Những Ca Khúc Hay Nhất Của BẰNG KIỀU , VIETNAM


Published on Oct 18, 2012

Những Ca Khúc Hay Nhất Của BẰNG KIỀU
Fan Page BK: http://www.facebook.com/pages/B%C4%83…
Nhung Bai Hat Hay Nhat Cua Bang Kieu
Facebook: http://www.facebook.com/pages/I-Love-…
Các Ca Khúc Trong CLip:
Linh Hồn Đã Mất 0:00
Những Ngày Đẹp Trời 4:41
Trái Tim Bên Lề 9:20
Nơi Tình Yêu Bắt Đầu 14:34
Để Nhớ Một Thời Ta Đã Yêu 19:01
Lối Cũ Ta Về 24:15
Phút Cuối 29:46
Ôi Trái Tim Chỉ Biết Yêu Người 35:07
Lạc Mất Mùa Xuân 41:02
Khoảnh Khắc 46:10
Em Ơi Hà Nội Phố 52:33
Dòng Sông Lơ Đãng 58:10
Những Ca Khúc Hay Nhất Của BẰNG KIỀU
Tên thật: Nguyễn Bằng Kiều
Ngày sinh: 13/07 – Quốc gia: Việt Nam
Công ty đại diện: Ca sĩ Tự Do
Tên: Nguyễn Bằng Kiều
Sinh ngày: 13/07/73
Nơi Sinh: Hà Nội
Tên gọi ở nhà: “Bầu”
Nhạc cụ sử dụng: kèn, guitar, bass, trống, keyboard
Favorite food: Bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc & crawfish
Favorite sport: Đá bóng (soccer)
Favorite color: Màu đen,và xanh da trời
Favorite song: Nhiều lắm
Favorite singer: Michael Jackson và Marc Anthony
Danh sách các ca khúc
1.Trái Tim Bên Lề – Bằng Kiều
2.Để Nhớ Một Thời Ta Đã Yêu – Bằng Kiều
3.Phút Cuối – Bằng Kiều
4.Yêu Thương Mong Manh – Bằng Kiều ft. Minh Tuyết
5.Linh Hồn Đã Mất – Bằng Kiều
6.Mưa Và Em – Bằng Kiều
7.Những Ngày Đẹp Trời – Bằng Kiều
8.Chiếc Lá Cuối Cùng – Bằng Kiều
9.Khoảnh Khắc – Bằng Kiều
10.Em ơi Hà Nội phố – Bằng Kiều
11.Chị Tôi – Bằng Kiều
12.Rồi Mai Thức Giấc – Bằng Kiều
13.Lối Cũ Ta Về – Bằng Kiều
14.Bức Thư Tình Đầu Tiên – Bằng Kiều
15.Giọt Nắng Bên Thềm – Bằng Kiều
16.Buồn Ơi Chào Mi – Bằng Kiều
17.Tình Thôi Xót Xa – Bằng Kiều
18.Đã Biết Khi Yêu – Bằng Kiều
19.Những Ngày Đẹp Trời – Bằng Kiều
20.Anh Sẽ Nhớ Mãi – Bằng Kiều
21.Anh Sẽ Nhớ Mãi – Bằng Kiều
22.Lại Gần Hôn Anh – Bằng Kiều
23.Dấu Tình Sầu – Bằng Kiều
24.Ôi Trái Tim Chỉ Biết Yêu Người – Bằng Kiều
25.Linh Hồn Đã Mất – Bằng Kiều
26.Em Ở Đâu – Bằng Kiều
27.Phượng Hồng – Bằng Kiều
28.Dòng Tin Nhắn – Bằng Kiều
29.Lời Của Gió – Bằng Kiều
30.Phút Cuối – Bằng Kiều
31.Em Là Tất Cả – Bằng Kiều
32.Hạ Trắng – Bằng Kiều
33.Xin Còn Gọi Tên Nhau – Bằng Kiều
34.Đêm Cô Đơn – Bằng Kiều
35.Phôi Pha – Bằng Kiều
36.Lệ Đá – Bằng Kiều
37.Chị Tôi – Bằng Kiều
38.Bản Tình Cuối – Bằng Kiều
39.Kiếp Đam Mê – Bằng Kiều
40.Chia Tay Tình Đầu – Bằng Kiều
41.Ngày Hôm Qua – Bằng Kiều
42.Chuyện Tình Yêu – Bằng Kiều
43.Nửa Hồn Thương Đau – Bằng Kiều
44.Lắng Nghe Mùa Xuân Về – Bằng Kiều
45.Bản Tình Ca Cho Em – Bằng Kiều
46.Về Đi Em – Bằng Kiều
47.Hè Muộn – Bằng Kiều
48.Hát Với Chú Ve Con – Bằng Kiều
49.Thà Như Giọt Mưa – Bằng Kiều
50.Như Cánh Vạc Bay – Bằng Kiều
51.Rong Rêu – Bằng Kiều
52.Biển Nhớ – Bằng Kiều
53.Rồi Mai Tôi Đưa Em – Bằng Kiều
54.Một Lần Nào Cho Tôi Gặp Lại Em – Bằng Kiều
55.Anh Vẫn Biết – Bằng Kiều
56.Người Đi Xa Mãi – Bằng Kiều
57.Một Mai Em Đi – Bằng Kiều
58.Nguyện Ước – Bằng Kiều
59.Mắt Biếc – Bằng Kiều
60.Mơ Về Em – Bằng Kiều
61.Nấc Thang Thiên Đàng – Bằng Kiều
62.Biển Vắng – Bằng Kiều
63.Bài Không Tên Số 2 – Bằng Kiều
64.Bông Hồng Cài Áo – Bằng Kiều
65.Hoang Vắng – Bằng Kiều
66.Đốt Chút Lá Khô – Bằng Kiều
67.Biết Yêu Là Hết Mong Chờ – Bằng Kiều
68.Người Yêu Nếu Ra Đi – Bằng Kiều
69.Mưa Buồn – Bằng Kiều
70.Cơn Gió Thoảng – Bằng Kiều
71.Em Đên Thăm Anh Đêm 30 – Bằng Kiều
72.Nơi Mùa Thu Bắt Đầu – Bằng Kiều
73.Điệu Valse Buồn Cho Em – Bằng Kiều
74.Để Mãi Bên Nhau – Bằng Kiều
75.Vá Lại Tình Tôi – Bằng Kiều
76.Chiếc Lá Thu Phai – Bằng Kiều
77.Còn Yêu Em Mãi – Bằng Kiều
78.Thu Hát Cho Người – Bằng Kiều
79.Giọt Sương Trên Mí Mắt – Bằng Kiều
80.Mùa Thu Biển Gọi – Bằng Kiều
81.Em Đẹp Như Mơ – Bằng Kiều
82.Chuyện Lạ – Bằng Kiều
83.Em Đi Bỏ Mặc Con Đường – Bằng Kiều
84.Xin Đừng Quay Lại – Bằng Kiều
85.Thu Quyến Rũ – Bằng Kiều
86.Buồn Ơi Chào Mi – Bằng Kiều
87.Yêu Em Dật Dờ – Bằng Kiều
88.Hoài Cảm – Bằng Kiều
89.Trái Tim Bụi Đường – Bằng Kiều
90.Có Biết Không Em – Bằng Kiều
91.The Cup Of Life – Bằng Kiều
92.Mùa Thu Chết – Bằng Kiều
Đang cập nhật….

