TRẦN QUANG HẢI – NGƯỜI THỂ HIỆN TIẾT TẤU VÀ ÂM THANH ĐA DẠNG TỪ NHỮNG CHIẾC MUỖNG


TRẦN QUANG HẢI – NGƯỜI THỂ HIỆN TIẾT TẤU VÀ ÂM THANH ĐA DẠNG TỪ NHỮNG CHIẾC MUỖNG

Thứ năm, 16/12/2010

PV

TS Trần Quang Hải

Năm 1968, tại Paris, ông hoàn thành bằng Cao học dân tộc nhạc học của trường Cao đẳng Khoa học Nhân văn; năm 1969, ông tốt nghiệp Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương về lịch sử và thực tập nhạc Việt Nam. 
Năm 1973, ông lấy bằng Tiến sĩ dân tộc nhạc học và năm 1989 tốt nghiệp giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ Văn hóa Pháp tổ chức tại Paris. Là một giáo sư nhạc học lại là một chuyên gia âm nhạc Châu Á, Tiến sĩ Trần Quang Hải đã được mời thỉnh giảng tại 70 quốc gia trên thế giới. Ông kể, cách nay 60 năm ngay từ năm 5 tuổi, ông đã học cách gõ muỗng! Cũng từ những ngày đó, ông đã nhận ra từ những chiếc muỗng đã tạo nên những âm thanh truyền cảm đến không ngờ! Và không chỉ tạo ra âm thanh mà sau này bằng sự điêu luyện cộng với kiến thức sâu sắc về nhạc học, ông đã cống hiến những phong cách, kỹ thuật gõ muỗng bài bản mà đa dạng. Vì vậy, ông được tôn vinh là “Vua Muỗng – The King of Spoons”.
Nhìn phong cách xử lý tài tình và điêu luyện của ông với những chiếc muỗng, người xem đi từ bất ngờ này sang bất ngờ khác. Nếu bình thường chỉ gõ muỗng cho kêu nhưng trong tay ông muỗng đã trở thành một ban nhạc đa tiết tấu, được tạo thành bằng cách phối hợp 2 hoặc 3 chiếc muỗng cùng với sự thay đổi vị trí khác nhau.

Nhằm giúp mọi người nắm bắt một cách nhanh chóng nghệ thuật gõ muỗng, Tiến sĩ Trần Quang Hải đã tận tình hướng dẫn. Bắt đầu từ kỹ thuật căn bản, bẻ hai muỗng hơi cong, cho chúng đối vào nhau, lấy ngón tay trỏ để vào chính giữa hai cán và nâng lên cho hai chiếc muỗng không đụng đậy tạo một khoảng cách khoảng 2,5mm để tạo nên cao độ. 
Từ kỹ thuật ban đầu này, những chiếc muỗng được khai triển thành nhiều cách gõ khác nhau như với 2 hoặc 3, hoặc 4, hoặc 5 ngón tay, rồi kéo lên hết cánh tay hay đánh lên đùi, đánh lên miệng, đánh thành bài bản… Và, Tiến sĩ Trần Quang Hải đã cống hiến một nghệ thuật gõ muỗng khiến người xem phải thán phục vì thể hiện các điệu nhạc một cách đa dạng từ jazz, pop, đến techno, hiphop, flamenco… 
Do đó, từ cách thể hiện cũng như bằng kỹ thuật do ông tìm ra mà muỗng trở thành một loại nhạc cụ bộ gõ và được vận dụng một cách sáng tạo. Vì nó đưa mọi người từ cái biết đến cái không biết, từ cụ thể sang trừu tượng. 
Nhìn cách ông vận dụng và xử lý, người xem có thể dễ dàng hình dung làm sao từ những chiếc muỗng bình thường vốn được làm ra phục vụ nhu cầu ẩm thực nhưng qua bàn tay tài nghệ và cách xử lý nhạc học độc đáo, vững vàng của ông đã đem lại sự hấp dẫn lạ thường. Nên ông đã nói vui, là với những chiếc muỗng trong tay đi đến đâu cũng không sợ đói! 
Ông không chỉ thể hiện mà ông còn tìm kiếm, sưu tầm những chiếc muỗng ở những quốc gia mà ông đặt chân đến. Vì vậy, cho đến nay ông có trong tay 300 chiếc muỗng, một bộ sưu tập muỗng phong phú tập hợp từ nhiều quốc gia, từ nhiều dân tộc của cả 5 châu lục. 
Xin giới thiệu đây là đề xuất kỷ lục Việt Nam đang trong quá trình xem xét, thẩm định.

Nguồn: kyluc.vn

Cuộc đối thoại ngẫu hứng giữa 2 ông vua gõ muỗng: Roger Mason và Trần Quang Hai:

http://vnmusic.com.vn/p309-tran-quang-hai-nguoi-the-hien-tiet-tau-va-am-thanh-da-dang-tu-nhung-chiec-muong.html

 

Dân ca-tục ngữ Nghệ Tĩnh


Title: Dân ca-tục ngữ Nghệ Tĩnh
nvban – September 28, 2005 01:09 AM (GMT)
Theo cuốn “Tục ngữ – ca dao – dân ca việt nam” của Giáo sư Vũ Ngọc Phan,(Nhà Xuất bản Văn học) trong đó có một phần viết về”TỤC NGỮ – CA DAO – DÂN CA NGHỆ TĨNH”A. Khái niệm về Tục ngữ – Ca dao – Dân ca:1. Tục ngữ và Thành ngữ: 

– Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán.- Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹnVề hình thức ngữ pháp , mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em. Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm. VD: “Áo rách, quần manh”, “Ăn trắng, mặc trơn”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Cá bể, chim ngàn” “Bụng đói, cật rét”….đều là thành ngữ. Còn “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”…đều là tục ngữ.Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đầu do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa) (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa).Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất… Nó là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều ngwời thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội, hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Trong tục ngữ có cả thành ngữ : “Chồng yêu, xỏ chân lox mũi”, thì “xỏ chân lỗ mũi” là thành ngữ.

