Nác chảy cho bè anh trôi
Ai bắt bè anh lại kết nên đôi vợ chồng

Trong các lối hát ví thì hát phường vải là lối hát chặt chẽ, qui cũ nhất và có luật của lối hát giao duyên. Không như các lối hát khác mang tính đại chúng thì hát phường vải khắt khe hơn, có cả sự tham gia của các nhà nho, các vị khoa bảng, các cậu học trò.

Điển hình cho lối hát này là hát phường vải Trường Lưu (Nơi đây ngày xưa nổi tiếng với là làng vải Trường Lưu và một dòng văn có tiếng vang lớn).

Hát phường vải diễn ra rất nhiều chặng và có thể kéo dài trong thời gian dài có lẫn cả đố và đối đáp nên nó đòi hỏi trình độ của các phường hát vì lý do này mà hát phường vải chỉ thịnh hành ở những vùng có truyền thống nho học. Nó gồm nhiều trường đoạn được phân khúc khá rõ ràng :

Khi “Phường” hát con trai đến thì đánh tiếng ngay từ ngoài ngõ:
Chốn này vui vẻ tưng bừng,
Hạc nghe tiếng phượng xa chưng tới nơi
Phường con gái đang dệt vải , xe sợi sẽ hát đối lại:
Dừng xa khoan kéo ơ phường
Hình như có khách viễn phương tới nhà

Thế là hai phường bắt đầu hát dạo, hát hỏi, khi đã say thì hát hát chào mừng.
Trượng đoạn hay nhất là trường đoạn hát đố. Một trường đoạn rất khó cần cả kiến thức và văn chương.  Đoạn này diễn ra có thể nhiều đêm. Nhiều khi phường hát con gái còn mời cả thầy nho, thầy đồ về trùm kín mặt để đối lại với phường hát con trai. Bởi lý do này mà hát phường vải ngoài tính dân gian, trữ tình còn giàu chất trí tuệ.
Khi đã thân thiết là các màn “hát mời”, “hát xe kết” và cuối cùng là “hát tiễn”

-Anh về nước mắt dòng dòng
Thấu thiên thấu địa, thấu lòng em chưa?

-Ra về chín nhớ mười thương,
Bước chân lên ngựa cầm cương dùng dằng.

Sưu tầm

http://nghean.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=251:hat-vi-x-ngh-&catid=38:chuyen-de-hoi-thao&Itemid=94

A.H. : Dân ca Ví Dặm Xứ Nghệ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia


Dân ca Ví Dặm Xứ Nghệ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia
Cập nhật ngày: 10/01/2013, 08:08 GMT+7.
(Ha Tinh 24h) – Vừa qua, nghệ thuật trình diễn dân gian dân ca Ví Dặm Xứ Nghệ (thuộc 2 tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An) đã được Bộ VH – TT & DL công nhận là di sản văn hóa cấp Quốc gia.

Tiết mục tham gia Liên hoan dân ca Ví Dặm Xứ Nghệ của CLB Cương Gián (Nghi Xuân – Hà Tĩnh)

Nội dung này nằm trong Quyết định số 5079/ QĐ – BVHTTDL về việc công nhận 33 di sản văn hóa phi vật thể là di sản cấp Quốc gia. Theo đó, Chủ tịch UBND các cấp nơi có di sản văn hóa phi vật thể được công nhận lần này, trong phạm vi và quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước đối với di sản theo quy định của pháp luật.

Bà Phan Thư Hiền – Phó GĐ Sở VH – TT & DL Hà Tĩnh cho biết: “Sau khi tiếp nhận quyết định, Sở VH – TT & DL Hà Tĩnh sẽ tiếp tục phối hợp với Sở VH – TT & DL Nghệ An đẩy mạnh hơn nữa quá trình khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị di sản này đồng thời hoàn thành các thủ tục cần thiết để trình UNESCO công nhận dân ca ví giặm Xứ Nghệ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”.

A.H

( Theo: Báo Hà Tĩnh )

Read more: http://hatinh24h.org.vn/28825/dan-ca-vi-da%CC%A3m-xu%CC%81-nghe%CC%A3-duo%CC%A3c-cong-nha%CC%A3n-la%CC%80-di-sa%CC%89n-van-ho%CC%81a-phi-va%CC%A3t-the%CC%89-ca%CC%81p-quo%CC%81c-gia.hatinh24h.org.vn.html#ixzz2RZjZkJNh
Tin Tức Hà Tĩnh

QUANG ĐẠI : TÍNH TRÍ TUỆ VÀ CHẤT CHỮ TÌNH TRONG HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI, VIETNAM


TÍNH TRÍ TUỆ VÀ CHẤT CHỮ TÌNH TRONG HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI

Thứ năm, 04/10/2012

Quang Đại

viphuongvaiHÁT ví phường vải là một trong những thể đặc sắc nhất của dân ca ví giặm xứ Nghệ. Một trong những điểm nổi bật của hát ví phường vải là có tính trí tuệ sắc sảo và chất trữ tình đằm thắm trong nội dung lời ca và âm điệu.

Tính trí tuệ

Trí tuệ trong hát phường vải xuất phát từ tính chất hát đối đáp, đối thoại, thử thách về trình độ hiểu biết, trí thông minh của nhau. Bên cạnh tri thức, yêu cầu quan trọng của người hát là nhanh trí và khôn khéo, có khả năng ứng xử và đối phó mau lẹ, tinh tế với những tình huống phức tạp, bất ngờ.

Một trong những thủ tục bắt buộc của một cuộc hát ví phường vải là bên nam phải trả lời được câu đố của bên nữ mới được mời vào để hát tiếp. Trả lời câu đố xem như là chiếc vé vào cửa để tiếp tục cuộc vui. Nhà văn Nguyễn Tất Thứ viết: “Đã đi nhởi đến phường vải, dù khó thế nào cũng phải đối, nếu không sẽ bị phường ví kháy, đến xóc xương. Kể cũng khổ biết bao cho các thầy nho đi ví, không những đã đối là phải đối cho chỉnh, lại còn phải đáp nữa. Nếu đối mà không đáp tức sẽ bị sổ truôn, đáp mà không đối cũng bị chị em loại ra ngoài ngõ…” (Ví phường vải). Hoạt động đố – đáp – đố diễn ra liên tục, do đó cả hai bên đều phải có sự chuẩn bị về kiến thức, đặt lời hát và dự trù các tình huống để trả lời. Nhiều người hát giỏi cứ nghe ở đâu có phường hát hay là đến, để được thử tài, thi tài.

