HOÀNG HƯỜNG : Còn lại gì sau Hội Lim, đền Trần?, VIETNAM


Còn lại gì sau Hội Lim, đền Trần?

Ngày đăng: 10/03/2013
Tác giả: Hoàng Hường

 

Ngày 6/12/2012, tại kỳ họp lần thứ 7 ở Paris, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của […]

 

Ngày 6/12/2012, tại kỳ họp lần thứ 7 ở Paris, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nâng danh sách di sản phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận lên con số 7 gồm: nhã nhạc cung đình Huế; cồng chiêng Tây Nguyên; quan họ; ca trù; hát xoan và Hội Gióng và Tín ngưỡng Hùng Vương.

Tỉnh Phú Thọ thông báo chuẩn bị Lễ đón nhận bằng di sản thế giới long trọng, hứa hẹn Lễ hội Đền Hùng năm nay sẽ vô cùng “đặc biệt”.

Còn nhớ cách đây vài năm, Lễ hội Đền Hùng bỗng trở thành một đề tài vô cùng gay cấn khi NSND Phạm Thị Thành và NSND Lê Hùng đăng đàn chỉ trích nhau quyết liệt về “tài năng” và “kinh nghiệm”, trong việc chỉ đạo tổ chức Lễ hội Đền Hùng. Nguyên nhân là năm đó (2010) tỉnh Phú Thọ quyết định mời NSND Lê Hùng làm đạo diễn, thay vì NSND Phạm Thị Thành như mọi năm. Và Đền Hùng 2010 trở thành một chương trình biểu diễn lớn của… diễn viên Nhà hát Tuổi Trẻ.

Hai vị đạo diễn danh tiếng cùng những quan điểm nghệ thuật đều đáng kính trọng được đưa ra, nhưng không ai thấy người dân Phú Thọ, những đối tượng thụ hưởng và trực tiếp gìn giữ Tín ngưỡng Vua Hùng xuất hiện trong các cuộc tranh luận. Hình thái di sản đi về đâu hoàn toàn phụ thuộc vào “quan điểm nghệ thuật” của đạo diễn.

Trước đó một thời gian, GS Ngô Đức Thịnh – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hoá tín ngưỡng Việt Nam từng kêu trời vì nhóm chuyên gia thật khốn khổ khi làm hồ sơ công nhận di sản cho dân ca quan họ chỉ vì cái tên.

Quan họ trải dài ở vùng đồng bằng sông Cầu, gồm Bắc Ninh và Bắc Giang. Các cố vấn đề nghị lấy tên Quan họ Kinh Bắc cho dung hòa và bao quát, nhưng tỉnh Bắc Ninh kiên quyết yêu cầu là Quan họ Bắc Ninh. Lý do đa số làng quan họ nằm ở địa phận Bắc Ninh, hội Lim ở Bắc Ninh cũng là hội chính, lâu đời, vậy nhất định tên di sản phải gắn liền với tên địa phương.

Lễ hội Đền Hùng 2012 trở thành màn trình diễn của diễn viên Nhà hát Tuổi Trẻ

Cũng như Hội Gióng được công nhận di sản phải xây thêm tượng to, mở rộng quy mô hội cho xứng tầm. Những câu chuyện như vậy ngày càng nhiều lên, khiến việc công nhận di sản gắn liền với những sự rình rang, ồn ào, lễ lạt..

Nói một cách nào đó, di sản bỗng trở thành cứu cánh để địa phương khuếch trương thanh thế và thương hiệu. Các địa phương hối hả trong công cuộc chạy đua lập hồ sơ, đề cử và khai thác di sản; kèm theo câu hỏi: ngân sách sẽ được đổ về bao nhiêu? và Thu hút du lịch như thế nào?

Trong khi chưa có hoặc bế tắc những chiến lược kinh tế – xã hội – chính trị hấp dẫn, khuếch trương di sản có vẻ là giải pháp đúng đắn. Nhưng chính trọng trách “giải pháp” này làm hỏng di sản, đẩy địa phương và nghệ nhân vào thế khó xử khi hoàn toàn không chuẩn bị TÂM THẾ đón nhận hay đáp ứng trọng trách đó.

Trở lại trường hợp “ngả nón nhận tiền” và “không dùng loa” ở Hội Lim, địa phương đã đưa một hình thái văn hóa vốn chỉ diễn ra trong không gian hẹp, phạm vi hẹp mang tính chất giao lưu diễn xướng giữa những người thực hành văn hóa với nhau ra một không gian rộng hơn, “mang tầm quốc gia”; đặt lên vai nghệ nhân những trọng trách và kỳ vọng vốn dĩ không nằm trong tâm thế của họ, nên bản thân người tổ chức và nghệ nhân đều khổ sở loay hoay không tìm được tiếng nói chung.

Chính xác hơn, bản thân những sự ồn ào, lễ lạt rình rang không mang lại bất kỳ tác dụng nào trong công cuộc bảo tồn di sản. Không ai tìm được cảm xúc và vẻ đẹp của quan họ trong một biển người ồn ào, hỗn tạp, lại xuất hiện thêm những sự cải biên, chiêu trò này nọ làm di sản bỗng như nồi lẩu thập cẩm.

Không ai cảm nhận được vẻ đẹp của Quan họ trong biển người này

Cuối cùng ấn tượng về Hội Lim cũng chỉ còn những màn trai giả gái, kỷ lục nhiều người, hay khâu tổ chức nhếch nhách luộm thuộm. Cũng như chả ai nghĩ đến ý nghĩa của ấn nhà Trần là gì, tín ngưỡng Hùng Vương hay tục thờ Thần Gióng có vai trò thế nào trong đời sống văn hóa tinh thần, sau rình rang chỉ còn lại tranh cướp và hỗn loạn.

Hết cuộc vui ầm ĩ, địa phương cũng chẳng còn được gì nhiều ngoài những báo cáo, nghệ nhân lại càng không, nhưng di sản thì thay đổi – như cách nói của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền – bị rạn vỡ.

“Dày vò” di sản chắc chắn không phải cách hay để xây dựng thương hiệu và vị thế địa phương, nếu không đi cùng những chủ trương đúng. Nhìn vào Đà Nẵng, đến nay Đà Nẵng chưa có di sản được công nhận, những Đà Nẵng là thương hiệu mạnh. Người ta đến với thành phố này vì những chủ trương phát triển thuận lợi, chứ không chỉ để xem thi pháo hoa.

Đặc biệt, những nghệ nhân – chủ thể di sản, là “các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân bản địa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra, bảo vệ, duy trì và tái sinh di sản văn hóa phi vật thể, từ đó làm giàu thêm sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” cần phải trả về đúng vị trí của họ, chứ không nên bị đẩy ra sân khấu để gánh vác những trọng trách chính trị – xã hội nặng nề không thuộc trách nhiệm và tầm vóc của họ.

http://m.tuanvietnam.net/2013/03/con-lai-gi-sau-hoi-lim-den-tran/

MINH TƯ : Cần một chiến lược bảo tồn di sản văn hóa, VIETNAM


Cập nhật lúc 06/04/2013, 06:10 (GMT+7)
Cần một chiến lược bảo tồn di sản văn hóa

(GD&TĐ) – Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tạo dựng và để lại những di sản văn hóa vô cùng quý giá, là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, di sản văn hóa cũng rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanh chóng. Bởi vậy, vấn đề đang đặt ra là cần có các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm cho di sản văn hóa truyền thống tiếp tục tỏa sáng trong xu thế giao lưu, hội nhập.

1. Thời gian gần đây, các ý kiến bàn về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa truyền thống được đề cập khá nhiều trên các diễn đàn học thuật cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Một số nhà khoa học và quản lý cho rằng cần bảo vệ tính nguyên gốc của di sản văn hóa, số khác lại cho rằng cần phải bảo tồn theo hướng phát triển. Nhiều ý kiến bàn về vai trò của cộng đồng, vai trò của chủ thể trong việc bảo tồn và phát huy di sản. Có ý kiến chống lại xu hướng “sân khấu hóa” di sản, mà yêu cầu bảo tồn di sản trong môi trường nguyên gốc của nó.

Có một thực tế là di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú và đa dạng, sự tồn tại và đời sống của từng di sản là rất khác nhau, do vậy, những nỗ lực để có một phương án duy nhất đúng trong công việc bảo tồn di sản chỉ đem lại thất bại. Các di sản khác nhau sẽ phù hợp với những phương cách bảo tồn và phát triển khác nhau. Mặt khác, với mỗi di sản, cũng có thể có nhiều phương án bảo tồn đồng thời được áp dụng. Di sản thích nghi với càng nhiều hình thức sống, nhiều không gian khác nhau sẽ càng có sức sống mãnh liệt hơn trong bối cảnh ngày một biến đổi của xã hội đương đại.

Đô thị cổ Hội An được vinh danh là Di sản văn hóa thế giới

Vì vậy, vấn đề quan trọng lúc này là, cần tổng kiểm kê toàn bộ các loại hình di sản văn hóa truyền thống. Trên cơ sở đó phân loại, xếp hạng các loại hình di sản văn hóa để xem loại hình di sản nào đã biến mất hoặc đang có nguy cơ bị mai một, loại hình nào đang tồn tại và tồn tại như thế nào. Mục đích của kiểm kê là để nhận diện, xác định giá trị, sức sống của di sản, từ đó đề xuất khả năng bảo tồn và phát huy.