2. Ca dao và dân ca: 

– Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta 
tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta 
thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và 
dân ca không rõ.
Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài 
ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.
Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác 
và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.
Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, 
nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.
Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn
cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương, 
còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,
thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

VD: 

“Đồng đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Hay:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.
Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..
Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện 
cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.
Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, 
được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả 
những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) : 
tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh, 
tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất.

B. Thời kỳ xuất hiện:
So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.
Xét nội dung những câu “Năm cha, ba mẹ”, hay “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”, “Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang”.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…
Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca: 

1. Nội dung của tục ngữ: 

Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả. 
Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.
VD: 

Quá mù ra mưa
Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn
Cái sảy nảy cái ung
Cõng rắn cắn gà nhà

2. Hình thức của tục ngữ: 

Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

Làm phúc phải tội
Gà què ăn quẩn cối xay
Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận
Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

No nên bụt, đói nên ma
Bút sa, gà chết
Có tật giật mình

Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ 

May tay hơn hay thuốc
Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con

Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão
Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

Hoặc thể lục bát

Cá tươi thì xem lấy mang
Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

3. Nội dung của ca dao: 

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.
Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.
Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương
Tuyệt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.
Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

4. Hình thức nghệ thuật của ca dao: 

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.
Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.
Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.
Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

Mặt nạc đóm dày
Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn[/cente]
Ca dao ngoài nghệ thuật cụ thể hoá, còn có nghệ thuật nhân cách hoá, dùng vật vô tri để gán cho những tâm tư, tình cảm con người.

Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thời một dạ khăng khăng đợi thuyền
Một số thể cổ điển của ca dao:
Thể phú: Là trình bày, diễn tả…

Đường lên xứ lạng bao xa
Cách một trái núi với ba quãng đồng
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ
Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ
Bụng anh vẫn phẳng như tờ giấy phong…

Thể tỉ: là so sánh, người ta thường mượn một cái khác để ngụ ý, so sánh, hay gửi gắm tâm sự của mình. Đây là phương pháp nghệ thuật chủ yếu trong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm. So sánh cũng là một lối cụ thể hoá những cái trừu tượng, làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết. So sánh trực tiếp:

Gối mền, gối chiếu không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em

Lối tỉ gián tiếp, tức nghệ thuật ẩn dụ, một phương pháp nghệ thuật tế nhị hơn:

Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa, bến cũ, con đò khác đưa

….
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
– Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
– Đan sàng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?
……….
Thể hứng: Ca dao còn một phương pháp nghệ thuật độc đáo nữa là cách biểu lộ cảm xúc đối với ngoại cảnh, mở đầu cho sự biểu lộ tâm tình. Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui, cũng có thể là buồn
[center]Cơm trắng ăn với chả chim
Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no
Trên trời có đám mây vàng
Bên sông nước chảy có nàng quay tơ
Nàng buồn nàng bỏ quay tơ
Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

1. Hát giặm
Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.
Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.
Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:
vd: 
Tôi lấy chân khoả lại
Tôi lấy bàn khoả lại
hay: 
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách
Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.
Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.
Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi
VD:
Trai: 
Tiết thanh nhàn thong thả
Muốn thăm hỏi vài câu
Cuốc thánh thót kêu sầu
Gió phảng phất mùa sâu
Nhớ trong sách đã lâu:
Chuyện “Tư mã phượng cầu”
Thương thì mũi tìm trâu
Trâu đâu tìm chạc mũi
Gái:
Trời mở rộng phong quang
Giã ơn trời mở rộng phong quang
Em đánh tiếng đua sang
Đêm tàn canh vò võ
Tay em cầm con bấc đỏ
Mong bỏ đĩa dầu đầy
Mời bạn ở lại đây
Đôi ta giở lời rày
Tình đó với nghĩa đây
Trai:
Giống như đọi nác đầy
Bưng nhẩn nhẩn trên tay
Không khuy sơ một hột
Gió nỏ triềng một hột
Công đôi ta thề thốt
Kể đã mấy niên rồi
Lòng đã quyết lứa đôi
Ngãi đã quyết thề bồi
Nhất ngôn nói hẳn lời
Đừng bốn chốn ba nơi
Đừng trăn gió chào mời
Trăng nhiều trăng rạng rỡ
Trăn nhiều đèn rạng rỡ
Gái:
Em đã có chồng rồi
Em đã có lứa rồi
Vung úp đã vừa nồi
Đũa ghép đã thành đôi
Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!
Tôi lấy chân khoả lại
Tôi lấy bàn khoả lại
Trai:
Têm một quả trầu không
Bỏ vô hộp con rồng
Đi băng nội băng đồng
Qua năm bảy khúc sông
Qua chín mười đỗi đồng
Nghe tin em đã có chồng
Anh quăng lắc vô bụi
Bạn gạt tùa vô bụi.
*************