Những Ca Khúc Hay Nhất Của HỒ QUỲNH HƯƠNG, VIETNAM


Published on Oct 29, 2012
Những Ca Khúc Hay Nhất Của HỒ QUỲNH HƯƠNG
Nhung Bai Hat Hay Nhat Cua Ho Quynh Huong
Facebook: http://www.facebook.com/pages/I-Love-…
Các Ca Khúc Có Trong Clip:
1. Anh (St: Xuân Phương)
2. Hoang Mang (St: Võ Hoài Phúc)
3. Tôi Đã Biết Yêu ( St: Duy Mạnh)
4. Căn Phòng Mưa Rơi (St: Hồ Quỳnh Hương)
5. Nuối Tiếc (St: Hồ Hoài Anh)
6. Có Nhau Trọn Đời (St: Đức Trí)
7. Mưa Tình Yêu (St: Trường Hùy)
8. Hãy Quay Về Khi Còn Yêu Nhau ( St: HQ Hương)
9. Bức Thư Tình Thứ 2 (St: Đỗ Bảo)
10. Ước Mơ Trong Đời (St: Đức Trí)
11. Bức Thư Tình Thứ 4 (St: Đỗ Bảo)
12. Honey (St: Hồ Quỳnh Hương)
13. Với Anh Em Vẫn Là Cô Bé ( St: Lương Bằng Quang)

