VI PHONG : Nghệ nhân Ba Duy: Một đời hát dân ca, NGHỆ TĨNH, VIETNAM


Nghệ nhân Ba Duy: Một đời hát dân ca

  •   Vi Phong
  • Thứ hai, 02 Tháng 7 2012 14:02
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

NGƯỜI nghệ sỹ nghệ nhân ấy đã mù lòa ở tuổi tám mươi. Trong liên hoan tiếng hát gia đình văn hóa Hà Tĩnh lần thứ hai, gia đình ông gồm ba thế hệ: Ông, con trai con gái, con dâu và các cháu cùng tham gia, đã đoạt giải A với số điểm cao nhất hội diễn. Hổ phụ sinh hổ tử rõ là có di truyền, con trai ông, anh Trần Đức Giao cũng cùng cha nhận giải nhất.

Nghệ sĩ ưu tú Đức Duy cùng con cháu biểu diễn dân ca Nghệ Tĩnh 

Ngày tôi gặp nghệ sỹ Đức Duy là một ngày xuân 1959 khi đội tuyên truyền văn nghệ tỉnh về Sơn Thịnh, Sơn Hòa biểu diễn phục vụ. Đức Duy và Đình Chung, Ngọc Tỉnh hồi đó ở tuổi đang xoan, hát rất hay bài tam ca “con kiến mà leo cành đào”. Nếu giọng Đình Chung như chuông đẩu, giọng Ngọc Tỉnh như chuông chùa thì giọng Đức Duy có thể ví với chuông vàng. Ấn tượng bài tam ca còn đọng mãi trong tôi đến tận bây giờ. Nghệ nhân, nghệ sĩ ưu tú Đức Duy là như thế!                                                             

Người ta vẫn nghĩ ông là nghệ nhân dân ca thực thụ. Đúng mà chưa chính xác! Ông biết hát dân ca từ nhỏ thật, nhưng sau khi vào đội tuyên truyền văn nghệ tỉnh, sau này là Đoàn Văn công Hà Tĩnh, được đi đây đi đó nhiều, ông học được các nghệ nhân khắp nơi trong tỉnh, học hát giặm ở Thạch Hà, hát ví ở Đức Thọ, Kỳ Anh, học chèo Kiều ở Nghi Xuân v..v… Ông gom nhặt, chắt lọc để cùng với vốn dân ca mang từ Trường Lưu quê ông thành kho dân ca của một nghệ nhân nghệ sỹ, dồi dào ca từ, dạn dày kinh nghiệm, cùng với lối nói chuyện có duyên và giọng hát thiên phú, làm cho ông khi đã lên sân khấu thì ngay từ câu hát đầu đã hút hồn khán giả. Sức hút của ông bắt nguồn từ giọng hát vàng, từ nét mặt đào hoa của một chàng trai đẹp mã cùng với lối diễn xuất mộc mạc, đơn giản mà hàm súc. Ông là một nghệ sỹ “có đầu”. Những lời ông hát ông diễn, những chuyện ông kể đều từ sự lao động miệt mài, suy nghĩ thận trọng và ý thức thật đầy đủ. Hãy nghe ông hát câu phường vải:

 Anh đến giàn hoa thì hoa kia đã nở

Anh đến bến đò thì đò đã sang sông

Đến em thì em đã lấy chồng

Em yêu anh như rứa hỏi có mặn nồng lấy chi!

Trong câu hát ví có ba chữ “đã” mà ông đã hát rất khác nhau. Ở câu 1: “hoa kia đã nở” ông hát “đà”, “hoa kia đà nở”, đà nở là vừa nở xong, còn rực rỡ sắc hương, thế mới tiếc! Còn câu thứ 2 “đò đã sang sông” thì ông hát nguyên từ “đã”, là đò rời bến sang bên kia rồi, sự đã rồi không làm sao níu kéo lại được nữa; còn câu thứ 3 “đến em thì em đạ lấy chồng”, một tiếng “đạ”, một tiếng thở dài, một nỗi niềm thất vọng. Ba tiếng “đã”, ba cung bậc, ba tiếng lòng gan ruột! Hỏi có mấy ai mà đào sâu vào câu hát đến thế? Không dễ dãi với tiếng hát lời ca, từ những năm bảy mươi, Đức Duy đã được xem là một “ca sỹ có đầu”.

   Cũng câu ví ấy, ở phần thứ hai, câu đáp của người con gái:

  “Anh đến giàn hoa, hoa đến thì hoa phải nở

 Anh đến bến đò, đò đầy đò phải sang sông…”

Ông lớn tiếng và phẫn nộ trong hội thảo dân ca Nghệ Tĩnh tổ chức năm 1985 tại Vinh rằng: “Tôi đau xót và tức giận khi hai ca sĩ học trò Xuân Năm và Lệ Thanh đều hát là:

  Đến duyên em thì em phải lấy chồng

  Em yêu anh như rứa có mặn nồng tùy anh.

Ông nói: “Sao lại vô duyên đến thế! Như thế là đến thì thì rồi em không chịu được nữa nên em phải lấy chồng! Còn chi là tình nghĩa nữa!”.

Ông hát rằng:

 Đến duyên em cha mẹ ép em phải lấy chồng

Giừ trách nhau chi lắm cho cực lòng nhau thêm…

Ông bình luận: “Thế mới là đau, mới là tình là nghĩa, dù đã đến duyên rồi nhưng cha mẹ ép đành phải lấy chồng, em cũng cực lòng lắm, anh trách nhau chi cho cực thêm nữa!”.

Ông không được đến trường nhiều như ông muốn. Học xong cấp 1 rồi vì nhà nghèo phải đi hát kiếm ăn, nhưng theo lối dân gian, ông đã học được rất nhiều. Mỗi lần gặp ông, tôi lại được nghe ông hát thêm một câu mới, một điệu mới, ông nói thêm vài điều bổ ích, không lần nào cũ, không bao giờ chán.

     Với câu dặm “Ô lục soạn”, ông hát:

 “…Ung vô xúc một đọi độ

Mụ xúc một mủng khoai

Nấu lên một nồi hai

Nhắc ra trửa cựa nhà ngoài

Hai ung mụ ngồi nhai

Sướng bằng năm ô lục soạn

Đẹp bằng mười ô lục soạn”.

Khi có người chêm vào sau câu “trửa cựa nhà ngoài” hai câu nữa:

  “Ung thì trôốc cúi quá tai

  Mụ thì ngồi chò hỏ xéo khoai”

thì ông rất giận. Ông nói: hình tượng “trôốc cúi quá tai” là của anh nghiện, ngồi gục đầu vào hai đùi, vừa không đẹp, vừa thiếu văn hóa. Còn người vợ ngồi “chò hỏ” thì cực xấu, nhất là phụ nữ ngày xưa mặc váy mà ngồi chò hỏ là rất hớ hênh, hai hình tượng này không nên gắn vào cho hai vợ chồng đang hạnh phúc, đang sướng đang đẹp bằng năm bằng mười ô lục soạn!

Nghệ nhân nghệ sĩ ưu tú Đức Duy không chỉ có giọng hát vàng, dù rằng chỉ thế cũng đáng quý lắm rồi. Ông còn tự soạn những tiết mục, những tổ khúc dân ca để biểu diễn. Ông có tài chắp nối những câu hò, câu ví giặm cổ thành bài gọn gàng cho một tiết mục, khi cần thiết ông cũng có thể lấy nơi này nơi kia, bài này bài kia một vài câu xào xáo thêm thắt cho hợp cảnh hợp tình, theo lối sáng tác rất chi là dân gian mà ông thường gọi quấy quá rằng: “gặp chi hát nấy”, “tiện mô bắt xắp nấy”, miễn là trơn tru, “trơn bọt lọt lạch”! Nhờ giọng hát tuyệt vời người nghe thấy hay, không ai nỡ bắt bẻ ông.

Nghệ sĩ Đức Duy với nhà thơ Xuân Hoài

Đối với đoàn văn công Hà Tĩnh hồi đó, ông chưa phải đã thật già nhưng nhiều anh chị em gọi ông bằng “Ba” và ông cũng tự xưng là “Ba”. Từ đó tên Đức Duy thành Ba Duy, không phải thứ ba như Năm Ngữ, Cả Tam, Sáu Lầu… Nhất là sau khi ông cùng Đoàn Văn công không chuyên khu 4 đi biểu diễn ở Trung Quốc và Triều Tiên về thì cái tên Ba Duy trở thành phổ biến. Tiếng hát của ông theo bước chân ông vang lên trên khắp nẻo đường biểu diễn, trong tỉnh, ngoài tỉnh, trong nước, ngoài nước, đến với các chiến sĩ phòng không bên mâm pháo, với các trận địa, các đơn vị thanh niên xung phong… Ở đâu, lúc nào ông cũng được mến mộ, được người nghe với thái độ yêu thương. Sau đó vào những năm 1973, 1974, phần vì hoàn cảnh gia đình vợ yếu con đông, phần vì bất đắc ý và bị rẻ rúng, ông xin nghỉ hưu khi mới độ tuổi năm mươi, khi giọng ca đang kỳ xuân sắc, và mãi đến đợt phong nghệ sỹ lần thứ hai, ông mới được nhà nước phong danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, nghĩa là sau các học trò Xuân Năm, Song Thao. Có thể nói cả về cuộc đời lẫn sự nghiệp đều muộn mằn như ông hằng tâm sự, có thể ở ông có điều gì đó không trôi chảy, chưa trọn vẹn nhưng anh chị em trong Đoàn Văn công Hà Tĩnh hồi ấy đến nay vẫn thương ông, trân trọng ông. Sau khi nghỉ hưu, phần vì mưu sinh, phần lại nhớ nghề, ông đi hát khắp nơi, ai mời gọi là ông đến góp tiếng hát cho đời, còn một chút hơi tàn còn hát. Khi mắt bị lòa, mấy lần mổ không thành công thì do lòng tự trọng, ông không mấy khi đi hát nữa. Ông ngại người ta gọi là ông Xẩm. Có lẽ ông cũng biết hát xẩm, nhưng mấy chục năm ở với ông, tôi chỉ nghe ông hát hò ví giặm với chèo Kiều chứ không hát xẩm như cụ Phương, bà Cầu, dù rằng giọng hát của ông không hề thua kém họ. Ông có một mong ước cuối cùng là được ghi một cuốn băng về tiếng hát của mình. Băng ghi hình thì có lẽ hơi khó vì đã hơi muộn, còn băng tiếng thì với những tư liệu đã có, cùng với việc ghi thêm một số bài nữa thì việc làm này trong tầm tay của ngành Văn hóa chúng ta./.

Vĩ thanh:

Đọc bài này của  nhạc sĩ Vi Phong tôi lại nghĩ nhiều về nghệ sĩ Ba Duy – Trần Đức Duy trong một nỗi nhớ da diết và day dứt… Ông Ba Duy đi năm 2000; Ông Vi Phong đi năm 2003. Rồi khi tìm lại được tấm ảnh nhà thơ Xuân Hoài lúc đương thời là Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh với nghệ sĩ Ba Duy, tôi lại nhớ về ông, người có công đầu trong việc tổ chức sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa ở vùng đất phía Nam Xứ Nghệ 10 năm cuối cùng của thế kỷ trước. Có lẽ, thời của chúng tôi, của chúng ta, ở Hà Tĩnh, ba con người này ở trong tốp đầu có công giữ gìn những điệu ví câu hò của quê hương xứ sở. Số trời không cho, ông Xuân Hoài, năm 2006, cũng theo về với bạn, khi mà cả một chương trình nghiên cứu Núi Hồng đồ sộ của ông chỉ mới bắt đầu.

Tiếc là các ông đã không còn đồng hành cùng chúng ta hôm nay. Và tiếc nhất là các ông đã “đi xa” trong tầm nhận thức, trong hành trang văn hóa của những con người đáng ra phải biết, phải nhớ…

Nhớ là vậy. Tiếc là vậy. Nhưng, những gì các ông đã làm, những gì các ông để lại cũng đủ để làm ấm lòng cho người hôm nay vững bước trên hành trình tìm về với tiếng hát của tiền nhân… (Người biên tập)

 

Các bài viết liên quan:

http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/nghe-nhan-ba-duy-mot-doi-hat-dan-ca

NINH VIẾT GIAO : Tính bác học trong ca từ của dân ca ví giặm xứ Nghệ, VIETNAM


Tính bác học trong ca từ của dân ca ví giặm xứ Nghệ

  •   Ninh Viết Giao
  • Thứ sáu, 19 Tháng 8 2011 06:05
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

I. Sự say sưa hát ví, hát giặm của nhân dân xứ Nghệ

Chúng ta đều biết hát ví chỉ có một làn điệu, hát giặm có hai làn điệu là hát nói và hát ngâm, nhưng tại sao nhân dân xứ Nghệ say mê hát ví và hát giặm. Nhiều chàng trai xa mấy cũng đi, bận mấy cũng đi. Nếu ban đêm bận xay lúa giã gạo thì ngay từ buổi trưa, các chàng trai đang tuổi lao động, cố tranh thủ làm cho kì xong.
Họ bất chấp cả trời mưa. Mưa to, nếu không có tơi nón thì họ bỏ quần áo vào một cái vò, hai tay ôm chặt lấy vò, chạy một mạch tới nơi có phường vải hay phường đàn, phường vàng,… Trời lụt cũng cứ đi. Con trai vùng chợ Thượng, chợ Hạ Đức Thọ (Hà Tĩnh) sang hát ví bên Nam Đàn (Nghệ An) về mùa mưa nước sông Lam lên to, ngập lụt cả cánh bãi, song họ vẫn cố chèo thuyền sang chỗ có phường hát ví cho kì được. Bỏ một tối hát ví thì cả đêm đó không tài nào ngủ yên giấc. Và sáng hôm sau ăn cơm không ngon, làm việc uể oải. Một số người từ Nghi Lộc, Hưng Nguyên có dịp vào mãi Thạch Hà, Kỳ Anh để tham gia.     Hát giặm đâu phải chỉ những người biết hát, biết đặt câu hát mới đi chơi hát ví hát giặm mà cả những người không biết hát: Trẻ có, già có, nam có, nữ có, trí thức bình dân có, các nhà khoa bảng có,…
Say sưa hoạt động hát ví hát giặm, đâu phải họ chỉ thích giọng hát hay, ưa câu hát ý vị mà còn thích tính bác học trong ca từ của hát ví và hát giặm.
II. Tính Bác học trong ca từ hát ví hát giặm.
Tính bác học trong hát ví và hát giặm xứ Nghệ biểu hiện dưới nhiều hình thức:
1. Dựa vào điển tích trong các sách cổ của Trung Quốc.
Những điển tích này khi đã đi vào hát ví hát giặm, nó không còn khô cứng và là những hình ảnh gần gũi thể hiện nội tâm, dạt dào tình cảm, diễn giải tình ý muốn nói bằng những từ ngắn gọn mà cô đọng. Ví dụ:
– Anh say em như bướm say hoa,
Như Lưu Linh say rượu, như Bá Nha say cầm.
– Em đang giấc mộng Hoàng Lương,
Ông Tơ hồng thức dậy, có khách văn chương tới nhà.
– Một năm gặp bạn một lần,
Cũng bằng ả Chức, nước sông Ngân ngăn dòng.
Những hình ảnh chén rượu Lưu Linh, tiếng đàn Bá Nha, giấc mộng Hoàng Lương, ả Chức chàng Ngưu rồi cầu Ô Thước, kẻ Tấn, người Tần, Hán với Hồ, Tề với Sở, ngãi Châu Trần, nghĩa tao khang… ta thường gặp trong nhiều câu hát, bài hát mà văn cảnh nào cũng hợp lí, hợp tình, mang đậm đà, cụ thể tình cảm lứa đôi, tựa như những hình ảnh bướm – hoa, cầm – sắt, bến – thuyền, liễu – đào, lan – huệ, trúc – mai, loan – phượng… mà ta thường gặp trong ca dao, trong các truyện nôm. Cả những hình tượng như Lưu Bình – Dương Lễ, Kim Trọng – Thuý Kiều, Vân Tiên – Nguyệt Nga, Phạm Tải – Ngọc Hoa, trong sách truyện Việt Nam cũng vậy.
2. Ở cách dùng ý trong thơ cổ nhất là thơ cổ của Trung Quốc. Mà lời ca vẫn mượt mà, ý nhị, suôn sẻ; phải người có học nhiều chỉ cho mới hiểu được. Như câu:
Thảnh thơi vui thú tình duyên,
Gió bên dương liễu, trăng bên ngô đồng.
Thì câu 8 vốn dịch từ 2 câu: “Nguyệt đáo ngô đồng thượng, phong lai dương liễu biên“. Hay câu:
Đêm khuya chẳng giám đề thơ,
Sợ tình dẫu rụng, lạc bờ Hàn Giang.
Thì câu 8 cũng dịch từ câu: “Khủng kinh tinh đẩu lạc Giang Hàn”. Và câu:
Sáng trăng ngồi gốc cây mai,
Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình.
Thì đó cũng là ý của bốn câu: “Đãi nguyệt Tây Sương hạ, nghinh phong bộ bán hai, cách tường hoa ảnh động, nghi thị ngọc nhân lai” trong Tây Sương Ký thì Trương Quân Thụy ngồi dưới lầu Tây Sương để đợi Thôi Oanh Oanh.
Rồi có những câu hát đố, ca từ toàn ngôn ngữ dân gian.
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?
Thì câu đáp lại có tính chất bác học:
Trăng ba mươi tuổi trăng già,
Thanh sơn bất lão gọi là núi non.
Ngược lại nhiều câu, nhiều bài, câu hỏi có tính chất bác học như câu:
Chữ rằng Nghiên hữu cửu nam,
Đan Du là một hỏi chàng còn những ai?
Thì câu đáp lại có tính chất dân gian:
Thân em con gái nữ nhi,
Biết Đan Du là một, biết làm chi chín người.
3. Ở lối chơi chữ.
a. Ở những câu này lời ca vẫn hồn nhiên, song những người tinh ý mới hiểu được, thấy được cách dùng từ của tác giả. Ví dụ:
Đồng tâm son sắt với nhau,
Thiếp chưa phụ bạc, chàng sao vội vàng.
Trong câu này có tên các kim loại hoặc á kim là: đồng, son, sắt, bạc, vàng.
Hay câu:
Vin dâu vạch lá đề thơ,
Buồng tằm kén chọn trai tơ con dòng.
Câu này cũng có những từ liên quan với nhau trong nghề làm tơ tằm: dâu, lá, tằm, kén, tơ, và dòng.
Xin thêm một câu khác:
Lương duyên chỉ Tấn, tơ Tần,
Liệu đường định sở Châu Trần tuỳ cơ.
Cả câu có 18 chữ thì 8 chữ: Lương, Tấn, Tần, đường, sở, Châu, Trần đều là tên các nước trong thời Xuân Thu và các vương triều bên Trung Quốc.
Còn “cơ” là cố Mền Cơ, người Thịnh Lạc (Nam Đàn) đỗ 3 khoa tú tài. Người nổi tiếng trong làng hát phường vải.
b. Ở những câu lời vẫn hồn nhiên, nhưng nghe ra vẫn có từ Hán Việt. Ví dụ như câu:
Mời chàng mại mại (mãi mãi) không vào,
Bán mua chi đó làm cao rứa chàng?
Tiếng Nghệ mại mãi nghe như nhau, mãi có nghĩa là mua, mại có nghĩa là bán.
Hay câu:
Một trăm cơn (cây) bá (bách) một triệu cơn đào,
Kẻ vô mơn nhụy người vào hái hoa.
Chữ còn gọi là bách và chữ đào đều do 2 chữ mộcbách, mộctriệu ghép lại mà thành. Trong chữ có chữ bách là trong chữ đào có chữ mộc và chữ triệu, triệumột triệu.
Và câu:
Chờ em nửa tháng ni rồi,
Ôm đàn bán nguyệt dựa ngồi cung trăng.
Bán nguyệtnửa tháng, bán nguyệt là đàn bán nguyệt mà nguyệt có nghĩa là trăng.
c. Ở lối đố chữ, đố ý, mà kỳ thực hỏi thái độ ứng xử ở đời. Ví dụ câu:
Hai ngang ba phết chữ chi,
Chàng mà giải được thiếp thì theo ngay?
Chàng trai đáp:
Hai ngang ba phết chữ “thất”,
Thất là mất, mất nước mất nhà,
Dân sầu dân thảm từ ngày Tây qua đến giừ.
Hay câu:
Quân sư phụ đi một chuyến đò,
Không may rớt xuống nước, hỏi anh bạn học trò cứu ai?
Anh bạn học trò đáp:
Ô hô! Tôi đạp đất tôi kêu trời,
Lặn tôi không biết lặn, lội tôi không biết lội
Nhảy xuống nước sợ thiệt đời tôi đi.
Có lẽ lúc đạo lý phong kiến đã suy vi lắm rồi, “dĩ thân vi đại” anh bạn học trò mới trả lời như vậy, không “sát sinh thủ nghĩa nữa”.
d. Ở lối hát đối, hát chòi với nhau về chữ nghĩa rất hóc búa. Ví dụ như câu:
Cha con thầy thuốc về làng,
Hồi hương phụ tử thì chàng đối chi?
Hồi hương là về làng, phụ tử là cha con; hồi hương, phụ tử còn là tên hai vị thuốc bắc.
Câu đối lại hay chọi lại:
Con vua đi sứ cửa giời,
Thiên môn, quân tử đã tỏ lời chưa em?
Thiên môn là cửa trời, quân tử là con vua. Thiên môn, quân tử cũng là tên hai vị thuốc bắc. Đối chọi như thế là chỉnh lắm.
Hay câu:
Đồn rằng rắn hổ mang bò,
Chàng mà đối được thiếp cho làm chồng
Trong câu này, bốn chữ rắn hổ mang bò cũng là một câu hoàn chỉnh, song là bốn con vật: con rắn, con hổ, con mang và con bò.
Câu đáp lại:
Ngỏ lời với gái thuyền quyên,
Ga mồng kiến gáy anh liền đối cho.
Thật là tài, gà mồng kiến gáy cũng là một câu hoàn chỉnh, song còn là bốn con: con ga, con mồng, con kiến và con chim cu gáy.
Hát đối hát chọi mang đầy chữ nghĩa và có tính trí tuệ, tính bác học nói trên, lúc đầu chỉ ở chặng hát đố, hát đối, nhưng về sau ở một số loại hình hát ví, nhất là hát ví phường vải, nó bao trùm tất cả các bước, các chặng của một cuộc hát. Có hàng trăm câu như vậy mà chúng tôi đã sưu tập được.
Hát giặm ít câu, ít bài đối chọi như vậy song cũng không ít câu, ít bài có những nhân vật, những hình ảnh, những điển tích trong văn học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam. Trai gái đã sử dụng những điển tích, những nhân vật ấy để ví von về mình, để nói tâm tư, ước vọng về mình như Kim Trọng – Thuý Kiều, Vân Tiên – Nguyệt Nga,… rồi Quế tử lan tôn, thoa cung Hán, gương lầu Tần, màn Đổng, gối Ôn, nương Ban, ả Tạ, rể đông sàng, khúc Phượng cầu hoàng, gái đào yêu, hồng điệp, xích thằng, Chương Đài, Đồng Tước, Xuân Kiều, v.v… Thậm chí có những bài, tác giả đã sử dụng những tiểu xảo của văn học bác học và cả văn học dân gian, tạo thành những câu đối nhau chan chát suốt cả một bài hát giặm để bộc lộ ý tình của mình, như bài: “Nhởn nhơ một đoá Chương Đài“. Xin dẫn đoạn đầu:
Nhởn nhơ một đoá Chương Đài,
Ong trong xấp xới, bướm ngoài xung xăng.
Nền Đồng Tước khăng khăng,
Khoá Xuân Kiều mãi mãi.
Duyên quả mai ba bảy,
Phận bến nước mười hai.
Nghĩ chữ sắc chữ tài,
Biết rằng duyên rằng nợ.
Hoa đang cười nửa bữa,
Nguyệt đã gác ngang đầu.
Cưởi đã bá ngành dâu,
Hoa mong cười với nguyệt…
Có đến hơn trăm câu cứ sóng đôi nhau mà đối như vậy. Đây là mấy câu cuối:
Dặn bạn đừng mảng cá,
Dặn dì chớ mơ tôm.
Ong dờn đó mặc dờn,
Bướm dạo ngoài mặc dạo.
Ngày em đi mấy tráo,
Tháng em lại mấy lần.
Em về mở khoá xuân,
Để loan kề gối phượng…
Trên là kể những câu những bài có điển tích. Ngay trong những câu những bài trong ca từ dân ca ví, giặm xứ Nghệ, lời lẽ toàn là của dân gian thôi, song vẫn mang tính bác học. Bác học ở logíc diễn đạt ý tình. Ví dụ câu:
Đá có rêu bởi vì nước đứng,
Núi bạc đầu là tại sương sa.
Thấy anh em muốn giao ca,
Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời.
Thấy anh em muốn trao lời,
Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan.
Bác học ở chỗ mang nội dung vô cùng sâu sắc như chắt lọc bao hiểu biết thực tiễn trong cuộc sống.
Ví dụ câu:
Khi vui ngó núi cũng vui,
Khi buồn nhặt trái sim rơi cũng buồn.
Hay câu:
Ở chi, hai dạ ba lòng,
Dạ cam thì ngọt, dạ bòng thì chua.
Và câu:
Nhớ chàng sáng đứng trông xuôi,
Trưa đi ngó ngược, tối ngồi trông ra.
V.v… và v.v…
III. Tại sao trong ca từ dân ca ví, giặm lại giàu tính bác học?
Trước hết phải nói rằng, số ca từ ví giặm có tính bác học như vậy không nhiều, tác giả của nó phần lớn hẳn là các nhà nho. Tham gia hát ví, hát giặm, các cụ sử dụng nội dung sách vở, đi vào khía cạnh chơi chữ để “trổ tài” hiểu biết các kiến thức cổ điển trong thi, thơ, … đã làm mất cái hồn nhiên, trong trẻo của dân ca.
Gạt ra ngoài những câu những bài mang đầy điển tích, đầy lối chơi chữ, số còn lại đã hòa chung vào gia tài dân ca, ca dao vô giá của quê hương của cả nước mà từng câu óng ánh như những lời hạt kim cương. Đối với các nhà nho mê nôm, đã từng sáng tác thơ nôm, thì việc tắm gội ít nhiều vào ngọn nguồn mát mẻ của dân ca, đã giúp họ trau dồi ngôn ngữ nghệ thuật, cung cấp cho họ cái ý vị tươi xanh của cuộc sống và cảnh vật để sáng tác những tác phẩm bất hủ và những ca từ mà bây giờ nó đã hoà quyện vào cuộc sống, vào gia tài văn hóa, văn học của xứ Nghệ, của quốc gia.
Nhưng ở cái đất Hồng Lam văn vật này, những ca từ ví giặm có tính bác học như đã nói trên, còn là của chính nhân dân lao động. Họ có được học chữ nho, có bước chân vào cửa Khổng sân Trình không? Không. Sống ở cái đất có nhiều nhà nho ho ra chữ, đi tới đâu cũng nghe nói chữ, cũng nghe bình luận thơ văn, họ không thể không bị ảnh hưởng, không tiếp thu ít nhiều. Ngoài ra, có một số người tốt nghiệp “Trường học tại gia” qua những buổi học lỏm khi ngồi kéo vải, khi hầu hạ điếu đóm cho các bậc cha anh. Các cô gái con nhà nho, các người đi ở cho nhà giàu mà nhà này có nuôi ông đồ ngồi dạy học, những buổi các cụ ngồi giảng sách, những khi các cụ thù tiếp các bạn hữu trong làng khoa bảng, bao giờ các cụ cũng trao đổi thơ văn, sách vở,… Ngày qua ngày, tháng lại tháng, những kiến thức của sách vở, của điển tích đã nhập vào tâm não những người chẳng bao giờ được đi học ấy lúc nào không biết. Dĩ nhiên, chỉ là những kiến thức sách vở rời rạc, những chữ nghĩa vụn vặt, chắp vá mà thôi. Nhưng khi họ vận dụng để sáng tác những câu, những bài hát ví, hát giặm, nó lại rạo rực bao ý tình sinh động, thiết tha hoặc tinh nghịch, dí dỏm để thể hiện nội tâm của mình. Trường hợp cô Nhẫn ở Kỳ Anh và bao cô gái ở Nam Đàn, ở Can Lộc,… là như vậy. Cho nên, những “thính giả tự nguyện” trong cuộc hát cũng nhiều người bỏ ăn, bỏ ngủ tham dự hát ví, hát giặm là như vậy. Họ tham dự hát ví, hát giặm không chỉ để thuởng thức giọng hát hay mà còn thưởng thức lời ca đặt tài, đối giỏi, đầy tính sáng tạo như tôi đã nói từ đầu.
                                                                                                                        N.V.G

