TỔNG HỢP CÁC LỄ HỘI VĂN HÓA TRONG DỊP TẾT CỦA CÁC DÂN TỘC Ở VÙNG SAPA


TỔNG HỢP CÁC LỄ HỘI VĂN HÓA TRONG DỊP TẾT CỦA CÁC DÂN TỘC VÙNG CAO SA PA

Tổng hợp các lễ hội văn hóa trong dịp Tết của các dân tộc vùng cao Sa Pa
Ngày bắt đầu: 01:00 27/01/2012
Ngày kết thúc: 01:00 30/01/2012
Khu vựcLào Cai |

Cùng với đồng bào người xuôi, các dân tộc miền cao vào dịp Tết cũng tổ chức nhiều lễ hội truyền thống mang đậm nét văn hóa riêng của dân tộc mình. Đây cũng là dịp để khách du lịch từ mọi nơi có thể tham quan tìm hiểu văn hóa của các dân tộc ít người và thưỡng lãm vẽ đẹp ngây thơ của Sa Pa

Ngày 27/1/2012 (mùng 5 tháng Giêng)

Hội Xòe dân tộc Tày xã Thanh Phú

Đây là hội xuân của người Tày cầu cho mùa màng tươi tốt, thóc gạo đầy nhà. Nghi lễ khá đơn giản với một mâm lễ vật tại chân cây nêu to, biểu thị lòng thành kính của dân bản đối với Thần Nông vị thần cai quản ruộng nương. Sau khi thầy cúng làm lễ cầu khấn, cả làng cùng tham gia múa xoè trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn rã với nhiều điệu đặc sắc: xòe tập hợp, xòe đôi, xòe bốn, xòe chào..

Ngày 28/1/2012 (mùng 6 tháng Giêng)

Hội Gầu Tào của dân tộc Mông ở xã Tả Giàng Phình

Gầu Tào” – Là lễ hội tiêu biểu nhất của người Mông, với mục đích là cúng tạ trời đất đã ban cho thôn bản, dòng họ, gia đình, sức khoẻ. Lễ hội được tổ chức vào mùa xuân hay những dịp nông nhàn do một gia đình hay một làng chủ trì và được tổ chức trên một bãi đất rộng quanh làng, hay một nương ngô đã thu hoạch xong.

Ngày 28/1/2012 (mùng 6 tháng Giêng)

Hội hát then dân tộc Tày ở xã Bản Hồ

Hát then gắn với đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người Tày, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của cộng đồng Tày – Nùng. Hát Then, đàn tính là linh hồn cho các lễ nghi, hội hè

Ngày 29/1/2012 (mùng 7 tháng Giêng)

Hội Gầu Tào dân tộc Mông ở xã San Sả Hồ

Ngày 30/1/2012 (mùng 8 tháng Giêng)

Lễ hội hát giao duyên các dân tộc tại xả Tả Phìn

Đã thành thông lệ, vào đầu tháng Giêng hàng năm, người dân xã Tả Phìn (Sa Pa) lại mở hội hát giao duyên các dân tộc. Ngoài ra, người dân địa phương và khách du lịch còn được tham gia vào các trò chơi dân gian như: Thi bắn nó, leo núi cắm cờ, bịt mắt bắt dê, kéo co, đi cầu khỉ, ném còn…

Lễ hội roóng poọc cũng sẽ được tổ chức trong dịp này

Lễ hội của người đồng bào dân tộc Giáy, Sa Pa, Lào Cai. Mục đích để cầu mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, mưa thuận, gió hòa.

http://www.sukientrongnuoc.vn/event/detail/vid/59/tong-hop-cac-le-hoi-van-hoa-trong-dip-tet-cua-cac-dan-toc-vung-cao-sa-pa.html

Giá trị văn hoá đặc sắc của loại hình hát Then dân tộc Tày


Giá trị văn hoá đặc sắc của loại hình hát Then dân tộc Tày
Ngày đăng tin: 16/07/2012 2:29 CH

Trong đời sống xã hội của người Tày, Then có nhiều giá trị văn hoá: Then phản ánh hiện thực xã hội Tày ở các giai đoạn lịch sử; phản ánh thế giới tâm linh của người Tày; phản ánh các giá trị gia đình truyền thống của người Tày; phản ánh sự đa dạng của văn hoá Tày, đồng thời Then cũng tích hợp những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng của người Tày tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi trường diễn xướng mang đậm màu sắc tâm linh, thông qua các thể loại độc tấu, song tấu, hòa tấu, hỗn tấu cùng cây đàntính

Dưới đây, chúng tôi đề cập một phần giá trị văn hóa đặc sắc của Then Tày.