Về vấn đề này, Công ước của UNESCO khuyến nghị, trước tiên cần tập trung kiểm kê những di sản hiện có. Khi điều kiện cho phép, chúng ta sẽ tiến hành phục hồi một số di sản đã mai một. Việc thống kê, phân loại cần thực hiện một cách có hệ thống, bài bản và cụ thể. Công việc nhận dạng, xác định các hiện tượng văn hóa truyền thống đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng. Đây là biện pháp có hiệu quả nhất, phát huy tối đa sự tham gia của chủ thể văn hóa, bởi vì chính họ là người chỉ ra cái gì là của mình, cái gì cần phải làm với di sản của họ và họ là người quyết định bảo tồn.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục sưu tầm di sản văn hoá. Trước đây, việc ghi chép tuy có những hạn chế nhất định, nhưng đã giúp chúng ta lưu giữ được một khối lượng di sản văn hóa truyền thống rất đáng kể như: văn học dân gian, di sản thơ phú, văn bia, thần tích, thần phả, địa chí, hương ước, nghi lễ, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi, ẩm thực, nghề truyền thống… Với các thiết bị máy móc hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm, máy quay, công việc sưu tầm di sản văn hóa truyền thống sẽ mang lại hiệu quả to lớn khi chúng ta huy động được nhiều thành phần tham gia như: học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, những người làm công tác bảo tồn di sản văn hóa và đặc biệt là nhân dân ở các địa phương. Vấn đề quan trọng đặt ra đối với những người tham gia sưu tầm là tôn trọng khách quan, ghi chép một cách trung thực, đầy đủ và thận trọng, tránh sự ngụy tạo.

2. Đối với di sản văn hóa truyền thống, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở việc “bảo vệ, giữ gìn” mà coi việc phát huy tác dụng thực tế của các tài sản văn hóa, đặc biệt là trong nhận thức và giáo dục mới là công việc quan trọng.

Việt Nam đã được công nhận 4 Di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có Hội Gióng

Việc bảo tồn di sản văn hóa không thể chỉ đóng khung trong phạm vi bảo tàng. Những giá trị văn hóa truyền thống sẽ chết nếu nó không được làm sống lại trong đời sống cộng đồng của cư dân quốc gia, dân tộc đó. Chính vì thế, chúng ta cần tìm mọi biện pháp để giúp nhiều người hiểu rõ hơn về tính lịch sử cũng như giá trị văn hóa của những di sản văn hóa truyền thống. Chẳng hạn đối với loại hình văn học dân gian được giảng dạy trong nhà trường như: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, giai thoại, ca dao, tục ngữ, vè, câu đố,… ngoài việc học ở sách giáo khoa để hiểu cái hay, cái đẹp cũng như giá trị của chúng, nhà trường cần thiết tổ chức các cuộc thi kể chuyện cổ tích, tìm hiểu về tục ngữ, tìm hiểu về danh nhân và các địa danh gắn với vùng miền cụ thể để học sinh hiểu sâu sắc hơn về giá trị văn hóa của dân tộc.

Đặc biệt là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống. Thực tiễn chỉ ra rằng, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa chỉ có thể được đẩy mạnh và đạt hiệu quả khi người dân tự giác tham gia. Do đó, việc giáo dục để nâng cao ý thức tự giác của người dân, khơi dậy ở họ lòng tự hào đối với di sản văn hóa của cộng đồng mình là công việc có ý nghĩa quan trọng để hướng người dân chủ động tìm tòi, sưu tầm và bảo tồn các loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Ngoài ra, cần phải làm rõ và gắn lợi ích của người dân khi tham gia các hoạt động bảo tồn. Đây cũng là cách thức thu hút đông đảo người dân tham gia lưu giữ di sản văn hóa truyền thống của mình.

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, việc vận động, tuyên truyền để nâng cao ý thức tự giác của người dân cần gắn với cuộc vận động xã hội hóa trong công tác bảo tồn. Chỉ khi người dân có ý thức trong việc bảo tồn di sản văn hóa thì mọi khó khăn mới có thể được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả. Người dân sẽ không tiếc công sức, thời gian, thậm chí, họ có thể mang tiền bạc, của cải và tài sản của mình để phục vụ cho các hoạt động bảo tồn.

 Minh Tư

http://gdtd.vn/channel/2776/201304/Can-mot-chien-luoc-bao-ton-di-san-van-hoa-1968228/

VƯƠNG TRÍ NHÀN : Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hoá Việt Nam


Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hoá Việt Nam

Vương Trí Nhàn

Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hoá Việt Nam

Nhà xuất bản Hà Nội…

 

 

 

Mục lục

Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hoá Việt Nam

  Chương I Những tiền đề lý luận 

Chương II Những điều kiện hình thành

Chương III: Quá trình trưởng thành từ giữa thế kỷ XIX về trước

Chương IV: Văn hóa dân gian và văn hoá làng xã

Chương V: Các bộ phận và mấy nét bản sắc

Chương VI: Những thay đổi lớn lao từ đầu thế kỷ XX

Thay lời kết: Di sản và phát triển

Bấm vào địa chỉ dưới đây để đọc toàn bộ quyển sách do ông Vương Trí Nhàn soạn thảo 

http://vuongtrihai.wordpress.com/s%C6%A1-b%E1%BB%99-tim-hi%E1%BB%83u-di-s%E1%BA%A3n-van-hoa-vi%E1%BB%87t-nam/

 

HƯƠNG LY: Di sản Văn hoá bảo tồn và phát triển, VIETNAM


Di sản Văn hoá bảo tồn và phát triển

 

 

Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, nhân dân hết sức quan tâm tới vấn đề giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để làm sống dậy mọi tiềm năng văn hóa như là một nguồn lực nội sinh mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động văn hóa cho thấy bên cạnh những thành tựu lớn cũng tồn tại những bất cập không nhỏ về quan niệm, về phương thức thực hành, về những hoạt động cụ thể trong việc phát hiện, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Vì vậy, thống nhất quan niệm, phương thức thực hành trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vẫn thực sự là một nhu cầu cần thiết.

 

 

Về mặt quan niệm, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đã nêu rõ di sản văn hóa là gì và khẳng định nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.

 

 

Nhiều nhà khoa học xã hội, những người làm công tác quản lý văn hóa cũng đã quan tâm tới vấn đề di sản văn hóa ở những góc độ khác nhau, và ở một mức độ nhất định, thống nhất rằng: Di sản văn hóa là sản phẩm sáng tạo trong quá trình hoạt động của con người nhằm vươn tới đỉnh cao giá trị chân – thiện – mỹ. Di sản văn hóa Việt Nam là sự kết tinh của mối quan hệ tổng hòa và tương tác giữa môi trường – con người – văn hóa, là sự vươn lên những thách đố khốc liệt bằng sự kiên trì, lòng dũng cảm, trí thông minh và khát vọng vươn tới tầm cao của nhân loại, là tấm lòng bao dung, sự dung hợp giữa việc bảo tồn bản sắc riêng của mình với sự thích ứng và tiếp thu những giá trị của các văn hóa khác”.

 

 

Di sản văn hóa tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những vùng miền, những tộc người khác nhau. Sự đa dạng, giàu có của di sản văn hóa Việt Nam không chỉ bởi dân tộc ta đã có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước; không chỉ bởi nước ta hội tụ sự đặc sắc văn hóa của 54 tộc người… mà còn bởi mỗi vùng miền, mỗi tộc người đều cố gắng bảo tồn những sắc thái văn hóa, những truyền thống văn hóa lâu đời của riêng mình để góp chung vào kho tàng di sản văn hóa của dân tộc và nhân loại. Di sản văn hóa của từng tộc người, của cả dân tộc cần được bảo tồn, cần được làm sống dậy tiềm năng to lớn của nó để góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là công việc hết sức cần thiết, hết sức có ý nghĩa, bởi nếu không có giải pháp bảo tồn, phát huy một cách thiết thực, có hiệu quả thì nhiều di sản văn hóa, cả vật thể và phi vật thể, sẽ nhanh chóng bị hủy hoại bởi thời gian, bởi môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, bởi mặt trái của toàn cầu hóa và thị trường hóa…

 

 

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở những quy mô khác nhau Hàng loạt di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được công nhận, tu bổ, tôn tạo; rất nhiều cổ vật, di vật đã được bảo vệ… Các lễ hội truyền thống, liên hoan nghệ thuật dân tộc, diễn xướng, trò chơi dân gian, phong tục, nếp sống đẹp… đã được phục hồi và phát triển. Phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”, toàn dân bảo vệ và phát triển văn hóa đã tạo môi trường lành mạnh, thuận lợi cho công tác giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa cũng như nền văn hóa dân tộc. Những thành tựu này thật sự lớn và đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển văn hóa của Đảng cũng như sức mạnh của Nhà nước, của toàn dân trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa để xây dựng nền văn hóa mới.