Điệu Ví Dặm Là Em (Clip1). Nhạc: Quốc Nam, Lời thơ Lê Văn, Quốc Nam


Uploaded on Aug 18, 2011
Thưa quý vị và các bạn,

Hò, Ví, Dặm — ba thể loại chính cuả Dân ca đặc sắc Xứ Nghệ đã có từ ngày xửa ngày xưa; bây giờ là Nghệ An và Hà Tĩnh nhưng xưa kia hai tỉnh là một vùng đất có tên là Xứ Nghệ. Những làn điệu Dân ca Xứ Nghệ đã trở thành một thương hiệu và thể hiện một dáng dấp rất riêng trong bản sắc văn hóa của mình. Nhạc sĩ, Nghệ sĩ ưu tú Quốc Nam – Người con của Xứ Nghệ – đã đắm mình trong suốt chặng đường dài với dòng văn nghệ dân gian. Điệu Hò, Hát Ví, Hát Dặm thấm đẫm trong máu thịt của Anh không biết từ bao giờ, để rồi bật ra những chuỗi âm thanh mượt mà, giàu hình tượng. Ca khúc “Điệu Ví Dặm Là Em” của Nhạc sĩ Quốc Nam (lời thơ Lê Văn, Quốc Nam) từ khi ra đời đã được đông đảo khán giả đón nhận. Ca khúc đã được giải của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Trong Chương trình “Tác phẩm mới” hôm nay, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu Ca khúc này qua phần trình bày của Ca sĩ Thanh Nguyên và phần minh họa của Văn Sáu, Bá Phong, Thanh Thúy.

PHƯƠNG THÚY : VÍ GIẶM – TIẾNG HÁT TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH, VIETNAM


VÍ GIẶM – TIẾNG HÁT TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH

Thứ hai, 25/06/2012

Phương Thúy

Vùng đất Nghệ Tĩnh với câu hò Ví, Giặm không biết từ bao giờ đã trở thành tiếng hát tâm tình của người dân lao động nơi đây…

“Trót say câu ví đò đưa
Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời”.

Ai đã từng nghe dân ca Nghệ Tĩnh thì chắc hẳn đều có chung một ấn tượng, đó là ca từ rất bình dị, đậm chất tiếng nói địa phương nhưng lại thể hiện được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng của “cá tính Nghệ Tĩnh”.

ví giặm 

Người Xứ Nghệ dùng câu hát để thay lời muốn nói.

Ví, Giặm là hai thể hát dân gian đặc sắc trong kho tàng dân ca xứ Nghệ. Nếu như mỗi vùng miền đều có giọng nói, tiếng hát của riêng mình thì Ví Giặm Nghệ Tĩnh cũng vì thế mà trở thành tiếng hát tâm tình bao đời nay của người dân lao động nơi đây.

Người xứ Nghệ thường tự hào vì họ yêu hát dân ca, yêu từng câu hò điệu ví. Khi đi cày, khi cắt cỏ, chăn trâu, đi lấy củi trên non hay cả khi ghen tuông dỗi hờn, người ta cũng thường dùng câu hát để thay lời muốn nói. Vì thế mà câu hát ban đầu nghe thô sơ, mộc mạc. Về sau, do  tác động của nhiều yếu tố khác nhau đã hình thành những điệu hát dân ca trữ tình.

Có thể nói, gần như vùng nào ở Nghệ Tĩnh cũng có hát Ví, làng nào cũng có người hát hay, ứng tác giỏi. Chẳng thế mà khi sưu tầm, nghiên cứu, người ta tìm được gần 20 làn điệu Ví mà chính sự phong phú, đa dạng về làng nghề đã làm cho Ví có được khá nhiều làn điệu như thế!

NSND Hồng Lựu – Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ cho biết, người xứ Nghệ có Truyện Kiều, rồi lại có Ví, Giặm. Những giá trị văn hoá ấy đan quyện vào nhau và ngấm vào tâm trí mỗi người từ khi mới lọt lòng. Riêng bản thân chị, ngay từ nhỏ đã gắn bó lời ru tiếng hát của bà, của mẹ qua từng điệu ví, câu hò.

