GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ VINH : phong cảnh, di tích lịch sử , ẩm thực, VIETNAM


Giới thiệu khái quát về Vinh
 
Vinh là một thành phố – trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An cũng là của vùng Bắc Trung Bộ, Việt Nam. Thành phố Vinh là một trong những trung tâm du lịch của tỉnh Nghệ An, từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu. Với sự phát triển vượt bậc trong thời gian qua, Vinh đang ngày càng khẳng định vị thế của mình như một đô thị trẻ trong lòng Nghệ An, đặc biệt là về du lịch.
vé máy bay đi Vinh   vé máy bay đi VInh
                                           Một số cảnh đẹp ở Vinh
Lịch sử Vinh
Là vùng đất có núi bao bọc lại nằm cạnh biển Đông, Vinh có một vị trí đặc biệt. Các Vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều chú ý đến Vinh và đã cử các tướng tài vào đây trấn giữ. Nhưng đến thế kỷ XV dưới thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì vùng Vinh mới thực sự được quan tâm đặc biệt.
 
Ẩm thực Vinh
Tới Vinh du khách sẽ được thưởng thức các đặc sản của vùng đất này như: Cam Vinh, Cháo lươn Vinh, Món hến, Chả rươi, Nộm chợ Vinh, Kẹo Cu Đơ
Canh hến là đặc sản có vị đậm đà không thể thiếu trong những bữa cơm trưa hè. Thông thường người ta xào ruột hến thật thơm bỏ vào nước hến cùng với món rau nào đó, mà thường là các loại rau vặt như: rau bầu, rau lang, mồng tơi, rau dềnh, rau muống..v..v.. thành một món canh rất ngọt, giàu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là rất mát.
Bên cạnh món canh hến du khách còn có thể dùng món hến xúc bánh tráng. Hến được xào với mỡ hành, rắc thêm rau thơm và một ít lạc rang giã dập cùng vài lát ớt cắt mỏng ăn với bánh tráng là một món ăn ngon lý tưởng.
Rươi là thức ăn nhiều đạm. Du khách có thể ăn rươi với trứng gà mà người dân nơi đây gọi là chả rươi hoặc ăn canh rươi, mắm rươi.. đến mùa rươi người ta còn có thể phơi khô ăn dần
Nói nộm chợ Vinh tức là nói món nộm được bán ở các chợ tại thành phố Vinh. Như chúng ta đã biết, có nhiều món nộm khác nhau: nộm đu đủ, nộm hoa chuối, nộm khế, nộm cà, nôm mướp đắng. Tại chợ Vinh còn có nộm măng, nộm dưa chuột, nộm rau muống, nộ
 
Những địa điểm tham quan hấp dẫn tại Vinh
Nghệ An là một mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhà khoa bảng, nhà khoa học, nhà văn hoá nổi tiếng như Mai Hắc Đế, thi sĩ Hồ Xuân Hương… Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hoá thế giới và anh hùng giải phóng dân tộc.
Nghệ An có các di tích, danh lam thắng cảnh như khu du lịch núi Quyết, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, bãi biển Cửa Lò dài gần 10km, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, quảng trường Hồ Chí Minh, Phượng Hoàng Trung Đô, Thành cổ Nghệ An, Văn Miếu Vinh, Đền thờ Vua Quang Trung, Chùa Cần Linh…
 
            vé máy bay đi Vinh
Một số địa điểm tham quan hấp dẫn tại VInh
Dân tộc tôn giáo:
Cũng như các tỉnh khác của Việt Nam, truyền thống văn hóa của tỉnh rất phong phú. Là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều lưu giữ bản sắc văn hoá, tập quán riêng giàu truyền thống. Nghệ An là quê hương của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc với hát dặm, hát ví (phường vải, phường cấy; đò đưa…). Du khách đến vào dịp lễ hội ở Nghệ An đều có thể thưởng thức loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo này.

Chính sách cho nghệ nhân dân gian: chờ đến bao giờ?, NGHỆ AN, VIETNAM


Chính sách cho nghệ nhân dân gian: chờ đến bao giờ?
(Ngày đăng: 14/01/2013   Lượt xem: 239)

Nghệ nhân dân gian đóng vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc. Nếu không có họ thì chắc chắn dân ca ví phường vải sẽ không được bảo lưu đến ngày nay và cũng như sẽ không có thầy để truyền dạy lại cho lớp trẻ. 

“Chúng tôi có trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị mà các nghệ nhân truyền lại. Còn việc làm sao để có một cơ chế, chính sách cho các nghệ nhân, các câu lạc bộ hoạt động, tôi nghĩ UBND tỉnh Nghệ An cần vào cuộc”- Nghệ sỹ nhân dân Trịnh Hồng Lựu, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca Xứ Nghệ đề nghị.


Nghệ nhân dân gian Trần Văn Tư (85 tuổi) – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hát ví phường vải Kim Liên, Nam Đàn. Ảnh: baonghean.vn

Năm 2009, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam công nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian cho 11 người trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nhưng từ đó tới nay, họ chỉ có “danh hiệu” mang tính tôn vinh chứ chưa hề có một chính sách cụ thể nào. 

Bà Trần Thị Em năm nay đã 94 tuổi, bà là một trong số ít các nghệ nhân dân gian còn lưu giữ được rất nhiều bài hát ví phường vải cổ. Ở cái tuổi “gần đất xa trời”, song với bà mỗi lần được hát, được truyền dạy hay làm tư liệu sống cho các nhà nghiên cứu, cho những thước phim sống động để lữu giữ lại cho mai sau, bà rất phấn khởi.

“Danh hiệu đối với tôi rất quý. Nó như là động lực để tôi luôn nỗ lực giữ gìn, bảo tồn và truyền dạy lại cho thế hệ sau. Tôi rất sợ nếu mai này không còn trên thế gian này thì lớp trẻ cũng đừng quay lưng lại với vốn quý của cha ông. Còn về chế độ , từ khi có danh hiệu tới nay tôi chưa có được trợ cấp gì từ Nhà nước cũng như chính quyền địa phương cả. Đôi lúc cũng thấy buồn. Song không vì thế mà ngọn lửa đam mê với vốn quý của dân tộc bị mai một”, bà Em bày tỏ.

Còn với nghệ nhân dân gian Trần Văn Tư (85 tuổi), Chủ nhiệm Câu lạc bộ hát phường vải Kim Liên, huyện Nam Đàn cho biết: Câu lạc bộ hát ví phường vải có 10 hội viên, trong đó đã có 6 nghệ nhân dân gian (một nghệ nhân đã mất). Câu lạc bộ hoạt động rất cầm chừng, một năm chỉ có vài lần sinh hoạt trong những dịp kỷ niệm sinh nhật Bác, các ngày lễ lớn, người cao tuổi. 

Trước kia, câu lạc bộ hoạt động rất sôi nổi, nhưng dần dần yếu tố đô thị hóa tác động, lớp trẻ không còn say mê dòng nhạc cổ, còn người có tuổi cũng dần dần yếu đi nên không còn tham gia được nữa. Một mặt, kinh phí dành cho Câu lạc bộ hoạt động không có, hầu hết họ hoạt động trên tinh thần tự nguyện. Những buổi câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt, các cụ lại nấu ấm nước chè xanh, đĩa trầu vừa bàn luận vừa ca hát, vừa truyền dạy lại cho lớp trẻ. Họ không màng đến thù lao. Khi có đoàn về quay phim, tìm hiểu hay có đoàn làm công tác nghiên cứu, các cụ lại hăng hái góp sức, tái diễn môi trường diễn xướng cho đến 11-12 giờ đêm. Sau mỗi lần phối hợp công tác, huyện trích một phần kinh phí bồi dưỡng cho các nghệ nhân theo chế độ cộng tác viên. 

“Việc trả chế độ cho các nghệ nhân chỉ khi các nghệ nhân có sự phối hợp cộng tác với các đoàn nghiên cứu hay tham gia hội diễn của huyện trong các sự kiện văn hoá lớn chứ không phải là chế độ chi trả thường xuyên mà các nghệ nhân được nhận. Đây cũng là một thiệt thòi lớn cho các nghệ nhân bởi sự đóng góp của họ thì rất lớn trong việc bảo tồn giá trị văn hoá của dân tộc mà chưa được đáp trả xứng đáng”, ông Phan Văn Tính, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn cho biết.

