NGÔ VĂN TRỤ : LỀ LỐI HÁT QUAN HỌ, VIETNAM


Lề lối hát quan họ

23/05/2013

Ngày 30/9/2009, UNESCO Quyết định công nhận Quan họ là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là điều đáng vui mừng của người dân xứ Kinh Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh) nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Nhân dịp này, tôi xin nêu ra trong bài viết một phần quan trọng trong phong tục, đó là “Lề lối hát Quan họ” để chúng ta tiếp tục duy trì và phát huy: Đó là hát đối, hát canh, hát hội, hát thờ, hát cầu đảo, hát giải hạn, hát mừng và hát kết chạ.

Cũng như nhiều loại hình dân ca khác, hát Quan họ cũng có luật lệ, lề lối: đối đáp nam-nữ, đối giọng, đối lời và hát đối giữa đôi nam-đôi nữ. Đối nam-nữ bao giờ nữ cũng được hát trước một bài, sau đó bên nam đối lại, cứ thế kéo dài hết canh hát (nếu là canh thi thì bên nào không đối được tức là bên ấy bị thua). Khi đối phải tuân thủ trước tiên là đối giọng, tức là bên nữ hát có làn điệu âm nhạc nào, thì bên nam phải đối giọng theo làn điệu âm nhạc ấy. Còn đối lời, khác với đối giọng ở chỗ, đối giọng thuộc lĩnh vực âm nhạc, còn đối lời thuộc lĩnh vực đối thơ ca. Ví dụ: nếu bên hát trước ra một lời ca nào (một bài hay một đoạn thơ) thì bên đối sau cũng phải sử dụng cả làn điệu âm nhạc phải thế nhưng lời ca như khác, nhưng phải thể hiện được việc đối có tình, có ý để đối lại với bên vừa đối.

Hát đối nam nữ, đối cả giọng lẫn lời được coi là đối đáp hoàn chỉnh. Hát đối Quan họ thường thể hiện ở bậc cao vì âm nhạc và lời đều đòi hỏi sự sáng tạo và nâng cao dần của người hát đối về vốn âm nhạc, thơ ca, trình độ sáng tạo và kỹ năng, nghệ thuật hát.

Người Quan họ hát canh thường tổ chức vào mùa lễ hội (xuân, thu nhị kỳ) tức là khi làng mở hội, đình vào đám. Giữa Quan họ nam và nữ ở các làng khác nhau họ mời nhau đến nhà ca một canh để chúc phúc nhau và cho vui làng, vui xóm, tình nghĩa bầu bạn gần gũi nhau hơn. Như xưa một canh hát thường kéo dài từ 19-20h tối đến 2-3h sáng.

Khi bắt đầu vào hát, nếu một bên là Quan họ khách là (nam hoặc nữ) thì bên Quan họ chủ phải là (nữ hoặc nam) có nghĩa khách là nam thì chủ phải là nữ và ngược lại. Đầu tiên là họ hát những bài “lề lối” giọng cổ. Xưa kia thường hát tới 36 giọng. Sau năm 1945, các giọng hát chỉ còn 5-6 giọng mà thôi. Đó là các giọng thường gặp như: la rằng, hừ la, đường bạn, tình tang, cái ả, cây gạo…các giọng này theo lời cổ thường hát chậm rãi, vang, rền, nền, nẩy, đặc trưng cho lối hát Quan họ truyền thống. Đây là chặng hát bắt buộc với lề luật rất nghiêm ngặt.

Sau những bài bắt buộc của giai đoạn đầu thì họ hát đến giọng vặt. Hát giọng vặt không phải theo trình tự bắt buộc. Nhưng hát theo lề lối cũ, các bài giọng vặt đã đậm đà hơn, tình nghĩa gắn bó hơn nên càng hát lời ca bay bổng, càng đậm đà nghĩa tình của người Quan họ, thể hiện nỗi nhớ mong, thương cảm về cuộc đời, về số phận con người. Họ giãi bày tâm sự bằng nghệ thuật ca, thể hiện sự tài hoa đối đáp giữa hai bên.

