Musical Workshop with Tran Quang Hai at GEORGETOWN FESTIVAL 2013, Penang, MALAYSIA, June 28th 2013


Musical Workshop with Tran Quang Hai

blank arrow

trang

Date:

28 June
Time:

8 pm to 9.30 pm
Venue:

Sekeping Victoria

 

The famous Vietnamese musician, Tran Quang Hai will be giving a workshop on overtone singing, jaw’s harp and playing music with spoons. Tran Quang Hai is a talented and renowned musician who comes from a family of five generations of Vietnamese musicians.  He has published many records, DVD’s and articles on the traditional music of Vietnam. He is the Recipient of the Medal of Cristal of the National Center for Scientific Research (France) in 1995 , Medal of the Knight of the Legion of Honour (France) in 2002, and Medal of Honour of Work, Grand Gold category (France) in 2009.

Limited to 50 participants. Each participant is requested to bring 2 soup spoons as instruments. Participants should be above 15 years old.

Call: +604 261 6308 (Miss Lim Yun Xin)

http://georgetownfestival.com/musical-workshop-with-tran-quang-hai/

TRỊNH THANH THỦY : Trần Quang Hải Ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nối


Image

Trần Quang Hải
Ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nối

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

 

Trịnh Thanh Thủy (TTT): Chào Giáo sư Trần Quang Hải.Gần đây trong một bài viết trên VNExpress, nhạc sĩ Quốc Bảo có phát biểu rằng «Âm nhạc Việt Nam đang đuối sức». Là một nhạc sĩ chuyên về nghệ thuật cổ truyền Việt Nam đương đại,GS nghĩ thế nào về hai ngành nghề GS đang theo đuổi, liệu hai ngành này có nguy cơ mai một hay sụp đổ không? Nó có kéo theo hệ thống âm nhạc Việt Nam không?

GS Trần Quang Hải (TQH): «Âm nhạc Việt Nam đang đuối sức» theo nhạc sĩ Quốc Bảo ư? Điều này chỉ đúng một phần nào theo hiện trạng của nền tân nhạc trẻ Việt Nam tại quốc nội mà thôi. Đó là điều phải nhấn mạnh chứ không thể nói một cách mơ hồ vì tân nhạc Việt Nam từ trước tới nay có rất nhiều bài bản đã đi vào đời sống người dân và đã lưu lại trong lòng hàng triệu người trong và ngoài nước từ hơn 50 năm như «Biệt ly» (Doãn Mẫn), «Con thuyền không bến» (Đặng Thế Phong), «Đêm Tàn Bến Ngự» (Dương Thiệu Tước), «Đêm Đông» (Nguyễn Văn Thương), «Chùa Hương» (Hoàng Quý), «Mơ Hoa» (Hoàng Giác), «Gửi gió cho mây ngàn bay» (Tô Vũ), v.v. Ngay cả hiện nay có hàng trăm nhạc sĩ sáng tác hàng nghìn, hàng chục nghìn bài «nổi / chìm» lẫn lộn từ khắp các nẻo đường Việt Nam. Ngay tại hải ngoại, cũng có vài chục nhạc sĩ trẻ hăng say sáng tác và một số ca khúc không dựa vào nhạc xứ nào hết mà rất được yêu thích.

Sau khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, trước những luồng nhạc trẻ Tây phương (phần lớn là nhạc Mỹ, Anh, Pháp), và luôn cả nhạc trẻ Nhật, Đại Hàn, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan, các nhạc sĩ trẻ Việt Nam tại quốc nội tìm nguồn cảm hứng qua các luồng sóng nhạc ngoại nhưng chưa kịp «tiêu hóa» và lại phải «nuốt, ngốn» để sáng tác thật mau, thật nhiều sáng tác mới dựa trên nhạc ngoại hầu cung ứng thị trường đang trên đà thay đổi sở thích quá nhanh chóng. Và gần đây, nhạc quốc nội xôn xao về vấn đề “đạo nhạc”. Trong số vài nhạc sĩ bị nghi vấn có Quốc Bảo. NS Quốc Bảo là một nhạc sĩ đàn ghi-ta trong ban nhạc của cố NS Phạm Trọng Cầu và là người dạy nhạc lý ở trường cao đẳng sư phạm. Anh đã từng tự cho mình ngang hàng với cố NS Trịnh Công Sơn, và còn tuyên bố là «tôi ra sức cứu vãn nền ca nhạc Việt Nam».

Tuy nhiên cả hai bài «Tình thôi xót xa» (Bảo Chấn viết lời Việt trên nhạc Nhật) và «Tuổi 16» (Quốc Bảo viết lời Việt trên ca khúc Renaissance Fair) chỉ là ca khúc thông thời thị trường chưa được xếp vào những thành tựu của tân nhạc Việt Nam.

Việc sao chép ca khúc ngoại quốc là hậu quả của nhu cầu của giới trẻ trong nước đòi hỏi cái mới liên tục quá mau hơn đà phát triển tự nhiên, và hiện tượng «siêu sao» đã làm đảo lộn đời sống. Nhạc trẻ không kịp cung ứng nhu cầu quá vội vàng của giới trẻ. Mức sáng tác nhạc bị «chùn» lại và nguồn hứng của các nhạc sĩ cũng cạn đi. Nhạc ngữ hết phù hợp với sở thích giới trẻ. Lời không còn lãng mạn du dương như thời tiền chiến mà là những ngôn từ ngớ ngẩn, ngây thơ, đôi khi trắng trợn, thiếu trình độ. Lời nhận xét của NS Quốc Bảo về sự đang đi xuống của âm nhạc Việt Nam hoàn toàn thiếu suy nghĩ, nếu không nói là thiển cận, hấp tấp. Tôi vừa ngạc nhiên lẫn thất vọng khi biết NS Quốc Bảo còn là một nhà phê bình âm nhạc từ nhiều năm qua tại Sài Gòn và có uy tín đối với giới trẻ và nhạc trẻ Việt Nam.

Là một nhạc sĩ nhạc truyền thống Việt Nam và nhạc đương đại Tây phương từ hơn 40 năm tại Pháp, có thể tôi có một cái nhìn khác với một số nhạc sĩ tại quốc nội. Đôi lúc, tôi nghĩ mình được may mắn hơn người khác, tỷ như:
1. Tôi sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần và được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tây.
2. Cái may mắn thứ hai là tôi được học suốt 10 năm, vừa thực tập vừa học lý thuyết nhạc Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for Oriental Music) tại Paris do thân phụ tôi làm giám đốc. Tôi được học nhạc truyền thống Ả rập, nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, Đại Hàn, Nhật, Nam Dương. Chính sự tiếp xúc trực tiếp với những truyền thống nhạc dân tộc của các quốc gia Á châu qua các nhạc khí mà tôi luyện tập đã làm giàu số vốn âm nhạc sẵn có trong tôi, và mở rộng tầm mắt tôi trong việc sáng tác và trình diễn.
3. Cái may thứ ba là tôi học nhạc cổ điển Tây phương ở trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn (1955-61), và sau đó theo học lớp sáng tác nhạc điện thanh (electro-acoustical music) năm 1965 với cố nhạc sư Pierre Schaeffer, người sáng lập ra nhạc điện tử (electronic music), và nhạc cụ thể (concrete music).
4. Cái may thứ tư là tôi học môn nghiên cứu nhạc học (musicology) tại đại học đường Sorbonne (1962-67) để có dịp nghe tất cả loại nhạc cổ điển Tây phương từ thời Trung cổ tới đương đại (Schönberg, Xenakis, Boulez, v.v.). Từ năm 1962 tới 1969 tôi học thêm bộ môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) để khám phá gia tài âm nhạc truyền thống thế giới.
5. Cái may thứ năm là tôi được đào tạo thành một nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, thủ đô của văn hóa và văn minh thế giới, và tạo cả một sự nghiệp âm nhạc từ hơn 40 năm qua. Tôi thuộc thế hệ tiên phong của bộ môn nghiên cứu dân tộc nhạc học, tham gia tích cực vào phong trào chấn hưng dân nhạc tại Pháp và Âu châu từ năm 1965 tới 1975.
6. Cái may thứ sáu là tôi vừa là nhà nghiên cứu và vừa là nhạc sĩ trình diễn. Tôi đã trình diễn trên 3.000 buổi tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, tham gia tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế.

Về nhạc cổ truyền, cách đây 50 năm, ít có ai để ý tới nhạc cổ truyền nói chung. Nhạc sĩ Ravi Shankar, một danh cầm đàn Sitar Ấn độ, đã chinh phục Tây phương từ cuối thập niên 50. Ông còn là thầy của George Harrisson (một nhạc sĩ của nhóm The Beatles), của John Coltrane (Jazz). Ông đã làm vang danh nhạc Ấn độ khắp nơi trên thế giới. Ảnh hưởng của nhạc Ấn độ có thể tìm thấy ở nhạc đương đại Âu Mỹ (sáng tác của nhà soạn nhạc Pháp Jacques Charpentier), ở nhạc trẻ pop (The Beatles, và nhiều nhóm nhạc pop khác trong thập niên 60 ở Anh Quốc). Nhạc cổ truyền Nam Mỹ, đặc biệt của xứ Péru, Bolivia đã xâm chiếm thị trường nhạc mới suốt thập niên 60. Rồi tới nhạc Phi Châu, nhạc RAI Ả rập, nhạc du mục Gypsy Đông Âu trong thập niên 70 và 80. Hiện tượng nhạc thế giới (World Music) được phát hiện vào giữa thập niên 80 là sự giao lưu giữa nhạc cổ truyền và nhạc trẻ Tây phương đã giúp cho giới trẻ thế giới khám phá những truyền thống âm nhạc cổ xưa của các lục địa. Gần đây nhất, kỹ thuật hát đồng song thanh của dân Tuva, dân Mông cổ, và dân Xhosa (Nam Phi) được thế giới khâm phục. Cách đây 30 năm, nguyên cả xứ Tuva và xứ Mông cổ chỉ có khoảng vài chục người biết về kỹ thuật hát hai giọng cùng lúc này. Năm 2004, tại hai quốc gia vừa kể có trên 3.000 người hát chuyên nghiệp và hàng năm đều có tổ chức đại hội liên hoan hát đồng song thanh. Nhạc Phật giáo Tây Tạng rất được ưa chuộng từ hơn 40 năm. Ống thổi Didjeridu của thổ dân Úc trở thành nhạc khí rất được ưa thích tại Âu Mỹ từ 1990. Đàn môi Mông của miền thượng du Bắc phần Việt Nam trở thành nhạc khí bán chạy nhất ở Âu Mỹ, đến nỗi có một người Đức đã làm một trang nhà lấy tên là Đàn Môi chuyên bán đàn môi Mông (www.danmoi.de),một phần lớn là nhờ vào sự biểu diễn đàn môi Mông do tôi trình diễn từ hơn 20 năm nay tại nhiều đại hội liên hoan nhạc dân tộc trên thế giới. Nhạc đàn gamelan của Nam Dương, nhạc cung đình Gagaku, nhạc tuồng Kabuki, nhạc múa rối Bunraku, nhạc đàn tranh koto của Nhật, nhạc cung đình Ah Ak, nhạc đàn tranh kayakeum của Đại Hàn, nhạc đàn cổ cầm Trung quốc, nhạc cung đình Huế, ca trù, múa rối nước của Việt Nam được thế giới ngưỡng mộ. Sự phát triển và bành trướng nhạc cổ truyền Á châu và thế giới nói chung, và Việt Nam nói riêng, đã cho thấy là nhạc dân tộc ngày càng được phổ biến rộng rãi chứ không có mai một hay sụp đổ…

Nhạc đương đại Tây phương được dạy tại hầu hết các trường quốc gia âm nhạc khắp năm châu. Sự giao lưu giữa các nhạc ngữ cổ điển và dân gian đã tạo một trường phái mới cho nền âm nhạc thế giới. Những nhà sáng tác nhạc đương đại gốc Việt đang sống ở hải ngoại, có thể kể: Cung Tiến, Nghiêm Phú Phi, Phan Quang Phục ở Hoa kỳ; Nguyễn Văn Tường (từ trần 1996), Trương Tăng (từ trần 1989), Tôn Thất Tiết, Nguyễn Thiên Đạo, Trần Quang Hải ở Pháp, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Tuấn Hùng, Đặng Kim Hiền ở Úc châu. Chỉ có Trần Quang Hải, Hoàng Ngọc-Tuấn, Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền là vừa sáng tác và vừa trình diễn nhạc của mình.

Gia đình tôi (GS Trần Văn Khê, em gái tôi Trần Thị Thủy Ngọc và tôi) đã đào tạo hàng trăm nhạc sinh Việt và ngoại quốc về đàn tranh tại Pháp. Bạch Yến và tôi đã có mặt tại trên cả trăm đại hội liên hoan nhạc quốc tế và trình diễn cả ngàn chương trình tại trên 60 quốc gia. Nữ nhạc sĩ Phương Oanh và nhóm Phượng Ca, sau 35 năm kiên trì đã tạo hàng nghìn nhạc sinh đàn tranh và các nhạc khí khác tại Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Úc, Canada, và luôn cả ở Việt Nam. Nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh cũng mở lớp dạy đàn tranh, bầu, trưng, thu hút khá nhiều nhạc sinh tại Paris. Nhóm Hồng Lạc ở Canada, nhạc sĩ Phạm Đức Thành, nhạc sĩ Khắc Chí, Bích Ngọc ở Canada, nhạc sĩ Nguyễn Thuyết Phong, nữ nhạc sĩ Ngọc Dung, nhóm Lạc Việt ở Hoa kỳ, đã có nhiều sinh hoạt nhạc dân tộc ở khắp Bắc Mỹ.

Nhìn vào nhạc quốc nội, sự phục hưng hay tái sinh của nhạc cung đình Huế (Ngày 7 tháng 11. 2003, UNESCO ban tặng một giấy khen nhìn nhận Nhạc Cung Đình Huế là «kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại» – Chef d’œuvre de l’oral et de l’héritage intangible de l’humanité / Masterpiece of the Oral and Intangible Heritage of Humanity), ca trù, chầu văn, múa rối nước và sự phát triển đàn tranh (nhờ sự đóng góp của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan, nữ nhạc sĩ Phương Bảo, hai nữ nhạc sĩ trẻ Hải Phượng và Thanh Thủy) đã làm cho nhạc cổ truyền khởi sắc với nhiều chuyến đi trình diễn ở nước ngoài từ 15 năm nay. Các nhóm nhạc sĩ trẻ như Phù Đổng, Tre Xanh, nhạc sĩ Đỗ Lộc, Phạm Thúy Hoan, Hải Phượng, ban ca trù Thái Hà, đoàn múa rối nước Hà nội và Thành phố HCM, cũng như nhiều nghệ sĩ cải lương có mặt thường xuyên tại nhiều đại hội liên hoan quốc tế. Viện âm nhạc Hà nội (32 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) là nơi tàng trữ hàng chục ngàn bài hát dân ca, xuất bản nhiều CD, VCD nhạc dân tộc Kinh và các sắc tộc Thái, Gia Rai, Ba-Na, v.v., sách nghiên cứu âm nhạc nói chung, và một phòng triển lãm hàng trăm nhạc khí dân tộc. Bao nhiêu đó đủ cho thấy nhạc cổ truyền Việt Nam vẫn còn sống mạnh tại hải ngoại cũng như trong quốc nội.

TTT: Tôi được biết Giáo Sư có nghiên cứu, thí nghiệm và giảng dạy về kỹ thuật hát đồng song thanh (overtone singing). Giáo Sư có thể cho độc giả biết nó là gì? Và kỹ thuật này có ứng dụng được vào âm nhạc Việt Nam không? Giả dụ một bài tình ca hay dân ca chẳng hạn?