Hầu hết, các nghệ nhân trình diễn, truyền dạy theo niềm đam mê với lương tâm nghề nghiệp là chính chứ không ai sống được bằng nghề. Khi được hỏi cần có chính sách, các cụ cũng mong mỏi lắm, chỉ cần 50.000 hay 100.000/tháng, như thế các cụ cũng cảm thấy rất vui rồi. Dù chưa có thù lao nhưng các nghệ nhân các cụ vẫn hăng say tập luyện, truyền dạy. Nhưng nếu có một chút đãi ngộ, họ sẽ cảm thấy được trân trọng, được quan tâm, những đóng góp của họ được vinh danh, được ghi nhận cho cả nền văn hoá của dân tộc chứ không phải ngày một ngày hai ngắn ngủi. Huyện chờ tỉnh, tỉnh chờ Trung ương. Trung ương thì đang bàn bạc để đưa ra chính sách. Trong lúc chờ đợi, các nghệ nhân dân gian ngày một già yếu đi, tuổi đã cao, sự cống hiến không còn được nhiều, người trẻ nhất là 60 tuổi và cao tuổi nhất là 94 tuổi. 

Theo Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Nghệ An: Để khuyến khích, động viên các nghệ nhân dân gian, tỉnh cần chủ động, linh hoạt trong việc đưa ra chính sách cho các nghệ nhân như đưa vào mục chi ngân sách thường xuyên hàng năm cho các câu lạc bộ, cho các nghệ nhân dân gian. Thực tế, nghệ nhân dân gian ở Nghệ An chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu như họ mất đi thì lấy đâu người gìn giữ và truyền dạy lại vốn văn hoá dân gian cho thế hệ sau, bởi vậy rất thiệt thòi cho các nghệ nhân. 

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò xã hội hóa trong việc thực hiện chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân; khuyến khích các dự án bảo tồn, phục dựng, phát huy các giá trị di sản phi vật thể do các nghệ nhân dân gian khởi xướng hoặc huy động các nhà tài trợ cùng góp tiền để các nghệ nhân dân gian mở các lớp truyền dạy và đầu tư kinh phí hoạt động cho câu lạc bộ. Có như vậy các câu lạc bộ, các nghệ nhân dân gian mới đủ sức giữ gìn, bảo tồn và truyền dạy mạch nguồn văn hóa cho thế hệ sau.

Nguồn: Báo tin tức

NGUYỄN LONG THAO : Tính danh học Việt Nam: Nghệ Danh


Tính danh học Việt Nam: Nghệ Danh


TIẾT F: NGHỆ DANH.

1. Định Nghĩa Nghệ Danh: Nghệ danh là danh hiệu của giới nghệ sĩ trong các ngành ca nhạc kịch, hội họa, điêu khắc gia. Theo dõi sự phát triển của ngành ca nhạc kịch qua dòng lịch sử, ta thấy nghệ danh có hình thức và nội dung khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử.

2. Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Hán Nho: Khi xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho Giáo, chỉ giới trí thức mới lấy tên tự, tên hiệu. Còn nghiệp cầm ca bị coi là “xướng ca vô loại” nên không ai đặt nghệ danh cho mình. Nhưng, đọc cổ sử ta thấy giới nghệ sĩ lấy nghệ danh như sau:

a. Lấy tên họ làm nghệ danh: Nghệ thuật sân khấu có mặt tại Việt Nam từ thời Lý. Tuy vậy, lịch sử không cho biết ai là người nổi tiếng nhất và có nghệ danh là gì. Tuy nhiên, có một trường hợp được Đại Việt Sử Ký Tiền Biên ghi lại như sau:

Năm Ất Sửu (1025) Lý Thái Tổ định người đứng đầu các con hát là Quản Giáp. Khi ấy có con hát họ Đào giỏi nghề hát nổi tiếng, thường được ban thưởng. Người bấy giờ hâm mộ tiếng tăm của người họ Đào ấy cho nên phàm con hát đều gọi cô Đào.

b. Lấy tên chính làm nghệ danh. Khi xưa, tại nông thôn Việt Nam, ngoài hội hè đình đám, còn có những buổi hát tuồng, hát chèo, hát ví. Diễn viên trong các phường hát này là những người trong làng. Họ không có nghệ danh nên dân chúng gọi họ bằng tên chính. Ví dụ ở Nam Đàn, Nghệ Tĩnh, có những đêm hát ví phường vải của các bà Thơn, Chánh Diên, Dũng, o Lượng và các tay lỗi lạc như Phan Bội Châu, Vương Thúc Qúi, Tú Sách, Tú Cò, Cử Quyền.

3. Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Văn Hóa Tây Phương: Vào đầu thế kỷ 20, khi văn hóa tây phương bắt đầu ảnh hưởng đến tâm lý người Việt thì quan niệm xướng ca vô loại thời Nho học bớt dần. Đến khoảng giữa thế kỷ 20, phong trào tân cổ nhạc phát triển mạnh nhờ những chương trình phát thanh, đại nhạc hội, phòng trà. Số nghệ sĩ tăng lên và họ cũng bắt chước nhà văn, nhà thơ, lấy cho mình một nghệ danh để che dấu tên thật. Về nghệ danh ta có thể phân hai loại:

a. Nghệ danh trong ngành cải lương: Khuynh hướng rất phổ quát là các nghệ sĩ trong ngành cải lương đã lấy những chữ rất mộc mạc để đặt nghệ danh cho mình. Xin nêu ra một số ví dụ: Sáu Lầu,Tám Chí, Chín Đình, Cô Năm Phỉ, Phùng Há, Ba Vân, Sáu Hẩu, Tư Đàn Cò, Ngọc Giàu, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Kim Huê, Thanh Thanh Hoa v.v…Nguyên nhân sự mộc mạc này là vì ngành cải lương xuất phát từ đồng quê miền Nam và theo phong tục ở đây, dân chúng thường gọi một người nào đó bằng tên thứ tự trong gia đình và tên chính. Đến khoảng thập niên 1950-1960, tại thành thị xuất hiện nhiều gánh hát cải lương, lúc đó mới thấy những nghệ danh có ý nghĩa và bóng bảy.Ví dụ: Hùng Cường, Bạch Tuyết, Thanh Nga.

b. Nghệ danh trong ngành tân nhạc và kịch nghệ: Vào khoảng năm 1930, một cuộc cách mạng về văn học và nghệ thuật xảy ra tại Việt Nam. Về âm nhạc, loại nhạc ngũ cung mất dần vị thế và thay vào đó là âm nhạc chịu ảnh hưởng tây phương. Trong loại âm nhạc mới này, các tác giả viết nhạc không đặt nghệ danh cho mình như các văn thi sĩ đương thời, trừ một số nhỏ như Văn Cao, Văn Giảng, Văn Chung, Đan Thọ, Tuấn Khanh v.v…Còn tuyệt đại đa số bắt chước nhạc sĩ tây phương lấy tên thật làm nghệ danh. Ví dụ: Tư Chơi Huỳnh Hữu Trung, Năm Châu Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Văn Tuyên, Doãn Mẫn, Lê Yên, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Đặng Thế Phong, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Quý, Nguyễn Hiền, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh v.v…

Ngược lại, những người hát các nhạc phẩm này là các ca sĩ lại chọn cho mình một nghệ danh. Và nếu nghiên cứu nghệ danh từ những năm 1930 đến giờ, ta thấy có ba khuynh hướng rõ rệt.