 

 

Tuy nhiên, trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc cũng nổi lên một số hiện tượng đáng quan tâm, gây bức xúc trong xã hội. Đó là tình trạng xâm hại, phá hoại di tích; lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đền, chùa; hiện tượng mê tín dị đoan gia tăng; lễ hội truyền thống còn nhiều lộn xộn; việc tổ chức cưới xin, tang lễ còn nhiều hủ tục; lối sống thực dụng gia tăng; đạo đức suy thoái ở một bộ phận cán bộ, nhân dân… Hiện trạng này khiến cho môi trường văn hóa xã hội nói chung, môi trường bảo tồn di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, bền vững. Mặc dù toàn xã hội và ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có nhiều giải pháp ngăn chặn, can thiệp (như xóa bỏ tệ chùa giả, động giả ở Chùa Hương, chấn chỉnh hoạt động lễ hội, khuyến khích cưới xin theo đời sống mới, đẩy mạnh chống tệ nạn mại dâm, ngăn ngừa hoạt động karaoke trái chiều; thu hồi các cổ vật bị đánh cắp, mua bán trái phép…) song, rõ ràng, đây vẫn là những thách thức đặt ra cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

 

 

Để gia tăng mối tương thích giữa bảo tồn di sản và phát triển đất nước, cần phải xử lý hài hòa mối quan hệ tương tác giữa sức ép của toàn cầu hóa trên lĩnh vực văn hóa và nhu cầu bảo vệ di sản văn hóa dân tộc theo hướng vừa tăng cường giao lưu vừa giữ được bản sắc, vừa tận dụng thuận lợi vừa vượt qua thách thức, sao cho văn hóa Việt Nam vừa tham gia vào văn hóa nhân loại như một bộ phận quan trọng vừa tồn tại như một chỉnh thể độc lập, giàu bản sắc. Trong quan hệ này, các yếu tố kế thừa và cách tân, truyền thống và hiện đại, nội sinh và ngoại sinh, giao lưu và tiếp biến văn hóa… cần được nhìn nhận một cách thấu đáo, biện chứng. Đồng thời, cần giữ gìn giá trị di sản văn hóa (sự sáng tạo, phương thức phổ biến, phương tiện, thiết chế, sản phẩm…), trước sự bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ và sự gia tăng nhanh chóng các sản phẩm văn hóa hiện đại. Không giải quyết được vấn đề này, văn hóa truyền thống dễ bị đẩy ra ngoài phạm vi quan tâm của con người, nhất là thế hệ trẻ.

 

 

Bên cạnh những vấn đề mang tính chiến lược, cần thiết chú trọng tới hàng loạt vấn đề khác, mang tính sách lược, như: đổi mới cơ chế và phương thức bảo tồn; chính sách và bộ máy thực hiện, trang bị kinh phí nhiều nguồn, phương tiện công nghệ và đào tạo đội ngũ chuyên gia… Đặc biệt, cần phải tiến hành chương trình tổng kiểm kê di sản văn hóa toàn quốc đồng thời trên cơ sở đó mà nghiên cứu một cách sâu sắc về giá trị của từng nhóm, loại di sản văn hóa để có thể đề ra phương thức tốt nhất trong bảo tồn chúng. Chương trình cấp quốc gia về sưu tầm văn hóa phi vật thể, về tổng kiểm kê di sản văn hóa, về chống xuống cấp và tôn tạo di sản do ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện; chương trình sưu tầm Sử thi Tây Nguyên và một số địa bàn khác do Viện khoa học xã hội thực hiện… là những công việc đúng hướng, có hiệu quả, đáng được trân trọng, đẩy mạnh và mở rộng.

 

 

Di sản văn hóa, bản sắc văn hóa chính là sức mạnh nội sinh tiềm tàng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của một dân tộc. Bảo tồn di sản văn hóa, do vậy, không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mỗi con người.

 

 

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi vấn đề phát triển văn hóa đang gặp những thuận lợi nhưng cũng đứng trước những thách thức, rủi may không nhỏ, thì việc mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi cộng đồng, cả dân tộc… dồn sức cho việc bảo tồn di sản văn hóa phải được xem như một quyền lợi tất nhiên, tiên quyết. Nắm vững quy luật, tìm ra phương thức, hoạch định chiến lược, giải quyết những vấn đề đang nổi cộm, có hệ thống giải pháp, biện pháp cụ thể, hiệu quả… chính là những điều kiện cần và đủ để công tác, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc có được bước phát triển mới thực sự trở thành động lực cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội.

 

 

                                                                                                                                                       Hương Ly

 

 

(Viện Văn hoá – Đại học Văn hoá Hà Nội)

http://www.vhttcs.org.vn/modules.php?name=News&opcase=detailsnews&mid=845&mcid=316&sub=&menuid=

 

WIKIPEDIA : CHẦU VĂN , VIETNAM


Chầu văn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
 

Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ( Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo) , một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn trau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh . Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát văn là cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Vào thời gian này, thường có các cuộc thi hát để chọn người hát cung văn. Từ năm 1954, hát văn dần dần mai một vì hầu đồng bị cấm do bị coi làmê tín dị đoan. Đến đầu những năm 1990, hát văn lại có cơ hội phát triển. Các trung tâm của hát văn là Hà NamNam Định và một số vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Nghệ thuật chầu văn đang được quan tâm bảo tồn và lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể[1]. Hiện tại, Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Hà NamNam Định đã được đưa vào danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam (đợt 1).

Mục lục

 

Phân loại 

Hát văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là hát thờ, hát thi, hát hầu (hát phục vụ hầu đồng, lên đồng ), và hát văn nơi cửa đền:

  • Hát thờ: được hát vào các ngày lễ tiết, những ngày tiệc thánh ( ngài thánh đản sinh, ngày thánh hóa…) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng.
  • Hát hầu, trong hát hầu theo tín ngưỡng tứ phủ thì ba giá tam tòa Thánh Mẫu là bắt buộc và hầu tráng bóng chứ không tung khăn. Các giá tung khăn bắt đầu từ hàng Quan Lớn trở xuống. Trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, người ta có thể kết hợp hầu tứ phủ hoặc hầu riêng, nếu hầu kết hợp với tứ phủ thì thường thỉnh tam tòa Thánh Mẫu đầu tiên, còn nếu hầu riêng thì thỉnh đức Thánh Vương Trần Triều đầu tiên ( các trường hợp cá biệt hầu Vương Phụ An Sinh Vương … thì sẽ hầu trước Đức Thánh Vương Trần Triều).
  • Hát văn nơi cửa đền: thường gặp tại các đền phủ trong những ngày đầu xuân, ngày lễ hội. Các cung văn hát chầu văn phục vụ khách hành hương đi lễ.Thường thì cung văn sẽ hát văn về vị thánh thờ tại đền, và hát theo yêu cầu của khách hành hương. Nhiều khi lời ca tiếng hát được coi như một bài văn khấn nguyện cầu các mong ước của khách hành hương. Một đoạn văn thường hát thí dụ như:
Con đi cầu lộc cầu tài.
Cầu con cầu của gái trai đẹp lòng.
Gia trung nước thuận một dòng.
Thuyền xuôi một bến vợ chồng ấm êm.
Độ cho cầu được ước nên.
Đắc tài sai lộc ấm êm cửa nhà.
Lộc gần cho chí lộc xa.
Lộc tài lộc thọ lộc đà yên vui.

Hầu đồng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt. Trong nghi lễ đó, hát vǎn phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh. Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc này cũng là lúc thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượuthuốc lá, trầu nước v.v. Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cuông (khai quang) cho thanh sạch.

Phần lời của chầu văn 

Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn , song thất lục bát, lục bát, nhất bát song thất ( có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ ) , hát nói…

Người lên đồng luôn phải biết hát văn

Các thí dụ minh họa: – Thể thất ngôn: ( trích đoạn bỉ của văn công đồng )

森森鶴駕從空下

Sâm sâm hạc giá tòng không hạ

顯顯鸞輿滿坐前

Hiển hiển loan dư mãn tọa tiền

不舍威光敷神力

Bất xả uy quang phu thần lực

證明功德量無邊

Chứng minh công đức lượng vô biên

– Thể song thất lục bát: ( Trích văn Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên) Chốn cung tiên mây lồng ánh nguyệt

Cảnh bầu trời gió quyện hương bay

Cửu trùng tọa chín tầng mây

Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung

Gió đông phong hây hây xạ nức

Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai

Dập dìu nơi chốn trang đài

Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang

– Thể lục bát: ( Trích văn Chầu Đệ Nhị ) Trên ngàn gió cuốn rung cây

Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn

Canh khuya nguyệt lặn sao tàn

Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào

Gập ghềnh quán thấp lầu cao

Khi ra núi đỏ lúc nào ngàn xanh

Thượng ngàn Đệ Nhị tối linh

Ngôi cao công chúa quyền hành núi non

Phục trang của người hầu đồng Mẫu Thoải

– Thể song thất nhất bát ( Trích văn Cô Bơ Thoải)

Nhang thơm một triện,trống điểm ba hồi

Đệ tử con, dâng bản văn mời

Dẫn sự tích thoải cung công chúa

Tiền duyên sinh ở:thượng giới tiên cung

Biến hóa lên về Động Đình trung

Thác sinh xuống ,con vua thoải tộc

Điềm trời giáng phúc ,thoang thoảng đưa hương

Mãn nguyệt liền,hoa nở phi phương

Da tựa tuyết ánh hường tươi tốt

– Thể hát nói: ( Trích văn Quan Đệ Nhị ) Nhác trông lên tòa vàng san sát,

Không đâu bằng Phố Cát, Đồi Ngang

Đá lô xô nước chảy làn làn

Điều một thú cỏ hoa như vẽ

Nhạn chiều hôm bay về lẻ tẻ,

Trên sườn non chim sẻ ríu ran.