TQH: Hát đồng song thanh là hát cùng một lúc ra hai giọng ở hai cao độ khác nhau. Một giọng trầm phát ra từ cổ họng tức là giọng chánh (fundamental sound) và một giọng bổng thoát ra từ những bồi âm (overtones) của giọng chánh. Mỗi bồi âm mang một số chỉ định thứ tự cao độ. Điểm quan trọng cần phải biết trong cách hát đồng song thanh là làm sao phải giữ nguyên một cao độ cố định trong khi đó phải di chuyển các bồi âm theo một giai điệu nào đó tùy theo bài bản lựa chọn trong giới hạn giữa bồi âm số 4 và bồi âm số 16. Người Mông cổ và người Tuva chuyên sử dụng bồi âm từ số 6 tới 13. Nếu tôi bắt đầu giọng chánh là Do thì các bồi âm 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13 sẽ có cao độ là Sol, La, Do, Ré, Mi, Sol tức là các nốt của một âm giai ngũ cung. Những bài hát thuộc âm giai ngũ cung của các quốc gia khác đều có thể hát với âm giai ngũ cung tạo bởi bồi âm, chẳng hạn như bài “Amazing Grace”. Cái khó thứ ba trong cách hát đồng song thanh là làm sao hãm giọng chánh cho thật nhỏ để cho bồi âm được nghe lớn hơn. Cách này có thể luyện tập với phương pháp nín hơi trong cách lặn dưới nước

Hát đồng song thanh (danh từ này do tôi đề nghị có nghĩa là hát hai giọng cùng một lúc) trong khi người Mông cổ và người Tuva dùng từ ngữ KHOOMEI (có nghĩa là “giọng hầu”). Hát đồng song thanh được phát triển tại Âu châu từ hơn 30 năm nay nhờ vào công trình nghiên cứu của tôi khởi xướng từ năm 1969 tại Paris. Thế giới âm nhạc Tây phương chỉ biết nghệ thuật tạo bồi âm của các nhà sư Tây Tạng thuộc nhánh Gyuto của trường phái Gelugpa (Dalai Lama thuộc trường phái này) qua cách tụng kinh giọng thật trầm và phát ra bồi âm số 10 (quãng 3 trưởng trên 3 bát độ đối với cao độ của giọng chánh của người hát). Nhà soạn nhạc Đức Stockhausen soạn một ca khúc “Stimmung” cho 6 giọng vào năm 1968. Nhưng nghệ thuật hát lạ lùng này chưa được phát triển cho lắm. Phải đợi tới năm 1974, khi dĩa hát “Chants mongols et bouriates” do hãng dĩa Vogue phát hành, theo tài liệu thu thanh của GS Roberte Hamayon và do tôi lựa chọn, rồi khi tôi đã khắc phục kỹ thuật này và bắt đầu dạy và phổ biến khắp Âu châu, thế giới nhạc Tây phương bắt đầu khám phá hát đồng song thanh. Đầu thập niên 80, hát đồng song thanh Tuva được phát hiện qua đại hội liên hoan giọng hầu tại xứ Tuva và một vài ca sĩ Tuva giới thiệu cách hát này tại Âu Mỹ. Lúc đầu tại Mông cổ và Tuva chỉ có vài chục ca sĩ hát kỹ thuật giọng hầu khoomei. Bây giờ (2004), có tới vài ngàn ca sĩ chuyên môn hát khoomei trình diễn khắp các nơi trên thế giới, nổi tiếng nhất của Mông cổ là các ca sĩ Sundui, Tserendava, Ganbold, các nhóm Eschiglen, Altai Kanga, các ca sĩ Genadi Tumat, Mongush Kandar, các nhóm Huun Huur Tu, Shu De, Tuva Ensemble, v.v.

Năm 1995, tôi được mời làm chủ tịch cuộc thi hát giọng hầu tại thủ đô Kyzyl, xứ Tuva, Tây bá lợi Á, với sự tham gia của trên 300 ca sĩ Tuva, và trên 100 thí sinh thuộc các quốc gia Mông cổ, Altai, Khakassia, Nhựt Bổn, Pháp, Hòa Lan, Đức, Canada, Hoa Kỳ. Tôi được mời làm hội viên danh dự của hội ca sĩ hát khoomei của Tuva, hội viên danh dự của Trung tâm quốc tế giọng hầu (International Center of Khoomei). Từ hơn 10 năm nay, đề tài hát đồng song thanh được một số sinh viên nghiên cứu dân tộc nhạc học chọn làm đề tài cho thạc sĩ (M.A. / Maitrise), tiến sĩ (Ph.D. / Doctorat). Tôi đã theo dõi và hướng dẫn trên 10 luận án về đề tài này do các sinh viên thuộc các trường đại học Pháp, Đức,Hòa Lan, Ý, Na Uy, Nhật. Hát đồng song thanh có liên hệ tới âm thanh học (acoustics), y học (phoniatrics), âm nhạc điều trị học (music therapy), tâm lý điều trị học (psychotherapy) và sáng tác (composition).

Trong lĩnh vực dạy ca hát, tôi đã dạy nhiều lớp master classes tại các trường âm nhạc nổi tiếng thế giới như trưòng âm nhạc Tshaikovsky ở Moscow (Nga), Paris (Pháp), trường âm nhạc hoàng gia Nhật ở Tokyo (Nhật), trường âm nhạc hoàng gia ở Rotterdam (Hòa Lan), hàn lâm nhạc viện ở Basel (Thụy Sĩ). Một số đông các ca sĩ chuyên nghiệp Tây phương đã theo học với tôi để học cách giữ hơi, hãm hơi, lấy hơi. Trong cách hát đồng song thanh, cách thở ra hít vào hoàn toàn khác với kỹ thuật dạy về thở ở các trường âm nhạc.

Trong lĩnh vực trị bịnh, hát đồng song thanh giúp cho người nhút nhát bớt nhút nhát, người bị cà lăm bớt cà lăm (nói lắp), mang lại tự tin cho người tập loại hát này. Ngoài ra loại hát này giúp cho người học Yoga có hơi thở dài hơn, cho người học khí công có nhiều điện lực hơn và cho người học Thiền có nhiều nghị lực tập trung tư tưởng trong khi ngồi thiền.

Từ trên 30 năm nay, có hơn 7000 người theo học với tôi từ 60 quốc gia. Hiện nay có khoảng 20 người học trò Tây phương theo học với tôi đã mở lớp dạy hát đồng song thanh và bành trướng môn phái hát đồng song thanh do tôi đề xướng tại Âu châu từ 1972.

Áp dụng vào trong nhạc Việt Nam: Về nhạc đương đại, tôi là người đầu tiên dùng hát đồng song thanh trong nhạc điện thanh qua bài “Về Nguồn” soạn chung với cố nhạc sĩ Nguyễn văn Tường từ năm 1972 và trình diễn lần đầu vào năm 1975. Sau đó Lê Tuấn Hùng tại Melbourne (Úc), rồi Hoàng Ngọc-Tuấn tại Sydney (Úc) có dùng hát đồng song thanh trong những sáng tác mới. Trong dân nhạc Việt Nam, tôi có thu bài “Cò lả” với kỹ thuật hát đồng song thanh trong dĩa 33 vòng “Music of Vietnam / Tran quang Hai & Hoang Mong Thuy”, hãng Albatros sản xuất, Milan, Ý, 1978.

Các bạn có thể vào đây xem video về kỹ thuật hát đồng song thanh:

http://www.canalu.com/canalu/affiche_programme.php?
programme_id=1440745852&chaine_habillage=512
&vHtml=0&cycle_id=&num_sequence=&largeur=1024

Dùng quang tuyến X để xem bên trong miệng khi hát đồng song thanh:
http://media.cines.fr/ramgen/3517/real/
canalu/science/1440745852/1440745852-1.rm

http://honque.com/PhongVan/pvTQH/
SongThanh_LaMelodieDesHarmoniques.mp3

http://honque.com/PhongVan/pvTQH/
SongThanh_LaMelodieDesHarmoniques.ra

TTT: Giáo sư đang hoạt động trên hai lĩnh vực song song: “âm nhạc cổ truyền” và “âm nhạc đương đại”. Theo Giáo sư, hai hoạt động này đóng góp thế nào cho âm nhạc hải ngoại nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung? Có thể nào chúng ta vừa bảo tồn và giới thiệu di sản âm nhạc cổ truyền với thế giới, vừa phát huy sáng tạo hay ứng dụng nó vào âm nhạc đương đại? Có khó khăn không?

TQH: Với trên 3.000 buổi trình diễn nhạc Việt Nam ở hải ngoại từ 1966 tới nay, tôi lúc đầu và từ 1978 cùng với Bạch Yến đã mang dòng nhạc Việt qua tiếng đàn tranh, đàn cò, sinh tiền, muỗng, đàn môi và giọng hát đến với cộng đồng quốc tế và Việt Nam để cho thấy sự phong phú của nhạc dân tộc. Những buổi thuyết trình tại các đại học đường hay hội thảo quốc tế giúp cho người ngoại quốc hiểu thêm về sự đa dạng của các loại nhạc Việt và các sắc tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là hình thức giới thiệu nhạc Việt Nam với thế giới.
Muốn hội nhập vào thế giới âm nhạc Tây phương, tôi đã sáng tác giai điệu mới dựa trên các thang âm ngũ cung, chế biến tiết tấu mới lạ dựa trên kỹ thuật đánh trống Việt Nam (toong, tà- roong, táng, cắc, rắc, trắc, sậm, tịch, rù, v.v.), áp dụng vào kỹ thuật gõ muỗng (với trên 10 kỹ thuật mới do tôi sáng tạo). Tôi đã dùng tiếng đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh trong nhạc điện thanh (electro-acoustical music) do cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường và tôi hợp tác với nhau trong nhạc phẩm “Về Nguồn” trình bày lần đầu tiên vào tháng 2. 1975 tại thành phố Champigny, Pháp. Tôi đã ứng dụng tiết tấu muỗng vào nhạc tùy hứng tiết tấu để trình diễn với trống zarb của Ba Tư (1972) với free jazz đối thoại với saxo tenor (1982) (dĩa hát 33 vòng “SHAMAN”, hãng Didjeridou Records DJD 001, Paris, 1983, tôi cùng nhạc sĩ Misha Lobko song tấu tùy hứng), đàn môi, hát đồng song thanh với ống thổi Didjeridu của thổ dân Úc (1997) (dĩa CD “Philip Peris / Didjeridu”, hãng Les 5 Planètes, Paris, 1997, tôi cùng Philip Peris tùy hứng qua hai nhạc phẩm trong CD này). Tôi đã hòa đàn môi Việt với các loại đàn môi Na Uy, Anh quốc, Nhật Bản trong một CD chuyên về đàn môi xuất bản tại Na Uy (2000). Tôi sử dụng kỹ thuật hát đồng song thanh để đệm cách tụng kinh Mantra Tây Tạng (2004) tại đại hội liên hoan nhạc quốc tế tại Genova, Ý. Tôi đã dùng âm thanh của đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, muỗng, sinh tiền, đàn môi, hát đồng song thanh cho nhạc các phim thương mại của các nhà viết nhạc phim Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit từ 1970 tới nay.

Lúc đầu tiên, tôi gặp rất nhiều khó khăn vì không biết phải làm thế nào để cho thế giới biết tới nhạc Việt Nam. Với thời gian và học hỏi trường kỳ, cũng như với tuổi đời và sự tham gia hàng năm tại các chương trình dân nhạc thế giới, tôi đã gọt giũa những gì thừa thãi, không ích lợi mà chỉ giữ lại những tinh hoa sáng giá và đặc trưng của nhạc Việt. Kinh nghiệm được rút tỉa qua hàng ngàn buổi trình diễn nhạc Việt cho trẻ em Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ và Na Uy đã giúp tôi làm một chương trình hoàn hảo để chinh phục người ngoại quốc qua các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền Việt Nam.

TTT: Xin Giáo Sư cho độc giả biết thêm về mình và những hoạt động cùng thành tựu trong lĩnh vực Giáo sư hoạt động.

TQH: Những hoạt động của tôi từ 40 năm qua được kê khai trên các trang nhà (www.tranquanghai.org; http://tranquanghai.phapviet.com). Đứng về mặt nghiên cứu , tôi là hội viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế như Society for Ethnomusicology (Hoa kỳ từ năm 1969), Asian Music Society (Hoa kỳ từ năm 1980), International Council for Traditional Music (Hoa kỳ từ năm 1969), European Seminar for Ethnomusicology (Đức từ năm 1983), Société Francaise d’Ethnomusicologie (sáng lập viên từ năm 1985), International Society for Musicology (Thụy Sĩ từ năm 1977), International Society of Sound Archives (Na Uy từ năm 1978 tới 1995). Tôi vào làm việc cho Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) của Pháp từ năm 1968, chuyên về ngành dân tộc nhạc học thuộc nhóm nghiên cứu nhạc dân tộc có trụ sở tại Musée de l’Homme (Viện Bảo Tàng Con Người) ớ Paris quận 16. Nơi đây tôi được đặc trách giao phó về nhạc Việt Nam và nhạc sắc tộc ở Việt Nam. Sau đó tôi chuyên về nghiên cứu các kỹ thuật giọng hát trên thế giới và trở thành chuyên gia về hát đồng song thanh có uy thế nhất trên thế giới. Tôi được mời dạy tại trên 100 trường đại học ở khắp năm châu, tham gia trên 50 hội nghị quốc tế về âm nhạc, viết cho tự điển âm nhạc New Grove Dictionary of Music and Musicians (ấn bản 1980 và 2002) và nhiều tự điển âm nhạc khác ở Âu châu, viết 4 quyển sách về nhạc thế giới, có bài viết trong 12 quyển sách tập thể về nhạc truyền thống (xuất bản tại Pháp, Hoa kỳ, Đức, Lituania, Ý, Anh Quốc, Nhật, Việt Nam) và trên 400 bài viết về nghiên cứu âm nhạc bằng tiếng Pháp, Anh và Việt. Tôi đã thực hiện chung với một nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học gốc Thụy Sĩ tên là Hugo Zemp một cuốn phim 16 ly tựa là “ Le chant des harmoniques” (the Song of Harmonics / Bài hát bồi âm vào năm 1989) đã gặt hái 4 giải thưởng quốc tế. Năm 2004, tôi đồng thực hiện với Luc Souvet một DVD về hát đồng song thanh tựa là “Le chant diphonique” do Trung tâm quốc gia tài liệu sư phạm (CNDP – Centre National de Documentation Pédagogique) của đảo La Réunion, Pháp sản xuất. Ngoài ra tôi hướng dẫn trên 10 luận án về hát đồng song thanh của các sinh viên thuộc đại học Pháp, Đức, Ý và Na Uy.

Về trình diễn âm nhạc với tư cách nhạc sĩ, tôi đã tham gia trên 150 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế, trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 60 quốc gia cùng với Bạch Yến. Chúng tôi đã diễn trên 1.500 buổi cho học sinh các trường tiểu trung và đại học do các cơ quan chính phủ các nước Na Uy (Rikskonsertene), Pháp (Jeunesses Musicales de France JMF), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique JMB), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses JMS), Úc châu (25 chương trình tại các tỉnh Melbourne, Sydney, Brisbane, Perth). Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, mỗi năm chúng tôi dành 10 chương trình giới thiệu nhạc dân tộc tại những nơi có người Việt cư ngụ từ gần 30 năm qua.

Về sáng tác nhạc, tôi là hội viên của hội tác quyền Pháp (SACEM – Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique) từ năm 1980. Số lượng bài hát đủ các loại (tân nhạc, nhạc cho đàn tranh, đàn môi, đàn bầu, hát đồng song thanh, nhạc điện thanh, nhạc tùy hứng) tổng cộng trên 500 bài đã được cầu chứng. Ngoài ra tôi còn là hội viên của hai cơ quan bảo vệ nghệ sĩ trình diễn của Pháp (ADIDAM, và SPEDIDAM).

Về mặt báo chí, tôi viết cho nhiều báo nghiên cứu nhạc dân tộc của nhiều xứ trên thế giới. Ngoài ra tôi viết cho trên 30 tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại, đặc biệt có nhiều bài đăng ở các trang nhà trên mạng lưới như http://www.vietnhac.org; http://www.honque.com; http://www.talawas.org.

Về mặt tiểu sử, tôi là cố vấn quốc tế (international adviser) của hai hội tiểu sử nổi tiếng nhất thế giới là WHO’S WHO của Hoa kỳ (American Biographical Institute ABI) và WHO’S WHO của Anh Quốc (International Biographical Centre IBC). Từ 25 năm nay, tôi đã đề nghị nhiều người Việt có tiểu sử ở một trong 26 loại tự điển Who’s Who. Tiểu sử của tôi có trong 15 loại tự điển tiểu sử Who’s Who, quyển Vẻ Vang Dân Việt (1996) Trọng Minh, quyển Fils et Filles du Việt Nam (1997) Trọng Minh, Tuyển Tập Nghệ Sĩ (1995) của Trường Kỳ. Tôi là nhạc sĩ Việt Nam chuyên nghiệp đàn cho nhạc các phim của Pháp về nhạc có màu sắc Á châu có tên trong quyển Guide Du Show Business từ 30 năm nay.

Về mặt các giải thưởng quốc tế, tôi đã thu thập trên 30 giải thưởng, đặc biệt là những giải thưởng sau đây:

1967: Giải Vua Muỗng (King of Spoons) tại Cambridge Folk Music Festival

1983: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho dĩa hát “Vietnam / Tran Quang Hai & Bach Yen” (hãng dĩa SM, Pháp)

1986: Huy chương vàng của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Pháp

1990: Giải thưởng ưu hạng của Đại hội liên hoan quốc tế về Phim nghiên cứu tại Parnu, Estonia cho cuốn phim “Le chant des harmoniques” (Bài hát bồi âm) do tôi là đồng tác giả, diễn viên chánh và nhạc sĩ sáng tác nhạc cho phim

1990: Giải thưởng phim hay nhứt về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện khoa hoc Estonia cho phim “Le Chant des Harmoniques”

1990: Giải thưởng về nghiên cứu khoa học của đại hội liên hoan quốc tế phim nghiên cứu cho phim “Le chant des harmoniques”, Palaiseau, Pháp .