Khuynh hướng thứ nhất: Chọn nghệ danh từ những từ ngữ có ý nghĩa hoa mỹ, đọc lên có âm thanh hài hòa. Đa số các ca sĩ chọn loại nghệ danh này như: Quỳnh Giao, Ái Vân, Mai Hương, Khánh Ly, Hoài Bắc, Thanh Lan, Phương Dung, Anh Ngọc, Nhật Trường v.v…

Khuynh hướng thứ hai: Chọn nghệ danh từ những từ ngữ gợi lên hình ảnh, âm thanh trong trẻo, cao vút của các loại chim quý như Kim Tước, Sơn Ca, Hoàng Oanh, Thái Thanh, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Họa Mi v.v…

Khuynh hướng thứ ba: Chọn một tên Pháp hay Mỹ làm nghệ danh. Khi làn sóng âm nhạc Pháp Mỹ tràn ngập Việt Nam vào những năm cuối thập niên 1960, người ta thấy ngay một hiện tượng là một số ca sĩ Việt Nam nhận tên ngoại quốc làm nghệ danh. Có ba lý do để giải thích hiện tượng này: Thứ nhất, có thể họ là người có quốc tịch ngoại quốc như trường hợp Julie, Jo Marcel. Thứ hai, vì muốn bắt chước tiếng hát, cách trình diễn của ca sĩ ngoại quốc. Đó là trường hợp Elvis Phương muốn bắt chước Elvis Presley của Mỹ. Thứ ba, vì muốn có tên lạ để thu hút khán giả, nhất là tâm trạng giới trẻ đang có khuynh hướng thích văn hóa tây phương.

Ngày nay, tại hải ngoại, nhiều ca sĩ trẻ đã chọn hai từ một Việt, một Mỹ làm nghệ danh Ví dụ: Don Hồ, Tommy Ngô, Linda Trang Đài, Cathy Huệ v.v…Nghệ danh mới xuất hiện khoảng hơn nửa thế kỷ, nhưng đã biến hóa rất đa dạng. Hiện nay, một khuynh hướng đã thấy xuất hiện là các ca sĩ trẻ thích chọn cho mình nghệ danh đọc lên nghe “kêu” hơn là có ý nghĩa.

Ngày mai: Thương Hiệu

Nguyễn Long Thao
VietCatholic News (Thứ Bẩy 11/12/2004)

http://www.erct.com/4-ChiaSe/SuuTam/Tinh_danh-NgheDanh.htm

VIỆT KHÁNH : PGS NINH VIẾT GIAO , Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa xứ Nghệ


Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa xứ Nghệ

Cập nhật: 09:13 | 21/05/2013

– Sáng 20/5, tại hội trường Thư viện tỉnh Nghệ An, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành tổ chức trao huy chương và xác nhận kỷ lục “Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa Dân gian xứ Nghệ” cho PGS Ninh Viết Giao.

 

PGS Ninh Viết Giao (15/5/1933) quê ở xã Hằng Xuyên, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông đã nghiên cứu, xuất bản và công bố rất nhiều công trình lớn, hàng trăm bài báo khoa học. Trong đó, ông giành phần lớn thời gian để nghiên cứu về Văn hóa Dân gian Nghệ Tĩnh như: Hát ví phường Vải, Ca dao Nghệ Tĩnh, Kho tàng về xứ Nghệ, Hát dặm Nghệ Tĩnh…

Ông Lê Trường An, Tổng GĐ Công ty sách kỷ lục Việt Nam nhấn mạnh rằng những gì PGS đã làm là tài sản vô giá cho kho tàng nghiên cứu văn hóa dân gian Xứ Nghệ nói riêng và văn hóa dân gian Việt Nam nói chung.

văn hóa dân gian, Nghệ An

  Việt Khánh

http://m.vietnamnet.vn/vn/van-hoa/121992/nguoi-co-nhieu-cong-trinh-nghien-cuu-nhat-ve-van-hoa-xu-nghe.html

 

LÊ HÀM : Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ, VIETNAM


Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ

  •   LÊ HÀM
  • Thứ tư, 10 Tháng 8 2011 06:54
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

            

                         Ai đi qua nơi đây
                                    Xin dừng chân Xứ Nghệ
                                                                        (Cù Huy Cận)
Du khách mỗi lần qua nơi đây chúng tôi đều khoe: quê ta có nhút Thanh Chương, có Tương Nam Đàn, nào cam Xã Đoài, cháo lươn Kẻ Vịnh và cứ theo dọc vào đàng trong, ăn Bưởi Phúc Trạch, đội nón Kỳ Anh, uống nước chè Hương Sơn, chấm ruốc tôm canh Cửa Nhượng…
 
