VI THÙY LINH : Nhớ NSƯT Bích Được (1926- 2013): Tiếc ‘Hoạn Thư’ hay một thời


Nhớ NSƯT Bích Được (1926- 2013): Tiếc ‘Hoạn Thư’ hay một thời

Thứ Ba, 21/05/2013 12:21 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Bất chấp cái nắng gắt giữa trưa Hè, hôm 16/5, hàng ngàn đồng nghiệp, học trò và người hâm mộ đã đến viếng, tiễn biệt NSƯT Bích Được – một trong các diễn viên (DV) gạo cội cuối cùng của Cải lương Việt Nam qua đời. Bà là một nhân chứng thời hoàng kim của sân khấu, 87 tuổi còn lưu nhan sắc của đào võ nổi danh, một người Hà Nội.

NSƯT Bích Được

NSƯT Khánh Hợi (SN 1923) – vợ của NSND Sỹ Tiến (1916 – 1982, giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV, 2012), đang sống tại Paris, đã bật khóc ngay khi nghe tin dữ. NSƯT Bích Được không chỉ là người em gái thân thiết trong nghề, gần gũi với gia đình bà, mà còn là một trong các nhân chứng ít ỏi cuối cùng của Cải lương Bắc một thời vang bóng.

1. Ê-kíp làm vở Kiều, tác phẩm kinh điển của cải lương Việt Nam – tác giả Sỹ Tiến (1916 – 1982) ra đi sớm nhất, rồi “Sở Khanh” (Sỹ Cát), “Hồ Tôn Hiến” (Triệu Tường) qua đời. Và giờ đến lượt “Hoạn Thư”. Vai diễn Huy chương Vàng này là vai đỉnh cao của NS Bích Được.

Năm 1993, khi đoàn Chuông Vàng và Kim Phụng sáp nhập thành Nhà hát, vở Kiều của Sỹ Tiến tiếp tục được dựng lại, do NSƯT Tuấn Sửu, Sỹ Cát, Bích Được chỉ bảo cho lớp sau. Đây là vở chủ lực của đoàn hơn 50 năm qua. Ngay năm 1976, đoàn Chuông Vàng đã diễn và chinh phục khán giả TP Hồ Chí Minh bằng hàng trăm suất diễn, trong đó có đêm diễn thứ 1.000 kỷ niệm ngay tại Sài Gòn. Giới mộ điệu cải lương thực sự ngỡ ngàng thán phục ca vọng cổ tập thể – màn hát 6 câu dẫn chuyện mở màn.

2. Tôi rất ấn tượng về bà, bàn tay đẹp sửa móng kỹ càng, sơn móng tay màu sen bóng, tóc nhuộm đen chải chuốt, đeo kính mát, má phấn, thoa son nhẹ, thật kiểu cách và sang trọng, đúng là người Hà Nội phố cổ, dù già vẫn toát lên nét thanh quý, lịch lãm.

Hoàng Thị Được, cô bé ở ngõ Yên Thái, cũng theo nghiệp cải lương từ lúc niên thiếu. Là con gái duy nhất của gia đình (có anh và em trai), bé Được làm con nuôi nhà họ Trần và đổi họ theo bố nuôi. Cô gái Trần Thị Được lấy nghệ danh Bích Được, qua các ban hát: Trần Phềnh, Nhật Tân Ban, Quốc Hoa,Kim Chung.

Những người con gái Hà Nội phố cổ ấy trưởng thành qua nhiều ban hát, là các đào hát nổi danh khi tuổi thanh niên. Trước cách mạng 1945, không có liên hoan, hội diễn để trao huy chương, nhưng thế hệ họ là lứa đầu tiên, những ngôi sao thực tài sau bao năm vẫn thơm danh nhiều thế hệ.

Bích Được thông minh, có sắc, vũ đạo tốt, nhưng làn hơi ngắn, đây là hạn chế căn bản với yêu cầu của một DV ca – vũ. Song, Sỹ Tiến đã biến sở đoản này thành ấn tượng, khi ưu ái viết cho vai Hoạn Thư toàn bộ thoại, không cần hát. Mọi kỹ thuật đài từ dồn vào đối thoại của nhân vật “đẳng cấp ghen vô địch” này.

Thế hệ vàng hội tụ trong vở Kiều: Kim Xuân (Thúy Kiều), Tiêu Lang (Kim Trọng), Khánh Hợi (Tú Bà), Bích Được (Hoạn Thư), Tuấn Sửu (Từ Hải), Châu Thuận (Mã Giám Sinh) nhận Huy chương Vàng, Bạc tại Hội diễn Đại hội sân khấu chuyên nghiệp đầu tiên, năm 1962 tại Hà Nội.

Các cặp vợ chồng Sỹ Tiến – Khánh Hợi, Sỹ Hùng – Tường Vi, Tuấn Sửu – Bích Được, Tiêu Lang – Kim Xuân làm nên thời kỳ vàng son rực rỡ của Cải lương Bắc. Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam thành lập năm 1957, thì họ đã hoạt động từ trước đó 20 – 30 năm và đóng góp đến phút cuối đời mình.

Cùng đóng vở Kiều, vợ chồng NSƯT Tuấn Sửu – Bích Được còn diễn chung vở Bạch Xà nương (do Sỹ Tiến soạn, dựa theo tích Trung Quốc), Kim Xuân là Bạch Xà, Bích Được là Thanh Xà, Tuấn Sửu thủ vai phản diện Pháp Hải, chuyên đi theo quấy rối hai chị em. Dù vai nhỏ bà vẫn gây ấn tượng như vai A hoàn vở Nhị độ mai, hay Lã Bố vở Phụng nghi đình

Thời trẻ, chàng trai Hàng Giấy Trần Đình Sửu, tức NSƯT Tuấn Sửu (1925 – 1999) nức tiếng vai Triệu Tử Long, nên khi lấy Bích Được, họ đặt tên con trai trưởng là Trần Đình Triệu (1949). Sống tại phố Nguyễn Du rồi về phố Lữ Gia (Lê Ngọc Hân); từ 1957 – 1998, ông bà sống tại ngõ Nội Miếu (ngã ba Hàng Giày – Lương Ngọc Quyến) ngay gần rạp Chuông Vàng, nơi chứng kiến thời huy hoàng của họ.

Trong vở Tam khí Chu Du, Bích Được đóng cùng anh chồng – nghệ sĩ Mộng Dần (1922 – 1987,  nổi tiếng vai Lưu Bị, Sỹ Tiến vai Chu Du, Sỹ Hùng vai Trương Phi). Là đào võ cao nghề, bà thủ vai Quan Bình (con nuôi Quan Công) chinh phục khán giả, làm nên danh tiếng một đại gia đình nghệ thuật. Từ 1999, Bích Được sống cùng gia đình con trai trưởng tại ngõ 15 phố Bùi Ngọc Dương, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, bà vẫn giữ hộ khẩu ở quận Hoàn Kiếm để hàng tháng đi xe ôm lên lĩnh lương hưu, rạp Chuông Vàng gặp lứa diễn viên con cháu, qua thăm bạn cùng thời ngày một thưa vắng.