Các bài viết liên quan:

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/tinh-bac-hoc-trong-ca-tu-cua-dan-ca-vi-giam-xu-nghe

PHAN MẬU CẢNH : Vai trò của phương ngôn trong dân ca Hò, Ví, Giặm xứ Nghệ, VIETNAM


Vai trò của phương ngôn trong dân ca Hò, Ví, Giặm xứ Nghệ

  •   Phan Mậu Cảnh
  • Thứ ba, 09 Tháng 8 2011 15:25
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

       1. Ngôn ngữ được xem là nhân tố đầu tiên và hết sức quan trọng liên kết con người – xã hội, tổ chức giao tiếp và tri nhận về thế giới xung quanh. Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, ngôn ngữ chịu sự chi phối của nhiều nhân tố: không gian, thời gian, các yếu tố về văn hóa (như phong tục, tập quán, giáo dục…), các tác động biến thiên của tự nhiên và xã hội… Các tác động ảnh hưởng đó để lại dấu ấn trong ngôn ngữ, tạo thành các “làn sóng” ngôn ngữ, các vùng ngôn ngữ.

Vì vậy, trong ngôn ngữ, bên cạnh cái phổ quát, điển dạng, mang tính chung của cộng đồng, lại có hiện tượng dị biệt, biệt dạng của từng vùng tiếng nói so với ngôn ngữ toàn dân. Sự tồn tại của phương ngôn xuất phát từ những căn nguyên như vậy.Ở góc độ ngôn ngữ học,phương ngôn (dialect) chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ được dùng ở trong phạm vi một vùng địa lí – cộng đồng nhất định có những đặc tính về ngữ âm, từ vựng dị biệt so với ngôn ngữ toàn dân.