            Ngoài ra mời du khách lắng nghe những bài dân ca Xứ Nghệ một thổ sản đặc biệt trong gia tài văn hóa tinh thần mà bao đời cha ông để lại cho đến bây giờ, đó là:
            Các làn điệu Hò khoan, Kể vè, Hát ví, Hát dặm, Sắc bùa, Ru con, hát Đồng giao, Bài ca tế lễ… Mời xem trò Kiều, trò Trương viên, chiếu ca Trù cổ Đạm, xem múa chèo cạn, bài bông múa đăng, múa chén,…
            Để hiểu sâu hơn từng thể hát, hôm nay chúng tôi xin giới thiệu thể hát Ví, một hình thức ca hát độc đáo của người Việt ở Xứ Nghệ. Tìm hiểu nguồn gốc của loại dân ca này, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian cho rằng, nó do từ “ví” mà ra. Ví là ví von, so sánh.
            Ví dụ như:         Cổ tay em trắng như ngà
                                    Mắt em sắc như là dao au
                                    Miệng cười như thể hoa ngâu
                                    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
            Như vậy, nó xuất phát từ lời ca, từ mặt văn hóa của làn điệu dân ca. Mà dân ca Việt Nam đâu chỉ có “hát Ví” mới có ví von, so sánh. Các làn điệu Sa mạc, cò lả, trống quân, quan họ, lý ngựa ô, lý con sáo… lời ca đều có ví von, so sánh, tại sao không gọi nó là hát Ví.
            Ở Nghệ Tĩnh nói tới hát Ví là nói tới một loại dân ca mà làn điệu dân ca này chỉ thấy xuất hiện ở Nghệ Tĩnh, lưu truyền ở Nghệ Tĩnh. Ra Thanh Hóa, vào Quảng Bình, chúng ta không nghe làn điệu dân ca này. Trong các sách viết về dân ca đã xuất bản từ trước tới nay, chúng ta cũng không thấy sách nào nói, địa phương nào có loại dân ca này. Vì thế chúng tôi cũng cho rằng hát Ví là một trong những thổ sản đặc trưng của Xứ Nghệ.
            PGS. Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví” là “với”, hát ví là hát với và “ví” là “vói”. Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh đó với đám con trai đang nhổ mạ. Đó là một ý kiến cần phải nghiên cứu.
            Qua thời gian đi sưu tầm dân ca ở các vùng miền hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, tôi chưa thấy nghệ nhân nào nói “ví” là “với”. Nếu nói là “vói” còn có ý nghĩa trong ca hát còn từ “với” thì không thỏa lắm:
                        – Tôi với anh cùng đi
                        – Trứng chọi với đá
                        – Hình với bóng
                        – Con với cái…
            Còn từ  dù sao nó cũng mang thẩm âm nhiều hơn.
                        – Công ơn ví như trời biển
                        – Ví đổi phận làm trai
                        – Ví dù có phải hi sinh nơi trận mạc.
            Như thế từ hát Ví vẫn là từ thịnh hành nhất từ trước tới nay.
            Hát Ví Nghệ Tĩnh, trước khi là dân ca trữ tình, hát đối đáp giao duyên giữa trai và gái, nó là dân ca lao động, dân ca nghề nghiệp. Tại Xứ Nghệ này nói hát Ví là nói chung. Ở đây có hát ví phường vải, hát ví phường đan, hát ví phường nón, hát ví phường vàng, hát ví phường róc cau, lau mía, hát ví phường cấy, hát ví phường củi, hát ví phường chắp gai đan lưới… Như vậy, ngay cái tên của nó cũng gắn với nghề nghiệp đến lao động rồi. Và xét về nhiều phương diện, nó có quan hệ xa gần với các bài ca nghề nghiệp, đặc biệt là với hò lao động.
            Qua thời gian hát ví được nâng lên bằng một loại dân ca sinh hoạt – trữ tình.
            Đã có nhiều công trình ngiên cứu về hát ví Nghệ Tĩnh, trước khi đi sâu vào mặt âm nhạc, xin nêu tóm tắt các đặc điểm của hát ví ở Nghệ Tĩnh như sau:
1. Không như hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo ở Phú Thọ, hát cửa đình ở một số nơi khác, nhân dân Nghệ Tĩnh hát ví không hề tính đến thời gian. Quanh năm trên đất Nghệ lúc nào cũng có thể nghe tiếng hát ví, không hát ví phường vải thì hát ví phường củi,…
            2. Hát ví nhất là ví phường vải, ví phường vàng, ví phường đan… có nho sĩ tham gia. Phần lớn các nho sĩ này là tầng lớp trí thức bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, cũng như có người là con nhà dòng dõi, con nhà khoa bảng, nhiều khi chính họ là những người có tên trên bảng vàng. Tham gia hát ví họ thường là “thầy bày”, “thầy gà” cho bên nam và bên nữ. Một số người cũng trực tiếp cất giọng. Chính vì có nho sĩ tham gia mà hát ví Nghệ Tĩnh đã để lại những lời ca óng ả, cô đọng, màu mè và nhiều giai thoại mà đến giờ đây nhân dân Xứ Nghệ còn truyền tụng.
            3. Hát ví có thủ tục hẳn hoi. Thông thường một cuộc hát ví có ba chặng. Chặng một là các bước hát dạo, hát chào, hát mừng là hát hỏi. Chặng hai là hát đố, hát đối. Chặng ba, chặng quan trọng nhất, có nhiều câu hát hay hơn cả, gồm: hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Với hát ví phường vải thì thủ tục trên khá chặt chẽ. Có thủ tục nó làm cho cuộc hát thêm lịch sự và trở thành một hình thức phô diễn mang tính văn hóa hẳn hoi.
            4. Câu văn hát ví hầu hết được sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể. Vì hát ví đã trải qua một thời gian dài lại có nho sĩ tham gia nên như vừa nói ở trên, câu hát khá chải chuốt, khá điêu luyện, thể hiện tình cảm phong phú, phức tạp, nhiều vẻ. Nhiều câu hát ví hàm súc mang chất trí tuệ ở logic diễn đạt, ở tri thức sách vở và tri thức thực tiễn. Bên cạnh đó cũng không ít câu mang tính chất chơi chữ và chất “trạng”.
            5. Về cách hát, trước khi hát một câu, bên nam hoặc bên nữ phải xướng lên một câu. Ví dụ như hát ví phường vải, bên nam gọi bên nữ: “Ơ này chị em phường vải ơi!”, bên nữ thưa: “Ơ thưa chi!” rồi bên nam mới hát. Hát hay bên nữ khen “Hay, ơ rằng hay” hoặc “Hay, rằng thưa xinh”, “Hay hỡi rằng cân”. Còn hát không hay, câu văn lủng củng, các cô nói “Hay rằng chưa cân” hoặc “Hay rằng chưa xinh”. Bên nữ khi hát cũng phải gọi bên nam: “Ơ, người đi nhởi ơi!”. Đó là lúc đầu.
            Còn khi đã đằm thắm gắn bó với nhau rồi, tức là khi cuộc hát đã chuyển sang chặng ba thì những lời gọi trên, chuyển thành “Ơ, là bạn người ơi!”, “Ơ là ngãi người ơi!” hoặc “Ơ là bạn tình ơi!”... nó làm cho tình cảm hai bên mặn mà hơn, da diết, sâu sắc hơn.
            Muốn hiểu sâu hơn chúng ta phân tích ví bằng âm nhạc mà trong âm nhạc thì điệu thức và gam là chủ yếu. Ngoài ra còn có nhịp điệu sắc thái trong diễn xướng…
            Như thế chúng ta có thể nói điệu thức trong dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và hát ví nói riêng được không?
            Có thể được chứ!
            Bởi thuật ngữ điệu thức hiểu theo nghĩa chung nó giống như ngôn ngữ của một dân tộc. Còn gam là bảng chữ viết của dân tộc đó. Điệu thức gắn liền với giọng điệu, xung quanh một nốt đặc trưng, nốt đó có thể là âm chủ hoặc âm kết thúc.
            Ví dụ lên dây đàn thập lục:
             Đệm thơ miền Trung gồm chuỗi nốt Đồ rê mi sol la
             Đệm thơ miền Bắc gồm chuỗi nốt Đồ rê fa sol la
             Miền Trung khác với miền Bắc ở nốt mi và nốt fa.
             Âm nhạc hát ví thuộc hệ thống dân ca cổ, giai điệu chủ yếu nằm trong 3 nốt và 4 nốt (ngũ cung khuyết), một số bài trục chính là quãng 4 đúng và 3 thứ. Tầm cữ âm nằm trong phạm vi quãng 6, quãng 7 (Xem thêm phần điệu thức dân ca Nghệ Tĩnh).
            Ví là thể hát đơn, hát trên lời thơ lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể. Nhưng đến khi có hội có phường thì có thể cả tốp cùng hát theo, hoặc 2 – 3 ngườicùng hát để hỗ trợ giọng cho nhau như ví phường vải hát trong lúc kéo xa quay con cúi. Hát ví trong những người lao động, nhiều người khác trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương), trẻ già trai gái đều tham gia hát ví.
            Về văn học của hát ví, các nhà nghiên cứu sưu tầm văn nghệ dân gian như PGS. Ninh Viết Giao, GS. Nguyễn Đổng Chi, nhà thơ Trần Hữu Thung… đã tập hợp nhiều tư liệu, đã in thành sách và lưu hành rộng rãi. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng ví chỉ có một loại, một làn điệu cơ bản nhưng qua nghiên cứu âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh thì ví phong phú về làn điệu, lý do là ở Nghệ Tĩnh mỗi nghề mỗi việc đều có thể ví về nghề đó như ví phường vải, ví phường chè, ví phường cấy,… nhưng khi hát lên chỉ khác nhau về âm sắc.
            Vì thế bản chất âm nhạc chuyển đổi tuyền luật theo cách hát của từng nghề, từng làn điệu của những người khi hành nghề đó, đồng thời do ngôn ngữ của từng vùng cũng ảnh hưởng tới cách hát, cho nên về cấu trúc âm nhạc cũng khác nhau ở nhịp vào bài và nhịp kết thúc (sẽ dẫn giải sau khi đi vào phân tích các điệu ví).
            Những bài hát ví ở nghệ Tĩnh đã sưu tầm có:
– Ví phường vải: Nam Đàn, Đô Lương, Can Lộc, Đức Thọ…;
– Ví đò đưa sông La: Đức Thọ, Hương Sơn,…;
– Ví đò đưa sông Lam: Dọc sông Lam;
– Ví đò đưa sông Phố: Hương Sơn;
– Ví phường chắp gai đan lưới: Cẩm Nhượng, Cửa Hội, Cửa Vạn;
– Víphường đan(đan rổ, rá): Kỳ Anh, Ba Giang, Nam Đàn…;
– Phường nón: Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà…;
– Phường buôn: Đô Lương, Hương Khê, Chợ Nhe, Chợ Thượng…;
– Ví trồng đấu: Kỳ Anh (Trồng chén, bát, gạch…);
– Ví tiểu thuyết: (do Nguyễn Chung Anh đặt tên);
– Phường vàng: Nam Vân, Sa Nam…;
– Bện võng: Phú Hậu, Hoàng La, Diễn Châu, Kỳ Anh…;
– Phường nốc: Tổng Bích Hào – Thanh Chương…;
– Trèo non: Xuân An, Hai Vai, Kỳ Nam, Nho Lâm, Nam Cai (Anh Sơn),…;
– Phường cấy – Phường gặt: Nơi nào cũng có, chủ yếu vùng đồng bằng;
– Ví phường củi: Các vùng có đồi núi chủ yếu vùng trung du;
– Ví róc cau lau mía:Vùng bán sơn địa;
– Ví nhổ mạ: Các vùng đồng bằng;
– Ví huê tình: Nơi nào cũng có;
– Ví đò đưa chuyển phường vải: Can Lộc;
– Ví đò đưa nước ngược: Nghi Xuân;
Hát ví Nghệ Tĩnh cũng giống như hát huê tình, hát xoan, hát ghẹo ở trung du Bắc Bộ, cũng tự tình, trong lời ca cũng có câu đệm.
Ví dụ:
Ở Bắc Bộ hát đệm:
            Ơ này anh hai chị hai đó ơi…
Ở Nghệ Tĩnh hát đệm:
            Ơ bạn tình ơi; Ơ này chị em phường vải ơi…
Lời ca có nhiều câu dí dỏm:
            Ơ bạn tình ơi! Khi đi anh trước em sau
            Giừ về đàng trẹ (rẽ) rọt (ruột) đau quằn quằn.
Hoặc:
                        Quen em chưa ráo mồ hôi
            Chưa trưa buổi chợ đã chia đôi nẻo đường.