1991: Giải thưởng ưu hạng Northern Telecom của đại hội liên hoan quốc tế phim khoa học của Québec cho phim “Le chant des Harmoniques”, Montréal, Canada.

1991: Giải thưởng Van Laurens của British Association of the Voice và Ferens Institute, Luân đôn, Anh quốc

1995: Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh, đại hội liên hoan quốc tế hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva

1996: Huy chương thủy tinh (Medal of Cristal) của Trung Tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học, Pháp

1997: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho CD Voices of the World, Pháp .

1998: Huy chương công dân danh dự thành phố Limeil Brévannes, Pháp

2002: Bắc đẩu bội tinh (Legion d’Honneur) của Pháp

TTT: Công việc bảo tồn, phát huy và sáng tạo âm nhạc cổ truyền Việt Nam thật khó nhọc và lớn lao. Giáo sư có ai tiếp sức không? Giáo sư có ước vọng gì trong tương lai? Nếu có thể Giáo sư sẽ làm được gì cho nền âm nhạc Việt Nam?

TQH: Đối với nhạc cổ truyền Việt Nam, ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nối. Điều rất dễ hiểu, học nhạc không phải là đối tượng của đa số người Việt di tản. Âm nhạc chỉ là thú tiêu khiểu hơn là cứu cánh trong cuộc đời. Tôi nghĩ là sự phát huy nhạc cổ truyền Việt Nam phải từ trong xứ Việt Nam chứ không thể từ bên ngoài đưa vào. Bổn phận của tôi chỉ là dọn chỗ, lót đường để cho người ngoại quốc khám phá và tìm hiểu nhạc Việt thêm khi có dịp viếng thăm đất nước Việt Nam. Mặt khác là mang lại cho những trẻ em sinh ra và lớn lên ở hải ngoại những hình ảnh âm thanh của văn hóa Việt để các em đừng quên cội nguồn. Sau đó khi các em có dịp quay về quê hương, sẽ không bị bỡ ngỡ.

Ước vọng của tôi là một ngày nào đó tôi có dịp trở về quê hương với điều kiện thuận tiện, tôi sẽ mang lại cho tất cả những trẻ em Việt Nam hay những sinh viên âm nhạc những kinh nghiệm mà tôi đã thu thập ở hải ngoại, trao lại gia tài âm nhạc mà tôi đã lĩnh hội, hấp thụ suốt cả cuộc đời cho dân tộc Việt. Chỉ có ở Việt Nam là tôi hy vọng tìm được người thừa kế di sản âm nhạc tôi để lại. Ngày đó chưa biết là lúc nào, nhưng tôi tin rằng sẽ có ngày đó trước khi tôi vĩnh viễn ra đi.

 

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

 

TỪ TÂM : 30 PHÚT ĐỐI THOẠI VỚI PHẠM DUY


30 PHÚT ĐỐI THOẠI VỚI PHẠM DUY

Image


Từ Tâm


Ông lại quay về, với sự cả quyết và xác tín nhiều hơn về mối dây không thể nào dứt của mình: tình cảm của ông đối với quê hương đất nước. Một đứa con không bao giờ có thể dứt được nỗi nhớ khôn nguôi với người mẹ – nơi ông đã được kết tinh bằng máu và nước mắt, bằng nỗi đau và sự ngọt ngào, bằng tất cả tấm chân tình của niềm kiêu hãnh, rằng mình là người Việt Nam. “Tôi là người Việt Nam, tôi sống vì người dân Việt Nam, yêu thương mảnh đất Việt Nam và yêu thương tất cả mọi người Việt Nam”. 

PV: Thưa ông Phạm Duy, ông đã về Việt Nam bao lần rồi?
Phạm Duy (P.D): Lần này là lần thứ 9.

PV: Nghe nói lần này về ông định xin phép được tổ chức một chương trình nhạc Phạm Duy ở Việt Nam?
P.D: Không, là mấy người con làm. Tôi chẳng làm gì nữa, giờ có tuổi rồi, chỉ đi chơi thôi.

PV: Theo ông từ trước tới nay ai hát nhạc của ông hay nhất?
P.D: Xưa thì có Thái Thanh, Duy Quang, nay thì có Thái Hiền, trước đã được nghe và thích giong ca Lê Dung (tại Paris)


PV: Ông có thể cho vài nhận xét về nhạc sĩ trẻ và tác phẩm của họ bây giờ như thế nào không ?
P.D: Nhạc trong nước thì phải thoát ra ngoài, nghĩa là anh em phải đi nhiều ra ngoài mới tìm ra “nhac phong” của mình được. Nhạc ở hải ngọai thì rất tiếc là chính họ lại cầm tù họ bằng những đề tài khắc nghiệt. Chúng ta cần sọan nhạc bằng tâm hồn, bằng sự hồn nhiên trong sáng… và cả bằng đời mình nữa.
Tôi sống lâu hơn ông Văn Cao, ông Trịnh Công Sơn là vì sao? Vì tôi không cần uống rượu để có hứng mà cần có đàn bà để gợi hứng. Có thể vì thế tôi mà viết được nhiều bài với nhiều ngõ ngách của tình yêu. 

PV: Tôi thích bài “Tìm nhau” của ông, theo tôi đó là bài hát có ca từ xuất sắc.
P.D: Đấy là một trong những bài tôi thích. “Tìm nhau như thiên cổ tìm ngàn thu”. Lời ca là một sự thách đố, vì có bao giờ hai thứ cực đoan tìm được nhau ? Nhưng đã là nghệ sĩ thì phải có ước mơ.

PV: Tôi thích sự gần gũi và cảm giác được yêu thương, hòa bình của bài hát. Nhưng có một câu hát làm cho tôi còn chưa hiểu hết, đó là “Gặp nhau trong vinh dự của cuộc đời, người ơi” (… Gặp nhau với đức tin bao la phơi phới…). Với câu hát này, ông thực sự đã nói điều gì vậy, thưa ông?
P.D: “Gặp nhau trong vinh dự của cuộc đời” là những cuộc gặp gỡ chứa chan niềm tin yêu, những kiêu hãnh và sự tôn trọng lẫn nhau để cùng yêu thương, chia sẻ cho dù đã trải qua nhiều đau thương, mất mát. Sau bao nhiêu nếm trải…

P.D: Thật ra, quê hương quyến rũ tôi ở hai điều: ngôn ngữ và phong cảnh. Tôi mê tiếng Việt và thích đi khắp đất nước để được chiêm ngưỡng thiên nhiên. Tôi vừa đi Chùa Hương về. Ông già 84 tuổi như tôi mà vẫn trèo được lên chùa đấy. Tôi luôn luyện tập để được khỏe mạnh và cuối tuần này (8-10/8) tôi sẽ cùng cả nhà đi mấy tỉnh miền Tây, đến tận Cà Mau.

PV: Hiện giờ ông sống với ai và còn sáng tác thường xuyên không?
P.D: Tôi vẫn sống với con cái kể từ khi Thái Hằng, vợ tôi đã mất đi. Tôi thương vợ tôi lắm. Hạnh phúc của gia đình tôi là con cái luôn luôn ở cạnh cha mẹ. Đó cũng là điều mà vợ tôi cũng có được: luôn luôn có chồng và các con bên cạnh cho đến cuối đời. Mặc dù Thái Hằng mất vì căn bệnh ung thư ở tuổi 73, nhưng tôi vẫn ao ước giá mà vợ tôi vẫn ở cạnh tôi lúc này thì hay biết mấy.
Bọn nhóc vẫn gọi tôi là “ông Hai Tếch” vì tôi là nhạc sĩ tiên phong trong phong trào sáng tác nhạc bằng computer và là nhạc sĩ có trang web sớm nhất:http://www.phamduy.com
Tôi luôn sáng tác, trong bất kỳ thời điểm nào. Như hôm nay, bài thơ mà tôi đọc lúc nãy cho các bạn nghe cũng đã phổ nhạc rồi. Tối về hotel chỉ cần ngồi chép lại thôi.

PV: Nghe nói ông đang thực hiện một công trình rất lớn: phổ nhạc truyện Kiều của Nguyễn Du. Hỏi ông điều này hơi tế nhị, vì sao ông lại chọn tác phẩm của một Đại Thi Hào mà không là một tác giả khác?
P.D: Tôi không chọn Lục Vân Tiên hay Nhị Độ Mai với lý do đơn giản: Truyện Kiều chính là thân phận người Việt. Vả lại cụ Nguyễn Du có để lại lời nhắn “Không biết 100 năm sau ai là người khóc Tố Như?”. Nghĩa là hiểu được lòng cụ. Gần 200 năm sau, cụ đã có một người con làm tiếp công việc của cụ. Tôi đã phổ nhạc xong Kiều 1, Kiều 2, Kiều 3.
Kiều 1 là Kiều với Đạm Tiên, Kiều 2 là Kiều với Kim Trọng. Còn Kiều 3 là Kiều với 14 nhân vật: từ Mã Giám sinh, Thúc Sinh, Hoạn Thư đến Tú Bà, Sở Khanh… đó là đoạn đời gian nan, nhọc nhằn, bi thương, đau thảm của Kiều, của thân phận con người Việt Nam.

PV: Vậy lúc nào Kiều mới được giải thoát?
P.D: Tôi không đem lại một “happy-end” cho Minh Họa Kiều. Tôi đổi đi cho đúng với hiện tại. Kết thúc là cái chết của Kiều. Một cái chết không lối thoát.

PV: Có phải vậy không? Hay là sự tái sinh. Có phải cái chết của Kiều chính là cái chết của chính ông? Chết để được tái sinh, để tiếp tục làm công việc của mình chứ không chấp nhận một kết thúc có hậu để rồi không còn là gì cả nữa, chỉ là một người bình thường có một cuộc sống đời thường yên ổn như bao kẻ khác?
P.D: phải hiểu kỹ như thế mới được. Tôi ước ao có một thời gian nào đó được nói về tác phẩm này cho riêng bạn.

PV: ông còn nhớ album “Rong chơi năm 2000”? Trong đấy, ông có hát bài cuối “Có hai thằng mù cãi nhau với thằng điếc…”?
P.D: Có chứ. Bài đấy không người con nào chịu hát nên tôi phải hát.

PV: Nhưng ông hát mới đúng. Không ai chịu hát là đúng rồi. Chỉ có ông mới thể hiện được đúng tinh thần bài hát ấy. Ông đã hát bằng sự chua xót, chất chứ nhiều thương đau và cả nỗi thống khổ…
P.D: Ừ, tôi có nhiều thương đau cũng đúng vì tôi bướng lắm. Ngày xưa tôi ngang tàng và ương bướng.

PV: Cái này tôi cũng biết. Vì tôi đọc một bài luận của Jason Gibbs viết về ông. Trong bài có kể lại chuyện lãnh đạo cho ông đi Đức, nhưng ông đề nghị phải có vợ ông — cô Thái Hằng (lúc ấy đang mang thai Duy Quang) — theo thì ông mới đi.
P.D: Ừ, tôi là vậy. Tôi thương vợ lắm, vì lúc ấy nếu để Thái Hằng ở lại thì sẽ rất khổ. Mình sướng mà để vợ con khổ thì mình đâu còn là người có lương tâm nữa. Mà tôi thì sống một cách rất bản năng. Tôi sống rất tự nhiên thế nên tôi đã nghĩ đều ấy không phải là sự đòi hỏi, chỉ là một yêu cầu rất bình thường và nhân bản.
. . . . . .
Ông quay sang bảo Duy Cường (con trai thứ) chụp cho tôi và ông tấm ảnh chung. Chụp xong, ông cho tôi xem lại trên máy (máy ảnh kỹ thuật số mà!). Rồi ông cười bảo “Cũng đẹp đôi đấy chứ!”. Tự nhiên tôi cảm thấy ông thật gần gũi và dễ mến. Tôi nghĩ, thật là tiếc nếu như một ngày nào đó không còn ông nữa. Vì một con người tài năng và yêu thương cuộc sống mãnh liệt như ông quả là vốn quý cho tinh thần Văn hóa Việt nam. Ông cô đơn lắm. Phải chăng đó là số mệnh của một Nghệ sĩ Lớn?

“Ngẫm thay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có Thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

Viết xong lúc 0 giờ 17 phút ngày 07/08/03

TỪ TÂM

http://honque.net

 

 

 

30 Lời Tâm Sự – Ngô Thụy Miên


ns-ngo-thuy-mien-2

30 Lời Tâm Sự – Ngô Thụy Miên

 

Trong nền tân nhạc Việt nam, đặc biệt là tình ca, dòng nhạc Ngô Thụy Miên là một nét đẹp đài cát, mang một phong cách rất riêng. Người ta thường cho rằng không có gì trong cuộc đời là vĩnh cữu. Nhưng Ngô Thụy Miên đã đóng góp cho âm nhạc Việt nam những bản tình ca mà tôi tin rằng sẽ bất tử. 
Tôi đã hân hạnh được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho phép làm một bài phỏng vấn sau đây. Hy vọng rằng qua bài phỏng vấn này, chúng ta sẽ cảm thấy gần gũi hơn với tác giả của những bài tình ca tuyệt vời.

Hoàng Vi Kha


 

 

 

1. Trong các chủ đề sáng tác, thông thường là: Tình Yêu (đôi lứa), Thân Phận, và Quê Hương, phần lớn các nhạc sĩ đều viết cho cả ba chủ đề này, riêng chú, tất cả cho tình yêu (đôi lứa), vì hễ nói đến nhạc của chú, là nghĩ ngay đến “tình ca”, vậy chú có thể cho biết tại sao chú lại chỉ chọn một chủ đề mà thôi?

Từ bao nhiêu năm nay tôi chỉ viết tình ca vì thấy thích hợp với con người, với cá tính của mình, và cũng vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thưở cho người nghệ sĩ sáng tác. Các chủ đề Tình Yêu, Thân Phận, và Quê Hương đã được khai triển rộng rãi trong nhiều thập niên vừa qua với bao nhiêu tác giả và tác phẩm. Được biết đến như một người viết tình ca (đôi lứa) cũng đã là quá đủ cho tôi rồi.

2. Chú viết rất nhiều cho tình yêu. Vậy theo chú, định nghĩa của chú về tình yêu ra sao?

Cho, Chấp Nhận, và Tha Thứ.
Cho người, Chấp Nhận tình, và Tha Thứ cho mình, như một lần tôi đã nói: Tình ơi! Dù sao đi nữa xin vẫn yêu em.

3. Trải theo thời gian, cái nhìn (hay quan niệm) về tình yêu của một người sẽ có ít nhiều thay đổi, vậy ở chú thì sao? Có hay không sự đổi thay quan niệm về tình yêu từ những tình khúc đầu tay của chú và những tình khúc mới nhất? Sự thay đổi (nếu có) là nguyên do nào và thay đổi ra sao?

Dĩ nhiên, tình yêu cũng như đời sống, đều luôn biến đổi theo thời gian, và không gian. Lấy 1975 làm dấu mốc quan trọng trong tình ca Ngô Thụy Miên. Trước Em Còn Nhớ Mùa Xuân là một thời của tuổi trẻ, mộng mơ, lãng mạn. Sau Em Còn Nhớ Mùa Xuân là hạnh phúc, khổ đau, là những mất mát, hiện thực của đời sống. Ở tuổi 20, tình yêu nồng nàn, say đắm, miệt mài… và khi cuộc tình đã chết thì là nỗi buồn đau, xót xa nhẹ nhàng của Bản Tình Cuối, là tiếc nuối chất ngất của Niệm Khúc Cuối. Tuổi 30, tình yêu thổi qua đời như cơn gió lạ đầu mùa, là bát ngát mộng mơ, rồi bỗng thành chia lìa, tan tác. Đó là thời kỳ của Em Còn Nhớ Mùa Xuân, của Dốc Mơ. Còn ở tuổi 40, tình sâu lắng cùng những tiếc nhớ khôn nguôi của một thời đã qua với Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng, Riêng Một Góc Trời. Tuổi 50, nhìn lại mình, những sợi tóc xanh xưa đã bỏ đi như những kỷ niệm cũ, nhưng trái tim hồng ngày nào vẫn rung động cùng Mưa Trên Cuộc Tình Tôi, Nỗi Đau Muộn Màng…

4. Tình yêu đi liền với tính lãng mạn. Trong giòng nhạc của chú, bàng bạc vẻ trữ tình, lãng mạn. Nhưng tính lãng mạn của Ngô Thụy Miên khác với những nghệ sĩ khác. Chú có thể nào nói về sự lãng mạn đó?

Tính lãng mạn trong giòng nhạc Ngô Thụy Miên? Có thể nói từ những ngày còn trẻ, tôi đã nghe và yêu thích những giòng nhạc tình tự, trong sáng của các tác giả thời tiền chiến, và cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của nhạc cổ điển tây phương, nhất là nhạc classique của thế kỷ 19, mà tôi đã theo học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trong thập niên 60. Cho nên có lẽ vì thế mà sự lãng mạn trong giòng nhạc NTM có một chút trang nghiêm cổ kính, và pha một chút “thơ” của những Lamartine, Chopin, George Sand… cùng Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn…

5. Thông thường, ở tuổi mới lớn, đó là tuổi của hoa mộng, ngọt ngào men say của những rung động trinh nguyên, ban đầu và vì vậy, đó cũng là tuổi mà đưa đến sự xuất hiện của hầu hết những văn sĩ, thi sĩ, hay nhạc sĩ. Với chú điều này đúng không? Và tại sao chú lại chọn âm nhạc mà không chọn thơ, hay văn?