Anh thương em một tháng hai kỳ
Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày
Năm rộn mà chầy
Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)
Xuân qua rồi hè /đến
Thu đã muộn, đông rồi
Nhớ bạn cũ chưa nguôi, 
Sang lập xuân vũ thuỷ
Đêm em nằm em nghĩ
Nghĩ kinh trập, xuân phân,
Lòng tưởng sự ái ân
Sang thanh minh, cốc vũ
Đêm dêm nằm nỏ ngủ
Nhớ bạn mãi thường thường
Tiết lập hạ nhớ thương
Bước sang tuần tiểu mãn
Trông ra ngoài chán chán
Tiết mang hiện lại gần
Người đập đất, gánh phân
Để mùa màng gặt hái
Anh thương em mãi mãi
Sang hạ chí tiết hè
Em nghe tiếng sầu ve
Em buồn trong gia sự
Bạn buồn trong gia sự
***
Tiết tiểu thử, đại thử
Trời nắng sốt lắm thay!
Ra ngồi tựa cột cây
Anh với em than thở
Bạn với mình than thở
***
Tiết lập thu, xử thử
Ai diều sáo mặc ai
Vàng lác đác giếng tây
Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)
Nhớ mãi người bạn cộ
***
Vừa đến tiết bạch lộ
Bầy chim trắng bay sang
Cây heo hắt lá vàng
Sang thu phân hàn lộ.
***
Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)
Tiết sương giáng lại kề
Trông bạn cũ ta về
Sang lập đông giá rét
Tiết tiểu tuyết, đại tuyết
Trời giá rét lắm thay
Sang đông chí cấy cày
Dạ bồi hồi nhớ bạn
Tiết tiểu hàn chưa dạn
Đã bước sang đại hàn
Dạ tưởng nhớ người ngoan
Vừa năm cùng tháng tận
Vừa cuối mùa cuối tận.
***
Phận lại ngồi trách phận
Phận nỏ giám trách phận
Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp
————————————————————

Nghe dân ca Nghệ Tĩnh :

http://www.freewebs.com/nvban/Nhac.htm

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI : VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH


VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH

“Trót say câu ví đò đưa/

Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời”…

           Bao đời nay, làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh luôn không thể thiếu trong đời sống của người dân xứ Nghệ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Ca hát dân ca xứ Nghệ là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam… Đặc biệt, cứ mỗi độ Xuân về, làn điệu dân ca xứ Nghệ ân tình lại vang lên khắp nơi nơi trên quê hương Việt Nam và cả khắp cộng đồng người Việt đang sinh sống ở nước ngoài…

 

Dòng sông La

Hát dặm Nghệ Tĩnh

Ai đã từng nghe dân ca Nghệ Tĩnh thì chắc hẳn đều có chung một ấn tượng, đó là ca từ rất bình dị và đậm chất tiếng nói địa phương nhưng lại thể hiện được một “cá tính Nghệ Tĩnh” mà phải ở lâu, ở gần người Nghệ Tĩnh, gần người con gái Nghệ Tĩnh mới thấm, mới ngấm được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng của “cá tính xứ Nghệ”, thô mà tinh, lý đấy nhưng tình đấy.

Quê hương ví dặm

Tiếng dặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào nột chỗ thiếu… xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba, bốn trăm năm. Về nội dung, có nhiều bài hát dặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến. Về hình thức, hát dặm là một thể văn vần đặc biệt. Mở đầu bài hát dặm thường là hai câu lục bát, tiếp theo là một loạt câu 5 chữ, cũng có những bài không tuân theo quy chuẩn đó mà mở đầu ngay bằng câu 5 chữ. Phần lớn các bài hát dặm đều gồm cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lấy lại một ý, điệp cả về ý lẫn lời. Ví dụ:

Tôi lấy chân khóa lại
Tôi lấy bản khóa lại

Hay:
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách
”.

Bốn đời hát ví giặm trong một gia đình ở Thanh Chương – Nghệ An

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát nó làm nổi ý của câu hát và của cả bài. Hát giặm có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung và hình thức đều được trau chuốt. Hát giặm Nghệ Tĩnh không phải hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được dân ưa thích và phổ biến rộng rãi.

Ví giặm đã ngấm vào máu thịt của con người nơi đây 

Hát ví Nghệ Tĩnh

Hát ví Nghệ Tĩnh xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn.

Bến đò, con sông… vằng vặc tuổi thơ của con người xứ Nghệ

Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.

“Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng”

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng tiếng gọi con tim.

Đồng quê xứ Nghệ

Dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu. Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ Tĩnh.

Chỉ tại “Dòng sông đa tình”

Trong hát ví có chặng hát đố. Hát đố là theo cách gọi dân gian, còn hát đối là của các nhà nho. Chặng này là chặng quan trọng nhất, chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa sao cho thật chuẩn xác, thật nhanh. Khi đến độ hăng say, họ còn mang cả tri thức trong sách vở, kinh thư vào trong câu hát, lúc này không phải hát đối nữa mà là thi thố về tài năng, về trí tuệ:

“Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”

“Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay”.

Sự tham gia của các nhà nho đã làm cho điệu hát ví dân gian trở màu mè hơn, bác học hơn, hàm súc hơn. Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những “nghệ sỹ” hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Ân tình xứ Nghệ

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải… Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả. Đặc biệt, hát phường vải chỉ có ở xứ Nghệ.