Hoặc:
                        Năm ni em mắc chăn tru (Trâu)
            Vài năm chi nựa em về mần du (làm dâu) mẹ thầy.
Sau một thời gian hát ví lan truyền ở các địa phương, hát ví gắn với nghề nghiệp đã trở thành cuộc hát có thủ tục, có quy cách riêng như hát phường vải.
Ví dụ người ta quy định vào cuộc hát ví phải hát câu chào hỏi như sau:
            Ở nhà tôi mới tới đây
            Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà
            Ba cô tui lạ cả ba
            Bốn cô lạ bốn biết là quen ai
            Đến đây lạ cả bạn trai
            …
            Bây giờ biết nói làm sao
            Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa.
Đặc điểm hát ví Nghệ Tĩnh cũng như hát giặm, chủ yếu là theo phương ngữ thổ âm của địa phương và thông qua ca khúc của ngành nghề nơi đó để hát – Tính chất rõ nhất là ngẫu hứng, tự do, phong phú có cảm xúc.
Về âm nhạc, nếu bài nào cũng ghi theo các nghệ nhân hát thì vô cùng phong phú nhưng xét về cấu trúc giai điệu dù khác nhau về lời ca cũng nằm trong điệu thức 4 nốt (mì la đố rế) – (la đố rế mí).
Nhưng nếu chuyển hóa dấu (’) (hỏi) = (´) (sắc) thì không còn đâu Xứ Nghệ.
Ví dụ: Nghệ Tĩnh: Anh nỏi anh vô chơi
            Ngoài Bắc: Anh nói anh vào chơi.
Sau đây tôi xin trích dẫn một số điệu ví để các bạn tham khảo.
1.       Ví đò đưa sông La
Nghệ Tĩnh có nhiều sông nhiều rào, đó cũng là nguồn giao thông đặc biệt trong tỉnh. Trên dòng sông thường có thuyền buồm, thuyền chợ, đò dọc, đò ngang, bè gỗ, bè nứa,… Ngay trong khi thuyền bè xuôi ngược dòng sông, giữa thuyền này với thuyền kia khi xuôi dòng, khi ngược dòng, với mênh mông trời nước, đó là sự cách trở để hai thuyền khó tâm tình với nhau, muốn giao duyên người bạn, thuyền bên tả ngạn hát ví, để bên hữu ngạn biết có người muốn tỏ tình. Câu ví hình thành trong khoảng không gian bao la đó, chữ “Người ơi” vút cao trong sáng nghe man mác biểu lộ rõ nhất ở chỗ bắt đầu khi vào bài với chữ “Người ơi” cấu tạo giai điệu là quãng 2 trưởng.
                        Người ơi thuyền anh xuôi Chế sáu chèo
                        Thuyền em ngược Lạng cheo leo một mình
                                    (Xem bản phổ ví đò đưa sông La)
2.       Ví phường vải
Ở Nghệ Tĩnh việc làm ăn ở hội có phường là truyền thống lâu đời. Nghề thủ công dệt vải, tơ lụa, nuôi tằm nổi tiếng như đất Đồng Môn dệt vải, lụa Hạ Châu Phong, các làng ở Nam Đàn, ở can Lộc (Như Trường Lưu)… đều có phường vải.
Nghề dệt vải – quay tơ, xe cúi phần lớn do chị em gái đảm nhiệm. Về tiết thu tháng 8 khi mùa màng cày cấy đã xong, chị em phường vải thường tụ tập vào một nhà trong xóm, lấy ca hát để động viên nhau cho quên sự mệt nhọc.
                                    Tần tấn rắp ranh
                                    Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường
                                    Nguyệt dạ canh trường
                                    Dăm ba ô ngồi lại
                                    Dăm ba dì ngồi lại.
                                    Trước là nghề canh cửi
                                    Sau đàn hát vui chơi…
            Từ đó những điệu ví phường vải được vang lên bên lũy tre xanh, từ trong mái nhà tranh ấm cúng hay dưới đêm trăng bên thềm nhà, các chị em tay quay xa, tay cầm con cúi rút sợi. Tay quay xa khi quay khi dừng, lên lên xuống xuống, khi đưa ra khi đưa vào, nhịp nhàng mềm mại, tiếng xa sè sè, hòa vào tiếng quay vo vo êm ả, tiếng hát cũng trong hoàn cảnh đó, được cất lên êm dịu thiết tha nồng hậu, biểu hiện ở chỗ bắt đầu ở chữ “Người ơi” nhẹ nhàng thiết tha, cấu tạo âm bằng một quãng ba thứ, sau đó chuyển sang quãng 3 trưởng:
                                    Người ơi! Bốn mùa xuân hạ thu đông
                                    Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng
            Hát phường vải khác với các ví khác là có thủ tục một cuộc hát: đầu tiên chỉ nhóm chị em phường vải nữ ca hát với nhau. Sau đó có sự tham gia của nhóm nam. Có thể nhóm nam này là trai phường nón hoặc trai phường củi… và trở thành hát đám hát hội. Hát phường vải là phôi thai của hát đám, do đó có quy tắc của phường đề ra:
            – Sinh hoạt của phường vải nữ;
            – Hát dạo của trai phường khác;
            – Vào cuộc: Hát chào hát mừng, hát hỏi rồi đến hát đố, hát đối, xong chuyển sang, hát mời, hát xe kết rồi hát tiễn ra về.
            Trong âm nhạc của hát phường vải tuy điệu thức các làn điệu ở các chặng giống nhau, nhưng nó khác nhau ở chỗ bắt đầu vào các chặng, nên ghi ra bản phổ cũng khác nhau.
            Ví dụ:
            Chặng chị em phường vải sinh hoạt.
                                    Ơ này chị em phường vải ơi…
            Trai phường khác mới vào cổng hát:
                                    Người ơi!…
            Khi chưa hỏi mời hai bên đều hát:
                                    Ơi nghĩa người ơi!
            Khi có cảm tình với nhau qua chặng đố đối hát:
                                    Ơ nghĩa người thương ơi!
            Qua đó ta cũng thấy được không phải vào câu ví nào cũng mở đầu bằng “Người ơi” một cách xa lạ, mà theo tình cảm của từng chặng từng cuộc mà hát với những từ thích hợp, âm điệu thích hợp.
            Về văn học của hát phường vải, chúng tôi xin giới thiệu thiệu tập “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao in lần thứ 2 – Nxb Nghệ An 1993 và cuốn “Hát phường vải Trường Lưu” của Vi Phong – Thư Hiền – Nxb Hà Nội 1997.
            3. Ví đò đưa sông Lam
            Tính chất ví đò đưa là cùng loại với hát ví nói chung, nhưng ví đò đưa sông Lam khác sông La ở chỗ bắt đầu vào bài: “Người ơi” cấu tạo giai điệu ở quãng 3 thứ (la – đô hoặc sol – Sib). Đặc điểm của ví này là chỉ hát trên sông lúc đò đang đi xuôi hoặc ngược dòng, còn khi neo đậu không ai hát nữa. Khi thuyền trôi trên sông, người chống đò cầm sào đi lên phía mũi thuyền, bỏ sào chống xuống nước, tay cầm đầu sào, tùy vào phía trước bả vai, rồi lấy sức chống cao sào, đi ngược với con thuyền, lúc nhổ sào người chống sào đi thong thả về vị trí cũ là hết một cội sào, lúc đó họ nghỉ ngơi và cất lên tiếng hát – có lúc người ngồi bên mạn thuyền hát một câu ví tâm tình:
            Người ơi! Ai là biết nước sông Lam răng là trong là đục
            Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh          
            Âm điệu của ví đò đưa sông Lam: man mác, bao la, sâu lắng.
            4. Ví phường cấy
            Người nông dân Nghệ Tĩnh đã chịu đựng biết bao cơ cực của thiên nhiên hà khắc, nào gió Lào hạn hán, lụt bão triền miên. Trong chế độ phong kiến cuộc sống làm thuê một nắng hai sương, người nông dân đi cày cấy trước khi trời chưa sáng trong màn sương mai dày đặc. Để biểu lộ tâm tình với nhau trên đồng ruộng, câu hát ví được hình thành trong hoàn cảnh đó, nó mang tính chất bàng bạc, u uất bâng khuâng, điển hình là câu “Người ơi” bắt đầu vào cuộc ví:
                        Người ơ ơi! Rồi mùa toóc rả rơm khô,    
                        Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
            Cấu tạo giai điệu vào bài là quãng 1 có láy 1 nốt nhỏ lên 2 trưởng. Điệu thức ví phường cấy 4 nốt (la đô rê mi).
            5. Ví trèo non
            Rừng núi Nghệ Tĩnh khá rộng và có những mỏm núi cao vun vút, nằm trên dải Trường Sơn trùng điệp, có vùng đồi núi gần thượng du và trung du, đồng bằng ven biển đều có núi đồi. Người dân xứ Nghệ thường hay đi kiếm củi ở rú gần làng như rú Hống (núi Hống), rú Thành, rú Đại Huệ,… có vùng núi đá, có vùng núi đất, cây cối có nơi lè tè hoang dại, có nơi sầm uất xanh tươi. Mỗi lần đi kiếm củi, họ phải trèo lên cao mới có củi tốt. Những bàn chân đất, đòn gánh đè rạn hai vai, vất vả gian nan là thế nhưng câu hát ví vẫn cùng người xứ Nghệ lên non. Họ gọi đó là “hát ví trèo non”, âm điệu câu hát mang màu sắc không gian đồi núi. Thường thường người dân đi hái củi này hay dùng tiếng “hú” làm tín hiệu để liên lạc với nhau, cho nên hát ví lúc này không thể hát ngay chữ “người ơi”, mà vào đầu là chữ “Ơ” rồi mới hát “là người ơi”, có như thế người bạn bên núi kia mới biết người ở bên này đang hát với mình. Một đặc điểm khác là cuối câu ví không kéo dài, vì do gánh nặng hoặc leo trèo mệt nhọc nên dừng lại một chữ có âm ngắt “đó”:
                        Ơ… là người ơi!
                        Chứ trèo truông mới biết truông cao       
                        Chứ đã đi đò dọc lại ước ao sông dài đó.
            Cấu tạo giai điệu là: sol la đố rế
            Dưới đây là hệ thống một số làn điệu dân ca xứ Nghệ và kĩ thuật hát ví:
DÂN CA XỨ NGHỆ IN TỪ BĂNG CASSETTE
 SANG ĐĨA CD CỦA NGHỆ NHÂN ĐÃ MẤT
            1. Hò dô
            2. Hò khoan đi đường
            3. Hò xeo gỗ     
            4. Ví phường vải                        2L
            5. Ví đò đưa xuôi dòng   2L
            6. Ví đò đưa nước ngược
            7. Ví trèo non    
            8. Ví cấy          
            9. Ví chuyển điệu
            10. Ví buôn bộ
            11. Hát vè Hà Tĩnh
            12. Giặm xắp
            13. Giặm kể
            14. Giặm nối
            15. Ru con (Bài 1 – bài 2)
            16. Sắc bùa (Đức Thọ)
            17. Hát đúm
            18. Chèo kiều – các làn điệu
                                    Làn trăng
                                    Ai thả lạc
                                    Hầu cô
                                    Buông áo em ra
                                    Tam tầng (Kiều vẫn đi chơi về)
                                    Hát dạo (Vương ông đi chơi)
                                    Hát say
                                    Chèo đò
                                    Phải lương
                                    Hát xà
                                    Vọng phu (Kim Lương…)
                                    Lên chùa (quét sạch lá rừng)
                                    Quạt màn
                                    Ngâm Kiều…
                                    (Tư liệu của NS Lê Hàm sưu tầm từ năm 1956)
 