Đúng đấy chứ, tôi hoàn tất tình khúc đầu tiên Chiều Nay Không Có Em năm 17 tuổi. Tuổi trẻ tôi cũng viết văn, làm thơ…nhưng chỉ được biết đến trong giới bạn bè thân cận. Còn âm nhạc, thì nhờ được học hành trường lớp đàng hoàng về nhạc lý, nhạc sử, hòa âm, vĩ cầm…và còn chơi đàn trong ban nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng, nên phương tiện sáng tác, cũng như phổ biến có phần dễ dàng hơn.

6. Khi viết một tình ca, thông thường cảm xúc dẫn dắt chú đến điều nào trước: giai điệu hay ngôn ngữ (ca từ)?

Tiết tấu và ca từ, cả 2 điều này đều rất quan trọng trong việc sáng tác một tình khúc. Như VK đã nói, tôi thường để cảm xúc tự nhiên dẫn dắt trong việc sáng tác, không gò bó theo một khuôn khổ, qui luật nhất định nào. Tuy nhiên nhìn lại quá trình sáng tác thì có thể thấy ngoài những ca khúc phổ thơ, và 4 bài tôi đã hoàn tất giai điệu trước (Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ, Miên Khúc), phần còn lại là kết hợp của cả hai, ý nhạc và lời ca.

7. Hầu hết các tình ca đầu tay của chú đều được diễn đạt qua thể điệu chậm, thướt tha của Boston, chú có chủ đích chọn thể điệu này như một hướng sáng tác riêng? (cũng như hễ nói đến thơ lục bát thì nghĩ ngay đến Nguyễn Du hoặc thơ năm chữ thì Nguyễn Tất Nhiên, hoặc thể điệu Bolero thì nhạc Lam Phương)

Giản dị thôi, như đã nói tiết tấu và ca từ của một tình khúc đều rất quan trọng, tôi vẫn quan niệm là khi nghe một bài tình ca, nếu ta yêu được ý nhạc thì hạnh phúc một, mà nếu thấu được lời ca nữa thì hạnh phúc gấp đôi. Do đó rất nhiều sáng tác của tôi đã được viết theo thể điệu chậm của Boston để ca sĩ có thể trình bầy, diễn tả hết được cái nồng nàn, tha thiết của lời ca ý nhạc. Tôi nghĩ rằng khi bản nhạc được làm mới thêm với phần hòa âm viết lại từ những thể điệu chậm thành Tango, Samba, ChaChaCha… đều đã làm mất đi cái đẹp nguyên thủy của nó.

 

 

8. Nghe những tình khúc của chú, có thể nói, đối tượng thính giả là những người ở thành thị hơn là ở nông thôn. Hơn thế, không chỉ âm hưởng mà ngay cả ngôn ngữ của những tình ca của chú cũng đòi hỏi người nghe ở một trình độ cảm nhận (hoặc kinh nghiệm sống) nào đó chứ không là quảng đại, bình dân. Chú nghĩ sao về nhận xét này? Phải chăng nhạc của chú cần có đối tượng thích hợp?

Thật ra những sáng tác của tôi viết ra không hẳn cho một đối tượng thính giả nào, mà chỉ dành cho những người có thể chia sẻ những tình cảm, tâm tư riêng với mình mà thôi. Nhưng có lẽ đây là một sự tình cờ của định mệnh. Tôi sinh trưởng tại 2 thành phố lớn Hải Phòng, và Sài Gòn. Chịu ảnh hưởng của nền âm nhạc, cũng như sách báo, phim ảnh tây phương. Đọc nhiều thơ văn viết về Sài Gòn, Hà Nội, Paris…Chỉ một dịp duy nhất được bước chân về miền quê yêu dấu của mình trong lần đi vượt biên dưới Cà Mâu! Cho nên dù muốn cũng không thể dối mình để viết những bài tình ca Quê Hương. May mắn là trong bao năm qua, đã có nhiều nhạc sĩ để lại cho chúng ta những ca khúc với chủ đề Quê Hương thật tuyệt vời.

9. Khi mang tình yêu vào âm nhạc, đơn thuần chỉ là bày tỏ cảm xúc của chính mình hay chú còn nhắn gởi thông điệp nào khác về tình yêu?

Ở cái tuổi bắt đầu sáng tác, cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ là tất cả những hận thù, đố kỵ, bon chen, lừa lọc đều sẽ qua đi, chỉ còn tình yêu là sẽ ở lại mãi với chúng ta. Tình yêu giữa người và người, giữa người và cuộc sống, cũng như thiên nhiên. Đối với tôi âm nhạc cũng chính là tình yêu. Xin hãy để âm nhạc ngự trị trên khắp quả địa cầu khô khan, nơi chúng ta đang tạm trú đây.

10. Tình yêu có lúc làm cho trái tim con người đi qua, hoặc cưu mang khổ hạnh. Trong tình ca của chú nỗi khổ hạnh của tình yêu được chú trình bày có nét riêng biệt – không sến – không quy lụy. Xin chú cho biết thêm về điều này?

Tình yêu đối với tôi dù sung sướng hay khổ đau cũng là một điều rất thiêng liêng. Yêu không có nghĩa là phải chiếm hữu cho riêng mình, yêu là cho tận cùng, là chấp nhận hết những buồn vui, khổ hận để mang lại hạnh phúc cho người yêu. Yêu cũng là tha thứ cho những vấp ngã của người và của chính mình. Đó chính là cái nét riêng biệt của tình ca NTM.

11. Có phải chăng càng đau khổ, càng ma sát với đời, người sáng tác càng có nhiều tác phẩm hơn và tác phẩm càng sâu sắc hơn? Hay nói cách khác, khi trọn vẹn hạnh phúc, dường như sáng tác ít đi ? Chú có bị trường hợp này không? Chú nghĩ gì về điều này từ kinh nghiệm sáng tác của chính chú?

Có lẽ đây là một nhận định, một quan điểm chung của mọi người, là càng đau khổ, càng hận sầu thì viết văn, làm thơ, họa tranh, hay sáng tác nhạc càng hay hơn? Người nghệ sĩ càng sống bệ rạc, phóng túng thì sáng tác càng sâu sắc hơn? Tôi nghĩ không hẳn là như vậy. Bằng chứng là vào thế kỷ 19, nhạc sĩ Mendelssohn là một người sung sướng từ đầu đến cuối, không bị một đau khổ nào trong cuộc sống, ngoại trừ lúc ông ra đi vào cái tuổi rất trẻ, nhưng ông đã viết, đã để lại rất nhiều tác phẩm bất hủ cho đời.
Riêng tôi có lẽ được may mắn sinh trưởng trong một gia đình tương đối ổn định về cả 2 mặt vật chất cũng như tinh thần, nên những sáng tác của tôi từ trước cho đến nay vẫn là một đời nhạc NTM, chỉ có khác biệt là những tình khúc viết trước 75 là của tuổi trẻ mộng mơ, tươi mát, tràn đầy hy vọng, còn sau 75 thì mang nỗi khổ đau, xót xa, mất mát của cuộc sống tạm dung nơi đây. Những đau khổ, mất mát này đã xẩy ra hàng ngày quanh tôi từ những kinh nghiệm sống của chính mình, của bạn bè, gia đình và những người thân của một thời.

12. Khi tạo ra một tác phẩm, thường so sánh như một đứa con tinh thần vừa chào đời, chú có mong muốn gì ở nó và mong muốn gì từ những người chung quanh?

Nói chung, những người làm công việc sáng tạo, khi cho ra đời một đứa con tinh thần thì điều đầu tiên là họ mong muốn tác phẩm của mình được phổ biến rộng rãi, và được người thưởng ngoạn yêu thích (dĩ nhiên điều này không đúng với những người chỉ viết cho riêng mình). Với những người sáng tác có tinh thần trách nhiệm thì ngoài điều mong muốn trên, còn hy vọng là tác phẩm của mình đã nói lên được những điều mình muốn nói.

13. Có thể nói rằng tất cả các sáng tác của chú đều rất giá trị vì không phải chỉ qua ngôn ngữ, âm điệu mà còn vì chú viết từ rung động chân thật (điều này người nghe có thể cảm nhận được). Chú không chạy theo thị hiếu và thời đại. Vậy chú có nghĩ sẽ gặp khó khăn từ phía thính giả trẻ không? Chú nghĩ thế nào về việc sáng tác cần hoặc nên thích hợp với thời đại khác nhau?

Cám ơn VK. Một lần nào đó tôi cũng đã có nói là “Tôi không viết nhạc để sống, mà sống để viết nhạc”. Tôi yêu âm nhạc từ bao nhiêu năm nay, và vẫn tiếp tục sáng tác cho mình, cho bạn bè, cho người thân, và cho tất cả những ai đã có thể chia sẻ những tâm tình của tôi thể hiện qua tình ca NTM.
Tôi không có nhu cầu chạy theo thị hiếu của thời đại. Giòng nhạc thính phòng nói chung, giòng nhạc NTM nói riêng, hiện nay vẫn được rất nhiều bạn trẻ chú ý, theo dõi và ủng hộ. Qua những lần tham dự các chương trình nhạc chủ đề tại nhiều nơi, tôi đã có dịp gặp gỡ những người trẻ này, và tôi vẫn nhận được khá nhiều email của các bạn trẻ yêu nhạc khắp nơi từ những làng xóm, thành phố ở Việt Nam, cho đến những tỉnh thành khắp nơi trên thế giới. Email từ các em, các cháu sinh ra, và lớn lên tại hải ngoại thì cũng có, nhưng không nhiều lắm. Tôi vẫn nghĩ nền tân nhạc Việt Nam dù mới có mặt trên dưới 70 năm, nhưng đã trải qua rất nhiều giai đoạn, thời kỳ, mà mỗi một giai đoạn, thời kỳ, chúng ta đều có những giòng nhạc đáp ứng được những bước đi thăng trầm của lịch sử quê hương dân tộc. Hiện nay ở hải ngoại, dù vẫn có nhiều người sáng tác, nhưng nếu muốn tiếp tục duy trì nền tân nhạc (đây chỉ nói đến nhạc phổ thông) các tác giả phải viết nhiều hơn nữa những ca khúc nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn của lớp trẻ ngày hôm nay. Tuy cần những tiết điệu mới, nhưng vẫn phải không mất đi cái đặc thù của nhạc Việt chúng ta.

14. Những ca khúc sau này của chú (từ thập niên 80 trở đi) giòng giai điệu thay đổi hẳn so với thập niên 70. Thưa chú, nhận xét này có đúng không? Và nếu đúng thì có nguyên do nào không? Không những vậy, nét trau chuốc trong ngôn ngữ cũng thay đổi. Chú nghĩ sao?

Tôi vẫn nghĩ thời gian ở quê hương (trước 75) với những thân yêu quanh mình, với những lụa là, mưa nắng Sàigòn, những quán hàng, con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều…đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở đây, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn…Những thành phố, nhà cửa thật huy hoàng, thật to lớn, nhưng cũng thật lạnh lẽo, cô đơn. Ngày tháng bên này đã để lại trong tôi những nét nhạc muộn phiền, ghi lại những lời ca mệt mỏi, buồn bã của cuộc sống tạm dung, của một phần đời tỵ nạn.

15. Chú có những ca khúc viết cho Sài Gòn (Hát Cho Người Ra Đi, Nắng Paris – Nắng Sài Gòn, Sài Gòn Còn Đó Nỗi Buồn, Thu Sài Gòn) Qua những lời chú viết cho thấy nỗi gắn bó giữa chú và Sài gòn rất tha thiết. Xin chú có thể cho biết cảm xúc của chú khi rời Sài Gòn và khi viết những bài nhạc trên.

Tôi sinh ra ở Hải Phòng miền Bắc Việt Nam, nhưng đã lớn lên tại Sàigòn, đã được nuôi dưỡng bởi cái tánh khí bình dị, cái tinh thần mộc mạc của miền Nam, đã có cả một thời mơ mộng, cả một tuổi trẻ với bao mộng ước đầu đời, khát khao… 
Hỏi nếu vì lý do nào đó phải rời xa nơi chốn ấy thì làm sao không khỏi đau lòng, không khỏi xót xa cho được. Trong nỗi nhớ thương tận cùng, tôi đã viết một số ca khúc cho Sàigòn, và sáng tác gần đây nhất có tựa đề Biết Bao Giờ Trở Lại, đã được nữ danh ca Khánh Ly trình bầy lần đầu tiên trong 2 đêm nhạc NTM tại Sydney, và Melbourne, Australia. Một bài hát đã một lần nữa nói lên nỗi gắn bó của tôi với Sàigòn sẽ là mãi mãi.

16. Xưa nay, “thi-ca” thường đi chung với nhau và chú là một nhạc sĩ có rất nhiều tác phẩm phổ thơ rất thành công. Nhưng phổ nhạc một bài thơ là một việc không dễ, vì nó không chỉ đòi hỏi ở kỹ thuật mà còn cả ở sự cảm nhận. Chú có thể chia xẻ một vài kinh nghiệm về việc phổ thơ thành nhạc không? Đối với chú, đâu là điều quan trọng nhất của bài thơ có thể phổ nhạc (vì không phải bài thơ nào cũng có thể phổ nhạc được).

Thực ra thì tôi phổ thơ đâu có nhiều, chỉ trên dưới 10 bài thôi, thì kinh nghiệm làm gì mà có chứ! Tôi chỉ biết phổ thơ là một việc không khó, nhưng phổ để có được một bài nhạc hay, tồn tại được với thử thách của thời gian thì không phải là chuyện dễ. Tôi vẫn nghĩ bản nhạc với những niêm luật gò bó, nhất định, sẽ không bao giờ có thể nói lên hết được ý thơ của tác giả (đó là cảm nghĩ của tôi khi phổ thơ Nguyên Sa). 
Điều quan trọng nhất của bài thơ có thể phổ nhạc, không nằm ở bài thơ, mà nằm trong lòng người muốn phổ bài thơ đó, có cảm xúc khi đọc bài thơ? có chia sẻ, cảm nhận được những gì nhà thơ muốn nói? có đặt được mình vào cương vị của nhà thơ khi sáng tác bài thơ? có đủ khả năng dùng nốt nhạc để trình bầy ý thơ của tác giả… Khó như vậy, nên tôi không còn phổ thơ nhiều như trước nữa.

 

 

17. Thơ ngay tự nó cũng đã có vần điệu. Có những bài thơ mà khi đọc lên đã nghe như một nhạc khúc. Thưa chú, vậy đối với kinh nghiệm sáng tác của chú, khi một bài thơ được phổ nhạc, có nên không tạo ra sự khác biệt giữa vần điệu của thơ và âm giai của nhạc?

Người ta vẫn thường nói trong thơ đã có nhạc. Tôi nghĩ là không những nhạc, thơ còn chất chứa cả hội họa, và vượt thoát được những gò bó, giới hạn của quy luật, văn phạm trong ngôn ngữ thông thường nữa. Tuy nhiên vần điệu của thơ dễ bị lập đi lập lại (tùy theo thể loại), và như vậy dễ trở nên nhàm chán, nhạt nhẽo…Người phổ nên đem những âm giai của nhạc vào thơ, sáng tạo những thang âm khác lạ, làm mới câu thơ hơn, và hy vọng người nghe sẽ có thể chia sẻ những cảm nhận chung với mình.

18. Thơ có nhiều thể loại khác nhau như lục bát, đường luật, tự do . và số chữ, cũng như cách gieo vần tùy vào thể lọai thơ mà khác nhau. Khi đem thơ phổ nhạc, chú có gặp sự hạn chế trong sáng tác về những luật thơ, và vần thơ không? Đối với kinh nghiệm của chú, thể thơ nào là dễ phổ nhạc nhất (nhận thấy lọai 5 chữ là được đi vào nhạc nhiều nhất có phải chăng vì nó dễ dàng hơn các lọai khác?)

Như đã nói bản nhạc với những niêm luật gò bó, nhất định, sẽ không bao giờ có thể nói lên hết được ý thơ. Dĩ nhiên thơ cũng có những niêm luật, những cách gieo vần riêng…Như vậy khi phổ thơ thì phải biết dung hoà 2 vấn đề này, nghĩa là có khi phải du di, thay đổi nốt nhạc để họa vần thơ, hay đôi khi phải thay đổi lời thơ để nhập với ý nhạc. Tôi thường phổ thơ 5 chữ, hay 7, 8 chữ… cũng có 1, 2 bài theo thể tự do. Thể thơ nào dễ phổ nhất? Thì tùy người phổ thôi. Thông thường những bài thơ có vần điệu dễ phổ hơn thơ tự do.