        Phương ngôn có vai trò rất quan trọng đối với ngôn ngữ dân tộc, đối với sự tổ chức giao tiếp trong cộng đồng xã hội, đối với mỗi một con người… Ngôn ngữ mà mỗi một người tiếp xúc đầu tiên, và cũng từ đó hình thành nên tiếng nói của mình, đó là tiếng mẹ đẻ (mother language). Tiếng mẹ ban đầu mà mỗi người có được đó chính là phương ngôn. Chúng ta sinh ra và lớn lên trong môi trường phương ngôn, những tiếng ta bập bẹ đầu tiên là phương ngôn; nó “nằm lòng” thành máu thịt, là hơi thở tự nhiên của mỗi con người; và khi ta lớn lên trưởng thành, phương ngôn đi theo ta trong suốt cả cuộc đời, ngay cả khi ta tiếp xúc với nhiều vùng ngôn ngữ – văn hóa khác… Cha ông xưa đã từng coi tiếng mẹ như là một cốt cách căn bản, như là thể diện của làng nước, nên khuyên “giấy rách phải giữ lấy lề”, “chửi cha không bằng pha tiếng”, không giữ được tiếng nói của cha mẹ đã truyền cho, để nó pha tạp, lai tạp là một điều hệ trọng, mất gốc, không thể chấp nhận. Coi trọng lề thói gốc gác là cái lõi tinh thần mà chúng ta cần trân trọng chắt lọc qua lời răn dạy ấy.
Dân tộc Việt Nam đã có 4.000 năm lịch sử, đã trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến đấu trường kì và dữ dội để dựng nước và giữ nước, để hình thành và phát triển. Và ngày nay, chúng ta đã có một quốc gia thống nhất, trong đó có nền văn hóa thống nhất, ngôn ngữ thống nhất, nhưng sự thống nhất về văn hóa và ngôn ngữ nằm trong tính đa dạng đặc thù của hai hiện tượng này. Biểu hiện rõ nhất của sự thống nhất trong đa dạng chính là phương ngôn trong mối quan hệ với ngôn ngữ toàn dân. Trong các phương ngôn, phương ngôn Nghệ Tĩnh, thường được gọi là tiếng Nghệ, là một phương ngôn đặc thù: đặc thù về âm sắc, giọng điệu, hệ thống từ vựng; đặc thù về cách sử dụng (nói lái, nói lối), đặc thù về môi trường hình thành và tồn tại giao tiếp, trong đó có môi trường giao tiếp trong sinh hoạt văn hóa dân gian…       
            2. Văn học dân gian, trong đó có dân ca, cũng như ngôn ngữ, là sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra, đều nảy sinh từ lao động, sinh hoạt hàng ngày và đều có từ lâu đời, cổ xưa trong đời sống văn hóa nhân loại. Mỗi con người được nuôi lớn lên về thể chất từ dòng sữa mẹ, nhưng đồng thời cũng phát triển về trí tuệ, tâm hồn bằng việc tiếp thu tiếng nói, tiếp nhận nguồn sữa tinh thần từ văn hóa dân gian… Thiếu những cái đó, con người không thể phát triển bình thường. Cũng như nhiều dân tộc khác, nước ta có sự đa dạng về môi trường, sinh thái, phong tục tập quán, tất yếu sẽ có những điểm khác nhau về sinh hoạt văn hóa, xã hội và ngôn ngữ. Kéo theo đó là những sinh hoạt dân gian như phong tục, tập quán, các sáng tác dân gian (ca dao dân ca) cũng có những điểm khác nhau.
            Khác với các loại hình sinh hoạt dân gian khác, dân ca là một hình thức sinh hoạt tồn tại với một hệ thống các yếu tố nghệ thuật: làn điệu, ngữ điệu, tiết tấu (nhạc), động tác (múa), ca từ (văn học)… Trong đó, ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên hình thành nên dân ca. Chính vì vậy, dân ca không chỉ gắn liền với môi trường xã hội, điều kiện tự nhiên, lao động sản xuất, sinh hoạt của con người… mà còn là tấm gương phản ánh trung thành những tâm tư tình cảm, những suy nghĩ, cảm xúc của con người. Ngôn từ trong dân ca vì thế, là phương tiện chuyển tải đắc dụng và quan trọng nhất nội dung từ chủ thể đến đối tượng tiếp nhận. Không có một chìa khóa vạn năng nào có thể mở cửa tâm hồn dân tộc, ngoại trừ ngôn ngữ của dân tộc ấy. Quả đúng như vậy, muốn tìm hiểu dân ca nói chung, dân ca xứ Nghệ nói riêng, chúng ta cần phải có chìa khóa trong tay, đó là ngôn ngữ – chất liệu quan trọng nhất của tác phẩm nghệ thuật – dân ca.
            3. Dân ca xứ Nghệ gồm nhiều thể hát khác nhau như hò, ví, giặm, hát ru, hát nói, sắc bùa… Trong đó tiêu biểu và phổ biến hơn cả là ba thể: hát ví, giặm và hò. Dù hình thức nào, cách hát nào thì ngôn ngữ cũng là chất liệu quan trọng nhất để biểu hiện, chuyển tải nội dung. Ngôn từ dân ca xứ Nghệ song song tồn tại hai thực thể: ngôn ngữ toàn dân và phương ngôn Nghệ Tĩnh. Trong bài viết này, chúng tôi không đề cập đến những đặc điểm của phương ngôn hay của ngôn ngữ toàn dân mà chỉ xin bàn về giá trị của việc sử dụng phương ngôn trong các thể hát dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ.
            3.1. Nếu ngôn ngữ của một dân tộc là một tín hiệu biểu trưng văn hóa dân tộc ấy thì, đến lượt mình phương ngôn lại cũng là một địa chỉ tin cậy để xác tín địa chỉ, nguồn gốc và cũng mang tính biểu trưng văn hóa cho một vùng đất, một địa phương nào đó. Với ý nghĩa đó, nhận xét đầu tiên là phương ngôn Nghệ Tĩnh góp phần làm nên tính đặc thù địa phương của hò, ví, giặm xứ Nghệ. Nghe dân ca xứ Nghệ, qua ca từ, qua làn điệu người ta biết đây đích thị là của xứ Nghệ.
        Biểu hiện rõ nhất của phương ngôn trong dân ca xứ Nghệ là hò, ví, giặm đã sử dụng từ ngữ địa phương với tần số rất cao so với dân ca các vùng miền khác. Điều này cũng rất dễ hiểu bởi hò, ví, giặm xứ Nghệ được hình thành và sử dụng trong lao động, gắn liền với lao động. Trên chiếc thuyền xuôi dòng Lam, ngắm cảnh sông nước hữu tình mà cất lên tiếng hò; cùng nhau kéo một cây gỗ, bẫy một tảng đá lớn, dựng nhà, dựng cửa… để vơi bớt mệt nhọc, để hè nhau cùng hợp sức… mà cất lên tiếng hò. Giữa công việc và động tác lao động với câu hò điệu ví gần như có quan hệ khăng khít với nhau. Trong đêm tập trung kéo sợi, chị em ngồi lại lúc chuyện đồng chuyện bể, lúc chuyện nhớ chuyện thương, lúc đối đáp với trai kẻ thượng, lúc lại hát với trai kẻ hạ, lúc hát với người bình dân cũng lại có lúc được thử tài thơ phú với nho sinh có học… Từ mỗi cảnh, mỗi tình mà sinh ra câu hát. Đặc biệt, những câu hát ấy của người Nghệ không có sự chuẩn bị, mà thường là “xuất khẩu” mà thành lời ca vậy. Chính lẽ đó mà trong những câu hát lời ca, ngôn ngữ đời sống (khẩu ngữ – từ địa phương) xuất hiện rất nhiều. Theo thống kê của chúng tôi, trong hát ví (chẳng hạn trong Hát phường vải, Ninh Viết Giao st) trung bình cứ năm câu thì có một câu sử dụng tiếng địa phương (chiếm 20%), riêng hát giặm (Kho tàng vè xứ Nghệ, Ninh Viết Giao), bài nào cũng có từ địa phương (100%), bài ít nhất có một từ, bài nhiều có 7 đến 10 từ. Riêng hò số lượng làn điệu thống kê không nhiều, song trong năm làn điệu thì đã có ba làn điệu sử dụng từ địa phương (chiếm 60%). Những con số trên là minh chứng cụ thể cho mối liên hệ máu thịt giữa dân ca với đời sống, dân ca nghệ thuật bình dân; khởi phát của dân ca là từ những người bình dân, từ lao động sản xuất; ngôn ngữ – nội dung của dân ca xuất phát ở trên chính mảnh đất mà con người đang sống, sinh hoạt, lao động hàng ngày. Điều đó phản ánh và lí giải sự mộc mạc, dung dị, chân thật của hò, ví, giặm xứ Nghệ.
            3.2. Phương ngôn đã góp phần tạo nên yếu tố đệm, đưa đẩy lời ca, qua đó tạo nên nhịp điệu, tiết tấu của lời ca.Biểu hiện rõ nhất vai trò của phương ngôn trong dân ca là các từ hư (các quan hệ từ, phụ từ, tình thái từ, trợ từ). Các từ này thực chất không có nghĩa thực, không phản ánh hay biểu thị nội dung trong lời ca, nhưng lại rất quan trọng, thiếu chúng thì lời ca chỉ là những từ ngữ trần trụi, rời rạc. Chúng có tác dụng liên kết, làm phần đệm cho lời, là chỗ ngừng nghỉ của tiết tấu nhịp điệu, góp phần tạo nên tính nhạc điệu cho lời ca. Ví dụ:
            Thuyền ngược anh đẩy sào xuôi, (chư) khúc mô vắng ờ vẻ (thì) có người sầu riêng (Ví sông Phố).
            Ờ ơ (chư) ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, thì biết sống cuộc đời (chư) răng là nhục ị là vinh. (Chư) thuyền em lên thác xuống ơ ơ ghềnh, nước non là nghĩa (hị) là tình ai ơi (Ví đò đưa sông Lam).
            Hò ơ ơ ơ hò, nhớ bạn mà nỏ nằm là khoan dô khoan. Hò ơ, mượn một con cá mà đi thăm là khoan dô khoan, cá lội xuôi là xuôi theo nước là khoan dô khoan, cá thẫn thờ là thờ theo nước là khoan dô khoan, hò ơ ơ hò. (Hò trên sông).
            Bà con ơi nghĩ ơ lại, cảnh nước mất nhà ơ tan (chứ) nỗi thống khổ muôn ơ vàn ơ khác chi loài trâu ngựa mà nỏ khác loài ơ trâu ơ ngựa (Giặm xẩm).
            Có thể thấy tiếng đệm xuất hiện trên cả ba thể hát thành hệ thống nhóm từ: chư (chứ), chơ, răng, nỏ, hị, rồi mì, … tùy theo âm điệu lên cao hay xuống trầm để vận dụng. Qua bản ghi âm của các tác giả Lê Hàm, Thanh Lưu, Vi phong (Dân ca Nghệ Tĩnh, 1991), chúng tôi nhận thấy:
            – Các tiếng đệm ư, chư, chứ được sử dụng ở âm vực cao như các nốt nhạc: Si (Ví sông Phố), Đố (Ví đò đưa sông Lam), Đố (Ví đồng ruộng), Rế (Ví trèo non), Rế – Mí (Giặm xẩm), Rế – Mí, Mí – Rế (Giặm nối),…
            – Các tiếng đệm ị, hị, lị thường được sử dụng ở âm vực thấp với các nốt nhạc: Sị (Ví đò đưa sông Lam), Fa (Ví đò đưa chuyển phường vải),…
            – Các tiếng đệm thì, rồi mì thường được sử dụng ở âm vực trung bình với các nốt nhạc: Mi, Sol, La như trong các làn điệu: giặm kể, giặm nối…
            Rõ ràng các hư từ địa phương ở đây đã được sử dụng mang tính hệ thống, sử dụng đúng đặc tính âm thanh, âm vực của âm tiết trong phát ngôn. Điều đó giúp cho người hát thể hiện thành công tâm trạng cảm xúc khi hát. Khi tiếng đệm ở âm vực cao, âm thanh thánh thót, lan tỏa; khi ở âm vực thấp, âm thanh lại nhẹ nhàng, tha thiết… Bởi vậy mà hò, ví, giặm có thể làm say đắm lòng người bao thế hệ, khi bâng khuâng, xao xuyến, khi bồi hồi, xót xa… Dù có người nói rằng, hò, ví, giặm xứ Nghệ khúc thức không hoàn chỉnh, đơn giản về cao độ và tiết tấu, nhịp điệu hơi tự do… song chính nó lại làm nên cái đặc thù của dân ca xứ Nghệ so với dân ca các vùng miền khác. Đặc trưng về tiết tấu, nhịp điệu ấy phản ánh trung thực cuộc sống lao động của người dân; đó thực sự là nhịp điệu của lao động, thoát thai từ lao động; đó thực sự phản ánh trung thành tính cách con người ở xứ này: bộc trực, thẳng thắn, mạnh mẽ…Chính cái “đơn giản”, “tự do” ấy làm thành nghệ thuật, tạo thành nét riêng, làm nên sức sống mạnh mẽ trong kho tàng di sản dân ca mà trách nhiệm của chúng ta phải hiểu được, giữ gìn và phát huy trong thời đại ngày nay.
            3.3. Từ địa phương xuất hiện trong ca từ như một điểm nhấn, tạo thành tiêu điểm của lời ca. Khi những từ như mô, tê, răng, rứa … xuất hiện, cũng là lúc mà ý tình của người hát có sự phát triển đến cao trào. Xin thử khảo sát ngay với một làn điệu ví rất cổ nhưng rất quen thuộc với mọi người, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó:
            – Lời chàng trai: Ơ… Anh đến giàn hoa thì hoa kia đã nở. Anh đến bến đò thì đò đã sang sông. Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng. (Mà) em thương anh như rứa, có mặn nồng lấy chi.
            – Lời đáp lại của người con gái: Ơ… Anh đến giàn hoa, hoa đến thì hoa phải nở. Anh đến bến đò, đò đầy, đò phải sang sông. Đến duyên em thì em phải lấy chồng. (Mà) em yêu anh như rứa, có mặn nồng thì tùy anh.
Chỉ một từ rứa thôi mà trong lời người con trai thì biểu thị một sự trách móc pha hờn giận, trong lời người con gái là một tình cảm thân thương (vì cô không hề phủ nhận tình cảm cũ với người cũ). Bên cạnh sự thân thương vương vấn đó vẫn là một thái độ từ chối thẳng thắn mà không lạnh lùng, cương quyết mà không tàn nhẫn với người xưa. Điều đó thể hiện một cách xử sự khéo léo tế nhị. Toàn bộ sự kì diệu của bài ca đã được phát tiết qua từ rứa độc nhất vô nhị. Không thể có một cách diễn đạt nào thay thế nổi.
Hoặc trong một làn điệu của Ví phường cấy:
Rồi mùa toóc rả rơm khô / Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm.
Lời ca gợi lên không khí thôn quê khi bắt đầu vãn mùa toóc rả rơm khô, khi người đi kẻ ở (Thủa xưa, khi vào vụ cấy, vụ gặt, nhiều nơi phải thuê thêm người làm. Những người đến làm thuê từ nhiều làng khác nhau, xong mùa vụ, ai lại về làng nấy. Những ngày làm việc bên nhau, quyến luyến nhau là chuyện thường tình). Câu ca không nói đến tình mà tình chan chứa trong một từ chân chất của xứ Nghệ. ở đây vừa là đại từ để hỏi, vừa là định từ xác định nơi chốn, bởi thế mà câu ca vừa như một câu hỏi, vừa như một lời than vì nỗi xa cách, nhớ nhung khiến người nghe không khỏi nao nao xúc động quyến luyến. Giả sử ta cứ toàn dân hoá nó mà thay bằng đâu, nào thì câu ca đơn giản chỉ là một câu hỏi, còn đâu cái bịn rịn, quyến luyến của kẻ đi người ở nữa.
Trước đây, trong chương trình dạy hát dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, chúng tôi thường được nghe một làn điệu rất quen thuộc:
Râu tôm nấu với ruột bầu / Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.
Mỗi lần nghe câu hát ấy, chúng tôi thường không khỏi giật mình. Thôi còn đâu cái chất Nghệ đậm đà, tha thiết, mộc mạc, chân thành nữa. Phải là:
Râu tôm nấu với rọt bù
Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon.
Hai câu ca thực chất chỉ là một, chỉ khác bởi cách gọi rọt bù (phương ngôn) và ruột bầu (từ toàn dân). Cả hai đều mô tả một bữa cơm đơn sơ, nghèo khó (chỉ có râu tôm nấu với rọt bù – hai thứ mà gia đình Việt Nam bình thường nào cũng đều bỏ đi khi nấu). Nghĩa là cái nghèo, cái khổ của họ có lẽ đã đến tận cùng. Thế nhưng đọc kĩ ta mới nhận ra sự khác nhau giữa hai câu ca. Không phải khác bởi rọtbù hay ruột bầu mà khác bởi những từ hiệp vần với hai từ đó: gật gù hay gật đầu? Giá trị tinh thần trong hai câu ca có mức độ khác biệt: Gật đầu: biểu thị sự đồng tình nhưng ít biểu cảm; gật gù: biểu thị sự đồng cảm, chia sẻ. Sự kết hợp hài hoà giữa cái thiếu thốn của vật chất với cái giàu có của tinh thần, giữa sự mộc mạc hồn hậu trong đời sống hàng ngày với cái ý nhị cảm thông sâu sắc trong nghĩa tình chồng vợ, đem đến cảm nhận về một cuộc sống vợ chồng rất đỗi đằm thắm hạnh phúc – thứ hạnh phúc được tạo dựng bởi sự cảm thông chia sẻ, bởi mỗi người đều biết khích lệ, động viên nhau trong khó nghèo. Những cảm nhận đó chỉ có thể có được khi chúng ta đọc, cảm nhận từ câu ca: Râu tôm nấu với rọt bù. Tạo được dấu ấn đặc sắc đó trước hết phải kể đến vai trò của từ địa phương.
3.4. Về góc độ ngôn ngữ và văn hóa, phương ngôn Nghệ trong dân ca hò, ví, giặm, có thể nói, là tấm gương phản chiếu văn hóa vùng quê xứ Nghệ, tính cách con người xứ Nghệ. Xin thử so sánh một vài trường hợp sau để thấy sự thể hiện phong cách của người Nghệ qua ca từ của dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ.
Thử xét trong cùng một bài ca dao, khi chuyển thành lời hát, làn điệu ví của xứ Nghệ vẫn có những điểm khác so với làn điệu của Bình Trị Thiên. Dưới đây là ca từ trong bài Hò giã gạo của dân ca Bình Trị Thiên:
Nữ hỏi:
Em hỏi anh trong trăm thứ dầu / Có dầu chi là dầu không thắp / Trong ngàn thứ bắp, bắp chi là bắp không rang / Trong vạn thứ than, than chi là than không quạt / Trong triệu thứ bạc, bạc chi là bạc không tiêu / Trai nam nhi anh đối được dải lụa điều em trao.
         Nam đáp:
            Trong trăm thứ dầu, có mưa gió dãi dầu là dầu không thắp / Trong ngàn thứ bắp, có lắp bắp mồm miệng là bắp không rang / Trong vạn thứ than, có than thở thở than là than không quạt / Trong triệu thứ bạc, có bạc tình bạc nghĩa là bạc không tiêu / Trai nam nhi anh đối được. Hỏi dải lụa điều em có chưa?
Còn trong lời hát của ví phường vải xứ Nghệ:
Nữ hỏi:
Một trăm thứ dầu, dầu chi không ai thắp? / Một trăm thứ bắp, bắp chi không ai rang?/ Một trăm thứ than, than chi không ai quạt? / Một trăm thứ bạc, bạc chi bán / chẳng ai mua? / Trai nam nhi đối đặng, gái bốn mùa xin theo.
Nam đáp:
Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp, / Một trăm thứ bắp, bắp chuối chẳng ai rang, / Một trăm thứ than, than thân không ai quạt, / Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua, / Trai nam nhi đối đặng, gái bốn mùa tính răng!
So sánh hai văn bản trên (tất nhiên, do tính dị bản của văn học dân gian, bài ca này còn một số bản khác nữa), ở đây chúng tôi không đề cập đến sự khác nhau về chất liệu âm nhạc, về cung, quãng trong bản nhạc mà chỉ so sánh nó trên phương diện ca từ, tổ chức lời ca đã có thể thấy những điểm khác nhau cơ bản về phong cách giữa hai vùng:
– Về các từ ngữ chỉ lượng, trong Hò giã gạo của Bình Trị Thiên có sự phát triển: trăm – ngàn – vạn – triệu, ngược lại ví phường vải chỉ ổn định với một định lượng nhất định cho các đối tượng được nhắc đến. Sẽ là hơi chủ quan khi kết luận với một ví dụ ở đây, song thực tế, qua rất nhiều tình huống đối đáp (ở đây trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi không thể dẫn ra hết), ta có thể khẳng định một tính cách của người Nghệ: rõ ràng, chắc chắn, có phần hơi cứng nhắc.
– Về cấu trúc lời ca, một điểm dễ thấy là cấu trúc trong câu hát của ví phường vải xứ Nghệ ổn định hơn, lời hỏi và lời đáp đối rất chỉnh cả về ý và từ, số lượng từ trong từng câu; ngược lại Hò giã gạo của Bình Trị Thiên có sự co giãn, luyến láy về câu từ, câu hát hỏi và đáp vì thế thiếu đi sự cân đối, câu dài câu ngắn khác nhau.