“Từ nhỏ mình đã theo chúng bạn cùng trang lứa học hát dân ca. Lớn lên một chút, khi đi dọc theo triền sông Lam mình thường được nghe các cô các chú hát. Thuyền chèo ngược thuyền chèo xuôi đều có hát Ví. Khi đi củi, đi cắt cỏ hay đi chăn trâu chăn bò, chúng mình thường hát đối đáp qua bên kia sông. Mặc dù có những lúc hát đối đáp giao duyên, cũng có lúc hát nghịch ngợm…nhưng tất cả cứ cho mình lớn dần  lên, lớn dần lên…”.

Không ai biết rõ dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ xuất hiện chính xác từ khi nào, nhưng có một thực tế là nó có mặt trong đời sống người dân lao động từ rất lâu đời.

Nếu như dân ca đồng bằng bắc Bộ gắn liền với văn hoá kinh Bắc thể hiện nét mềm mại, mượt mà, Nam Bộ có những điệu hò sông nước vang vọng thì Ví, Giặm Nghệ Tĩnh lại có lúc ghập ghềnh, khắc khổ như đào sâu vào lòng người.

Bởi lẽ miền đất của gió Lào cát trắng quanh năm hết mùa hạ nắng cháy da, lại sang mùa đông buốt giá. Do vậy, tiếng hát của người Nghệ Tĩnh cũng tâm tình, thổn thức nhưng cũng đầy lạc quan sắt đá.

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng, dân ca, âm nhạc bắt nguồn từ con người, từ những vùng đất. Vùng đất khác nhau thì dân ca khác nhau. Ấn tượng của dân ca Nghệ Tĩnh là sâu lắng, nhiều lúc khắc khổ ghập ghềnh nhưng tình cảm lại lắng sâu, giàu chất trữ tình. Nếu nghe được những điệu hò lao động trong dân ca xứ Nghệ thì thấy được niềm lạc quan mạnh mẽ. Ví dụ trong “Hò kéo gỗ”, “Hò đẩy thuyền”…đều hiện lên tính cách con người xứ Nghệ: Tuy vất vả, cực nhọc nhưng lại đầy lạc quan.

Ở Nghệ Tĩnh, Ví, Giặm sống trong lòng nhân dân, trong phong trào văn nghệ quần chúng, trong trường học với các giờ học hát dân ca…. Không những thế, Ví Giặm còn đến với những người con xa xứ qua làn sóng phát thanh, truyền hình, qua đĩa hát- món quà của người thân nơi quê nhà gửi tặng.

Họ không chỉ được tiếp xúc với những làn điệu Ví Giặm nguyên gốc mà còn được nghe những bài ca đi cùng năm tháng như: “Xa khơi” của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ,  “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác”, “Ca dao em và tôi” của nhạc sĩ An Thuyên, “Khúc hát sông quê” của Nguyễn Trọng Tạo…Trong số các nhạc sĩ ấy, có thể có người không sinh ra và lớn lên ở vùng quê xứ Nghệ nhưng đã thụ hưởng thành công những làn điệu dân ca và đưa vào sáng tác âm nhạc.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, tác giả của “Xa khơi”, “Mơ quê” khẳng định: dân ca xứ Nghệ nói chung và Ví, Giặm nói riêng là những tiếng hát tâm tình, mang giá trị nhân văn sâu sắc mà ở đó những người nhạc sĩ như ông có thể kế thừa và sáng tạo trong sáng tác âm nhạc.

Nhạc sĩ vĩ đại người Nga Mikhail Glinka đã từng nói: “Con người ta trong bản chất là nghệ sĩ và nhân dân là những nhạc sĩ đầu tiên”. Điều ấy hoàn toàn đúng với dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và Ví, Giặm nói riêng.

Liên hoan Dân ca Ví Giặm tổ chức tại thành phố Vinh- Nghệ An vào ngày 23/6 tới đây được coi là bước chuẩn bị để Lập hồ sơ trình Unesco công nhận là văn hoá phi vật thể. Nhưng trước khi có thể trở thành Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại thì Ví Giặm là tiếng hát tâm tình của người Nghệ Tĩnh./.

 (Nguồn: vov.vn)

http://vnmusic.com.vn/p2003-vi-giam-tieng-hat-tam-tinh-cua-nguoi-nghe-tinh.html

QUỲNH PHẠM : Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, VIETNAM


10/04/2013 11:42 AM
 

Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

 

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe…

 

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) làm các thủ tục cần thiết gửi hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc

Theo quyết định mới của UNESCO, mỗi năm một nước chỉ được trình 1 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Năm 2012, Việt Nam có hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); năm 2013 là hồ sơ Đờn ca tài tử và đang chờ kết quả từ UNESCO trong cuối năm nay. Vì thế, hồ sơ Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh sẽ trình UNESCO xét duyệt là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2014.