19. Khi một người ca sĩ trình bày ca khúc của chú, những điều gì chú mong mỏi ở ca sĩ đó? Có những ca khúc được hát qua nhiều giọng ca khác nhau, qua nhiều thời đại khác nhau. Mỗi cái khác nhau đó là một diễn đạt khác (kỹ thuật cũng như cảm xúc) Đối với một nhạc sĩ như chú, chú có thể chia sẻ một nhạc phẩm nào đó mà khi nghe qua nhiều cách trình bày, đã tạo cho chú sự thích thú, khám phá khác cho chính tác phẩm của mình, hoặc một cảm xúc mới?

Dĩ nhiên mong người ca sĩ đó có thể diễn tả được lời ca ý nhạc, chuyên chở được nhưng tình cảm tâm tư mà mình muốn gửi đến người nghe… Điều này không phải là dễ! Lý tưởng nhất là có điều kiện tập cho ca sĩ như khi tôi thực hiện cuốn băng tình ca NTM đầu tiên tại Sàigòn năm 1974.
Một ca khúc muốn được tồn tại với thời gian thì phải được trình bầy bởi những giọng ca của nhiều thế hệ khác nhau, qua nhiều thời đại khác nhau. Trong 4 thập niên vừa qua tôi đã được nghe Áo Lụa Hà Đông qua rất nhiều tiếng hát như Duy Trác, Sĩ Phú, Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Hoàng Nam… Mỗi giọng hát đều có một lối diễn tả khác, một kỹ thuật trình bầy riêng, từ mượt mà, sâu lắng, đến ngọt ngào, trầm ấm, từ tiếng hát trẻ trung, mới mẻ, cho đến nồng nàn, sống động của các ca sĩ, đã cho tôi nhiều nỗi xúc động khi nghe một sáng tác của mình được trình bầy bởi nhiều tiếng hát, mà tiếng hát nào cũng để lại trong tôi một nỗi thích thú, một nỗi sung sướng nhẹ nhàng,dù không bao giờ có thể tìm lại được cái cảm giác hôm nào khi nghe anh Duy Trác hát bài này lần đầu tiên.

20. Nếu có thể điều khiển (thay đổi) được thời gian và không gian, chú sẽ làm gì?

À, nếu có thể thay đổi được thời gian, thì tôi muốn trở lại cái thưở tuổi trẻ, mộng mơ ngày nào, để sẽ viết nhiều hơn, và yêu nhiều hơn nữa. Dĩ nhiên muốn là mình sẽ được ở mãi trên đất nước thân yêu, và sẽ dành thật nhiều thì giờ để đi thăm khắp nẻo đường quê hương.

21. Giai đọan sáng tác (hay cũng là cuộc đời) nào tạo cho chú nhiều gắn bó nhất?

Trước 75, là vì giai đoạn này là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Vẫn là một thanh niên trẻ tuổi, sống giữa lòng quê hương với đầy nhiệt tình,hy vọng, và lạc quan trước tương lai, nhưng không còn quá trẻ để ngu ngơ trước cuộc đời, cũng như chưa già hẳn để học được, để nhìn thấy những lọc lừa, những xấu xa, hiện thực đầy chua xót của đời sống. Và đó cũng chính là giai đoạn sáng tác gắn bó nhất trong đời tôi.

22. Chú có theo dõi các sáng tác của các nhạc sĩ trẻ tại hải ngọai và tại Việt nam không? Nếu có, xin chú cho vài nhận xét về giòng nhạc trẻ tại hải ngọai cũng như tại Việt nam.

Trong những năm tháng vừa qua, tại hải ngoại, cũng như trong nước đều có những tác giả trẻ với những tác phẩm có giá trị. Nhưng chủ yếu các tác phẩm được giới thiệu và phổ biến rộng rãi vẫn chỉ là những ca khúc. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của ca khúc phổ thông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, nhưng tôi vẫn kỳ vọng nhiều hơn nơi các nhạc sĩ trẻ bây giờ, vì tôi nghĩ rằng họ đã có một cơ hội thật đầy đủ, thật tốt đẹp để nghiên cứu, trau dồi, cũng như học hỏi những giòng nhạc mới lạ trên khắp thế giới qua những phương tiện như CDs, Internet, concerts, books… mà những người viết nhạc chúng tôi 30, 40 năm trước không thể có. Họ là những người có thể làm mới lạ hơn cho âm nhạc Việt của chúng ta với những kiến thức tổng hợp của cả 2 nền âm nhạc Đông Tây. Dĩ nhiên khi viết những tác phẩm này, họ cần phải có một cơ hội để phổ biến. Tôi hy vọng các trung tâm video sẽ dành ít nhất một tiết mục trong chương trình để giới thiệu, cũng như đưa giới thưởng ngoạn đến một cuộc hành trình mới vào âm nhạc Việt Nam của chúng ta ở thể kỷ thứ 21 này.

23. Chú nhận thấy ra sao về ngôn ngữ trong âm nhạc Việt nam hiện nay? Có nhiều ý kiến cho rằng đã không còn sự đậm đà, sâu sắc, giàu hình ảnh tượng hình như xưa mà hầu hết là đơn giản, không trau chuốt. Theo chú thì điều này đúng không và sự quan trọng (cần thiết) của ngôn ngữ trong âm nhạc như thế nào?

Hiện nay chúng ta đang ở một thời kỳ mà nền âm nhạc Việt Nam đang cố gắng tìm cho mình một vị trí, tìm cho mình một lối đi riêng để thoát khỏi những ảnh hưởng của các luồng nhạc thổi đến từ các nước bạn. Cho đến khi chúng ta có được một định nghĩa chính đáng của nhạc Việt bây giờ, thì khó có thể tránh được ảnh hưởng từ những điệu nhạc vay mượn, ảnh hưởng từ những phương cách trang phục, và lối trình diễn của nước ngoài! cũng như ca từ của chúng ta sẽ không thể sâu sắc, giầu tượng hình như trước kia được nữa! Nhưng điều đó có quan trọng không khi hiện nay người ta đi xem nhạc nhiều hơn là nghe nhạc, khi ca sĩ không chỉ còn là người hát, mà còn phải là người trình diễn nữa?
Những ca khúc Việt Nam tồn tại đến ngày hôm nay là nhờ một phần rất lớn vào ca từ. Nhạc hay, cấu trúc đẹp, thì rất khó bàn, nhưng khi hát lên một câu, thì chỉ vài lời ca đơn giản thôi cũng đã có thể đem lại sự xúc động tột cùng cho người nghe, cũng có thể gợi nhớ lại cả một cuộc hành trình trong đời người. Ca từ trong nhạc Việt Nam quan trọng là như thế đó.

24. Cũng có nhiều bạn trẻ cho rằng họ không được sự lưu ý đúng mức của thế hệ đi trước. Không có sự dìu dắt, nâng đỡ hoặc tận tình chỉ bảo, san sẻ kinh nghiệm. Đặc biệt là trong âm nhạc. Những nhạc sĩ sáng tác trẻ hầu như bị bế tắt trong vấn đề phổ biến sáng tác. Chú nghĩ sao về điều này? Chú có những điều gì san sẻ cho những nhạc sĩ trẻ không?

Thực sự tôi không nghĩ là những bạn trẻ bây giờ cần có sự dìu dắt, nâng đỡ, hay tận tình chỉ bảo của những người đi trước. Họ có đầy đủ khả năng, điều kiện để viết những tác phẩm có giá trị. Cái mà họ cần là được giúp đỡ phổ biến những sáng tác mới của họ, và đây đúng như VK đã nói là một vấn đề bế tắc từ căn bản. Trong nước thì tôi không rõ lắm về những phương tiện truyền thông, điều kiện phổ biến, cũng như phát hành sáng tác của những người viết mới? Ở hải ngoại, chúng ta chỉ có 2, 3 trung tâm video đang hoạt động mạnh, các trung tâm băng nhạc nhỏ thì cũng có khá nhiều, nhưng hoạt động rời rạc, hạn hẹp! Như vậy thì lấy đâu ra chỗ cho các người viết mới chen chân vào thị trường âm nhạc? Chưa kể đất nước người quá rộng lớn, vấn đề phát hành cũng là một trở ngại không nhỏ. Hiện nay trên mạng lưới Internet đã có khá nhiều diễn đàn văn học, nghệ thuật. Ở đây các bạn có thể gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm, học hỏi cùng nhau để có thể tiến bộ hơn trong lãnh vực sáng tác. Nhưng dù sao tất cả vẫn còn trong một hoàn cảnh, một môi trường hạn hẹp.
Nếu có lời gì muốn nói với những bạn trẻ muốn lập sự nghiệp âm nhạc? một điều rất quan trọng, đó là cho dù gặp bao nhiêu khó khăn trước mặt thì các bạn đừng nản lòng, phải tiếp tục sáng tác, tiếp tục cố gắng học hỏi trau dồi để những sáng tác của mình mỗi ngày một đặc sắc hơn. Có những chuyện các bạn có thể làm thử: Trước hết gửi một vài bài mà bạn vừa ý nhất đến một vài trung tâm. Nếu họ không trả lời! thì bạn phải tự thực hiện CD với những tiếng hát và hòa âm thích hợp với giòng nhạc của mình, rồi gửi đến các trung tâm video, băng nhạc, nhờ họ phổ biến hay phát hành dùm. Nếu các trung tâm không thể giúp đỡ, thì phải tìm cách giới thiệu trên internet, và nhờ đến bạn bè, anh em, để tổ chức những đêm hát, những chương trình ra mắt những sáng tác mới của mình… Nhiều khi phải hy sinh, và chấp nhận nhiều thiệt thòi, mới có cơ hội tạo dựng tên tuổi.

25. Có nhiều nhạc sĩ vẫn chạy theo thị hiếu hoặc danh vọng mà có những sáng tác “vay mượn” từ người khác. Xưa nay, chữ đức vẫn luôn quan trọng trong mọi ngành nghề nói chung và nghệ sĩ nói riêng. Thưa chú, xin chú nói vài lời (quan điểm) về “đức” của người nghệ sĩ được không?

Từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ người nghệ sĩ phải thẳng với mình, và thật với người. Một lần nào đó tôi đã có nói “Là một người viết nhạc, có 2 điều mà tôi không thích là giả dối và vay mượn”. Người nghệ sĩ nói chung, người nhạc sĩ nói riêng cần phải có một tấm lòng độ lượng, chân thành yêu đời, một trái tim chan chứa, nồng nàn yêu người, và nên tìm cho mình một hướng đi riêng, một con đường mới để phục vụ nhân sinh.

26. Đối với chú, trong sáng tác âm nhạc, kỹ thuật và nội dung điều nào quan trọng hơn? Có những tác giả chú trọng khai thác kỹ thuật viết nhưng lại thiếu cân bằng trong ngôn ngữ hay nội dung bài nhạc.

Mặc dù trong việc sáng tác ca khúc, cả 2 phương diện kỹ thuật, và nội dung đều rất quan trọng, nhưng căn bản của ca khúc là những bài hát ngắn gọn, dễ nghe, dễ hát, và bản chất của người Việt chúng ta hiền hòa, giản dị, thích nghe những điệu nhạc êm tai, những câu hát dễ nhớ. Do đó nếu quá chú ý đến kỹ thuật thì bản nhạc sẽ trở nên cầu kỳ, khô khan khó hát. Vì vậy nói tới ca khúc (tấu khúc là một đề tài khác) nội dung, ngôn ngữ trở thành quan trọng hơn.

27. Thông thường, tính đa cảm, lãng mạn, giàu mơ mộng là những yếu tố chính đối với một nghệ sĩ. Nhưng ngòai đời, họ có thể lại là một con người khác. Vậy, Thưa chú, giữa một Ngô Thụy Miên trong âm nhạc và một Ngô Thụy Miên ngoài đời có điều gì khác nhau không?

Khi còn trẻ, còn độc thân thì chẳng khác gì đâu. Bây giờ đã có gia đình, thì ở ngoài đời tôi xử sự cân nhắc hơn với trái tim đầy tình cảm, cũng như tính lãng mạn, mơ mộng của mình. Sống trong đời, mình có nhiều trách nhiệm với những người xung quanh, cần phải làm sao dung hòa được cả 2 phần, trái tim và lý trí.

28. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật như một phương tiện để nói về cuộc sống và con người, cũng như về chân thiện mỹ. Chú là một nhạc sĩ có tài, xin chú cho biết quan niệm của chú về thế nào là “chân thiện mỹ”?

Là một người viết nhạc, thì đối với tôi, âm nhạc là một phương tiện biểu hiện được tất cả những tình cảm giao hòa giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, giữa con người và thiên nhiên. Nghe nhạc, hòa mình trong nhạc vẫn là nỗi sung sướng, niềm hạnh phúc nhất sau tình yêu. Như vậy có thể nói âm nhạc chính là tình yêu vậy.

29. Đối với chú thế nào là một sáng tác thành công? Được số đông khán thính giả yêu thích? Đạt được kỹ thuật viết nhạc cao? Hay chuyển đạt, bộc bạch được những điều mà mình muốn gởi gắm (cho dù có thể không cần kỹ thuật hoặc số đông người yêu mộ)?

Tất cả những gì VK đề cập tới đều có thể coi như là những câu trả lời đúng. Tuy nhiên giản dị mà nói, với tôi thì sự thành công của một ca khúc chính là sự tồn tại của ca khúc đó sau những tháng năm, những thử thách của thời gian và không gian.  Hiện nay những tác phẩm của 2 thập niên 40, 50, và vẫn đang còn được trình bầy, được yêu thích bởi mọi từng lớp khán thính giả là những tác phẩm được coi là thực sự thành công.

30. Trải qua một thời gian dài miệt mài với âm nhạc và có nhiều đóng góp giá trị cho nền âm nhạc Việt nam, nếu chính chú là người nhìn lại tất cả những sáng tác của mình, chú có suy nghĩ gì hay nhận xét gì về chính các tác phẩm của chú?

Cám ơn VK. Tôi đóng góp không được bao nhiêu, nhưng rất hãnh diện về những gì mình đã viết, những gì mình đã chia sẻ được với người, với đời. Đôi khi tôi nghĩ là mình viết đã đủ rồi; đời đã nghe, người đã hiểu, nhưng khi ý nhạc tới thì lại ngồi xuống phím đàn, để mong tiếp tục gửi tới khách tri âm những tình ca của một đời nhạc NTM.

 

Thành thật cảm ơn chú Ngô Thụy Miên đã dành thời gian quý báu để trả lời những câu hỏi của VK. Mến chúc chú luôn bình an và tiếp tục đem lại cho đời những sáng tác tuyệt vời.  VK tin rằng, trên bầu trời âm nhạc Việt nam mãi mãi lóng lánh một ngôi sao đẹp mang tên – nhạc sĩ Ngô Thụy Miên.

mời ghé xem trang nhà nhạc sĩ Ngô Thụy Miên:  http://honque.com/ngothuymien

http://honque.net 

LÊ HÀM : HÁT VÍ TRONG DÂN CA NGƯỜI VIỆT Ở XỨ NGHỆ, VIETNAM


Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ

  •   LÊ HÀM
  • Thứ tư, 10 Tháng 8 2011 06:54 giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

            

                         Ai đi qua nơi đây
                                    Xin dừng chân Xứ Nghệ
                                                                        (Cù Huy Cận)
Du khách mỗi lần qua nơi đây chúng tôi đều khoe: quê ta có nhút Thanh Chương, có Tương Nam Đàn, nào cam Xã Đoài, cháo lươn Kẻ Vịnh và cứ theo dọc vào đàng trong, ăn Bưởi Phúc Trạch, đội nón Kỳ Anh, uống nước chè Hương Sơn, chấm ruốc tôm canh Cửa Nhượng…
 