– Xét về mặt phương ngữ, Bình Trị Thiên và Nghệ Tĩnh là một vùng phương ngữ Trung (theo sự phân vùng phương ngữ của GS. Hoàng Thị Châu, tiếng Việt phân ra ba vùng phương ngữ chính: Bắc – Trung – Nam). Các từ ngữ như chi – gì, răng – sao,… đều được sử dụng giống nhau trong sự đối ứng với ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên có thể thấy, ý thức sử dụng phương ngữ của người Nghệ rõ nét hơn. Chỉ một câu hỏi cuối: Trai nam nhi đối đặng, gái bốn mùa tính răng. Một từ để hỏi răng thôi, mà thấy sự tinh nghịch, thái độ rõ ràng, dứt khoát của người Nghệ khác với con người xứ khác rồi. Điều đó là gì nếu không phải là phong cách, là bản sắc.
Xin phân tích thêm một ví dụ nữa giữa dân ca Nghệ và dân ca Bắc bộ. Cùng thể hiện một thái độ dứt khoát trong tình yêu, ca từ dân ca Bắc bộ diễn tả một cách nhuần nhị, lưu loát:
Có yêu thì nói rằng yêu / Không yêu thì nói một điều cho xong / Làm gì dở đục dở trong / Lờ đờ nước hến cho lòng tương tư.
Người Nghệ lại tỏ thái độ một cách dứt khoát, chắc nịch:
Đã yêu thì yêu cho chắc / Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn / Đừng như con thỏ đứng đầu truông / Khi vui thì giợn bóng, khi buồn thì bỏ đi.
Ở đây, sắc thái chắc nịch không hẳn do từ địa phương đem lại nhưng chính âm sắc của từ: chắc, trục trặc, giợn,… tạo nên phong cách cứng cỏi, mạnh mẽ cho con người xứ Nghệ. Có thể thấy, hình thức (ngữ âm) với nội dung (nghĩa của lời) quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Chính đó là tiền đề để chúng ta hiểu sâu thêm nội dung ngữ nghĩa của ca từ trong dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ. Hiểu như vậy, chúng ta mới hình dung được bức chân dung bản sắc văn hóa của con người xứ Nghệ qua những lời ca.
Một đặc điểm nữa là việc sử dụng ngôn từ trong dân ca xứ Nghệ, bên cạnh những câu, bài mang màu sắc tu từ (như so sánh, ẩn dụ), có nhiều bài có cách nói nôm na, mộc mạc, chân tình. Thẳng thắn như chính cuộc sống, như chính lời nói thường hàng ngày (Tuy mự có chồng nhưng chồng ở ngái / Tui đây có vợ nhưng vợ lại ở xa / Dù hai bên ta trò chuyện xướng ca / Sau ai về có mách miệng thì mự về nhà dù chồng có dùi bảy gậy ba / Tui về nhà dù vợ có nhiếc mắng van la / Hai ta từ chối ơ mự, để sau ra cho dễ dàng).      
3.5. Một đặc điểm nữa là phương ngôn góp phần thể hiện và có ảnh hưởng quyết định đến các loại làn điệu dân ca xứ Nghệ. Làn điệu của lời hát thể hiện qua nhiều yếu tố, rõ nhất qua giọng điệu và ngữ điệu. Theo một số kết quả điều tra đã nêu, dân ca xứ Nghệ có khoảng xấp xỉ tám mươi làn điệu, trong đó, ví: mười lăm làn điệu, giặm: tám làn điệu, hò: mười sáu làn điệu, còn lại (khoảng bốn mươi làn điệu) là hiện tượng lai, xẩm. (Theo Nguyễn Đình Bảo, 1991). Như vậy, làn điệu dân ca xứ Nghệ cũng khá là phong phú về cách thức biểu hiện, giàu tính biểu cảm, phản ánh rõ nhịp điệu cuộc sống, ngôn ngữ đời sống; làn điệu dân ca mang đậm bản sắc đặc thù của một vùng phương ngữ. Nó cũng góp phần tạo ra nét riêng của dân ca vùng này so với dân ca các vùng khác. Nghe là nhớ là biết dân ca xứ nghệ… 
Yếu tố ngữ điệu, giọng điệu không thể hiện rõ trên văn bản ghi chép ca từ nhưng khi thể hiện thành lời thì rất đậm nét.
Giọng điệu thể hiện rõ nhất là cách phát âm các thanh điệu. Thanh điệu trong ngôn ngữ toàn dân có sáu thanh, xứ Nghệ chỉ có năm hoặc bốn thanh; những thanh ở âm vực cao có xu hướng chuyển xuống âm vực thấp hơn, làm trầm hóa, nặng hóa âm tiết (như: sắc -> nặng, ngã -> hỏi, nặng) điều này không chỉ thể hiện rõ trong lời nói hàng ngày mà thể hiện trong khi hát dân ca xứ Nghệ, nó cũng làm thành nét đặc thù khi hát dân ca. Cho nên tiếng Nghệ có xu hướng đục, trầm, nặng hơn phương ngôn Bắc bộ một phần là vì thế.
Chẳng hạn: Ăn cơm cụng nghẹn / uống nước cụng nghẹn / Nghe lời bạn hẹn / ra bại đứng trông / bại thời thấy bại, người không thấy người
Còn ngữ điệu là đường nét của âm thanh khi nói khi hát, gồm: trường độ (độ dài – ngắn), cường độ (nhấn mạnh –lướt nhẹ) cao độ (cao – thấp). Phần này muốn chính xác, cần phải nghiên cứu kĩ hơn, công phu hơn. Bước đầu có thể thấy, ngữ điệu dân ca xứ Nghệ, cùng với giọng điệu, có một số đặc điểm sau đây: về trường độ thường ngắn (rõ nhất là hát giặm / so sánh: quan họ, chèo: có xu hướng âm ngân dài, nhiều luyến láy); về cường độ, âm phát ra thường mạnh mẽ dứt khoát (Đã yêu thì yêu cho chắc…); về cao độ, liên quan đến thanh điệu, âm phát ra khi hát thường thấp, trầm hóa, đơn giản (ruốc tui ngon lắm bà ơi; phụ tử tình thâm / công thầy nghịa mẹ).
3.6. Dân ca xứ Nghệ thể hiện lối nói đậm chất hài hước, hóm hỉnh, trào lộng của cách nói người xứ Nghệ. Quả thật, cuộc sống, nhất là lao động chân tay luôn đầy ắp tiếng cười, đùa nghịch, tếu táo… tất cả những điều ấy nó thể hiện rõ trong giao tiếp hàng ngày, trong các câu chuyện vui và trong cả câu hát dân ca ở rất nhiều vùng miền.
Riêng ở dân ca xứ Nghệ, chúng tôi tìm hiểu một số cách đùa vui, cách đố vui, nói trạng, nói tục… trong đó có lối hát chửi. Có ba sáu kiểu cười, và cũng có khoảng từng ấy kiểu chửi. Lời chửi trong dân ca xứ Nghệ thể hiện cũng thật phong phú, sinh động. Có thể nói, cùng với các nội dung bộc lộ tâm tư, tình cảm rất đằm thắm, trữ tình thì những lời hát giễu, hát mỉa, hát chửi… đã làm thành bảng màu cực kỳ đa dạng và sinh động trong hát ví Nghệ Tĩnh.
Có bài thể hiện sự trào lộng về vợ chồng: Chồng hen lại lấy vợ hen / Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.
Đây là lời nói với bạn: ở nhà mới bước chân ra / Nom (trông) thấy mặt bạn như ga (gà) chó đòi (đuổi). “Ga chó đòi” là thành ngữ chỉ sự hốt hoảng, thiếu bình tĩnh. Lời hát vừa là nhận xét vừa là sự chế giễu về thái độ.
 Một người vợ nói về chồng mình: Chồng người vác súng đòi voi / Chồng em vác đũa đòi ròi (ruồi) bên mâm. Trong lời hát, tuy có ngoa dụ, nhưng bao hàm một sự than trách về người chồng nhút nhát.
Chiếm phần lớn hát ví Nghệ Tĩnh là những lời đối đáp. Trong cuộc hát, người ta chia thành hai phường, hai phái (nam – nữ), có bên xướng (hỏi) và bên họa (đối đáp). Đây là lời trách của bên nam: Trách em một chữ vô nghì / Chào anh một tiếng mất đi đàng nào? Bên nữ thú nhận pha chút tủi hờn: Đi qua nghiêng nón cúi lưng / Không dám chào bạn cộ (cũ) bởi chưng đói nghèo.
Cũng có khi lời hát là sự chế giễu, mỉa mai, chê trách một thói hư tật xấu:
Không tham anh lắm rọng (ruộng) nhiều bò / Tham anh một nội (nỗi) vác vò xán (ném) cha.
Đáp lại, chàng trai thú nhận: Anh vốn có tính hốt hỏa lôi đình / Lúc tâm thần bất định, có ném ông thân sinh cái vò(1).
Trong lao động, nam nữ thường trêu chọc nhau: Hỡi o (cô) cợi (cưỡi) con tru (trâu) đực cao kỳ (sống lưng) / Cho anh cợi (cưỡi) với, tắc hò rì cho quen(2).
Cô gái cũng tỏ ra mạnh dạn: Lại đây mà cợi anh nì (này) / Anh tắc bên nọ thì em hò rì bên tê (kia).
   Câu hát ví, cũng như câu ca dao, đều có chung cội nguồn và do quần chúng sáng tác truyền miệng. Nhiều câu hát ví đã thành ca dao, nhiều câu ca dao được dùng trong hát ví. Nhưng vẫn có sự phân biệt. Ngôn từ trong ca dao được chọn lọc, trau chuốt, đạt đến độ chuẩn mực và gần với văn học bác học; còn hát ví, bên cạnh những điểm tương đồng với ca dao, lại thấy những dị biệt: từ ngữ trong ví thường mộc mạc, dân dã, có nhiều từ địa phương, từ ngữ thông tục. Bởi vì, hát ví là những sáng tác tức thì, mang hơi thở nóng hổi của người dân lao động. Nó là thứ ngôn ngữ “nguyên liệu” nguyên sơ cất lên từ trong đời sống lao động, sinh hoạt hàng ngày. Những câu hát hò ấy làm cho không khí lao động thêm phần “văn nghệ” vui nhộn, giảm bớt những mệt nhọc của công việc đồng áng, giã gạo, chèo thuyền, dệt vải…
Có cô gái nghịch ngợm, ví mình như quả khế chua, ai cũng thèm, nhưng lại ở chỗ cấm:
Em như trấy (quả) khế trong chùa / Ông đi qua, bà đi lại, chộ (thấy) của chua cũng sèm (thèm).      
Bên con trai chế lại:
Em như trấy khế trong chùa / Cho anh, anh không lấy / Bán cho anh, anh nỏ (chẳng) mua / Vì chưng thằng cu(3) anh hắn dại, / chộ (thấy) của chua hắn sèm (thèm).
Cách “chơi chữ” ấy làm cho cô gái bị một phen đỏ mặt. Cũng cần nói thêm rằng, các đề tài trong chuyện trò, ca hát của dân gian rất phong phú, đa dạng. Có những lời ý nhị lẫn những lời bỗ bã, có những chuyện “thanh” và chuyện “tục”(4). “Chuyện ấy” và “cái ấy” là một trong những đề tài được nói đến nhiều, đem lại tiếng cười hồn nhiên, thoải mái. Có điều, khi sưu tầm, nghiên cứu, người ta gạt bỏ, né tránh cái vùng cấm ấy. Vì thế, lời tục, chuyện tục vắng bóng trong sách vở ghi chép.
Lời chửi, tuy rằng được xem là “kém văn hoá” nhưng dù sao, vẫn được ghi lại. Trong hát ví, từ việc chế giễu, mỉa mai, chọc tức nhau cũng có thể dẫn đến những “xung đột”, đi đến hát chửi nhau.
Một chàng nho sĩ bị các cô gái hỏi:
Nghe tin anh học vấn có tài / Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa (thế) chàng?
Anh chàng bí, vì sách vở không ghi rõ cha Mạnh Tử là ai. Biết có kẻ “gà” cho các cô một câu khá hiểm hóc, chàng bèn chửi một câu:
Thầy Mạnh là cụ Mạnh sinh ra / Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày.
Trong lời hát xướng hỏi, có khi là hỏi để thử tài, thử sự nhanh trí. Chẳng hạn lời cô gái:
Em muốn hỏi anh một lời / Ai đào sông cho cá lội, ai chống trời cho chim bay?
Nhưng bên đáp lại chửi thẳng:
Em đừng hỏi dại hỏi thàm / Lấy cọc truồng (chuồng) lợn chống hàm em lên.
Một cô gái không thích chàng trai cứ theo đuổi mình, bèn chửi:
Mồ cha mả mẹ chi anh đây / Mà đêm anh viếng mà ngày anh thăm.
Người con trai bực quá, cũng đốp ngay:
Đường cái anh đi thẳng băng / Anh có đi lên cao tổ thượng tằng nhà em mô (đâu)?               
Cũng tương tự, một cô gái khuyên:
Ngày ba mươi tháng chạp / Ngày mồng một tháng giêng
Anh không về bái yết tổ tiên / Cứ lơ lơ lửng lửng cửa thuyền quyên em mãi hoài.
Nghe nói vậy, chàng trai cáu tiết, chửi bâng quơ:
Cha tiên nhân con bướm trắng / Mẹ con ong vàng / Bởi vì ai nông nổi để cho nàng đong đưa.
Có chàng thư sinh hát ghẹo các cô gái đang cấy:
Nhà em tội lỗi vì đâu / Suốt ngày cứ chổng phao câu lên trời? 
Chàng liền bị các cô đáp lại:
Bây giờ nông vụ chí kỳ / Em mà không chổng lấy gì anh ăn?
 Câu đáp ấy không có lời chửi nhưng ngẫm kỹ thật sâu cay hơn một lời chửi trực tiếp.
   Có thể nhận xét rằng chửi trong hát ví Nghệ Tĩnh về nội dung, động cơ, từ ngữ có nhiều điểm không giống với lời chửi hàng ngày. Đó không phải là lời cay độc hoặc thô tục để nói phạm hay hạ nhục nhau. Cái cớ để chửi cũng không nghiêm trọng (như mất của, bị xúc phạm nặng nề). Lời chửi ở đây chỉ bộc lộ sự bực tức, sự phản ứng trực tiếp, có khi còn có cả sự trêu chọc nghịch ngợm. Vì vậy, nó thường không ảnh hưởng tiêu cực đến tình thân hữu của những người tham gia. Đôi khi nó còn tạo không khí thách thức, kích thích những cảm hứng mới cho cuộc hát. Nó cũng thể hiện tài ứng khẩu, nhanh trí của người đối đáp. Lời chửi, chế giễu, mỉa mai, than trách cũng có những tác dụng nhất định trong việc tác động đến người nghe, gây nên phản ứng và điều chỉnh hành vi, thái độ phê phán.
Những điều đó cũng phản ánh một phần tính cách của người dân Nghệ Tĩnh: bộc trực nhưng nhẹ nhàng, thâm thuý mà dí dỏm, gian khổ nhưng vẫn rất yêu đời. Những lời hát chửi hay mỉa mai, suy cho cùng cũng chỉ là sự vui đùa, giải trí thể hiện tính hài hước, sự lạc quan đến hồn nhiên. Cho nên, đứng ở góc độ nào đó, cũng có thể tìm thấy ở đây nét văn hoá của một lối sinh hoạt đầy ắp hơi thở cuộc sống, thấm đẫm giọt mồ hôi, giọt nước mắt của tiếng khóc, tiếng cười của người lao động ngày xưa.
Ngày xưa… Bởi vì hôm nay, thời thế thay đổi, môi trường “diễn xướng” của lối hát hò đối đáp hồn nhiên như vậy đã không còn nữa. Nó chỉ còn là những kỷ niệm của rất ít người. Đó là tiếng hát hò của “một thời quá vãng”, nhắc lại để mà nhớ. Biết vậy, nên chúng ta càng cần phải quý trọng những gì mà cha ông ta đã tạo nên tự… ngày xưa.
4. Xã hội hiện đại đang ngày một phát triển. Ngôn ngữ cũng vậy, nó không chỉ toàn dân hóa mà ngôn ngữ cũng là một thành tố tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Hàng ngày, chúng ta đang phải nghe không ít những từ ngữ nửa Tây nửa ta, kiểu như: Fan hâm mộ, sau rum (show room), ti vi, ô tô, hon đa… Thậm chí cả trong hát phường vải những năm trước Cách mạng tháng Tám, yếu tố ngôn ngữ Ấn Âu cũng đã được đưa vào trong câu ví khi các thầy đồ Tây tìm về làng quê tham gia hát phường vải:
Sao rua rọi tỏ ngày đêm / Các anh vô nhởi (chơi), dạ em mê hoài / Ra về cất tiếng ô-voa, / Khăn hồng gửi lại, mù-soa em cầm.
(Rua là sao rua, nhưng chữ Pháp nghĩa là ngày (jour), vô là vào nhưng chữ Pháp (vos) là của các anh, ở đây là các anh, em mê chữ Pháp (aimer) là yêu. Trong một câu vừa có jour vừa có ngày, có vos lại có các anh, có aimer lại có mê; Ô-voa (au revoir): chào tạm biệt; mù-soa (mouchoir): khăn tay) (Theo Ninh Viết Giao, 1993, trang 41).
Vấn đề đặt ra ở đây là với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ, yếu tố đầu tiên chúng ta phải bảo vệ được đó là ngôn ngữ, là bản sắc của xứ Nghệ trong dân ca, trong đó có cả vấn đề phương ngữ. Bởi lẽ, ngôn ngữ nói chung và phương ngữ nói riêng là yếu tố làm thành tâm điểm trong dân ca. Mất điều này là mất đi bản sắc của vùng dân ca. Nhưng nếu giữ, phải giữ thế nào để không lạm dụng, để phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại mà vẫn giữ được sự trong sáng của tiếng Việt, sự độc đáo, bản sắc của từ địa phương.
 Từ suy nghĩ đó, chúng tôi đề xuất một số ý kiến như sau:
Thứ nhất, với những văn bản cổ, làn điệu cổ của hò, ví, giặm, xin được giữ nguyên khi sử dụng. Bởi lẽ, quá trình bảo tồn và phát huy tự nhiên trong đời sống văn hóa từ trước đến nay vốn dĩ là một quá trình bảo lưu, phát triển có ý thức của nhân dân. Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan. Những gì còn lại hôm nay, nói không ngoa, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng nói: là “những viên ngọc quý” đã được mài giũa qua sự đào thải, kiểm định khắt khe của thời gian. Những gì còn lại hôm nay là những tác phẩm có giá trị đích thực, là những gì tinh túy nhất đọng lại qua sự sàng lọc đó. Xin nhắc lại một ví dụ chúng tôi đã phân tích, đừng vì toàn dân hóa mà thay ruột bầu cho rọt bù (Râu tôm nấu với rọt bù). Cái hay, cái đẹp, cái bản sắc một phần chính là từ địa phương trong những câu ca đó.
Thứ hai, trong những trường hợp vận dụng lời mới, đặt lời mới cho làn điệu cũ theo cách “bình cũ rượu mới” hay sáng tác ca khúc mới trên chất liệu dân ca… cần có sự chọn lọc để sử dụng từ ngữ, âm sắc địa phương đúng nơi, đúng chỗ. Thực tế cho thấy, rất nhiều tác giả thành công khi sử dụng phương ngữ trong ca khúc của mình: Nguyễn Văn Tý với ca khúc Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ; Trần Hoàn với ca khúc Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví giặm, Mời anh về Hà Tĩnh; An Thuyên với Hà Tĩnh mình thương; Thanh Chương với Thanh Chương mời bạn về thăm,… và rất nhiều các nhạc phẩm khác. Khi chạm đến vùng phương ngữ Nghệ, tự nhiên vậy, người nghe nhìn ra ngay cái gốc Nghệ, và không ai lại không khỏi xao xuyến bâng khuâng. Tuy nhiên nếu dùng với một dung lượng dày đặc, có thể sẽ phản tác dụng, đi ngược lại với mục tiêu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đặc biệt với ngôn ngữ kịch khi vận dụng trong chương trình biểu diễn của Kịch hát xứ Nghệ, càng cần phải chú ý điều này.
Trên đây là những suy nghĩ, nhận xét bước đầu về vai trò của phương ngôn Nghệ Tĩnh thể hiện trong hò, ví, giặm xứ Nghệ. Có thể nói rằng, phương ngôn với hệ giá trị và ý nghĩa của nó, đã làm nên sắc thái dân gian, tâm hồn xứ Nghệ trong dân ca hò, ví, giặm. Đó cũng chính là bản sắc, cốt cách và bản lĩnh của một vùng văn hóa. Mong rằng, bằng quá trình bảo tồn và phát huy di sản dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ, chúng ta sẽ giữ được cho nó phát huy được những giá trị quý giá, để nó trường tồn cùng sự trường tồn của các di sản văn hóa dân tộc.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Chung Anh, Hát ví Nghệ Tĩnh, Nxb Văn Sử Địa, H., 1958.
2. Phan Mậu Cảnh, Suy nghĩ về mấy lời hát ví, Ngôn ngữ và đời sống 3/2006.
3. Hoàng Thị Châu, Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2004
4. Nguyễn Đổng Chi – Ninh Viết Giao, Ca dao Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ Tĩnh, 1984.
5. Ninh Viết Giao, Hát phường vải, Nxb Nghệ An, 1993.
6. Ninh Viết Giao, Kho tàng vè xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 1999.
7. Thanh Lưu – Lê Hàm – Vi Phong, Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Nxb….
8. Thanh Lưu – Lê Hàm – Vi Phong, Dân ca Nghệ Tĩnh, Nxb Âm nhạc, 1991.
9. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (bản in lần thứ 8), Nxb Khoa học xã hội, H., 1978.
 