Ra đời trong dân gian, gắn với đời sống của dân gian nên lời hát Then là sự phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi mà trước hết là môi trường tự nhiên- xã hội của người Tày. Chúng ta có thể nhận thấy làng bản và cuộc sống sinh hoạt lao động sản xuất của người Tày hiện lên rất quen thuộc trong các câu Then: “đầu bản có giếng nước nguồn, trên cánh đồng có nơi thả vịt, có đàn lợn, đàn trâu thả rông”…

Then cũng gắn liền và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Tày. Một số thầy Then đã sơ đồ hoá con đường lên mường Trời của họ mà qua đó mường Trời hiện lên chẳng khác gì mường Đất. Nó cũng bao gồm cảnh vật, rừng núi, chim muông, sông suối, chợ búa buôn bán làm ăn chẳng khác gì dưới trần gian. Nhiều chương, đoạn trong lời hát Then đã miêu tả khá sinh động về một không gian miền núi đầy chất hoang dã như thuở khai thiên lập địa: “núi rừng âm u rậm rạp nhiều thú hoang, rắn rết, ve kêu, vượn hú, đường đi khúc khuỷu, lên thác, xuống ghềnh”… Lễ vật mà họ đang cúng tiến mường Trời là những sản vật do họ tự nuôi trồng, săn bắt, hái lượm được.

Trong lễ cấp sắc của người Tày, lễ cầu an đầu năm, lễ chúc thọ cha mẹ…, Then là hình thức cơ bản để phản ánh tâm tư, nguyện vọng, những mong muốn rất bình dị của người nông dân: Có thóc gạo, trâu bò, gà vịt đầy nhà; cha mẹ già trường thọ; gia đình hoà thuận yên vui, con cái hiếu thảo trưởng thành; người làm nghề cúng bài thì được linh nghiệm, được dân làng tín nhiệm mang lại vẻ vang cho gia tộc…

Bên cạnh đó, trong Then còn có nhiều nội dung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người. Thông qua nghệ thuật sắp xếp ca từ, Then đã khắc họa nên những hình tượng nhân vật tương phản: trai đần- trai giỏi, gái lười- gái chăm, với ý nghĩa răn đe, giáo dục người đời. Để khuyên răn con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, Then ca ngợi tình mẫu tử qua kể chuyện thằng cu Vỉnh(1). Để khuyên răn chị em gái, mẹ chồng nàng dâu không nên cãi lộn, tranh chấp nhỏ nhặt, tranh vợ cướp chồng, Then kể về cuộc sống buồn tẻ, cô quạnh của họ sau khi chết lên mường Trời. Để ca ngợi tình nghĩa vợ chồng thủy chung, Then miêu tả cuộc chia tay đầy cảm động của đôi vợ chồng suông trong chương Khảm hải (Vượt biển)(2)… Then cũng bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc với những số phận không may mắn như những người tật nguyền, người chết thảm, những trẻ mồ côi, những cô gái xinh đẹp nhưng bị ép duyên hoặc phận mỏng…

Có thể nói, Then hội tụ những giá trị văn học dân gian truyền thống của người Tày với các thể loại truyện kể, truyền thuyết, các câu thành ngữ, tục ngữ đã được chau chuốt, gọt giũa mà qua đó đã làm sáng tỏ được nhân sinh quan và quan niệm về đạo đức của người Tày. Điều quan trọng ở đây là thông qua việc phê phán, khuyên răn, ca ngợi thực tiễn cuộc sống bằng hình thức diễn xướng hát có đệm đàn, Then đã đạt được hiệu quả tích cực trong giáo dục cộng đồng mà không phải hình thức tuyên truyền nào cũng làm được./.

__________________________

(1), (2) : Theo truyền thuyết và truyện kể của dân tộc Tày.

Các tin khác:

NGHỆ THUẬT HÁT THEN


Nghệ thuật hát Then

Trong kho tàng nghệ thuật dân gian truyền thống của Việt Nam có một điệu hát vô cùng đặc sắc và là nét đặc trưng văn hóa của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái đó là điệu hát Then.