            Ngoài ra mời du khách lắng nghe những bài dân ca Xứ Nghệ một thổ sản đặc biệt trong gia tài văn hóa tinh thần mà bao đời cha ông để lại cho đến bây giờ, đó là:
            Các làn điệu Hò khoan, Kể vè, Hát ví, Hát dặm, Sắc bùa, Ru con, hát Đồng giao, Bài ca tế lễ… Mời xem trò Kiều, trò Trương viên, chiếu ca Trù cổ Đạm, xem múa chèo cạn, bài bông múa đăng, múa chén,…
            Để hiểu sâu hơn từng thể hát, hôm nay chúng tôi xin giới thiệu thể hát Ví, một hình thức ca hát độc đáo của người Việt ở Xứ Nghệ. Tìm hiểu nguồn gốc của loại dân ca này, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian cho rằng, nó do từ “ví” mà ra. Ví là ví von, so sánh.
            Ví dụ như:         Cổ tay em trắng như ngà
                                    Mắt em sắc như là dao au
                                    Miệng cười như thể hoa ngâu
                                    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
            Như vậy, nó xuất phát từ lời ca, từ mặt văn hóa của làn điệu dân ca. Mà dân ca Việt Nam đâu chỉ có “hát Ví” mới có ví von, so sánh. Các làn điệu Sa mạc, cò lả, trống quân, quan họ, lý ngựa ô, lý con sáo… lời ca đều có ví von, so sánh, tại sao không gọi nó là hát Ví.
            Ở Nghệ Tĩnh nói tới hát Ví là nói tới một loại dân ca mà làn điệu dân ca này chỉ thấy xuất hiện ở Nghệ Tĩnh, lưu truyền ở Nghệ Tĩnh. Ra Thanh Hóa, vào Quảng Bình, chúng ta không nghe làn điệu dân ca này. Trong các sách viết về dân ca đã xuất bản từ trước tới nay, chúng ta cũng không thấy sách nào nói, địa phương nào có loại dân ca này. Vì thế chúng tôi cũng cho rằng hát Ví là một trong những thổ sản đặc trưng của Xứ Nghệ.
            PGS. Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví” là “với”, hát ví là hát với và “ví” là “vói”. Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh đó với đám con trai đang nhổ mạ. Đó là một ý kiến cần phải nghiên cứu.
            Qua thời gian đi sưu tầm dân ca ở các vùng miền hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, tôi chưa thấy nghệ nhân nào nói “ví” là “với”. Nếu nói là “vói” còn có ý nghĩa trong ca hát còn từ “với” thì không thỏa lắm:
                        – Tôi với anh cùng đi
                        – Trứng chọi với đá
                        – Hình với bóng
                        – Con với cái…
            Còn từ  dù sao nó cũng mang thẩm âm nhiều hơn.
                        – Công ơn ví như trời biển
                        – Ví đổi phận làm trai
                        – Ví dù có phải hi sinh nơi trận mạc.
            Như thế từ hát Ví vẫn là từ thịnh hành nhất từ trước tới nay.
            Hát Ví Nghệ Tĩnh, trước khi là dân ca trữ tình, hát đối đáp giao duyên giữa trai và gái, nó là dân ca lao động, dân ca nghề nghiệp. Tại Xứ Nghệ này nói hát Ví là nói chung. Ở đây có hát ví phường vải, hát ví phường đan, hát ví phường nón, hát ví phường vàng, hát ví phường róc cau, lau mía, hát ví phường cấy, hát ví phường củi, hát ví phường chắp gai đan lưới… Như vậy, ngay cái tên của nó cũng gắn với nghề nghiệp đến lao động rồi. Và xét về nhiều phương diện, nó có quan hệ xa gần với các bài ca nghề nghiệp, đặc biệt là với hò lao động.
            Qua thời gian hát ví được nâng lên bằng một loại dân ca sinh hoạt – trữ tình.
            Đã có nhiều công trình ngiên cứu về hát ví Nghệ Tĩnh, trước khi đi sâu vào mặt âm nhạc, xin nêu tóm tắt các đặc điểm của hát ví ở Nghệ Tĩnh như sau:
1. Không như hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo ở Phú Thọ, hát cửa đình ở một số nơi khác, nhân dân Nghệ Tĩnh hát ví không hề tính đến thời gian. Quanh năm trên đất Nghệ lúc nào cũng có thể nghe tiếng hát ví, không hát ví phường vải thì hát ví phường củi,…
            2. Hát ví nhất là ví phường vải, ví phường vàng, ví phường đan… có nho sĩ tham gia. Phần lớn các nho sĩ này là tầng lớp trí thức bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, cũng như có người là con nhà dòng dõi, con nhà khoa bảng, nhiều khi chính họ là những người có tên trên bảng vàng. Tham gia hát ví họ thường là “thầy bày”, “thầy gà” cho bên nam và bên nữ. Một số người cũng trực tiếp cất giọng. Chính vì có nho sĩ tham gia mà hát ví Nghệ Tĩnh đã để lại những lời ca óng ả, cô đọng, màu mè và nhiều giai thoại mà đến giờ đây nhân dân Xứ Nghệ còn truyền tụng.
            3. Hát ví có thủ tục hẳn hoi. Thông thường một cuộc hát ví có ba chặng. Chặng một là các bước hát dạo, hát chào, hát mừng là hát hỏi. Chặng hai là hát đố, hát đối. Chặng ba, chặng quan trọng nhất, có nhiều câu hát hay hơn cả, gồm: hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Với hát ví phường vải thì thủ tục trên khá chặt chẽ. Có thủ tục nó làm cho cuộc hát thêm lịch sự và trở thành một hình thức phô diễn mang tính văn hóa hẳn hoi.
            4. Câu văn hát ví hầu hết được sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể. Vì hát ví đã trải qua một thời gian dài lại có nho sĩ tham gia nên như vừa nói ở trên, câu hát khá chải chuốt, khá điêu luyện, thể hiện tình cảm phong phú, phức tạp, nhiều vẻ. Nhiều câu hát ví hàm súc mang chất trí tuệ ở logic diễn đạt, ở tri thức sách vở và tri thức thực tiễn. Bên cạnh đó cũng không ít câu mang tính chất chơi chữ và chất “trạng”.
            5. Về cách hát, trước khi hát một câu, bên nam hoặc bên nữ phải xướng lên một câu. Ví dụ như hát ví phường vải, bên nam gọi bên nữ: “Ơ này chị em phường vải ơi!”, bên nữ thưa: “Ơ thưa chi!” rồi bên nam mới hát. Hát hay bên nữ khen “Hay, ơ rằng hay” hoặc “Hay, rằng thưa xinh”, “Hay hỡi rằng cân”. Còn hát không hay, câu văn lủng củng, các cô nói “Hay rằng chưa cân” hoặc “Hay rằng chưa xinh”. Bên nữ khi hát cũng phải gọi bên nam: “Ơ, người đi nhởi ơi!”. Đó là lúc đầu.
            Còn khi đã đằm thắm gắn bó với nhau rồi, tức là khi cuộc hát đã chuyển sang chặng ba thì những lời gọi trên, chuyển thành “Ơ, là bạn người ơi!”, “Ơ là ngãi người ơi!” hoặc “Ơ là bạn tình ơi!”... nó làm cho tình cảm hai bên mặn mà hơn, da diết, sâu sắc hơn.
            Muốn hiểu sâu hơn chúng ta phân tích ví bằng âm nhạc mà trong âm nhạc thì điệu thức và gam là chủ yếu. Ngoài ra còn có nhịp điệu sắc thái trong diễn xướng…
            Như thế chúng ta có thể nói điệu thức trong dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và hát ví nói riêng được không?
            Có thể được chứ!
            Bởi thuật ngữ điệu thức hiểu theo nghĩa chung nó giống như ngôn ngữ của một dân tộc. Còn gam là bảng chữ viết của dân tộc đó. Điệu thức gắn liền với giọng điệu, xung quanh một nốt đặc trưng, nốt đó có thể là âm chủ hoặc âm kết thúc.
            Ví dụ lên dây đàn thập lục:
             Đệm thơ miền Trung gồm chuỗi nốt Đồ rê mi sol la
             Đệm thơ miền Bắc gồm chuỗi nốt Đồ rê fa sol la
             Miền Trung khác với miền Bắc ở nốt mi và nốt fa.
             Âm nhạc hát ví thuộc hệ thống dân ca cổ, giai điệu chủ yếu nằm trong 3 nốt và 4 nốt (ngũ cung khuyết), một số bài trục chính là quãng 4 đúng và 3 thứ. Tầm cữ âm nằm trong phạm vi quãng 6, quãng 7 (Xem thêm phần điệu thức dân ca Nghệ Tĩnh).
            Ví là thể hát đơn, hát trên lời thơ lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể. Nhưng đến khi có hội có phường thì có thể cả tốp cùng hát theo, hoặc 2 – 3 ngườicùng hát để hỗ trợ giọng cho nhau như ví phường vải hát trong lúc kéo xa quay con cúi. Hát ví trong những người lao động, nhiều người khác trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương), trẻ già trai gái đều tham gia hát ví.
            Về văn học của hát ví, các nhà nghiên cứu sưu tầm văn nghệ dân gian như PGS. Ninh Viết Giao, GS. Nguyễn Đổng Chi, nhà thơ Trần Hữu Thung… đã tập hợp nhiều tư liệu, đã in thành sách và lưu hành rộng rãi. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng ví chỉ có một loại, một làn điệu cơ bản nhưng qua nghiên cứu âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh thì ví phong phú về làn điệu, lý do là ở Nghệ Tĩnh mỗi nghề mỗi việc đều có thể ví về nghề đó như ví phường vải, ví phường chè, ví phường cấy,… nhưng khi hát lên chỉ khác nhau về âm sắc.
            Vì thế bản chất âm nhạc chuyển đổi tuyền luật theo cách hát của từng nghề, từng làn điệu của những người khi hành nghề đó, đồng thời do ngôn ngữ của từng vùng cũng ảnh hưởng tới cách hát, cho nên về cấu trúc âm nhạc cũng khác nhau ở nhịp vào bài và nhịp kết thúc (sẽ dẫn giải sau khi đi vào phân tích các điệu ví).
            Những bài hát ví ở nghệ Tĩnh đã sưu tầm có:
– Ví phường vải: Nam Đàn, Đô Lương, Can Lộc, Đức Thọ…;
– Ví đò đưa sông La: Đức Thọ, Hương Sơn,…;
– Ví đò đưa sông Lam: Dọc sông Lam;
– Ví đò đưa sông Phố: Hương Sơn;
– Ví phường chắp gai đan lưới: Cẩm Nhượng, Cửa Hội, Cửa Vạn;
– Víphường đan(đan rổ, rá): Kỳ Anh, Ba Giang, Nam Đàn…;
– Phường nón: Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà…;
– Phường buôn: Đô Lương, Hương Khê, Chợ Nhe, Chợ Thượng…;
– Ví trồng đấu: Kỳ Anh (Trồng chén, bát, gạch…);
– Ví tiểu thuyết: (do Nguyễn Chung Anh đặt tên);
– Phường vàng: Nam Vân, Sa Nam…;
– Bện võng: Phú Hậu, Hoàng La, Diễn Châu, Kỳ Anh…;
– Phường nốc: Tổng Bích Hào – Thanh Chương…;
– Trèo non: Xuân An, Hai Vai, Kỳ Nam, Nho Lâm, Nam Cai (Anh Sơn),…;
– Phường cấy – Phường gặt: Nơi nào cũng có, chủ yếu vùng đồng bằng;
– Ví phường củi: Các vùng có đồi núi chủ yếu vùng trung du;
– Ví róc cau lau mía:Vùng bán sơn địa;
– Ví nhổ mạ: Các vùng đồng bằng;
– Ví huê tình: Nơi nào cũng có;
– Ví đò đưa chuyển phường vải: Can Lộc;
– Ví đò đưa nước ngược: Nghi Xuân;
Hát ví Nghệ Tĩnh cũng giống như hát huê tình, hát xoan, hát ghẹo ở trung du Bắc Bộ, cũng tự tình, trong lời ca cũng có câu đệm.
Ví dụ:
Ở Bắc Bộ hát đệm:
            Ơ này anh hai chị hai đó ơi…
Ở Nghệ Tĩnh hát đệm:
            Ơ bạn tình ơi; Ơ này chị em phường vải ơi…
Lời ca có nhiều câu dí dỏm:
            Ơ bạn tình ơi! Khi đi anh trước em sau
            Giừ về đàng trẹ (rẽ) rọt (ruột) đau quằn quằn.
Hoặc:
                        Quen em chưa ráo mồ hôi
            Chưa trưa buổi chợ đã chia đôi nẻo đường.
Hoặc:
                        Năm ni em mắc chăn tru (Trâu)
            Vài năm chi nựa em về mần du (làm dâu) mẹ thầy.
Sau một thời gian hát ví lan truyền ở các địa phương, hát ví gắn với nghề nghiệp đã trở thành cuộc hát có thủ tục, có quy cách riêng như hát phường vải.
Ví dụ người ta quy định vào cuộc hát ví phải hát câu chào hỏi như sau:
            Ở nhà tôi mới tới đây
            Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà
            Ba cô tui lạ cả ba
            Bốn cô lạ bốn biết là quen ai
            Đến đây lạ cả bạn trai
            …
            Bây giờ biết nói làm sao
            Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa.
Đặc điểm hát ví Nghệ Tĩnh cũng như hát giặm, chủ yếu là theo phương ngữ thổ âm của địa phương và thông qua ca khúc của ngành nghề nơi đó để hát – Tính chất rõ nhất là ngẫu hứng, tự do, phong phú có cảm xúc.
Về âm nhạc, nếu bài nào cũng ghi theo các nghệ nhân hát thì vô cùng phong phú nhưng xét về cấu trúc giai điệu dù khác nhau về lời ca cũng nằm trong điệu thức 4 nốt (mì la đố rế) – (la đố rế mí).
Nhưng nếu chuyển hóa dấu (’) (hỏi) = (´) (sắc) thì không còn đâu Xứ Nghệ.
Ví dụ: Nghệ Tĩnh: Anh nỏi anh vô chơi
            Ngoài Bắc: Anh nói anh vào chơi.
Sau đây tôi xin trích dẫn một số điệu ví để các bạn tham khảo.
1.       Ví đò đưa sông La
Nghệ Tĩnh có nhiều sông nhiều rào, đó cũng là nguồn giao thông đặc biệt trong tỉnh. Trên dòng sông thường có thuyền buồm, thuyền chợ, đò dọc, đò ngang, bè gỗ, bè nứa,… Ngay trong khi thuyền bè xuôi ngược dòng sông, giữa thuyền này với thuyền kia khi xuôi dòng, khi ngược dòng, với mênh mông trời nước, đó là sự cách trở để hai thuyền khó tâm tình với nhau, muốn giao duyên người bạn, thuyền bên tả ngạn hát ví, để bên hữu ngạn biết có người muốn tỏ tình. Câu ví hình thành trong khoảng không gian bao la đó, chữ “Người ơi” vút cao trong sáng nghe man mác biểu lộ rõ nhất ở chỗ bắt đầu khi vào bài với chữ “Người ơi” cấu tạo giai điệu là quãng 2 trưởng.
                        Người ơi thuyền anh xuôi Chế sáu chèo
                        Thuyền em ngược Lạng cheo leo một mình
                                    (Xem bản phổ ví đò đưa sông La)
2.       Ví phường vải
Ở Nghệ Tĩnh việc làm ăn ở hội có phường là truyền thống lâu đời. Nghề thủ công dệt vải, tơ lụa, nuôi tằm nổi tiếng như đất Đồng Môn dệt vải, lụa Hạ Châu Phong, các làng ở Nam Đàn, ở can Lộc (Như Trường Lưu)… đều có phường vải.
Nghề dệt vải – quay tơ, xe cúi phần lớn do chị em gái đảm nhiệm. Về tiết thu tháng 8 khi mùa màng cày cấy đã xong, chị em phường vải thường tụ tập vào một nhà trong xóm, lấy ca hát để động viên nhau cho quên sự mệt nhọc.
                                    Tần tấn rắp ranh
                                    Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường
                                    Nguyệt dạ canh trường
                                    Dăm ba ô ngồi lại
                                    Dăm ba dì ngồi lại.
                                    Trước là nghề canh cửi
                                    Sau đàn hát vui chơi…
            Từ đó những điệu ví phường vải được vang lên bên lũy tre xanh, từ trong mái nhà tranh ấm cúng hay dưới đêm trăng bên thềm nhà, các chị em tay quay xa, tay cầm con cúi rút sợi. Tay quay xa khi quay khi dừng, lên lên xuống xuống, khi đưa ra khi đưa vào, nhịp nhàng mềm mại, tiếng xa sè sè, hòa vào tiếng quay vo vo êm ả, tiếng hát cũng trong hoàn cảnh đó, được cất lên êm dịu thiết tha nồng hậu, biểu hiện ở chỗ bắt đầu ở chữ “Người ơi” nhẹ nhàng thiết tha, cấu tạo âm bằng một quãng ba thứ, sau đó chuyển sang quãng 3 trưởng:
                                    Người ơi! Bốn mùa xuân hạ thu đông
                                    Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng
            Hát phường vải khác với các ví khác là có thủ tục một cuộc hát: đầu tiên chỉ nhóm chị em phường vải nữ ca hát với nhau. Sau đó có sự tham gia của nhóm nam. Có thể nhóm nam này là trai phường nón hoặc trai phường củi… và trở thành hát đám hát hội. Hát phường vải là phôi thai của hát đám, do đó có quy tắc của phường đề ra:
            – Sinh hoạt của phường vải nữ;
            – Hát dạo của trai phường khác;
            – Vào cuộc: Hát chào hát mừng, hát hỏi rồi đến hát đố, hát đối, xong chuyển sang, hát mời, hát xe kết rồi hát tiễn ra về.
            Trong âm nhạc của hát phường vải tuy điệu thức các làn điệu ở các chặng giống nhau, nhưng nó khác nhau ở chỗ bắt đầu vào các chặng, nên ghi ra bản phổ cũng khác nhau.
            Ví dụ:
            Chặng chị em phường vải sinh hoạt.
                                    Ơ này chị em phường vải ơi…
            Trai phường khác mới vào cổng hát:
                                    Người ơi!…
            Khi chưa hỏi mời hai bên đều hát:
                                    Ơi nghĩa người ơi!
            Khi có cảm tình với nhau qua chặng đố đối hát:
                                    Ơ nghĩa người thương ơi!
            Qua đó ta cũng thấy được không phải vào câu ví nào cũng mở đầu bằng “Người ơi” một cách xa lạ, mà theo tình cảm của từng chặng từng cuộc mà hát với những từ thích hợp, âm điệu thích hợp.
            Về văn học của hát phường vải, chúng tôi xin giới thiệu thiệu tập “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao in lần thứ 2 – Nxb Nghệ An 1993 và cuốn “Hát phường vải Trường Lưu” của Vi Phong – Thư Hiền – Nxb Hà Nội 1997.
            3. Ví đò đưa sông Lam
            Tính chất ví đò đưa là cùng loại với hát ví nói chung, nhưng ví đò đưa sông Lam khác sông La ở chỗ bắt đầu vào bài: “Người ơi” cấu tạo giai điệu ở quãng 3 thứ (la – đô hoặc sol – Sib). Đặc điểm của ví này là chỉ hát trên sông lúc đò đang đi xuôi hoặc ngược dòng, còn khi neo đậu không ai hát nữa. Khi thuyền trôi trên sông, người chống đò cầm sào đi lên phía mũi thuyền, bỏ sào chống xuống nước, tay cầm đầu sào, tùy vào phía trước bả vai, rồi lấy sức chống cao sào, đi ngược với con thuyền, lúc nhổ sào người chống sào đi thong thả về vị trí cũ là hết một cội sào, lúc đó họ nghỉ ngơi và cất lên tiếng hát – có lúc người ngồi bên mạn thuyền hát một câu ví tâm tình:
            Người ơi! Ai là biết nước sông Lam răng là trong là đục
            Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh          
            Âm điệu của ví đò đưa sông Lam: man mác, bao la, sâu lắng.
            4. Ví phường cấy
            Người nông dân Nghệ Tĩnh đã chịu đựng biết bao cơ cực của thiên nhiên hà khắc, nào gió Lào hạn hán, lụt bão triền miên. Trong chế độ phong kiến cuộc sống làm thuê một nắng hai sương, người nông dân đi cày cấy trước khi trời chưa sáng trong màn sương mai dày đặc. Để biểu lộ tâm tình với nhau trên đồng ruộng, câu hát ví được hình thành trong hoàn cảnh đó, nó mang tính chất bàng bạc, u uất bâng khuâng, điển hình là câu “Người ơi” bắt đầu vào cuộc ví:
                        Người ơ ơi! Rồi mùa toóc rả rơm khô,    
                        Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
            Cấu tạo giai điệu vào bài là quãng 1 có láy 1 nốt nhỏ lên 2 trưởng. Điệu thức ví phường cấy 4 nốt (la đô rê mi).
            5. Ví trèo non
            Rừng núi Nghệ Tĩnh khá rộng và có những mỏm núi cao vun vút, nằm trên dải Trường Sơn trùng điệp, có vùng đồi núi gần thượng du và trung du, đồng bằng ven biển đều có núi đồi. Người dân xứ Nghệ thường hay đi kiếm củi ở rú gần làng như rú Hống (núi Hống), rú Thành, rú Đại Huệ,… có vùng núi đá, có vùng núi đất, cây cối có nơi lè tè hoang dại, có nơi sầm uất xanh tươi. Mỗi lần đi kiếm củi, họ phải trèo lên cao mới có củi tốt. Những bàn chân đất, đòn gánh đè rạn hai vai, vất vả gian nan là thế nhưng câu hát ví vẫn cùng người xứ Nghệ lên non. Họ gọi đó là “hát ví trèo non”, âm điệu câu hát mang màu sắc không gian đồi núi. Thường thường người dân đi hái củi này hay dùng tiếng “hú” làm tín hiệu để liên lạc với nhau, cho nên hát ví lúc này không thể hát ngay chữ “người ơi”, mà vào đầu là chữ “Ơ” rồi mới hát “là người ơi”, có như thế người bạn bên núi kia mới biết người ở bên này đang hát với mình. Một đặc điểm khác là cuối câu ví không kéo dài, vì do gánh nặng hoặc leo trèo mệt nhọc nên dừng lại một chữ có âm ngắt “đó”:
                        Ơ… là người ơi!
                        Chứ trèo truông mới biết truông cao       
                        Chứ đã đi đò dọc lại ước ao sông dài đó.
            Cấu tạo giai điệu là: sol la đố rế
            Dưới đây là hệ thống một số làn điệu dân ca xứ Nghệ và kĩ thuật hát ví:
DÂN CA XỨ NGHỆ IN TỪ BĂNG CASSETTE
 SANG ĐĨA CD CỦA NGHỆ NHÂN ĐÃ MẤT
            1. Hò dô
            2. Hò khoan đi đường
            3. Hò xeo gỗ     
            4. Ví phường vải                        2L
            5. Ví đò đưa xuôi dòng   2L
            6. Ví đò đưa nước ngược
            7. Ví trèo non    
            8. Ví cấy          
            9. Ví chuyển điệu
            10. Ví buôn bộ
            11. Hát vè Hà Tĩnh
            12. Giặm xắp
            13. Giặm kể
            14. Giặm nối
            15. Ru con (Bài 1 – bài 2)
            16. Sắc bùa (Đức Thọ)
            17. Hát đúm
            18. Chèo kiều – các làn điệu
                                    Làn trăng
                                    Ai thả lạc
                                    Hầu cô
                                    Buông áo em ra
                                    Tam tầng (Kiều vẫn đi chơi về)
                                    Hát dạo (Vương ông đi chơi)
                                    Hát say
                                    Chèo đò
                                    Phải lương
                                    Hát xà
                                    Vọng phu (Kim Lương…)
                                    Lên chùa (quét sạch lá rừng)
                                    Quạt màn
                                    Ngâm Kiều…
                                    (Tư liệu của NS Lê Hàm sưu tầm từ năm 1956)
 