NSƯT Bích Được đang hóa trang vai Hoạn Thư trong rạp Chuông Vàng, bên trái là NSND Sỹ Tiến, phía sau là NSƯT Tường Vi

3. Ông bà NSƯT Tuấn Sửu – Bích Được có 8 con. Cô con gái thứ năm Bội Trân từng là ca sĩ Nhà hát Tuổi trẻ, bỏ nghề sớm, song dòng máu nghệ thuật sinh dưỡng 2 con gái tiếp nối gia đình. Minh Ánh – Minh Anh, thành viên Tam ca 3A, nhóm hát nữ đình đám nhất của nền âm nhạc VN hiện đại. Họ được đào tạo bài bản, lại được bà ngoại và bác uốn nắn, với sự khổ luyện, có giọng hát lẫn phong cách không nhòa lẫn.

Bích Được tự hào về sự thành đạt của các con, trong đó con gái cả NSƯT Trần Tuyết Minh (1944, nguyên giảng viên piano Nhạc viện Hà Nội) NSƯT Quốc Toản (1951, biên đạo múa, nguyên Phó giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long). Bà có 13 cháu, 12 chắt.

Nhớ quang cảnh tang lễ bà hôm 16/5 tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Một đối lập gây xúc động, khiến mọi người đến tang lễ cảm thấy bà vẫn còn  gần gũi. Trên cao, tấm ảnh nữ nghệ sĩ quá tuổi bát thập vẫn cười tươi rói. Đời thường, bà luôn hóm hỉnh, nhiệt huyết. Hình ảnh ấy lưu tâm trí cả những phút cuối cùng khi bà từ biệt mọi người.

Ngậm ngùi đọc điếu văn, NSƯT Trần Quang Hùng không cầm được nước mắt. Anh là học trò cưng chịu sự dạy dỗ nghiêm khắc của cô Bích Được mà thành đạt. Đọc xong, anh ra trước linh cữu cô giáo, đốt bản điếu văn. Tôi chưa từng thấy ai làm thế.

VI THÙY LINH
Thể thao & Văn hóa

THIỆN ĐỨC : Giáo sư Trần Văn Khê biết tụng kinh từ khi 4 tuổi!


Giáo sư Trần Văn Khê biết tụng kinh từ khi 4 tuổi!

Posted on 17/05 

Trong chương trình giao lưu với các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh tại chương trình“Thai giáo và phương pháp nuôi dạy con” do Công ty Sách Thái Hà và Hội quán Các bà mẹ tổ chức tại Hà Nội vừa qua, vị giáo sư tài ba và đáng kính Trần Văn Khê đã chia sẻ những câu chuyện làm bất ngờ biết bao khán giả, trong đó có tôi.

 

Nhà Giáo sư Trần Văn Khê khi đó ở gần chùa. Chính vì vậy mà hàng ngày cậu bé được nghe các thầy tụng kinh và niệm Phật. Cậu bé Khê khi đó đã niệm Phật rất hay và thuộc khá nhiều kinh. Mới 4 tuổi mà đã cậu bé đã “biểu diễn” việc niệm các câu “Nam mô A Di Đà Phật” và “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát” làm bất ngờ cả gia đình cũng như làng xóm.

Thấy nhà chùa tụng kinh cậu bé Khê cũng tụng kinh. Thấy nhà chùa gõ mõ, cậu cũng gõ mõ. Cứ thế nên thành quen và thích – Giáo sư chia sẻ.

GS.TS Trần Văn Khê tại buổi lễ ra mắt cuốn sách “Hiểu về trái tim” – Ảnh: L.Đ.L

Mẹ của GS.Trần Văn Khê phát hiện ra cậu bé Khê mê Phật nên đã cấm không cho gõ mõ, tụng kinh, niệm Phật. Mẹ cậu sợ cậu xuất gia thành nhà sư.

Thật may mắn là cậu bé Khê khi đó có một vị cứu tinh – ông nội. Ông nội đã sắm cho cậu bé Khê cả bộ quần áo nhà chùa. Mỗi khi mẹ đi vắng là cậu bé Khê lại ngồi xuống và tụng tinh, gõ mõ, niệm Phật. Khi biết mẹ về, cậu bé Khê với sự trợ giúp của ông nội đã nhanh chóng cất bộ “đồ nghề” vào tủ. 4 tuổi đã thuộc nhiều kinh Phật thì thật là đáng quý. Nhất là vào thời cách đây gần 1 thế kỷ. Tôi nghe câu chuyện mà thấy thật sự cảm phục Giáo sư

Một chi tiết khác mà tôi rất ấn tượng là khi nghe giáo sư kể về việc hàng xóm giết gà. Họ giết gà nhưng rất sợ cắt tiết. Chính vì vậy mỗi lần giết gà hàng xóm hay mời cậu bé Khê 4 tuổi sang tụng trước khi cắt cổ gà. Họ tin rằng như vậy gà sẽ được siêu thoát. Thế là cậu bé Khê có nghề mới “tụng kinh giúp hàng xóm”.

Cũng trong buổi giao lưu tại Hà Nội này, GS.Trần Văn Khê đã đọc vanh vách chú Vãng sinh Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha già đa dạ. Đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tỳ ca lan đế. A di rị đa tỳ ca lan đá. Già di nị Già già na. Chỉ đa ca lệ ta bà ha”. Điều này làm cho bao người ngạc nhiên.

Sau này khi qua Pháp sống và làm việc, những tư tưởng Phật giáo vẫn ngấm sâu trong người GS.Trần Văn Khê. Giáo sư kể rằng khi phương Tây làm bộ Bách khoa Âm nhạc Phật giáo không có người Việt Nam nào tham gia viết bài. Giáo sư nghĩ rằng không thể trong bộ bách khoa lớn vậy mà lại thiếu đi phần Việt Nam. Thời hạn nộp bài thì chỉ có 6 tháng. Tuy vậy Giáo sư vẫn quyết nhận và quyết làm.

Chính nhờ những gì còn giữ lại trong đầu từ khi còn là cậu bé có tâm Phật, GS.Trần Văn Khê đã liên lạc với những nhà sư Việt Nam để xin ý kiến, để nhờ tư vấn và giúp đỡ. Cuối cùng thành công bất ngờ đã đến. Giáo sư đã hoàn thành đúng hạn và được đánh giá cao.

Gõ đến đây, tôi chợt nghĩ, nếu như không có cậu bé Khê 4 tuổi thuộc kinh, biết gõ mõ, niệm Phật thì rất có thể trong bộ từ điển bách khoa vĩ đại kia thiếu đi phần của Việt Nam ta. Và rằng những “nhân” ta gieo từ rất lâu luôn có cơ hội nở “quả”. Và rằng chúng ta cần phải áp dụng triệt để hơn nữa luật nhân quả của nhà Phật.