TÌM HIỂU KĨ THUẬT HÁT VÍ
                                                                                   
            Dân ca Nghệ Tĩnh, hát ví cũng như hát giặm, hát ru xuất phát từ hoàn cảnh lao động và thời gian nơi xảy ra ca hát.
            Các nghệ nhân vừa nhai trầu vừa hát ví, hát giặm, hát vào đêm trăng thanh gió mát như hát phường vải; hát vào buổi mờ sương như hát ví phường cấy; hát trong không gian trời cao sông rộng như ví đò đưa, ví đua thuyền; vừa hát vừa trèo núi hoặc xuống núi, hát khi đôi vai gánh nặng như ví trèo non; tưng bừng phấn khởi nơi biển khơi sau khi được mẻ cá;… do đó chúng ta phân loại giọng hát gồm: giọng trai, giọng gái, giọng già, giọng trẻ. Căn cứ vào lứa tuổi của các giọng ca, ta đối chiếu với ca hát dân gian nói chung để xếp loại giọng hát mà các nghệ nhân đã trình diễn như giọng: Kim – Mộc – Thổ đồng – Thổ thường.
            – Hơi hát (cách lấy hơi): ở tai – ngực – bụng – rốn, đan điền.
            – Kĩ thuật: Công minh trong phát âm tự do theo phương ngữ làn điệu.
            – Khẩu hình ngôn ngữ: Mỏng, sáng, nhẹ nhàng của phương ngữ phương Đông.
            – Đào tạo chủ yếu: Truyền khẩu – học theo nghệ nhân.
            Hát ví là loại ca hát: Không nhịp điệu, hát tự do, theo bản năng trong sinh hoạt; không như hát vè, giặm (hát theo nhịp phách 2/4 hoặc 7/8).
            Trong ca hát dân gian, không nằm ngoài ngôn ngữ người Việt, khi nói có 6 âm.
            Huyền ( ̀), sắc (´), nặng (.), hỏi ( ̉), ngã (~) và không. Nếu so sánh giọng nói ba miền ta thấy:
            Người phía Bắc nói sai phụ âm đầu: Nói =lói; nón = lón.
            Người miền Trung nói sai dấu: Nói = nỏi, cánh chim = cảnh chim
            Người miền nam nói sai âm cuối: đèn = đeèng, mình = miềng
            Có người hỏi tôi thổ âm, phương ngữ người xứ Nghệ có khác nhau không?
            Từ Bắc Nghệ đến Nam Nghệ Tĩnh giọng nói có vài vùng khác nhau:
            ví dụ:    
            – Người Quỳnh Lưu – Diễn Châu nói: Thực hiện tiếp giải phóng mặt bằng (nói đúng dấu ).
            – Người Nghi Lộc nói: Bổn quy đình nha nước (bốn quy định nhà nước). Hoặc: Me mi mô (mẹ mày đâu?) hầu hết là không dấu.
            – Người Thạch Hà, Kỳ Anh nói: Đất Đồng môn dệt vải – Đất cổ đạm vắt nồi (Dấu sắc thành dấu hỏi).
            Ngoài ra từ Cha có nơi gọi là BốBọ hoặc là Thầy…Như thế người xứ Nghệ hầu hết nói dấu sắc thành dấu hỏi, dấu nặng.
            Trong 6 dấu của tiếng Việt, xứ Nghệ có những nguyên âm ghép, những phụ âm dại khép kín phía sau các âm đóng, âm chết trong dân ca tỉ lệ dấu cao.
            Còn cách hát ví hầu hết là giọng nữ trung, nam trầm và nam cao ít thấy – nam nữ hát cách nhau một quãng 8, thường cách nhau một quãng 4 và quãng 5.
            Trong ca hát dân gian, phong cách không chỉ là bài bản, luyến láy, nhả chữ: phong cách có trong hơi thở (cái hồn của tiếng hát) khéo léo xử lí các khoang, xoang của cơ quan phát âm, vóc hình của tiếng hát, ví dụ:
                                    Hát chèo dùng hơi mũi
                                    Hát tuồng dùng hơi xoang ngực.
            Xử lí trong hát ví cũng phải hiểu nội dung câu ví (Về văn học cũng như âm thanh làn điệu) trong giọng hát phải đảm bảo cái thực của:
                                    Tinh – Khí – Thần, Hỷ – Nộ – Ai – Lạc
            Khi phát âm câu ví, từ ngữ khí, ngữ điệu phải có tình có lí. Những âm phát ra câu như: Trại lục, mắc, chặt… phải tròn vành rõ chữ.
            Hát ví phải hát cho hay, cho đẹp có cái duyên trong khẩu hình như nhả ngọc phun châu là yếu tố trước tiên của ca hát dân gian.
            Dù khác nhau về ngôn ngữ – thổ âm của từng vùng miền, nhưng khi vào hát ví – giặm ai cũng hát làn điệu – âm thanh giống nhau, đó là điều đáng quý.
            Trong thế kỷ XX – XXI: kĩ thuật ca hát dân gian như hát ví – giặm, đã chuyển hóa phong phú rất nhiều kể cả ca từ và âm điệu.
            Bởi lẽ chúng ta đã có các trường chuyên nghiệp, có khoa thanh nhạc mà khoa thanh nhạc hiện đại lại phân giọng hát ra:
                                    Nam cao – Nam trung – Nam trầm
                                    Nữ cao, Nữ trung, Nữ trầm
            – Hơi hát chủ yếu là ngực và hoành cách mô;
            – Cộng minh theo phát âm ngôn ngữ Tây phương;
            – Khẩu hình, tròn, dày, đáp ứng với công minh quen dùng;
            Ví dụ: Tổ quốc ta bao la
            hát là: tổ qu…ô…c ta ba…a…o…la…
            Chính vì những yếu tố trên mà ca hát dân gian dần được pha trộn kĩ thuật hiện đại.
            Cho đến nay trên các sóng phát thanh truyền hình, hát dân ca đã phong phú hơn nhiều. Nhưng cũng phải lưu ý rằng: Đừng để cánh diều dân ca đứt dây!                                                                                                                                            
L.H.