Chính không khí đối đáp thử thách tài năng đã tạo ra tính trí tuệ cho lời hát ví phường vải. Sản sinh trong môi trường sản xuất nông nghiệp đã đạt đến trình độ cao và là những cái nôi của học hành khoa cử, nhiều nghệ nhân và người tham gia hát, “thầy bày” là môn đồ cửa Khổng sân Trình hoặc chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của nền văn hóa Hán nên trong nội dung hát ví phường vải nổi lên hai phương diện tri thức dân gian và bác học.

Những câu hát phường vải hàm chứa một kho tàng tri thức, kinh nghiệm dân gian phong phú về thời tiết, thiên nhiên, sản xuất, cuộc sống. Một nhà nho đã có vợ con đề huề đi hát phường vải, có ý “đèo bòng”, bị chị em “chất vấn”: “ấm thân hồ hởi chai lơ. Bàn hoàn chung chén nhắm chờ ai đây?”. Cái thú vị của câu hát là một chuỗi kết hợp “ấm, hồ, chai, bàn, chung, chén, nhắm” đều là những dụng cụ, động tác của một bữa tiệc. Trong hát ví phường vải, yêu cầu người hát không chỉ biết mà còn phải hiểu, hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng và đáp ứng được yêu cầu của người hỏi trong những tình huống đặc biệt. Khi gặp câu hỏi: “Đến đây hỏi bạn một lời. Đá lèn ăn với lộc chi ơi chàng”, nếu chỉ tư duy theo logic thông thường thì sẽ bế tắc, phải là người am hiểu văn hóa dân gian mới có lời đáp: “Anh đây giảng sách đã thông. Đá lèn ăn với trầu không ơi nường”. Còn nội dung đối đáp sau đây “Đố anh chi sắc hơn dao. Chi sâu hơn bể, chi cao hơn trời” – “Em ơi mắt sắc hơn dao. Bụng sâu hơn bể, trán cao hơn trời” không chỉ thể hiện trí tuệ dân gian mà còn chứa đựng quan niệm đề cao con người mang tính nhân văn sâu sắc.

Trí tuệ thông minh, hóm hỉnh của người dân còn được thể hiện trong những tình huống đối đáp “ăn miếng trả miếng”, khi câu hỏi phi logic thì lời đáp cũng phi logic. Ví dụ: “Đi ngang giữa bãi cát vàng. Con rồng đau bụng, hỏi chàng thuốc chi?”. Đã không có chứng “rồng đau bụng” thì các “vị thuốc” cũng phải “độc”, không thể tìm được: “Lông lươn, đuôi ếch, rễ cột nhà. Xương trùn (giun), mỡ mọi (muỗi), nước đái gà làm thang”.

Với sự tham gia của các đối tượng hiểu biết về văn chương chữ nghĩa, nội dung lời hát ví phường vải mang tính chất bác học, rõ nhất là sự xuất hiện với tần số cao các yếu tố văn hóa Hán Nho. Có rất nhiều các câu hát đố chữ, đố kiến thức, chơi chữ Hán, các tác phẩm văn chương bác học, lịch sử dân tộc … Lối “bẻ chữ” được thể hiện trong nội dung đối đáp: “Nghiêng tai nói nhỏ với vua. Chàng mà đối được, thiếp mua làm chồng” – “Ông Thánh Khổng tử là ai. Trên thời chữ “nhĩ”, dưới bài chữ “vương”. Nguồn gốc câu đố xuất phát từ chữ “thánh”  gồm phía trên chữ “nhĩ”  và chữ “khẩu” (    ), phía dưới chữ “vương”. Sau này, khi tiếng Pháp được giảng dạy ở Việt Nam, thì trong lời hát ví phường vải cũng có chữ Pháp. Ví dụ: “Sao rua gọi suốt ngày đêm. Lòng anh mến mãi dạ em mê hoài”, có sự xuất hiện của hai chữ Pháp là “jour” (rua) nghĩa là ban ngày và “aimer” (mê) nghĩa là yêu thương.

Có sự hòa quyện đến mức khó tách bạch giữa tri thức dân gian và tri thức sách vở trong lời hát ví phường vải, hay nói cách khác tri thức bác học đã được “folklore hóa” để câu hát không còn khô khan mà phập phồng hơi thở của sự sống nhân gian. Không chỉ am hiểu tri thức sách vở, mà còn phải là người địa phương Nghệ Tĩnh mới có được câu ví sau: “Ai xô ông Tể, ông Tể Ngã. Ai lôi ông Phàn, ông Phàn Trì? Chàng mà đối được, thiếp nữ nhi xin về” – “Ai đạp ông Cô mà ông Cô Trúc, Ai đơm vua Vũ mà vua Vũ Vương. Anh đà đối được thì nường tính răng?” (“trúc”, phương ngữ Nghệ Tĩnh nghĩa là đổ, ngã). Tri thức sách vở, đạo lý thánh hiền là tài sản chung, ai học thì biết, nhưng vận dụng vào tình huống thực tiễn sao cho hợp tình hợp lý mới là khó. Tình huống bên nữ đưa ra “Quân sư phụ là tam cương giả. Đi một chuyến đò đắm cả cứu ai?” quả là nan giải; bên nam nhanh trí đáp: “Anh liều nhảy xuống sông ba. Trên đầu đội chúa, lưng cõng cha, tay dắt thầy”. Hoặc khi cô gái hỏi: “Tiếng đồn anh học chữ ngoài triều. Chị dâu rơi xuống giếng nắm đường nào kéo lên?”, trả lời sao cho “vẹn cả đôi đường” không dễ. Nhưng trí tuệ dân gian đã lóe sáng: “Anh xách cái đầu lỗi đạo nhân huynh. Thò tay vào mình “thụ thụ bất thân”. Không cứu chị dâu thì lỗi đạo từ đường. Dòng dây thả xuống giếng, chị nương chị trèo”. Trong hai câu hỏi tình huống nói trên cũng là kiểu “giễu nhại” của người dân về sự cứng nhắc, máy móc của đạo lý Nho gia.