Giáo sư Trần Văn Khê đã đưa ra cách giáo dục và phương pháp “học mà chơi” với trẻ nhỏ dựa trên trò chơi gõ mõ. Nhịp điệu gõ mõ giúp cho các bậc cha mẹ và thầy cô giáo có thể sáng tác ra những cách học mà chơi thú vị với các con. Nhất là thơ ca và đồng dao. Tôi chợt nghĩ đến giọng của giáo sư khi má con nhà giáo sư khi đó đã biết biến bảng cửu chương thành một giai điệu rất hay. Nhờ đó mà có thể dễ dàng học thuộc và nhất là học không bị ngán.

Và tôi nghĩ, có lẽ bộ “Bách khoa thai giáo” hay “Phương án 0 tuổi” về thai giáo rất có giá trị  mới phát hành nên bổ sung ý tưởng vô cùng sáng tạo này của GS.Trần Văn Khê vào mới đúng – trò chơi tụng kinh gõ mõ.

Thiện Đức (giacngo.vn)

http://www.tranvankhe.vn/2013/05/17/giao-s%C6%B0-tr%E1%BA%A7n-van-khe-bi%E1%BA%BFt-t%E1%BB%A5ng-kinh-t%E1%BB%AB-khi-4-tu%E1%BB%95i-2/

VI VI : THEO DÒNG SỰ KIỆN : ĐÊM NHẠC MẠNH HÀ – LỆ QUYÊN thành công ở Paris


Theo dòng sự kiện

Đêm nhạc Mạnh Hà – Lệ Quyên thành công tại Paris

Chuỗi sự kiện chào mừng 123 năm sinh nhật Bác đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam (CCV), 13 phố Albert, quận 13 – Paris, kéo dài đến hết 12/6. Tối 18/5/2013, Đại sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đến dự và cắt băng khai mạc triển lãm tranh, tượng của các họa sỹ Mai Liên, Vũ Tiến, Cao Văn Ban. Đại sứ và phu nhân cùng đông đảo khán giả chật kín cả hội trường nghe đêm nhạc Một thời nhớ mãi của NSƯT Mạnh Hà (nguyên phó giám đốc) và danh ca Lệ Quyên – ngôi sao nhạc nhẹ một thời của Nhà hát Nhạc nhẹ Trung ương. NSƯT Mạnh Hà đã hát Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người rất truyền cảm, còn Lệ Quyên hát Viếng lăng Bác (thơ Viễn Phương, nhạc Hoàng Hiệp) khiến kiều bào rất cảm động. GS. Trần Quang Hải đã chụp ảnh đêm diễn này va đưa lên website của ông và trên Youtube thì do hội Tre Xanh thực hiện

http://www.youtube.com/watch?v=flhBLAh14Po

http://www.youtube.com/watch?v=y8tayi75t54

Cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn bó nhiều với nước Pháp và tuổi tuổi trẻ ở Paris, nên xem ca sĩ chuyên nghiệp hát về Bác bằng tình cảm thiết tha, bà con càng thêm yêu nước, nhớ nhà. Rất nhiều nghệ sỹ, trí thức trong cộng đồng người Việt ở Pháp đã bị chinh phục bởi giọng hát và phong cách của 2 nghệ sĩ. Tình cảm ấy được nâng lên khi nghệ sỹ Mạnh Hà như quên tuổi 70, hát Hướng về Hà Nội, Lá đỏ, Trở về dòng sông tuổi thơ, Và con tim đã vui trở lại. Ca sĩ Alain Vũ trình diễn ba bài trong đó có Núi rừng Lệ Quyên đã thể hiện chất ca trù đặc biệt ấn tượng khi hát Trên đỉnh Phù Vân, làm khán giả vỗ tay nồng nhiệt. Các ca khúc: Điều giản dị, Hoa sữa, nhất là Hướng về Hà Nội chị hát trong nỗi xúc động, trào nước mắt khi nhớ Hà Nội xưa, khiến kiều bào người Hà Nội cũng ứa lệ. Đêm nhạc kéo dài đến 23h sau khi Mạnh Hà – Lệ Quyên song ca Trường Sơn đông Trường Sơn tây. Những khán giả “ruột” còn ở lại ca hát và nhảy tới hơn 1h sáng. Pianist Vũ Hoàng,Nguyễn Duy Thiện và chuyên gia âm thanh Nguyễn Đình Hải đã góp sức hết mình. Tháng 2/1980, tốp nghệ sỹ Mạnh Hà, Vũ Dậu, Quang Huy, Lệ Quyên là 4 ca sỹ đầu tiên của nhạc nhẹ Việt Nam được Nhà nước cử sang tu nghiệp ở châu Âu. Họ đã thực tập tại Katowice (Ba Lan) và Prago concert (Praha, Tiệp Khắc) và ngay năm 1981 khi trở lại, Lệ Quyên đoạt giải Người hát ca khúc Tiệp Khắc hay nhất trong cuộc thi Inter Talent.

Ngay sau thành công của đêm nhạc Một thời nhớ mãi, GSTS Trần Quang Hải gợi ý Lệ Quyên lên làm chương trình phát huy hết năng lực của chị. Đạo diễn lê Hồng Chương – Giám đốc ủng hộ danh ca lệ Quyên thực hiện live show riêng vào tháng 9 năm nay tại CCV. Đặc biệt đêm diễn tới: Lệ Quyên – Nữ hoàng nhạc nhẹ một thời sẽ ngâm thơ, hát cải lương, trưng trổ sở trường đầu đời của chị (từ năm 16 tuổi đã thu âm ca cải lương tiếng Nam tại Đài Tiếng nói Việt Nam).Chương trình sẽ được xây dựng để chị phát huy tài năng đa dạng qua dân ca, opéra, rock. Cuối tháng 12/2013, Lệ Quyên về thăm biểu diễn tại Hà Nội quê nhà.

Ảnh 0620: Đại sứ Việt Nam Dương Chí Dũng (bìa trái) và phu nhân cùng vợ chồng danh ca Lệ Quyên và đạo diễn Lê Hồng Chương (Giám đốc)

DSC_0620

Lệ Quyên hát trong đêm nhạc Một thời nhớ mãi.

DSC_0606

DSC_0626

Ảnh: Trần Quang Hải

THANH HÀ : Cuộc hội ngộ âm nhạc giữa hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên


THỨ TƯ 06 THÁNG MƯỜI 2010
Cuộc hội ngộ âm nhạc giữa hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên

Hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên tại buổi diễn « Tam giác Âm nhạc Úc Pháp Việt ».

Photo: Thanh Hà

 

Kỹ thuật bồi âm của nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris cộng với tiếng đàn guitare song âm được nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên mang từ Úc châu đến đã mang đến khung cảnh núi rừng Tây Nguyên của Việt Nam trong khuôn khổ buổi biểu diễn mang tên « Tam giác Âm nhạc Úc Pháp Việt ».Hai ông đã phối hợp những âm giai, tiết tấu của âm nhạc Việt Nam cùng với văn phạm sáng tác của phương Tây để cho ra đời những nhạc khúc như « Giấc Mơ Tây Nguyên », « Tiếng gọi của Núi rừng »,. . .

Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên đã chọn Paris là địa điểm đầu tiên để giới thiệu một thể loại nhạc đương đại mà hai ông vừa phát minh từ một cuộc hội ngộ của phương pháp « đồng song thanh và đồng song âm họa ngắt– staccato harmonic duotone » từ cây đàn guitare.

Mở đầu chương trình, hai nhạc sĩ Việt Nam giới thiệu sáng tác mới của nhạc sĩ Nguyến Lê Tuyên « Giấc mơ Tây Nguyên », đưa khán giả đắm mình vào một vùng Tây Nguyên còn hoang dã, với tiếng gió rì rào, tiếng thú rừng.

Do là cuộc hội ngộ đầu tiên giữa hai phương pháp âm nhạc độc đáo, buổi trình diễn Tam giác Âm nhạc vừa qua tại Paris đã nhận được sự yểm trợ của Đại sứ Úc tại Pháp và của trường đại học New South Wells, Úc. Tên tuổi của nhạc sĩ Trần Quang Hải đã quá quen thuộc đối với đại đa số người Việt chúng ta, nên xin được giới thiệu qua về nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên : ông hiện là giáo sư của một trường âm nhạc tại Sydney và cũng là người đã tình cờ phát minh ra phương pháp để có thể đánh cùng một dây đàn guitare nhưng phát ra hai âm nốt cùng một lúc. Phương pháp đó gọi là « đồng song âm họa ngắt”. Năm 2007, giáo sư Tuyên đã chính thức công bố kỹ thuật này và giới chuyên môn đánh giá rất cao đóng góp của nhạc sĩ người Úc gốc Việt này.

Trong buổi trình diễn vừa qua tại Paris, nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên kể lại vì mất ngủ cho nên ông có thói quen gẩy đàn vào đêm khuya nhờ vậy mới phát hiện ra phương pháp đồng song âm. Về phần mình giáo sư Trần Quang Hài thì cũng đã đến với kỹ thuật đồng song thanh một cách hết sức tình cờ, cách đây nhiều chục năm khi ông bị kẹt xe trên đường phố Paris.

Ở hai phương trời khác biệt, nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên cùng theo đuổi một con đường, họ cũng nghiên cứu về âm thanh học, về âm sắc … Mãi đến năm ngoái, lại do một sự tình cờ hai nhà nghiên cứu này mới gặp nhau. Từ cuộc hội ngộ âm nhạc đó đã nẩy sinh Tam giác Âm nhạc Úc, Pháp, Việt vừa qua.

Ngay sau buổi trình diễn, trả lời ban Việt ngữ RFI, nhạc sĩ Trần Quang Hải giới thiệu qua về buổi giao lưu giữa hai kỹ thuật « đồng song thanh và đồng song âm »

http://www.viet.rfi.fr/node/28445

BẠCH VIÊN : CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI, VIETNAM


Thứ hai, ngày 27 tháng chín năm 2010

CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI

Image

Là một người con của miền sông nước Nam Bộ lại sống xa quê hương, nhưng đối với GS.Trần Quang Hải, người con trai trưởng của GS.Trần Văn Khê đã nối tiếp cha đeo đuổi sự nghiệp bảo tồn và truyền bá âm nhạc cổ truyền của Việt Nam ra thế giới, Hà Nội vẫn có điều gì đó để ông phải nhớ.

Ông nói rằng từ bé mình chỉ biết Hà Nội qua sách vở và chỉ 8 năm trước, ông mới lần đầu tiên ông đặt chân lên mảnh đất này. Nhưng, dù chỉ đến với thủ đô qua những chuyến công tác ngắn ngày, ông vẫn kịp có nhiều trải niệm với nơi đây.

Người ta từng thấy “ông già” Trần Quang Hải vừa say sưa chìm đắm với nhạc ca trù ở cửa đình sau đó đã lại xắn tay đệm đàn muỗng cho nhóm hiphop Bigtoe thể hiện những động tác múa cuồng nhiệt ngay giữa đường phố Hà Nội. Xem ra, cái tuổi 66 của ông vẫn chưa phải là già.

Dăm điều đó thôi đã thấy tò mò về một chút Hà Nội của Trần Quang Hải – một nhà nghiên cứu âm nhạc, một người bạn và một người con xa xứ.

– Thưa ông, tại sao ông lại “gặp” Hà Nội muộn vậy?

Tôi rời Việt Nam từ năm 1961 khi còn rất trẻ. Du học, làm việc rồi nghiên cứu dân tộc nhạc học….cuộc sống cứ thế cuốn đi cho đến năm 2002 tôi mới được mời về Việt Nam để thực hiện một chương trình âm nhạc. Thật hữu duyên khi đó là chương trình nói về cảm giác của một nhạc sĩ Việt Nam về âm nhạc cổ và tân của nước Việt sau 40 năm xa cách. Cũng trong dịp ấy, lần đầu tiên tôi được đến Hà Nội.

Image

– Cảm giác của lần đầu ấy như thế nào?

Bạn biết không, trước đó Hà Nội với tôi là một thế giới mới lạ mà tôi chỉ biết qua sách vở, phim ảnh chứ chưa từng đặt chân tới. Lúc ấy, tôi đã 58 tuổi rồi mà vẫn không kìm được sự hồi hộp, rạo rực vừa có chút nôn nao muốn nhìn thấy thủ đô của xứ Việt. Một cảm xúc kỳ lạ, muốn trào nước mắt.

– Từ buổi ấy đến nay ông đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với đời sống cổ nhạc đất Hà thành. Ông đánh giá thế nào về việc lưu giữ vốn cổ âm nhạc của người Hà Nội?

Ở Hà Nội tập trung khá nhiều thể loại cổ nhạc miền Bắc nhưng mỗi loại đều có một số phận. Khi hát Xẩm tại chợ Đồng Xuân thu hút khá nhiều dân chúng tới xem thì những buổi biểu diễn Quan Họ, Ca Trù tuy được tổ chức thường xuyên nhưng chưa được như mong muốn. Nếu Chầu Văn được hồi phục chỗ đứng trong lòng người dân Hà Nội thì múa rối nước rất được du khách ngoại quốc ưa chuộng.

Tôi nghĩ giá nghệ nhân có nơi trình diễn thường xuyên, đồng thời cổ động dân Hà Nội tham gia hỗ trợ các sinh hoạt này thì mọi chuyện sẽ tốt hơn. Ngoài ra, viện âm nhạc và nhạc viên nên có những buổi giới thiệu nhạc cổ truyền cho giới trẻ học đường từ tiểu học đến trung học.

– Nói đến giới trẻ, hình như ông đã từng đệm đàn muỗng cho một nhóm nhảy hiphop ngay trên đường phố Hà Nội?

Đó là vào tháng Giêng năm 2010. Lúc ấy tôi dùng muỗng để thử nghiệm cho các bạn trẻ thấy là có thể dùng những nhạc cụ cổ truyền trong loại nhảy hip hop. Kết quả là đầy triển vọng trong tương lai. Vì thế, trong hội thảo quốc tế ICTM về dân tộc nhạc học tại Hà Nội tháng 7 vừa qua, một lần nữa các em lại nhảy trên nền của đàn môi. Cũng trong dịp này, một tham luận về đề tài đối chiếu Hát Xẩm và Hip hop và ứng dụng của nó là nhảy hiphop trên nền Xẩm cũng được đón nhận nhiệt tình.