Còn chặng cuối thường vào lúc 2-3 giờ sáng, họ mời nhau xôi, rượu, đôi khi có cả tiệc mặn, tiệc ngọt. Nếu có rượu họ dùng chén rượu để mời nhau bằng những lời ca ân nghĩa, thuỷ chung. Sau tuần giầu nước, các giọng mời càng nồng thắm hơn, để rồi khi họ chia tay sẽ hát những lời ca giã bạn. Ở chặng này, Quan họ khách thường hát những câu giã bạn để xin phép chủ ra về và quan họ chủ hát đối bằng những lời ca giữ khách. Khách, chủ trong tâm trạng quyến luyến, bịn rịn, không muốn rời nhau nên cả hai bên thường ca những bài gây xúc động lòng người như: Người ơi người ở đừng về, Tạm biệt từ đây, Chia rẽ đối nơi, Kẻ bắc người nam, con nhện giăng mùng…và họ rùng rằng hẹn nhau đến năm sau bằng câu “Đến hẹn lại lên”.

Khác với hát canh, Hát hội là sinh hoạt văn nghệ bằng lời hát Quan họ ở các hội làng, với không phải chỉ một, hai bọn Quan họ mà nhiều bọn Quan họ nam nữ đến hội và tham gia hội hát. Hát hội thường kéo dài từ đầu tháng giêng cho đến hết tháng 2 âm lịch ở tất cả các hội trong vùng. Họ rủ nhau đi hội làng (như hát sli, lượn của người Tày, Nùng), họ đi hát để gặp bầu, gặp bạn, vui xuân, vui hội, cầu may, cầu phúc. Ở hát hội cũng có các điệu hát như hát vui, hát thi. Hát vui có ở hội Lim, hội Nếnh, hội Thổ Hà… Những năm hội đông vui, mưa thuận, gió hoà hay được mùa thì có tới hàng trăm bọn quan họ kéo về dự hội và ca hát. Trong hội, có thể là đôi bọn Quan họ đã kết bạn mời một nhóm khác để giao lưu, mở rộng đường đi lại và học hỏi nhau. Cũng có khi là Quan họ nhớn (anh nhớn, chị nhớn) dẫn bọn Quan họ bé của mình đến hội và tìm bạn Quan họ bé ở làng khác để các em được gặp nhau, giao lưu học hỏi cho bằng anh, bằng chị. Người Quan họ gọi những cuộc hát giao lưu ấy là hát vui, mà ca vui chưa cần đến lề luật như hát thi, hát canh. Những cuộc hát này không cần phải đối giọng, đối lời như hát canh, mà thường chỉ cần đối ý, đối lời để khi ca mọi người đều thấy được cái tình, cái ý giao hoà cùng nhau. Và như vậy khi hát vui người ta không bắt buộc phải có chặng “lề lối” mà đi ngay vào giọng vặt. Khi tan hội, bọn Quan họ cùng dùng dằng giã bạn và ca những câu thể hiện tình nghĩa gắn bó, nỗi buồn man mác khi phải chia ly.

Ở hội cũng có hát thi, nhưng không phải hội nào quan họ cũng tổ chức hát thi. Năm nào làng tổ chức hội to, Quan họ sở tại xin phép làng cho mời Quan họ làng bạn về hát thi. Khi ấy, làng có Quan họ phải chọn được một bọn Quan họ của làng đứng ra giữ giải, để Quan họ làng khác đến hát thi và phá giải. Cũng có khi ở một làng nào đó không có nhóm Quan họ nhưng làng mở hội muốn cho vui thì cũng có thể tổ chức thi quan họ và mời các làng Quan họ về dự. Khi ấy họ có thể mời một nhóm Quan họ bạn ở nơi khác về giữ giải để các làng Quan họ đến dự hội hát thi, giật giải.

Còn Quan họ hát lễ thờ, hội thường sắm giầu, cau, hương, nến, hoa quả để ra đình làm lễ thánh. Nhóm này thường có cả nam và nữ. Khi họ dâng lễ ở đình làng có hội thường được các bậc cao niên, bô lão… của làng tiếp đón rất trân trọng. Mặc dù xưa kia, con gái không được lễ đình nhưng đối với bọn Quan họ thì dân làng đồng ý và rất tôn trọng họ. Sau lễ họ thường hát một số bài để chúc thánh, chúc dân “người an, vật thịnh, lộc, thọ, khang, ninh”, rồi mới ra hát vui ở hội và hát canh ở nhà.