Chất trữ tình đằm thắm

Nội dung trữ tình của hát ví phường vải rất phong phú, thể hiện vẻ đẹp, chiều sâu tâm hồn của người dân qua các thời kỳ lịch sử. Hát “ví” nghĩa là hát đối đáp, giao lưu tình cảm nên âm hưởng trữ tình chiếm vị trí chủ đạo. Tính chất trữ tình đằm thắm toát lên từ nhiều yếu tố: không gian, thời gian, cử chỉ, điệu bộ, âm điệu, ca từ… mà để hiểu, cảm một cách đầy đủ, phải trực tiếp tham gia hay chứng kiến cuộc hát phường vải. Một ánh trăng, làn gió, tiếng xa quay, một ánh mắt, nét cười, tiếng “ơi”… đều góp phần tạo nên không khí trữ tình đam mê khó diễn tả, chỉ người trong cuộc mới thấu hiểu. Ở phương diện lời ca, có thể thấy sự xuất hiện với tần số cao các từ ngữ hô gọi, với âm hưởng tha thiết, hướng đến sự giao cảm về tâm hồn: “ơi”, “hỡi”, “có hay”, “rứa chàng”, “rứa em”, “tính răng”, “ơ mình”, “xin thưa”… và các từ ngữ thể hiện tâm trạng, khát vọng “nhớ”, “thương”, “yêu”, “say”, “mê”, “mến”, “ngẩn ngơ”, “sầu”, “chờ”, “tìm”… Cách xưng hô cũng hết sức trìu mến: “khách tương phùng – tương tri”, “chàng – thiếp”, “anh – em”, “bạn – mình”, “đôi ta”, “người tình nhân”, “quân tử – thuyền quyên”… Khi chia tay bạn hát hỏi: “Ra về có nhớ em không. Hay là vui thú vườn hồng quên đi?”, chàng trai cất lời: “Ra về nhớ lắm em ơi. Nhớ duyên em nói, nhớ lời em thưa”. Đúng là rút ruột mà hát. Trong ví phường vải có rất nhiều câu như vậy.

Trong hát ví phường vải, có một thế giới hình ảnh ví von so sánh đậm chất trữ tình. Trong lời hát chào, hai bên đều đưa ra những hình ảnh có vẻ đẹp tao nhã, thể hiện tình cảm mến yêu, trân trọng đối với nhau. Đó là các hình ảnh “ong bướm”, “vườn hoa”, “Tần cung”, “hạc”, “phượng”, “rồng”, “mây”, “sen”, “liễu”, “Thúy Kiều – Kim Trọng”, “Vân Tiên – Nguyệt Nga”, “thiên thai”, “đào tiên”, “trăng bạc – gió vàng”… Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều hình ảnh so sánh gắn liền với “đôi ta”, hình ảnh nào cũng gợi hình, gợi cảm, chan chứa yêu thương: “Đôi ta như chỉ xe đôi. Khi săn, săn cả, khi lơi, lơi cùng”; “Đôi ta như rắn liu điu. Nước chảy mặc nước, ta dìu lấy nhau”; “Đôi ta như miếng trầu cau. Giấu thầy giấu mẹ đưa sau bóng đèn”; “Đôi ta như bấc với dầu; Khêu ra cho rạng kẻo sầu tương tư”; ” Đôi ta như cặp chim non; Khi vui ríu rít, khi buồn vẩn vơ”…

Xu hướng phổ biến trong chất trữ tình của hát ví phường vải là âm hưởng trầm buồn, tha thiết. Theo nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao, nguyên nhân của hiện tượng này do hoàn cảnh cuộc sống ngày xưa, những mối duyên tình nam nữ thường không đạt như ý nguyện; tình duyên càng bị ngăn cản, đè nén càng biểu hiện tha thiết, mãnh liệt trong lời ca, tiếng hát với bạn tâm giao. Theo chúng tôi, nguyên nhân dẫn đến âm hưởng trầm buồn trong hát ví phường vải không chỉ có thế, mà còn xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, kinh tế – xã hội của thời xưa, cũng như xuất phát từ nguyên lý sáng tạo của văn học nghệ thuật nói chung, ca dao dân ca nói riêng. Kinh Thi có câu: “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao” (Lòng ta buồn, ta ca hát), khi người ta buồn thường tìm bạn tâm giao để chia sẻ, và thường mượn lời ca tiếng hát để giãi bày.

Nhân đây, xin nói thêm là trong một số bài viết, nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao cho rằng hát ví phường vải là hát giao duyên, của những đôi trai gái yêu mến nhau và để kết nối tình duyên đôi lứa. Nếu quan niệm như vậy, sẽ không thể giải thích được hiện tượng rất nhiều người đã có chồng, có vợ, nhiều người cao tuổi râu tóc bạc trắng cũng đam mê hát phường vải đêm này qua đêm khác, phường này qua phường khác. Nếu chỉ vì mục đích giao duyên, khi mục đích đã đạt được, hoặc không còn cơ hội (đã kết hôn), thì người ta sẽ không hát nữa, nhưng sự thực không phải như vậy. Do đó, thiết nghĩ nên lí giải vấn đề ở một góc độ khác. Chúng tôi cho rằng, hát ví phường vải là một sinh hoạt văn hóa, một loại hình nghệ thuật mà các đối tượng tham gia được “nhập vai”, được sống trong một thế giới của cái đẹp, của sự thăng hoa về cảm xúc, tâm hồn, được thỏa mãn nhu cầu tình cảm và thẩm mỹ. Điều này lí giải sức hấp dẫn mạnh mẽ, bền bỉ của hát ví phường vải đối với những người trong cuộc.

Mối quan hệ giữa yếu tố trí tuệ và trữ tình trong hát ví phường vải

Giữa hai yếu tố trữ tình và trí tuệ của hát ví phường vải có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời, “tuy hai mà một”. Trong đó, yếu tố trữ tình là chính, còn yếu tố trí tuệ chỉ là phương tiện để nhằm chuyển tải nội dung trữ tĩnh. Câu đối đáp sau là một ví dụ: “Kim là vàng, kim là nay. Phùng là gặp, phùng là may. Tối hôm nay may gặp bạn tương phùng. Kim vàng may tấm tình chung nỉ vàng” – “Đăng là đèn, đăng là lên. Thành là thật, thành là nên. Toan đem tay ngọc gạt thêm ngọn đèn”. Các từ ngữ Hán Việt được lựa chọn nhằm biểu đạt cảm xúc vui mừng khi gặp bạn tương tri, khát khao chân thành gắn bó dài lâu, chung thủy.

Không phải ngẫu nhiên mà cô gái đố: “Đấm một đấm hai tay ôm quàng. Thuyền chèo lên núi, thiếp hỏi chàng chữ chi?”. Trong câu hỏi này, chữ nghĩa (chữ “mật”: ) được diễn giải một cách độc đáo, tinh nghịch, gợi nên khát khao tính giao thầm kín, một điều vô cùng khó diễn tả bằng cách nói trực tiếp, đối với phái nữ. Và cách trả lời của chàng trai cũng rất tế nhị: “Lại đây nói nhỏ em nì. Đó là chữ “mật” một khi rõ ràng”. Vì là chữ “mật” (bí mật) thì phải ghé tai nói nhỏ, nhưng cũng gợi nên mối quan hệ thân mật, gần gũi, rất phù hợp với ẩn ý mà cô gái nêu lên.

Trong cách chơi chữ có vẻ lắt léo sau đây, không khó để nhận ra tình cảm thiết tha đằm thắm của những người trong cuộc: “Nhớ anh nhất nhật một ngày. Đêm tơ tưởng dạ, lòng rày nhớ trông”  – Chờ em nửa tháng ni rồi. Ôm đờn bán nguyệt dựa ngồi bóng trăng”; “Dở dang, dang dở vì sông. Ngày làm công nhật, đêm trông dạ chàng” – “Tưởng tơ, tơ tưởng vì tơ. Trăng lồng bóng nguyệt, gió đưa phong tình”.

http://vnmusic.com.vn/p2410-tinh-tri-tue-va-chat-chu-tinh-trong-hat-vi-phuong-vai.html

Theo nhà văn Nguyễn Tất Thứ, khi Phan Bội Châu và các bạn văn chương đi hát, bên nữ đố: “Độc đạo Nam thành chí Bắc thành. Thiên trung bán nguyệt điểm tam tinh. Tam nhân đồng tọa ngưu vô giác. Nhất điểm tam hoành dữ khẩu thanh. Chàng mà giải được, thiếp xin theo hầu”. Trong 4 câu hát có 4 chữ Hán, bốn chữ hợp lại thành một câu có ý nghĩa, quả là rất khó. Nhưng đối với những người tài năng xuất chúng như Phan Bội Châu và đồng môn thì không cần suy nghĩ lâu đã có ngay lời đáp: “Nhất tâm phụng thỉnh” ơn nàng. Một lời ghi tạc đá vàng thủy chung”. Bốn chữ trong câu đố: “nhất     , “tâm”    , “phụng”       , “thỉnh”        nghĩa là “một dạ xin mời” rất mực chân tình, trân trọng. Ở đây, chữ nghĩa, tri thức chỉ là phương tiện, như dây nối để con diều trữ tình cất cánh, thăng hoa. Nếu chỉ thuần túy trí tuệ, lí tính thì câu hát sẽ sa vào rắc rối, cầu kì, khô khan, kém hấp dẫn. Câu hát ví phường vải sở dĩ có sức sống bền lâu trong tâm thức nhiều thế hệ nhân dân là bởi sự hòa quyện giữa hai yếu tố trí tuệ và trữ tình, trong đó trữ tình là nội dung chính.

BÍCH HUỆ : Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải, VIETNAM


Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải

01/05/2012 | 09:53:00
 

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
 
Hát Phường vải là một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hát Phường vải vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Nhưng trước sự du nhập của văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập, cùng với việc thiếu kinh phí, thiếu nguồn nhân lực, các câu lạc bộ hát Phường vải ở Nghệ An đang đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động.

“Cứ đến mùa lễ hội hay dịp sinh nhật Bác là tôi lại đau đầu lo nghĩ” – ông Hoàng Thế Lựu, Chủ nhiệm câu lạc bộ dân ca Kim Liên mở lời. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi mang tiếng là câu lạc bộ nhưng chỉ vẻn vẹn có 10 hội viên, người “trẻ” nhất cũng ở độ tuổi 40, người lớn tuổi thì cũng đã qua ngưỡng 90, khiến việc tập hợp và tập luyện khá vất vả.

Mong muốn có tiết mục tham dự năm nay khác đi, mới mẻ hơn, sinh động hơn các năm trước hay tìm cho ra những hạt nhân văn nghệ mới, trẻ trung hơn cho câu lạc bộ quả thực là rất khó.

Đó là chưa nói đến việc không có kinh phí để trang trải, duy trì hoạt động của câu lạc bộ. “Sau mỗi mùa lễ hội, câu lạc bộ hát Phường vải tạm thời ngừng hoạt động, khi có đợt phát động mới thì chúng tôi tập hợp hội viên lại để tập luyện và đi thi. Khi mới thành lập, câu lạc bộ có đến 30 thành viên, càng về sau lớp già thì mất đi, còn lớp trẻ thì bỏ dần. Giờ đây, câu lạc bộ hát Phường vải chỉ duy trì theo kiểu đối phó” – ông Lựu cho biết thêm.