– Có một bài viết nói rằng, tuy ca trù có ở nhiều nơi (theo thống kê là 14 tỉnh thành), nhưng có thể coi ca trù là “dân ca của Hà Nội”, ông thấy đánh giá này thế nào?

Tôi không cho Ca Trù là “dân ca của Hà Nội” vì đa số dân Hà Nội không hiểu gì về Ca Trù. Thể loại âm nhạc này chỉ được “tái sinh” sau khi bà Quách Thị Hồ được tôn vinh ở hải ngoại và được phong tặng chức Nghệ sĩ nhân dân. Ca Trù được “sống lại” từ vài mươi năm nay thôi.

Image

– Hoàng Thành Thăng Long vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, liệu hỏi một Giáo sư âm nhạc học về việc nên bảo tồn như thế có nào có được không, thưa ông?

Theo tôi, cũng như văn hóa phi vật thể, việc lưu giữ các di tích lịch sử ở Hà Nội rất khẩn cấp. Theo định nghĩa của di sản văn hóa thế giới, thì một nơi được chọn sẽ không được thay đổi bất cứ gì và phải tôn trọng và bảo trì cẩn thận. Đó là việc làm của những chuyên gia khảo cổ và của chính quyền.

– Xin gác lại câu chuyện về chuyên môn, thế còn những người bạn Hà Nội của ông thì sao?

Họ đã cho tôi những kỷ niệm đẹp bằng sự nồng hậu và thân tình. Qua những cuộc gặp gỡ với các nhóm nghệ nhân, mà thực là những người bạn, tôi hiểu thêm về giá trị của cổ nhạc và đời sống muôn mầu của nó ở đất Hà thành. Nguyễn Thị Minh Châu, Bùi Trọng Hiền, Lê Văn Toàn và những nghiên cứu viên ở Viện Âm nhạc với sự nghiêm túc và nhiệt tình hiếm có của mình đã giúp tôi mở rộng tầm mắt về sinh hoạt âm nhạc ở Việt Nam. Đó còn là tình thân khi chính họ và những người bạn nhỏ thân thiết khác đã đưa tôi đi khám phá Hà Nội và những món ăn “đặc sản” nổi tiếng ở đây. Điều này thực sự rất thú vị!

– Được biết, vừa rồi ông đã tặng cho Viện âm nhạc Việt Nam một bộ sách và đĩa hát rất quí. Nhưng hình như trước đó mấy năm, ông còn gợi ý cho một nhóm nghiên cứu sang pháp đưa về Việt Nam một số tài liệu quí của viện bảo tàng con người Pháp nhưng vì một lý do nào đó không thành công?

Việc này tùy thuộc vào điều kiện tài trợ mà lúc đó chưa thể thực hiện được. Tôi chỉ mang về một số nhỏ tài liệu cho thấy bộ môn dân tộc nhạc học ở xứ người như thế nào. Đó là dự án trong tương lai là làm sao mang về Việt Nam tất cả sách vở, đĩa hát, nhạc cụ mà tôi muốn trao lại cho Việt Nam. Điều kiện duy nhất để thực hiện là phải có tiền để trả kinh phí cho việc chuyển những tài liệu này từ Pháp về Việt Nam.

– Nếu Paris hoa lệ, thủ đô của nước Pháp là nơi ông định cư, thì Hà Nội, thủ đô của quê hương yêu dấu có ý nghĩa thế nào với ông?

Dù là người sinh ra tại một miền khác và lớn lên ở xứ Pháp, Hà Nội đã mang lại cho tôi hình ảnh của nền văn minh, văn hóa và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Đó thực sự là niềm tự hào có một thành phố quê hương nghìn năm văn vật, đầy những di tích lịch sử mà lúc nhỏ tôi chỉ biết qua sách vở.

– Xin cám ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị này!

Điệp Trần (thực hiện)

Đăng trên báo Thời Nay ngày 27.9.2010

Chú thích ảnh:

Ảnh 1: Với Giáo sư Trần Quang Hải, khám phá Hà Nội thực sự thú vị

Ảnh 2: Phút ngẫu hứng của GS.Trần Quang Hải với những người bạn Hà Nội.

Ảnh 3: GS.Trần Quang Hải biểu diễn chơi đàn môi tại Hội thảo quốc tế ICTM về âm nhạc dân tộc

Thông tin thêm

GS.Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS.Trần Văn Khê, người có công to lớn trong việc truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Ông đã trình diễn hơn 3000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 65 quốc gia, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới và tham dự hơn 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống.

Tuy nối gót cha theo đuổi sự nghiệp bảo tồn cổ nhạc Việt Nam, song GS.Trần Quang Hải thiên về ứng dụng, biểu diễn và thuyết trình giới thiệu âm nhạc dân tộc học. Quan điểm nghiên cứu của ông là kết hợp chất nhạc cổ truyền của nhiều dân tộc, pha trộn tùy hứng với jazz, nhạc đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc mới lạ mang tính ứng dụng. Ngoài ra, ông còn được biết đến như một chuyên gia về đồng song thanh và đàn muỗng. Kết quả, hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, đồng sonh thanh, nhạc tùy hứng và đương đại của ông đã ra đời.

Hiện, GS.Trần Quang Hải đang làm đại diện của Việt Nam (ủy viên) tại Hội đồng âm nhạc truyền thống quốc tế (ICTM).

Tóm lược từ tranquanghai.info

NGUYỄN MẠNH HÀ : GS.TS Trần Quang Hải: Nhạc Việt là từ tim, VIETNAM


GS.TS Trần Quang Hải: Nhạc Việt là từ tim

TP – Trong dịp nhà dân tộc nhạc học – GS.TS Trần Quang Hải về Việt Nam điền dã chuẩn bị cho hồ sơ di sản hát xoan đệ trình UNESCO, Tiền phong có cuộc trò chuyện cùng ông về di sản và những gì thật sự là âm nhạc Việt Nam.

Công tác tại Bảo tàng Con Người (Pháp) từ 1968 đến nay, Trần Quang Hải nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật giọng hát.

 

Nhạc sĩ Trần Quang Hải trên đường phố cổ Hà Nội  – Ảnh: N.M.Hà


Ông có thể nói rõ về công việc đo tần số các bài quan họ của anh trong quá trình xây dựng hồ sơ quan họ trình UNESCO?

 

Tôi thể hiện trên máy tính kỹ thuật (rền, vang, nảy, luyến láy) của giọng hát. Như thế nào được cho là con kiến, là giọng tốt, giọng hay – mình đo để xác nhận. Trong đồ hình, cái lằn chính là âm chủ. Phía trên là những bồi âm. Giọng hát được luyện tốt có nhiều bồi âm.