Bảo tồn những nét đẹp xưa

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Nhưng trước sự du nhập của nhiều nền văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập thì có một thực tế đáng buồn là dân ca Nghệ Tĩnh đang dần bị mai một. Các nghệ nhân dân gian bây giờ hiếm như là mùa thu, tuổi các cụ cũng xế chiều. Hiện nay các nghệ nhân đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc. Tuy nhiên những tâm huyết đó chưa được đền đáp xứng đáng. Trẻ con ngày trước được nuôi lớn bằng những khúc hát dân ca trữ tình sâu lắng, đầy tính nhân văn. Ngày nay người mẹ ru con không thể thuộc lấy một câu hát dân ca. lớp trẻ không còn quan tâm nhiều đến dòng nhạc truyền thống. Có thể nói thời nào thì có nghệ thuật của thời đó. Vì vậy, dân ca muốn sống được chỉ còn cách duy nhất phải kịp thời cải tiến, nhưng cải tiến không phải là gieo vừng ra đỗ mà làm mất đi cái tinh túy của ông cha.

Nơi ta ngồi ngóng mẹ

Có một “kênh” giúp bảo lưu, giữ gìn và phát huy vốn dân ca xứ Nghệ tuy âm thầm nhưng diễn ra liên tục, có chiều sâu học thuật. Đấy là khá nhiều đầu sách giá trị của các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung, Dương Hồng Từ, Thanh Lưu… bàn về hát ví phường vải, ví sông Lam, hát dặm Thạch Hà, về dân ca Nghệ – Tĩnh. Sự kiện thành lập Trung tâm Bảo tồn và phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ với tư cách là một cơ quan nghiên cứu khoa học, lưu trữ đã và sẽ đóng một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn di sản dân ca – ví dặm Nghệ – Tĩnh.

Nơi tạo cảm hứng cho những câu ví giặm ân tình

Hy vọng, một ngày không xa, dân ca xứ Nghệ sẽ được tôn vinh.

Bên con sông quê, ví giặm đã ngấm sâu trong lòng mỗi người

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI

http://www.nghethuatbieudien.vn/xem-tap-chi/vung-que-vi-dam-an-tinh.html

TRẦN LAM THỦY : VÍ “DẶM” HAY VÍ “GIẶM”


VÍ “DẶM” HAY VÍ “GIẶM”

Thứ hai, 16 Tháng 4 2012 14:21
EmailIn

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời

VỀ TÊN GỌI HÁT GIẶM XỨ NGHỆ

Thứ hai, 16/04/2012  – Trần Lam Thủy
Thời gian qua, Báo CANA có đăng một số bài về đề tài hát giặm xứ Nghệ. Sau khi báo phát hành, một số bạn đọc thắc mắc từ hát “dặm” hay hát “giặm”. Để rộng đường dư luận, số báo này chúng tôi đăng bài “Về tên gọi hát giặm xứ Nghệ” của tác giả Trần Lam Thuỷ – Cán bộ Trung tâm bảo tồn phát triển di sản dân ca xứ Nghệ. Qua đây mong bạn đọc trao đổi, góp ý trong cách gọi này.

“Giặm” là tên gọi một thể hát của dân ca xứ Nghệ. Từ trước tới nay vốn tồn tại hai cách viết “giặm” và “dặm”. Đây là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều trong giới học thuật – những người thực sự quan tâm đến ngôn ngữ – văn hóa của xứ Nghệ.

Theo các nhà ngôn ngữ học, khi “dặm” với tư cách là một danh từ dùng để gọi tên sự vật, ta viết với con chữ “d”, chẳng hạn như: dặm ngàn, dặm trường (dặm là độ dài chỉ quãng đường), hoặc trong từ địa phương Nghệ Tĩnh, dặm là dụng cụ bắt cá nhỏ, tép ven sông… (theo Nguyễn Nhã Bản, Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, 1999). Như vậy, với quan điểm coi “dặm” là danh từ gọi tên một thể hát dân ca xứ Nghệ, thì lẽ đương nhiên phải được viết là “hát dặm”.

Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Nghệ xuất phát từ đặc điểm, cấu trúc của thể hát này lại cho rằng “hát giặm” có nguồn gốc từ động từ.

Theo Từ điển tiếng Việt (tr 398), “giặm” là thêm vào chỗ còn trống, còn thiếu như giặm mạ vào ruộng; Ăn giặm thêm vào giữa buổi. Với hát giặm, có người cho rằng “giặm” là “giẫm chân” và hát giặm là lối hát có đánh nhịp bằng chân.

Lại có người cho rằng, tiếng “giặm” xuất phát từ tính phân đoạn trong một bài hát giặm, tức là trong một bài hát có nhiều đoạn nhiều khúc. Còn có người cho rằng, giặm là giắm vào, điền vào như giắm lúa, điền nan (trong một cái rổ). Ý kiến này căn cứ những câu láy lại sau những trổ hát trong một bài hát giặm.

PGS. Ninh Viết Giao cho rằng, “giặm” là tiếng vang lại của giọng nói nơi núi rừng. Nhất là khi chúng ta đi vào chỗ núi rừng có nhiều vách đá thẳng tắp cheo leo, khi nói một câu chúng ta thường nghe lại những tiếng của chính mình. Câu láy lại trong một đoạn hay một khúc có thể là tiếng vọng đó của con người thời xa xưa.

Tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ” tổ chức vào tháng 3 vừa qua ở thành phố Vinh, vấn đề tên gọi của các thể hát cũng được đặt ra trao đổi và lựa chọn. Sau khi nghe ý kiến các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá, Hội thảo đã thống nhất tên gọi với cách viết là “giặm” – ví, giặm xứ Nghệ.

Chúng tôi thiết nghĩ, bản thân ngôn ngữ vốn là võ đoán và mang tính quy ước, bởi vậy, nên có sự thống nhất để tiện cho việc gọi tên, bảo lưu và phát triển cho hôm nay và cả các thế hệ người Nghệ nói riêng và người Việt nói chung trong tương lai.

(Nguồn: congannghean.vn)

http://thientoan.com/tin-am-nhac/am-nhac-viet-nam/121-v-ten-gi-hat-gim-x-ngh.html

Vĩnh Phúc : Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh qua báo chí nửa sau TK XX


Vĩnh Phúc : Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh qua báo chí nửa sau TK XX

 

   Trên tiêu chí Hát, Hò dân gian, chúng tôi đã tuyển chọn ra được 8/16 bài  phù hợp với mục đích của khảo cứu để tổng lược và nhận xét. Ở đây chúng tôi không làm công việc “tóm tắt nội dung” của các bài chuyên khảo để tổng kết mà chỉ nêu dẫn, nhận xét những vấn đề như quan điểm, thái độ của tác giả bài viết đối với dân ca, những phát kiến, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XX… theo quan điểm riêng của mình.

Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh qua báo chí nửa sau TK XX

Vietsciences- Vĩnh Phúc          15/09/2008 

Những bài cùng tác giả 

TỔNG LƯỢC & NHẬN XÉT

  Trên tiêu chí Hát, Hò dân gian, chúng tôi đã tuyển chọn ra được 8/16 bài  phù hợp với mục đích của khảo cứu để tổng lược và nhận xét. Ở đây chúng tôi không làm công việc “tóm tắt nội dung” của các bài chuyên khảo để tổng kết mà chỉ nêu dẫn, nhận xét những vấn đề như quan điểm, thái độ của tác giả bài viết đối với dân ca, những phát kiến, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XX… theo quan điểm riêng của mình.   Cả một “xứ Thanh“, một vùng văn hóa, một vùng dân ca phong phú, đặc sắc đến thế mà trong giai đoạn này, chúng tôi chỉ gặp có một bài nghiên cứu về Âm nhạc hò sông  của nhạc sĩ Hoàng Sâm 1. Nhưng điều đáng nói, đây là một trong số rất ít bài chịu đi thẳng vào vấn đề âm nhạc bằng việc phân tích, mổ xẻ cấu trúc nội tại của làn điệu, biểu hiện trong các yếu tố giai điệu, tiết tấu, điệu thức…để nêu lên những giá trị âm nhạc của hò Sông Mã. Tuy nhiên, vì lệ thuộc quá nhiều đến cơ sở lý thuyết âm nhạc cổ điển châu Âu, nên cảm giác như đang nghe tác giả  phân tích tác phẩm âm nhạc cổ điển phương Tây!  Hình như tác giả bài viết đang tìm cách tiêu thụ các thuật ngữ âm nhạc thường dùng trong lý thuyết nhạc cổ điển như “chủ đề I, chủ đề II”, “âm hình chủ đạo”, “canon đơn giản”, “đối vị 2 bè đơn giản, đối vị 3 bè”…Đôi chỗ,  lạm dụng đến nghi ngờ và khó hiểu: “Giai điệu trong Hò Sông Mã đã kết hợp nhuần nhuyễn các âm thanh có quãng đặc trưng (chủ yếu quãng 4, quãng 5, quãng 7 và quãng 2 đúng (!)…kể cả hai chiều…đã hoàn thành được chức năng biểu hiện mạnh mẽ nhất, toàn diện nhất của ngôn ngữ âm nhạc. Đặc biệt sử dụng nhảy quãng giai điệu, kết hợp với quãng liền bậc và quãng đồng âm…tạo ra những âm không ổn định để giải quyết về ổn định, một cách táo bạo”và “cuối cùng là những bài hò mang điệu thức 5 âm hoàn chỉnh và đan xen các điệu thức 5 âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy Vũ và Oán…Đặc biệt trong bài hò theo nhịp đơn II gần với điệu thức cổ Hy Lạp MyXolidien đan xen với điệu thức Oán-Oán là điệu thức tiêu biểu cho dân ca người Việt”. Chưa kể những cách nói ngường ngược kiểu như: “Hò Sông Mã là âm nhạc dân gian quan trọng nhất trong nền âm nhạc dân ca Thanh Hoá” !  Hiện tượng nghiên cứu, phân tích âm nhạc cổ truyền như trên, kể cả một số trường hợp chúng tôi đã nêu ở trước, là sự áp đặt, là kinh viện hoá âm nhạc dân gian, nếu không muốn nói là đánh đồng truyền thống, đánh đồng ngôn ngữ cấu trúc âm nhạc phương Tây cổ điển với dân ca dân gian Việt Nam.   Dân ca Nghệ – Tĩnh, mà tiêu biểu là  và Giặm là một hiện tượng sinh hoạt văn hóa đặc sắc riêng của Xứ Nghệ, đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực, đặc biệt, trong lĩnh vực văn học, văn hóa. Từ năm 1944, đã xuất bản sách Hát Giặm Nghệ – Tĩnh của Nguyễn Đổng Chi; năm 1958 lại xuất bản cuốn Hát Ví Nghệ – Tĩnh của Nguyễn Chung Anh; năm 1961 có Hát Phường Vảidân ca Nghệ – Tĩnh của Ninh Viết Giao… Trên các tạp chí ở miền Nam trước 1975 có Thú Hát Ví ở Nghệ An – Hà Tĩnh của Hoàng Điệp – Thiết Mai năm 1962, nhưng đáng kể là khảo cứu dân tộc học Vài nét về sinh hoạt của Hát Giặm và Hát Ví dân ca Nghệ – Tĩnh của Lê Văn Hảo năm 1963… Nghiên cứu Hát Giặm và Hát Ví trên lĩnh vực âm nhạc học tương đối ít, có thể kể: Hát Ví Nghệ Tĩnh (1972) và Hát dặm Nghệ Tĩnh (1981) của nhạc sĩ Đào Việt Hưng; Hát Giặm Nghệ Tĩnh (1984) của nhạc sĩ Vĩnh Long và chùm 3 bài của các tác giả Vi Phong, Bích Lộc, Nguyễn Mỹ Hạnh cùng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số chuyên đề tháng 6/1992.