Ngay cả câu lạc bộ hát Phường vải Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn một năm cũng chỉ sinh hoạt được hai lần. Ông Trịnh Hưng Minh, Chủ nhiệm câu lạc bộ cho biết đến ngày sinh hoạt, các thành viên trao đổi nghiệp vụ, tập những làn điệu mới, bài hát mới, riêng tổ âm nhạc thì tập luyện nhạc cụ.

May mắn hơn các câu lạc bộ khác, câu lạc bộ của Trung tâm Văn hóa thông tin quy tụ 30 hạt nhân văn nghệ đến từ các trường, các xã trên địa bàn. Song do hoạt động không thường xuyên nên chất lượng và tính phổ quát chưa nhiều.

So với câu lạc bộ hát dân ca thì câu lạc bộ hát Phường vải vừa ít về số lượng (khoảng 10 câu lạc bộ) vừa kém về chất lượng, hoạt động lại cầm chừng. Câu hát Phường vải khá chải chuốt, khá điêu luyện, trải qua một thời gian dài hàng mấy trăm năm, người dân với lối tư duy hình tượng đã đem tâm hồn và trí tuệ của mình tạo nên những câu ca hồn nhiên, trong sáng.

Nội dung hát Phường vải mang đậm tính trữ tình, song nó khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát có phức tạp hơn.

Để hát đúng với một cuộc hát Phường vải phải hát có lớp lang như hát lơ lửng (hát dạo), hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát tình (hát xe duyên), hát tiễn hẹn trong không gian, môi trường diễn xướng khá chật hẹp là ở sân vườn (hoặc sân đình) và người phụ nữ đang ngồi quay xa, dệt vải. Tuy nhiên, do hát lời cổ, giai điệu trầm buồn, không có nhạc đệm nên khó lôi cuốn người hát lẫn người nghe.

Nghệ nhân dân gian là những tác giả của những câu hát Phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví mang đậm bản sắc quê hương. Bà Nguyễn Thị Kỳ, xóm 13 xã Hồng Long, Nam Đàn năm nay đã tròn 100 tuổi, nhưng tuổi tác dường như không phải là rào cản niềm đam mê hát ví Phường vải.

Bà tâm sự: “Ngày xưa nam thanh nữ tú trong làng ai ai cũng biết hát Phường vải. Hát Phường vải là một cách trò chuyện, đối đáp thông minh giữa bên nam và bên nữ, họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Cũng từ hát Phường vải mà vợ chồng bà nên duyên.”

Theo bà Kỳ, hát ví thường có những từ đệm như ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Bởi thế lớp trẻ ngày nay khó hát và không mấy ai say sưa với câu hát ví này.

“Lớp người cũ như bà rồi cũng mất đi, các bà đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc bằng cách ‘già dạy trẻ, trẻ học già’ vào thời gian rỗi. Nhưng làm thế nào để lớp trẻ thẩm thấu và yêu câu hát ví Phường vải, say mê thực sự với nó và muốn nó sống thực sự trong đời sống tinh thần là cả một chặng đường dài,” bà Kỳ đau đáu.

Theo thống kê, các nghệ nhân dân gian hát Phường vải ở Nghệ An giờ chỉ còn 6 người, tuổi các cụ cũng được xếp vào “xưa nay hiếm.” Các thành viên tham gia câu lạc bộ hát Phường vải cũng xuất phát từ yêu câu hát ví Phường vải mà tham gia. Vì không có kinh phí để hoạt động, họ tự bỏ tiền túi quyên góp lại để duy trì câu lạc bộ. Nhiều gia đình có hai đến ba thế hệ cùng tham gia.

Khó hát, thiếu nguồn kinh phí, thiếu nhân lực, thiếu sự quan tâm chỉ đạo… những khó khăn ấy có thể khắc phục được nếu chính quyền địa phương có quyết tâm gìn giữ câu hát ví Phường vải của quê hương.

Thực tế thời gian qua, tỉnh Nghệ An cũng đã thành lập Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, lập đề án Đưa dân ca vào trường học, huyện Nam Đàn cũng đã có đề án Bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải song chưa mang lại hiệu quả.

“Bảo tồn thì chúng tôi vẫn làm được, song việc phát huy thì ngày càng bế tắc,” ông Trần Xuân Giáp – Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn thừa nhận.

Theo đề nghị của các câu lạc bộ, thời gian tới, huyện Nam Đàn cần cử cử cán bộ văn hóa về cơ sở để tổ chức thực hiện việc bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải. Bên cạnh đó, mời các nghệ nhân dân gian và những hạt nhân văn nghệ trẻ đến để truyền lửa theo kiểu “già dạy trẻ, trẻ học già.” Mở rộng thành viên tham gia câu lạc bộ như giáo viên thanh nhạc, các em học sinh trong các nhà trường để đào tạo đội ngũ trẻ.

Huyện cũng cần có kinh phí trích cho các xã chi cho câu lạc bộ hoạt động thường xuyên để huy động nhân lực. Bên cạnh mở các lớp tập huấn cho cán bộ văn hóa ở cơ sở, các câu lạc bộ, ngành văn hóa phối hợp với ngành giáo dục tăng cường hơn nữa công tác đưa dân ca vào trường học, chính trong môi trường này vừa phát hiện vừa bồi dưỡng lớp trẻ thuận lợi nhất.

Hát ví Phường vải là phong trào văn hóa văn nghệ xuất phát từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Tuy nhiên hiện nay, phong trào này đang trở nên hình thức hóa chỉ mang tính biểu diễn, đua tài giữa câu lạc bộ này với câu lạc bộ khác mà chính người dân lại không có cơ hội được xem, nghe và tham gia.

Theo các câu lạc bộ, trừ những hội thi, hội diễn lớn mang tầm quốc gia, những hội diễn nhỏ ngành Văn hóa chỉ nên giao cho các địa phương tổ chức thi tại địa phương mình. Cách làm này vừa phù hợp với không gian văn hóa, môi trường diễn xướng của hát ví Phường vải vừa thiết thực phục vụ nhân dân, đến gần với dân hơn./.