TÌM HIỂU KĨ THUẬT HÁT VÍ
                                                                                   
            Dân ca Nghệ Tĩnh, hát ví cũng như hát giặm, hát ru xuất phát từ hoàn cảnh lao động và thời gian nơi xảy ra ca hát.
            Các nghệ nhân vừa nhai trầu vừa hát ví, hát giặm, hát vào đêm trăng thanh gió mát như hát phường vải; hát vào buổi mờ sương như hát ví phường cấy; hát trong không gian trời cao sông rộng như ví đò đưa, ví đua thuyền; vừa hát vừa trèo núi hoặc xuống núi, hát khi đôi vai gánh nặng như ví trèo non; tưng bừng phấn khởi nơi biển khơi sau khi được mẻ cá;… do đó chúng ta phân loại giọng hát gồm: giọng trai, giọng gái, giọng già, giọng trẻ. Căn cứ vào lứa tuổi của các giọng ca, ta đối chiếu với ca hát dân gian nói chung để xếp loại giọng hát mà các nghệ nhân đã trình diễn như giọng: Kim – Mộc – Thổ đồng – Thổ thường.
            – Hơi hát (cách lấy hơi): ở tai – ngực – bụng – rốn, đan điền.
            – Kĩ thuật: Công minh trong phát âm tự do theo phương ngữ làn điệu.
            – Khẩu hình ngôn ngữ: Mỏng, sáng, nhẹ nhàng của phương ngữ phương Đông.
            – Đào tạo chủ yếu: Truyền khẩu – học theo nghệ nhân.
            Hát ví là loại ca hát: Không nhịp điệu, hát tự do, theo bản năng trong sinh hoạt; không như hát vè, giặm (hát theo nhịp phách 2/4 hoặc 7/8).
            Trong ca hát dân gian, không nằm ngoài ngôn ngữ người Việt, khi nói có 6 âm.
            Huyền ( ̀), sắc (´), nặng (.), hỏi ( ̉), ngã (~) và không. Nếu so sánh giọng nói ba miền ta thấy:
            Người phía Bắc nói sai phụ âm đầu: Nói =lói; nón = lón.
            Người miền Trung nói sai dấu: Nói = nỏi, cánh chim = cảnh chim
            Người miền nam nói sai âm cuối: đèn = đeèng, mình = miềng
            Có người hỏi tôi thổ âm, phương ngữ người xứ Nghệ có khác nhau không?
            Từ Bắc Nghệ đến Nam Nghệ Tĩnh giọng nói có vài vùng khác nhau:
            ví dụ:    
            – Người Quỳnh Lưu – Diễn Châu nói: Thực hiện tiếp giải phóng mặt bằng (nói đúng dấu ).
            – Người Nghi Lộc nói: Bổn quy đình nha nước (bốn quy định nhà nước). Hoặc: Me mi mô (mẹ mày đâu?) hầu hết là không dấu.
            – Người Thạch Hà, Kỳ Anh nói: Đất Đồng môn dệt vải – Đất cổ đạm vắt nồi (Dấu sắc thành dấu hỏi).
            Ngoài ra từ Cha có nơi gọi là BốBọ hoặc là Thầy…Như thế người xứ Nghệ hầu hết nói dấu sắc thành dấu hỏi, dấu nặng.
            Trong 6 dấu của tiếng Việt, xứ Nghệ có những nguyên âm ghép, những phụ âm dại khép kín phía sau các âm đóng, âm chết trong dân ca tỉ lệ dấu cao.
            Còn cách hát ví hầu hết là giọng nữ trung, nam trầm và nam cao ít thấy – nam nữ hát cách nhau một quãng 8, thường cách nhau một quãng 4 và quãng 5.
            Trong ca hát dân gian, phong cách không chỉ là bài bản, luyến láy, nhả chữ: phong cách có trong hơi thở (cái hồn của tiếng hát) khéo léo xử lí các khoang, xoang của cơ quan phát âm, vóc hình của tiếng hát, ví dụ:
                                    Hát chèo dùng hơi mũi
                                    Hát tuồng dùng hơi xoang ngực.
            Xử lí trong hát ví cũng phải hiểu nội dung câu ví (Về văn học cũng như âm thanh làn điệu) trong giọng hát phải đảm bảo cái thực của:
                                    Tinh – Khí – Thần, Hỷ – Nộ – Ai – Lạc
            Khi phát âm câu ví, từ ngữ khí, ngữ điệu phải có tình có lí. Những âm phát ra câu như: Trại lục, mắc, chặt… phải tròn vành rõ chữ.
            Hát ví phải hát cho hay, cho đẹp có cái duyên trong khẩu hình như nhả ngọc phun châu là yếu tố trước tiên của ca hát dân gian.
            Dù khác nhau về ngôn ngữ – thổ âm của từng vùng miền, nhưng khi vào hát ví – giặm ai cũng hát làn điệu – âm thanh giống nhau, đó là điều đáng quý.
            Trong thế kỷ XX – XXI: kĩ thuật ca hát dân gian như hát ví – giặm, đã chuyển hóa phong phú rất nhiều kể cả ca từ và âm điệu.
            Bởi lẽ chúng ta đã có các trường chuyên nghiệp, có khoa thanh nhạc mà khoa thanh nhạc hiện đại lại phân giọng hát ra:
                                    Nam cao – Nam trung – Nam trầm
                                    Nữ cao, Nữ trung, Nữ trầm
            – Hơi hát chủ yếu là ngực và hoành cách mô;
            – Cộng minh theo phát âm ngôn ngữ Tây phương;
            – Khẩu hình, tròn, dày, đáp ứng với công minh quen dùng;
            Ví dụ: Tổ quốc ta bao la
            hát là: tổ qu…ô…c ta ba…a…o…la…
            Chính vì những yếu tố trên mà ca hát dân gian dần được pha trộn kĩ thuật hiện đại.
            Cho đến nay trên các sóng phát thanh truyền hình, hát dân ca đã phong phú hơn nhiều. Nhưng cũng phải lưu ý rằng: Đừng để cánh diều dân ca đứt dây!                                                                                                                                            
L.H.

 
 

HỒNG NGỌC : Dân ca ví, giặm – “đặc sản văn hóa” của dân tộc


Dân ca ví, giặm – “đặc sản văn hóa” của dân tộc 
10:36 | 23/04/2013
 

(ĐCSVN) – Ví, giặm Nghệ  Tĩnh được biết đến là loại hình dân ca “đặc sản” của hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh. Ví, giặm là sự chọn lọc tinh tế, sự kết tinh những giá trị văn hóa trong đời sống để tạo nên những làn điệu ngân nga lôi cuốn lòng người. 

 

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng ví, giặm là hai thể hát dân ca không có nhạc đệm do người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh sáng tạo trong quá trình sinh hoạt và lao động, mang đậm bản sắc địa phương về điệu hát, ca từ, giọng điệu, âm điệu. Dân ca ví, giặm Nghệ  Tĩnh được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Việt các làng, thôn, xóm, khu dân cư của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đa số người Nghệ  Tĩnh biết hát ví, giặm vì loại hình dân ca này chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa, cuộc sống của họ.

Ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo… Ví thuộc thể ngâm vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc ( lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…). Khác với ví, giặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ/vè 5 chữ). Giặm cũng có nhiều làn điệu như: giặm kể, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm vè, giặm nối, giặm xẩm… Nếu ví là thể hát tự do thì giặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại. Thông thường một bài giặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu ( câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ. Tuy vậy, cũng có những bài giặm/vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6, 7 chữ.

Ví, giặm là hai kiểu hát khác nhau nhưng đều có không gian diễn xướng gắn liền với lao động sản xuất, trong các làng nghề truyền thống, hoặc những lúc lao động như: cày cấy, gặt hái, đắp đập đào mương, chăn trâu, cắt cỏ, tung chài kéo lưới, hái củi, đốt than, quay tơ dệt vải, đan lát… Cũng có khi hát ví, giặm được thể hiện vào những dịp hội hè, Tết nhất, đình đám, hoặc những đêm trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn, thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa.

 

 

 Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012 (Ảnh: cadn.com.vn)

Bởi là lối hát ra đời từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người nông dân nên những lời hát ví giặm cũng rất gần gũi, mộc mạc. Đa số những câu hát ví, giặm có nội dung như: giao duyên giữa  lứa đôi trai gái, hay kể về những nỗi niềm sâu kín, những uẩn khúc cuộc đời, những số kiếp long đong, thuật lại những sự việc xảy ra trong làng ngoài xã, kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay phê phán những thói hư tật xấu… Thông qua những câu hát ví, giặm để giãi bày khuyên nhủ người đời về những điều hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục, về đạo lý, tôn sư trọng đạo, tứ đức tam tòng, lệ làng phép nước, về anh hùng nghĩa khí, ái quốc trung quân…

 

Một nét đặc biệt của ví, giặm hoàn toàn khác với những thể loại âm nhạc dân gian như: chèo, tuồng, quan họ… đó là khi biểu diễn các làn điệu ví, giặm người diễn viên không những phải hát hay những làn điệu, mà còn phải tự sáng tác lời. Chính bởi, lời hát được sáng tác nhanh để đối đáp, đòi hỏi diễn viên phải có năng khiếu văn chương, phải có tài ứng khẩu, cũng như uyên thâm về chữ nghĩa, sử học, triết học và tận tường về cuộc sống. Lời của ví, giặm được soạn ra từ trái tim người hát, cùng những làn điệu da diết chính là nét cuốn hút của ví, giặm.

Theo suốt chiều dài lịch sử, người dân Nghệ An, Hà Tĩnh luôn sử dụng, phổ biến, lưu truyền và phát huy rộng rãi các giá trị đặc sắc của ví, giặm. Ngày nay, hát ví, giặm phổ biến trong cuộc sống, phong trào văn hóa xã hội, lễ hội, các cuộc gặp gỡ vui chơi, liên hoan văn nghệ và còn được chuyển hóa thành các ca khúc, ca kịch trình diễn trên sân khấu.

Đối với chị Vũ Thị Thanh Minh, một thành viên CLB ví, giặm xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, ví, giặm đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu. Chị cho biết: Hát ví, giặm có từ thời ông cha nên đã ăn sâu vào máu thịt của nhân dân hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh. Kể từ khi chính thức xếp vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, dân ca ví, giặm xứ Nghệ ngày càng được phổ biến, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ như được sống lại tuổi thanh xuân của mình. Những CLB, những đội hát ví, giặm ở mỗi xã, huyện vào các dịp lễ hay những đêm trăng sáng vẫn thường tập trung lại để cùng tập luyện những câu hát cổ và sáng tác thêm nhiều câu hát mới. Chị Minh cũng chia sẻ thêm: Các CLB hát ví, giặm không chỉ thu hút những người lớn tuổi mà còn thu hút cả thanh niên và học sinh, nhất là vào những dịp hè.