Sau khi đo đạc, ông nhận xét gì về sự đặc sắc của quan họ? Nếu tư duy theo hình thức thì thấy loại hình âm nhạc này rất đơn giản. Chỉ có hai giọng mà hát y như nhau.

Cái đó mới khó! Hát hai giọng mà sao nghe thành một giọng mới đi tới chỗ tuyệt đỉnh. Làm sao nghe không phân biệt được hai người.

Hai người phải lựa nhau, phải ăn khớp: Một giọng dẫn, một giọng luồn. Giọng luồn đi theo chỉ chậm chừng 1/10 giây thôi. Khi hát phải nhìn nhau. Vậy mới phải ngủ bọn, kết nghĩa.

Đã thành cặp là chỉ hát với người đó thôi, cả mấy chục năm luôn. Cái đó là đặc trưng của quan họ, không nơi nào có. Quan họ hay ở chỗ người nào hát giỏi làm anh, không phải lớn tuổi làm anh như trong hát xoan.

Nếu hai người hát để ra hiệu quả như một người, vậy tại sao không đơn ca luôn?

Hát một mình giọng mỏng. Hai người giọng dày, vang hơn. Trong hợp xướng, lựa tới 10 người hát giọng tenor, 10 người hát giọng soprano… Vậy giọng mới vang to hơn nữa.

Hát hai giọng cường độ phải giống nhau, đừng giọng nào lấn át giọng nào. Cái đó khó lắm, phải luyện.

Hay mình cũng thử cho hơn hai người cùng hát quan họ?

Nếu thế nó lại đi đến chỗ không cần luyện kỹ thuật cho tốt nữa. Mà không chỉ hát không, quan họ phải tức hứng. Làm sao 10 người hát tức hứng được.

Khi canh hát đi tới chỗ giọng vặt, bắt đầu giai đoạn khó. Khi bên kia hát một bài, mình phải tìm cách đối về nhạc và lời. Sáng tác hai cái cùng một lúc rất khó.

Truyền thống quan họ có đặc trưng mỗi lần gặp nhau đẻ ra một số bài mới, tới hôm nay có hàng trăm bài mới. Chưa truyền thống nào có. Trống quân, Cò lả có một điệu thôi, chỉ chế lời.

Truyền thống quan họ dần mai một đi. Người hát không cần luyện giọng nữa mà đem mấy cô thanh nhạc trong nhạc viện ra hát quan họ. Quan họ cải biên có hòa âm, có dàn nhạc vào. Cái đó là đi sai đường.

Có thể coi việc hát đơn hoặc hát tốp cùng ban nhạc là một sự phát triển đi lên của quan họ?

Cái đó là đi xuống! Là anh vọng ngoại, bắt chước Tây phương. Truyền thống, quan họ làm gì có hòa âm. Hòa âm là của Tây phương. Nhạc Việt Nam là đơn âm, đơn điệu.

Hòa tấu nhạc cụ truyền thống của ta tạo ra nhạc đa âm chứ không phải nhạc hòa âm. Tức dựa trên một âm giai ngũ cung (điệu), mình chơi tất cả những nốt mà không cần biết nó (tạo ra) quãng mấy, mình nghe khoái lỗ tai thôi.

Ví dụ bây giờ anh vô trong Nam đàn nhạc tài tử, nếu đàn dây Bắc, thì anh phải biết chơi hò xừ xang xê công líu, chứ hò xư xang xê công liu – qua điệu Oán rồi.

Thoái bộ chứ không phải tiến bộ

Nhưng nếu có người nói rằng như thế mới là hội nhập quốc tế, tiếp thu văn minh nhân loại làm giàu cho văn hóa nghệ thuật của mình thì sao?

Có nhiều cách làm giàu cho văn hóa. Anh phải lấy những gì hợp với truyền thống VN. Cho nó đổi màu sắc đi trong tinh thần VN. Đó là anh tiến bộ.

Bây giờ nếu anh cho rằng phải Tây phương hóa mới tiến bộ là sai. Ai làm nhạc mới, nhạc nhẹ, nhạc tiêu khiển, cứ việc. Nhưng không thể nói đó là sự khai triển của truyền thống.

Tức là truyền thống quan họ ngừng ngay chỗ đó. Mấy người khác rút bài quan họ ra muốn làm gì thì làm nhưng đó là nhạc mới, không thể nói đó là quan họ.

Giả sử chế ca trù ra hát thành bè, hoặc có đàn đáy không buồn quá, giờ cho đàn tranh vào, thổi sáo vào. Cái đó không phải làm giàu mà là làm hại, làm mất đi giá trị đặc thù trong ca trù mà thế giới không có. Làm sao phát triển không đi ngược tinh thần dân tộc. Còn không là thoái bộ chứ không phải tiến bộ.

Hơi giống trường hợp đẽo phím ghi ta bắt nó đàn theo ngũ cung của mình?

Trong dàn nhạc cải lương tài tử miền Nam có 3 cây đàn của Tây phương hội nhập vào là ghi ta phím lõm có 6 dây, lời hơn, giống như đờn 3 cây đàn nguyệt; cây violon thay thế cho 2 cây đàn nhị; và ghi ta Hawaii. Từ ghi ta phím lõm đi tới ghi ta điện – chạy chữ rất mau không cần lõm phím nữa.

Những nhạc cụ như trompet, piano, tam thập lục… âm thanh cố định, không đàn nhạc của ta được.

Ông đánh giá thế nào về việc giao hưởng hóa dàn nhạc dân tộc trong nước gần đây?

Cái đó là đem nhạc cụ truyền thống phục vụ nhạc Tây phương. Cũng là một kiểu dàn nhạc giao hưởng, thay vì toàn nhạc cụ phương Tây thì cho nhạc cụ Á châu vào, bắt phải đàn đúng theo nốt ghi trên bản nhạc. 

Để ý ban nhạc 12 cô gái Trung Quốc chơi nhạc cụ dân tộc, phía sau organ rầm rầm. Cái đó để giải trí. Vì vấn đề kinh tế, họ phải bỏ nhạc cổ truyền.

Giờ VN cũng có mấy nhóm bắt chước. Tưởng là mình cấp tiến. Không có. Cái đó là thoái bộ.

Người ta nghe mà người ta cười chứ không phải thấy thấm thía trong lòng. Tại mấy người đó đàn theo kiểu trong đầu chứ không phải trong tim. Nhạc VN là đàn tim chứ không phải đầu.

Cải biên cũng không có gì xấu, nhưng bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ vốn cổ phải có. Phải có cái cổ mới đẻ ra được cái mới. Nếu còn rễ, cây âm nhạc vẫn mọc tươi tốt. Giờ mình đốn, mình ghép này kia thì nó đẻ ra những loại cây khác, không còn là cây VN.

Cây bonsai cũng muốn sống vậy mà bị người ta bẻ tới bẻ lui theo ý của người ta, thành ra nó bị tàn phế. Mình thấy nó đẹp, chứ thực ra nó đau khổ lắm. (cười)

Phải học để thấy

Ông có cách gì để giới trẻ hôm nay quay về với nhạc truyền thống?