Cần phải nhắc lại, cuối tháng 6/2012, để góp phần gìn giữ, bảo tồn, tôn vinh và phát triển những giá trị bền vững của loại hình nghệ thuật dân ca ví, giặm, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã từng phối hợp tổ chức “Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ lần thứ nhất năm 2012” với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”. Đây là bước quan trọng và là tiền đề để các cơ quan chức năng, hội nghề nghiệp có thêm niềm tin, căn cứ để lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Bởi thế, dân ca, ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của 2 tỉnh miền Trung này.

Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Những năm gần đây, ví giặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước. Hát ví chỉ giới hạn trong đối đáp, giao duyên. Trai thanh, gái lịch hát đối đáp với nhau, hát vọng từ ngoài đường vào nhà, từ trong nhà với ra, hay cũng có thể là từ trên sông vọng lên bờ…

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải…

Theo điều tra, kiểm kê của UBND tỉnh Nghệ An thì hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát dân ca ví, giặm với khoảng hơn 2.000 thành viên, trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức:

Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam).

Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Cùng là một câu thơ lục bát nhưng ví đò đưa hát khác mà ví phường vải hát khác.

Ví phường vải là lối hát bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa. Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước. Người hát thường là những trai bạn chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón… Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Tuy nhiên, giọng ví phường vải không chỉ hát trên cạn, trên làng và giọng đò đưa không chỉ hát dưới sông, dưới thuyền mà trong hát phường vải có giọng đò đưa, trong ví đò đưa có giọng phường vải.

Như vậy, việc trình hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được xem là hành động kịp thời và cần thiết để vinh danh loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh Quỳnh Phạm

http://www.thoibaonganhang.vn/tin-tuc/8-nang-tam-lan-toa-cho-dan-ca-vi–giam-nghe-tinh-8060.html