Nuớc dưới khe tung tính tiếng đàn,

Trên đỉnh núi tùng reo điểm trống

Ngần ngật Sòng Sơn kiêu dĩ lộng

Thanh thanh chi thủy chiếu trần tâm

Sơn chi cao hệ thủy chí thâm

Đây thực chốn non nhân nước trí

Âm nhạc 

Hát văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầu đồng. Lời ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi các vị Thánh về. Hát văn làm cho buổi lễ sống động. Những người hát văn vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu thường kéo dài từ 4-8 tiếng[2]

Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt , trống ban ( trống con), pháchcảnhthanh la, ngoài ra còn sử dụng nhiều nhạc cụ khác như: trống cáisáođàn thập lụcđàn nhịkèn bầuchuôngđàn bầu,…

Thứ tự trình diễn

  • Nghi lễ hát chầu văn lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:
  1. Mời thánh nhập
  2. Kể sự tích và công đức
  3. Xin thánh phù hộ
  4. Đưa tiễn

Bài hát thường chấm dứt với câu: “Thánh giá hồi cung!

Các làn điệu và tiết tấu 

Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách). Loại nhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo.

Hát chầu văn sử dụng nhiều làn điệu ( hay còn gọi là lối hát, cách hát). Người xưa còn gọi làn điệu là cách 格 . Thí dụ như điệu bỉ thì gọi là bỉ cách, điệu dọc thì gọi là dọc cách… Các làn điệu hát văn cơ bản gồm: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú rầu ( phú dầu) , Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn Xá, Kiều Dương, Hãm , Dồn, điệu kiều thỉnh , Hát Sai ( Hành Sai), ngâm thơ. Ngoài ra còn sử dụng nhiều làn điệu khác như hát nói trong ca trù, hát then, hò Huế, hồ quảng, hát canh …..

  • Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để mở đầu cho hình thức hát văn thờ. Thông thường điệu Bỉ đuợc hát trên thể thơ thất ngôn tứ cú ( bốn câu mỗi câu bảy chữ) hoặc thất ngôn bát cú ( tám câu mỗi câu bảy chữ) nhưng cũng có khi điệu này có thể hát trên các thể thơ khác như song thất lục bát, lục bát, song thất nhất bát. Trong các bản sự tích chư thánh được hát thờ thì đoạn bỉ thường là đoạn giới thiệu tóm tắt nội dung chính của cả bản văn. Các đoạn bỉ cũng thường sử dụng nhiều câu đối nhau ( biền ngẫu). Một điều đặc biệt nữa đó là điệu bỉ chỉ có trong hát văn thờ mà tuyệt nhiên không có trong hát văn hầu đồng. Bỉ được lấy theo dây lệch, nhịp theo lối dồn phách.

Các đoạn văn thí dụ : link : http://phucyen.blogspot.com/2011/02/so-luoc-ve-hat-chau-van.html

  • Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong Hầu Bóng. Miễu được lấy theo dây lệch, nhịp đôi.
  • Thổng chỉ dành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba.
  • Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các nam thần. Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3.
  • Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
  • Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và cả trong hầu bóng. Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách.
  • Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi.
  • Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồn phách.
  • Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả (vay của câu trước thì trả lại trong câu sau).
  • Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất – lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú. Nếu hát liền hai câu song thất – lục bát thì gọi là “Dọc gối hạc” hay “Dọc nhị cú”.
  • Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần. Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch (biến hóa).
  • Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôi, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát. Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốn chữ của trổ sau, khi sang một trổ mới thì lại trả lại bốn chữ ấy.
  • Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
  • Xá là một trong những điệu hát quan trọng nhất khi hát văn hầu bóng (cùng với Cờn, Dọc, Phú nói). Điệu Xá đặc trưng cho các giá nữ thần miền thượng.

Ngoài ra hát chầu văn còn có thể mượn các làn điệu nhạc cổ truyền khác như ca trùquan họhò Huế và cả những điệu hát của dân thiểu số[3]

Xen kẽ những đoạn hát là đoạn nhạc không lời, gọi là lưu không.

Thông tin thêm 

Chầu văn cũng được nhắc tới trong các bộ phim và bài hát Việt Nam như trong bài Nghe em câu hát văn chiều nay của nhạc sĩ Nguyễn Cường

Chú thích 

  1. ^ http://hatvan.vn/forum/showthread.php?t=13894
  2. ^ Phần giới thiệu hát văn tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
  3. ^ Đàm Quang Minh & Patrick Kersalé. Viêt-Nam du Nord: Chants de Possession. Paris: Buda Musique, 1995.

Liên kết ngoài 

KHẮC GIANG : NGHỀ CHƠI QUAN HỌ CÓ TINH MỚI TƯỜNG, VIETNAM


Nghề chơi quan họ có tinh mới tường

17/05/2013

“Hát quan họ thì dễ, nhưng để chơi quan họ thì không phải ai cũng làm được”. Đó là chia sẻ của anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là”quan họ” nhất vùng bắc sông Cầu.