Đừng bao giờ bắt nó phải trở về nguồn. Gọi là giải thích để nó lần lần tự ý thức quay trở về, khi đó truyền thống mới mạnh. Khi mình bắt buộc sẽ có sự phản ứng ngược.

Lấy thí dụ con gái tôi sinh ra trong gia đình âm nhạc. Hồi nhỏ cho nó nghe nhạc VN, không nghe. Cho vô nhạc viện học piano, không học.

Lớn chút xíu bắt đầu nó nghe nhạc, tự nhiên nó quen. Tôi lỡ đàn sai nó biết liền. Nó không thích đi vào dân tộc nhạc học, bảo có ông nội giỏi quá ba giỏi quá con đi vào trong đó làm gì.

Khi nó đậu tú tài rồi hỏi con muốn học gì, có đi nghiên cứu âm nhạc không. Con muốn học kiến trúc. Rồi. Đi. Trên đường đi ngang qua ĐH Âm nhạc Sorbone, tự nhiên nó quẹo vô ghi tên học âm nhạc học. Tự nhiên nó ý thức. Nó đậu thạc sĩ về âm nhạc.

Âm nhạc cổ truyền cần đưa vào giáo dục phổ thông. Chương trình dài 6 – 7 năm, mỗi năm học một chút. Hết trình độ phổ thông thì trong đời của những đứa trẻ VN thế hệ mới có được hình ảnh âm nhạc VN là thế nào.

Tôi đi khắp nơi trên thế giới, hỏi những đứa trẻ VN về âm nhạc VN – chỉ biết đàn bầu, đàn tranh, hát vọng cổ. Hết. Ca trù là gì không hiểu.

Khi ca trù được liệt kê vào danh sách của UNESCO, mấy người già cũng chỉ vui được hát, được nghe thôi. Lợi không có. Nhiều khi những người đó phải xuất tiền túi ra đi hát.

Trong khi lẽ ra chính phủ phải cho tiền cho họ đi, thưởng tiền khi họ hát, phải trợ cấp những nghệ nhân lớn tuổi. Mỗi tháng cho họ hai triệu đồng đi. Tính ra có chục người à. Mỗi năm chi có 300 triệu đồng – còn ít hơn tổ chức cuộc hội thảo mấy tỉ bạc.

Dường như muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nhạc cổ truyền, buộc phải học để thấy?

Đúng thế. Muốn nghe cồng chiêng, người đó phải có ý thức về truyền thống cồng chiêng. Chỉ nghe với tư cách người thưởng thức âm nhạc thì nó cũng không có gì lạ.

Nghệ nhân nhạc cổ truyền ở làng chưa bao giờ nghe nhạc giao hưởng, giờ dẫn đi nghe, họ sẽ bảo ồn quá. Tại họ không nghe thấy giai điệu.  Rồi họ thấy một nhóm nhạc công ngồi không: Ủa mấy người này có phải nhạc sĩ chuyên nghiệp không. Chuyên nghiệp tại sao cần ông gì điều khiển. Nếu thực sự chuyên nghiệp tự họ đàn được rồi đâu cần phải có ông này…

Nghe nhạc cũng phải được giáo dục. Thí dụ bây giờ muốn nghe cồng chiêng phải gặp nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền. Hiền sẽ giải thích cồng đánh thế nào, chiêng thế nào, cho nghe băng, giải thích cho bạn chỗ nào hay. Sự hấp thụ bài nhạc sẽ khác.

Mấy nhạc sĩ Ấn Độ qua Pháp gọi kiếm tôi. Tại họ cần người biết nghe, biết khen đúng chỗ. Tôi học cả năm trời nhạc Ấn Độ, đi nghe mấy trăm buổi hòa nhạc. Tôi hát, đàn luôn nhạc Ấn Độ.

Khi nào hát được, đàn được, bạn mới thấm nhuần cấu trúc của bài nhạc. Thì khi bạn biết cấu trúc của cồng chiêng, bạn rất sung sướng, thấy nó quá phong phú.

Trong hồ sơ hát xoan trình UNESCO tới đây, ông sẽ tiếp tục đo tần số âm thanh hát xoan?

Bây giờ tôi chưa đo gì hết. Trước khi đi sâu vào vấn đề, mình phải có tất cả tài liệu. Việc này cần sự phối hợp tập thể, tôi chỉ đưa ra phương pháp nghiên cứu, làm việc.

Nguyễn Mạnh Hà

http://www.tienphong.vn/van-nghe/190041/GSTS-Tran-Quang-Hai-Nhac-Viet-la-tu-tim.html

 

Trình diễn trên 3.000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại.

Đã thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.

Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

Trích phần Tiểu sử tại trang tranquanghai.com

HỒ NAM : GS.TS Trần Quang Hải: Xứng danh quái kiệt nhạc dân tộc Việt Nam


GS.TS Trần Quang Hải: Xứng danh quái kiệt nhạc dân tộc Việt Nam

27.12.2012 | 23:42

Nhắc đến GS.TS Trần Quang Hải, người ta nhớ đến ông là con trai trưởng của nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc GS.TS Trần Văn Khê. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ dựa vào danh tiếng của cha để phát triển sự nghiệp cho mình.

Hơn 40 năm qua, ông miệt mài giới thiệu âm nhạc Việt Nam, qua khoảng 3.000 buổi nói chuyện tại hơn 65 quốc gia. Trong dịp nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam – GS.TS Trần Quang Hải về Việt Nam nhận kỷ lục Người Việt Nam đầu tiên phổ biến (giảng dạy, biểu diễn) đàn môi tại nhiều nước trên thế giới, ông đã có cuộc trò chuyện thú vị với PV Nguoiduatin.vn tại chương trình Hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 23 và công bố Kỷ lục châu Á.

Từng đi sai đường

Nối tiếp con đường âm nhạc của gia đình, ông vào học nhạc tại trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm. Trong thời gian này, tài năng âm nhạc của ông được phát lộ và ngày càng được phát triển. Sau khi tốt nghiệp trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, vào năm 1961, ông lên đường sang Pháp học nhạc tại trường đại học Sorbonne với ước mơ trở thành nghệ sĩ độc tấu violon nổi tiếng trên nước Pháp và tại Việt Nam.

GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ: “Thời điểm bấy giờ, ước mơ đó thôi thúc tôi đến cháy bỏng. Vì thế, tôi dành hết mọi sức lực để đưa ước mơ đó trở thành sự thật. Tuy nhiên, nếu ước mơ đó trở thành sự thật, chắc giờ đây không phải là tôi như bây giờ. Người phát hiện tôi đi sai đường chính là cha tôi. Ông biết tôi có ước mơ trên nhưng không cản ngăn chí hướng của con trai, ông khéo léo sắp đặt một cuộc gặp gỡ giữa con mình với GS Yehudi Menuhin, một danh sư nổi tiếng về violonist trên thế giới rồi ông kiên nhẫn chờ đợi kết quả từ tôi”.

GS.TS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi.