Các nghệ sĩ hát Then “Then” theo tiếng đồng bào dân tộc là Thiên tức là Trời, vì thế hiểu theo ngôn ngữ dân tộc thì điệu hát Then được coi là điệu hát thần tiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin một điều gì đó.

Hát Then gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần và tâm linh của đồng bào dân tộc bởi nó xuất phát từ tín ngưỡng về một thế giới thần bí, nơi có những nhân vật và sức mạnh diệu kỳ như: Bụt, Giàng, Trời…Chỉ có những ông Then, bà Then mới có đủ sức mạnh và bản lĩnh cũng như khả năng đến được thế giới đó. Khi những  ông Then, bà Then này dâng lên Mường Trời những sản vât của con người thì họ hát. Lúc đầu hát Then chỉ có một người, tay đệm đàn, miệng hát, chân xóc nhạc. Chính lời hát bài hát Then, hòa trong nhịp đàn tính dìu dặt, cùng tiếng đệm đàn, miệng hát, chân xóc nhạc sẽ đưa ông Then, bà Then đến với Mường Trời.  Do vậy, người hát Then trong dịp lễ, tết là những người đại diện cho cộng đồng, cho người dân giao tiếp với thần linh để cầu xin mùa màng bội thu, tươi tốt, đời sống ấm no, hanh phúc..

Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt cuộc hát Then. Hát Then có nhiều bài bản, làn điệu khác nhau, đến nay ngoài các điệu Then cổ còn có các điệu Then mới được biên soạn. Người Tày, người Nùng và người Thái bất kể tuổi tác, giới tính đều rất thích nghe hát Then. Hát Then không chỉ là một làn điệu dân ca thông thường mà còn là một nghệ thuật tổng hợp bởi người nghệ sĩ hát Then vừa phải biết hát, biết đệm đàn lai phải biết múa. Mặc dù ở mỗi vùng quê đều có những làn điệu hát Then khác nhau ví dụ như: Then – Lạng Sơn dìu dặt tha thiết, Then – Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận, Then – Hà Giang lại nhấn nhá từng tiếng một, Then – Bắc Kạn lại như tiếng thì thầm…Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, Then có một số loại hình thể hiện các chức năng chính như: Then Kỳ Yên có nghĩa là cầu an, Then cầu mùa, Then chúc tụng, Then chữa bệnh, Then cấp sắc…

Nói đến nghệ thuật hát Then sẽ không thể không nhắc đến cây đàn Tính, bởi nếu thiếu đi âm thanh của cây đàn này thì điệu hát Then sẽ không hoàn chỉnh. Tiếng trầm bổng ngân nga từ cây đàn tính quyện với những lời ca, tiếng hát của Then như đưa người ta vào một thế giới hư ảo, huyền bí…

Cho đến hôm nay, hát Then vẫn còn được lưu giữ và là một món ăn tình thần không thể thiếu ở nhiều địa phương nơi có người đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái sinh sống.

Theo Cinet

Created by doanthuha

http://www.archives.gov.vn/Pages/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?itemid=1840&listId=cb018edc-28eb-4aca-9b21-bd3ad3eef91d&ws=content

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hát Then ở Tuyên Quang


Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hát Then ở Tuyên Quang
Thứ 4, ngày 29 tháng 8 năm 2012 – 15:57


Hát Then Tuyên Quang và các tỉnh vùng Việt Bắc đang được chuẩn bị lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là cơ hội lớn để di sản văn hóa dân tộc Tày Tuyên Quang được cả thế giới biết đến. Song cũng đặt ra đối với Tuyên Quang những thách thức không nhỏ trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật di sản văn hóa dân gian độc đáo này.
Di sản văn hóa đặc sắc, độc đáo, tiêu biểu của người Tày

Then là một loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian, xuất xứ từ tên gọi của tộc người Tày – Thái để chỉ một loại hình văn hóa tín ngưỡng. 