THU HƯƠNG : Đêm tháng Năm nghe hát phường vải, VIETNAM


Đêm tháng Năm nghe hát phường vải
(Cập nhật lúc 15:57′  20/5/2013)

 

 

(Baonghean) – Chúng tôi tìm về nhà cụ Nguyễn Thị Sơn (92 tuổi), một nghệ nhân hát ví phường vải Câu lạc bộ xã Xuân Hòa (Nam Đàn). Từ ngoài cổng, đã nghe: “Ơ… chớ hỏi em hỏi cả bạn hiền/ Bác Hồ về lại Kim Liên mấy lần?”; “Ơ… chớ Năm Bảy, Sáu Mốt Bác về/ Năm mươi năm ấy xa quê hương nhà”. Cả  5 cụ sum vầy đối đáp trông thật ấm cúng. Cụ ít tuổi nhất cũng ngoài 65. Cụ Sơn vui vẻ, “Mấy đêm nay chị em ngồi hát đến 1, 2 giờ sáng mới thôi. Đây là món quà dâng lên Bác nhân kỷ niệm sinh nhật Người”.

Trong 5 nghệ nhân: cụ Sơn, cụ Liên, cụ Mão, cụ Tình, cụ Dương, thì cụ Sơn là “cây cổ thụ” hát ví của Xuân Hoà. Cụ trò chuyện với tôi chủ yếu là những lời hát ví nghe thật lắng đọng. Mãi 8 giờ đêm, tôi mới rời nhà cụ.

Cụ Sơn (áo đen), cụ Mão, cụ Liên và nhiều trẻ em trong xã đến nghe ví phường vải.

nay, cụ Sơn đã bước sang tuổi 92 nhưng cụ có một trí nhớ trời phú. Những kỷ niệm về đêm hội làng, câu hát bên bờ sông Đào, ao sen hay giữa sân đình vằng vặc ánh trăng rằm. “Ơ anh đứng bên ni sông ngóng sang bên tê cầu anh nghe tin em kết ngãi trần châu ai rồi/ Ơ em đứng bên ni sông ngóng sang bên tê hồ trăm năm thiếp có bỏ chàng mô/ Chàng đừng sầu riêng trong dạ mà thiếp héo hon trong lòng/; Ơ anh đến thì mời anh vô nhà/ đứng chi ngoài ngõ mà sương sa lạnh lùng/ Vô nhà anh cũng muốn vô/ Sợ lòng thầy mẹ có đặm đà chi không”…  Giai điệu sâu lắng, người nghe thấy hết được cái hay, cái tài tình trong nghệ thuật hát của các cụ. “Một ngày không hát ví phường vải, tui thấy nhớ vô cùng. Như đã trở thành thói quen, như cơm ăn, nước uống hàng ngày không thể thiếu…” – Cụ Sơn nói với tôi.

Sinh ra trên mảnh đất Xuân Hoà, 10 tuổi cụ Sơn đã mê hát ví, để rồi nài nỉ mẹ, cô bé Sơn xinh xắn thời ấy đêm đêm theo mấy bác trong làng xuôi về làng Sen nghe câu ca ví phường vải. Nhiều đêm trở về nhà trời đã sang canh. Chỉ một thời gian ngắn, cô đã lĩnh hội được rất nhiều những bí quyết hát ví. Những lời khuyên của các cụ già đã làm cô vui, nhưng chưa ấm lòng bởi chưa được theo học một lớp học thật bài bản. Một lần theo mẹ đi chợ Sa Nam, được nghe các cụ, các bác hát ví phường vải, đúng ngày sinh Bác Hồ. Lần ấy, cụ Sơn khăn gói đi học, và câu hát ví theo suốt cụ đến tận giờ. Về hưu, cụ tham gia biểu diễn trong tỉnh, huyện. Một số địa phương mời cụ dạy hát ví phường vải cho lớp trẻ…

Từ ngày có thêm 5 nghệ nhân: là các cụ: Liên, Mão, Sơn, Dương và cụ Tình, cụ Sơn như được tiếp thêm một luồng sinh khí mới. Một tuần, các cụ tổ chức hát một lần vào tối thứ 7. Câu lạc bộ của cụ Sơn vừa là niềm say mê vừa truyền nghề cho những lớp kế tục.

Câu ví phường vải đưa đến cho nhiều lứa đôi yêu nhau nên vợ, nên chồng. Mỗi canh hát cụ Sơn lại nhớ về mối tình thời xuân sắc của cụ và người chồng bên dòng sông Đào thơ mộng hay ngoài bờ dậu râm bụt nhà mình. Từ câu ví phường vải vợ chồng cụ đã nên duyên vợ chồng, sinh ra 3 người con gái cũng đam mê hát phường vải và người con trai liệt sỹ có giọng hát phường vải đi vào lòng người. Cụ Sơn ngừng kể, mắt cụ nhìn ra những ao sen trước nhà mà ngân nga: “Ơ …Hỏi em quê quán nơi mô/ Anh em có mấy cậu cô trong nhà/ Tuổi đời nghề nghiệp mẹ cha/ Mong em nói rõ thì ta chuyện trò/.  Ơ quê em xóm 8 gần bầu/ Gần sông tắm mát gần cầu con giai/ Quê em lắm lúa nhiều khoai/ Gần sông tắm mát hến trai dễ mò…

“Đến một ngày già đi, những lời hát phường vải vẫn sống mãi. Sẽ có lớp người khác thay chúng tôi, níu giữ nguồn gốc, để mỗi tháng Năm về, câu ví phường vải lại ngân lên, mừng ngày sinh của Người!”. Cụ Sơn nói vậy lúc tiễn tôi ra về.