GS.TS Trần Quang Hải cho biết cuộc gặp gỡ kỳ lạ đó đã làm thay đổi toàn bộ con đường sự nghiệp của mình. Ông bộc bạch: “GS Yehudi Menuhin kêu tôi trổ tài năng của mình trên cây đàn violonist để ông xem. Để không phụ lòng GS Yehudi Menuhin, tôi đã chơi một bản nhạc không thể nào hay hơn. Tuy nhiên, khi kết thúc bản nhạc, GS Yehudi Menuhin thẳng thắn dành cho tôi một lời khuyên chân thành. GS Yehudi Menuhin bảo người Pháp không cần có thêm một nhạc công violonist gốc Việt khi họ đã có hàng ngàn violonist tầm cỡ. Điều họ cần là một chuyên gia về âm nhạc dân tộc Việt Nam như cha anh là GS.TS Trần Văn Khê.

Nghe tới đây, trong suy nghĩ của tôi thật sự bừng tỉnh. Sau đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều và quyết định quay về gặp cha và quỳ dưới chân để xin được thọ giáo dù có hơi muộn, nhưng đó mới là hướng đi đúng đắn của tôi và đúng với giá trị âm nhạc mà đại gia đình đang kế thừa”.

Sau đó, GS.TS Trần Quang Hải quyết định từ bỏ đam mê chơi đàn violonist để theo học các loại nhạc cụ dân tộc khác. Từ nền tảng này, ông tập trung theo học về ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật và âm nhạc tại các trường ĐH: Louvre, Sorbonne (Paris, Pháp), ĐH Cambridge (London, Anh) và ông còn học được những bảo bối từ nghệ thuật truyền khẩu, truyền ngón từ nhiều nghệ nhân đàn dân tộc từ châu Á sang châu Âu.

“Bên cạnh đó, tôi cũng theo cha học hỏi từ ngón đàn dân tộc cho đến công việc nghiên cứu. Chỉ một thời gian sau, tôi được cha giới thiệu vào làm việc tại Viện Bảo tàng con người ở Paris. Tại đây, tôi có những lợi thế từ điều kiện sống, học tập cộng với những nỗ lực bản thân, tôi trở thành tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt thứ hai trên đất Pháp, sau cha của mình”, GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ.

Xứng danh quái kiệt

Nửa thế kỷ qua, GS.TS Trần Quang Hải như con ong chăm chỉ đã miệt mài làm chiếc cầu nối để âm nhạc dân tộc Việt Nam có tên trên bản đồ thế giới. Nỗ lực của ông khiến nhiều người nước ngoài say mê như ngày hôm nay. Nhưng hơn thế nữa, người dân khắp thế giới còn biết đến ông là một người trình diễn kỳ lạ của âm nhạc dân tộc Việt Nam.

GS.TS Trần Quang Hải cùng cha là GS.TS Trần Văn Khê.

Chia sẻ về thể loại đàn muỗng được nhiều người yêu thích, GS.TS Trần Quang Hải tiết lộ: “Với mong muốn truyền bá và làm mới nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian trong cuộc sống đương đại, tôi đã tìm tòi học hỏi từ những người bạn Nga cách biểu diễn gõ muỗng theo tiết tấu, giai điệu”. Theo đó, người chơi đàn muỗng dùng hai thìa inox khuấy động cả không gian với nhiều tiết tấu sinh động bằng cách gõ hai muỗng đến ba muỗng, rồi sau đó gõ trên cánh tay, đùi và những ngón tay uyển chuyển.

Trổ tài khả năng chơi đàn muỗng của mình, GS.TS Trần Quang Hải lấy ra hai cái muỗng, thoăn thoắt bẻ quặp chúng lại, và trong khi miệng liên tục đánh nhịp đệm thì bàn tay của ông cầm hai cái muỗng, tấu liên hồi một khúc nhạc kỳ lạ đầy quyến rũ. Nhìn hai cái muỗng trong tay ông lúc đó, cảm thấy ông như một thầy phù thủy đang phù chú cho bùa phép của mình.

Với những sáng tạo vô cùng độc đáo của mình với đàn muỗng, tại Liên hoan dân nhạc tổ chức tại Anh năm 1967, GS.TS Trần Quang Hải đã được phong tặng danh hiệu Vua muỗng. Không chỉ là vua muỗng, ông còn được biết đến với danh hiệu ông vua đàn môi. Để đạt được những thành tựu này, ông phải ròng rã nhiều năm trời đi khắp mọi miền của tổ chức, tìm hiểu và nghiên cứu một cách tỉ mỉ về đàn môi.

Hiện nay, ông đã sở hữu cho mình bộ sưu tầm hàng chục loại đàn môi bằng đồng, thau, tre của người dân tộc thiểu số. Nói về một chiếc đàn môi đang cầm trên tay, GS.TS Trần Quang Hải cho biết đây là chiếc đàn môi của người Mông. Ông chia sẻ thêm: “Trong suốt thời gian qua, tôi đã sưu tập được 27 loại đàn môi. Chiếc đàn này là một trong những chiếc đàn môi độc đáo và đặc sắc”. Nghe GS.TS Trần Quang Hải kể về từng loại đàn môi, sắc thái âm thanh, cấu tạo tiếng đàn, về cái cách để trình diễn chúng như một người lên đồng. Chúng tôi mới hiểu được danh xưng vua đàn môi quả không hề sai.

Nhắc về cơ duyên để mình lao vào nghiên cứu kỹ thuật hát song thanh, GS.TS Trần Quang Hải cho biết: “Tôi đã có cuộc hành trình hơn 30 năm tìm hiểu và trở thành chuyên gia lớn nhất về lối hát đồng song thanh. Đồng song thanh là lối hát mà một người cùng lúc có thể hát được hai giọng.

Tôi đã nghiên cứu kỹ thuật hát độc đáo phát ra hai giọng cùng lúc ở hai cao độ khác nhau của một số bộ tộc Mông Cổ và nước Cộng hòa Tuva. Từ các nghiên cứu này, tôi đã phát triển thêm những sáng tạo riêng, đồng thời áp dụng thành công vào nhiều lĩnh vực âm nhạc thế giới và đương đại, y khoa, âm thanh học, âm nhạc điều trị học, tâm lý điều trị học, âm nhạc trị liệu giúp các phụ nữ giảm đau khi sinh đẻ. Từ đó, tôi sáng lập ra một trường phái hát đồng song thanh ở châu Âu và đã có khoảng 8.000 người ở 70 quốc gia theo học”.

Giờ đây, GS.TS Trần Quang Hải đã đi gần hết đời người nhưng với tình yêu âm nhạc dân tộc vô bờ bến, ông vẫn luôn tiến về phía trước với tư thế của một người dẫn đầu. GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ: “Quan điểm của tôi là phải bảo tồn và phát triển nền âm nhạc truyền thống dân tộc nhưng không bảo thủ, mà phải tích lũy thêm những tinh hoa mới, bồi đắp và phát huy cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà”.

Hồ Nam

http://www.nguoiduatin.vn/gsts-tran-quang-hai-xung-danh-quai-kiet-nhac-dan-toc-viet-nam-a59844.html