 
 

 
 

Các bài viết liên quan:

TRẦN LAM THỦY : Không gian và Môi trường diễn xướng của dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ, VIETNAM


Không gian và Môi trường diễn xướng của dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ

  •   Trần Lam Thủy
  • Thứ tư, 17 Tháng 8 2011 19:28 giảm kích thước chữ 

1. Về khái niệm không gian và môi trường diễn xướng          

Thiết tưởng sẽ là thừa khi dùng đồng hành hai khái niệm không gian và môi trường trong một bài viết, bởi lẽ, bản thân khái niệm môi trường đã bao hàm trong nó cả thời gian và không gian rồi.

Ấy vậy mà ở đây, chúng tôi vẫn phải đồng thời sử dụng cả hai khái niệm cùng một lúc, không những vậy còn phải đặt không gian lên vị trí đầu tiên. Điều này có lí do riêng, bởi không gian của hò, ví, giặm xứ Nghệ không đơn thuần chỉ là một thành tố của môi trường. Không gian ở đây là không gian văn hóa, không gian thấm đẫm chất men của thơ và nhạc. Bao thế hệ người Nghệ sinh ra trong không gian ấy, sống trong không gian ấy và chết đi trong không gian ấy. Thời gian thì vẫn cứ trôi, hết thế hệ này đến thế hệ khác, kế tiếp, sinh thành, tồn tại và phát triển. Riêng non nước, đất trời xứ Nghệ vẫn đầy đặn với sông Lam núi Hồng, với Ngàn Phố, Ngàn Sâu, với Hoàng Trù, Trường Lưu,… và những câu ví, giặm đắm say bao lớp người.Vậy phải hiểu thế nào là không gian văn hóa và môi trường diễn xướng?

Không gian (cùng với thời gian) là khái niệm vật lí chỉ khoảng không được thể hiện trong chiều sâu của thế giới tự nhiên. Nhưng khi nói tới văn hóa là nói tới những hoạt động của con người, do con người tạo ra, liên quan đến con người. Bởi vậy mà có không gian rộng – không gian hẹp, không gian tự nhiên – không gian xã hội. Không gian tự nhiên là bất định, vô thủy, vô chung, nhưng khi lấy con người làm chủ thể, làm tâm điểm, không gian được phản chiếu qua sự tri nhận của con người, lúc này không gian có kích thước, có đặc tính nhất định. Đó chính là không gian văn hóa mà chúng tôi đề cập trong bài viết này.
Môi trường có thể hiểu là nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng, quá trình ấy hoặc toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, sinh vật ấy. Hiểu như vậy thì môi trường diễn xướng của dân ca hò, ví, giặm xứ nghệchính là nơi (không gian cụ thể: sông, đồng, ao, nhà,…), các điều kiện hình thức (thuyền, ghe, chài lưới, khung cửi,…) cùng với thời gian (sáng, trưa, chiều, đêm, khuya,…) diễn ra quá trình sinh hoạt dân ca.
Chính từ cơ sở lí thuyết này mà chúng tôi song song sử dụng hai khái niệm: không gian và môi trường diễn xướng khi tìm hiểu về dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ.
2. Không gian văn hóa trong hò, ví, giặm xứ Nghệ
Nghệ thuật là sản phẩm của con người. Dù là loại hình nghệ thuật gì cũng đều mang hơi thở và cảm quan tri nhận của con người, phản ánh tâm tư, tình cảm của con người. Với văn hóa dân gian, đặc biệt là dân ca – sản phẩm nghệ thuật của quần chúng, sự phản ánh thế giới tri nhận và cảm xúc của cộng đồng lại càng đậm đặc.
Không gian trong nghệ thuật, nhất là trong văn học dân gian là không gian nguyên sơ, không gian gắn liền với không gian cụ thể (môi trường diễn xướng). Khi tìm hiểu về không gian trong dân ca hò, ví, giặm, chúng tôi nhận thấy một điểm độc đáo: hò, ví, giặm tồn tại hai lớp không gian: không gian trong ca từ (lời) dân ca và không gian ngoài ca từ dân ca. Không gian trong dân ca là không gian qua thế giới từ ngữ, qua tri nhận của con người; không gian ngoài dân ca là không gian tiền đề, không gian cơ sở phát sinh và phát triển dân ca – không gian trong môi trường diễn xướng. Điểm độc đáo hơn ở đây là hai không gian ấy gần như trùng khít trong hò, ví, giặm.
a. Không gian ngoài lời
Không gian tự nhiên của hò, ví giặm xứ Nghệ bao gồm vùng địa lí của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, thủa xưa đây là vùng đất đầu sóng ngọn gió của Đại Việt. Một vùng đất mà mưa thì mưa thối đất, nắng thì nắng cháy trời. Đã đất cằn sỏi đá lại còn gió Lào mùa hạ, gió Bắc mùa đông,… người dân nơi đây quanh năm phải chống chọi với thiên tai, địch họa. Như để bù lại cho vùng đất nghèo khó này, tạo hóa dành cho cái phần đủ đầy của vạn vật. Chỉ là một khoảng nhỏ – cái thắt lưng của đất nước – mà xứ Nghệ có đủ cả núi rừng, trung du, đồng bằng và biển cả, có sơn thủy hữu tình, có non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Có phải bởi không gian đẹp đẽ mà tâm hồn con người nơi đây cũng nên thơ. Bởi vậy mà dù khó nghèo lam lũ, người xứ nghệ vẫn để lại một kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ trong đó có các làn điệu dân ca.
Không gian ngoài lời của dân ca hò, ví, giặm không đơn thuần chỉ có tự nhiên. Đó cũng là không gian của văn hóa – vừa có tự nhiên (sông suối, núi non, ruộng đồng, biển cả), vừa có những yếu tố liên quan trực tiếp tác động đến quá trình sáng tác và thưởng thức dân ca:
 – Con người – chủ thể trữ tình – sáng tạo và thưởng thức.
– Phương tiện lao động (hò, ví, giặm gắn liền với lao động, bởi vậy những dụng cụ lao động có khi cũng là đối tượng trực tiếp tác động đến cảm xúc của con người, từ đó sản sinh lời ca. Ví dụ: Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa,…).
– Không gian lao động: Không gian lao động là một thành tố trong không gian tự nhiên, song không gian ấy đã có sự tác động của con người, có thể đó là thành quả của lao động (bãi mía, nương dâu), có thể đó là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của lao động (cá, tôm, đất cày, lúa cấy)…
Toàn bộ không gian tự nhiên ấy được con người tri nhận, thông qua sự tri nhận mới trở thành không gian văn hóa. Bốn yếu tố (không gian tự nhiên, không gian lao động, nghề nghiệp – phương tiện lao động, con người) tương tác với nhau, tạo mối tương liên, gắn bó đến một mức độ nào đó tức cảnh sinh tình mới nên thơ, nên nhạc. Dân ca hò, ví, giặm được sản sinh trong sự tương tác của các yếu tố đó, vì vậy mà có sự gặp gỡ giữa không gian tự nhiên và không gian văn hóa.
Điểm trùng khít đầu tiên dễ nhận thấy đó là sự xuất hiện của địa danh trong ca từ của làn điệu. Chẳng hạn: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh họa đồ hoặc: Người ơi! Dưới bến Tam Soa sương trùm sóng vỗ, trên ngọn Tùng Sơn thông rủ gió gào, cánh buồm bạt gió lao đao, hận chìm đáy nước hờn cao ngất trời (Ví đò đưa sông La); Ơ! Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh, thuyền em lên thác xuống ghềnh, nước non là nghĩa, là tình ai ơi! (Ví đò đưa sông Lam). Các điệu ví gắn với các địa danh khác nhau, có mặt trong câu hát. Đây có thể coi là sự trùng khít thứ nhất.
Điểm trùng khít thứ hai, không gian góp phần quy định tính nhạc cho các làn điệu. Trong dân ca, rất nhiều câu hát, nhiều làn điệu không trực tiếp nhắc đến không gian (địa danh), song không gian vẫn luôn hiển hiện trong cách phô diễn của nó. Ở đây không đi sâu phân tích về nhạc, song xin được so sánh về âm hưởng nhạc điệu của hai làn điệu trên.
Ví đò đưa sông La được diễn xướng trong không gian: sông hẹp, uốn khúc quanh co, hai bên bờ sông là núi cao, hai con thuyền cùng trôi trên dòng sông phải thuyền trước thuyền sau, có khi chỉ cách vài chục cây sào (cách tính khoảng cách của người đi thuyền – lấy cây sào chèo thuyền để ước tính) đã không còn thấy nhau, thậm chí đã cách một ngọn núi. Muốn ví (hát ví) được với nhau, tiếng hát phải vút cao, vượt ra khỏi tầm chắn của núi non, cây cối đại ngàn. Bởi thế mà Ví đò đưa sông La hầu hết sử dụng những nốt nhạc ở âm vực cao bắt đầu với các nốt Rế – Mí và kết thúc câu hát ở nốt Sol:
(Theo bản phổ ghi âm của cố nhạc sĩ Vi Phong)
Ví đò đưa sông Lam được diễn xướng trong không gian rộng, dòng sông mênh mang, hai bên bờ sông bãi mía nương dâu ngút ngàn, bởi thế mà nhịp điệu câu ví trên dòng Lam chậm, mênh mang, sâu lắng, tiếng ca cất lên như lan tỏa ra bốn bề bát ngát, thấm vào từng bãi mía nương dâu. Những nốt nhạc ở đây vì thế cũng được sử dụng ở âm vực thấp hơn, bắt đầu với các nốt Đố – đố và kết thúc câu hát ở nốt Fa:
(Theo bản phổ ghi âm của cố nhạc sĩ Vi Phong)
Rõ ràng không gian đã góp phần tạo nên âm hưởng, giai điệu của câu hát. Đây là biểu hiện thứ hai của sự trùng khít về không gian ngoài lời và không gian trong lời của hò, ví, giặm xứ nghệ.
Dân ca hò, ví, giặm hình thành và gắn liền với nghề nghiệp lao động của người dân xứ Nghệ. Mỗi một nghề nghiệp lại có câu hát, làn điệu hát riêng phù hợp với công việc của mình. Bởi vậy, không gian của hò, ví, giặm xứ Nghệ rất phong phú. Trong không gian rừng núi, có Ví trèo non; không gian đồng ruộng lại sinh ra Ví phường cấy, Ví đồng ruộng; không gian lao động sông nước lại có Hò trên sông; Ví đò đưa sông La, Ví đò đưa sông Lam,… Khi cùng với không gian, thời gian có những dấu hiệu đặc biệt, tạo thành điểm nhấn sự kiện, chúng ta lại có Giặm cửa quyền, Giặm Đức Sơn;… Cái đặc sắc của hò, ví, giặm chính bởi sự gắn bó chặt chẽ với không gian, môi trường lao động của nhân dân, nhịp điệu của hò, ví, giặm cũng đa phần là nhịp điệu của lao động (Hò xeo gỗ, Hò đầm đất đắp đê, Hò trên sông,…). Chính vì vậy mà đến với hò, ví, giặm xứ Nghệ, người nghe không chỉ cảm nhận cái hay của câu hát, giọng hát mà còn thấy được trong đó cả một nền văn hóa lao động của bao thủa cha ông người Nghệ. Đó là những trầm tích văn hóa được lưu giữ, bảo tồn trong lời ca. Có lẽ đó cũng là một lí do để hò, ví, giặm trở thành vốn quý, thành kho báu vô giá của xứ Nghệ.
Đa phần các làn điệu hò, ví, giặm có môi trường diễn xướng tương đối tự do, linh hoạt trong các không gian và thời gian. Tuy nhiên, cũng có những sinh hoạt mà không gian, thời gian bị quy định chặt chẽ với thủ tục cuộc hát như ví phường vải.
Thời gian hát phường vải thường bắt đầu vào chập tối, khi các cô gái lên đèn, tập trung lại cùng ngồi quay xa, các chàng trai chơi hát dập dìu ngoài ngõ… và kết thúc vào nửa đêm, gần sáng. Không gian cuộc hát cũng dần dần thay đổi theo thời gian: lúc đầu hai bên nam nữ có khoảng cách, người trong nhà, kẻ ngoài ngõ; về sau, khi cuộc hát đã đến hồi thân thiết, gắn bó, các chàng trai mới được mời vào trong sân, trong nhà. Không gian, thời gian ấy tuân thủ theo từng bước trong thủ tục của cuộc hát:
Chặng 1: thời gian đầu, các chàng trai mới đến ngoài ngõ thì hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi. Trong lời hát của hai bên nam nữ thường đã có những dấu hiệu về thời gian và không gian:
Chẳng hạn trong các lời hát dạo của bên nam:
                        – Chiều chiều khăn bận áo ôm
            Đi tìm người bạn từ đầu hôm đến giừ (bây giờ).
                        – Đi qua nghe tiếng em đàn
            Cá mười khe đứng lại, chim trên ngàn độ (đậu) im.
Lời chào của bên nữ cũng thấy rõ đặc điểm của không gian, thời gian và cả thái độ trân trọng, lịch sự đối với người đến hát:
                        – Đêm khuya trời lạnh sương im
            Tai nghe tiếng nhạc chàng Kim tới gần.
                        – Bóng ai thấp thoáng vườn hoa
            Hình như Kim Trọng tới nhà Kiều, Vân.
Hoặc:
                        Đến đây đầu lạ sau quen
            Đầu đứng ngoài ngõ, sau len vô nhà.
Chặng 2: hát đố (hát đối) – Đây là giai đoạn thử thách đối với bên nam, chính vì vậy mà không ít trường hợp đã than thở:
                        Ở đây nỏ (không) thấy có thành
            Ngõ ngoài không đóng mà anh khó vào.
Khi đã thực sự ý hợp tâm đầu, khoảng cách giữa hai bên được rút ngắn, bên nữ thường chủ động mời bên nam vào trong:
                        Ra tay mở khóa động đào
            Thực tiên thời được bước vào chơi tiên.
Hoặc:
                        Sẵn sàng kiếu gụ giường đồng
            Mời chàng nho sĩ thong dong phản ngồi.
Chặng 3: thời gian lúc này đã về khuya, qua lời hát mà hai bên đã thân thiết, gắn bó hơn. Lúc này thường là bên nam đã được mời vào nhà, cuộc hát từ chỗ trong nhà – ngoài ngõ nay đã chuyển sang cùng một không gian (cùng trong sân hoặc trong nhà). Các cô gái tay xe suốt, vừa làm vừa hát; các chàng trai vừa ngắm nhìn bên nữ làm việc, vừa hát. Họ chuyển sang hát xe kết, hát cưới, cuối cùng khi sắp phải chia tay thì hát tiễn:
                        – Ai về nhắn nhủ trăng già
            Nhủ trăng khoan lặn, nhủ gà khoan kêu.
                        – Anh về, nước mắt (em) nhỏ dòng
            Thấu thiên, thấu địa, thấu lòng anh chăng.
Có thể nói, đây là đoạn hát mà không gian và thời gian có tác động mạnh tới tâm trạng, cảm xúc của người hát nhất. Sự quyến luyến, niềm nhớ thương, có khi cả sự tiếc nuối… thể hiện rõ nhất trong đoạn hát này. Đại thi hào Nguyễn Du (thế kỉ XVIII) thời trai trẻ đi hát phường vải cũng có lần phải than thở:
                        Tiếc thay duyên Tấn phận Tần
            Chưa quen đã lạ, chưa gần đã xa
                        Chưa chi đông đã rạng ra
            Đến giờ chỉ giận con gà chết toi.
                                    (Nguyễn Du, Thác lời trai phường nón)
Không gian thời gian trong hát ví phường vải không chỉ là môi trường diễn xướng đơn thuần, đây là không gian của quan hệ, không gian ứng xử, không gian gắn kết mối quan hệ giữa người với người, tạo nên sự ứng tác và xác lập mối quan hệ. Người ta trổ tài văn chương thơ phú trong không gian ấy, quyến luyến, yêu thương nhau trong không gian ấy.
Có thể nói, không gian hò, ví, giặm xứ Nghệ là không gian thấm đẫm chất văn hóa, tinh thần nhân văn sâu sắc.
b. Không gian trong lời
Cũng như mọi yếu tố nghệ thuật khác, không gian phải được thể hiện qua hệ thống ngôn từ. Dân ca hò, ví, giặm cũng sử dụng một hệ thống từ ngữ biểu thị không gian riêng của mình. Qua phân tích các ví dụ trong cuốn Hát ví phường vải, Kho tàng vè xứ Nghệ của tác giả Ninh Viết Giao, Dân ca Nghệ Tĩnh (các làn điệu), chúng tôi tạm chia hệ thống từ biểu thị không gian trong hò, ví, giặm xứ Nghệ thành các nhóm sau:
Nhóm 1- không gian trong thời gian được xác định qua hệ thống các từ như: hôm qua, hôm nay, sẽ, đã, đang,… Chẳng hạn:
       Hôm qua anh đi qua cửa nhà nàng
       Anh thấy cha mẹ đánh đập nàng, nàng khóc nàng than
       Nhà nàng cửa sổ song loan
       Anh muốn ghé lưng vô anh chịu trận đòn oan cho nàng.
Hoặc:
                        Đã thương thì thương cho chắc
                        Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
                        Đừng như con thỏ đứng đầu truông
                        Khi vui thì rỡn bóng, khi buồn lại bỏ đi.
            Nhóm 2 – không gian qua hệ thống đại từ nhân xưng. Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt không chỉ là những từ dùng để xưng, gọi (kiểu đơn thuần như I – You của tiếng Anh) mà còn thể hiện quan hệ, tình cảm của người xưng gọi, xác định đối tượng mà người gọi hướng tới. Trong dân ca hò, ví, giặm còn lưu giữ cả một hệ thống đại từ xưng gọi cổ: chàng, nàng (nường), thiếp, anh, em, ai ơi, người ơi,… Chúng tôi xin được phân tích qua một làn điệu Ví phường vải (theo ghi âm của cố nhạc sĩ Vi phong):
            Người ơi ơ thiếp thương chàng đừng cho ai biết, chàng thương thiếp (thì) đừng để ai ờ hay i rồi ra miệng thế lắt lay chứ cực chàng chín rưỡi (thì) khổ thiếp đây i ơ mười phần.
            Một làn điệu ví ngắn thôi nhưng có tới bảy lượt xuất hiện đại từ xưng gọi. Đầu tiên là một từ phiếm chỉ: người ơi hướng đến đối tượng chung. Đây là cơ sở để tiếng lòng, tâm sự của một người, trong một hoàn cảnh cụ thể trở thành tâm sự của nhiều người trong nhiều hoàn cảnh tương đương. Sau đó là lời xưng (thiếp) và lời gọi (chàng), qua lời xưng và gọi này, ta có thể thấy ngay đây là lời của người con gái ví với người con trai, quan hệ của họ là quan hệ thân thiết, yêu đương. Như vậy, chỉ qua ba từ xưng gọi trong lời ca mà đã định danh được mối quan hệ, hướng đối tượng, … không gian văn hóa của làn điệu.
            Nhóm thứ 3 – Không gian qua định từ và danh từ, đây là không gian được xác định rõ bằng địa điểm tương đối cụ thể: bến, thuyền, ngọn, đồng, ruộng, bãi,…và các từ thay thế đây, kia, này, nọ,… Không gian có khi được xác định rõ: dưới bến Tam Soa, trên ngọn Tùng Sơn, Ngàn Hống, sông Rum, chợ Thượng, chợ Hạ,… Chẳng hạn:
                                    Bao giờ Ngàn Hống hết cây
                        Sông Rum hết nước, đó với đây mới hết tình
            Đọc câu ca lên, người ta dễ dàng nhận ra những địa danh cụ thể: Ngàn Hống, sông Rum, đối tượng có thể xác định: đó (người nghe), đây (người ví), nhưng khi câu ví cất lên ngọt ngào, tha thiết thì còn đâu những đối tượng cụ thể ấy nữa, tất cả bỗng nhòa đi như mây khói, chỉ còn lại tiếng lòng ngân vang trong lời hẹn thề của trai gái yêu nhau, của ân tình xứ Nghệ. Mới hay từ không gian thực đến không gian tri nhận, không gian văn hóa trong câu ví xứ Nghệ tinh tế và ý nhị biết nhường nào.
            3. Không gian, môi trường diễn xướng với việc bảo tồn và phát huy di sản dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ
            Không gian, môi trường diễn xướng của hò, ví, giặm xứ Nghệ đa dạng, phong phú. Bất kì không gian nào cũng có thể là môi trường tạo ra dân ca. Chính vì vậy mà dân ca xứ Nghệ giàu làn điệu, nhiều biến thể, có khả năng ứng tác cao. Đây là một điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn và phát huy, phát triển nó trong mọi thời đại. Thực tế công tác bảo tồn và phát huy dân ca của chúng ta bấy lâu nay đã chứng minh điều đó khi chúng ta tiến hành phát triển dân ca thành một bộ môn kịch hát sân khấu; tái tạo các làn điệu dân ca cổ bằng lời mới phù hợp với thực tế cuộc sống đương đại; sử dụng chất liệu dân ca trong sáng tác những ca khúc mới mang hơi thở của thời đại,… Tuy nhiên, môi trường diễn xướng của dân ca hò, ví, giặm vốn là môi trường của lao động; không gian của dân ca là không gian của vũ trụ bao la với sông, với đồng, với núi non đại ngàn, với biển cả… và đời sống chân chất thôn dã. Trong khi đó, không gian chúng ta đang bảo tồn dân ca hiện nay chủ yếu là không gian nhân tạo với sân khấu, lễ hội,… không đủ sức để tái tạo và phản ánh không gian ban đầu của dân ca. Để đại chúng hóa, đưa dân ca đi vào đời sống quần chúng hiện nay là một việc hết sức khó khăn. Trong khi cơ cấu kinh tế – ngành nghề thay đổi, thị hiếu âm nhạc của công chúng thay đổi. Dân ca không chỉ bảo tồn mà còn phải cạnh tranh quyết liệt với những dòng nhạc hiện đại, Ta có, Tây có, để tồn tại và phát huy giá trị của mình.
            Thực tế hiện nay của dân ca hò, ví, giặm là rất nhiều không gian, môi trường diễn xướng không còn nữa, nhiều hình thức sinh hoạt dân ca đã chìm vào dĩ vãng và có nguy cơ bị lãng quên như hát ví phường vải, giặm xẩm,… Đó là những sinh hoạt lành mạnh nhất, giàu tính nhân văn nhất, và có tác dụng giáo dục, tuyên truyền, di dưỡng tâm hồn vào bậc nhất. Nếu được khôi phục, chắc chắn nó sẽ còn phát huy giá trị của mình trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta không thể để quá trình bảo tồn diễn ra một cách tự nhiên mà cần có những động thái tích cực để thúc đẩy. Có thể bằng nhiều biện pháp như: xây dựng những đề án khôi phục không gian và hình thức sinh hoạt trong chương trình du lịch, giới thiệu quảng bá về văn hóa địa phương; đưa sinh hoạt dân ca vào những nghi lễ, lễ hội; dạy hát và hát dân ca trong nhà trường, trên truyền hình; tổ chức các câu lạc bộ sinh hoạt dân ca; xây dựng những chủ đề dân ca trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng;… Phải làm sao cho không gian văn hóa hôm nay thấm đẫm dân ca. Đó là một trong những điều kiện cần và đủ cho nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản dân ca hò, ví, giặm trong đời sống hiện nay.                                                                                                                                                                    T.L.T.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.       Phan Mậu Cảnh, Suy nghĩ về mấy lời hát ví, Ngôn ngữ và đời sống 3/2006.
2.       Ninh Viết Giao, Hát phường vải, Nxb Nghệ An, 1993.
3.       Ninh Viết Giao, Kho tàng vè xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 1999.
4.       Nguyễn Nhã Bản, Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, 2001.
5.               Thanh Lưu – Lê Hàm – Vi Phong, Âm nhạc dân gian xứ nghệ, Nxb Âm nhạc 1994.
6.       Thanh Lưu – Lê Hàm – Vi Phong, Dân ca Nghệ Tĩnh, Nxb Âm nhạc, 1991.
 