Nhà của anh Hiệp nằm sâu tít trong một cái ngõ nhỏ ở giữa Thổ Hà, ngôi làng cổ nằm trong không gian bảo tồn di sản quan họ. Từ ngõ nhà anh đâm thẳng một quãng tầm vài chục mét là ra ngay bờ sông Cầu.
Chẳng biết có phải vì thế hay không, mà những câu hát quê hương đã làm anh say mê ngay lúc còn bé, từ khi nghe các cụ hát quan họ trong những hội hè đình đám thôn quê, “dẫu lúc đó còn chưa hiểu quan họ là gì.”
Anh kể, khi lớn lên, anh đi khắp các hội làng vùng Kinh Bắc để nghe hát và học hát các câu quan họ, rồi tìm đến các cụ nghệ nhân xin “học nghề,” cho đến khi nhập ngũ lên biên giới phía Bắc vào năm 1978 mới thôi.
“Lúc đầu nhiều cụ không nhận, bởi nhìn mình còn trẻ quá, người ta không tin là mình muốn học thật. Nhưng cứ thành tâm thể hiện tấm lòng của mình, thì dần các cụ cũng hiểu và truyền đạt hết cho,” Anh Hiệp nói.
Chính niềm đam mê và lòng khao khát đó đã giúp anh có được một bộ sưu tập những câu hát quan họ cổ thuộc loại độc nhất vô nhị vùng Kinh Bắc, với hơn 200 câu. Từng đó cũng đủ vốn liếng cho anh đi “chơi quan họ” khắp nơi trong khu vực sông Cầu mà không thua kém ai.
“Trong quan họ người ta gọi mỗi bài hát là một câu, người chơi quan họ giỏi thì càng phải biết được nhiều câu. Bởi đến khi hát đấu với “bọn quan họ” khác, nếu anh không tìm tòi, hát đối lại được với bên bạn, thì thua,” Anh Hiệp phân tích.
Quan họ không dễ dãi
Anh Nguyễn Phú Hiệp hiện đang là chủ tịch câu lạc bộ quan họ của làng Thổ Hà, gồm khoảng 30 thành viên. Anh bảo, gọi là câu lạc bộ cho đúng tính Đoàn thể, chứ theo cách gọi của cha ông thì gọi là “bọn quan họ” thôi, “dù cái từ “bọn” bây giờ nghe nó không được lịch sự cho lắm.
Dẫu không được “PR” hình ảnh mạnh như quan họ ở Bắc Ninh, nhưng quan họ Thổ Hà vẫn tự hào là giữ được những nét đặc trưng nhất của giọng hát cha ông từ ngày xưa.
“Chúng tôi trân trọng, không dễ dãi với câu hát. Khi nào hát cũng phải đảm bảo giữ được 80-90% những gì mà các cụ nghệ nhân truyền dạy. Tức là phải phát triển được đúng chất “e giọng” cho từng người, phải đầy đủ vang-rền-nền-nẩy. Thế mới bảo là nghề chơi thì lắm công phu,” Anh Hiệp cười.
Không dễ dãi, cũng có nghĩa là không chiều lòng được tất cả mọi người để biến tấu quan họ sao cho “lọt tai” hơn.
“Chúng tôi yêu quan họ để quan họ yêu chúng tôi. Những khi nào đi hát phục vụ cho bà con hay các sự kiện văn hóa, có ý nghĩa thì kể cả không có thù lao thì chúng tôi cũng đi. Nhưng những nơi nào mà đặt nặng vấn đề tiền nong để bắt chúng tôi hát khác chất quan họ đi, thì mấy cũng từ chối. Thế nên mới nói người ta vừa yêu vừa ghét bọn quan họ Thổ Hà là thế,” Anh Hiệp nói.
Người Thổ Hà vẫn chỉ chơi quan họ, chứ không phải là hát. Chơi là hát bằng cả trái tim, hát để thỏa niềm đam mê, để trút hết nỗi lòng của người quan họ, chứ không phải là để kiếm tiền.
Thế nên ngoài “xuân thu nhị kì,” hai đợt lễ hội chính, thì các liền anh, liền chị vẫn ngồi hát cho nhau nghe vào những đêm trăng thanh gió mát hay lúc nông nhàn. “Quan họ ở đây bình thường như hơi thở, chúng tôi hát chẳng theo định kì logic nào cả,” Anh Hiệp cho biết.
Anh bảo, quan họ để chơi mới hay, nhưng nhiều người cứ không nhận ra điều đó, họ lại thấy quan họ như là một nghề hái ra danh, bóc ra tiền. Thế nên nhiều khi họ làm cho quan họ chẳng còn là quan họ nữa.
Bài hát cổ thì họ tân trang thành nhạc Pop, đủ trống chiêng xập xènh, gọt dũa cho vừa tai khán giả. Hát quan họ là để giao lưu, giao duyên, thì lại bắt trẻ con đi hát xin tiền. Rồi lại cho quan họ đi hát đồng ca, lập kỉ lục này kỉ lục kia. Những người tự nhận là hiểu quan họ rốt cuộc lại đi ngược lại tất cả những truyền thống của quan họ. (Anh Hiệp đang nhắc đến hội Lim ở Bắc Ninh, tổ chức vào tháng 2/2012 vừa qua-phóng viên).
“Tôi rất mừng khi UNESCO công nhận quan họ là di sản văn hóa thế giới, bởi sau đó thì độ lan tỏa của quan họ là rất lớn. Đến nay đã có tới 52 làng được vào danh sách không gian bảo tồn di sản. Nhưng mừng mà lo. Bởi nếu người ta cứ tiếp tục phổ biến, quần chúng hóa quan họ kiểu này, thì trước sau nó cũng trở thành người khổng lồ không xương. To đấy, nhưng cũng dễ sụp, bởi không gìn giữ được cái gốc cốt lõi,” Anh Hiệp chia sẻ.
“Yêu nhau trở lại xuân tình…”
Văn hóa cũng như tình yêu, có lúc thăng lúc trầm, nhưng tựu trung lại nếu tiếp cận bằng trái tim trong sáng, vô tư, thì nó sẽ được trường tồn. Người ta không thể khiến ai đó thích quan họ bằng cách biến nó thành một loại hình nghệ thuật khác, bởi lúc đó quan họ đâu phải là quan họ nữa. Nó chẳng khác nhau đặt bẫy nhau để mà yêu.
“Riêng tôi, tôi vẫn tin có nhiều người yêu quan họ bởi những nét độc đáo riêng của nó, chứ không phải thành thứ này thứ kia,” Anh Hiệp nói.
Anh kể khi còn ở quân ngũ, với dăm chục câu quan họ dắt lưng làm vốn, tha hồ cho anh đi làm công tác dân vận trong đồng bào dân tộc, bởi họ mê quan họ lắm, đặc biệt là người Tày. Vào bản hát quan họ cho đồng bào nghe, lại nghe đồng bào hát những giai điệu của dân tộc mình, tưởng chẳng có sự giao lưu, đoàn kết nào hữu hiệu như bằng tiếng hát.
Quan họ còn theo anh sang tận trời Tây, trong chuyến lưu diễn của đoàn quan họ Bắc Giang ở Pháp phục vụ kiều bào.
“Tôi không dám nhận là hay, nhưng tôi tin đã đển lại ấn tượng tốt cho kiều bào. Khi hát giã bạn rồi, thì cả hội trường vẫn yêu cầu đi ra để họ chào và vỗ tay một lần nữa. Khi đó chúng tôi rất xúc động, nhiều người khóc, và bản thân chúng tôi là những nghệ sĩ cũng không cầm được nước mắt. Chúng tôi lúc đó đã hát bằng tất cả tấm lòng,” Anh Hiệp hồi tưởng về buổi biểu diễn cuối cùng ở Lyon, Pháp.
“Nhiều người bảo với tôi rằng, thanh niên ngày nay chẳng ai còn mê quan họ. Nói thế là không phải. Ở đâu thì tôi không biết, chứ ở Thổ Hà này trai gái tuổi cập kê vẫn còn thích nghe quan họ lắm. Lúc bận đến kì tổ chức hội hát mà chưa thông báo, là tụi nó xúm đến hỏi ngay,” Anh Hiệp cười.
“Chúng nó bảo, nghe các chú hát quan họ, chúng cháu lại thấy…yêu nhau. Tôi nghe mà cũng vui, bởi bọn quan họ chúng tôi vẫn thường nói đùa là hát quan họ là để cho hàng xóm yêu nhau mà.”
Cắt tóc để nuôi quan họ
Dẫu là một liền anh có tiếng tăm nhất vùng Kinh Bắc, anh Hiệp không giàu lên nhờ quan họ. Gia đình ba người của anh sống trong một ngôi nhà gạch đã cũ, đơn sơ với không gian tương đối chật chội. Trong nhà đẹp nhất là bộ áo tứ thân và mấy tấm bằng khen, còn lại chỉ có một cái ti vi 14 inch và một bộ đầu đĩa nho nhỏ. Khách đến chơi ngồi trải chiếu với chủ nhà để uống trà nói chuyện.
So với tiêu chuẩn những ngôi nhà trong làng Thổ Hà tôi đã vào thăm, phải nói là nhà anh nghèo.
Như các gia đình khác trong làng, nhà anh cũng làm bánh đa nem. Anh Hiệp ngoài nghề làm bánh đa ra, còn chịu khó ra ngoài cổng làng cắt tóc kiếm thêm đồng ra đồng vào cho gia đình.
“Tôi chả dấu nghề, nghề cắt tóc của tôi làm đẹp cho đời, tôi lấy nghề cắt tóc để chơi quan họ,” Anh Hiệp giãi bày.
Anh bảo, dạo gần đây cũng có nhiều người mời đi hát, như đi hát đám cưới ấy, nhưng anh không chịu. “Người ta chịu trả một triệu một lần diễn đấy, nhưng tôi thà ở nhà cắt tóc cả ngày lấy 100 nghìn còn hơn. Tôi nói có trả 10 triệu tôi cũng không đi. Tôi không muốn làm mất đi cái tính tự tôn của người chơi quan họ.”
“Xưa cha ông ta đã dạy thế này:
Nghèo tiền nghèo bạc không lo
Nghèo nhân nghèo nghĩa mới cho là nghèo
Người quan họ vun đắp cho mình nhân nghĩa rất là dày, và cả cách sống với nhau sao cho trọn vẹn nữa. Tôi hát quan họ không sợ ai hay cái gì cả, thích thì hát thôi. Không thể vì vài đồng bạc mà làm hỏng cả mình lẫn di sản của cha ông được.”

Khắc Giang

Nguồn:http://m.vietnamnet.vn

 http://www.vietnamheritage.vn/quanho/tinbaiquanho/tabid/124/CTL_URL/view/cateid/341/id/385/language/vi-VN/Default.aspx

NGUYỄN HƯỜNG: NƠI QUAN HỌ, CA TRÙ TỎA SÁNG, VIETNAM


Nơi quan họ, ca trù tỏa sáng

17/05/2013

Trong không khí rộn ràng của ngày hội, nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc, có ý nghĩa đã được các địa phương thể hiện. Để lại nhiều ấn tượng và thu hút sự quan tâm của nhiều người dân là các tiết mục trình diễn Ca trù và dân ca Quan họ tại trại văn hóa mô phỏng theo kiến trúc đình làng cổ.

 Du khách biết về vùng đất Bắc Giang – nơi có nhiều ngôi đình, mái chùa nổi tiếng cổ kính, linh thiêng, đồng thời cũng biết đến một Bắc Giang đậm đà những khúc hát dân ca truyền thống. Xuất phát từ ý nghĩa ấy, trong Ngày hội VHTT&DL các dân tộc tỉnh Bắc Giang vừa diễn ra, Bảo tàng, Trung tâm Văn hóa tỉnh phối hợp tổ chức trình diễn hai di sản văn hóa tiêu biểu của tỉnh đó là dân ca Quan họ và Ca trù. Theo đó, trại văn hóa mô phỏng theo ngôi đình làng với lối kiến trúc cổ, đầu đao cong, đỉnh nóc đình mang biểu tượng “lưỡng long chầu nhật”, hậu cung được bố trí long ngai thờ, phía ngoài là bộ kiệu, hai bên có tòa dải vũ… Không gian cổ kính, đậm chất văn hóa được kết hợp với trình diễn những loại hình nghệ thuật truyền thống, mang đến cho người xem một góc nhìn sâu, rộng hơn về văn hóa Bắc Giang.

 

Cặp hát Phú Hiệp, Đăng Nam làng Thổ Hà trình diễn quan họ tại trại văn hoá.

Dưới ngôi đình trầm mặc, tiết mục mở màn Ca trù do các ca nương, kép đàn và trống chầu đến từ câu lạc bộ (CLB) Ca trù Sông Thương (TP Bắc Giang) thể hiện đã ngân vang những nhịp phách giòn giã, âm sắc trầm đục của đàn đáy, cùng những lời ca luyến láy khiến người xem như lạc vào những năm tháng xa xưa. Lời ca trong bài “Đào hồng, đào tuyết” lắng đọng, lan tỏa và thấm thía: “Hồng hồng tuyết tuyết, mới ngày nào chưa biết cái chi chi, mười lăm năm thấm thoắt có xa gì! Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu. Ngã lãng du thời quân thượng thiếu. Quân kim hứa giá ngã thành ông”… Ca nương Khổng Thị Tiêu (CLB Ca trù Sông Thương) xúc động: “Được biểu diễn ca trù tại ngày hội năm nay là niềm vinh dự lớn của tôi, đồng thời cũng là dịp để tôi mang những nét đẹp của Ca trù đến gần hơn với mọi người, qua đó giới thiệu cho người dân và du khách nét văn hóa đặc trưng của tỉnh nhà”.