Cũng như hát lễ thờ, Quan họ giống người dân vùng lúa nước, họ tin rằng có thánh, có trời phù hộ để âm dương hoà hợp giữa đất trời và con người vì vậy họ tổ chức hát cầu đảo để cầu mong thánh thần, đất trời phù hộ. Hát cầu đảo thường chỉ có Quan họ nữ. Khi hát cầu đảo quan họ phải giữ chay tịnh, họ đến ăn ngủ ở đền trước 2-3 ngày đêm. Những bài hát cầu đảo thường là có nội dung cầu cho mưa thuận, gió hoà, cho mùa màng tươi tốt, người an, vật thịnh.

Hát giải hạn là do người xưa thường tin vào số mệnh, nếu gặp điều gì không may thì phải giải hạn. Khi cúng lễ giải hạn người dân vùng quan họ thường mời một số bạn Quan họ ( cả nam và nữ) đến nhà ca một đêm, và cho rằng như vậy, thì cái hạn sẽ qua đi và niềm vui sẽ đến. Hát giải hạn thường theo với điệu la rằng. Họ cũng hát đối, bên trước hát bài nào thì bên sau hát làn điệu ấy nhưng phải khác lối để đối lại, thường là những bài có nội dung vui vẻ, gắn bó, ước hẹn, thề nguyền…Khi giã bạn, họ chúc cho chủ nhà may mắn, bình yên, phúc đến nhà, hoạ ra đi… và gia chủ thường biếu lộc thánh nhóm quan họ.

Ngược lại với hát giải hạn là hát mừng. Ngày trước khi khánh thành nhà, mừng con đỗ đạt, khao lão, mừng thọ…. họ thường tổ chức ăn mừng. Trong ngày này gia chủ có tổ chức hát Quan họ. Khi hát mừng cũng như hát giải hạn họ không cần hát theo lề lối, nghi thức nhưng phải có Quan họ nam và Quan họ nữ, có hát đối đáp nhưng chỉ ca giọng vặt. Bài ca có nội dung chúc mừng, ca ngợi ân sâu, nghĩa nặng, tình cảm gắn bó keo sơn. Không khí hát phải vui nhộn nhiều tiếng cười, tiếng hát vui mừng để chúc cho gia chủ…

Hát kết chạ là hát khi hai làng kết nghĩa “chạ anh, chạ em”. Trước khi đến chạ anh (hoặc chạ em) dự hội thì các cuộc tiếp chạ anh hoặc chạ em) được diễn ra ở đình. Cùng với việc tiến hành các nghi lễ đón tiếp, tế lễ thường sẽ có cuộc hát giữa Quan họ nam, nữ giữa 2 chạ ở đình trước sự chứng kiến của dân làng. Khi hát ở đình thường là hát điệu la rằng sau đó là cuộc hát đối đáp (giọng vặt). Cuộc hát này thường chạ anh, chạ em trổ hết tài nghệ thuật trình diễn của mình song không có sự phân định thắng thua. Sau cuộc hát này, họ mới ra hát hội.

Như vậy, trong thời gian tới việc chỉ đạo phục hồi lề lối hát Quan họ ở các làng là việc làm vô cùng quan trọng, nhất là đối với các nghệ nhân phải tích cực truyền dạy cho thế hệ tiếp theo không chỉ lề lối và phong tục mà phải bảo tồn va phát huy tổng thể văn hoá Quan họ… đã được UNESCO giao trọng trách lớn lao này./.

Ngô Văn Trụ
Nguồn:http://www.vanhoabacgiang.vn

 http://www.vietnamheritage.vn/quanho/tinbaiquanho/tabid/124/CTL_URL/view/cateid/341/id/382/language/vi-VN/Default.aspx

2 thoughts on “NGÔ VĂN TRỤ : LỀ LỐI HÁT QUAN HỌ, VIETNAM

  1. Hi there, just become alert to your blog through Google, and found that it’s truly informative. I am gonna watch out for brussels. I’ll appreciate should you proceed this in future. Many folks shall be benefited from your writing. Cheers!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s