Bích Huệ (TTXVN)

Nghệ An: Bảo tồn và phát triển hát Ví Phường vải, VIETNAM


Nghệ An: Bảo tồn và phát triển hát Ví Phường vải

Tin tức Du lịch – 24/05/2010 09:44

Nghe An: Bao ton va phat trien hat Vi Phuong vai

4 năm thực hiện Đề án bảo tồn và phát huy hát Ví Phường vải, hiện loại hình nghệ thuật dân gian này trên địa bàn huyện Nam Đàn (Nghệ An) đang từng bước phục hồi và phát triển.

 

Từ lâu, hát Ví Phường vải là tiếng hát truyền thống trong đời sống tinh thần của nhân dân Nam Đàn. Tuy nhiên, quá trình phát triển của loại hình nghệ thuật dân gian này gặp nhiều thăng trầm và có lúc hầu như bị lãng quên.

Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, hát Ví Phường vải ở Nam Đàn mới được khôi phục lại nhưng do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, sự du nhập của các loại hình âm nhạc thời thượng nên loại hình nghệ thuật dân gian này bị coi là lạc hậu, cổ hủ không phù hợp với thời đại. Trước thực trạng đó, năm 2006, huyện Nam Đàn đã xây dựng đề án “Bảo tồn và phát huy hát Ví Phường vải trong dân ca xứ Nghệ ở Nam Đàn”.

Theo đó, đề án bảo tồn và phát huy trên cơ sở xây dựng các câu lạc bộ hát phường vải tại các thị xã và thị trấn, trong các trường học, tổ chức tìm hiểu thi hát dân ca… Đồng thời, huyện còn thực hiện sưu tầm các bài hát cổ, sáng tác các ca khúc cải biên nhằm thu hút sự quan tâm của giới trẻ.

Bà Nguyễn Thị Hằng – Phó Chủ tịch huyện Nam Đàn (Nghệ An) cho biết, huyện đã thực hiện xã hội hóa, huy động và khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân tham gia hát dân ca – phường vải cũng như gắn kết loại hình nghệ thuật dân gian này trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng như: lễ hội, giao lưu văn hóa…

Qua 4 năm thực hiện đề án, trên địa bàn huyện đã cơ hơn 13 câu lạc bộ hát ví Phường vải. Nhiều chương trình văn nghệ, hoạt động chính trị cũng được lồng ghép chương trình hát ví Phường vải không những nhằm quảng bá cho du lịch Nam Đàn mà còn để bảo tồn và lưu giữ văn hóa truyền thống của dân tộc.

http://www.baomoi.com/Nghe-An-Bao-ton-va-phat-trien-hat-Vi-Phuong-vai/52/4306855.epi

WIKIPEDIA : HÁT PHƯỜNG VẢI, VIETNAM


Hát phường vải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hát phường vải, hay Ví phường vải, là một điệu hát của người dân, thể loại đối đáp giao duyên của dân ca Nghệ An, Hà Tĩnh. Điệu hát thể hiện sự cần mẫn, trí tuệ, khoe sắc, đua tài. Xuất hiện từ khi nào chưa ai biết chính xác, phát triển rộng rãi ở những vùng dệt vải. Các giai điệu ứng đối, sáng tác, chỉnh sửa. Thường có các ông đồ bổ sung nhiều về phần đối ứng. Là một môn nghệ thuật như món ăn tinh thần của người dân xứ Nghệ, một số làng xã đã thành lập câu lạc bộ hay trung tâm hát ví phường vải.

Mục lục

Nhạc cụ đi theo

Phường vải sử dụng tối thiểu là cần, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tranh, trống con, ngoài ra có thể sử dụng sáo, đàn bầu, đàn đáy, đàn tam thập lục , đàn tam, đàn tỳ bà, trống cái, trống cơm.

Những chặng hát

Chặng một, ba bước: “Hát dạo” – “hát chào”, “hát mừng” – “hát hỏi”.

Chặng hai, một bước: “Hát đố”, hát đối là bước rất quan trọng, có được mời vào nhà để tiếp tục hát hay không là ở chặng này.

Chặng ba, ba bước: “Hát mời” (vào nhà) – “hát xe kết” (bước căn bản, bước dài nhất) gồm “hát thương”, “hát nhớ”, “hát than”, “hát trách”…

Phát huy thế hệ trẻ

Hiện tại các cấp chính quyền rất quan tâm cho môn nghệ thuật này, nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả cao trong công tác. Còn lớp trẻ, do chưa có thời gian tập luyện và chưa được bồi dưỡng kỉ, nên chỉ hát bắt chước điệu. Không thành thạo về kỹ năng, kỹ xảo, chưa kết hợp được hát và múa. Muốn tập luyện phải bỏ công dày sức học hỏi mới có điều kiện, phỏng lại hình ảnh của những người xưa.

Các nghệ nhân cao tuổi bắt đầu thưa dần, nếu có biểu diễn thì giọng hát của các cụ yếu và không cất cao được. Nhằm khôi phục, gìn giữ và phát huy tiếng hát phường vải, theo ông Nguyễn Hữu Cự là “trẻ học già, già dạy trẻ”.

Liên kết ngoài

MAI HƯƠNG : Tổng kết Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012, VIETNAM


Tổng kết Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012
 

Sau ba ngày diễn ra sôi nổi, tối qua (25/6), tại TP Vinh, Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ 2012 đã thành công tốt đẹp. Dự lễ tổng kết có các ĐC Hồ Đức Phớc – phó bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Xuân Đường – phó chủ tịch UBND tỉnh, trưởng ban tổ chức Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ; Nguyễn Thiên – Ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cùng lãnh đạo Sở VH, TT&TT 2 tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, các ban ngành liên quan.

Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ 2012 quy tụ sự tham gia tranh tài của 22 Câu lạc bộ với gần 700 diễn viên, nghệ nhân, nhạc công. Đây là những gương mặt tiêu biểu được chọn lựa từ phong trào hát dân ca ở cơ sở mà nền tảng phong trào là các Câu lạc bộ, đội văn nghệ dân ca của xã, phường, thị trấn, trường học thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Tuy là lần đầu tổ chức nhưng Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ  được khẳng định là có chất lượng cả về nội dung và nghệ thuật. Các tiết mục tự biên, tự diễn khá nhiều, phản ánh được không gian và môi trường diễn xướng mang sắc thái của địa phương, tính chất nghề nghiệp. Diễn viên được trẻ hoá từ nghệ nhân cao tuổi đến các em học sinh phổ thông cơ sở, làm cho sân khấu đủ sắc màu, phong phú, đa dạng. Nhiều nghệ nhân dân ca rất chú ý đến giọng hát, kỹ thuật hát, ngân nga theo đúng nhịp phách âm nhạc và sáng tạo riêng thể hiện âm ngữ giai điệu của từng địa phương, từng thể loại hò, ví và giặm.

 
                                                                          (Ảnh: Trần Lan Anh)

Việc tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ lần đầu tiên là tiền đề để hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức Liên hoan này theo hình thức Liên hoan dân ca cấp cụm hàng năm và Liên hoan cấp tỉnh hai năm một lần. Từ đó, đẩy mạnh phong trào xây dựng Câu lạc bộ dân ca ví, giặm Xứ Nghệ, làm cho phong trào hát dân ca ngày càng sâu rộng. Đồng thời, đây là điều kiện để 2 tỉnh triển khai việc lập hồ sơ khoa học trình Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, hướng tới lập hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Xứ Nghệ là di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Tại lễ tổng kết, Ban tổ chức đã trao hai giải nhất cho Câu lạc bộ xã Nghi Liên, thành phố Vinh, Nghệ An và Câu lạc bộ xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh; 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 10 giải khuyến khích. Ngoài ra, Ban tổ chức cũng trao Chứng nhận Nghệ nhân cao tuổi trình diễn xuất sắc cho cụ Khánh Cẩm, 82 tuổi – Câu lạc bộ Kỳ Thư, Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh; Tác giả có nhiều tiết mục xuất sắc cho cụ Cao Xuân Thưởng – Câu lạc bộ Diễn Thái, Diễn Châu, Nghệ An; Nghệ nhân nhỏ tuổi trình diễn xuất sắc cho Nguyễn Thi Hiền, 14 tuổi – Câu lạc bộ xã Nghĩa Hội, Nghĩa Đàn. Đơn vị sử dụng trang phục, đạo cụ phù hợp đẹp nhất cho Câu lạc bộ Lam Hồng –  phòng Giáo dục và đào tạo Thành phố Vinh.

 

(Mai Hương – Thanh Hà)-NTV

http://www.vinhcity.gov.vn/?detail=19477&lang=1&tong-ket-lien-hoan-dan-ca-vi-giam-xu-nghe-nam-2012

LIÊN HOAN DÂN CA VÍ,DẶM XỨ NGHỆ NĂM 2012


Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012 11:48

LIÊN HOAN DÂN CA VÍ,DẶM XỨ NGHỆ NĂM 2012

Viết bởi 

Liên hoan Dân ca ví, dặm xứ Nghệ năm 2012 sẽ diễn ra từ ngày 23 – 26/6 tại tỉnh Nghệ An với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”.

Hướng nội dung chủ đề ca ngợi tinh thần lao động, tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi Đảng, Bác Hồ, Liên hoan Dân ca ví, dặm xứ Nghệ năm 2012 tập trung chủ yếu vào hai thể hát chính là: ví và dặm, nhằm mục đích hướng tới việc lập Hồ sơ khoa học đề nghị đưa Dân ca ví, dặm xứ Nghệ vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp.

Theo Ban Tổ chức liên hoan, thời lượng chương trình tham gia của các Câu lạc bộ Dân ca được quy định khoảng 70% là các làn điệu dân ca ví, dặm gốc và 30% các làn điệu dân ca ví, dặm cải biên. Các tiết mục hát dân ca khuyến khích các làn điệu cổ, các làn điệu cải biên có tính phổ biến; tái tạo các trò diễn xướng dân gian dân ca ví, dặm. Cùng với đó là các hình thức thể hiện: hát đơn, hát đôi, hoạt ca, hoạt cảnh; trang phục, đạo cụ phải gắn với nội dung, tính chất của làn điệu, phù hợp với môi truờng và không gian diễn xướng.

Liên hoan do Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phối hợp tổ chức.

 http://hottour24h.vn/tin-tuc-du-lich/su-kien-du-lich/item/48-li%C3%AAn-hoan-d%C3%A2n-ca-v%C3%AD,d%E1%BA%B7m-x%E1%BB%A9-ngh%E1%BB%87-n%C4%83m-2012.html

QUANG LÊ : Giáo dục di sản: Những nút thắt phải gỡ, VIETNAM


Giáo dục di sản: Những nút thắt phải gỡ

 

Thứ Bảy, 02/02/2013 09:42

Giáo dục di sản là một bộ phận không thể tách rời của giáo dục truyền thống dân tộc, từ chính trị, kinh tế đến quân sự, ngoại giao, lịch sử và văn hóa… Việc này đã được đề cập đến trong các Nghị quyết của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ và đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện từ nhiều năm nay. Đây là việc làm vô cùng cần thiết, nhưng xem ra kết quả lại chưa được như mong muốn. Vì sao?

Chuyện không mới, vẫn cần cách làm mới

Từ bao đời nay, các thế hệ người Việt Nam vẫn luôn truyền dạy cho con cháu mình từ những việc nhỏ đến những việc lớn, từ lễ phép trong nhà ra họ hàng đến xóm giềng, rồi cộng đồng, xã hội, đất nước, dân tộc và thế giới. Tất cả những việc làm ấy phần lớn đều tự giác và mang tính tự phát, chưa trở thành hệ thống, có qui mô và qui chuẩn khoa học rõ ràng. Chẳng hạn như khi mẹ dắt con vào vãn cảnh chùa đầu xuân, con định giơ tay bẻ một cành hoa, mẹ bảo con không được làm như thế. Con nghe lời mẹ không bẻ cành hoa. Vậy là người mẹ cảm thấy yên tâm là con mình ngoan, biết vâng lời. Còn vì sao con không nên bẻ cành hoa thì người mẹ rất ít khi giải thích rõ, nhiều khi con hỏi, mẹ cũng giải thích “trật kheo” luôn. Phải chăng giáo dục di sản ở ta mới chỉ dừng lại mức ấy (!?).