 

Bài, ảnh: Thu Hương

http://baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=103587&CatID=4

BÍCH HUỆ : Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải, VIETNAM


Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải

01/05/2012 | 09:53:00
 
EMAILPRINTCỠ CHỮ A A A
 

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
 
Hát Phường vải là một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hát Phường vải vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Nhưng trước sự du nhập của văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập, cùng với việc thiếu kinh phí, thiếu nguồn nhân lực, các câu lạc bộ hát Phường vải ở Nghệ An đang đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động. 

“Cứ đến mùa lễ hội hay dịp sinh nhật Bác là tôi lại đau đầu lo nghĩ” – ông Hoàng Thế Lựu, Chủ nhiệm câu lạc bộ dân ca Kim Liên mở lời. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi mang tiếng là câu lạc bộ nhưng chỉ vẻn vẹn có 10 hội viên, người “trẻ” nhất cũng ở độ tuổi 40, người lớn tuổi thì cũng đã qua ngưỡng 90, khiến việc tập hợp và tập luyện khá vất vả. 

Mong muốn có tiết mục tham dự năm nay khác đi, mới mẻ hơn, sinh động hơn các năm trước hay tìm cho ra những hạt nhân văn nghệ mới, trẻ trung hơn cho câu lạc bộ quả thực là rất khó. 

Đó là chưa nói đến việc không có kinh phí để trang trải, duy trì hoạt động của câu lạc bộ. “Sau mỗi mùa lễ hội, câu lạc bộ hát Phường vải tạm thời ngừng hoạt động, khi có đợt phát động mới thì chúng tôi tập hợp hội viên lại để tập luyện và đi thi. Khi mới thành lập, câu lạc bộ có đến 30 thành viên, càng về sau lớp già thì mất đi, còn lớp trẻ thì bỏ dần. Giờ đây, câu lạc bộ hát Phường vải chỉ duy trì theo kiểu đối phó” – ông Lựu cho biết thêm. 

Ngay cả câu lạc bộ hát Phường vải Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn một năm cũng chỉ sinh hoạt được hai lần. Ông Trịnh Hưng Minh, Chủ nhiệm câu lạc bộ cho biết đến ngày sinh hoạt, các thành viên trao đổi nghiệp vụ, tập những làn điệu mới, bài hát mới, riêng tổ âm nhạc thì tập luyện nhạc cụ. 

May mắn hơn các câu lạc bộ khác, câu lạc bộ của Trung tâm Văn hóa thông tin quy tụ 30 hạt nhân văn nghệ đến từ các trường, các xã trên địa bàn. Song do hoạt động không thường xuyên nên chất lượng và tính phổ quát chưa nhiều.

So với câu lạc bộ hát dân ca thì câu lạc bộ hát Phường vải vừa ít về số lượng (khoảng 10 câu lạc bộ) vừa kém về chất lượng, hoạt động lại cầm chừng. Câu hát Phường vải khá chải chuốt, khá điêu luyện, trải qua một thời gian dài hàng mấy trăm năm, người dân với lối tư duy hình tượng đã đem tâm hồn và trí tuệ của mình tạo nên những câu ca hồn nhiên, trong sáng. 

Nội dung hát Phường vải mang đậm tính trữ tình, song nó khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát có phức tạp hơn. 

Để hát đúng với một cuộc hát Phường vải phải hát có lớp lang như hát lơ lửng (hát dạo), hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát tình (hát xe duyên), hát tiễn hẹn trong không gian, môi trường diễn xướng khá chật hẹp là ở sân vườn (hoặc sân đình) và người phụ nữ đang ngồi quay xa, dệt vải. Tuy nhiên, do hát lời cổ, giai điệu trầm buồn, không có nhạc đệm nên khó lôi cuốn người hát lẫn người nghe. 

Nghệ nhân dân gian là những tác giả của những câu hát Phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví mang đậm bản sắc quê hương. Bà Nguyễn Thị Kỳ, xóm 13 xã Hồng Long, Nam Đàn năm nay đã tròn 100 tuổi, nhưng tuổi tác dường như không phải là rào cản niềm đam mê hát ví Phường vải.

Bà tâm sự: “Ngày xưa nam thanh nữ tú trong làng ai ai cũng biết hát Phường vải. Hát Phường vải là một cách trò chuyện, đối đáp thông minh giữa bên nam và bên nữ, họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Cũng từ hát Phường vải mà vợ chồng bà nên duyên.”

Theo bà Kỳ, hát ví thường có những từ đệm như ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Bởi thế lớp trẻ ngày nay khó hát và không mấy ai say sưa với câu hát ví này. 

“Lớp người cũ như bà rồi cũng mất đi, các bà đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc bằng cách ‘già dạy trẻ, trẻ học già’ vào thời gian rỗi. Nhưng làm thế nào để lớp trẻ thẩm thấu và yêu câu hát ví Phường vải, say mê thực sự với nó và muốn nó sống thực sự trong đời sống tinh thần là cả một chặng đường dài,” bà Kỳ đau đáu. 

Theo thống kê, các nghệ nhân dân gian hát Phường vải ở Nghệ An giờ chỉ còn 6 người, tuổi các cụ cũng được xếp vào “xưa nay hiếm.” Các thành viên tham gia câu lạc bộ hát Phường vải cũng xuất phát từ yêu câu hát ví Phường vải mà tham gia. Vì không có kinh phí để hoạt động, họ tự bỏ tiền túi quyên góp lại để duy trì câu lạc bộ. Nhiều gia đình có hai đến ba thế hệ cùng tham gia. 

Khó hát, thiếu nguồn kinh phí, thiếu nhân lực, thiếu sự quan tâm chỉ đạo… những khó khăn ấy có thể khắc phục được nếu chính quyền địa phương có quyết tâm gìn giữ câu hát ví Phường vải của quê hương. 

Thực tế thời gian qua, tỉnh Nghệ An cũng đã thành lập Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, lập đề án Đưa dân ca vào trường học, huyện Nam Đàn cũng đã có đề án Bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải song chưa mang lại hiệu quả.

“Bảo tồn thì chúng tôi vẫn làm được, song việc phát huy thì ngày càng bế tắc,” ông Trần Xuân Giáp – Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn thừa nhận. 

Theo đề nghị của các câu lạc bộ, thời gian tới, huyện Nam Đàn cần cử cử cán bộ văn hóa về cơ sở để tổ chức thực hiện việc bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải. Bên cạnh đó, mời các nghệ nhân dân gian và những hạt nhân văn nghệ trẻ đến để truyền lửa theo kiểu “già dạy trẻ, trẻ học già.” Mở rộng thành viên tham gia câu lạc bộ như giáo viên thanh nhạc, các em học sinh trong các nhà trường để đào tạo đội ngũ trẻ. 

Huyện cũng cần có kinh phí trích cho các xã chi cho câu lạc bộ hoạt động thường xuyên để huy động nhân lực. Bên cạnh mở các lớp tập huấn cho cán bộ văn hóa ở cơ sở, các câu lạc bộ, ngành văn hóa phối hợp với ngành giáo dục tăng cường hơn nữa công tác đưa dân ca vào trường học, chính trong môi trường này vừa phát hiện vừa bồi dưỡng lớp trẻ thuận lợi nhất. 

Hát ví Phường vải là phong trào văn hóa văn nghệ xuất phát từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Tuy nhiên hiện nay, phong trào này đang trở nên hình thức hóa chỉ mang tính biểu diễn, đua tài giữa câu lạc bộ này với câu lạc bộ khác mà chính người dân lại không có cơ hội được xem, nghe và tham gia. 

Theo các câu lạc bộ, trừ những hội thi, hội diễn lớn mang tầm quốc gia, những hội diễn nhỏ ngành Văn hóa chỉ nên giao cho các địa phương tổ chức thi tại địa phương mình. Cách làm này vừa phù hợp với không gian văn hóa, môi trường diễn xướng của hát ví Phường vải vừa thiết thực phục vụ nhân dân, đến gần với dân hơn./. 

Bích Huệ (TTXVN)