Các bài viết liên quan:

NINH VIẾT GIAO: Về ba loại hình dân ca Hò, Ví, Giặm, VIETNAM


Về ba loại hình dân ca Hò, Ví, Giặm

  •   Ninh Viết Giao
  • Thứ bảy, 06 Tháng 8 2011 15:32
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

A. PHÁC QUA VÀI NÉT VỀ BA LOẠI HÌNH DÂN CA HÒ, VÍ, GIẶM

I. Hát ví
1. Hát ví là gì?
Nhiều người cho rằng Ví là ví von, như câu:
                      Em như hoa nở trên cành,
            Anh như con bướm lượn vành khát khao.
 
Lại có người cho rằng Ví là với, bên nam hát với bên nữ. Nhiều người lại cho rằng hát ví là hát vói, bên nam đứng ngoài ngõ ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với các cô gái đang kéo vải, hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang đỗi ruộng bên cạnh với đám con trai đang nhổ mạ. Ý kiến thứ ba này cần chú ý hơn.
2. Hát ví ở xứ Nghệ.
Các loại hình và sự ra đời.
Cũng như các địa phương khác, hát ví ở xứ Nghệ cũng là lối hát giao duyên giữa trai và gái. Ở xứ Nghệ này nói hát ví là hát chung. Loại hình lao động nào cũng có hát ví. Người chèo thuyền trên sông nước có ví đò đưa, ví trên sông; người đan lát rổ rá có ví phường đan, người đi củi có ví phường củi, người kéo vải có ví phường vải,… Cứ theo các loại hình lao động chúng ta còn thấy có hát ví phường vàng, hát ví phường nón, hát ví phường cấy, hát ví phường gặt, hát phường chắp gai đan lưới,… Như vậy ngay cái tên của nó, cũng đã gắn với nhiều nghề nghiệp với lao động rồi. Trong các loại hình hát ví nói trên, hát ví phường vải nổi trội hơn cả.
Như vậy nguồn gốc của hát ví là do lao động, do nhu cầu sinh hoạt về mặt tinh thần của nhân dân trong lúc lao động. Nhân dân lao động xứ Nghệ đã sáng tạo ra hát ví. Nó là một phương tiện sinh hoạt văn nghệ tự túc của nhân dân. Có lẽ nó ra đời đã lâu lắm rồi, nhưng năm tháng nào thì chưa rõ, ít nhất cũng vào đầu thế kỉ XVIII.
3. Các đặc điểm của hát ví
Hát ví xứ Nghệ có các đặc điểm sau:
3.1. Không kể thời gian:Không như hát quan họ ở Bắc Ninh, hát xoan ở Phú Thọ, hát cửa đình ở một số nơi khác, quanh năm trên đất Nghệ, lúc nào cũng có tiếng hát ví, không hát ví đò đưa, ví phường vải thì có ví phường củi, ví phường măng, ví phường bện võng,…
3.2. Hát ví xứ Nghệ, nhất là ví phường vải có quy cách hẳn hoi
Quy cách hát ví thể hiện ở một thủ tục nhất định – thủ tục một cuộc hát thường có ba chặng. Chặng một có hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi. Chặng hai là hát đố hoặc hát đối. Chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Thủ tục trên mang tính lịch sự của một cuộc hát. Phải qua một quá trình phát triển như thế nào mới hình thành được một thủ tục như vậy.
– Không những có thủ tục mà còn có quy cách. Con trai mới đến hát phải đứng ngoài đường ngoài ngõ. Vượt được cái chặng hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi mời là bước đầu. Phải qua được cái cầu hát đố, nhất là hát đối mới được mời vào nhà. Mời vào nhà rồi còn phải đối đáp những câu hát mời uống nước, mời ăn trầu, mời hút thuốc, mới đến cái bước hát xe kết.
– Ngoài ra còn cách hát. Ví như hát ví phường vải, trước khi hát một câu, bên nam gọi bên nữ: “ơ này, chị em phường vải ơi!“. Bên nữ đáp “ơ này, thưa chi!” rồi bên nam mới hát. Hát hay, bên nữ khen: “Hay, ơ rằng hay” hoặc “Hay, hỡi rằng cân“, Còn hát không hay, câu văn lủng củng các cô nói “Hay, răng chưa cân“, “Ơ rằng chưa xinh“. Bên nữ trước khi hát câu nào cũng phải gọi bên nam: “Ơ, người đi nhởi ơi!“. Đó là lúc đầu. Còn khi đã đằm thắm gắn bó với nhau thì phải gọi “ơ là bạn, người ơi!“, hoặc “ơ, là bạn tình ơi!“, …
3.3. Có nhà nho tham gia
Không phải hát ví nào nhà nho cũng tham gia. Các nhà nho thường tham gia ví phường vải, ví phường nón, ví phường vàng,… tham gia hát ví đa số là các nhà nho bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, những cũng không ít các danh sĩ như Nguyễn Du, các nhà khoa bảng như Đinh Viết Thận, các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu,… Tham gia hát ví, họ thường làm “thầy bày”, “thầy gà” cho bên nam hoặc bên nữ. Một số người cũng trực tiếp cất giọng. Có nho sĩ tham gia, nên bao giai thoại về hát ví có liên quan đến họ còn truyền lại mãi ngày nay.
3.4. Ca từ hát ví
Hầu hết được sáng tác theo thể lục bát, một số câu theo thể song thất lục bát hay còn gọi là lục bát biến thể. Vì đã trải qua một thời gian dài, lại có nhà nho tham gia, nên ca từ hát ví nhất là hát ví phường vải, nhiều câu hát ví khá chải chuốt, khá điêu luyện. Nhiều câu hay đến mức kinh điển, ví như các câu:
            Sự đời nước mắt soi gương
            Càng yêu mến lắm, càng thương nhớ nhiều
            Thấy anh như thấy mặt trời,
            Chói chang khó ngó, trao lời khó trao.
3.5. Làn điệu hát ví
 Giọng hát ví cất lên nghe trầm trầm, tha thiết, lắng sâu vào lòng người, nghe như có gì nấc nghẹ trong lòng, đè nặng lên tâm tư, quấn quýt vấn vương bên mình, đứng gần nghe như nhắn nhủ, như nỉ non tâm sự, đứng xa nghe man mác, bâng khuâng, tưởng như người hát, hát cho người khác nghe thì ít mà hát để bộc lộ nỗi lòng của mình thì nhiều. Suốt đêm bà con chỉ hát một làn điệu. Có thay đổi chăng là giọng thấp, giọng cao, giọng dí dỏm hài hước, giọng giận hờn, trách móc, giọng da diết yêu thương,… cho phù hợp với nội dung câu hát và tâm trạng của mình, với môi trường hoàn cảnh xung quanh, với thời gian ngày đêm, không gian núi đồi, sông nước, làng mạc, ruộng đồng hay chỉ trong một cái sân nhỏ, một căn nhà tranh,… phù hợp với công việc đang làm, chứ làn điệu trước sau chỉ là một. Là một song biến hóa vô cùng về âm sắc nên một số nhạc sĩ cho rằng làn điệu hát ví “rất phong phú” hay “khá phong phú”.
3.6. Không gian văn hóa của hát ví
Như vừa nói trên, người Nghệ hát ví mọi nơi, mọi môi trường, mọi không gian. Riêng hát ví phường vải thì:
a) Không gian văn hóa của nó:
Lúc đầu, trong nhà – ngoài ngõ; về sau trong nhà hoặc trong một mảnh sân của một nhà nào đó.
b) Thời gian văn hóa:
Thường từ chập tối đến nửa đêm.
c) Công cụ sinh hoạt:
Bên nữ: Xa quay kéo vải, gắn liền với lao động;
Bên nam: Không làm gì, chỉ đứng hát, hay ngồi hát.
d) Con người (cả hai bên):
– Người cất giọng hát;
– Người đỡ giọng (có thể là một, hai hay ba người);
– Thầy bày, hay còn gọi là thầy gà;
– Thính giả tự nguyện.
đ) Nội dung sinh hoạt:
Hát giao duyên, trong đó có:
– Hát qua – Hát lại (theo ý, theo lời);
– Hát hỏi – Hát đáp;
– Hát đố – Hát giảng;
– Hát đối – Hát chọi;
– Hát xe kết, kể cả hát tiễn (cũng hát qua hát lại).
e) Thủ tục cuộc hát:
Bảy bước – ba chặng như đã nói trên.
Với đặc điểm này và năm đặc điểm trên, ở xứ Nghệ khi trai gái hát ví giao duyên với nhau thì rõ ràng nó mang tính chất nguyên hợp của Folkore.
II. Hát giặm
1. Hát giặm là gì?
Có người cho rằng giặm là giẫm chân và hát giặm là lối hát có đánh nhịp bằng chân. Lại có người cho rằng, tiếng giặm xuất phát từ tính phân đoạn trong một bài hát giặm, tức là trong một bài hát có nhiều đoạn nhiều khúc. Còn có người cho rằng, giặm là giắm vào, điền vào như giắm lúa, điền nan (trong một cái rổ). Ý kiến này căn cứ những câu láy lại trong một bài hát giặm. Thực ra những ý kiến trên chưa thuyết phục hoàn toàn đối với những người muốn tìm hiểu về hát giặm.
Thật ra, theo tôi nó là tiếng vang lại của giọng nói nơi núi rừng. Nhất là khi chúng ta đi vào những khu núi rừng có nhiều vách đá thẳng tắp cheo leo. Khi nói một câu chúng ta thường nghe lại những tiếng của chính mình. Câu láy lại trong một đoạn hay một khúc có thể là tiếng vọng đó của con người thời xa xưa. Ý kiến trên của tôi mới có tính chất tương đối mà thôi, nhưng đã được một số người cho là có tính chất khám phá.
2. Các đặc điểm của hát giặm
2.1. Hát giặm xứ Nghệ có hai hình thức:
– Hát giặm nam nữ.
– Hát giặm vè (tức vè sáng tác theo thể hát giặm)
Ở đây xin chỉ nói về hát giặm nam nữ. Cũng như hát ví, người xứ Nghệ hát giặm quanh năm, không kể mùa xuân hay mùa hạ, nam nữ gặp nhau hễ có dịp cùng nhau lao động, tổ chức thành phường hát đơn giản là có thể ca hát giặm nam nữ. Nó khác hát ví ở chỗ, hát ví thịnh hành khắp xứ Nghệ, còn hát giặm chỉ thịnh hành ở phía Nam Hà Tĩnh, cụ thể là các huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ,…
2.2. Thủ tục hát giặm: Hát giặm xứ Nghệ cũng có thủ tục như hát ví, song không chặt chẽ như hát ví, nó có ba bước cơ bản là hát dạo, hát đố và hát xe kết. Trong bước hát dạo, có khi hát chào, hát mừng, hát hỏi thay cho hát dạo. Còn hát đối hầu như vắng bóng, có chăng chỉ là thưa thớt. Đã thế qui cách hát cũng đơn giản.
2.3. Vai trò nhà nho: Ít có hoặc không có nhà nho tham gia hát giặm. Nhà nho tham gia hát giặm là những người thích hát, biết hát giặm, tự hát được những bài hát giặm. Còn làm thầy bày, thầy gà thì khó lắm. Vì hát giặm nam nữ, có bài ba bốn chục câu, thậm chí có bài năm sáu chục câu mà người hát phải hát liền một mạch thì bày hoặc gà thế nào được.
2.4. Về ca từ: Nếu như hát ví hầu hết là những câu lục bát và lục bát biến thể thì ca từ hát giặm hầu hết là những câu năm chữ hoặc bốn chữ. Trong một khổ hay một đoạn của bài hát giặm thường bốn hay năm câu. Thí dụ một đoạn:
Canh khuya nghe tiếng trống
Nhớ bạn cũ ghe tằng
Biết tính liệu mần răng?
Chung buồng hương mới thoả
Hợp một nhà mới thoả
                                    (Trông cho liễu gặp đào)
Như vậy câu đầu là trắc, câu cuối và câu láy là trắc. Hai câu giữa là bằng. Hai câu giữa này có khi mở rộng lên chín, mười câu hoặc nhiều chục câu.
Về ca từ chúng ta chú ý:
a. Câu láy
Không phải khổ hay đoạn vè nào trong một bài vè hát giặm cũng có câu láy lại. Ý nghĩa chính của câu láy lại là để nhấn mạnh cái ý của đoạn hay khổ vừa nói. Nhưng chúng tôi cho rằng, đó là tiếng vang vọng (écho) của núi rừng. Điều này cắt nghĩa, hát giặm xứ Nghệ ra đời từ xa xưa, khi con người còn sống ở nơi núi rừng có nhiều vách đá cheo leo, như đã nói trên.
b. Câu mở đầu và câu kết thúc
Nhiều bài hát giặm mở đầu bằng câu lục bát rồi mới tiếp theo là những câu 5 chữ hoặc 4 chữ. Thí dụ như bài “Nghe tiếng tài hát giặm
Cây cỏ lá đề,
Nghe tiếng tài hát giặm
Bạn mới về tới đây,
Ngồi ghế trúc, ghế mây,
Ngồi ghế tàu chạm lộng.
Kết thúc cũng thế, có bài câu cuối cũng vẫn 5 chữ, có bài câu cuối cùng sáu, bảy, tám chữ, có bài là câu lục bát.
2.5. Làn điệu hát giặm
Thường có hai làn điệu là: hát ngâm và hát nói: Hát nói là cơ bản, phần chủ yếu của âm nhạc hát giặm. Hát nói của hát giặm tạo cho người nghe một cảm giác đều đều, chắc gọn, nặng nề. Phương ngữ xứ Nghệ có câu:
Dại nhất là thổi tù và,
Thứ nhì hát giặm, thứ ba thả diều.
Mặc dù nó vẫn có vần, có âm, có tiết. Nó là một loại dân ca ở trình độ còn thô sơ, chưa đến mức độ điêu luyện, uyển chuyển, phản ánh cuộc sống phong phú, nhiều màu sắc của con người ở nơi đồng bằng trù mật, đô hội như hát ví. Cách hát của hát giặm thường chỉ ngân mà không rung, nét mặt, khuôn miệng khi hát không được tròn trĩnh xinh tươi cho lắm, nên phương ngữ xứ Nghệ còn có câu: “Hát giặm đồng đội, mặt to như cái nồi, còn ngồi hát giặm”. Do đó, phải có hát ngâm.
Tuy là thứ yếu nhưng nó làm bài hát giặm đỡ khô khan, đỡ nhàm chán. Hát ngâm thường là câu lục bát và khi cắt giọng cũng gần như hát ví.
Với 2 làn điệu như vậy, Giáo sư Nguyễn Đổng Chi cho rằng hát giặm “phản ánh tính chất một thứ lao động nào đó tương đối nhọc mệt, đều đều như đi đường, leo núi, giã gạo, v.v… hoặc phải chăng nó chịu ảnh hưởng của một công cuộc sinh hoạt hãy còn thô sơ, đơn điệu ở chỗ núi rừng”. Điều này Giáo sư đã thống nhất với chúng tôi qua phần ý nghĩa của câu láy lại đã nói trên.
2.6. Về không gian văn hóa và thời gian văn hóa của hát giặm
Cũng tương tự như hát ví, khác chăng là không có thầy bày, thầy gà; không có hát đối – hát chọi, và thủ tục cuộc hát không chặt chẽ như hát ví, nói tóm lại là đơn giản hơn nhiều, câu văn mộc mạc hơn nhiều.
Trên đây là khái quát những nét cơ bản về hát ví và hát giặm xứ Nghệ.
III. HÒ
1. Hò là gì?
Hò là hô lên trong lúc làm một công việc gì đó nặng nhọc như kéo gỗ, kéo đá, đẩy xe bò lên dốc, gánh nặng đi đường xa, v.v…
Chức năng chủ yếu của hò là phục vụ công việc lao động, trợ ứng cho lao động. Lúc lao động nặng nhọc, người ta rất cần nhịp điệu và tiết tấu mang tính tập thể, tính cộng đồng để công việc được nhẹ nhàng hơn, đỡ sức cơ bắp hơn. Do đó mà cần phải có hò.
2. Hò ra đời từ bao giờ?
Các nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian đều cho rằng: “Hò là những bài ca lao động, trợ ứng cho lao động, ra đời từ thời kỳ phát triển rất sớm của nhân loại và đóng vài trò quyết định trong việc xuất hiện của sáng tác thơ ca” (K.Biukhơ). Những bài ca lao động như hò được sản sinh ra một cách trực tiếp từ quá trình lao động, gắn liền với nhịp điệu lao động và cảm hứng lao động. Trong lao động, nhịp điệu rất quan trọng. Nhịp điệu là đặc trưng của động tác lao động.
3. Các loại hò ở xứ Nghệ
Có thể kể:
– Hó kéo gỗ, kéo đá.
– Hò leo núi.
– Hò bơi thuyền.
– Hò khoan đi đường.
– Hò kéo lưới.
– Hò ra khơi, còn gọi là hò ruốc tôm canh.
– Hò nện đất hay còn gọi là hò đầm đất.
– v.v…
4. Cách thức hò
Có 2 phần:
– Phần “Kể” hay “Xướng“. Phần này thường là một câu ca do một người xướng lên, hát lên.
– Phần “” là một tiếng hoặc một câu ngắn do tập thể những người cùng lao động hưởng ứng mà “hò lên“, như “hự“, “dô ta“, “hò khoan“, “ấy mời hò khoan“, v.v…
5. Lời ca của hò
Như vừa nói trên thường là câu lục bát hay những câu 4 chữ, 5 chữ. Nội dung những câu này thường thích hợp với loại hình lao động, hoàn cảnh lao động. Nhưng Biukhơ trong cuốn “Lao động và nhịp điệu” khi phân tích những bài ca lao động thường chú trọng vào ý nghĩa thuần túy sinh lý của nhịp điệu tức là những câu hát. Ông cho rằng, chính những câu như vậy mới gây cảm hứng lao động, tăng sức mạnh cho cơ bắp. Dân ta kéo gỗ thường hò câu:
Kéo gỗ thì phải có đà,
Đàn ông dập xuống, đàn bà ưỡn lên.
Chính qua lời ca của hò mà phát sinh thêm chức năng của hò, của những bài ca lao động như chức năng tố cáo, chức năng đấu tranh. Ví như câu:
Có ông bang tá xã ta,
Thấy dân kéo gỗ đi qua nghe hò.
Hò rằng bang mủng bang mo,
Thấy cô vú dảnh, bang mò ăn đêm.
Chẳng thế mà hò có câu:
Thiên lý quan san, vạn lý quan san,
Câu hò “khoản ấy” gỗ băng ngàn gỗ đi.
Và ở xứ Nghệ ở đâu có hò kéo đá, kéo gỗ thì người đi xem rất đông. Họ đi xem để nghe câu hò “khoản ấy”, rất nhiều câu đụng đến ông nọ bà kia trong làng xã.
Về hò tôi xin dừng lại ở đây.
B. GIÁ TRỊ CỦA DÂN CA HÒ, VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ
1. Dân ca ví, giặm và hò: Đặc biệt ví, giặm là một tài sản văn hoá phi vật thể cổ truyền, lâu đời; một thổ sản đặc biệt của xứ Nghệ. Nó do nhân dân xứ Nghệ sáng tạo ra. Nó là dân ca lao động, dân ca nghề nghiệp, dân ca trữ tình. Nhân dân Xứ Nghệ đã luôn sử dụng, phổ biến, lưu truyền và phát huy rộng rãi trong toàn vùng xứ Nghệ. Nó mang âm hưởng và sắc thái rõ ràng của xứ Nghệ. Khi làn điệu hát ví, hát giặm được cất lên thì không chỉ người xứ Nghệ mà người các địa phương khác trong toàn quốc đều biết ngay đó là của nhân dân xứ Nghệ. Ta có thể khẳng định: Bản quyền sáng tạo, sử dụng, lưu truyền và phát huy dân ca ví, giặm là nhân dân xứ Nghệ trong trường kì lịch sử. Đó là niềm tự hào của nhân dân xứ Nghệ. Điều đó là một chân lí, không cần tranh cãi.
2. Nhân dân xứ Nghệ trong quá khứ cũng như hiện tại đã nắm chắc lấy nó, coi nó là một phương tiện văn nghệ tự túc, để vui chơi giải trí, một tài sản tinh thần vô giá để thể hiện các quan niệm về cuộc sống về đấu tranh, chống các thế lực hắc ám; về thể hiện các mối quan hệ xã hội, quan hệ với tự nhiên; thể hiện ý chí, tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, nhất là hạnh phúc lứa đôi của mình,vv…
3. Dân ca ví, giặm xứ Nghệ như đã nói trên là phương tiện sinh hoạt văn nghệ tự túc của nhân dân lao động xứ Nghệ, nhưng bao danh sĩ, chí sĩ yêu nước, bao nhà khoa bảng có tên tuổi, bao trí thức bình dân trên đất Hồng Lam này, đã từng thức thâu đêm, tham gia hát ví, hát giặm với quần chúng lao động. Có thể kể: đại thi hào Nguyễn Du, tiến sĩ Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Quýnh, danh sĩ Nguyễn Huy Hổ, ông hoàng tài ba trong làng ca trù Nguyễn Công Trứ, nhà ái quốc vĩ đại Phan Bội Châu, chí sĩ Vương Thúc Quý. Tắm gội với sinh hoạt văn nghệ quần chúng, họ đã làm sang trọng hai loại dân ca ví, giặm của quê hương, nhưng lại hấp thu được hương phấn của hai loại dân ca đó, nói cách khác là hai loại dân ca đó đã thầm lặng giúp đỡ họ và nhiều tác giả khác, sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ, làm sáng rực lâu đài văn học dân tộc, như Truyện kiều của Nguyễn Du, Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự, Mai Đình mộng kí của Nguyễn Huy Hổ, những bài hát ca trù phóng khoáng của Nguyễn Công Trứ, các bài văn, bài hát giặm vè động viên lòng yêu nước của Phan Bội Châu, vv… Phải nói hát ví, hát giặm có giá trị như thế nào mới hấp dẫn, mới lôi cuốn các danh sĩ, chí sĩ, nho sĩ tham gia để sáng tạo nên các tác phẩm nói trên. Trong toàn quốc chưa thấy địa phương nào có loại hình dân ca lôi cuốn đông đảo các danh sĩ, chí sĩ, các nhà khoa bảng tham gia sinh hoạt như dân ca ví, giặm xứ Nghệ.
4. Trước cách mạng chưa rõ, từ sau Cách mạng tháng Tám, hai loại dân ca ví, giặm xứ Nghệ, về mặt nhạc điệu đã được nhiều nhạc sĩ khai thác chất liệu và âm hưởng của làn điệu, sáng tác nên nhiều ca khúc có giá trị, được nhiều ca sĩ, nhiều đoàn văn công và đông đảo quần chúng mến mộ như:
Xa khơi của Nguyễn tài Tuệ;
Tiếng hò trên đất Nghệ An của Tân Huyền;
Giữa mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh của Trần Hoàn;
Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Tý;
Nghe giọng đò đưa nhớ Bác của An Thuyên;
Trông cây lại nhớ đến Người của Đỗ Nhuận;
– V.v…
Các ca khúc ấy luôn vang lên trên các đài phát thanh truyền hình, các sân khấu nghệ thuật, các lễ hội và hội diễn văn nghệ, các làng mạc phố phường, nói tóm lại là khắp các nẻo đường đất nước. Có được những ca khúc tài ba ấy, làn điệu ví, giặm xứ Nghệ cũng đã thầm lặng giúp đỡ các nhạc sĩ.
5. Ngọn nguồn sáng tạo làn điệu là nhân dân mà ngọn nguồn sáng tạo ca từ tức phần lời cũng là nhân dân. Năm nọ qua năm kia, nơi này hoặc nơi kia hát, những lời ca đặt tại chỗ, ứng khẩu tại chỗ để hát ví, hát giặm; câu nào bài nào dở thì trôi đi, câu nào hay bài nào hay thì còn lại và được truyền tụng. và đã trở thành ca dao. Nguồn sáng tạo vô cùng về ca từ đó được lưu truyền mãi, để tôi (với sự giúp đỡ của học sinh, của nhiều người khác) đã sưu tập được hàng ngàn câu ca dao, hàng ngàn bài hát giặm nam nữ, hát giặm vè, trong đó có những câu những bài nói về lịch sử, về địa lí, về dân tộc, về triết lí cuộc sống, về phong tục tập quán ngoài đa số câu, đa số bài nói về tình yêu trai gái, về hạnh phúc gia đình. Đó là Kho tàng ca daoKho tàng vè xứ Nghệ mà bây giờ là cứ liệu của nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ.
6. Nếu như trước Cách mạng Tháng 8 dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh xuất hiện loáng thoáng trong một số vở chèo do người xứ Nghệ sáng tác như chèo Kiều, chèo Đặng Xuân, chèo Thội Thao thì sau Cách mạng Tháng 8 dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ và cả Hò nữa đã được một số người am hiểu sử dụng để sáng tác thành những vở kịch hát ngắn gọn mà ta thường gọi là tiểu phẩm như:
Không phải tôi của Nguyễn Trung Giáp (1970);
Khi ban đội đi vắng của Nguyễn Trung Phong (1971);
Đầu bến sông của Trần Hữu Thung (1975);
– V.v…
Sau đó nó đã được sân khấu hóa thành một kịch chủng, cũng gọi là kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh tức là chuyển hóa từ hình thức diễn xướng dân gian lên hình thức diễn xướng chuyên nghiệp, có đạo diễn, có sân khấu với ánh sáng, hóa trang, trang phục…. trong một kịch bản mang tính chất tổng hợp có giá trị nghệ thuật cao hơn.
Từ ngày có kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh nhiều vở đã được công diễn ở Thành phố Vinh, ở Hà Nội, Hà Tĩnh, ở khắp làng quê xứ Nghệ, trên đài PTTH Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội; nổi tiếng là các vở:
Cô gái Sông Lam của Nguyễn Trung Phong (1981);
Đốm lửa núi Hồng của Thế Kỷ (1980);
Mai Thúc Loan của Phan Lương Hảo (1984);
Bão táp cửa Kỳ Hoa của Phạm Ngọc Côn (1986);
– V.v…
7. Dân ca ví giặm xứ Nghệ đã để lại bao nghệ nhân có tên tuổi. Họ là những người hát hay, sáng tác giỏi, ứng đối tài. Chúng tôi đã tạm chia nghệ nhân dân gian trong làng hát ví, hát giặm làm ba loại.
– Loại 1: là những nghệ nhân đã bước qua cửa Khổng sân Trình như Nguyễn Du, Nguyễn Huy Quýnh, Nguyễn Huy Hổ, Phan Bội Châu, Đinh Viết Thận, Tạ Quang Diệm, Phó bảng Trần Tiến Kỷ, Trần Thức Canh (Cả Canh), Đầu huyện Hiến,… Họ đều để lại những giai thoại tốt đẹp, một số người là danh nhân văn hóa dân tộc.
– Loại 2: là những sĩ phu yêu nước như Trần Tấn, Đặng Như Mai, Cao Thắng, Đề Kiểu, Đề Nam, Vương Thúc Quý, Bùi Chánh Lộ, Đặng Văn Bá,… Người nổi trội hơn cả vẫn là Phan Bội Châu. Họ đi chơi hát ví, hát giặm ngoài mục đích thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt văn nghệ, còn dùng câu hát để khêu gợi lòng yêu nước trong nhân dân.
– Loại 3: là những nghệ nhân thuần túy như bà Chánh Diên, Cô Nhẫn, ông Hàn Sách, ông Bộ Thân, bà Cháu Ban, Dái Kình, Hoàng Thị Lượng, Can Giạ, Tiu Hào, Sĩ Đường…
Chính họ là những người tài hoa đã diễn xướng giỏi, thường làm nòng cốt cho bao cuộc hát và đã truyền dạy cho bao lớp cháu con về hát ví hát giặm. Chúng ta quá lơ là về họ, gần đây Hội VNDG Nghệ An mới làm đơn xin công nhận và tôn vinh tám cụ nghệ nhân hát phường vải ở Nam Đàn. Còn Hà Tĩnh mới được bốn  cụ.
8. Thấy rõ giá trị và sức sống của nó, về sưu tập nghiên cứu dân ca ví giặm xứ Nghệ đã có các công trình:
1. Hát giặm Nghệ Tĩnh của cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi, Nxb. Tân Dân, Hà Nội, 1943, (300 trang). Công trình ra đời năm 1963, 1964 được Nxb Khoa học, nay là Nxb KHXH tái bản dày 900 trang (2 tập), có sự cộng tác của Ninh Viết Giao.
2. Hát ví Nghệ Tĩnh của Nguyễn Chung Anh, Nxb Văn Sử Địa – Hà Nội, 1958 (146 trang). Công trình này bước đầu giới thiệu khái quát về Hát ví Nghệ Tĩnh.
3. Hát phường vải của Ninh Viết Giao, Nxb Văn học – Hà Nội, 1961, đã tái bản đến lần thứ năm (483 trang). Công trình này đi sâu nghiên cứu một loại hát ví đặc sắc ở xứ Nghệ như tên của nó là Hát phường vải.
4. Âm nhạc dân gian xứ Nghệ của Lê Hàm, Hoàng Thọ, Thanh Lưu, Lê Hàm chủ biên. Hội VNDG Nghệ An ấn hành năm 2000 (550 trang) trong đó có ví, giặm, hò.
5. Hát phường vải ở Trường Lưu của Vi Phong và Phan Thư Hiền, Sở VH – TT nay là Sở VH – TT – DL Hà Tĩnh ấn hành năm 1993 (163 trang). Công trình này cũng đi sâu nghiên cứu giới thiệu ví phường vải ở làng Trường Lưu, huyện Can Lộc.
Tóm lại, với giá trị đích thực, tốt đẹp, bền vững của nó; dân ca hát ví, hát giặm xứ Nghệ đã được nhân dân xứ Nghệ tôn trọng, bảo tồn và phát huy bằng nhiều cách. Cái gia tài văn hóa phi vật thể này vẫn lưu lại không chỉ trên cửa miệng, trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng mà trong hơi thở, trong máu của người Xứ Nghệ.

Các bài viết liên quan:

PHAN TẤT : “DẶM” hay “GIẶM” ? Dân ca Nghệ Tĩnh, VIETNAM


“Dặm” hay “Giặm”?

  •   Phan Tất
  • Thứ năm, 23 Tháng 5 2013 16:45
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

LTS: Dặm hay Giặm? Đây là vấn đề hoàn toàn không mới. Từ lâu nay đã có nhiều người bàn, trao đổi để minh định chuyện này nhưng chưa đi đên thống nhất. Một cuộc hội thảo với khá đông người không hoặc ít am hiểu về đối tượng nghiên cứu là dân ca Nghệ Tĩnh thì khó có thể có được kết luận chính xác. Bởi vậy, chúng tôi vẫn xem đây là vấn đề đang bỏ ngỏ. Và vì vậy, thiết nghĩ rất cần các ý kiến trao đổi để có thể đi đến một nhận thức chung, nhất là khi chúng ta đang trình hồ sơ dân ca ví, dặm/giặm lên UNESCO để hy vọng được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Chữ “dặm” nói ở đây là để chỉtên gọi:Hát dân ca ví, dặm- một điệu hátngọt ngào, sâu lắng, đậmđà bản sắc vănhóa xứ Nghệ, tồn tại và phát triển đã hàng trăm năm nay.

Trongnhữngnămgần đây, chúng ta nói, viết nhiều về đề tài Dân ca ví, dặm. Điều đáng băn khoăn là cách viết lại không thống nhất, thường được thể hiện hai dạng là: “dặm” hay “giặm”. Thậm chí gần đây, trong sách vở, trên báo chí có những trường hợp trong cùng một bài viết mà chữ “dặm”có nơi viết (d), lại có nơi viết (gi). Người đọc thực sự băn khoăn và dễ nhận thấy các tác giả viết từ cảm tính tùy tiện, mà không quan tâm đến tính Việt ngữ sâu xa của tên chữ.

Từ lâu ta thường thấy sách vở, báo chí đều viết chữ “dặm” bằng chữ (d). Những năm gần đây có nhiều người (phần lớn ở Nghệ – Tĩnh) chuyển sang viết chữ “giặm” bằng chữ (gi). Người viết (dùng chữ d hay chữ gi) do xuất phát từ nhận thức cụ thể của mình đó là chữ “dặm” ở thể danh từ hay là động từ:

Nếu “dặm” là danh từ như: dặm trường, dặm phẳng (chỉ độ dài, quảng đường). Nhiều người cho rằng: ngày xưa hát dặm có không gian diễn xướng rộng như cày cấy, gặt hái, kéo sợi, hát giao duyên ở làng quê… thường phải đi cách xa nhà, thậm chí cách sông, đò hàng dặm đường, nên người ta vẫn gọi là “đi hát dặm”, rồi lâu dần gọi tắt là “hát dặm”. Nếu đúng như vậy thì chữ “dặm” viết (d) là chính xác.

Nếu“giặm” có nguồn gốc từ động từ như: cấy giặm (trồng thêm vào chỗ thưa); ăn giặm (ăn thêm vào giữa buổi), hay giặm là “giẫm chân” và hát giặm chính là lối hát có đánh nhịp bằng chân. Có người lại cho rằng: “giặm” tức là “giắm vào”- người  này hát một đoạn, một ý; người khác lại hát nối lời tiếp vào để thể hiện, hoàn thiện một tình ý, hay một khúc hát. Nếu đúng như vậy thì chữ “giặm” viết (gi) là chính xác. (Xem bài: Ví “dặm” hay ví “giặm” của tác giả Trần Lam Thủy, báo CA.NA ngày 16/4/2012). Cũng theo tác giả Trần Lam Thủy: “Tại hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ” tổ chức vào tháng 3/2012 ở Thành phố Vinh, vấn đề gọi các thể  hát cũng được đặt ra trao đổi và lựa chọn. Sau khi nghe ý kiến các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, hội thảo đã thống nhất tên gọi với cách viết là “giặm” – Ví, giặm xứ Nghệ”.