Cùng với Ca trù, những làn điệu dân ca Quan họ mượt mà, đằm thắm cất lên từ không gian đình làng được các liền anh, liền chị đến từ các làng Quan họ cổ bờ Bắc sông Cầu thể hiện làm say đắm lòng người. Liền anh Phú Hiệp, làng Quan họ Thổ Hà phấn khởi: “Qua những câu hát trong làn điệu “Tôi là con giai sông Cầu”, chúng tôi muốn du khách nhận diện rõ ràng hơn về những giá trị độc đáo của Quan họ Bắc sông Cầu. Hát giữa không gian đình làng mang đến cho chúng tôi một cảm giác thoải mái, nhưng lại rất trang trọng. Bởi thực chất đó chính là hình thức hát thờ, là nghi thức hát đầu tiên mỗi khi làng mở hội với câu rằng: “Chúc mừng thượng đẳng tối linh. Phù trì dân xã hiển vinh, sang giàu. Trước đình lệ có rồng chầu. Đôi bên quy phượng tựa màu non hiên. Trong đình có động bát tiên. Có hai quan đám có quyền có danh. Chúc mừng nữ tú, nam thanh”…Cùng với đó, những làn điệu Quan họ mượt mà, duyên dáng được thể hiện trong các bài “Nguyệt gác mái đình”; “Tuấn Khanh”; “Chè Mạn Hảo”; “Đào Nguyên”; “Lên núi Ba Vì”… cuốn hút mọi người cùng thưởng thức, hòa mình vào không gian văn hóa Quan họ. Là một trong những người dân đến thưởng thức nghệ thuật Ca trù, Quan họ trong không gian văn hoá đình làng cổ, bà Nguyễn Thị Vân, 48 tuổi, phường Lê Lợi (TP Bắc Giang) cho biết: “Đã nhiều lần được nghe Ca trù và Quan họ trên truyền hình, tuy nhiên đây là lần đầu tiên tôi được trực tiếp nghe hát tại không gian đình làng. Dù chỉ là mô phỏng song tôi cũng cảm thấy thật thú vị khi được hoà mình vào không gian văn hoá ấy. Nó giúp tôi cảm nhận sâu hơn về văn hoá Bắc Giang, đồng thời thêm yêu mến, tự hào về những nét văn hoá đặc sắc của quê hương mình”.

Ông Vũ Hồng Bàng, Giám đốc Trung tâm Văn hóa tỉnh cho biết: “Khác với những ngày hội lần trước, Quan họ, Ca trù thường được biểu diễn trên thuyền hay ở ngoài trời, đây là năm đầu tiên chúng tôi đưa Quan họ, Ca trù biểu diễn tại trại văn hóa gắn với không gian đình làng Việt. Qua đó người dân sẽ được tiếp cận và hiểu thêm một góc nhìn khác đối với những di sản này. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì trong ngày hội những năm tới”.

Sức sống kỳ diệu của Ca trù và Quan họ một phần nhờ vào những nghệ nhân – những người đang từng ngày giữ “lửa” cho nghệ thuật độc đáo của dân tộc được trường tồn. Ngày hội năm nay, hai di sản này được trình diễn, thu hút sự quan tâm của người dân cho thấy quyết tâm cao của ngành chức năng và người dân trong việc bảo tồn, gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc.
 

Nguyễn Hưởng

Nguồn:http://baobacgiang.com.vn

http://www.vietnamheritage.vn/quanho/tinbaiquanho/tabid/124/CTL_URL/view/cateid/341/id/386/language/vi-VN/Default.aspx

NGÔ VĂN TRỤ : LỀ LỐI HÁT QUAN HỌ, VIETNAM


Lề lối hát quan họ

23/05/2013

Ngày 30/9/2009, UNESCO Quyết định công nhận Quan họ là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là điều đáng vui mừng của người dân xứ Kinh Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh) nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Nhân dịp này, tôi xin nêu ra trong bài viết một phần quan trọng trong phong tục, đó là “Lề lối hát Quan họ” để chúng ta tiếp tục duy trì và phát huy: Đó là hát đối, hát canh, hát hội, hát thờ, hát cầu đảo, hát giải hạn, hát mừng và hát kết chạ.

Cũng như nhiều loại hình dân ca khác, hát Quan họ cũng có luật lệ, lề lối: đối đáp nam-nữ, đối giọng, đối lời và hát đối giữa đôi nam-đôi nữ. Đối nam-nữ bao giờ nữ cũng được hát trước một bài, sau đó bên nam đối lại, cứ thế kéo dài hết canh hát (nếu là canh thi thì bên nào không đối được tức là bên ấy bị thua). Khi đối phải tuân thủ trước tiên là đối giọng, tức là bên nữ hát có làn điệu âm nhạc nào, thì bên nam phải đối giọng theo làn điệu âm nhạc ấy. Còn đối lời, khác với đối giọng ở chỗ, đối giọng thuộc lĩnh vực âm nhạc, còn đối lời thuộc lĩnh vực đối thơ ca. Ví dụ: nếu bên hát trước ra một lời ca nào (một bài hay một đoạn thơ) thì bên đối sau cũng phải sử dụng cả làn điệu âm nhạc phải thế nhưng lời ca như khác, nhưng phải thể hiện được việc đối có tình, có ý để đối lại với bên vừa đối.

Hát đối nam nữ, đối cả giọng lẫn lời được coi là đối đáp hoàn chỉnh. Hát đối Quan họ thường thể hiện ở bậc cao vì âm nhạc và lời đều đòi hỏi sự sáng tạo và nâng cao dần của người hát đối về vốn âm nhạc, thơ ca, trình độ sáng tạo và kỹ năng, nghệ thuật hát.

Người Quan họ hát canh thường tổ chức vào mùa lễ hội (xuân, thu nhị kỳ) tức là khi làng mở hội, đình vào đám. Giữa Quan họ nam và nữ ở các làng khác nhau họ mời nhau đến nhà ca một canh để chúc phúc nhau và cho vui làng, vui xóm, tình nghĩa bầu bạn gần gũi nhau hơn. Như xưa một canh hát thường kéo dài từ 19-20h tối đến 2-3h sáng.

Khi bắt đầu vào hát, nếu một bên là Quan họ khách là (nam hoặc nữ) thì bên Quan họ chủ phải là (nữ hoặc nam) có nghĩa khách là nam thì chủ phải là nữ và ngược lại. Đầu tiên là họ hát những bài “lề lối” giọng cổ. Xưa kia thường hát tới 36 giọng. Sau năm 1945, các giọng hát chỉ còn 5-6 giọng mà thôi. Đó là các giọng thường gặp như: la rằng, hừ la, đường bạn, tình tang, cái ả, cây gạo…các giọng này theo lời cổ thường hát chậm rãi, vang, rền, nền, nẩy, đặc trưng cho lối hát Quan họ truyền thống. Đây là chặng hát bắt buộc với lề luật rất nghiêm ngặt.

Sau những bài bắt buộc của giai đoạn đầu thì họ hát đến giọng vặt. Hát giọng vặt không phải theo trình tự bắt buộc. Nhưng hát theo lề lối cũ, các bài giọng vặt đã đậm đà hơn, tình nghĩa gắn bó hơn nên càng hát lời ca bay bổng, càng đậm đà nghĩa tình của người Quan họ, thể hiện nỗi nhớ mong, thương cảm về cuộc đời, về số phận con người. Họ giãi bày tâm sự bằng nghệ thuật ca, thể hiện sự tài hoa đối đáp giữa hai bên.

Còn chặng cuối thường vào lúc 2-3 giờ sáng, họ mời nhau xôi, rượu, đôi khi có cả tiệc mặn, tiệc ngọt. Nếu có rượu họ dùng chén rượu để mời nhau bằng những lời ca ân nghĩa, thuỷ chung. Sau tuần giầu nước, các giọng mời càng nồng thắm hơn, để rồi khi họ chia tay sẽ hát những lời ca giã bạn. Ở chặng này, Quan họ khách thường hát những câu giã bạn để xin phép chủ ra về và quan họ chủ hát đối bằng những lời ca giữ khách. Khách, chủ trong tâm trạng quyến luyến, bịn rịn, không muốn rời nhau nên cả hai bên thường ca những bài gây xúc động lòng người như: Người ơi người ở đừng về, Tạm biệt từ đây, Chia rẽ đối nơi, Kẻ bắc người nam, con nhện giăng mùng…và họ rùng rằng hẹn nhau đến năm sau bằng câu “Đến hẹn lại lên”.