 

Một số vấn đề về Hát Giặm

Bài khảo cứu Vài nét về sinh hoạt của Hát Giặm và Hát Ví 2 của nhà nghiên cứu văn hóa, dân tộc học Lê Văn Hảo đăng trên tạp chí Đại Học dài 35 trang nhưng chỉ chú trọng về môi trường sinh hoạt, phong tục và phần văn học của hai thể loại này mà chủ yếu là phân giải tư liệu từ các tác giả Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Nguyễn Chung Anh…nên, phần nào đó có giá trị về mặt cô đọng tư liệu. Một vài nhận xét về âm nhạc cũng được rút ra từ những sách này. Chẳng hạn như việc nhận xét 2 câu láy trong Hát Giặm, được gọi là “vật cốt yếu của con nhà hát nam nữcó nghe hát rồi mới thấy được hết giá trị của nó về nhạc điệu, mới biết là bao nhiêu cái hay chung đúc vào đó cảví như dòng nước đang cuồn cuộn chảy bổng trút cả vào một cái thác“. Nói chung, câu láy ở vần trắc này, “ảnh hưởng nhiều đến nội dung lời ca, làm cho người nghe như có nhấn mạnh, nhắc nhở, quyến luyến hơn“.

Trong tài liệu của Lê Văn Hảo, dẫn theo ý kiến của Nguyễn Đổng Chi về ý nghĩa của từ Giặm, là trong lúc hát đối đáp, câu của người trả lời phải chấp theo vần ở cuối câu của người hỏi. Sự chắp vần hay hát chắp vào ấy tức là giặm. Nhưng theo nhạc sĩ  Đào Việt Hưng thì chính vì câu láy ở cuối mỗi khổ, tức là câu nhắc lại ấy được gọi là câu dặm. Vì vậy mà nhân dân gọi thể loại này là hát dặm. Bài viết của Đào Việt Hưng về Hát dặm Nghệ Tĩnh 3, mặc dù còn nặng về giới thiệu sưu tầm, ít tính nghiên cứu nhưng đã nêu được vấn đề biến thái, phát triển trong làn điệu Hát Giặm. Cụ thể là trong mô hình tiết tấu, sự mở rộng kết cấu hình thức mà tác giả đã so sánh qua hai bài hát Giặm của 2 thời kỳ, được biết là cách nhau trên 150 năm. Vấn đề ông đặt ra, về sau được triển khai đầy đủ và khoa học hơn trong các bài nghiên cứu của Bích Lộc, Nguyễn Mỹ Hạnh. Ngoài vấn đề nêu trên, mà tác giả Bích Lộc cho là đã làm nên một loại giặm mới, được gọi là giặm nối trong bài nghiên cứu Âm nhạc của hát Giặm Nghệ Tĩnh 4, chị đã nêu thêm những biến dạng (hay là phát triển) cao hơn. Đặc biệt trong những bài vè hát dặm (giặm vè), đã dùng đến cả nhịp hỗn hợp: 7/4 (4/4 + 3/4) làm xáo trộn chu kỳ của các phách mạnh nhẹ. Về giai điệu Hát Giặm, Bích Lộc nhận xét : “có đặc điểm hay dùng luyến từ dưới đi lên và yếu tố “nói” có phần chiếm ưu thế hơn là yếu tố “nhạc”. Nguyễn Mỹ Hạnh trong Hò, Ví và Giặm Nghệ Tĩnh 5 đã quy các chu kỳ tiết tấu cơ bản của hát dặm vào trong 2 mô hình tiết tấu gồm 5 điểm tựa, mỗi điểm tựa ứng với một từ trong thể thơ 5 từ. Mô hình 1 ứng với khuôn nhịp 2/4, tính chất bình ổn, nhịp nhàng; mô hình 2 ứng với khuôn nhịp 7/8, tính chất xáo động và một sơ đồ dẫn giải 2 phương thức biến tấu chính trong Hát Giặm. Đấy cũng là sự tóm lược bằng mô hình các nhóm tiết tấu của làn điệu Giặm gốc và các biến dạng của nó như Đào Việt Hưng, Bích Lộc đã nêu. Bài viết của Nguyễn Mỹ Hạnh tận dụng nhiều khả năng của phương pháp thống kê và mô hình hoá, nhưng nhiều khi lại vô tình phức tạp hoá các vấn đề vốn đơn giản. Một điều có thể tác giả nhầm khi nói: “Hát dặm Nghệ – Tĩnh cũng khác hẳn hát giặmQuyền Sơn về nhiều mặt, trong đó có cả phần âm nhạc”. Loại hát ở Quyền Sơn Hà Nam Ninh là Hát giậm chứ không phải giặm; là một loại hát lễ nghi phong tục, hát cửa đền, gắn với nghi lễ thờ vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Cũng tham khảo cùng một nguồn tư liệu như Lê văn Hảo, nhưng trong cách giải thích ý nghĩa chữ giặm, nhạc sĩ Vĩnh Long trong bài Hát Giặm Nghệ Tĩnh 6 đã nêu ra cả hai cách hiểu: Chữ Giặm là để chỉ hiện tượng láy lại câu cuối; và Giặm là giặm lại vần của bài hỏi. Không sơ lược như bài viết của nhạc sĩ Đào Việt Hưng, nhạc sĩ Vĩnh Long đã đi vào từng vấn đề một cách kĩ càng hơn. Đặc biệt về âm nhạc, ông đã nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa âm điệu Hát Giặm và thanh điệu của giọng nói Nghệ – Tĩnh.