VI PHONG : NHỚ THẦY TÚ NGHỆ, NGHỆ TĨNH, VIETNAM


Nhớ thầy Tú Nghệ

  •   Vi Phong
  • Thứ sáu, 28 Tháng 10 2011 07:33
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Thầy Trần Quốc Nghệ mà dân Hương Sơn gọi là thầy Tú Nghệ, và học trò chúng tôi gọi là “Thầy Nghệ” là một con người đặc biệt lạ thường về rất nhiều mặt mà hàng mấy chục thế hệ học sinh, hàng trăm bè bạn, học thầy, làm việc với thầy không phát hiện hết, không cảm nhận hết.
Về văn chương, thì có lẽ nhận xét của giáo sư Hà Văn Tấn là ngắn gọn và đầy đủ nhất: Thầy Nghệ là một người thầy “siêu giỏi”. Thầy giỏi tiếng Pháp, chữ Hán, thạo tiếng Anh và tiếng Nga. Thầy đã nhiều năm dạy và dịch tiếng Anh, tiếng Pháp, nhất là sau khi nghỉ hưu thì thầy càng dạy nhiều hơn ở thị xã Hà Tĩnh, ở Vinh và Hà Nội.
Anh Thái Kim Đỉnh có một nhận xét: “Không được học với thầy Nghệ nhưng mình biết chắc rằng nếu thầy Nghệ mất đi thì ở Hà Tĩnh không còn ai am hiểu sâu sắc văn hoá Pháp như thế nữa”.
Sinh thời, thầy giáo Nguyễn Trung Hiếu là một con người tài hoa khác thường đã có lần nói với tôi rằng: “Tôi chưa gặp một người nào giỏi tiếng Pháp như thầy Nghệ. Giỏi nói như một người Pháp Paris đã đành, dù thầy chưa bao giờ sang Pháp, mà đáng khâm phục hơn là kiến thức về văn học, về xã hội Pháp sâu rộng uyên bác, đặc biệt là đã nửa thế kỷ qua, tiếng Pháp đã hiện đại hoá, đã có nhiều từ mới mà thầy Nghệ vẫn không lạc hậu, chứng tỏ thầy liên tục đọc sách báo hiện đại Pháp”.
Có lần thầy Nghệ nói riêng với tôi rằng thầy vừa gửi thư cho bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đề nghị sửa chữa nhiều chỗ trong bản dịch “Truyện Kiều” ra tiếng Pháp của bác sĩ Viện vì theo thầy là chưa xác đáng trong cách dùng từ thì ông Nguyễn Trung Hiếu cũng bảo là thầy Nghệ có trao đổi với ông về một số chỗ đó. Tôi là người dốt tiếng Pháp vì không được học mấy,nhưng nhớ lần đại hội văn nghệ ở hội trường Tỉnh uỷ, có ông Giám đốc trung tâm phổ biến tiếng Pháp ở Paris sang công cán nước ta được Hội văn nghệ mời dự. Hai người ngồi trò chuyện, thủ thỉ với nhau như đôi nhân tình, như hai người Pháp, nhỏ nhẹ, triền miên. Tôi ngồi cạnh thầy, thầm nghĩ rằng nói tiếng Pháp với người Pháp như thế chưa dễ có mấy ai.
Sau cải cách ruộng đất mấy năm, tôi gặp lại thầy ở thị xã Vinh trên đường Phan Đình Phùng. Chúng tôi cùng nhận ra nhau khi gần như chạm vào nhau. Thầy buông rơi chiếc túi rồi ôm lấy tôi nước mắt giàn giụa. Hình như thầy khóc nhiều hơn tôi. Đó là lúc tôi đi vác lúa thuê ở bến Cửa Tiền về, chiếc áo rách vai. Thầy luồn tay qua lỗ rách xoa lưng tôi rồi lặng lẽ mở chiếc túi lấy miếng vải sọc đen bảo rằng: “Người ta cho thầy, thầy cho em”.
Không hiểu sao lúc đó tôi không dám từ chối vì thầy cũng chẳng lành lặn gì, lại cũng không biết cảm ơn mà chỉ đứng lặng im cúi đầu như một học trò có lỗi. Lúc đó tôi nhớ ngày trước, dưới gốc mít ở góc sân trường, giờ ra chơi thầy gọi tôi lại cho miếng kẹo lạc cu đơ, tôi nói “em nỏ ăn” thì bị thầy mắng. Tôi cứ đứng trân như thế cho đến khi thầy hỏi: “Quyền khi nào về quê?”. Tôi trả lời: “Ngày mai em về bộ, theo đường truông” thì thầy bảo: “Thế thì bây giờ về thuyền với thầy để thầy trò tâm sự cho vui”. Tôi định từ chối thì thầy nói thầy có tiền, cứ về thuyền với thầy. Tôi lại phải nghe theo dù biết thầy đâu có nhiều tiền. Đêm đó, trên con thuyền ngược sông Lam, sông La về sông Phố, thầy nằm ôm tôi vào lòng, ru tôi bằng mấy câu thơ mà tôi không tính hết bao nhiêu lần:
                        Ngẫm những kẻ mũ cao áo rộng
Ngòi bút son sống thác ở tay
Kinh luân mang một túi đầy
Đã đêm Quản, Nhạc lại ngày Y, Chu.