 
Đội văn nghệ xã Tân An (Chiêm Hóa) biểu diễn hát Then. Ảnh: Quang Huy


Dân tộc Tày ở Tuyên Quang chiếm trên 25% dân số (số dân đông sau dân tộc Kinh). Then dân tộc Tày Tuyên Quang, theo người già kể lại và sách chép ra của người đã quá cố, những người am hiểu về Then, như cố nghệ nhân Ma Thanh Cao, ở xã Tri Phú, cố nghệ nhân Hà Phan, ở xã Tân An (Chiêm Hóa), ông Nguyễn Mạnh Thẩm, ở xã Thanh Tương (Nà Hang), thì Then xuất hiện từ thời Phùng Hưng (thế kỷ thứ VIII). Trải qua năm tháng thăng trầm của các thời kỳ lịch sử, Then trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc, độc đáo, tiêu biểu gắn bó sâu sắc với người Tày Tuyên Quang, bởi nó được bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động sản xuất của đồng bào Tày và cũng bởi chính họ (người Tày) sáng tạo ra. 

Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hầu như huyện nào (kể cả thành phố Tuyên Quang) cũng có hát Then, nhưng vùng hát Then đậm đặc, được duy trì và bảo tồn nguyên giá trị chủ yếu ở các huyện Chiêm Hóa, Nà Hang và Lâm Bình. Hát Then thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc… Then Tày Tuyên Quang có hai hình thức thể hiện, đó là Then quạt và Then tính. Then quạt (cùng nhóm với Pụt – Bụt) được sử dụng trong các nghi lễ cầu yên, như: Cúng mụ, giải hạn, hát chữa bệnh… Then quạt ra đời sớm hơn Then tính. Ngôn ngữ sử dụng chủ yếu là tiếng Tày. Khi hát, người hát chỉ dùng quạt, mặc quần áo màu đỏ, khăn đỏ, đội mũ đỏ. Giai điệu Then quạt hát kéo dài, chủ yếu là âm điệu ừ, ừ, ừ… không có nhạc đệm, Then tính ra đời và phát triển trên cơ sở Then quạt, nhưng có nhạc cụ đệm là đàn tính (tính tẩu) và chùm sóc. Âm điệu trong Then tính âm điệu là ới la, ới là… (nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật). Đặc biệt, âm điệu ới la được bắt đầu trước khi vào câu hát chỉ có trong Then Tày của Tuyên Quang (Then Tày Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn không có âm điệu ới la).

 
Diễn viên Trung tâm Văn hóa và Triển lãm tỉnh biểu diễn bài then “Trong xanh Khuôn Pén” của Nhạc sỹ An Thuyên tại Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào ngày 16-8-2012. Ảnh: Quang Huy

Nội dung hát Then Tuyên Quang được chia thành hai nhóm: Then kỳ yên và Then lễ hội. Theo thống kê chưa đầy đủ của nhóm khảo sát Bảo tàng Tuyên Quang, Then kỳ yên và Then lễ hội gồm khoảng 60 bài Then cổ, cung, phủ được sử dụng hát trong các nghi lễ. Nhóm Then kỳ yên (đồng bào Tày thường gọi là làm then) được sử dụng trong các nghi lễ: Cúng cầu yên (yên lành), cầu chúc (chúc phúc, chúc năm mới…), chữa bệnh… Then kỳ yên phải trải qua nhiều công đoạn gồm: Cung thổ công, cung phát pang (phát lễ cho họ nội, ngoại), cung thần linh, cung mồ mả, cung vua bếp (táo quân), cung tổ tiên (gia ti

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hát Then ở Tuyên Quang
Thứ 4, ngày 29 tháng 8 năm 2012 – 15:57


Hát Then Tuyên Quang và các tỉnh vùng Việt Bắc đang được chuẩn bị lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là cơ hội lớn để di sản văn hóa dân tộc Tày Tuyên Quang được cả thế giới biết đến. Song cũng đặt ra đối với Tuyên Quang những thách thức không nhỏ trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật di sản văn hóa dân gian độc đáo này.
Di sản văn hóa đặc sắc, độc đáo, tiêu biểu của người Tày

Then là một loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian, xuất xứ từ tên gọi của tộc người Tày – Thái để chỉ một loại hình văn hóa tín ngưỡng. 

 
Đội văn nghệ xã Tân An (Chiêm Hóa) biểu diễn hát Then. Ảnh: Quang Huy


Dân tộc Tày ở Tuyên Quang chiếm trên 25% dân số (số dân đông sau dân tộc Kinh). Then dân tộc Tày Tuyên Quang, theo người già kể lại và sách chép ra của người đã quá cố, những người am hiểu về Then, như cố nghệ nhân Ma Thanh Cao, ở xã Tri Phú, cố nghệ nhân Hà Phan, ở xã Tân An (Chiêm Hóa), ông Nguyễn Mạnh Thẩm, ở xã Thanh Tương (Nà Hang), thì Then xuất hiện từ thời Phùng Hưng (thế kỷ thứ VIII). Trải qua năm tháng thăng trầm của các thời kỳ lịch sử, Then trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc, độc đáo, tiêu biểu gắn bó sâu sắc với người Tày Tuyên Quang, bởi nó được bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động sản xuất của đồng bào Tày và cũng bởi chính họ (người Tày) sáng tạo ra. 

Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hầu như huyện nào (kể cả thành phố Tuyên Quang) cũng có hát Then, nhưng vùng hát Then đậm đặc, được duy trì và bảo tồn nguyên giá trị chủ yếu ở các huyện Chiêm Hóa, Nà Hang và Lâm Bình. Hát Then thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc… Then Tày Tuyên Quang có hai hình thức thể hiện, đó là Then quạt và Then tính. Then quạt (cùng nhóm với Pụt – Bụt) được sử dụng trong các nghi lễ cầu yên, như: Cúng mụ, giải hạn, hát chữa bệnh… Then quạt ra đời sớm hơn Then tính. Ngôn ngữ sử dụng chủ yếu là tiếng Tày. Khi hát, người hát chỉ dùng quạt, mặc quần áo màu đỏ, khăn đỏ, đội mũ đỏ. Giai điệu Then quạt hát kéo dài, chủ yếu là âm điệu ừ, ừ, ừ… không có nhạc đệm, Then tính ra đời và phát triển trên cơ sở Then quạt, nhưng có nhạc cụ đệm là đàn tính (tính tẩu) và chùm sóc. Âm điệu trong Then tính âm điệu là ới la, ới là… (nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật). Đặc biệt, âm điệu ới la được bắt đầu trước khi vào câu hát chỉ có trong Then Tày của Tuyên Quang (Then Tày Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn không có âm điệu ới la).

 
Diễn viên Trung tâm Văn hóa và Triển lãm tỉnh biểu diễn bài then “Trong xanh Khuôn Pén” của Nhạc sỹ An Thuyên tại Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào ngày 16-8-2012. Ảnh: Quang Huy

Nội dung hát Then Tuyên Quang được chia thành hai nhóm: Then kỳ yên và Then lễ hội. Theo thống kê chưa đầy đủ của nhóm khảo sát Bảo tàng Tuyên Quang, Then kỳ yên và Then lễ hội gồm khoảng 60 bài Then cổ, cung, phủ được sử dụng hát trong các nghi lễ. Nhóm Then kỳ yên (đồng bào Tày thường gọi là làm then) được sử dụng trong các nghi lễ: Cúng cầu yên (yên lành), cầu chúc (chúc phúc, chúc năm mới…), chữa bệnh… Then kỳ yên phải trải qua nhiều công đoạn gồm: Cung thổ công, cung phát pang (phát lễ cho họ nội, ngoại), cung thần linh, cung mồ mả, cung vua bếp (táo quân), cung tổ tiên (gia tiên), cung bắc cầu, cầu va (cái cẩu cầu va), cung mụ, cung giải hạn (me khoăn) – cầu mong tránh khỏi tai họa, phủ hội đồng, cung tam bảo, cung vua, cung khảm hải (vượt biển). Then kỳ yên bao giờ cũng tổ chức vào ban đêm yên tĩnh, khi mọi sự sống đã lắng đọng vào giấc ngủ, chỉ còn vang vọng tiếng hát của then, giúp mọi người nghe và cảm nhận từng lời hát một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất. 

Nhóm Then lễ hội là những khúc hát khích lệ tinh thần mọi người thêm phấn chấn, vui vẻ, xua tan phiền muộn, cực nhọc vất vả trong cuộc sống, lao động sản xuất để thỏa mãn ước vọng về một cuộc sống đầy đủ hơn, muôn vật sinh linh. Nhóm Then lễ hội thường được sử dụng trong các nghi lễ: Lễ cầu mùa, lễ vào nhà mới, lễ cấp sắc, lễ cốm. Then lễ hội gồm nhiều cung, phủ: Giải uế, khảm hải (vượt biển), tứ bách hoặc phủ thu quạt, pụt luông (chúa của thần nông), nhà phép, hội đồng, tam bảo, chợ tam quang, vua cha…

Ngôn ngữ – lời then, mộc mạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường, sử dụng ngôn từ tượng hình, tượng thanh phong phú, lối so sánh, ví von. Nội dung các khúc hát then đều toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên (mong muốn nhân an vật thịnh, cầu cho mưa thuận gió hòa, con người mạnh khỏe, mùa màng tươi tốt…), tình yêu đôi lứa, nghĩa vợ chồng, răn dạy đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước… giai điệu mượt mà, sâu lắng, âm hưởng mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng, sức truyền cảm mạnh.