Một số vấn đề về Hát Ví.

Cũng như trong Hát Giặm, ở Hát Ví, Lê Văn Hảo 2 vẫn chú trọng khai thác về truyền thống sinh hoạtphong tục của thể hát này. Ông đã nêu ra những hình thái văn hóa phong phú của Hát Ví, mà ở đó, đặc điểm sinh hoạt hình thành những phường hát theo môi trường nghề nghiệp khác nhau, như Ví phường cấy, Ví phường vảiVí phường nón, Ví phường củi v.v…Trong đó, Ví phường vải có cách thức tổ chức, lề lối phức tạp nhất trong các loại hát Ví, vì có sự tham gia của các nhà Nho, các ông đồ Xứ Nghệ mà ngày nay tên tuổi nổi tiếng trong văn học sử nước nhà như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Phan Bội Châu… Sự phức tạp của Ví phường vải được biểu hiện đầu tiên là ở thủ tục của một cuộc hát, mà thường kéo dài trong nhiều đêm với đủ mọi chặng, mọi bước: “hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi, hát đố, hát đối, hát mời, hát xe kết và hát tiễn“.

Nhạc sĩ Đào Việt Hưng cho biết, mặc dù Hát Ví Nghệ-Tĩnh 7 được gọi theo nhiều tên gọi vì kèm theo tên các phường nghề khác nhau nhưng thực chất về âm nhạc chỉ có thể phân chia theo cách cổ truyền trong dân gian là lối Ví phường vải và lối Ví đò đưa. Cả hai lối Ví đều xây dựng trên dạng điệu thức 5 âm không bán âm; lấy tiết tấu thơ làm cơ sở cho tiết tấu nhạc, lấy âm điệu 4 làm cơ sở cho cơ cấu giai điệu. Ở lối Ví đò đưacòn lấy quãng 3 thứ làm điểm tựa cho các bước nhẩy của giai điệu. Vấn đề này, Nguyễn Mỹ Hạnh đã triển khai thêm đầy đủ hơn, chẳng hạn, âm điệu quãng 4 dẫu vẫn quán xuyến trong các làn điệu ví, song sự xuất hiện thường xuyên của những quãng 2 trưởng, 3 thứ xen giưã khung quãng 4, kết hợp với tiết tấu chậm rãi, đều đặn đã đem lại cho âm điệu quãng 4 trong Hát ví tính chất mềm dịu. Cũng theo Nguyễn Mỹ Hạnh 5, Hát Ví Nghệ-Tĩnh sử dụng nhiều hơn cả là thang 4 âm theo dạng: a-c-d-e; e-a-c-d, một số bài hoàn toàn chỉ dùng 3 âm: e-a-c và a-d-e có vai trò nòng cốt ngay trong những bài đã xuất hiện 4, 5 âm. “Điều này một mặt làm cho Ví khác với Hò, mặt khác lại làm nó có phần gần với Hát dặm“.   Nhạc sĩ Vi Phong không đồng tình với một số nhà nghiên cứu cho rằng Ví Nghệ – Tĩnh là loại dân ca một làn điệu, và đã nêu lên sự khác biệt về âm nhạc giữa 2 điệu Ví đò đưa sông La và Ví đò đưa sông Lam trong bài Đôi điều về hát Ví và sức mở của dân ca Nghệ Tĩnh 8. Tuy vậy, tác giả bài viết chỉ dẫn chứng bằng 2 nét nhạc mở đầu có cùng âm điệu chủ đạo của thang 4 âm dạng : e-a-c-d, thì chưa thể là một dẫn chứng thuyết phục đối với loại hát đối đáp dân gian có đặc tính đối lời này. So với đa số bài nghiên cứu về dân ca khu vực Đồng bằng Bắc Bộ ở cuối chương trước thì hầu hết các bài khảo cứu dân ca Thanh – Nghệ – Tĩnh đều trội hơn hẳn về khuynh hướng nghiên cứu âm nhạc. Dù vẫn còn cảm tính, nhưng rõ ràng, qua phương pháp nghiên cứu âm nhạc mới có thể nêu ra được những đặc điểm của mỗi thể loại dân ca.  