Khác với hát canh, Hát hội là sinh hoạt văn nghệ bằng lời hát Quan họ ở các hội làng, với không phải chỉ một, hai bọn Quan họ mà nhiều bọn Quan họ nam nữ đến hội và tham gia hội hát. Hát hội thường kéo dài từ đầu tháng giêng cho đến hết tháng 2 âm lịch ở tất cả các hội trong vùng. Họ rủ nhau đi hội làng (như hát sli, lượn của người Tày, Nùng), họ đi hát để gặp bầu, gặp bạn, vui xuân, vui hội, cầu may, cầu phúc. Ở hát hội cũng có các điệu hát như hát vui, hát thi. Hát vui có ở hội Lim, hội Nếnh, hội Thổ Hà… Những năm hội đông vui, mưa thuận, gió hoà hay được mùa thì có tới hàng trăm bọn quan họ kéo về dự hội và ca hát. Trong hội, có thể là đôi bọn Quan họ đã kết bạn mời một nhóm khác để giao lưu, mở rộng đường đi lại và học hỏi nhau. Cũng có khi là Quan họ nhớn (anh nhớn, chị nhớn) dẫn bọn Quan họ bé của mình đến hội và tìm bạn Quan họ bé ở làng khác để các em được gặp nhau, giao lưu học hỏi cho bằng anh, bằng chị. Người Quan họ gọi những cuộc hát giao lưu ấy là hát vui, mà ca vui chưa cần đến lề luật như hát thi, hát canh. Những cuộc hát này không cần phải đối giọng, đối lời như hát canh, mà thường chỉ cần đối ý, đối lời để khi ca mọi người đều thấy được cái tình, cái ý giao hoà cùng nhau. Và như vậy khi hát vui người ta không bắt buộc phải có chặng “lề lối” mà đi ngay vào giọng vặt. Khi tan hội, bọn Quan họ cùng dùng dằng giã bạn và ca những câu thể hiện tình nghĩa gắn bó, nỗi buồn man mác khi phải chia ly.

Ở hội cũng có hát thi, nhưng không phải hội nào quan họ cũng tổ chức hát thi. Năm nào làng tổ chức hội to, Quan họ sở tại xin phép làng cho mời Quan họ làng bạn về hát thi. Khi ấy, làng có Quan họ phải chọn được một bọn Quan họ của làng đứng ra giữ giải, để Quan họ làng khác đến hát thi và phá giải. Cũng có khi ở một làng nào đó không có nhóm Quan họ nhưng làng mở hội muốn cho vui thì cũng có thể tổ chức thi quan họ và mời các làng Quan họ về dự. Khi ấy họ có thể mời một nhóm Quan họ bạn ở nơi khác về giữ giải để các làng Quan họ đến dự hội hát thi, giật giải.

Còn Quan họ hát lễ thờ, hội thường sắm giầu, cau, hương, nến, hoa quả để ra đình làm lễ thánh. Nhóm này thường có cả nam và nữ. Khi họ dâng lễ ở đình làng có hội thường được các bậc cao niên, bô lão… của làng tiếp đón rất trân trọng. Mặc dù xưa kia, con gái không được lễ đình nhưng đối với bọn Quan họ thì dân làng đồng ý và rất tôn trọng họ. Sau lễ họ thường hát một số bài để chúc thánh, chúc dân “người an, vật thịnh, lộc, thọ, khang, ninh”, rồi mới ra hát vui ở hội và hát canh ở nhà.

Cũng như hát lễ thờ, Quan họ giống người dân vùng lúa nước, họ tin rằng có thánh, có trời phù hộ để âm dương hoà hợp giữa đất trời và con người vì vậy họ tổ chức hát cầu đảo để cầu mong thánh thần, đất trời phù hộ. Hát cầu đảo thường chỉ có Quan họ nữ. Khi hát cầu đảo quan họ phải giữ chay tịnh, họ đến ăn ngủ ở đền trước 2-3 ngày đêm. Những bài hát cầu đảo thường là có nội dung cầu cho mưa thuận, gió hoà, cho mùa màng tươi tốt, người an, vật thịnh.

Hát giải hạn là do người xưa thường tin vào số mệnh, nếu gặp điều gì không may thì phải giải hạn. Khi cúng lễ giải hạn người dân vùng quan họ thường mời một số bạn Quan họ ( cả nam và nữ) đến nhà ca một đêm, và cho rằng như vậy, thì cái hạn sẽ qua đi và niềm vui sẽ đến. Hát giải hạn thường theo với điệu la rằng. Họ cũng hát đối, bên trước hát bài nào thì bên sau hát làn điệu ấy nhưng phải khác lối để đối lại, thường là những bài có nội dung vui vẻ, gắn bó, ước hẹn, thề nguyền…Khi giã bạn, họ chúc cho chủ nhà may mắn, bình yên, phúc đến nhà, hoạ ra đi… và gia chủ thường biếu lộc thánh nhóm quan họ.

Ngược lại với hát giải hạn là hát mừng. Ngày trước khi khánh thành nhà, mừng con đỗ đạt, khao lão, mừng thọ…. họ thường tổ chức ăn mừng. Trong ngày này gia chủ có tổ chức hát Quan họ. Khi hát mừng cũng như hát giải hạn họ không cần hát theo lề lối, nghi thức nhưng phải có Quan họ nam và Quan họ nữ, có hát đối đáp nhưng chỉ ca giọng vặt. Bài ca có nội dung chúc mừng, ca ngợi ân sâu, nghĩa nặng, tình cảm gắn bó keo sơn. Không khí hát phải vui nhộn nhiều tiếng cười, tiếng hát vui mừng để chúc cho gia chủ…

Hát kết chạ là hát khi hai làng kết nghĩa “chạ anh, chạ em”. Trước khi đến chạ anh (hoặc chạ em) dự hội thì các cuộc tiếp chạ anh hoặc chạ em) được diễn ra ở đình. Cùng với việc tiến hành các nghi lễ đón tiếp, tế lễ thường sẽ có cuộc hát giữa Quan họ nam, nữ giữa 2 chạ ở đình trước sự chứng kiến của dân làng. Khi hát ở đình thường là hát điệu la rằng sau đó là cuộc hát đối đáp (giọng vặt). Cuộc hát này thường chạ anh, chạ em trổ hết tài nghệ thuật trình diễn của mình song không có sự phân định thắng thua. Sau cuộc hát này, họ mới ra hát hội.

Như vậy, trong thời gian tới việc chỉ đạo phục hồi lề lối hát Quan họ ở các làng là việc làm vô cùng quan trọng, nhất là đối với các nghệ nhân phải tích cực truyền dạy cho thế hệ tiếp theo không chỉ lề lối và phong tục mà phải bảo tồn va phát huy tổng thể văn hoá Quan họ… đã được UNESCO giao trọng trách lớn lao này./.

Ngô Văn Trụ
Nguồn:http://www.vanhoabacgiang.vn

 http://www.vietnamheritage.vn/quanho/tinbaiquanho/tabid/124/CTL_URL/view/cateid/341/id/382/language/vi-VN/Default.aspx

CHẮP NHỮNG “MẢNH VỠ” CỦA QUAN HỌ CỔ, VIETNAM


CHẮP NHỮNG “MẢNH VỠ” CỦA QUAN HỌ CỔ

23/05/2013

 Di sản quan họ hiện được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ VH-TT-DL lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Tháng 9.2009, UNESCO sẽ có thông báo chính thức về việc công nhận hay không loại hình di sản này. Nhưng làm gì để loại hình nghệ thuật này vẫn giữ nguyên tinh hoa của nó?

Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền (Viện Văn hóa – Thông tin) cùng Câu lạc bộ quan họ làng Đặng Xá (Bắc Ninh) đang thử nghiệm bảo tồn không gian văn hóa quan họ bằng mô hình “lấy quan họ nuôi quan họ”. Cuộc thử nghiệm đầu tiên đã diễn ra vào cuối tuần qua tại Đặng Xá. Ông gọi cuộc thử nghiệm này là “chắp nhặt những mảnh vỡ quan họ cổ”, thực chất là tour du lịch dành cho những người yêu thích quan họ cổ, bao gồm: tham quan các di sản vật thể, phi vật thể liên quan đến lịch sử dân ca quan họ Bắc Ninh, thưởng thức ẩm thực truyền thống xứ Kinh Bắc, giao đãi bằng trầu têm cánh phượng theo cách của người quan họ, và cuối cùng là nghe một canh hát quan họ cổ không có đệm đàn, với các giọng lề lối, giọng vặt… Trong đó, nghệ nhân tham gia diễn xướng đều là các liền anh liền chị không chuyên của làng Đặng Xá, chứ không phải là các diễn viên, văn công chuyên nghiệp.

“Sở dĩ như vậy là vì chúng tôi muốn bảo tồn không gian quan họ làng, tức quan họ cổ, chứ không phải là quan họ đã được sân khấu hóa”, ông Hiền nói. Nhà nghiên cứu này đã “sốc” khi chứng kiến các liền anh liền chị hát trên những chiếc thuyền tôn và ngửa nón xin tiền. Vì vậy, tổ chức cho các nghệ nhân nghiệp dư diễn xướng trong không gian công cộng, kết hợp văn hóa với du lịch, “lấy quan họ để nuôi quan họ” là một trong những biện pháp “cứu” quan họ trước khi nó vĩnh viễn biến mất.

Thật ra, từ trước đến nay, việc bảo tồn các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, gồm cả quan họ, đã được Nhà nước quan tâm. Nhưng không phải cứ rót thật nhiều tiền là giải quyết được mọi khúc mắc. Bởi lẽ, cần phải có sự hiểu biết để bảo tồn đúng cách, đúng bài bản. Đã có rất nhiều cách bảo tồn được đặt ra đối với di sản quan họ. Thậm chí, “sân khấu hóa”, chuyên nghiệp hóa cũng được coi là một xu hướng, mặc cho các nhà nghiên cứu tâm huyết ra sức phản đối. Mô hình bảo tồn tốt nhất mà UNESCO đề xướng là bảo tồn trong cộng đồng, trong chính môi trường diễn xướng của loại hình nghệ thuật dân gian đó. Và, hơn ai hết, chính cộng đồng sở hữu di sản phải ý thức được giá trị sản phẩm văn hóa của mình, để rồi gìn giữ nó, phát huy nhân rộng nó. “Còn bảo tồn như cách làm hiện nay là xuân thu nhị kỳ, Nhà nước rót tiền đầu tư, rót kinh phí thực hiện các dự án nghiên cứu sưu tầm nhưng nghiên cứu xong, sưu tầm xong thì băng đĩa, tư liệu cất kho, khiến cho di sản bị đông cứng”, nhà nghiên cứu Phạm Đức Hân (Viện Bảo tồn di tích) bức xúc.