 

 

Trường THPT Lương Văn Tri – Lạng Sơn đưa Di sản Hát then vào dạy cho các em học sinh. Ảnh: CTV

Gần đây, nhiều cuộc hội thảo khoa học về bảo tồn và phát huy di sản đã tổ chức. Được Văn phòng UNESCO Việt Nam tài trợ, Chương trình “Giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” ra đời và hoạt động từ năm 2009. Một số trường học đưa chương trình này vào nhà trường như là những thí nghiệm bước đầu. Các trường gồm: Tư thục Nguyễn Văn Huyên, THCS Lê Ngọc Hân, THCS Cầu Diễn, THCS Ngô Sĩ Liên (Hà Nội), THCS Tử Nê, THCS Thanh Hối (Hòa Bình) đã tham gia dự án. Ở Quảng Ninh đang triển khai thực hiện Xây dựng bộ tài liệu về Giáo dục môi trường có tên là “Giáo dục bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long” dành cho giáo viên. Còn ở Phú Thọ cũng đưa Di sản Hát xoan vào một vài chương trình ngoại khóa tại một số trường. Ở Hà Nội và Đăk Nông đang triển khai Dự án “Tăng cường năng lực tiếp cận và phản ánh thông tin cho giới trẻ nhằm bảo tồn các giá trị di sản văn hóa”…

Riêng với Nghệ An, cách làm có vẻ bài bản và có tầm nhìn xa, trông rộng hơn. Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ đã và đang từng bước đưa bộ môn dân ca xứ Nghệ vào trường học bằng nhiều hình thức, trong đó có đề án “Thực hiện đưa dân ca vào trường học” giai đoạn 2008 – 2015 của trung tâm.

Trước hết, trung tâm xúc tiến việc nắm bắt thực trạng dân ca xứ Nghệ trong đời sống lứa tuổi học đường thông qua việc điều tra, sưu tầm và lưu giữ các làn điệu hò, hát ví, dặm Nghệ Tĩnh ngay từ đầu những năm 2000. Sau đấy họ đưa ra một chương trình giảng dạy rất cụ thể đối với từng lứa tuổi học đường. Chẳng hạn như trong hệ thống các trường mầm non chỉ là tập làm quen với các làn điệu dân ca xứ Nghệ. Đến bậc tiểu học, học hát dân ca trở thành một bộ môn văn hoá chính thức khoảng 8 năm trở lại đây. Đến cấp trung học cơ sở, âm nhạc đã được đưa vào chính thức, trở thành một trong những môn văn hóa, mỗi tuần một tiết trải đều trong cả năm học, có tổ chức kiểm tra, chấm điểm. Lên đến cấp trung học phổ thông, âm nhạc là chương trình ngoại khóa được tổ chức nhân dịp kỉ niệm những ngày đại lễ của đất nước, những ngày lễ của địa phương, nhà trường, những dịp phát động thi đua…

Cần nhưng chưa đủ…

Tại các cuộc hội thảo, có nhiều ý kiến khác nhau về cách thức đưa giáo dục di sản vào trường học. PGS.TS. Nguyễn Văn Huy – Hội Di sản văn hóa cho rằng, các dự án đưa di sản vào trường học vài năm qua dù ít nhiều thu được tác động tích cực, nhưng còn không ít thách thức đối với các nhà quản lý giáo dục, văn hóa.

Tuy nhiên, nhược điểm của đa số dự án là những người thực hiện chỉ hiểu về di sản văn hóa và truyền thống văn hóa ở mức chung chung, theo lối mòn. Chưa kể đến hàng loạt thách thức mà chính những người thực hiện vấp phải như thiếu và không có sự tham gia, giám sát của các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân ngành văn hóa chưa thực sự cung cấp đủ thông tin tại các di sản, di tích và bảo tàng.

Tại Phú Thọ, vào cuối tháng 11/2012 đã tổ chức Hội thảo khoa học thực tiễn giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông. Ông Hoàng Dân Mạc – Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ khẳng định, việc đưa giáo dục di sản vào trong trường phổ thông là việc làm cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường sự hiểu biết cho thế hệ trẻ về di sản văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông trên quê hương đất Tổ nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung, từ đó tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giá trị di sản truyền thống trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam, tạo điểm tựa tinh thần, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc…

Cũng tại Hội thảo này, bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Phó trưởng phòng GD&ĐT thị xã Phú Thọ đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường tiểu học. Còn PGS.TS. Đỗ Văn Trụ – Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội Di sản Văn hóa Việt Nam lại có quan điểm, việc đưa di sản vào trường học là cần thiết, tuy nhiên theo tôi, chúng ta không cần thiết phải có hẳn một môn Di sản văn hóa trong chương trình học mà chỉ cần lồng ghép nội dung về di sản văn hóa trong trường học. Tất nhiên trong quá trình lồng ghép chúng ta cũng nên chọn lọc những di sản tiêu biểu gắn với thực tế địa phương mà các em sinh sống, chứ không thể dạy những cái chung chung, xa vời so với tầm hiểu biết của các em.

Ai cũng biết đưa giáo dục di sản vào nhà trường là cần thiết, nhưng đưa cái gì và đưa như thế nào xem ra vẫn còn là một bài toán chưa có lời giải một sớm, một chiều. Dẫu biết rằng để có một di sản được cả nước và thế giới công nhận như hôm nay, các thế hệ cha ông chúng ta đã phải mất hàng trăm, hàng ngàn năm và lâu hơn nữa mới tạo lập nên, nhưng nếu các em – những thế hệ tương lai của dân tộc chưa thấy việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản là một phần trách nhiệm của chính mình thì mọi cố gắng của người lớn chúng ta xem ra cũng chỉ như muối bỏ bể mà thôi.

Quang Lê

http://suckhoedoisong.vn/20130202094023754p0c15/giao-duc-di-san-nhung-nut-that-phai-go.htm