TÀI LIỆU DẪN

1. Hoàng Sâm. Về âm nhạc Hò Sông Mã.
T/c NCNT số 7/1989.

2. Lê Văn Hảo. Vài nét về sinh hoạt của hát Giặm và hát Ví.
Tạp chí Đại học số 34/1963.

3. Đào Việt Hưng. Hát Giặm Nghệ Tĩnh.

T/c Âm nhạc số 3,4/1981.

4. Bích Lộc. Âm nhạc của hát Giặm Nghệ Tĩnh
T/c Nghiên cứu VHNT số 6/1992.

5. Nguyễn Mỹ Hạnh. Hò, Ví và Giặm Nghệ Tĩnh.
T/c Nghiên cứu VHNT số 6/1992.

6. Vĩnh Long. Hát Giặm Nghệ Tĩnh.
Văn hóa dân gian số 4/1984.

7. Đào Việt Hưng. Hát Ví Nghệ Tĩnh.
Báo Văn hóa số 4/1972.

8. Vi Phong. Đôi điều về hát ví và sức mở của dân ca Nghệ Tĩnh.
T/c Nghiên cứu VHNT số 6/1992.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Màu sắc dân ca Thanh Hoá phục vụ cho sáng tác ÂN hiện nay. Xuân Liên. VHNT số 15/76

2. Hò tiếp vận Thanh Hoá. Mã Giang Lân. VHNT số 12/76

3. Tản mạn về hát Giặm. Thái Kim. NCNT số 6/92

4. Bông hoa nghệ thuật mới: Kịch hát Nghệ Tĩnh. Từ Lương.
Sân khấu số 5,6/83

5. Dân ca Nghệ Tĩnh và nền âm nhạc chuyên nghiệp. Lê Hàm.

Sông Lam số 7. 1/12/95
6. Cội nguồn sâu xa từ dân ca Nghệ Tĩnh. Thái Cơ. ÂN số 3,4/81

7. Thú hát ví ở Nghệ An Hà Tĩnh. Hoàng Diệp và Thiết Mai.
VH nguyệt san 69/62

8. Hát ví Nghệ Tĩnh. Đào Văn Hồng.

Những vấn đề Âm nhạc & múa – tập 2/70

Quê Hương Và Người Tình (Nhạc về quê hương – Dân Ca Ba Miền)


Published on Feb 12, 2013
1. Hương Rừng Cà Mau – Trung Hậu 0:00
2. Yêu Cô Gái Bạc Liêu – Tuấn Quỳnh 2:12
3. Sóc Sờ Bai Sóc Trăng – Nhã Thanh 4:09
4. Về Miền Hậu Giang – Hạnh Nguyên 5:38
5. Ninh Kiều Em Gái Cần Thơ – Hương Lan 7:08
6. Yêu dấu Hà Tiên – Phi Nhung 10:37
7. Châu Đốc Lời Ước Hẹn – Quốc Đại, Bích Thảo 12:50
8. 20 năm tình đẹp mùa chôm chôm – Phi Nhung 17:00
9. Phải Lòng Con Gái Bến Tre – Quang Lê, Mai Thiên Vân 20:42
10. Tiền Giang quê tôi – Hoàng Lan 24:46
11. Sài Gòn Đẹp Lắm – Lam Trường 28:36
12. Sài Gòn Về Đêm – Thanh Thúy 30:11
13. Thương Về Miền Đất Lạnh – Hương Lan 32:02
14. Thị Trấn Mù Sương – Hương Thủy 34:34
15. Tuy Hòa – Vũ Quốc Việt 36:31
16. Tình Quê – Mỹ Tâm 38:51
17. Đà Nẵng Tôi Yêu – Hồ Quỳnh Hương 41:24
18. Tiếng Sông Hương – Mai Thiên Vân 43:44
19. Huế xưa – Vân Khánh 46:48
20. Chiều cố đô – Hương Lan 50:48
21. Mưa Trên Phố Huế – Hương Lan 53:55
22. Quảng Bình Quê Ta Ơi – Vân Khánh 57:53
23. Nhớ Mùa Thu Hà Nội – Mỹ Tâm 1:00:59
24. Hà Nội Vắng Những Cơn Mưa – Lâm Nhật Tiến 1:03:03
25. Lời ru đất Bắc – Thanh Thúy 1:04:29
26. Bắc Ninh – Kinh Bắc – Trọng Tấn 1:10:38
27. Câu ca em hát Phú Thọ quê mình – Thanh Hoa 1:12:57
28. Lai Châu quê em – Ngọc Miên 1:16:10
29. Chiều Lào Cai – Hồng Hải 1:17:37
30. Hà Giang quê hương tôi – Trọng Tấn 1:19:48
31. Những Nẻo Đường Việt Nam – Tôi yêu (Nhiều Ca Sĩ) 1:21:21

Tuyển tập Ca Khúc Hay Về Quê Hương Việt Nam
Nhung bai hay ve nhung tinh va mien bac trung nam.
Nhạc tuyển chọn, chọn lọc
Dân Ca Ba Miền
Ba miền đất nước