Theo GS, TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, “nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh bằng hát Then (mà thực tế ngày nay cũng không còn mấy ai tin thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, vừa mô tả, vừa gửi gắm nhắn nhủ những ngọt bùi đắng cay của cuộc sống ông cha”. Vì, theo ông “có thể thấy trong Then (Then Tày nói chung và Then Tày Tuyên Quang nói riêng), không chỉ các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp thi pháp, tu từ, ẩn dụ… của nghệ thuật ngôn từ; tìm thấy những làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc cổ xưa nhất; những điệu múa đã song hành với hát then không biết bao năm tháng”. GS, TSKH Tô Ngọc Thanh khẳng định: “…Then là một kho tàng quý báu tàng trữ những giá trị văn học nghệ thuật ngàn đời của ông cha”.

Và bài toán bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Then

http://www.tuyenquang.gov.vn/DetailView/604/8/Bao-ton-phat-huy-gia-tri-di-san-van-hoa-hat-Then-o-Tuyen-Quang.html

ên), cung bắc cầu, cầu va (cái cẩu cầu va), cung mụ, cung giải hạn (me khoăn) – cầu mong tránh khỏi tai họa, phủ hội đồng, cung tam bảo, cung vua, cung khảm hải (vượt biển). Then kỳ yên bao giờ cũng tổ chức vào ban đêm yên tĩnh, khi mọi sự sống đã lắng đọng vào giấc ngủ, chỉ còn vang vọng tiếng hát của then, giúp mọi người nghe và cảm nhận từng lời hát một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất. 

Nhóm Then lễ hội là những khúc hát khích lệ tinh thần mọi người thêm phấn chấn, vui vẻ, xua tan phiền muộn, cực nhọc vất vả trong cuộc sống, lao động sản xuất để thỏa mãn ước vọng về một cuộc sống đầy đủ hơn, muôn vật sinh linh. Nhóm Then lễ hội thường được sử dụng trong các nghi lễ: Lễ cầu mùa, lễ vào nhà mới, lễ cấp sắc, lễ cốm. Then lễ hội gồm nhiều cung, phủ: Giải uế, khảm hải (vượt biển), tứ bách hoặc phủ thu quạt, pụt luông (chúa của thần nông), nhà phép, hội đồng, tam bảo, chợ tam quang, vua cha…

Ngôn ngữ – lời then, mộc mạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường, sử dụng ngôn từ tượng hình, tượng thanh phong phú, lối so sánh, ví von. Nội dung các khúc hát then đều toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên (mong muốn nhân an vật thịnh, cầu cho mưa thuận gió hòa, con người mạnh khỏe, mùa màng tươi tốt…), tình yêu đôi lứa, nghĩa vợ chồng, răn dạy đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước… giai điệu mượt mà, sâu lắng, âm hưởng mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng, sức truyền cảm mạnh.

Theo GS, TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, “nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh bằng hát Then (mà thực tế ngày nay cũng không còn mấy ai tin thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, vừa mô tả, vừa gửi gắm nhắn nhủ những ngọt bùi đắng cay của cuộc sống ông cha”. Vì, theo ông “có thể thấy trong Then (Then Tày nói chung và Then Tày Tuyên Quang nói riêng), không chỉ các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp thi pháp, tu từ, ẩn dụ… của nghệ thuật ngôn từ; tìm thấy những làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc cổ xưa nhất; những điệu múa đã song hành với hát then không biết bao năm tháng”. GS, TSKH Tô Ngọc Thanh khẳng định: “…Then là một kho tàng quý báu tàng trữ những giá trị văn học nghệ thuật ngàn đời của ông cha”.

Và bài toán bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Then

http://www.tuyenquang.gov.vn/DetailView/604/8/Bao-ton-phat-huy-gia-tri-di-san-van-hoa-hat-Then-o-Tuyen-Quang.html