Dân ca ví, giặm không chỉ được lưu truyền, phổ biến bằng việc thành lập các CLB, những đội hát mà đang được các trường học đưa vào chương trình ngoại khóa nhằm phổ biến cho các em học sinh. Cô Phan Thị Thu Huyền, Bí thư đoàn trường THPT Nguyễn Trường Tộ, TP.Vinh cho biết: Nhà trường rất chú trọng đến việc cho các em học sinh tham gia hoạt động hát dân ca thông qua việc thành lập các CLB. Tại đây, các em học sinh được tập các ca khúc dân ca dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh đó, hàng năm nhà trường cũng tổ chức cho các học sinh những cuộc thi hát dân ca, sinh hoạt các tổ chuyên đề, nghiên cứu các ca khúc dân ca… Tuy nhiên, để giúp học sinh có thái độ tham gia nhiệt tình với những loại hình nghệ thuật dân gian này là công việc không hề đơn giản, đòi hỏi người giáo viên phải có sự dày công, cũng như có hình thức truyền đạt phù hợp. Theo cô Huyền, việc truyền dạy cho các em học sinh thêm hiểu và yêu các loại hình nghệ thuật truyền thống nói chung và dân ca ví, giặm nói riêng nếu có sự cố gắng và đầu tư thích đáng sẽ đưa đến kết quả khả quan.

Với những nét đặc biệt của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, tháng 3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản đồng ý cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thay mặt Chính phủ ký hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Chúng ta hy vọng trong thời gian tới, dân ca ví, giặm – loại hình dân ca chứa đựng tâm hồn, trí tuệ uyên bác, tinh hoa được chắt chiu từ giai điệu của âm nhạc, sự mềm mại của văn chương, vẻ đẹp của lao động sản xuất sẽ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại./.

Các từ khóa theo tin:
Hồng Ngọc

http://cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=581697

Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa : DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ


Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ

Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ, còn có tên gọi khác là Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt. Theo kết quả kiểm kê năm 2012, hiện nay có 75 nhóm Dân ca Ví, Giặm, với khoảng 1.500 thành viên, điển hình là Nhóm Dân ca Ví, Giặm Hồng Sơn, Nhóm Dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn ở tỉnh Nghệ An, Nhóm Dân ca Ví, Giặm O Nhẫn, Thạch Khê ở tỉnh Hà Tĩnh; việc thực hành, truyền dạy Dân ca Ví, Giặm được đẩy mạnh ở 15 huyện ở tỉnh Nghệ An và 12 huyện ở tỉnh Hà Tĩnh.
 

Loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian này đã không ngừng phát triển cả về bề rộng, bề sâu, trở thành bản sắc riêng có của nhân dân xứ Nghệ. Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ được thực hành trong cuộc sống, lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa. Các lối hát, vì vậy, được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví phường nón, Ví phường củi, Ví trèo non, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên,…Hai lối hát dân ca này thường được hát xen kẽ cùng nhau nên có tên ghép là Dân ca Ví, Giặm.  

Ví và Giặm xứ Nghệ có điểm chung là lối hát vừa mang tính ngẫu hứng, vừa có thủ tục và quy cách cụ thể; có chung đặc tính địa phương về thang điệu, điệu thức, tiết tấu, giai điệu và giọng hát, được diễn xướng theo ba hình thức: hát lẻ, hát đối và hát cuộc. Các cuộc hát nổi bật với lối hát giao duyên, thường có ba chặng: hát dạo, hát đối và hát xe kết. Mỗi bên hát phải có ít nhất hai, ba người, một người hát chính, người còn lại hát theo để đỡ giọng.

Ca từ của Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là những vần thơ cô đọng, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hát; nội dung đa dạng, miêu tả cuộc sống, phản ánh tập quán xã hội, lịch sử, tình yêu quê hương, đất nước, con người, mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện sự kính trọng cha mẹ, chung thủy, nghĩa tình, góp phần gìn giữ các tập tục, truyền thống tốt đẹp trong ứng xử xã hội ở làng xã. Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ còn là nguồn cảm hứng, là chất liệu cho các tác phẩm âm nhạc, ca khúc, ca kịch đương đại biểu diễn ở sân khấu, trong các phong trào truyền thông, hoạt động văn hóa xã hội, được công chúng rất yêu thích, làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng càng thêm phong phú.

Giữa hát Ví và hát Giặm có những điểm khác biệt. Hát Ví có âm điệu tự do, phụ thuộc vào lời ca ở thể thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể, và phụ thuộc vào bối cảnh, tâm tính của người hát, âm vực không quá một quãng 8. Trong các cuộc hát, Ví phường vải là có quy cách và thủ tục hát chặt chẽ hơn cả, thường theo ba chặng: chặng một có hát dạo, hát chào/hát mừng và hát hỏi; chặng hai là hát đố hoặc hát đối – yêu cầu đối tượng phải giải và đối; chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Hát Giặm là thể hát nói có nhịp điệu, tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh, phách nhẹ, thường là nhịp 3/4 và 6/8. Một bài Giặm thường dựa theo thể thơ ngụ ngôn hay vè (thơ 5 chữ) có nhiều khổ. Loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 nên được gọi là Giặm. Có nhiều loại Giặm như: Giặm kể, Giặm nói, Giặm vè, Giặm nam nữ, Giặm cửa quyền, Giặm ru, Giặm xẩm,…Hát Giặm nam nữ có phường, có cuộc, có thể 2 – 3 người, 5 – 7 người hoặc có khi nhiều hơn. Quy trình hát Giặm về cơ bản cũng có ba chặng như hát Ví, song các bước thì không chặt chẽ, đầy đủ bằng.

Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là sự kết tinh khả năng sáng tạo lời ca và giai điệu của các cộng đồng người Nghệ Tĩnh, đặc biệt là sự đóng góp của các nho sĩ, các nhà khoa bảng, các danh sĩ, sĩ phu yêu nước. Với nội dung, ngôn từ, bài hát do họ sáng tác, thấy được chặng đường lịch sử dân tộc đã đi qua. Sự hấp dẫn của Dân ca Ví, Giặm nằm ở sự tôn trọng việc tự do thể hiện tư tưởng, tình cảm bằng lời ca tiếng hát, bằng ngôn ngữ địa phương. Mỗi người có thể hát Ví với âm điệu tự do, hoặc hát Giặm có phách mạnh, phách nhẹ, hoặc hát cả hai. Bằng lối hát này, họ cũng dễ dàng ứng tác, đặt lời mới, góp phần làm cho kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh thêm đa dạng, phong phú.

Ngày nay, hát Ví, Giặm đã có những thay đổi để thích ứng với hình thái kinh tế – xã hội mới. Những người thực hành không chỉ là những nghệ nhân, con cháu nghệ nhân, những người nông dân trong thôn, trong xóm làng, mà có cả cán bộ, công chức, bộ đội, công an đang còn làm việc hoặc đã nghỉ hưu. Việc thực hành hát Dân ca Ví, Giặm không chỉ ở từng cá nhân, từng nhóm người, mà chủ yếu là ở các Câu lạc bộ được thành lập tại các cơ sở, đội văn nghệ, cơ quan, đơn vị và trường học… Người ta thường hát theo bài có sẵn, với sự hỗ trợ của nhạc cụ truyền thống và hiện đại. Việc truyền dạy được tiến hành dưới nhiều hình thức: truyền miệng trực tiếp hoặc ghi  hình, ghi âm rồi hát theo.

Được sự quan tâm của Nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng, nhiều câu lạc bộ mới được hình thành, nhiều cuộc thi hát dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ các cấp: địa phương, cấp tỉnh và cấp vùng đã được tổ chức. Ví, Giặm cũng được thực hành phổ biến trong các cuộc vui, liên hoan văn nghệ, giao lưu giữa các nhóm cộng đồng và trình diễn nghệ thuật trên sân khấu. Ví, Giặm ngày càng gắn liền với lối sống và tập quán của cộng đồng người Nghệ Tĩnh, có sức sống mạnh mẽ trong đời sống đương đại, tiếp tục được trao truyền, bảo tồn và phát huy giá trị bằng nhiều biện pháp như: nghiên cứu, kiểm kê, tư liệu hoá, xây dựng cơ sở dữ liệu Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ; tổ chức truyền dạy trong cộng đồng và trong trường học; quảng bá và phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức giao lưu, liên hoan giữa các cộng đồng ở trong nước, quốc tế và phát huy các giá trị của Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ gắn với phát triển du lịch…

Để ghi nhận các giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, khoa học của Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời được Thủ tướng Chính phủ cho phép lập hồ sơ trình UNESCO xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho kỳ xét năm 2014.

 
(Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới


  Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới

 

 

 30.03.2013 / 15:40 #1
 
(Dân trí) – Thông tin từ Phòng Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, Dân ca Ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Mới đây, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới năm 2014. Tất cả hồ sơ về Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh đang được nhanh chóng hoàn thiện để chính thức trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) muộn nhất vào ngày 31/3 tới.

Ví và Giặm là hai thể hát dân ca không có nhạc đệm, được cộng đồng người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt và lao động. Dân ca ví, giặm mang đậm bản sắc địa phương về điệu hát, ca từ, giọng điệu cũng như âm điệu. Theo các chuyên gia ước tính thì hiện nay có khoảng 15 điệu ví và 8 điệu giặm được gọi tên theo bối cảnh cuộc sống, lao động, nghề nghiệp như Ví phường vải, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể…
click
Dân ca ví, giặm chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Ví, giặm thông thường có ca từ bằng thơ dân gian cô đọng, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hát nên luôn được trao truyền, kế thừa và sáng tạo. Ngoài ra loại hình dân ca này cũng có nội dung phản ánh xã hội, lịch sử; thể hiện những tâm tư, tình cảm, tình yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa. Bên cạnh đó, Dân ca ví, giặm còn giáo huấn, triết lý trọng nghĩa, trọng tình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam.

Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh hiện nay được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở 259 làng, thôn, xóm, khu dân cư của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung Việt Nam). Đa số người Nghệ Tĩnh đều biết hát ví, giặm vì loại hình dân ca này chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa, cuộc sống của họ.

Hiện nay, đã có 51 câu lạc bộ dân ca ví, giặm; có hơn 803 nghệ nhân và nhiều cá nhân ở hai tỉnh; các nghệ sỹ, nhạc sỹ chuyên nghiệp ở Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ ở Nghệ An và Nhà hát nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh quan tâm tới việc diễn xướng, truyền dạy, bảo tồn và phát huy Dân ca ví, giặm. Được biết, tại tỉnh Nghệ An, không gian của Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh tập trung ở 167 làng, thôn, xóm, khu dân cư thuộc 59 xã, phường trong 14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh.

 

PHƯƠNG THÚY – THANH HIỀN : Khi người trẻ hát Ví, Giặm, VIETNAM


  • Cập nhật lúc: 14:40, 30/06/2012

 

Khi người trẻ hát Ví, Giặm

Nếu không có sự tiếp nối của thế hệ trẻ thì có lẽ, những câu Hò, điệu Ví của vùng quê xứ Nghệ không thể lưu truyền và vang xa.

Theo thống kê của Ban tổ chức Liên hoan Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ 2012, thành viên trẻ tuổi tham gia hát và biểu diễn các làn điệu Ví, Giặm chiếm 50%. Trong đó, nhỏ nhất là 5 tuổi. Số đông còn lại là các bạn trẻ nam, nữ vừa mười tám đôi mươi. Con số ấy cũng đủ để minh chứng sức hấp dẫn của dân ca nói chung và Ví, Giặm nói riêng đối với lớp trẻ.

Đó là tiếng hát của em Đinh Lê Thúy An, học sinh lớp 3 trường tiểu học thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mới đây, tại Liên hoan Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ 2012, Thúy An là một trong những gương mặt nhỏ tuổi được chú ý khi tiết mục hát Ví này của em mang giải Nhì về cho Câu lạc bộ dân ca trường tiểu học thị trấn Nam Đàn. Thúy An kể: em biết hát Ví, Giặm từ khi học lớp 1. Thời gian sinh hoạt hay khi ra chơi, cũng chính là lúc cô giáo tổ chức dạy hát dân ca cho học sinh của mình: Lần đầu tiên em hát Ví, Giặm, em thấy rất là khó, nhưng dần dần em lại thấy dễ. Em dành thời gian lúc ra chơi để tập hát. Lúc ra chơi, cô cũng thường cho tập múa và tập hát luôn. Ngày nghỉ, buổi tối em không có thời gian để hát vì phải học bài. Em thích hát dân ca vì bài hát nhẹ, hay và mềm mại. Em nhớ nhiều làn điệu Ví, Giặm  lắm chứ, không kể hết được.

 

Liên hoan dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ 2012

Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ từ lâu đã được nhân dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh gìn giữ như một Di sản quý báu của ông cha để lại. Khúc hát dân ca Ví, Giặm được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Làn điệu của Ví, Giặm luôn gần gũi và gắn liền với đời sống lao động, tâm tư tình cảm của những người con xứ Nghệ. Những điệu hò, lời ru của bà, của mẹ đã ăn sâu vào tiềm thức trẻ thơ, từ đó nuôi dưỡng tâm hồn con người. Em Nguyễn Thị Phượng, thành viên trong câu lạc bộ Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh chia sẻ: chính mẹ đã truyền dạy những làn điệu Ví, Giặm cho em từ khi còn rất nhỏ: Em đến với Ví, Giặm từ khi còn nhỏ, trong những lời ru, những điệu hò của mẹ ru em ngủ và từ đó nó nhập vào trong tâm trí của em. Khi ở tuổi thiếu niên, em cũng tham gia vào đội văn nghệ của xã, xóm. Ở trường em làm quản ca từ năm lớp 6 đến lớp 12. Bây giờ em đang học sư phạm và em sẽ theo nghiệp giáo viên nhưng niềm đam mê dân ca Ví, Giặm thì chắc chắn là em sẽ theo đến cùng.

Huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh nổi Kì tiếng với làn điệu Ví Kẻ Dua. Có mặt trong câu lạc bộ hát Ví xã Kì Thư, huyện Anh là gia đình anh Phan Đăng Thuận. Hai vợ chồng đều yêu hát dân ca, cô con gái lên 6 cũng được cha mình nhờ các nghệ nhân trong câu lạc bộ sáng tác lời mới theo từng điệu Ví để biểu diễn phục vụ bà con. Câu lạc bộ hát Ví xã Kì Thư của anh cũng là đội giành giải A tại Liên hoan Dân ca Ví Giặm 2012. Anh Thuận cho rằng: Ví Giặm, đặc biệt là những làn điệu cổ thực sự là nền tảng vô giá. Bây giờ nếu thế hệ trẻ tiếp cận được những lời cổ thì mới hiểu được giá trị của dân ca xứ Nghệ xưa. Ngôn từ của các làn điệu Ví, Giặm rất hay và thấm thía, phải có lý trí rất tốt mới có thể hát đối đáp trực tiếp, ngẫu nhiên trong lao động: Tôi tham gia câu lạc bộ đồng thời cũng tham gia các chương trình văn nghệ, vợ tôi cũng thế. Em bé nhà tôi khi mới 4 tuổi được bác Cẩm- Nghệ nhân trong câu lạc bộ viết làn điệu dân ca trong chương trình thi về Dinh dưỡng. Hai bố con đã tham gia chương trình hát dân ca. Khi 4 tuổi cháu đã hát được dân ca. Bây giờ thì cháu hát rất tốt.

Phong trào hát dân ca của các bạn trẻ cũng được chính quyền hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh quan tâm, trong đó chương trình: “Đưa dân ca vào trường học” được phát động từ năm 1998. Từ đó một loại hình kịch hát dân ca được thử nghiệm, đi kèm là giáo trình phù hợp với từng làn điệu, nội dung cho từng lứa tuổi từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông. Chị Phan Thị Thu Huyền, Bí thư Đoàn trường trung học phổ thông Nguyễn Trường Tộ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cho biết: Các câu lạc bộ hát dân ca Ví, Giặm của trường được thành lập để các em tập luyện và xây dựng các tiết mục phục vụ cho các ngày lễ của nhà trường hay những buổi sinh hoạt đầu tuần… Bên cạnh đó, các giáo viên cũng được phân công phụ trách, tham gia và hướng dẫn cho các em:

Việc cho học sinh tham gia vào câu lạc bộ hát ca khúc dân gian trong nhà trường được chúng tôi rất chú trọng. Ở đây các em sẽ tập các ca khúc dân ca và có sự hướng dẫn của các giáo viên bộ môn văn. Ngoài ra, hàng năm nhà trường thường tổ chức thi hát dân ca cho học sinh, tổ chức các buổi văn nghệ để cho các lớp, các chi đoàn tham gia.. Tổ chức cho các em các chuyên đề nghiên cứu về các ca khúc dân ca Ví, Giặm, văn học dân gian…

Có thể nói, ở Nghệ An và Hà Tĩnh, Ví, Giặm nói riêng và dân ca nói chung sống được là nhờ phong trào văn nghệ quần chúng. Trong đó có những đóng góp không nhỏ của các bạn trẻ. Nỗ lực phục hồi Di sản các làn điệu Ví, Giặm nếu không có sự tiếp nối của thế hệ trẻ thì có lẽ, những câu Hò, điệu Ví của vùng quê xứ Nghệ không thể lưu truyền và vang xa./.

Phương Thúy – Thanh Hiền/ Trung tâm tin

http://vov.vn/Van-hoa/Khi-nguoi-tre-hat-Vi-Giam/215313.vov