Mặc dù đã có sự thống nhất như thế, nhưng xem ra vẫn chưa có tính thuyết phục, vậy nên lâu nay trên băng rôn, trên báo chí, tham luận… chữ “dặm” vẫn thể hiện hai cách viết khác nhau (dùng chữ d hay chữ gi). Báo Vietnamnet 23/6/2012 trong chuyên mục Văn hóa – giới thiệu khai mạc liên hoan Dân ca ví, dặm của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnhnhằm tôn vinh di sản tinh thần vô giá của đời sống người dân xứ Nghệ,đây cũng là bướcquảng bá,lập hồ sơ để tiến tới trình UNESCO công nhận Dân caví,dặm xứ NghệlàDi sản văn hóa phi vật thểcủanhânloại.Bài được đăng tải có hình ảnh khá đẹp với băng rôn trên sân khấu và tiêu đề giới thiệu đều chạy những tít lớn: “Ví dặm lung linh hồn quê xứ Nghệ”; “Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ Nghệ…” với hai chữ “dặm” viết (d và gi). Rõ ràng là việc nhận thức về cách viết chữ “dặm” vẫn chưa được quan tâm phổ biến sâu rộng, thiếu sức thuyết phục công chúng, nên chưa có sự thống nhất. Người đọc, người xem thực sự băn khoăn: đâu là sự chính xác của ngôn ngữ, của văn hóa viết, văn hóa đọc!?

Thiết nghĩ đã đến lúc các cơ quan quản lý văn hóa,giới học thuật – những người thực sự quan tâm, có trách nhiệmđến ngôn ngữ- Văn hóa xứ Nghệcần có được một lời giải chính xác về cách viết chữ “dặm” cho tên gọi Dân ca ví, dặm xứ Nghệ./.

 

  

Từ khóa:

PHẠM QUANG ÁI : HÁT VÍ SÔNG LA


Hát ví sông La

  •   Phạm Quang Ái
  • Thứ bảy, 13 Tháng 8 2011 10:30
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