Sức hấp dẫn của dân ca quan họ là ở sự rung động, sự phản ứng trực tiếp của người nghe và người xem ngay trong lúc những liền anh liền chị tiếp khách và say sưa ca hát, đặc biệt khi tiếng hát này mang tính chất ứng tác. Ở đây, người sáng tác cũng đồng thời đóng vai trò của người biểu diễn, người thưởng thức, và người phê bình nghệ thuật. Vì thế, tác động thẩm mỹ của loại hình diễn xướng dân gian này sẽ giảm sút hẳn đi nếu nó được cảm thụ qua sách báo, màn ảnh, đĩa hát hoặc băng ghi âm. Do vậy, bảo tồn theo cách kết hợp với du lịch, “lấy mỡ nó rán nó” và do chính cộng đồng tổ chức là một mô hình cần khuyến khích. Điều đáng nói, bảo tồn giá trị văn hóa cổ truyền trước sự mai một trong đời sống hiện đại không chỉ là câu chuyện của quan họ, mà còn là câu chuyện của rất nhiều loại hình di sản phi vật thể khác, như diễn xướng cồng chiêng, hát kể sử thi, ca trù… Thực tế cho thấy, không chỉ quan họ mà không gian diễn xướng cồng chiêng Tây Nguyên, diễn xướng sử thi cũng bị mai một là do không chịu nổi sức ép thương mại. Không thể phủ nhận giá trị kinh tế của một sản phẩm văn hóa. Thế nhưng, mấu chốt vấn đề nằm ở chỗ: cách thức bảo tồn, khai thác sản phẩm văn hóa đó như thế nào để nó vừa sinh lợi lại vừa không bị méo mó, dị dạng.

Như vậy, phục hồi quan họ theo lối cổ sẽ gặp không ít khó khăn vì quan họ là loại hình diễn xướng tập thể, luôn luôn biến đổi và có vô vàn biến thể. Thôi thì, thay vì nêu ra những cảnh báo chung chung về các nguy cơ, hãy tranh thủ những ưu thế của cơ chế thị trường để vừa khích lệ người Kinh Bắc giữ gìn, phát huy quan họ vừa tạo điều kiện cho họ được hưởng lợi từ chính di sản của mình!

Quan họ là nghệ thuật dân gian, có đầy đủ tính truyền miệng, tính tập thể, tính truyền thống và tính sáng tạo, với sự tham gia chỉnh lý, cải biên của nhiều người, ở nhiều nơi, qua nhiều thế hệ trước sau, do đó mà có nhiều dị bản. Những dị bản trong dân ca quan họ không phải chỉ có sự khác nhau về lời ca, về giai điệu âm nhạc, mà còn khác nhau về thang âm, tiết tấu, bố cục và thủ pháp sáng tạo. Chính nghệ nhân cũng có những cách hát khác nhau qua những thời kỳ khác nhau. Tùy thuộc tình cảm, tâm lý, sức khỏe mà cách lấy hơi và phát âm cũng khác nhau…

http://www.vietnamheritage.vn/quanho/tinbaiquanho/tabid/124/CTL_URL/view/cateid/341/id/417/language/vi-VN/Default.aspx

THÙY DƯƠNG : THƠ VỀ QUAN HỌ, VIETNAM


THƠ VỀ QUAN HỌ

23/05/2013

Em đi khắp bốn phương trời
Không đâu thanh lịch bằng người ở đây

Bay xa và đọng lại. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn quan họ. Đọng lại trong mỗi trái tim con người, đốt trong tâm hồn con người lòng tin yêu, tình nghĩa thuỷ chung.

Không biết câu ca ấy là của người tỉnh khác nói về cái lịch sự của con người vùng quê Kinh Bắc hay là người của vùng quê Kinh Bắc tự hào về chính quê hương mình. Những mùa xuân xưa về Kinh Bắc, ở Kinh Bắc, nhất là hội quan họ, mới thấy hết cái hay, cái đẹp của “người ở đây” như chính lời quan họ. Chính vẻ đẹp tổng thể của quan họ đã neo giữ tâm hồn bao người của nhiều thế hệ.

Vẻ đẹp ấy, trước hết là quê cảnh, là phong tục, lề lối của quan họ mà ở đó thơ đã có những nét chấm phá rất đẹp. Bài thơ Làng Quan họ của Nguyễn Phan Hách gần với nhạc, đã được phổ nhạc, một phần chính là đã tả được cái làng Quan họ, từ quê cảnh đến lề lối phong tục đẹp đẽ ấy:

Làng quan họ quê tôi
Tháng giêng mùa hát hội
Áo nâu ướp hương trầm
Nón thúng quai thao rủ
Buông dài nếp xống thâm…

Cái “làng quê như cổ thi” ấy, có nhà thơ tìm về:
Con đường làng lát gạch
Dãy ao tím hoa chiều
Một đời không quên được
Bóng tre trùm cầu ao!

Vẫn Nguyễn Phan Hách, ở một bài thơ khác lại miêu tả cái duyên dáng của “liền chị” Quan họ:

Em đi trẩy hội làng quan họ
Áo the năm sắc nón ba tầm
Khăn xanh thêu rí nghiêng đầu đội
Môi cười cắn chỉ mắt lá răm
Em đứng chờ ai sau quán đá
Tìm trong dải yếm trắng khẩu giầu
– Hát với tôi vài canh quan họ
Cho mầu vôi đỏ quện say cau

Phải chăng ở đây cái cảm của tâm hồn nghệ sĩ dường như đã trùng với con mắt của nhà dân tộc học! Phải là người có nhiều điều kiện tiếp cận với những “anh hai, chị hai” và những ngày hội quan họ mới có cái cảm, cái tả rõ ràng mà vẫn thơ đến thế!
Trong ngày hội, bao giờ cũng có cái thơm thảo nhụy nhàng của trầu cau quan họ:

Hương ngâu ướp miếng trầu mời
Trông ngày đón bạn ủ cơi trầu vàng
Cái duyên thơm thảo nhuỵ nhàng
Nết na đẹp cả hội làng tay đưa…

(Ngô Viết Dinh)

Cau sáu bổ làm ba đưa tặng
Nặng yêu rồi không lẽ bổ đôi

(Huy Phách)

Điều đáng quan tâm là tiếng hát quan họ luôn là tiếng hát lạc quan, tiếng hát của tuổi thanh xuân. Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, quan họ cũng xông pha lửa đạn, quan họ cũng tới chiến trường, bên những người lính, hoà cùng tiếng súng của những người lính đánh giặc:

Bao nhiêu người đã hát
Bây giờ lại đến em
Bao nhiêu người hồi hộp
Bây giờ lại đến anh…

Tiếng em hát: Người ơi
Người thương nhau mãi mãi
Tiếng em hát: Đò ơi
Sông đưa đò gần lại
Tiếng em hát: Cây ơi
Cây nhú thêm mầm mới…
Giữ em chẳng được nào
Hẹn em ngày thắng Mỹ

( Phạm Tiến Duật)

Tiếng hát quan họ từng bay đến với Paris, thủ đô của nước Pháp hoa lệ, làm tăng thêm sự đồng cảm của nhân dân Pháp với cuộc chiến tranh chính nghĩa giải phóng dân tộc của chúng ta.

Ôi tiếng hát đêm nay, tiếng hát
Tiếng quê nhà, tiếng mẹ thân yêu…

(Hoàng Minh Châu)

Bay xa và đọng lại. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn quan họ. Đọng lại trong mỗi trái tim con người, đốt trong tâm hồn con người lòng tin yêu, tình nghĩa thuỷ chung.
Tiếng hát bay xa, tiếng hát lại gần. Lại về với chính quê hương “một làn nắng cũng mang điệu dân ca”.
Là tiếng hát của muôn đời yêu thương tình nghĩa, quan họ mãi mãi mang lại niềm vui cho con người và con người trân trọng vẻ đẹp quan họ, gìn giữ cho quan họ ngày càng phát triển:
Mà nên áo thắm khăn điều
Mà nên thương nhớ nên yêu một đời
Mái chùa cong ánh trăng ngời
Chờ nhau bèo dạt mây trôi còn chờ…

Mấy mùa trăng mấy mùa thơ
Mấy mùa thương nhớ mấy mùa nắng nôi
Đạn bom xé đất xé trời
Mà sao tiếng hát muôn đời vẫ n trong
Như hàng cây như dòng sông
Như bao chờ đợi ước mong con người
(Ý Nhi)

Thuỳ Dương

Quan họ – “tiếng hát muôn đời vẫn trong” ấy sẽ mãi trường tồn cùng con người và Tổ quốc thân yêu ./.
Nguồn: http://www.vanhoabacgiang.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1925:th-v-quan-h&catid=61:hot-ng-vn-hoa&Itemid=49