Thầy bảo về cùng thuyền để tâm sự mà không thấy thầy nói gì. Thầy cứ ngâm mãi một đoạn thơ như thế và thi thoảng lại bảo thầm với tôi: “Mi lấy con Bê nhà tau nhé!”. Tôi không trả lời vì đã biết Bê là ai? Thầy lại ngâm thơ, lại hỏi cho đến khi buồn ngủ quá tôi “dạ” rồi ngủ thiếp đi. Hình như đêm đó, thầy thức trắng. Sáng mai thuyền cập bến, thầy ôm hôn tôi và dặn: “Sang nhà thầy chơi”, và nói “em vẫn nhút nhát như xưa”. Tôi vì chuyện Bê mà không dám sang nhà thầy.
Thầy bảo tôi nhút nhát nhưng tôi lại chứng kiến một lần thầy nhút nhát. Ấy là lần Hội văn nghệ và Ty văn hoá Hà Tĩnh tổ chức nói chuyện nhân nhà thơ Huy Cận, thứ trưởng Bộ văn hoá về thăm quê. Hồi ấy dạy ở trường Phan Đình Phùng, nghe tin, thầy lọc cọc đạp xe về đến hội trường Thạch Linh và khiêm tốn ngồi vào góc cuối hội trường. Nhà thơ Huy Cận đang sôi nổi kể chuyện dẫn đoàn văn công ta sang Pháp múa “Ong vò vẽ”, hát “Người Châu Yên em bắn máy bay” và đối đáp với các học giả Pháp. Chợt nhìn thấy thầy Nghệ, nhà thơ bỗng dừng lại kêu to “Anh Nghệ” và vừa xin lỗi vừa chạy xuống góc hội trường kéo thầy lên bục nói chuyện, giới thiệu: “Đây là anh Trần Quốc Nghệ, bạn cũ của tôi, một con người kiệt xuất. Tôi chỉ giỏi văn, còn anh Nghệ văn võ toàn tài, vô địch”. Thầy Nghệ lúng túng nói: “Dạ thưa…đồng chí Thứ trưởng quá khen”. Anh Huy Cận cả cười nói: “Dạ, thưa chi! Hồi đi học, ông bắt nạt tôi suốt”. Lúc đó thầy Nghệ thật thẹn thùng lúng túng!
Thầy về hưu nhưng chẳng khi nào nghỉ và cũng chẳng làm gì ngoài dạy học. Thỉnh thoảng tôi gặp thầy đạp chiếc xe thiếu nhi Liên Xô quàng chiếc cặp da cũ kỹ đi trên phố. Mời mãi thầy mới hẹn: chủ nhật tới mình đến thăm thằng cháu Trần Tấn Hành ở C2 rồi sang nhà Quyền chơi luôn. Chủ nhật ấy khoảng 9 giờ sáng thầy đến. Thấy thằng con trai tôi đang làm bài, thầy đố: từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, hãy dựng đường vuông góc với đường thẳng đó với điều kiện chỉ quay một lần compa. Mươi phút sau, thằng con tôi chưa tìm ra cách dựng, thầy đã hướng dẫn cho cháu rồi hỏi tôi có bàn cờ không? Tôi bày cờ mời thầy đi trước. Thầy đánh rất cẩn thận, nước đi chắc chắn và giữ thế thủ. Vào cuộc cờ, tôi quên chuyện thầy trò, đánh những nước khá hiểm hóc. Thầy bình tĩnh chống đỡ, gần một giờ qua, tôi đã dồn thầy vào thế bí nhưng chợt thầy thầy đã già nên không nỡ bắt xe rồi sau đó chỉ đánh cầm chừng. Ván đó thầy thắng và chúng tôi không đánh nữa. Vợ tôi chuẩn bị một bữa ăn khá tươm tất nhưng thầy chỉ dùng hai bát cơm với vài miếng thức ăn chiên mềm và canh hến cà chua. Thầy nói hôm nay ngon miệng mới ăn được thế. Tiễn thầy xuống hết cầu thang, nắm tay tôi thầy nói: “Ván cờ hồi nãy em nhường thầy nên thầy không muốn đánh nữa”. Tôi lại lúng túng như người có lỗi. Sau đó thầy ra Hà Nội, mấy năm sau lại về Hương Sơn. Mỗi lần đi công tác tôi đều ghé qua thăm thầy. Gặp tôi thầy hỏi: Có sáng tác được gì không? Còn học tiếng Pháp không? Thầy vui khi tôi được kết nạp vào Hội nhạc sĩ Việt Nam. Thầy nói: “Học trò mình nhiều đứa là nhà văn, nhà khoa học, có đứa là giáo sư tiến sĩ, nay có thêm em là nhạc sĩ. Thầy vui lắm, mừng lắm, khi có thêm một em thành đạt. Mong sao các em sống tử tế, giữ đúng phong cách của kẻ sĩ. Phải học nhiều, đọc nhiều, nghe nhiều mới viết được”. Cùng mỗi lần gặp, thầy thường phàn nàn rằng cái sở học của thầy chưa đắc dụng. Hồi còn chiến tranh chống Mỹ, thầy nói: “Dạy văn cấp III như mình thì ai tốt nghiệp Đại học Sư phạm ra đều dạy được cả. Nếu tỉnh chịu dùng, giao cho mình theo dõi đài dịch, đọc sách báo nước ngoài rồi phân tích, tổng hợp báo cáo cho tỉnh thì có ích hơn”. Tôi chỉ biết nghe vậy chứ chẳng làm được gì để giúp thầy. Trước sau hơn 50 năm, thầy chỉ dạy và dạy, là một người thầy nguyên vẹn, không phẩm hàm, không chức tước, không danh vị. Dẫu là thế, với chúng em, thầy mãi mãi là người thầy trọn vẹn, thầy Nghệ ơi!

Các bài viết liên quan:

http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/nho-thay-tu-nghe