 I. DẪN NHẬP   

Dân tộc ta có một kho tàng dân ca vô cùng phong phú. Đó là mảnh đất màu mỡ để văn học nghệ thuật bác học ươm mầm, phát triển; là cái nôi kì diệu để nuôi lớn tâm hồn người Việt chúng ta. Trong kho tàng đó, bộ phận dân ca của người Việt – Nghệ Tĩnh phong phú và độc đáo nhất.
Từ xưa đến nay, các tao nhân mặc khách, các nhà khảo cứu âm nhạc và văn học đánh giá rất cao dân ca Nghệ Tĩnh cả về nhạc lẫn lời. Trên toàn cõi đất nước, với sinh hoạt văn nghệ của 54 dân tộc anh em, chưa có một sinh hoạt dân ca nào mà có sự tham gia tích cực – thậm chí có lúc, có nơi là chủ chốt – của các nhà Nho như ví giặm Nghệ Tĩnh. Từ các thầy đồ, ông tú bình dân cho đến các bậc khoa cử xuất thân như các ông cử, ông nghè ít nhiều đều có tơ duyên với lời giặm, câu ví. Hiện tượng đó có nguyên nhân từ vị trí xã hội tại địa phương của tầng lớp trí thức này, nhưng sức hấp dẫn của tiếng ca thôn dã vẫn là nguyên nhân quan trọng nhất. Chính Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, mà sự nghiệp trước tác vẻ vang nhất của ông vẫn là thơ Nôm, đã xác nhận vai trò to lớn của dân ca đối với quá trình sáng tạo của mình:
                                    …” Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
                                    Dã khốc thời văn, chiến phạt thanh”..
                                                                        (Thanh Minh ngẫu hứng)
            (Tiếng ca nơi thôn dã là bài học vỡ lòng cho ta về ngôn ngữ của nghề trồng dâu, trồng gai; tiếng khóc nơi đồng nội, làm cho ta như nghe lại âm thanh sát phạt của một thời chinh chiến)
            Quả vậy, trong 3254 câu Kiều lung linh ánh ngọc, có không ít những câu ca tuyệt diệu của quê hương, xứ sở. Ai dám bảo, những câu ví này hay hơn:
                                    Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
                        Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng.
                                    Đưa nhau một bước lên đàng,
                        Cỏ xanh hai dãy, đôi hàng châu sa.
            Hay câu Kiều này hay hơn:
                                    …”Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
                                    Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”…
            Và xác định cho ra: ai học ai, ai tiếp nhận của ai, thật không dễ gì.
            Hơn thế, truyền thống sinh hoạt dân ca xứ Nghệ đã sản sinh ra hàng loạt nghệ nhân dân gian hết sức độc đáo mà nhiều người gọi họ là “thi sĩ dân gian” (Võ Văn Trực). Những O Uy, O Sạ (Trường Lưu, Can Lộc), O Nhẫn (Đan Du, Kỳ Anh) từng một thời nổi danh “bẻ chuyện” trong hò hát làm cho các nhà Nho chữ nghĩa đầy mình cũng phải bái phục. Ở đây, thi sĩ và nghệ nhân gắn kết với nhau theo kiểu 2 trong 1: vừa ứng tác lời vừa ứng diễn. Hiện tượng này, trong âm nhạc hiện đại Việt Nam, cũng chỉ thấy một trường hợp hi hữu là Trịnh Công Sơn.
            Dân ca xứ Nghệ độc đáo, phong phú đến mức từ chất liệu nhạc và lời của nó, nhiều nhạc sĩ hiện đại đã tiếp thu, phát triển để sáng tạo nên những nhạc phẩm nổi tiếng. Thậm chí, có những nhạc sĩ mà sự nghiệp sáng tác tuy rất phong phú, nhưng những bản nhạc “đi cùng năm tháng” của họ thì phần lớn là sáng tác từ nguồn gợi hứng và trên cái nền chất liệu của dân ca ví dặm xứ Nghệ. Đó là các trường hợp nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, An Thuyên, Trần Hoàn,… Và một chính khách lịch lãm, am hiểu sâu sắc về văn hóa – nghệ thuật như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, sau khi nghe Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh biểu diễn năm 1986, đã có những cảm nhận rất hào hứng: ” …Tôi đã đi nhiều nơi ở trong nước và trên thế giới, nghe nhiều dân ca, nhưng dân ca Nghệ Tĩnh là hay nhất, hay nhất thế giới…”.
            Dân ca Nghệ Tĩnh ý đẹp lời hay, làn điệu đa dạng, phong phú độc đáo như vậy nhưng việc sưu tầm, nghiên cứu, khai thác còn có nhiều hạn chế. Ngoài những công trình sưu tầm, nghiên cứu phần lời ca và ít nhiều có đề cập đến không gian văn hóa của sinh hoạt diễn xướng của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tiên phong trên lĩnh vực này như Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung, Thái Kim Đỉnh,… hoặc một số nhạc sỹ như Lê Quang Nghệ, Đào Việt Hưng, Lê Hàm, Thanh Lưu, Vi Phong,… đã sưu tầm và ghi âm các bản phổ về các làn điệu. Đó là những thành tựu đáng quý thể hiện sự nỗ lực của các bậc tiền bối. Tuy nhiên, việc khoanh vùng để nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc một làn điệu nào đó từ nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển; đặc điểm làn điệu và phương thức, không gian diễn xướng cũng như tiềm năng khai thác, phát triển thì chưa từng được triển khai.
            Để góp phần bù đắp vào những khiếm khuyết nói trên, bước đầu, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu “Quá trình hình thành và phát triển của hát ví Sông La“. Đây là một vấn đề khó. Khó bởi vì hiện tại không có một tài liệu thành văn nào, một chứng tích văn hóa vật thể hoặc phi vật thể nào khả dĩ chứng minh được quá trình hình thành, phát triển của làn điệu này, tại khu vực này. Ngay cả khả năng phục hiện từ tình trạng diễn xướng hiện tại cũng không thể. Vì hiện tại, không còn tồn tại truyền thống diễn xướng tự nhiên như ngày xưa. Các thể điệu ví đã được cải biên và sân khấu hóa. Không chịu bó tay, chúng tôi lần mò đi theo con đường vòng, thông qua điều tra điền dã, phỏng vấn những người cao tuổi, thông qua nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ lời ca và thông qua các tư liệu của các ngành khoa học khác, bước đầu phác ra một số nét về quá trình hình thành và phát triển của hát ví sông La.
II. SỰ HÌNH THÀNH. 
Một trong những câu ví nổi tiếng ở đất Đức Thọ:
                                    Đức Thọ gạo trắng nước trong,
                             Ai về Đức Thọ thong dong con người.
Đã nói lên cái trù phú của một vùng quê và nếp sống của con người ở vùng quê ấy. Người dân xứ này có được cuộc sống no đủ về vật chất và thích thảng về tinh thần như vậy trước hết là nhờ có điều kiện tự nhiên. Nơi đây có những cánh đồng phù sa màu mỡ được bồi đắp từ sông suối trong vùng. Xét về điều kiện tự nhiên, Đức Thọ là một huyện được tạo hóa ưu đãi. Trước hết, so với các địa phương khác, Đức Thọ là một huyện có nhiều sông. Các vùng trong huyện hệ thống sông ngòi chằng chịt. Nhiều sông ngòi thì tất lại nhiều cầu, nhiều bến. Và Đức Thọ có cầu Thọ Tường, bến Tam Soa nổi tiếng không chỉ vì đó là những nút giao thông quan trọng mà còn đó là những thắng cảnh nên thơ. Trên địa bàn, con sông chính là sông La, dài 26 km, chảy xuyên qua hầu hết các địa phương trong huyện Đức Thọ. Sông La thu nhận nguồn nước từ hai con sông lớn là: Ngàn Sâu và Ngàn Phố, hợp lưu tại bến Tam Soa và đổ nước ra sông Lam tại Ngã Ba Phủ. Ngoài sông La, trên địa phận của huyện còn có một đoạn sông Ngàn Sâu chảy qua các xã Đức Lạng, Đức Đồng, Đức Lạc, Đức Hòa và Tùng Ảnh; và một đoạn của sông Lam chảy từ Đức Châu đến Trung Lương. Ngoài ra, còn có thể kể thêm sông Mênh (Minh Giang) nối với sông Lam ở cuối xã Đức Vịnh chảy qua các xã Yên Hồ, Thái Yên (địa phận Đức Thọ) rồi chảy qua Trung Lương, Vân Chàng (trước là thuộc Đức Thọ nay thuộc Thị xã Hồng Lĩnh) và Hói Trúc (Trúc Khê) chảy từ vùng Đức Dũng xuống, qua các xã Đức Lâm, Trung Lễ, Đức Thủy đến Thái Yên thì đổ vào sông Mênh. Sau này, người ta đào mương thông Hói Trúc với sông La (đoạn chảy qua Bùi Xã), đoạn mương này còn được gọi là Hói Mới, sau được mở rộng ra thành kênh, gọi là kênh 19 tháng 5. Lưu khúc này khi qua Thái Yên dòng được mở rộng hơn (gọi là rào Trúc) có rất nhiều bến (bến Nậy, bến Con, bến Cầu, bến Thánh, bến Cưa, bến Trộ Đăng, bến Trộ Vó, bến Trộ Xe,…), thuyền bè lại qua tấp nập.
Sông La là con sông không nguồn, không cửa, từ xa xưa đã được sử sách ghi nhận là một trong những con sông lớn, cùng với núi Hồng, nổi tiếng danh thắng một vùng. Nó là biểu tượng của huyện Đức Thọ. Huyện này ngày xưa vốn tên là La Giang (sông La), sau vì kiêng tên chúa Trịnh Giang mà đổi thành huyện La Sơn. Con sông La không chỉ là danh thắng của La Giang-Đức Thọ mà còn là huyết mạch kinh tế của cả vùng này.
Thủy chế sông La thay đổi theo mùa. Mùa khô nước sông thường ở cốt 0,33m; mùa mưa lụt, mực nước có thường lên cao đến 8, 9m. Mùa nước cạn lòng sông rộng bình quân khoảng 100m, khi mưa lụt có chỗ lòng sông phình rộng đến khoảng 1000m. Thủy chế sông La còn chịu ảnh hưởng của thủy triều, nước triều lên xuống khiến cho mực nước chênh nhau khoảng 1,30m. Thuyền bè xuôi ngược phải nương theo con nước lên xuống.
Khi không mưa lũ, dòng La trong vắt, hiền hòa êm ả như dải lụa vắt dọc theo lãnh thổ huyện. Hẳn là do vẻ đẹp đó nên người xưa đặt tên nó là La Giang, dòng sông lụa. Sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch cho biết xưa kia nó là một trong ba dòng nước mát ngọt, trong lành nhất xứ Nghệ. Không chỉ cung cấp nước ngọt nuôi người, cây cỏ, súc vật trong vùng mà hàng năm sông hào phóng bồi đắp cho đồng ruộng vùng này những lớp phù sa màu mỡ, tạo nên những cánh đồng phì nhiêu có năng suất cấy trồng lúa và hoa màu nhất nhì tỉnh. Người dân nơi đây tự hào về cuộc sống của mình:
Ai về Đức Thọ thì về,
Nước trong gạo trắng, dễ bề làm ăn
            Có nước sông La trong lành, mát ngọt, có mức sống vật chất khá phong lưu nên con người nơi đây “thong dong”. Nhất là con gái xứ này, vóc đẹp, da trắng nổi tiếng khắp vùng từ trước đến nay.
            Tuy vậy, do địa hình của huyện bị kẹp giữa hai dãy núi lớn: bên này là Trà Sơn, Thiên Nhẫn trùng trùng và bên kia là Ngàn Hống sừng sững, cho nên, nhìn chung sông ngòi vùng này nhiều nhưng ngắn dốc, bờ sông cao, dòng chảy quanh co, lắm khúc nước xiết. Do lưu vực thượng nguồn rộng lớn, thủy lượng dồi dào, nước từ hai nguồn Ngàn Sâu, Ngàn Phố từ cao đổ xuống, độ dốc lòng sông lớn, dòng chảy lại ngắn, nên lưu tốc rất lớn. Mỗi khi mưa lũ lớn, dòng chính chảy không đủ, khiến sông La luôn luôn phải đổi dòng, phá dòng tạo ra những biến đổi lớn về địa hình, địa mạo ở hai bên bờ. Đó là nguyên nhân tạo ra hàng loạt những bãi, cồn, bàu, hói, rào, ngòi,…nơi sông chảy qua. Mặt khác sự biến thiên dòng chảy từ lâu đời cũng khiến cho sông La có nhiều nhánh. Nếu cần thiết phải hình dung thì hệ thống sông La và các phụ lưu của nó trông như mạng gân của một chiếc lá. Do đó mà địa hình Đức Thọ lắm cầu, nhiều bến.
            Ai cũng biết đối với cư dân nông nghiệp trồng lúa nước vai trò của sông suối vô cùng quan trọng. Sông là nguồn cấp nước để cấy trồng cây cối, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Sông là huyết mạch giao thông quan trọng, tạo ra thế song hành cho con người trên mặt đất từ xa xưa, trên bộ dưới thuyền để vận tải, giao thương, buôn bán.
            Người dân Đức Thọ, đặc biệt là các cụm tụ cư hai bên bờ sông La, có cuộc sống trù phú lâu đời như thế là nhờ sông. Cuộc mưu sinh dễ dàng, ngoài thời gian lao động, con người còn có thời gian dành cho các sinh hoạt văn hóa tinh thần. Vì thế đời sống văn hóa vật thể và phi vật thể nơi đây từ xưa đã nổi tiếng là phong túc, văn vật.
            2. Như trên đã đề cập, một trong những sinh hoạt đặc thù của vùng sông nước là giàu tiềm năng vận tải, giao thông đường thủy. Đức Thọ từ xa xưa vốn là một huyện có nền kinh tế phát triển nhất vùng. Trên một diện tích đất đai tự nhiên rộng lớn, chủ yếu là đồng bằng, nền kinh tế nông nghiệp đất Việt Thường thời xưa đã phát triển. Nguồn nông sản như lúa, ngô, khoai, sắn khá dồi dào, thủy sản phong phú, kinh tế trang trại cũng đã có manh nha từ xưa. Bên cạnh đó tiểu thủ công nghiệp cũng rất phát đạt. Nghề thủ công ở Đức Thọ hình thành khá sớm. Đó là nghề mộc Thái Yên, từ lâu đã nổi tiếng cả nước; nghề gốm Cẩm Trang, rồi miến Bùi Xá, mật đường Chợ Trổ, lụa Việt Yên, vải Yên Hồ, ép dầu Nghĩa Yên, đóng thuyền Trường Xuân, làm nón Yên Đồng,…Theo sử sách truyền lại, khá nhiều nghề ở đây đã được hình thành và phát triển từ thế kỷ XIV-XV. Những nghề thủ công này sớm đã được các sách phong thổ ký ghi nhận, đánh giá cao. Và trở thành niềm tự hào của người dân các địa phương này trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ, để lại rất nhiều dấu tích trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Khi sản xuất phát triển, sản phẩm dồi dào lại thêm sản vật tự nhiên phong phú thì nhu cầu buôn bán, giao thương càng phát triển. Cũng theo các tài liệu phong thổ, địa chí ghi chép lại, từ khoảng thế kỷ XVII-XVIII, việc buôn bán, giao thương nội hạt đã rất phồn thịnh. Chợ búa được lập nhiều, nhiều tuyến giao thương thủy bộ được mở mang. Đến trước 1945, cả huyện La Sơn đã có 18 chợ lớn nhỏ, buôn bán sầm uất. Trong đó, có những chợ rất cổ, quy mô lớn, buôn bán khá phồn thịnh, được cả xứ biết tiếng như chợ Hạ, chợ Cầu, chợ Thượng, chợ Nướt, chợ Trổ. Các tuyến giao thương, không kể đường bộ và đường sắt xuyên Việt (chạy qua địa phận 8 xã) có đến 6 tuyến đường thủy sau đây:
            – Tuyến sông Lam: từ Đức Châu đi Đức Quang, Vịnh Đại;
            – Tuyến sông La: từ Tùng Ảnh đi hai ngả:
                        + Ngả phía trái đến Đức Châu;
                        + Ngả phía phải đến Đức Quang;
            – Tuyến sông Ngàn Sâu: từ Đức Lạng đến Tùng Ảnh;
            – Tuyến Rào Trổ (một nhánh sông La): từ Bùi Xá đi Yên Hồ hữu ngạn và đi Đức Vịnh tả ngạn;
            – Tuyến sông Mênh: từ Yên Hồ đi Đức Thịnh;
            – Tuyến Rào Trai: từ Đức Dũng qua Đức Thanh, Đức Lâm, Đức Thủy, Thái Yên đến Đức Thịnh.
            Sáu tuyến giao thương đường sông và 18 chợ của huyện Đức Thọ ngày xưa đã là chứng tích của một thời buôn bán tấp nập, thịnh vượng. Bên cạnh buôn bán nội hạt, việc giao thương với các vùng khác cũng được mở rộng. Nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ được các thương thuyền chở lên các huyện thượng du như Hương Khê, Hương Sơn theo đường sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu để đổi lấy lâm thổ sản như gỗ, mây, tre, tro rồi đóng bè xuôi về cung cấp nguyên vật liệu cho các làng nghề thủ công chế biến. Ngoài thuyền buôn, còn có thuyền câu của dân đánh cá. Bè xuôi, thuyền ngược lũ lượt ngày đêm. Ngoài thuyền, đò của dân bản xứ đi lại trong vùng cũng như ngược ngàn còn có thuyền buôn của cư dân các nơi khác theo các hướng từ Nghi Xuân, Nam Đường (Nam Đàn) theo sông Lam ngược lên miền thượng để buôn bán. Bên cạnh đò dọc còn có đò ngang. Sông ngòi nhiều, đò ngang càng lắm. Những chỗ sông ngòi nông bao giờ cũng có bến đò ngang chuyên chở khách. Các tuyến đò dọc, đò ngang chằng chịt đã tạo nên một môi trường sinh hoạt sông nước nhộn nhịp, đông vui.
            Môi trường sinh hoạt này đã sản sinh một hình thức dân ca được gọi là hát ví. Theo các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học danh tiếng như GS. Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, nhạc sĩ Phạm Duy, PGS. Dương Viết Á, PGS.TS. Tú Ngọc, GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh,…thì các làn điệu dân ca còn tồn tại đến ngày nay chủ yếu đều có nguồn gốc từ các bài ca lao động, được sinh ra để trợ lực cho người lao động. Tiêu biểu cho dân ca lao động là các điệu hò: về mặt nhạc là để tăng cường nhịp điệu, có tác dụng hợp lực cho các động tác lao động nặng có tính tập thể; về mặt lời thì chủ yếu là những câu hát đùa vui hoặc thể hiện mong muốn đạt được năng suất, thành quả lớn trong lao động. Về sau, ngoài chức năng tổ chức nhịp điệu lao động, chức năng giải trí ra thì chức năng trữ tình càng trở nên quan trọng. Và các làn điệu dân ca trữ tình ra đời, được ứng tác và diễn xướng trong những lúc nghỉ ngơi sau thời gian lao động mệt nhọc.
            Như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, hát ví, hát giặm là những làn điệu dân ca chủ yếu ở Nghệ Tĩnh. Và ví là điệu hát phổ biến của vùng sông nước La, Lam. Hiện tại, chưa có một tư liệu nào đủ tin cậy để khẳng định một cách chính xác niên đại, nguồn gốc ra đời của hát ví sông La. Nhưng căn cứ vào giai điệu chung của các điệu ví và đặc điểm sinh hoạt của cư dân vùng này thì có thể ước đoán hát ví sông La ra đời vào thời điểm phồn thịnh của sinh hoạt giao thương, buôn bán trên sông nước, tức là trong khoảng cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX và phát triển đến đỉnh cao là cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Và có lẽ, thể điệu chủ chốt của sinh hoạt hát ví vùng này là ví đò đưa. Trong sách Hát ví Nghệ Tĩnh (NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959), Nguyễn Chung Anh cho rằng hình thức dân ca này đã thịnh hành từ thời Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII). Ý kiến này không phải là không có lý. Vì rằng trước đó mấy trăm năm, mảnh đất này là bãi chiến trường của cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn, dân tình đói khổ, xiêu dạt, điêu linh; không thể có cái cơ sở xã hội cho sự nảy sinh phong trào hát ví được. Các làn điệu hát ví như ví phường vải phải có điều kiện kinh tế xã hội tương ứng mới hình thành và phát triển được. Vả lại, xét về ngôn ngữ, thì những câu ca cổ nhất còn được lưu lại với những dấu vết thổ âm cho phép ta khẳng định rằng, hát ví các vùng xứ Nghệ không thể ra đời sớm hơn thời điểm mà chúng tôi đã đề cập trên.
            Như vậy, có thể kết luận một cách chung nhất rằng: hát ví sông La ra đời từ nhu cầu sáng tạo, thưởng thức của người dân lao động ven sông La.
            3. Dân ca của người Việt xứ Nghệ nói chung, vùng núi Hồng sông La nói riêng, chỉ có ba nhóm làn điệu chính là: hò, ví, giặm. Như trên đã nói, làn điệu dân ca xuất hiện sớm nhất trong các cộng đồng quần cư là hò. Hò là thể điệu ca nhạc vốn có ở nhiều nơi. Và ở xứ Nghệ, các điệu hò khá phong phú và độc đáo.
            Như đã nói trên, hò thuộc loại hình các bài ca lao động. PGS.TS. Tú Ngọc cho rằng: “Nếu những bài hát lao động nói chung là một trong những cội nguồn đầu tiên của âm nhạc, thì những bài hát lao động đích thực chính là một trong những giai tầng cổ nhất của dân ca Việt Nam”[1].
            Thật vậy, điều này đã được các nhà nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật cổ truyền khẳng định từ lâu. Khi bàn về nguồn gốc và sự phát sinh của nghệ thuật, F. Ăng-ghen đã nói: “Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng với những động tác luôn luôn mới, nhờ sự phát triển đặc biệt đã được như thế đó của bắp thịt, của gân, và trải qua những thời gian lâu dài hơn, của chính xương cốt, di truyền qua lại, và sau hết, nhờ việc áp dụng nhiều lần và liên tục sự tinh luyện di truyền đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn, cho nên bàn tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao, có thể sáng tạo ra cái tuyệt diệu trong những bức tranh của Raphaen, những pho tượng của Thovanxen, những điệu nhạc của Paganini”[2].
            Ngoài ý kiến gián tiếp nói trên của Ăng-ghen nói về mối quan hệ giữa lao động và sáng tạo nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, ngày nay, nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật học, dân tộc học đã cho phép chúng ta có những kết luận chắc chắn về nguồn gốc của âm nhạc có liên quan chặt chẽ với quá trình lao động sản xuất của con người.
            Trong một tài liệu nghiên cứu về văn hóa nguyên thủy, M.O.Cosven cho rằng: “Vấn đề nguồn gốc của âm nhạc phải giải quyết cùng với vấn đề nguồn gốc của nghệ thuật nói chung, nghĩa là suy cho cùng âm nhạc bắt nguồn từ lao động, thực tiễn lao động của con người”[3]
            Khi nghiên cứu quá trình phát sinh của âm nhạc, R.I. Grube cũng khẳng định rằng: “Một trong những nguồn gốc của âm nhạc là những tiếng kêu, tiếng hò la của săn bắt”…, “những mầm mống của nghệ thuật nguyên thủy (trong đó có âm nhạc) cũng được tách ra (về mặt lãnh thổ và thời gian) khỏi chính quá trình sản xuất, mặc dù chúng vẫn giữ mối liên hệ mật thiết của quá trình đó về mặt nội dung và tính chất biểu hiện”[4]
            Như vậy, khi thừa nhận nguồn gốc chung của âm nhạc (cũng như nghệ thuật) nảy sinh từ quá trình lao động sản xuất của con người, các nhà nghiên cứu nghệ thuật cũng thừa nhận rằng có một bộ phận âm nhạc gắn liền với lao động sản xuất, trực tiếp phục vụ quá trình sản xuất vật chất của con người, có mối liên hệ mật thiết với những hình thái công việc lao động. Tiêu biểu cho bộ phận âm nhạc này là các bài ca lao động trong nghệ thuật dân gian của các dân tộc khác nhau trên thế giới.
            Cũng như các thể loại khác trong âm nhạc dân gian, những bài hát lao động có đặc trưng về chức năng riêng của mình. Khi bàn về mỹ học folklore, nhà nghiên cứu Xô-viết Guxep đã xếp những bài ca dao lao động vào lĩnh vực trữ tình bên cạnh những bài ca phù chú, những bài vịnh ca, những bài anh hùng ca, những bài bi ca, những bài ca trào phúng, những bài ca bông đùa,..Về những bài ca lao động, Guxep cho rằng: “Đó là những bài ca biểu hiện thái độ của tập thể đối với các loại hoạt động lao động sản xuất, những điều kiện hoặc những kết quả của hoạt động này bộc lộ thái độ cảm xúc của con người đối với lao động. Hẳn đây là thể loại cổ nhất của ca hát trữ tình, ban đầu kèm theo trực tiếp những công việc làm ăn tập thể của con người trong chế độ công xã nguyên thủy”[5]
            Những kết quả nghiên cứu trên cho phép ta rút một nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận: sự phân loại dân ca và việc xác định vị trí của chúng cũng như mối tương quan giữa chúng với nhau cần xuất phát từ điều kiện tồn tại của chúng trên cơ sở kinh tế – xã hội và đời sống văn hóa của mỗi dân tộc.
            Những bài ca lao động xứ Nghệ xuất hiện trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp. Trong nông nghiệp thì nghề trồng lúa nước đã trở thành kinh tế cơ bản của nước ta từ rất lâu, khoảng hàng trăm năm trước công nguyên. Cơ sở kinh tế trồng trọt và sinh sống chủ yếu dựa vào cây lúa đã đẻ ra hàng loạt công việc xung quanh nó mà các cư dân ở đây phải tiến hành quanh năm suốt tháng: cày, bừa, gặt, đập, xay, giã,… Để phục vụ cho việc canh tác, người nông dân Việt Nam còn phải tiến hành hàng loạt công việc thiết yếu khác như đắp đập, đắp đê, đạp nước,… Những công việc lao động trên có khi được tiến hành bằng sức lao động cá thể, nhưng do truyền thống cộng đồng làng xã hoặc do tính chất công việc đòi hỏi, nhiều trường hợp phải tiến hành lao động tập thể.
            Với những hình thức và điều kiện lao động nói trên, chúng ta hoàn toàn có cơ sở kinh tế-xã hội để xác định sự hình thành và tồn tại của những bài hát lao động như các điệu hò hụi, hò nện, hò giã gạo, hò xay lúa, hò đạp nước,…
            Như phần trên đã trình bày, ngoài việc canh tác lúa nước, các sinh hoạt chài lưới, việc giao thương, vận tải, buôn bán, các sinh hoạt hội hè trên sông nước đã sản sinh ra các điệu hò gắn liền với các hoạt động này như hò đua, hò khoan, hò kéo lưới, hò chống bè,…
            Phương thức sản xuất của xã hội không ngừng phát triển, từ đó những hình thức lao động cũng không ngừng phát triển, ngày càng phong phú, đa dạng. Mỗi điệu hò vốn thích ứng với mỗi loại công việc cụ thể cũng từ đó mà biến đổi, hoặc là tự tiêu biến hoặc là phát triển theo trạng thái mới của công việc. Bởi vậy, nhìn nhận sự phát triển của các làn điệu dân ca cũng cần phải căn cứ theo lịch sử phát triển của hoạt động kinh tế và văn hóa của từng cộng đồng dân cư. Tất nhiên, ở đây cần phải tính đến các quy luật phát triển nội tại của bản thân thể loại. Những quy luật đó thể hiện ở cách diễn xướng, ở kết cấu các biến dạng âm điệu của chúng.
            Những điệu hò lao động đích thực là những điệu hò gắn bó và thích ứng với công việc lao động hoặc một quá trình sản xuất. Thường thì mỗi hình thức công việc đòi hỏi, làm nảy sinh một điệu hò thích ứng với nó. Cho nên ngoài chức năng cổ vũ (tạo ra sự hưng phấn về mặt cảm xúc đối với công việc) và tổ chức (tập hợp năng lực lao động của mọi người vào một công việc nào đó và điều khiển những năng lực đó qua nhịp điệu và kết cấu của bài ca), những bài hát lao động kiểu này cũng có một ý nghĩa thực dụng nhất định – nó mang dáng dấp của một chuỗi hiệu lệnh – tín hiệu đối với công việc. Và đặc điểm quan trọng nhất của những bài hát, điệu hò lao động đích thực là chúng được diễn xướng ngay trên hiện trường lao động của con người.
            Khảo sát các làn điệu hát ví xứ Nghệ nói chung và của cư dân hai bên bờ sông La – Lam nói riêng, nhà nghiên cứu âm nhạc Đào Việt Hưng đã cho rằng: giai điệu của hát ví xứ Nghệ có mối liên hệ qua lại với giai điệu của hò hái củi, cũng là một loại dân ca của vùng này.[6]
            Đó là một ý kiến được đề xuất không chỉ dựa trên việc nghiên cứu bản phổ cũng như cách thức diễn xướng của các làn điệu dân ca này mà còn là sự loại suy rất logic từ nguyên lý văn nghệ dân gian xuất phát từ lao động và phục vụ cuộc sống lao động của quần chúng nhân dân. Và hiện tượng đó cũng nằm trong sự chi phối của quy luật biến dạng, chuyển hóa giữa các thể loại theo nguyên lý biến đổi cấu trúc là do thay đổi chức năng.
            Điều đó được chứng minh bằng kết luận của các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học. Trong tài liệu đã dẫn trên, PGS.TS. Tú Ngọc đã khẳng định: “Nghiên cứu một số bài bản của Hát ví Nghệ Tĩnh được giới thiệu trong các tập dân ca đã xuất bản cho phép chúng ta khẳng định rằng: ban đầu Hát ví có một làn điệu gốc, sau đó được phát triển thành một số biến dạng. Giai điệu của hát ví dựa trên trục chính gồm ba nốt của một hợp âm thứ. Ở dạng này hay dạng kia có thể mở rộng tầm âm ở phía trên. Đây là loại giai điệu cổ với tiết tấu và cấu trúc đơn giản. Điều đó chứng tỏ rằng hát ví xuất hiện vào loại sớm nhất trong kho tàng dân ca mà chúng ta biết được”[7].
            Nhà địa phương học Thái Kim Đỉnh, cũng cho rằng: “Hát ví là lối hát hoa tình, giao duyên nam nữ rất thịnh hành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Lời hát ví chỉ là câu lục bát hoặc lục bát biến thể, được cất lên với điệu nhạc khoan thai, trong trẻo trên sông nước. Tùy theo môi trường diễn xướng mà nhạc điệu có ít nhiều thay đổi trên cơ sở một điệu cơ bản, nên các nhà nghiên cứu âm nhạc gọi thành nhiều tên khác nhau: ví đò đưa, ví phường cấy, ví phường buôn, ví phường vải, ví trèo non (khi đi củi, đi cỏ) v.v.
            Có thể nghĩ rằng, ví là điệu hát của vùng sông nước La, Lam. Ví đò đưa lời hát trữ tình, chải chuốt, đặc biệt không có tiếng và tích Hán Việt, trừ chữ “loan phượng”[8]. Trong một tài liệu viết sớm hơn, tham luận Đôi điều về dân ca Nghệ Tĩnh đọc tại Hội thảo về Dân ca Nghệ Tĩnh tổ chức tại Vinh năm 1981, ông còn cho rằng: ví đò đưa là làn điệu có sớm nhất.
            Ngoài ra khi nghiên cứu về dân ca người Việt, nhạc sĩ Phạm Duy cũng có ý kiến tương tự. Ông khẳng định rằng: “Những bài hát làm việc của người Việt thường gọi là hò. Chữ hò có nghĩa là hô lên. Người ta vừa làm việc, vừa hô to những câu hát để trợ hứng cho động tác lao động. Nhưng ngay trong khi đang làm việc nặng nhọc như kéo gỗ, đẩy xe, bơi thuyền,… cần có những câu hò để thúc đẩy việc làm, người Việt cũng đã hát những lời ca rất trữ tình. Do đó, hò rất dễ dàng trở thành những khúc tình ca. Rồi từ hình thức một bài hát giao duyên giữa hai người, hát lúc đang làm việc hay lúc nghỉ ngơi giữa công việc, hò tiến lên địa vị hát đám, hát hội khi người ta hội họp nhau lại chia ra hai phe nam nữ và hát đối đáp, hát thi ăn giải…”[9]
            Kết hợp các ý kiến này và ý kiến đã dẫn nói trên của PGS.TS. Tú Ngọc, nhạc sĩ Đào Việt Hưng, chúng ta có thể suy rộng ra rằng: các điệu ví xứ Nghệ nói chung đều được hình thành, tiếp biến từ các điệu hò cổ xưa.
            Sự biến dạng của hát ví không chỉ thể hiện ở mặt âm điệu, mà cả trong cấu trúc lời ca. Khác với dân ca đồng bằng Bắc bộ hầu hết lời ca có cấu trúc của câu lục bát điển thể thì ở dân ca Hát ví Nghệ Tĩnh người ta gặp rất nhiều câu, bài là lục bát biến thể. Hoặc có bài mang dấu vết của thơ 4 chữ rồi sau đó là lục bát biến thể, song thất lục bát hoặc song thất lục bát biến thể. Ví dụ:
                        Vì ai mà ăn cơm cũng nghẹn,
                        Uống nước cũng nghẹn.
                        Nghe lời bạn hẹn ra đứng bờ sông,
                        Bãi thời thấy bãi, người không thấy người
            Và đây là lời của người con gái đố người con trai:
                        Này anh ơi!
                        Chữ chi anh chôn dưới đất,
                        Chữ chi anh cất trên đầu,
                        Chữ chi anh mang không nổi,
                        Chữ chi gió thổi không bay.
                        Anh mà giải được, thiếp trao tay lạng vàng.
            Phỏng theo cấu trúc lời ca của người con gái, người con trai đáp lại:
                        Chữ hoàng thiên anh chôn dưới đất,
                        Chữ phụ mẫu anh cất trên đầu,
                        Chữ đá vàng anh mang không nổi,
                        Chữ duyên tình gió thổi không bay.
                        Em trao chi cho anh thỏa dạ, chứ vàng bạc trao tay anh nỏ đành.
            Sự biến đổi về giai điệu và lời ca cho thấy giữa các làn điệu dân ca xứ Nghệ có cùng một gốc và giữa các làn điệu dù có được biến dạng, phái sinh đến đâu cũng vẫn có quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại với nhau.
            III. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN    
            2.1. Hát ví sông La qua các thời kỳ.                                            Có thể phác họa quá trình phát triển của hát ví sông La qua các thời kỳ như sau: 
            2.1.1. Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc:
            Có thể nói, ngày xưa, hoạt động hát ví sông La phổ biến trong mọi nghề, mọi cộng đồng quần cư. Cũng như bất cứ một nhu cầu tinh thần nào khác, đây là thời kỳ phát triển phồn thịnh nhất của các làn điệu dân ca xứ Nghệ nói chung và hát ví sông La nói riêng. Trong thời bình, nhu cầu hát ví chỉ xuất hiện khi người ta cần giải trí trong quá trình lao động mệt nhọc hoặc bộc lộ tâm trạng, tình cảm khi nghỉ ngơi. Khi Tổ quốc lâm nguy, cuộc sống của từng gia đình, cá nhân bị đe dọa, bị chà đạp thì hát ví không còn là một công cụ giải trí bình thường, không còn là một món ăn tinh thần bình thường nữa mà đã trở thành điệu kèn xung trận, trở thành vũ khí có sức mạnh vô cùng to lớn. Để thực hiện chức năng cao cả đó, để đáp ứng những đòi hỏi lớn lao đó của xã hội, các làn điệu hát ví sông La ngày càng phát triển về làn điệu và ca từ. Xét về làn điệu, các làn điệu có sự biến đổi theo chiều hướng luyến láy nhiều hơn về âm điệu. Theo nhạc sĩ Phạm Duy, làn điệu thì vẫn là hệ ngũ cung khuyết, được phát triển về tầm âm và tổ chức lại với mô hình khúc thức mới. Đặc biệt lời ca được cải biên, sáng tác theo các nội dung, chủ đề phục vụ cho việc tuyên truyền đường lối cứu nước và cổ động ý chí đấu tranh.
            Sau năm 1945, dưới ánh sáng đường lối văn nghệ của Đảng, quan điểm tiếp thu và phát triển vốn văn nghệ truyền thống được quán triệt và phát huy theo tinh thần dân tộc – khoa học – đại chúng, giới văn nghệ chuyên nghiệp cũng như các phong trào văn nghệ quần chúng đã khai thác và phát triển các làn điệu hát ví nói chung và hát ví sông La nói riêng để sáng tác các vở ca kịch, các ca khúc mới phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH. Trong quá trình cải biên, phát triển đó, một số làn điệu mới được ra đời trên cơ sở cải biên các làn điệu cũ. Trong số các làn điệu mới đó, có thể kể các làn điệu bài bản như sau:
            1. Giận mà thương: Theo nhạc sĩ Vi Phong trong sách “Dân ca Nghệ Tĩnh” thì đây là một làn điệu do cố tác giả Nguyễn Trung Phong cải biên từ một câu ví sông La, sau đó chuyển sang ví phường vải.                                                                                       
2. Hát khuyên: do nhạc sĩ Thanh Lưu sáng tác, đủ cả năm âm Do-Re-Mi-Sol-La, tư chất giai điệu tha thiết, cải biên trên cơ sở chất liệu hát ví lồng ghép với tiết tấu của hát giặm, lại tạo ra nhiều đảo phách. Điệu hát này được sử dụng ở nhiều vở ca kịch địa phương và đã gần như trở thành điệu gốc, phổ biến trên Đài tiếng nói Việt Nam;
3. Chí vững gan bền: là lời hát của nhân vật Châu trong vở ca kịch “Hoa đất” của các tác giả Thanh Hương – Xuân Bình. Điệu hát mở đầu bằng một câu ví đò đưa sông La:
Em chưa chí vững gan bền,
Ngổn ngang trăm mối để phiền cho anh.
Sau đó đổ về một điệu giặm nhưng tiết tấu được chuyển thành nhịp 3/4. Thủ pháp phát triển của các tác giả khá quen thuộc khiến người nghe có cảm nhận như đang nghe hát ví và hát giặm;
4. Ai có thương ai: là điệu hát trong vở “Ông vua hóa hổ” của Lưu Quang Vũ được Vi Phong chuyển thể. Điệu hát này được sáng tạo trên cơ sở chất liệu của điệu ví đò đưa sông La được nâng cao để tạo nên cung bậc tình cảm mới của nhân vật.
Ngoài ra, còn hàng chục làn điệu khác được cải biên, phát triển từ hát ví sông La như: Chớp bể mưa nguồn (sáng tác của Vi Phong, trong vở “Tiếng hát người áo rách), Giữ lời nguyền (sáng tác của Văn Thế trong vở “Cô gái sông La”), Bài ca gọi gió (sáng tác của Vi Phong trong vở “Linh hồn của đá), Lòng vả lòng sung (sáng tác của Vi Phong trong vở “Hoa đất”),… được diễn thành công trong các vở kịch dân ca địa phương và trở thành những làn điệu quen thuộc.
Bên cạnh các làn điệu dân ca cải biên, các nhạc sĩ đã dựa trên chất liệu âm nhạc của hát ví sông La, khai thác, phát triển để sáng tác hàng chục ca khúc nổi tiếng. Trong đó, các ca khúc như: Đào công sự của Nguyễn Đức Toàn, Bên cầu phao của Trọng Bằng, Tiến lên chiến sĩ đồng bào của Huy Thục, Người con gái sông La của Doãn Nho, Gái sông La của Lê Hàm, Gửi sông La, Chiếc nón bài thơ của Lê Việt Hào, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ của Nguyễn Văn Tý, Ca dao em và tôi, Hà Tĩnh mình thương của An Thuyên, Hương cau vườn Bác, Về Phố Châu của Vi Phong,… đã trở thành những bài hát đi cùng năm tháng.         
            Hiện tại, các làn điệu hát ví sông La vẫn đang tiếp tục được các nhạc sĩ nghiên cứu khai thác để sáng tạo nên các nhạc phẩm, các tiết mục văn nghệ có sự kết hợp hài hòa giữa dân gian và hiện đại phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nếp sống văn hóa mới, giữ gìn và phát huy bản sắc địa phương – dân tộc, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước.
P.Q.A.


[1]PGS.TS Tú Ngọc, Dân ca Người Việt, NXB Âm nhạc, Hà Nội, 1994, tr.24),  
[2] C.Mác và F.Anghen, Bàn về văn học và nghệ thuật, NXB sự thật, Hà Nội, tr.81
[3] M.O.Cosven, Sơ yếu lịch sử văn hóa nguyên thủy, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958, tr. 258
[4] R.I.Grube, Lịch sử âm nhạc tổng quát, NXB Âm nhạc quốc gia, Mascova, 1960, quyển 1 (Bản dịch lưu hành nội bộ của Nhạc viện Hà Nội)
[5]Guxep,Mỹ học folklore, Bản dịch tiếng Việt của Hội Văn nghệ dân gian
[6] Đào Việt Hưng, Hát ví Nghệ Tĩnh, Tạp chí Văn hóa số 16, 4-1972
[7]PGS.TS Tú Ngọc, Dân ca Người Việt, NXB Âm nhạc, Hà Nội, 1994, tr.137
[8]Thái Kim Đỉnh (chủ biên), Địa chí huyện Đức Thọ, NXB Lao động, Hà Nội 2004, tr.249-250
[9] Phạm Duy, Đặc khảo về dân nhạc ở Việt nam, NXB Hiện đại, Sài Gòn, 1972, tr.94 (sách điện tử PRC)

Các bài viết liên quan: