GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ VINH : phong cảnh, di tích lịch sử , ẩm thực, VIETNAM


Giới thiệu khái quát về Vinh
 
Vinh là một thành phố – trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An cũng là của vùng Bắc Trung Bộ, Việt Nam. Thành phố Vinh là một trong những trung tâm du lịch của tỉnh Nghệ An, từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu. Với sự phát triển vượt bậc trong thời gian qua, Vinh đang ngày càng khẳng định vị thế của mình như một đô thị trẻ trong lòng Nghệ An, đặc biệt là về du lịch.
vé máy bay đi Vinh   vé máy bay đi VInh
                                           Một số cảnh đẹp ở Vinh
Lịch sử Vinh
Là vùng đất có núi bao bọc lại nằm cạnh biển Đông, Vinh có một vị trí đặc biệt. Các Vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều chú ý đến Vinh và đã cử các tướng tài vào đây trấn giữ. Nhưng đến thế kỷ XV dưới thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì vùng Vinh mới thực sự được quan tâm đặc biệt.
 
Ẩm thực Vinh
Tới Vinh du khách sẽ được thưởng thức các đặc sản của vùng đất này như: Cam Vinh, Cháo lươn Vinh, Món hến, Chả rươi, Nộm chợ Vinh, Kẹo Cu Đơ
Canh hến là đặc sản có vị đậm đà không thể thiếu trong những bữa cơm trưa hè. Thông thường người ta xào ruột hến thật thơm bỏ vào nước hến cùng với món rau nào đó, mà thường là các loại rau vặt như: rau bầu, rau lang, mồng tơi, rau dềnh, rau muống..v..v.. thành một món canh rất ngọt, giàu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là rất mát.
Bên cạnh món canh hến du khách còn có thể dùng món hến xúc bánh tráng. Hến được xào với mỡ hành, rắc thêm rau thơm và một ít lạc rang giã dập cùng vài lát ớt cắt mỏng ăn với bánh tráng là một món ăn ngon lý tưởng.
Rươi là thức ăn nhiều đạm. Du khách có thể ăn rươi với trứng gà mà người dân nơi đây gọi là chả rươi hoặc ăn canh rươi, mắm rươi.. đến mùa rươi người ta còn có thể phơi khô ăn dần
Nói nộm chợ Vinh tức là nói món nộm được bán ở các chợ tại thành phố Vinh. Như chúng ta đã biết, có nhiều món nộm khác nhau: nộm đu đủ, nộm hoa chuối, nộm khế, nộm cà, nôm mướp đắng. Tại chợ Vinh còn có nộm măng, nộm dưa chuột, nộm rau muống, nộ
 
Những địa điểm tham quan hấp dẫn tại Vinh
Nghệ An là một mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhà khoa bảng, nhà khoa học, nhà văn hoá nổi tiếng như Mai Hắc Đế, thi sĩ Hồ Xuân Hương… Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hoá thế giới và anh hùng giải phóng dân tộc.
Nghệ An có các di tích, danh lam thắng cảnh như khu du lịch núi Quyết, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, bãi biển Cửa Lò dài gần 10km, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, quảng trường Hồ Chí Minh, Phượng Hoàng Trung Đô, Thành cổ Nghệ An, Văn Miếu Vinh, Đền thờ Vua Quang Trung, Chùa Cần Linh…
 
            vé máy bay đi Vinh
Một số địa điểm tham quan hấp dẫn tại VInh
Dân tộc tôn giáo:
Cũng như các tỉnh khác của Việt Nam, truyền thống văn hóa của tỉnh rất phong phú. Là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều lưu giữ bản sắc văn hoá, tập quán riêng giàu truyền thống. Nghệ An là quê hương của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc với hát dặm, hát ví (phường vải, phường cấy; đò đưa…). Du khách đến vào dịp lễ hội ở Nghệ An đều có thể thưởng thức loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo này.

Chính sách cho nghệ nhân dân gian: chờ đến bao giờ?, NGHỆ AN, VIETNAM


Chính sách cho nghệ nhân dân gian: chờ đến bao giờ?
(Ngày đăng: 14/01/2013   Lượt xem: 239)

Nghệ nhân dân gian đóng vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc. Nếu không có họ thì chắc chắn dân ca ví phường vải sẽ không được bảo lưu đến ngày nay và cũng như sẽ không có thầy để truyền dạy lại cho lớp trẻ. 

“Chúng tôi có trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị mà các nghệ nhân truyền lại. Còn việc làm sao để có một cơ chế, chính sách cho các nghệ nhân, các câu lạc bộ hoạt động, tôi nghĩ UBND tỉnh Nghệ An cần vào cuộc”- Nghệ sỹ nhân dân Trịnh Hồng Lựu, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca Xứ Nghệ đề nghị.


Nghệ nhân dân gian Trần Văn Tư (85 tuổi) – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hát ví phường vải Kim Liên, Nam Đàn. Ảnh: baonghean.vn

Năm 2009, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam công nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian cho 11 người trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nhưng từ đó tới nay, họ chỉ có “danh hiệu” mang tính tôn vinh chứ chưa hề có một chính sách cụ thể nào. 

Bà Trần Thị Em năm nay đã 94 tuổi, bà là một trong số ít các nghệ nhân dân gian còn lưu giữ được rất nhiều bài hát ví phường vải cổ. Ở cái tuổi “gần đất xa trời”, song với bà mỗi lần được hát, được truyền dạy hay làm tư liệu sống cho các nhà nghiên cứu, cho những thước phim sống động để lữu giữ lại cho mai sau, bà rất phấn khởi.

“Danh hiệu đối với tôi rất quý. Nó như là động lực để tôi luôn nỗ lực giữ gìn, bảo tồn và truyền dạy lại cho thế hệ sau. Tôi rất sợ nếu mai này không còn trên thế gian này thì lớp trẻ cũng đừng quay lưng lại với vốn quý của cha ông. Còn về chế độ , từ khi có danh hiệu tới nay tôi chưa có được trợ cấp gì từ Nhà nước cũng như chính quyền địa phương cả. Đôi lúc cũng thấy buồn. Song không vì thế mà ngọn lửa đam mê với vốn quý của dân tộc bị mai một”, bà Em bày tỏ.

Còn với nghệ nhân dân gian Trần Văn Tư (85 tuổi), Chủ nhiệm Câu lạc bộ hát phường vải Kim Liên, huyện Nam Đàn cho biết: Câu lạc bộ hát ví phường vải có 10 hội viên, trong đó đã có 6 nghệ nhân dân gian (một nghệ nhân đã mất). Câu lạc bộ hoạt động rất cầm chừng, một năm chỉ có vài lần sinh hoạt trong những dịp kỷ niệm sinh nhật Bác, các ngày lễ lớn, người cao tuổi. 

Trước kia, câu lạc bộ hoạt động rất sôi nổi, nhưng dần dần yếu tố đô thị hóa tác động, lớp trẻ không còn say mê dòng nhạc cổ, còn người có tuổi cũng dần dần yếu đi nên không còn tham gia được nữa. Một mặt, kinh phí dành cho Câu lạc bộ hoạt động không có, hầu hết họ hoạt động trên tinh thần tự nguyện. Những buổi câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt, các cụ lại nấu ấm nước chè xanh, đĩa trầu vừa bàn luận vừa ca hát, vừa truyền dạy lại cho lớp trẻ. Họ không màng đến thù lao. Khi có đoàn về quay phim, tìm hiểu hay có đoàn làm công tác nghiên cứu, các cụ lại hăng hái góp sức, tái diễn môi trường diễn xướng cho đến 11-12 giờ đêm. Sau mỗi lần phối hợp công tác, huyện trích một phần kinh phí bồi dưỡng cho các nghệ nhân theo chế độ cộng tác viên. 

“Việc trả chế độ cho các nghệ nhân chỉ khi các nghệ nhân có sự phối hợp cộng tác với các đoàn nghiên cứu hay tham gia hội diễn của huyện trong các sự kiện văn hoá lớn chứ không phải là chế độ chi trả thường xuyên mà các nghệ nhân được nhận. Đây cũng là một thiệt thòi lớn cho các nghệ nhân bởi sự đóng góp của họ thì rất lớn trong việc bảo tồn giá trị văn hoá của dân tộc mà chưa được đáp trả xứng đáng”, ông Phan Văn Tính, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn cho biết.

Hầu hết, các nghệ nhân trình diễn, truyền dạy theo niềm đam mê với lương tâm nghề nghiệp là chính chứ không ai sống được bằng nghề. Khi được hỏi cần có chính sách, các cụ cũng mong mỏi lắm, chỉ cần 50.000 hay 100.000/tháng, như thế các cụ cũng cảm thấy rất vui rồi. Dù chưa có thù lao nhưng các nghệ nhân các cụ vẫn hăng say tập luyện, truyền dạy. Nhưng nếu có một chút đãi ngộ, họ sẽ cảm thấy được trân trọng, được quan tâm, những đóng góp của họ được vinh danh, được ghi nhận cho cả nền văn hoá của dân tộc chứ không phải ngày một ngày hai ngắn ngủi. Huyện chờ tỉnh, tỉnh chờ Trung ương. Trung ương thì đang bàn bạc để đưa ra chính sách. Trong lúc chờ đợi, các nghệ nhân dân gian ngày một già yếu đi, tuổi đã cao, sự cống hiến không còn được nhiều, người trẻ nhất là 60 tuổi và cao tuổi nhất là 94 tuổi. 

Theo Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Nghệ An: Để khuyến khích, động viên các nghệ nhân dân gian, tỉnh cần chủ động, linh hoạt trong việc đưa ra chính sách cho các nghệ nhân như đưa vào mục chi ngân sách thường xuyên hàng năm cho các câu lạc bộ, cho các nghệ nhân dân gian. Thực tế, nghệ nhân dân gian ở Nghệ An chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu như họ mất đi thì lấy đâu người gìn giữ và truyền dạy lại vốn văn hoá dân gian cho thế hệ sau, bởi vậy rất thiệt thòi cho các nghệ nhân. 

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò xã hội hóa trong việc thực hiện chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân; khuyến khích các dự án bảo tồn, phục dựng, phát huy các giá trị di sản phi vật thể do các nghệ nhân dân gian khởi xướng hoặc huy động các nhà tài trợ cùng góp tiền để các nghệ nhân dân gian mở các lớp truyền dạy và đầu tư kinh phí hoạt động cho câu lạc bộ. Có như vậy các câu lạc bộ, các nghệ nhân dân gian mới đủ sức giữ gìn, bảo tồn và truyền dạy mạch nguồn văn hóa cho thế hệ sau.

Nguồn: Báo tin tức

NGUYỄN LONG THAO : Tính danh học Việt Nam: Nghệ Danh


Tính danh học Việt Nam: Nghệ Danh


TIẾT F: NGHỆ DANH.

1. Định Nghĩa Nghệ Danh: Nghệ danh là danh hiệu của giới nghệ sĩ trong các ngành ca nhạc kịch, hội họa, điêu khắc gia. Theo dõi sự phát triển của ngành ca nhạc kịch qua dòng lịch sử, ta thấy nghệ danh có hình thức và nội dung khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử.

2. Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Hán Nho: Khi xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho Giáo, chỉ giới trí thức mới lấy tên tự, tên hiệu. Còn nghiệp cầm ca bị coi là “xướng ca vô loại” nên không ai đặt nghệ danh cho mình. Nhưng, đọc cổ sử ta thấy giới nghệ sĩ lấy nghệ danh như sau:

a. Lấy tên họ làm nghệ danh: Nghệ thuật sân khấu có mặt tại Việt Nam từ thời Lý. Tuy vậy, lịch sử không cho biết ai là người nổi tiếng nhất và có nghệ danh là gì. Tuy nhiên, có một trường hợp được Đại Việt Sử Ký Tiền Biên ghi lại như sau:

Năm Ất Sửu (1025) Lý Thái Tổ định người đứng đầu các con hát là Quản Giáp. Khi ấy có con hát họ Đào giỏi nghề hát nổi tiếng, thường được ban thưởng. Người bấy giờ hâm mộ tiếng tăm của người họ Đào ấy cho nên phàm con hát đều gọi cô Đào.

b. Lấy tên chính làm nghệ danh. Khi xưa, tại nông thôn Việt Nam, ngoài hội hè đình đám, còn có những buổi hát tuồng, hát chèo, hát ví. Diễn viên trong các phường hát này là những người trong làng. Họ không có nghệ danh nên dân chúng gọi họ bằng tên chính. Ví dụ ở Nam Đàn, Nghệ Tĩnh, có những đêm hát ví phường vải của các bà Thơn, Chánh Diên, Dũng, o Lượng và các tay lỗi lạc như Phan Bội Châu, Vương Thúc Qúi, Tú Sách, Tú Cò, Cử Quyền.

3. Nghệ Danh Dưới Ảnh Hưởng Văn Hóa Tây Phương: Vào đầu thế kỷ 20, khi văn hóa tây phương bắt đầu ảnh hưởng đến tâm lý người Việt thì quan niệm xướng ca vô loại thời Nho học bớt dần. Đến khoảng giữa thế kỷ 20, phong trào tân cổ nhạc phát triển mạnh nhờ những chương trình phát thanh, đại nhạc hội, phòng trà. Số nghệ sĩ tăng lên và họ cũng bắt chước nhà văn, nhà thơ, lấy cho mình một nghệ danh để che dấu tên thật. Về nghệ danh ta có thể phân hai loại:

a. Nghệ danh trong ngành cải lương: Khuynh hướng rất phổ quát là các nghệ sĩ trong ngành cải lương đã lấy những chữ rất mộc mạc để đặt nghệ danh cho mình. Xin nêu ra một số ví dụ: Sáu Lầu,Tám Chí, Chín Đình, Cô Năm Phỉ, Phùng Há, Ba Vân, Sáu Hẩu, Tư Đàn Cò, Ngọc Giàu, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Kim Huê, Thanh Thanh Hoa v.v…Nguyên nhân sự mộc mạc này là vì ngành cải lương xuất phát từ đồng quê miền Nam và theo phong tục ở đây, dân chúng thường gọi một người nào đó bằng tên thứ tự trong gia đình và tên chính. Đến khoảng thập niên 1950-1960, tại thành thị xuất hiện nhiều gánh hát cải lương, lúc đó mới thấy những nghệ danh có ý nghĩa và bóng bảy.Ví dụ: Hùng Cường, Bạch Tuyết, Thanh Nga.

b. Nghệ danh trong ngành tân nhạc và kịch nghệ: Vào khoảng năm 1930, một cuộc cách mạng về văn học và nghệ thuật xảy ra tại Việt Nam. Về âm nhạc, loại nhạc ngũ cung mất dần vị thế và thay vào đó là âm nhạc chịu ảnh hưởng tây phương. Trong loại âm nhạc mới này, các tác giả viết nhạc không đặt nghệ danh cho mình như các văn thi sĩ đương thời, trừ một số nhỏ như Văn Cao, Văn Giảng, Văn Chung, Đan Thọ, Tuấn Khanh v.v…Còn tuyệt đại đa số bắt chước nhạc sĩ tây phương lấy tên thật làm nghệ danh. Ví dụ: Tư Chơi Huỳnh Hữu Trung, Năm Châu Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Văn Tuyên, Doãn Mẫn, Lê Yên, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Đặng Thế Phong, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Quý, Nguyễn Hiền, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh v.v…

Ngược lại, những người hát các nhạc phẩm này là các ca sĩ lại chọn cho mình một nghệ danh. Và nếu nghiên cứu nghệ danh từ những năm 1930 đến giờ, ta thấy có ba khuynh hướng rõ rệt.

Khuynh hướng thứ nhất: Chọn nghệ danh từ những từ ngữ có ý nghĩa hoa mỹ, đọc lên có âm thanh hài hòa. Đa số các ca sĩ chọn loại nghệ danh này như: Quỳnh Giao, Ái Vân, Mai Hương, Khánh Ly, Hoài Bắc, Thanh Lan, Phương Dung, Anh Ngọc, Nhật Trường v.v…

Khuynh hướng thứ hai: Chọn nghệ danh từ những từ ngữ gợi lên hình ảnh, âm thanh trong trẻo, cao vút của các loại chim quý như Kim Tước, Sơn Ca, Hoàng Oanh, Thái Thanh, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Họa Mi v.v…

Khuynh hướng thứ ba: Chọn một tên Pháp hay Mỹ làm nghệ danh. Khi làn sóng âm nhạc Pháp Mỹ tràn ngập Việt Nam vào những năm cuối thập niên 1960, người ta thấy ngay một hiện tượng là một số ca sĩ Việt Nam nhận tên ngoại quốc làm nghệ danh. Có ba lý do để giải thích hiện tượng này: Thứ nhất, có thể họ là người có quốc tịch ngoại quốc như trường hợp Julie, Jo Marcel. Thứ hai, vì muốn bắt chước tiếng hát, cách trình diễn của ca sĩ ngoại quốc. Đó là trường hợp Elvis Phương muốn bắt chước Elvis Presley của Mỹ. Thứ ba, vì muốn có tên lạ để thu hút khán giả, nhất là tâm trạng giới trẻ đang có khuynh hướng thích văn hóa tây phương.

Ngày nay, tại hải ngoại, nhiều ca sĩ trẻ đã chọn hai từ một Việt, một Mỹ làm nghệ danh Ví dụ: Don Hồ, Tommy Ngô, Linda Trang Đài, Cathy Huệ v.v…Nghệ danh mới xuất hiện khoảng hơn nửa thế kỷ, nhưng đã biến hóa rất đa dạng. Hiện nay, một khuynh hướng đã thấy xuất hiện là các ca sĩ trẻ thích chọn cho mình nghệ danh đọc lên nghe “kêu” hơn là có ý nghĩa.

Ngày mai: Thương Hiệu

Nguyễn Long Thao
VietCatholic News (Thứ Bẩy 11/12/2004)

http://www.erct.com/4-ChiaSe/SuuTam/Tinh_danh-NgheDanh.htm

VIỆT KHÁNH : PGS NINH VIẾT GIAO , Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa xứ Nghệ


Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa xứ Nghệ

Cập nhật: 09:13 | 21/05/2013

– Sáng 20/5, tại hội trường Thư viện tỉnh Nghệ An, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành tổ chức trao huy chương và xác nhận kỷ lục “Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về Văn hóa Dân gian xứ Nghệ” cho PGS Ninh Viết Giao.

 

PGS Ninh Viết Giao (15/5/1933) quê ở xã Hằng Xuyên, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông đã nghiên cứu, xuất bản và công bố rất nhiều công trình lớn, hàng trăm bài báo khoa học. Trong đó, ông giành phần lớn thời gian để nghiên cứu về Văn hóa Dân gian Nghệ Tĩnh như: Hát ví phường Vải, Ca dao Nghệ Tĩnh, Kho tàng về xứ Nghệ, Hát dặm Nghệ Tĩnh…

Ông Lê Trường An, Tổng GĐ Công ty sách kỷ lục Việt Nam nhấn mạnh rằng những gì PGS đã làm là tài sản vô giá cho kho tàng nghiên cứu văn hóa dân gian Xứ Nghệ nói riêng và văn hóa dân gian Việt Nam nói chung.

văn hóa dân gian, Nghệ An

  Việt Khánh

http://m.vietnamnet.vn/vn/van-hoa/121992/nguoi-co-nhieu-cong-trinh-nghien-cuu-nhat-ve-van-hoa-xu-nghe.html

 

LÊ HÀM : Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ, VIETNAM


Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ

  •   LÊ HÀM
  • Thứ tư, 10 Tháng 8 2011 06:54
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

            

                         Ai đi qua nơi đây
                                    Xin dừng chân Xứ Nghệ
                                                                        (Cù Huy Cận)
Du khách mỗi lần qua nơi đây chúng tôi đều khoe: quê ta có nhút Thanh Chương, có Tương Nam Đàn, nào cam Xã Đoài, cháo lươn Kẻ Vịnh và cứ theo dọc vào đàng trong, ăn Bưởi Phúc Trạch, đội nón Kỳ Anh, uống nước chè Hương Sơn, chấm ruốc tôm canh Cửa Nhượng…
 
            Ngoài ra mời du khách lắng nghe những bài dân ca Xứ Nghệ một thổ sản đặc biệt trong gia tài văn hóa tinh thần mà bao đời cha ông để lại cho đến bây giờ, đó là:
            Các làn điệu Hò khoan, Kể vè, Hát ví, Hát dặm, Sắc bùa, Ru con, hát Đồng giao, Bài ca tế lễ… Mời xem trò Kiều, trò Trương viên, chiếu ca Trù cổ Đạm, xem múa chèo cạn, bài bông múa đăng, múa chén,…
            Để hiểu sâu hơn từng thể hát, hôm nay chúng tôi xin giới thiệu thể hát Ví, một hình thức ca hát độc đáo của người Việt ở Xứ Nghệ. Tìm hiểu nguồn gốc của loại dân ca này, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian cho rằng, nó do từ “ví” mà ra. Ví là ví von, so sánh.
            Ví dụ như:         Cổ tay em trắng như ngà
                                    Mắt em sắc như là dao au
                                    Miệng cười như thể hoa ngâu
                                    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
            Như vậy, nó xuất phát từ lời ca, từ mặt văn hóa của làn điệu dân ca. Mà dân ca Việt Nam đâu chỉ có “hát Ví” mới có ví von, so sánh. Các làn điệu Sa mạc, cò lả, trống quân, quan họ, lý ngựa ô, lý con sáo… lời ca đều có ví von, so sánh, tại sao không gọi nó là hát Ví.
            Ở Nghệ Tĩnh nói tới hát Ví là nói tới một loại dân ca mà làn điệu dân ca này chỉ thấy xuất hiện ở Nghệ Tĩnh, lưu truyền ở Nghệ Tĩnh. Ra Thanh Hóa, vào Quảng Bình, chúng ta không nghe làn điệu dân ca này. Trong các sách viết về dân ca đã xuất bản từ trước tới nay, chúng ta cũng không thấy sách nào nói, địa phương nào có loại dân ca này. Vì thế chúng tôi cũng cho rằng hát Ví là một trong những thổ sản đặc trưng của Xứ Nghệ.
            PGS. Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví” là “với”, hát ví là hát với và “ví” là “vói”. Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh đó với đám con trai đang nhổ mạ. Đó là một ý kiến cần phải nghiên cứu.
            Qua thời gian đi sưu tầm dân ca ở các vùng miền hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, tôi chưa thấy nghệ nhân nào nói “ví” là “với”. Nếu nói là “vói” còn có ý nghĩa trong ca hát còn từ “với” thì không thỏa lắm:
                        – Tôi với anh cùng đi
                        – Trứng chọi với đá
                        – Hình với bóng
                        – Con với cái…
            Còn từ  dù sao nó cũng mang thẩm âm nhiều hơn.
                        – Công ơn ví như trời biển
                        – Ví đổi phận làm trai
                        – Ví dù có phải hi sinh nơi trận mạc.
            Như thế từ hát Ví vẫn là từ thịnh hành nhất từ trước tới nay.
            Hát Ví Nghệ Tĩnh, trước khi là dân ca trữ tình, hát đối đáp giao duyên giữa trai và gái, nó là dân ca lao động, dân ca nghề nghiệp. Tại Xứ Nghệ này nói hát Ví là nói chung. Ở đây có hát ví phường vải, hát ví phường đan, hát ví phường nón, hát ví phường vàng, hát ví phường róc cau, lau mía, hát ví phường cấy, hát ví phường củi, hát ví phường chắp gai đan lưới… Như vậy, ngay cái tên của nó cũng gắn với nghề nghiệp đến lao động rồi. Và xét về nhiều phương diện, nó có quan hệ xa gần với các bài ca nghề nghiệp, đặc biệt là với hò lao động.
            Qua thời gian hát ví được nâng lên bằng một loại dân ca sinh hoạt – trữ tình.
            Đã có nhiều công trình ngiên cứu về hát ví Nghệ Tĩnh, trước khi đi sâu vào mặt âm nhạc, xin nêu tóm tắt các đặc điểm của hát ví ở Nghệ Tĩnh như sau:
1. Không như hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo ở Phú Thọ, hát cửa đình ở một số nơi khác, nhân dân Nghệ Tĩnh hát ví không hề tính đến thời gian. Quanh năm trên đất Nghệ lúc nào cũng có thể nghe tiếng hát ví, không hát ví phường vải thì hát ví phường củi,…
            2. Hát ví nhất là ví phường vải, ví phường vàng, ví phường đan… có nho sĩ tham gia. Phần lớn các nho sĩ này là tầng lớp trí thức bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, cũng như có người là con nhà dòng dõi, con nhà khoa bảng, nhiều khi chính họ là những người có tên trên bảng vàng. Tham gia hát ví họ thường là “thầy bày”, “thầy gà” cho bên nam và bên nữ. Một số người cũng trực tiếp cất giọng. Chính vì có nho sĩ tham gia mà hát ví Nghệ Tĩnh đã để lại những lời ca óng ả, cô đọng, màu mè và nhiều giai thoại mà đến giờ đây nhân dân Xứ Nghệ còn truyền tụng.
            3. Hát ví có thủ tục hẳn hoi. Thông thường một cuộc hát ví có ba chặng. Chặng một là các bước hát dạo, hát chào, hát mừng là hát hỏi. Chặng hai là hát đố, hát đối. Chặng ba, chặng quan trọng nhất, có nhiều câu hát hay hơn cả, gồm: hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Với hát ví phường vải thì thủ tục trên khá chặt chẽ. Có thủ tục nó làm cho cuộc hát thêm lịch sự và trở thành một hình thức phô diễn mang tính văn hóa hẳn hoi.
            4. Câu văn hát ví hầu hết được sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể. Vì hát ví đã trải qua một thời gian dài lại có nho sĩ tham gia nên như vừa nói ở trên, câu hát khá chải chuốt, khá điêu luyện, thể hiện tình cảm phong phú, phức tạp, nhiều vẻ. Nhiều câu hát ví hàm súc mang chất trí tuệ ở logic diễn đạt, ở tri thức sách vở và tri thức thực tiễn. Bên cạnh đó cũng không ít câu mang tính chất chơi chữ và chất “trạng”.
            5. Về cách hát, trước khi hát một câu, bên nam hoặc bên nữ phải xướng lên một câu. Ví dụ như hát ví phường vải, bên nam gọi bên nữ: “Ơ này chị em phường vải ơi!”, bên nữ thưa: “Ơ thưa chi!” rồi bên nam mới hát. Hát hay bên nữ khen “Hay, ơ rằng hay” hoặc “Hay, rằng thưa xinh”, “Hay hỡi rằng cân”. Còn hát không hay, câu văn lủng củng, các cô nói “Hay rằng chưa cân” hoặc “Hay rằng chưa xinh”. Bên nữ khi hát cũng phải gọi bên nam: “Ơ, người đi nhởi ơi!”. Đó là lúc đầu.
            Còn khi đã đằm thắm gắn bó với nhau rồi, tức là khi cuộc hát đã chuyển sang chặng ba thì những lời gọi trên, chuyển thành “Ơ, là bạn người ơi!”, “Ơ là ngãi người ơi!” hoặc “Ơ là bạn tình ơi!”... nó làm cho tình cảm hai bên mặn mà hơn, da diết, sâu sắc hơn.
            Muốn hiểu sâu hơn chúng ta phân tích ví bằng âm nhạc mà trong âm nhạc thì điệu thức và gam là chủ yếu. Ngoài ra còn có nhịp điệu sắc thái trong diễn xướng…
            Như thế chúng ta có thể nói điệu thức trong dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và hát ví nói riêng được không?
            Có thể được chứ!
            Bởi thuật ngữ điệu thức hiểu theo nghĩa chung nó giống như ngôn ngữ của một dân tộc. Còn gam là bảng chữ viết của dân tộc đó. Điệu thức gắn liền với giọng điệu, xung quanh một nốt đặc trưng, nốt đó có thể là âm chủ hoặc âm kết thúc.
            Ví dụ lên dây đàn thập lục:
             Đệm thơ miền Trung gồm chuỗi nốt Đồ rê mi sol la
             Đệm thơ miền Bắc gồm chuỗi nốt Đồ rê fa sol la
             Miền Trung khác với miền Bắc ở nốt mi và nốt fa.
             Âm nhạc hát ví thuộc hệ thống dân ca cổ, giai điệu chủ yếu nằm trong 3 nốt và 4 nốt (ngũ cung khuyết), một số bài trục chính là quãng 4 đúng và 3 thứ. Tầm cữ âm nằm trong phạm vi quãng 6, quãng 7 (Xem thêm phần điệu thức dân ca Nghệ Tĩnh).
            Ví là thể hát đơn, hát trên lời thơ lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể. Nhưng đến khi có hội có phường thì có thể cả tốp cùng hát theo, hoặc 2 – 3 ngườicùng hát để hỗ trợ giọng cho nhau như ví phường vải hát trong lúc kéo xa quay con cúi. Hát ví trong những người lao động, nhiều người khác trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương), trẻ già trai gái đều tham gia hát ví.
            Về văn học của hát ví, các nhà nghiên cứu sưu tầm văn nghệ dân gian như PGS. Ninh Viết Giao, GS. Nguyễn Đổng Chi, nhà thơ Trần Hữu Thung… đã tập hợp nhiều tư liệu, đã in thành sách và lưu hành rộng rãi. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng ví chỉ có một loại, một làn điệu cơ bản nhưng qua nghiên cứu âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh thì ví phong phú về làn điệu, lý do là ở Nghệ Tĩnh mỗi nghề mỗi việc đều có thể ví về nghề đó như ví phường vải, ví phường chè, ví phường cấy,… nhưng khi hát lên chỉ khác nhau về âm sắc.
            Vì thế bản chất âm nhạc chuyển đổi tuyền luật theo cách hát của từng nghề, từng làn điệu của những người khi hành nghề đó, đồng thời do ngôn ngữ của từng vùng cũng ảnh hưởng tới cách hát, cho nên về cấu trúc âm nhạc cũng khác nhau ở nhịp vào bài và nhịp kết thúc (sẽ dẫn giải sau khi đi vào phân tích các điệu ví).
            Những bài hát ví ở nghệ Tĩnh đã sưu tầm có:
– Ví phường vải: Nam Đàn, Đô Lương, Can Lộc, Đức Thọ…;
– Ví đò đưa sông La: Đức Thọ, Hương Sơn,…;
– Ví đò đưa sông Lam: Dọc sông Lam;
– Ví đò đưa sông Phố: Hương Sơn;
– Ví phường chắp gai đan lưới: Cẩm Nhượng, Cửa Hội, Cửa Vạn;
– Víphường đan(đan rổ, rá): Kỳ Anh, Ba Giang, Nam Đàn…;
– Phường nón: Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà…;
– Phường buôn: Đô Lương, Hương Khê, Chợ Nhe, Chợ Thượng…;
– Ví trồng đấu: Kỳ Anh (Trồng chén, bát, gạch…);
– Ví tiểu thuyết: (do Nguyễn Chung Anh đặt tên);
– Phường vàng: Nam Vân, Sa Nam…;
– Bện võng: Phú Hậu, Hoàng La, Diễn Châu, Kỳ Anh…;
– Phường nốc: Tổng Bích Hào – Thanh Chương…;
– Trèo non: Xuân An, Hai Vai, Kỳ Nam, Nho Lâm, Nam Cai (Anh Sơn),…;
– Phường cấy – Phường gặt: Nơi nào cũng có, chủ yếu vùng đồng bằng;
– Ví phường củi: Các vùng có đồi núi chủ yếu vùng trung du;
– Ví róc cau lau mía:Vùng bán sơn địa;
– Ví nhổ mạ: Các vùng đồng bằng;
– Ví huê tình: Nơi nào cũng có;
– Ví đò đưa chuyển phường vải: Can Lộc;
– Ví đò đưa nước ngược: Nghi Xuân;
Hát ví Nghệ Tĩnh cũng giống như hát huê tình, hát xoan, hát ghẹo ở trung du Bắc Bộ, cũng tự tình, trong lời ca cũng có câu đệm.
Ví dụ:
Ở Bắc Bộ hát đệm:
            Ơ này anh hai chị hai đó ơi…
Ở Nghệ Tĩnh hát đệm:
            Ơ bạn tình ơi; Ơ này chị em phường vải ơi…
Lời ca có nhiều câu dí dỏm:
            Ơ bạn tình ơi! Khi đi anh trước em sau
            Giừ về đàng trẹ (rẽ) rọt (ruột) đau quằn quằn.
Hoặc:
                        Quen em chưa ráo mồ hôi
            Chưa trưa buổi chợ đã chia đôi nẻo đường.
Hoặc:
                        Năm ni em mắc chăn tru (Trâu)
            Vài năm chi nựa em về mần du (làm dâu) mẹ thầy.
Sau một thời gian hát ví lan truyền ở các địa phương, hát ví gắn với nghề nghiệp đã trở thành cuộc hát có thủ tục, có quy cách riêng như hát phường vải.
Ví dụ người ta quy định vào cuộc hát ví phải hát câu chào hỏi như sau:
            Ở nhà tôi mới tới đây
            Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà
            Ba cô tui lạ cả ba
            Bốn cô lạ bốn biết là quen ai
            Đến đây lạ cả bạn trai
            …
            Bây giờ biết nói làm sao
            Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa.
Đặc điểm hát ví Nghệ Tĩnh cũng như hát giặm, chủ yếu là theo phương ngữ thổ âm của địa phương và thông qua ca khúc của ngành nghề nơi đó để hát – Tính chất rõ nhất là ngẫu hứng, tự do, phong phú có cảm xúc.
Về âm nhạc, nếu bài nào cũng ghi theo các nghệ nhân hát thì vô cùng phong phú nhưng xét về cấu trúc giai điệu dù khác nhau về lời ca cũng nằm trong điệu thức 4 nốt (mì la đố rế) – (la đố rế mí).
Nhưng nếu chuyển hóa dấu (’) (hỏi) = (´) (sắc) thì không còn đâu Xứ Nghệ.
Ví dụ: Nghệ Tĩnh: Anh nỏi anh vô chơi
            Ngoài Bắc: Anh nói anh vào chơi.
Sau đây tôi xin trích dẫn một số điệu ví để các bạn tham khảo.
1.       Ví đò đưa sông La
Nghệ Tĩnh có nhiều sông nhiều rào, đó cũng là nguồn giao thông đặc biệt trong tỉnh. Trên dòng sông thường có thuyền buồm, thuyền chợ, đò dọc, đò ngang, bè gỗ, bè nứa,… Ngay trong khi thuyền bè xuôi ngược dòng sông, giữa thuyền này với thuyền kia khi xuôi dòng, khi ngược dòng, với mênh mông trời nước, đó là sự cách trở để hai thuyền khó tâm tình với nhau, muốn giao duyên người bạn, thuyền bên tả ngạn hát ví, để bên hữu ngạn biết có người muốn tỏ tình. Câu ví hình thành trong khoảng không gian bao la đó, chữ “Người ơi” vút cao trong sáng nghe man mác biểu lộ rõ nhất ở chỗ bắt đầu khi vào bài với chữ “Người ơi” cấu tạo giai điệu là quãng 2 trưởng.
                        Người ơi thuyền anh xuôi Chế sáu chèo
                        Thuyền em ngược Lạng cheo leo một mình
                                    (Xem bản phổ ví đò đưa sông La)
2.       Ví phường vải
Ở Nghệ Tĩnh việc làm ăn ở hội có phường là truyền thống lâu đời. Nghề thủ công dệt vải, tơ lụa, nuôi tằm nổi tiếng như đất Đồng Môn dệt vải, lụa Hạ Châu Phong, các làng ở Nam Đàn, ở can Lộc (Như Trường Lưu)… đều có phường vải.
Nghề dệt vải – quay tơ, xe cúi phần lớn do chị em gái đảm nhiệm. Về tiết thu tháng 8 khi mùa màng cày cấy đã xong, chị em phường vải thường tụ tập vào một nhà trong xóm, lấy ca hát để động viên nhau cho quên sự mệt nhọc.
                                    Tần tấn rắp ranh
                                    Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường
                                    Nguyệt dạ canh trường
                                    Dăm ba ô ngồi lại
                                    Dăm ba dì ngồi lại.
                                    Trước là nghề canh cửi
                                    Sau đàn hát vui chơi…
            Từ đó những điệu ví phường vải được vang lên bên lũy tre xanh, từ trong mái nhà tranh ấm cúng hay dưới đêm trăng bên thềm nhà, các chị em tay quay xa, tay cầm con cúi rút sợi. Tay quay xa khi quay khi dừng, lên lên xuống xuống, khi đưa ra khi đưa vào, nhịp nhàng mềm mại, tiếng xa sè sè, hòa vào tiếng quay vo vo êm ả, tiếng hát cũng trong hoàn cảnh đó, được cất lên êm dịu thiết tha nồng hậu, biểu hiện ở chỗ bắt đầu ở chữ “Người ơi” nhẹ nhàng thiết tha, cấu tạo âm bằng một quãng ba thứ, sau đó chuyển sang quãng 3 trưởng:
                                    Người ơi! Bốn mùa xuân hạ thu đông
                                    Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng
            Hát phường vải khác với các ví khác là có thủ tục một cuộc hát: đầu tiên chỉ nhóm chị em phường vải nữ ca hát với nhau. Sau đó có sự tham gia của nhóm nam. Có thể nhóm nam này là trai phường nón hoặc trai phường củi… và trở thành hát đám hát hội. Hát phường vải là phôi thai của hát đám, do đó có quy tắc của phường đề ra:
            – Sinh hoạt của phường vải nữ;
            – Hát dạo của trai phường khác;
            – Vào cuộc: Hát chào hát mừng, hát hỏi rồi đến hát đố, hát đối, xong chuyển sang, hát mời, hát xe kết rồi hát tiễn ra về.
            Trong âm nhạc của hát phường vải tuy điệu thức các làn điệu ở các chặng giống nhau, nhưng nó khác nhau ở chỗ bắt đầu vào các chặng, nên ghi ra bản phổ cũng khác nhau.
            Ví dụ:
            Chặng chị em phường vải sinh hoạt.
                                    Ơ này chị em phường vải ơi…
            Trai phường khác mới vào cổng hát:
                                    Người ơi!…
            Khi chưa hỏi mời hai bên đều hát:
                                    Ơi nghĩa người ơi!
            Khi có cảm tình với nhau qua chặng đố đối hát:
                                    Ơ nghĩa người thương ơi!
            Qua đó ta cũng thấy được không phải vào câu ví nào cũng mở đầu bằng “Người ơi” một cách xa lạ, mà theo tình cảm của từng chặng từng cuộc mà hát với những từ thích hợp, âm điệu thích hợp.
            Về văn học của hát phường vải, chúng tôi xin giới thiệu thiệu tập “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao in lần thứ 2 – Nxb Nghệ An 1993 và cuốn “Hát phường vải Trường Lưu” của Vi Phong – Thư Hiền – Nxb Hà Nội 1997.
            3. Ví đò đưa sông Lam
            Tính chất ví đò đưa là cùng loại với hát ví nói chung, nhưng ví đò đưa sông Lam khác sông La ở chỗ bắt đầu vào bài: “Người ơi” cấu tạo giai điệu ở quãng 3 thứ (la – đô hoặc sol – Sib). Đặc điểm của ví này là chỉ hát trên sông lúc đò đang đi xuôi hoặc ngược dòng, còn khi neo đậu không ai hát nữa. Khi thuyền trôi trên sông, người chống đò cầm sào đi lên phía mũi thuyền, bỏ sào chống xuống nước, tay cầm đầu sào, tùy vào phía trước bả vai, rồi lấy sức chống cao sào, đi ngược với con thuyền, lúc nhổ sào người chống sào đi thong thả về vị trí cũ là hết một cội sào, lúc đó họ nghỉ ngơi và cất lên tiếng hát – có lúc người ngồi bên mạn thuyền hát một câu ví tâm tình:
            Người ơi! Ai là biết nước sông Lam răng là trong là đục
            Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh          
            Âm điệu của ví đò đưa sông Lam: man mác, bao la, sâu lắng.
            4. Ví phường cấy
            Người nông dân Nghệ Tĩnh đã chịu đựng biết bao cơ cực của thiên nhiên hà khắc, nào gió Lào hạn hán, lụt bão triền miên. Trong chế độ phong kiến cuộc sống làm thuê một nắng hai sương, người nông dân đi cày cấy trước khi trời chưa sáng trong màn sương mai dày đặc. Để biểu lộ tâm tình với nhau trên đồng ruộng, câu hát ví được hình thành trong hoàn cảnh đó, nó mang tính chất bàng bạc, u uất bâng khuâng, điển hình là câu “Người ơi” bắt đầu vào cuộc ví:
                        Người ơ ơi! Rồi mùa toóc rả rơm khô,    
                        Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
            Cấu tạo giai điệu vào bài là quãng 1 có láy 1 nốt nhỏ lên 2 trưởng. Điệu thức ví phường cấy 4 nốt (la đô rê mi).
            5. Ví trèo non
            Rừng núi Nghệ Tĩnh khá rộng và có những mỏm núi cao vun vút, nằm trên dải Trường Sơn trùng điệp, có vùng đồi núi gần thượng du và trung du, đồng bằng ven biển đều có núi đồi. Người dân xứ Nghệ thường hay đi kiếm củi ở rú gần làng như rú Hống (núi Hống), rú Thành, rú Đại Huệ,… có vùng núi đá, có vùng núi đất, cây cối có nơi lè tè hoang dại, có nơi sầm uất xanh tươi. Mỗi lần đi kiếm củi, họ phải trèo lên cao mới có củi tốt. Những bàn chân đất, đòn gánh đè rạn hai vai, vất vả gian nan là thế nhưng câu hát ví vẫn cùng người xứ Nghệ lên non. Họ gọi đó là “hát ví trèo non”, âm điệu câu hát mang màu sắc không gian đồi núi. Thường thường người dân đi hái củi này hay dùng tiếng “hú” làm tín hiệu để liên lạc với nhau, cho nên hát ví lúc này không thể hát ngay chữ “người ơi”, mà vào đầu là chữ “Ơ” rồi mới hát “là người ơi”, có như thế người bạn bên núi kia mới biết người ở bên này đang hát với mình. Một đặc điểm khác là cuối câu ví không kéo dài, vì do gánh nặng hoặc leo trèo mệt nhọc nên dừng lại một chữ có âm ngắt “đó”:
                        Ơ… là người ơi!
                        Chứ trèo truông mới biết truông cao       
                        Chứ đã đi đò dọc lại ước ao sông dài đó.
            Cấu tạo giai điệu là: sol la đố rế
            Dưới đây là hệ thống một số làn điệu dân ca xứ Nghệ và kĩ thuật hát ví:
DÂN CA XỨ NGHỆ IN TỪ BĂNG CASSETTE
 SANG ĐĨA CD CỦA NGHỆ NHÂN ĐÃ MẤT
            1. Hò dô
            2. Hò khoan đi đường
            3. Hò xeo gỗ     
            4. Ví phường vải                        2L
            5. Ví đò đưa xuôi dòng   2L
            6. Ví đò đưa nước ngược
            7. Ví trèo non    
            8. Ví cấy          
            9. Ví chuyển điệu
            10. Ví buôn bộ
            11. Hát vè Hà Tĩnh
            12. Giặm xắp
            13. Giặm kể
            14. Giặm nối
            15. Ru con (Bài 1 – bài 2)
            16. Sắc bùa (Đức Thọ)
            17. Hát đúm
            18. Chèo kiều – các làn điệu
                                    Làn trăng
                                    Ai thả lạc
                                    Hầu cô
                                    Buông áo em ra
                                    Tam tầng (Kiều vẫn đi chơi về)
                                    Hát dạo (Vương ông đi chơi)
                                    Hát say
                                    Chèo đò
                                    Phải lương
                                    Hát xà
                                    Vọng phu (Kim Lương…)
                                    Lên chùa (quét sạch lá rừng)
                                    Quạt màn
                                    Ngâm Kiều…
                                    (Tư liệu của NS Lê Hàm sưu tầm từ năm 1956)
 
TÌM HIỂU KĨ THUẬT HÁT VÍ
                                                                                   
            Dân ca Nghệ Tĩnh, hát ví cũng như hát giặm, hát ru xuất phát từ hoàn cảnh lao động và thời gian nơi xảy ra ca hát.
            Các nghệ nhân vừa nhai trầu vừa hát ví, hát giặm, hát vào đêm trăng thanh gió mát như hát phường vải; hát vào buổi mờ sương như hát ví phường cấy; hát trong không gian trời cao sông rộng như ví đò đưa, ví đua thuyền; vừa hát vừa trèo núi hoặc xuống núi, hát khi đôi vai gánh nặng như ví trèo non; tưng bừng phấn khởi nơi biển khơi sau khi được mẻ cá;… do đó chúng ta phân loại giọng hát gồm: giọng trai, giọng gái, giọng già, giọng trẻ. Căn cứ vào lứa tuổi của các giọng ca, ta đối chiếu với ca hát dân gian nói chung để xếp loại giọng hát mà các nghệ nhân đã trình diễn như giọng: Kim – Mộc – Thổ đồng – Thổ thường.
            – Hơi hát (cách lấy hơi): ở tai – ngực – bụng – rốn, đan điền.
            – Kĩ thuật: Công minh trong phát âm tự do theo phương ngữ làn điệu.
            – Khẩu hình ngôn ngữ: Mỏng, sáng, nhẹ nhàng của phương ngữ phương Đông.
            – Đào tạo chủ yếu: Truyền khẩu – học theo nghệ nhân.
            Hát ví là loại ca hát: Không nhịp điệu, hát tự do, theo bản năng trong sinh hoạt; không như hát vè, giặm (hát theo nhịp phách 2/4 hoặc 7/8).
            Trong ca hát dân gian, không nằm ngoài ngôn ngữ người Việt, khi nói có 6 âm.
            Huyền ( ̀), sắc (´), nặng (.), hỏi ( ̉), ngã (~) và không. Nếu so sánh giọng nói ba miền ta thấy:
            Người phía Bắc nói sai phụ âm đầu: Nói =lói; nón = lón.
            Người miền Trung nói sai dấu: Nói = nỏi, cánh chim = cảnh chim
            Người miền nam nói sai âm cuối: đèn = đeèng, mình = miềng
            Có người hỏi tôi thổ âm, phương ngữ người xứ Nghệ có khác nhau không?
            Từ Bắc Nghệ đến Nam Nghệ Tĩnh giọng nói có vài vùng khác nhau:
            ví dụ:    
            – Người Quỳnh Lưu – Diễn Châu nói: Thực hiện tiếp giải phóng mặt bằng (nói đúng dấu ).
            – Người Nghi Lộc nói: Bổn quy đình nha nước (bốn quy định nhà nước). Hoặc: Me mi mô (mẹ mày đâu?) hầu hết là không dấu.
            – Người Thạch Hà, Kỳ Anh nói: Đất Đồng môn dệt vải – Đất cổ đạm vắt nồi (Dấu sắc thành dấu hỏi).
            Ngoài ra từ Cha có nơi gọi là BốBọ hoặc là Thầy…Như thế người xứ Nghệ hầu hết nói dấu sắc thành dấu hỏi, dấu nặng.
            Trong 6 dấu của tiếng Việt, xứ Nghệ có những nguyên âm ghép, những phụ âm dại khép kín phía sau các âm đóng, âm chết trong dân ca tỉ lệ dấu cao.
            Còn cách hát ví hầu hết là giọng nữ trung, nam trầm và nam cao ít thấy – nam nữ hát cách nhau một quãng 8, thường cách nhau một quãng 4 và quãng 5.
            Trong ca hát dân gian, phong cách không chỉ là bài bản, luyến láy, nhả chữ: phong cách có trong hơi thở (cái hồn của tiếng hát) khéo léo xử lí các khoang, xoang của cơ quan phát âm, vóc hình của tiếng hát, ví dụ:
                                    Hát chèo dùng hơi mũi
                                    Hát tuồng dùng hơi xoang ngực.
            Xử lí trong hát ví cũng phải hiểu nội dung câu ví (Về văn học cũng như âm thanh làn điệu) trong giọng hát phải đảm bảo cái thực của:
                                    Tinh – Khí – Thần, Hỷ – Nộ – Ai – Lạc
            Khi phát âm câu ví, từ ngữ khí, ngữ điệu phải có tình có lí. Những âm phát ra câu như: Trại lục, mắc, chặt… phải tròn vành rõ chữ.
            Hát ví phải hát cho hay, cho đẹp có cái duyên trong khẩu hình như nhả ngọc phun châu là yếu tố trước tiên của ca hát dân gian.
            Dù khác nhau về ngôn ngữ – thổ âm của từng vùng miền, nhưng khi vào hát ví – giặm ai cũng hát làn điệu – âm thanh giống nhau, đó là điều đáng quý.
            Trong thế kỷ XX – XXI: kĩ thuật ca hát dân gian như hát ví – giặm, đã chuyển hóa phong phú rất nhiều kể cả ca từ và âm điệu.
            Bởi lẽ chúng ta đã có các trường chuyên nghiệp, có khoa thanh nhạc mà khoa thanh nhạc hiện đại lại phân giọng hát ra:
                                    Nam cao – Nam trung – Nam trầm
                                    Nữ cao, Nữ trung, Nữ trầm
            – Hơi hát chủ yếu là ngực và hoành cách mô;
            – Cộng minh theo phát âm ngôn ngữ Tây phương;
            – Khẩu hình, tròn, dày, đáp ứng với công minh quen dùng;
            Ví dụ: Tổ quốc ta bao la
            hát là: tổ qu…ô…c ta ba…a…o…la…
            Chính vì những yếu tố trên mà ca hát dân gian dần được pha trộn kĩ thuật hiện đại.
            Cho đến nay trên các sóng phát thanh truyền hình, hát dân ca đã phong phú hơn nhiều. Nhưng cũng phải lưu ý rằng: Đừng để cánh diều dân ca đứt dây!                                                                                                                                            
L.H.

THU HƯƠNG : Đêm tháng Năm nghe hát phường vải, VIETNAM


Đêm tháng Năm nghe hát phường vải
(Cập nhật lúc 15:57′  20/5/2013)

 

 

(Baonghean) – Chúng tôi tìm về nhà cụ Nguyễn Thị Sơn (92 tuổi), một nghệ nhân hát ví phường vải Câu lạc bộ xã Xuân Hòa (Nam Đàn). Từ ngoài cổng, đã nghe: “Ơ… chớ hỏi em hỏi cả bạn hiền/ Bác Hồ về lại Kim Liên mấy lần?”; “Ơ… chớ Năm Bảy, Sáu Mốt Bác về/ Năm mươi năm ấy xa quê hương nhà”. Cả  5 cụ sum vầy đối đáp trông thật ấm cúng. Cụ ít tuổi nhất cũng ngoài 65. Cụ Sơn vui vẻ, “Mấy đêm nay chị em ngồi hát đến 1, 2 giờ sáng mới thôi. Đây là món quà dâng lên Bác nhân kỷ niệm sinh nhật Người”.

Trong 5 nghệ nhân: cụ Sơn, cụ Liên, cụ Mão, cụ Tình, cụ Dương, thì cụ Sơn là “cây cổ thụ” hát ví của Xuân Hoà. Cụ trò chuyện với tôi chủ yếu là những lời hát ví nghe thật lắng đọng. Mãi 8 giờ đêm, tôi mới rời nhà cụ.

Cụ Sơn (áo đen), cụ Mão, cụ Liên và nhiều trẻ em trong xã đến nghe ví phường vải.

nay, cụ Sơn đã bước sang tuổi 92 nhưng cụ có một trí nhớ trời phú. Những kỷ niệm về đêm hội làng, câu hát bên bờ sông Đào, ao sen hay giữa sân đình vằng vặc ánh trăng rằm. “Ơ anh đứng bên ni sông ngóng sang bên tê cầu anh nghe tin em kết ngãi trần châu ai rồi/ Ơ em đứng bên ni sông ngóng sang bên tê hồ trăm năm thiếp có bỏ chàng mô/ Chàng đừng sầu riêng trong dạ mà thiếp héo hon trong lòng/; Ơ anh đến thì mời anh vô nhà/ đứng chi ngoài ngõ mà sương sa lạnh lùng/ Vô nhà anh cũng muốn vô/ Sợ lòng thầy mẹ có đặm đà chi không”…  Giai điệu sâu lắng, người nghe thấy hết được cái hay, cái tài tình trong nghệ thuật hát của các cụ. “Một ngày không hát ví phường vải, tui thấy nhớ vô cùng. Như đã trở thành thói quen, như cơm ăn, nước uống hàng ngày không thể thiếu…” – Cụ Sơn nói với tôi.

Sinh ra trên mảnh đất Xuân Hoà, 10 tuổi cụ Sơn đã mê hát ví, để rồi nài nỉ mẹ, cô bé Sơn xinh xắn thời ấy đêm đêm theo mấy bác trong làng xuôi về làng Sen nghe câu ca ví phường vải. Nhiều đêm trở về nhà trời đã sang canh. Chỉ một thời gian ngắn, cô đã lĩnh hội được rất nhiều những bí quyết hát ví. Những lời khuyên của các cụ già đã làm cô vui, nhưng chưa ấm lòng bởi chưa được theo học một lớp học thật bài bản. Một lần theo mẹ đi chợ Sa Nam, được nghe các cụ, các bác hát ví phường vải, đúng ngày sinh Bác Hồ. Lần ấy, cụ Sơn khăn gói đi học, và câu hát ví theo suốt cụ đến tận giờ. Về hưu, cụ tham gia biểu diễn trong tỉnh, huyện. Một số địa phương mời cụ dạy hát ví phường vải cho lớp trẻ…

Từ ngày có thêm 5 nghệ nhân: là các cụ: Liên, Mão, Sơn, Dương và cụ Tình, cụ Sơn như được tiếp thêm một luồng sinh khí mới. Một tuần, các cụ tổ chức hát một lần vào tối thứ 7. Câu lạc bộ của cụ Sơn vừa là niềm say mê vừa truyền nghề cho những lớp kế tục.

Câu ví phường vải đưa đến cho nhiều lứa đôi yêu nhau nên vợ, nên chồng. Mỗi canh hát cụ Sơn lại nhớ về mối tình thời xuân sắc của cụ và người chồng bên dòng sông Đào thơ mộng hay ngoài bờ dậu râm bụt nhà mình. Từ câu ví phường vải vợ chồng cụ đã nên duyên vợ chồng, sinh ra 3 người con gái cũng đam mê hát phường vải và người con trai liệt sỹ có giọng hát phường vải đi vào lòng người. Cụ Sơn ngừng kể, mắt cụ nhìn ra những ao sen trước nhà mà ngân nga: “Ơ …Hỏi em quê quán nơi mô/ Anh em có mấy cậu cô trong nhà/ Tuổi đời nghề nghiệp mẹ cha/ Mong em nói rõ thì ta chuyện trò/.  Ơ quê em xóm 8 gần bầu/ Gần sông tắm mát gần cầu con giai/ Quê em lắm lúa nhiều khoai/ Gần sông tắm mát hến trai dễ mò…

“Đến một ngày già đi, những lời hát phường vải vẫn sống mãi. Sẽ có lớp người khác thay chúng tôi, níu giữ nguồn gốc, để mỗi tháng Năm về, câu ví phường vải lại ngân lên, mừng ngày sinh của Người!”. Cụ Sơn nói vậy lúc tiễn tôi ra về.

 

Bài, ảnh: Thu Hương

http://baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=103587&CatID=4

BÍCH HUỆ : Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải, VIETNAM


Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải

01/05/2012 | 09:53:00
 
EMAILPRINTCỠ CHỮ A A A
 

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
 
Hát Phường vải là một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hát Phường vải vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Nhưng trước sự du nhập của văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập, cùng với việc thiếu kinh phí, thiếu nguồn nhân lực, các câu lạc bộ hát Phường vải ở Nghệ An đang đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động. 

“Cứ đến mùa lễ hội hay dịp sinh nhật Bác là tôi lại đau đầu lo nghĩ” – ông Hoàng Thế Lựu, Chủ nhiệm câu lạc bộ dân ca Kim Liên mở lời. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi mang tiếng là câu lạc bộ nhưng chỉ vẻn vẹn có 10 hội viên, người “trẻ” nhất cũng ở độ tuổi 40, người lớn tuổi thì cũng đã qua ngưỡng 90, khiến việc tập hợp và tập luyện khá vất vả. 

Mong muốn có tiết mục tham dự năm nay khác đi, mới mẻ hơn, sinh động hơn các năm trước hay tìm cho ra những hạt nhân văn nghệ mới, trẻ trung hơn cho câu lạc bộ quả thực là rất khó. 

Đó là chưa nói đến việc không có kinh phí để trang trải, duy trì hoạt động của câu lạc bộ. “Sau mỗi mùa lễ hội, câu lạc bộ hát Phường vải tạm thời ngừng hoạt động, khi có đợt phát động mới thì chúng tôi tập hợp hội viên lại để tập luyện và đi thi. Khi mới thành lập, câu lạc bộ có đến 30 thành viên, càng về sau lớp già thì mất đi, còn lớp trẻ thì bỏ dần. Giờ đây, câu lạc bộ hát Phường vải chỉ duy trì theo kiểu đối phó” – ông Lựu cho biết thêm. 

Ngay cả câu lạc bộ hát Phường vải Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn một năm cũng chỉ sinh hoạt được hai lần. Ông Trịnh Hưng Minh, Chủ nhiệm câu lạc bộ cho biết đến ngày sinh hoạt, các thành viên trao đổi nghiệp vụ, tập những làn điệu mới, bài hát mới, riêng tổ âm nhạc thì tập luyện nhạc cụ. 

May mắn hơn các câu lạc bộ khác, câu lạc bộ của Trung tâm Văn hóa thông tin quy tụ 30 hạt nhân văn nghệ đến từ các trường, các xã trên địa bàn. Song do hoạt động không thường xuyên nên chất lượng và tính phổ quát chưa nhiều.

So với câu lạc bộ hát dân ca thì câu lạc bộ hát Phường vải vừa ít về số lượng (khoảng 10 câu lạc bộ) vừa kém về chất lượng, hoạt động lại cầm chừng. Câu hát Phường vải khá chải chuốt, khá điêu luyện, trải qua một thời gian dài hàng mấy trăm năm, người dân với lối tư duy hình tượng đã đem tâm hồn và trí tuệ của mình tạo nên những câu ca hồn nhiên, trong sáng. 

Nội dung hát Phường vải mang đậm tính trữ tình, song nó khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát có phức tạp hơn. 

Để hát đúng với một cuộc hát Phường vải phải hát có lớp lang như hát lơ lửng (hát dạo), hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát tình (hát xe duyên), hát tiễn hẹn trong không gian, môi trường diễn xướng khá chật hẹp là ở sân vườn (hoặc sân đình) và người phụ nữ đang ngồi quay xa, dệt vải. Tuy nhiên, do hát lời cổ, giai điệu trầm buồn, không có nhạc đệm nên khó lôi cuốn người hát lẫn người nghe. 

Nghệ nhân dân gian là những tác giả của những câu hát Phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví mang đậm bản sắc quê hương. Bà Nguyễn Thị Kỳ, xóm 13 xã Hồng Long, Nam Đàn năm nay đã tròn 100 tuổi, nhưng tuổi tác dường như không phải là rào cản niềm đam mê hát ví Phường vải.

Bà tâm sự: “Ngày xưa nam thanh nữ tú trong làng ai ai cũng biết hát Phường vải. Hát Phường vải là một cách trò chuyện, đối đáp thông minh giữa bên nam và bên nữ, họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Cũng từ hát Phường vải mà vợ chồng bà nên duyên.”

Theo bà Kỳ, hát ví thường có những từ đệm như ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Bởi thế lớp trẻ ngày nay khó hát và không mấy ai say sưa với câu hát ví này. 

“Lớp người cũ như bà rồi cũng mất đi, các bà đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc bằng cách ‘già dạy trẻ, trẻ học già’ vào thời gian rỗi. Nhưng làm thế nào để lớp trẻ thẩm thấu và yêu câu hát ví Phường vải, say mê thực sự với nó và muốn nó sống thực sự trong đời sống tinh thần là cả một chặng đường dài,” bà Kỳ đau đáu. 

Theo thống kê, các nghệ nhân dân gian hát Phường vải ở Nghệ An giờ chỉ còn 6 người, tuổi các cụ cũng được xếp vào “xưa nay hiếm.” Các thành viên tham gia câu lạc bộ hát Phường vải cũng xuất phát từ yêu câu hát ví Phường vải mà tham gia. Vì không có kinh phí để hoạt động, họ tự bỏ tiền túi quyên góp lại để duy trì câu lạc bộ. Nhiều gia đình có hai đến ba thế hệ cùng tham gia. 

Khó hát, thiếu nguồn kinh phí, thiếu nhân lực, thiếu sự quan tâm chỉ đạo… những khó khăn ấy có thể khắc phục được nếu chính quyền địa phương có quyết tâm gìn giữ câu hát ví Phường vải của quê hương. 

Thực tế thời gian qua, tỉnh Nghệ An cũng đã thành lập Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, lập đề án Đưa dân ca vào trường học, huyện Nam Đàn cũng đã có đề án Bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải song chưa mang lại hiệu quả.

“Bảo tồn thì chúng tôi vẫn làm được, song việc phát huy thì ngày càng bế tắc,” ông Trần Xuân Giáp – Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn thừa nhận. 

Theo đề nghị của các câu lạc bộ, thời gian tới, huyện Nam Đàn cần cử cử cán bộ văn hóa về cơ sở để tổ chức thực hiện việc bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải. Bên cạnh đó, mời các nghệ nhân dân gian và những hạt nhân văn nghệ trẻ đến để truyền lửa theo kiểu “già dạy trẻ, trẻ học già.” Mở rộng thành viên tham gia câu lạc bộ như giáo viên thanh nhạc, các em học sinh trong các nhà trường để đào tạo đội ngũ trẻ. 

Huyện cũng cần có kinh phí trích cho các xã chi cho câu lạc bộ hoạt động thường xuyên để huy động nhân lực. Bên cạnh mở các lớp tập huấn cho cán bộ văn hóa ở cơ sở, các câu lạc bộ, ngành văn hóa phối hợp với ngành giáo dục tăng cường hơn nữa công tác đưa dân ca vào trường học, chính trong môi trường này vừa phát hiện vừa bồi dưỡng lớp trẻ thuận lợi nhất. 

Hát ví Phường vải là phong trào văn hóa văn nghệ xuất phát từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Tuy nhiên hiện nay, phong trào này đang trở nên hình thức hóa chỉ mang tính biểu diễn, đua tài giữa câu lạc bộ này với câu lạc bộ khác mà chính người dân lại không có cơ hội được xem, nghe và tham gia. 

Theo các câu lạc bộ, trừ những hội thi, hội diễn lớn mang tầm quốc gia, những hội diễn nhỏ ngành Văn hóa chỉ nên giao cho các địa phương tổ chức thi tại địa phương mình. Cách làm này vừa phù hợp với không gian văn hóa, môi trường diễn xướng của hát ví Phường vải vừa thiết thực phục vụ nhân dân, đến gần với dân hơn./. 

Bích Huệ (TTXVN)

 

 
 

TRẦN QUỐC BẢO : SINH HOẠT NGHỆ SĨ TUẦN NÀY CÓ GÌ LẠ?, CALI, HOA KỲ 31.05.2013


SINH HOẠT NGHỆ SĨ TUẦN NÀY CÓ GÌ LẠ?
par Tran Quoc Bao (Articles), lundi 3 juin 2013, 02:57

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Viet Tide phát hành thứ sáu ngày 31 tháng 5 năm 2013)

Ảnh trái là nghệ sĩ cải lương Phượng Liên và ảnh phải là ca sĩ Thu Anh, hai chị em cùng mẹ khác cha

 

     Ít ai trong giới nghệ sĩ còn nhớ câu chuyện buồn 21 năm trước, chiếc máy bay chở hành khách từ Sàigòn ra Nha Trang năm 1992 đã nổ tung trên vòm trời và bi kịch này đã lấy đi mạng sông của hàng trăm hành khách, trong số đó, có ca sĩ Thu Anh, tên thật là Phạm Kim Anh, sinh năm 1955, cô cũng là người em gái cùng mẹ khác cha của nghệ sĩ cải lương nổi tiếng Phượng Liên.   

    Theo lời nhạc sĩ Bảo Thu kể lại với người viết: “Khoảng năm 1968, nghệ sĩ Phượng Liên gửi gấm cô em gái cho lò đào tạo ca sĩ Bảo Thu, và chỉ sau một thời gian ngắn, với vóc dáng đẹp, giọng ca tốt, Thu Anh đã được Bảo Thu giới thiệu đi làm cho Ban Văn Nghệ Quân Đội và là ca sĩ dân chính hợp đồng đi biểu diễn phục vụ cho các doanh trại trước 1975”. Năm 1973, Bố Nghị dẫn Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương với Duy Khánh, Tú Trinh, Phương Hồng Quế,  Trang Thanh Lan, Thu Anh, hề Thanh Việt.. xuống tỉnh Cà Mau trình diễn cho các binh lính ở Sư Đoàn 21 BB. Đêm đó, phần trình diễn của nghệ sĩ nào cũng được các anh lính vỗ tay hoan nghênh nồng nhiệt, riêng hình bóng cô ca sĩ Thu Anh trình bày ca khúc Em Hiền Như Ma Soeur, Con Đường Xưa Em Đi.. đã lọt vào mắt xanh của Đại Úy Trương Văn Trọng có mặt đêm hôm đó tại Câu Lạc Bộ Sư Đoàn. Qua sự mối mai của Tú Trinh, mỗi khi có dịp về Sàigòn, Đại Úy Trọng thường ghé nhà thăm bà mai Tú Trinh và ca sĩ Thu Anh lúc bấy giờ cùng trong hẻm 555 khu Nancy, còn gọi là hẻm chùa Phật Ánh. Mối tình của Đại Úy Trọng và ca sĩ Thu Anh bộc phát nhanh chóng. Cùng trong năm đó, chỉ vài tháng quen biết tìm hiểu và thương yêu, cả hai quyết định làm đám cưới vào tháng 10 năm 1973. Sau ngày cưới, Thu Anh rời bỏ Sàigòn cùng về sống với chồng nơi đơn vị đóng quân (Trung Đoàn 32, Sư Đoàn 21 BB) ở Cà Mau.

    Nhắc thêm về Đại Úy Trương Văn Trọng, Ông sinh năm 1948, quê ở Bến Tre. Cuối năm Mậu Thân 1968, Ông đi lính và ra trường với cấp Chuẩn Úy. Chỉ 18 tháng sau, được đặc cách lên Thiếu Úy rất nhanh. Tháng 10 năm1973, sau khi đám cưới, tinh thần Ông càng hăng say chiến đấu, Ông lập thêm chiến tích hào hùng tại trận đánh An Lộc năm 1974 và được thăng chức Thiếu Tá lúc mới vừa 26 tuổi.     Niềm vui ôm trong tay đứa con trai đầu lòng sinh lúc tháng 3 năm 1975 không được bao lâu thì chưa tới hai tháng sau biến cố 30/4 xẩy đến, Ông ở trong trại giam cải tạo khoảng 6 năm và được thả về Sàigòn năm 1981. Kỷ niệm đẹp nhất cuả tình bạn mà Ông không hề quên, đó là những ngày đầu từ trại cải tạo về, kịch sĩ Tú Trinh thỉnh thoảng ghé ngang nhà, nhét vội vào túi áo Ông một chút tiền và nói nhỏ “Cà phê, cà pháo nha bạn”… Tấm lòng thương quý bạn bè lúc sa cơ nhỡ bước đó của Tú Trinh, không chỉ có Thiếu Tá Trọng nhắc lại, mà còn bởi nhiều đồng nghiệp và thân hữu khác.

(còn tiếp một kỳ)

 

Ảnh chụp Thiếu Tá Trọng và ca sĩ Thu Anh sống bên nhau ở Cà Mau nơi đơn vị đóng quân năm 1974

Ca sĩ Thu Anh chụp với con trai lớn (tên Trí 7 tuổi) tại Vũng Tàu năm 1982

Ảnh của Thu Anh chụp năm 1992 trước một tháng ngày cô tử nạn.

Thiếu Tá Trọng và cậu con trai thứ nhì tên Tiến chụp trong tang lễ Thu Anh cử hành tại chùa Vĩnh Nghiêm năm 1992

Nghệ sĩ Tú Trinh và Thiếu Tá Trọng luôn là tình bạn thân thiết.

 

    Sau 1975, những người yêu thơ miền Nam ngày cũ chỉ còn nghe lại được giọng ngâm vàng Hồ Điệp qua những cuốn băng cassette xa xưa do Thục Vũ thực hiện năm 1971, hay trong băng Mây Hồng của Hồng Vân thu thanh năm 1972, chứ ít ai còn được gặp, còn nghe thấy tăm hơi về người ngâm sĩ tài hoa lẫy lừng này, vậy thì sau ngày đổi đời của 1975, Hồ Điệp giờ đây trôi giạt về góc trời nào, còn sống hay đã mất?   

    Tháng 5, là tháng sinh của Hồ Điệp, nói rõ hơn nữa, ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ (1930), Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Tý, tự Nhu ra đời trong một gia đình có nhiều chị em biết hát chầu văn lẫn cô đầu. Theo lời kể của nhà thơ Hoàng Hương Trang, chính nhà thơ Đinh Hùng (người sáng lập ra chương trình Tao Đàn từ năm 1954) đặt tên Hồ Điệp cho cô. Đinh Hùng khám phá ra một Hồ Điệp ca trù rất hay, ngâm sa mạc, bồng mạc, lẫy kiều rất tài tình, chất giọng độc đáo, sâu lắng không ai bắt chước được, nên nhà thơ Đinh Hùng đã mời cô về cộng tác với chương trình thơ ca Tao Đàn hàng đêm trên làn sóng đài phát thanh Sàigòn. Từ đó cả miền Nam đê đêm lắng nghe Hồ Điệp ngâm thơ. Cũng chính lãnh vực ngâm thơ đã chôn vùi sự nghiệp ca trù của cô. Người ta chỉ nhớ một Hồ Điệp ngâm thơ mà thôi.   Hồ Điệp đã từng được chọn đi trình diễn ca trù, ngâm thơ, kịch thơ ở nhiều nước, ở đâu cũng được hoan nghênh nhiệt liệt, nhất là người Việt xa quê hương nghe Hồ Điệp ngâm thơ trên đất Pháp, Thụy Sĩ, Thái Lan, Nhật Bản và Đài Loan, họ khóc nức nở.  

    Tin cuối cùng cũng từ thi sĩ Hoàng Hương Trang cho biết: “Sau 1975, cuộc sống quá khó khăn đã đẩy Hồ Điệp đi tìm đường sống xa quê hương, và biển cả cùng những lọc lừa đã chôn vùi một tài hoa ngâm vịnh. Từ đó không có giọng ngâm thơ nào xứng đáng kế vị Hồ Điệp. Di ảnh của Hồ Điệp hiện nay được thờ ở chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão, Quận 1. Trên di ảnh đề ngày mất 15 tháng 5 Mậu Thìn (1988), có lẽ đó chỉ là ngày ra đi của Hồ Điệp chứ không phải là ngày mất thật sự”.    

   Nhân tháng 5 trở về, quay quắt 25 năm ngày mất âm thầm của một giọng ngâm trác tuyệt, người viết chợt nhớ vô cùng 2 câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương từng viết tặng 2 tên tuổi lẫy lừng: Mặc Thu và Hồ Điệp, ông viết tặng như sau:

Mưa cầm, gió bắt thương Hồ Điệp

Thép đợi, gang chờ xót Mặc Thu..   

   25 năm, thời gian dù đã phôi phai nhiều thứ, nhưng làm sao chúng ta có thể quên một cánh bướm tài hoa của miền Nam giờ đây đã lạc biển sầu.

 

Ảnh vợ chồng Lê Văn Vũ Bắc Tiến & Thu Nhi chụp năm 2001, trước một năm Ông từ trần.

 

 

    Có đọc qua những đoạn do nhạc sĩ Phạm Duy viết trong Hồi Ký, nhiều người mới biết được hoặc nhớ lại về một thời ngang dọc của nhà báo, đạo diễn Lê Văn Vũ Bắc Tiến. Nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi lại:

   “Sau vụ nổ súng không thành của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, sau khi bỏ tù và đưa ra Côn Đảo những người dính dáng tới cuộc đảo chính, chính quyền nhà Ngô cũng chẳng bớt đi những hành động quá khích. Nhưng họ chú ý hơn tới công tác tuyên truyền. Bây giờ, vừa muốn chống Cộng vừa muốn lấy lại lòng dân, Bộ Công Dân Vụ do ông Ngô Trọng Hiếu điều khiển, tìm cách thu phục giới văn nghệ sĩ. Anh Nguyễn Đức Quỳnh được mời cộng tác với chính quyền. Anh lại lôi kéo tôi vào đấu trường. Vì đang là công chức của Trung Tâm Điện Ảnh thuộc Nha Tổng Giám Đốc Thông Tin (lệ thuộc Công Dân Vụ), tôi không thể từ chối. Trong công tác nghệ sĩ vận và dân vận như vậy, chính phủ đã giao cho anh bạn cố tri của tôi là Phạm Xuân Thái điều hành Câu Lạc Bộ Văn Hoá ở đường Tự Do để có nơi cho văn nghệ sĩ tới gặp nhau hằng ngày, thay vì ra nhà hàng La Pagode gần đó. Bây giờ một đoàn ca vũ kịch lớn được thành lập tại Bộ Công Dân Vụ, tụ tập nhiều nghệ sĩ tên tuổi do Lê Văn Vũ Bắc Tiến chỉ huy. Tôi tới sinh hoạt thường xuyên với đoàn ca vũ kịch này…”    Tôi gặp được nhà báo kỳ cựu Lê Văn Vũ Bắc Tiến thường xuyên, đó là thời gian những năm 1993, 1994.. Mỗi lần gặp, Ông đều nhắc tới mối giao tình của Ông và Ba tôi từ thời họ còn ở Sàigòn và kể lại chuyện xưa bằng những lời thương yêu thân thiết. Bẵng đi sau đó vài năm, tôi thấy Ông không còn xuất hiện ở Quận Cam. Hỏi thăm rất nhiều người nhưng chẳng ai hay biết, bỗng một ngày anh Vũ Công Lý gọi báo tin Ông có lúc đã dọn về sống trên miền Bắc Cali, hình như Ông ở chung với một trong 2 người con gái của Ông giờ đã lập gia đình và lấy chồng người ngoại quốc. Ở trên San Francisco, về vật chất thì Ông không thiếu gì, tiền già, medicare có đầy đủ nhưng Ông lại nhớ bạn bè, nhớ vợ và con cái, nên Ông quyết định từ bỏ mọi thứ để về lại quê nhà vào đúng thời điểm năm 2000. Niềm mơ ước cuối đời đó của nhà báo Lê Văn Vũ Bắc Tiến được thành sự thật và kéo dài đúng 2 năm, sau đó vì bịnh hoạn cũng như tuổi già, Ông đã từ giã cõi đời vào ngày 8 tháng 4 năm 2002 tại Sàigòn, hưởng thọ 83 tuổi.       Trước khi gửi bài cho Viet Tide, người viết nhận được một lá email của MC Tiến Dũng, người con trai của Ông Bà Lê Văn và Thu Nhi từ Sàigòn gửi sang. Lá thư ghi: “Gửi anh TQB. Ba em tên thật là Lê Văn Lập, biệt danh Lê Văn, bút danh Vũ Bắc Tiến. Trước năm 1975, Ông là ký giả, chủ nhiệm của báo Sân Khấu Truyền Hình. Với bản tính ăn ngay nói thẳng, cái gì ngứa mắt là ba cho lên báo ngay, vì thế tòa soạn bị đóng cửa liên tục. Không cho viết báo thì Ba thành lập ban kịch Lê Văn trên đài Truyền Hình Việt Nam số 9 với các vở kịch như Tổ X100.. Ông cũng tham gia một số bộ phim như Câu Chuyện Năm Dần, Lệ Đá, Xa Lộ Không Đèn. Năm 1976, Ba em bị bắt tập trung cải tạo tại số 4 Phan Đăng Lưu nơi giam giữ tù Chính Trị. Đến năm 1980, vừa ra khỏi trại, nhờ bạn bè giúp đỡ, Ba vượt biên qua trại tỵ nạn Hongkong, và từ đó Ba qua Mỹ định cư.     Còn Mẹ em tên thật là Lê Thị Phương, nghệ danh Thu Nhi, sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghệ thuật với anh cả là Bác Ngọc Dư (đàn kìm), Bác Ngọc Kỳ (kép độc). Mẹ tham gia đoàn hát từ lúc 10 tuổi theo phụ việc cho gánh hát của Trần Phềnh và sau đó về cộng tác cho đoàn Kim Chung (Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô). Mẹ em rất thành công với những vai đào võ. Nổi bật là vai Đổng Trác và Điêu Thuyền, cùng thời với Mẹ còn có các bác Huỳnh Thái, Kim Nguyên, Thúy Liệu, Thúy Định, cô Bích Hợp.. Mẹ gặp và kết hôn với Ba. Đến năm 1954, Mẹ và Ba đi tàu há mồm di cư vào Nam. Sau đó, Mẹ em không làm nghệ thuật nữa mà làm ở Bộ Thông Tin Dân Vận và Chiêu Hồi. Hiện nay Mẹ em đang nằm cấp cứu tại Bệnh Viện Thống Nhất vì bệnh Nhồi Máu Cơ Tim.    Em xin ngừng bút. Mong thư hồi âm của anh Bảo”.

(còn tiếp một kỳ)

 

Nhà báo, kịch sĩ, kịch tác gia Lê Văn Vũ Bắc Tiến tại vù trường Diamond năm 1993

Vợ chồng nhà báo, nghệ sĩ Lê Văn Vũ Bắc Tiến và Thu Nhi

Ảnh chụp lưu niệm nhà báo Lê Văn Vũ Bắc Tiến và cậu con trai Tiến Dũng tại nhà năm 2000, khi nhà báo này quyết định trở về sống ở quê nhà.

Cáo phó của gia đình về sự ra đi vĩnh viễn của nhà báo Lê Văn Vũ Bắc Tiến ngày 8 tháng 4 năm 2002

Ảnh chụp tang lễ nhà báo Lê Văn Vũ Bắc Tiến tại Sàigòn tháng 4 năm 2002

 

Nghệ sĩ Giang Kim, ca sĩ Cẩm Như đích thân mang quà từ phương xa gửi về giao tận tay cho MC, ca sĩ Tiến Dũng

 

    GIANG KIM từ Sàigòn bật lên tiếng reo mừng rỡ khi người viết báo tin số tiền mà một số thân hữu vừa nhờ chuyển về cho MC, ca sĩ Tiến Dũng sau khi họ đọc bài viết trên báo Viet Tide tuần qua. Số tiền đã có thêm được 320 đôla Mỹ, 100$ tieèn Canada, 200 ngàn VN, gom góp từ những tấm lòng vàng của ca sĩ Hồng Phúc (100$), chị Ánh (20$), nha sĩ Nguyễn Thị Ngọc Sương (100$), danh hài Hoài Tâm (100$). Đợt trước đã giao tận tay anh 200$ từ những tấm lòng của Phượng Linh, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan và TQB. Bên kia đầu giây, chị Giang Kim cũng cho biết, có thêm được 100$ từ Anh Đạt bạn thân bầu Hoàng An bên Canada, và 200 ngàn tiền VN của ca sĩ Vang Quốc Hải gửi đến.

   Không cảm động sao được, khi đồng hồ chỉ 1 giờ sáng, người viết còn nhận được một lời nhắn tin trên mạng Face Book của Nha sĩ Sương: “Nhờ B thứ tư ra văn phòng lấy 100$ chuyển về cho Tiến Dũng”. Với Hoài Tâm cũng thế. Chỉ cần đọc bài viết với những hình ảnh đau lòng của một người nghệ sĩ, trái tim của HT đã chùng lặng không ít. Và Hồng Phúc (qua Mỹ sau này đi hát Khánh Ly đổi tên cô là Khánh Phương), tuy đã bỏ nghề ca hát 18 năm qua, nhưng kỷ niệm thời đi hát với đoàn Thiên Kim, Quang Thảo cùng ban nhạc Thùy Linh Giang, Hải Dương, Lan Thảo, Tiến Dũng, Mai Chinh (uốn dẻo), Quang Thắng, Quang Thuận, Thanh Trúc (múa lửa), ảo thuật David Hùng.. làm sao quên được. Chỉ cần một cú điện thoại thông báo hoàn cảnh Tiến Dũng, Hồng Phúc xin một cái hẹn để gửi ngay món quà về cho người bạn cũ. Chắc chắn Tiến Dũng sẽ đọc được những giòng viết này, hy vọng nó sẽ là những viên thuốc giảm đau, bởi bạn bè dù xa nhau một không gian lớn, một thời gian dài, vẫn còn mãi những tình cảm cũ chẳng hề nhạt phai.

 

Dù hoàn cảnh khó khăn nào, người nghệ sĩ này vẫn không cô đơn.

Lá thư cám ơn của ca sĩ, MC Tiến Dũng đến những thân hữu gửi quà veê cho anh

 

Từ trái sang phải: TQB, nhạc sĩ Bảo Thu, ca sĩ Thanh Tâm, ca sĩ Băng Châu tại đài truyền hình VHN trong buổi thu hình phỏng vấn show 1001 Khuôn Mặt Thương Yêu

 

    BẢO THU cùng vợ về tới Sàigòn được hơn 2 tuần, tuy nhiên cuộc phỏng vấn truyền hình 1001 Khuôn Mặt Thương Yêu do TQB thực hiện trên đài VHN mới trình chiếu xong 2 kỳ vào tuần qua và được khán giả nhiều tiểu bang gọi về hỏi thăm anh chị rất nhiều. Trong số những người đã xem và gọi đến, có Thiếu Tá Trương Văn Trọng (Sư đoàn 21BB) hiện ở tiểu bang Tennessy là chồng trước đây của cố ca sĩ Thu Anh, tiếng hát trước đây từng là học trò của tác giả Giọng Ca Dĩ Vãng và cô cũng là em gái cùng mẹ khác cha với nữ nghệ sĩ cải lương Phượng Liên. Trên điện thoại, Ông bùi ngùi nhắc lại một thảm kịch đã xẩy đến cho gia đình, khiến Ông và hai con trai phải lìa xa Mẹ vĩnh viễn. Mời bạn đọc theo dõi câu chuyện trong số này.

 

Ảo thuật gia Nguyễn Khuyến (Bảo Thu) trổ tài những màn biểu diễn “mì ăn liền” ngay trên Đài.

 

Hình ảnh hạnh phúc của chú rể Đào Anh Tuấn và Ngân Cô Dâu trong ngày cưới thứ bẩy 25 tháng 5 năm 2013 tại nhà hàng MoonLight (Cali)

 

    Trong trí nhớ người viết, buổi hội ngộ lần đầu với Đào Anh Tuấn là ở giữa Sàigòn cách đây khoảng 20 năm. Cuộc gặp gỡ tình cờ chỉ 20 phút nhưng để lại nhiều dấu hiệu thân thiện cởi mở dành cho nhau. Thời gian đó, tôi biết Đào Anh Tuấn qua một vài phim anh tham gia tại quê nhà. Năm 1993, tên tuổi nam diễn viên này được nhắc đến nhiều trên các trang báo hải ngoại, đó là lúc Anh thủ diễn một vai chánh – vai Đặng Vũ – trong bộ phim Thiên Đường Đánh Mất, có sự tham dự của Như Loan, Nguyễn Cao Kỳ Duyên..    

   Ngoài khả năng đóng phim, Đào Anh Tuấn còn sở hữu một giọng hát, giọng nói thật ấm, và nhất là qua những ca khúc của Trần Thiện Thanh, tiếng ca Đào Anh Tuấn vô cùng truyền cảm. Thời bé Trần Thiện Anh Chí (con trai Anh Nhật Trường) lên 7, 8 tuổi, cháu đã thích và thuộc luôn tên cả bài chú Đào Anh Tuấn hay hát, Anh Chí kể rõ ràng: “Con thích Chú Tuấn hát bài Tâm Sự Người Lính Trẻ”.

   Cách đây 2, 3 năm, Anh lại góp mặt cùng với nghệ sĩ Mai Phương trong vở kịch Roméo và Juliette, nghe đâu buổi diễn cũng rất thành công tại Saigon Performing Art tại Quận Cam.  

    Thứ bẩy tuần qua, ngày 25 tháng 5, ca sĩ Đào Anh Tuấn và Ngân Cô Nương (nhà hàng Tự Do) đã có một tiệc cưới rất ấm cúng với sự hiện diện của nhiều thân hữu đến từ nhiều nơi xa xôi. Cô dâu là một chủ nhân có nhiều kinh nghiệm tay nghề nấu ăn hơn 30 năm qua. Bắt đầu từ năm 1983, bảng hiệu Nhà Hàng Tự Do trên San José do chị Ngân làm chủ đã thu hút rất đông người ủng hộ với những món có một không hai như lẩu dê tiềm thuốc bắc, gỏi đu đủ gan cháy, gỏi chân gà rút xương, dê rựa mận.. Đang thành công ở San José, chị giao cơ sở lại cho gia đình chăm sóc và dọn về Quận Cam mở tiệm vào năm 1989. Tính đến nay, nhà hàng Tự Do ở Quận Cam, vẫn đóng đô một địa điểm duy nhất, 10284 đường Westminster, thành phố Garden Grove, điện thoại (714)725-1351. Mỗi tối rảnh rỗi, người viết thỉnh thoảng đi cùng với vài người bạn thân ghé ra Tự Do, đây cũng là dịp được nghe bạn bè mình hát cùng với một giàn nhạc one-man-band.    

    Trở lại với câu chuyện tiệc cưới của Anh chị Đào Anh Tuấn và chị Ngân, đêm đó rất vui. Chương trình ca nhạc có sự hiện diện và đóng góp của các nghệ sĩ Mai Ngọc Khánh, Mỹ Lan, Anh Chí, Đình Huấn, Khả Linh, Thúy Hương, An Khoa, Phi Vũ, nhiếp ảnh gia Billy Hùng, TQB.. qua phần giới thiệu chương trình của Anh Du Bích Tú và Lisa. Mọi người đêm nay, ai cũng uống say, như để muốn cùng vui với đôi uyên ương Ngân & Tuấn đang sống bên nhau vô cùng hạnh phúc. Mãi mãi là thế nhé, hai bạn yêu quý của người viết.

Từ trái sang phải hàng đứng là các nghệ sĩ An Khoa, TQB, MC Lisa, chú rể Đào Anh Tuấn, Đình Huấn và hàng ngồi từ trái là Minh Hạnh, Khả Linh và model HongKong

Từ trái sang phải là nhiếp ảnh gia Billy Hùng, ca sĩ Thiên Hương, ca sĩ Mai Ngọc Khánh, ca nhạc sĩ Đình Huấn, ca sĩ Khả Linh và model boy.

Từ trái sang phải: Nhà báo Đức Nguyễn, cô dâu Ngân Tiểu Thư, chú rể Đào Anh Tuấn, TQB

 

    Phương Hồng Quế và Trang Thanh Lan đầu tiên tổ chức chung một buổi sinh nhật tại nhà vào tối thứ sáu tuần này (31/5). Đêm đó, mặc dù người viết bận ở show Tình Ca Mùa Hạ bên Paris Dance nhưng chắc chắn phải đến để cùng nhóm Nghệ Sĩ Một Thời Sàigòn Nhớ  chọc ghẹo đôi rắn này cho thỏa thích. Bạn bè gọi hai cô là Thanh Xà, Bạch Xà vì 2 người đều sinh ra trong tháng 6 của năm Quý Tỵ 1953. Không biết có phải vì lý do sinh cùng năm cùng tháng hay không mà 2 người vô cùng thân thiết như bóng với hình từ những ngày đầu đi hát 1968, 1969.. Buổi tiệc nào, có một vài chai Cordon Bleu, bảo đảm bạn bè sẽ được nghe họ kể lại hàng trăm kỷ niệm Sàigòn ngày cũ trở về. Càng nghe, lại càng yêu quá giòng nhạc Trầm Tử Thiêng một lần đã viết: “đêm nhớ về Sàigòn – thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi – những con đường thèm đôi chân vui”… Ôi ngày xưa ấy, giờ còn tìm thấy đâu..

   Số tới, sẽ là những tấm ảnh rất độc đáo của tiệc sinh nhật Phương Hồng Quế và Trang Thanh Lan với sự hiện diện của rất nhiều nghệ sĩ tại nhà Michael Trụ chiêu thư sáu 31 tháng 5/2013 như MC Ngọc Phu, Ngọc Minh, Phượng Linh, Phượng Khanh, Kiều Loan, Hương Lan, Ngọc Huyền, Ngọc Thúy, Huỳnh Nhật Tân, Quốc Anh, Mai Lệ Huyên, Linh Phương, Nguyễn Tiến Dũng, Mạnh Cường, Calvin Hiệp, Đoàn Quốc Đạt, TQB..

 

Từ trái sang phải: Mỹ Chi, Phú Quý, chú rể Gia Bảo và vợ, MC Trấn Thành trong tiệc cưới ngày 25 tháng 5/2013 tại White Palace

 

    MỸ CHI tối thứ bẩy tuần qua (25/5) đã hạnh phúc trong vai trò người mẹ khi nhìn thấy cậu con trai Trương Vương Gia Bảo cùng cô con dâu sống giữa những yêu thương tràn ngập đổ về tiệc cưới được tổ chức tại White Palace. Rất đông những nghệ sĩ nổi tiếng đã đến tham dự chúc mừng như Bảo Quốc, Tú Trinh, Trấn Thành, Phú Quý, Hoài Linh, Chí Tài, Kiều Mai Lý, Hồng Tơ, Minh Béo, Minh Nhí, Tấn Hoàng, Hữu Châu, Thiên Kim, Cẩm Như.. Nhưng cảm động nhất, đó là sự xuất hiện của một tên tuổi điện ảnh lừng lẫy của SG hơn nửa thế kỷ trước, đó là Thẩm Thúy Hằng. Chị nói: “Tôi quý Mỹ Chi như em ruột. Ngày vui của gia đình em, tôi phải đến dự và chúc mừng em”. Câu nói của Người Đẹp Bình Dương T.T.H đêm hôm đó, quả là hơn những món quà vật chất bội phần.

Tiệc cư1ơi con trai danh hài Mỹ Chi vô cùng ấm áp tình bạn

Nguyễn Hữu Huy Công Tử và danh hài Hồng Tơ

Từ trái sang phải Nguyễn Hữu Huy, danh hài Mỹ Chi, nghệ sĩ Giang Kim, doanh nhân dễ yêu Kim Hằng

Trong ảnh có Trịnh Khánh Thiêng (đến từ Mỹ), danh hài Phú Quý, Huy Công Tử

Từ trái: diễn viên Xuân Hùng, Huy Công Tử, nghệ sĩ Giang Kim

NINH VIẾT GIAO : Thủ tục của một cuộc hát phường vải – lược trích trong “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao


  Thủ tục của một cuộc hát phường vải – lược trích trong “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao  
     
(13h: 11-07-2010)
Phần I: Hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi Chúng ta đã biết, hát phường vải là một loại hát ví “đặc biệt nhất” ở vùng Nghệ Tĩnh. Cần phải nắm được cụ thể diễn biến của một cuộc hát phường vải như thế nào mới thấy rõ tính chất đặc biệt của một cuộc mà không ai gọi là một đêm, vì nếu gọi là một đêm hát phường vải thì trong đêm đó phải có mọi chặng, mọi bước  mà hát hường vải trải qua. Gọi là môt cuộc hát phường vải vì hát phường vải thường kéo dài hai, ba, bốn, có khi năm, sáu đêm mới đủ mọi chặng, mọi bước.

 

Thông thường một cuộc hát phường vải phải qua ba chặng.

 

  • Chặng thứ nhất gồm hát dạo, hát chào mừng và hát hỏi. Chặng này chưa quan trọng lắm. Nội dung câu hát chưa thật phong phú và sâu sắc.
  • Chặng thứ hai chỉ có hát đố, hát đối. Đương nhiên, ở chặng này trai gái chỉ thử th1ch trí thông minh của nhau, chỉ tìm hiểu vốn kiến thức của nhau, nhưng đây là chặng quan trọng, vì hát phường vải là nơi gặp gỡ của “trai tài gái sắc”.
  • Chặng thứ ba gồm hát mời, hát xe kết (hay còn gọi là hát tình nghĩa) và hát tiễn tức là những câu hát lúc ra về, trái gái thổ lộ tình cảm với nhau chủ yếu là ở chặng này. Những câu hát có nhiều gúa trị về nội dung và nghệ thuật đều xuất hiện ở chặng này.

 

Để thấy rõ các bước đi của một cuộc hát, đặng qua đó hiểu thêm về quy cách, tính cách của hát phường vải, xin mời các bạn đi sâu từng chặng một.

 

1. Chặng thứ nhất

a. Hát dạo

Mở đầu cho một cuộc hat phường vải, bao giờ người ta cũng phải hát dạo vài câu. Tối đến, tại một gia đình nào đó, chị em đã tập trung mươi hai người để kéo sợi. Một lúc sau bên nam kéo đến. Để cho bên nữ biết là mình đến hát, từ ngoài đường, ngoài ngõ, bên nam phải hát lên vài câu gọi là hát dạo:

Dừng xa khoan kẹo ơi phường

Hình như có khách viễn phương tới nhà.

Trong câu hát, bên nam thường tỏ vẻ kiêu kỳ, khi thì tỏ ra ngẫu nhiên mình đến hát:

Đi ngang trước cửa nàn Kiều,

Dừng chân đứng lại dặt dìu đôi câu.

Khi thì tỏ ra mình đã nghe tiếng tăm bên nữ, hôm nay đến hát:

Đồn đây có gái hát tài,

Để ta đối địch một vài trống canh…

Đôi khi họ cũng tỏ ra khiêm nhường:

Đi qua nghe tiếng em đàn,

Lá vàng xanh lại, sen tàn trổ hoa.

Nhưng các chàng trai thường hay mĩ hóa, khách quan hóa cuộc đi hát của mình:

Đi ngang thấy cảnh tưng bừng,

Tay gò cương ngựa, chân dừng bánh xe.

Cũng có khi bên nữ hát dạo trước. Thấy chàng trai bàn tán chộn rộn ngoài đường, các cô không ngại ngùng e lệ, thánh thót cất lên tiếng hát:

Bóng ai thấp thoáng vường hoa,

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân.

Đôi khi các cô cũng mĩ hóa cái lúc chàng trai đến hát, để thể hiện thái độ hồn nhiên, nhưng phấn khỏi, hồ hởi, trân trọng của mình:

Khoan khoan dóng trống mở cờ,

Hình như nho sĩ tới bờ đào nguyên.

Sau khi đã nghe bên nam hát dạo rồi, nếu là người cũ, các cô tỏ rõ tâm trạng của mình ngay:

Mấy lâu anh mắc (bận) chi nhà,

Để em dệt gấn thêu hoa chịu sầu.

Còn nếu là người mới, chị em cũng đắn đo đôi chút:

Đến đây muốn hát muốn đàn,

Sợ lòng con cậu cháu quan khó chiều.

Những lúc như vậy bên nam phải đả thông để tỏ rằng không phân biệt giàu nghèo, sang hèn mà rất dân chủ,  bình đẳng trong khi hát:

Ở nhà con cậu cháu quan

Đi ra phường vải hát đàn nghe chung.

Nhưng đâu phải tất ả các chàng trai đến hát đều được các cô đón tiếp nhiệt tình. Nhiều chàng trai đã phải bỏ ra về ngay từ phút đầu. Ở Nam Đàn có một chàng trai thường hát những câu nghịch ngược, tất cả các phường vải trong vùng đều chán mặt anh ta. Tại một phường, đêm nào anh ta cũng tới hát lài nhài, một đêm, một cô lên tiếng:

Coi chừng cũng nỏ có màu,

Thuyền tình trở lại cho mau kẻo ghềnh.

Biết có hát nữa cũng vô vị và có thể mua nhục vào mình, cháng trai lẳng lặng bỏ đi sang phường khác. Còn nhiều chàng trai nữa đã mang xấu hổ vào mình, nếu không tỉnh mà cứ cố đấm ăn xôi.

Lại có một số cháng trai đến chỉ để thăm dò trình độ của các cô bên nữ, xem trong đó có thầy gà nào ra trò không, im hơi lặng tiếng để đoán định, khả năng của đối phương. Đối phương biết được lên tiếng chỉ trích:

Đến đây không hát thì hò,

Đâu phải con cò chỉ ngẳng cổ nghe.

Hoặc có chàng đến hát, chỉ qua vài bước dạo thôi đã gặp hát đối rồi, không đối được, không hát được, đứng mãi cũng bị các cô khiêu khích:

Sao mà chuột chạy cùng sào,

Anh đà hết chuyện xuống ao mà rờ.

Ngay cái bước hát dạo cũng đã lôi thôi rồi, đâu phải dễ trót lọt như mọi người tưởng.

Cũng nên nói thêm không phải chỉ trai gái đang thời kỳ thanh xuân mới đi hát, mà đàn ông có vợ, đàn bà có chồng cũng hay đi hát. Để cho các bà vợ, các ông chồng ở nhà được yên tâm, trước khi hát, người ta thường hay xác định thái độ:

Ai có chồng thì nói chồng đừng sợ,

Ai có vợ thì nói vợ đừng ghen,

Đến đây hò hát cho quen,

Rạng ngày ai về nhà nấy,

Há dễ ngọn đèn hai tim.

Trên đây là vài nét về hát dạo, nó có tính chất như phần giáo đầu của một đêm hát chèo, hát tuồng. Hạt dạo xong bên nữ bước qua hát chào mừng.

 

b. Hát chào hát mừng

Các loại hát ví khác không có hoặc ít khí thấy bước này. Hát chào hát mừng tăng tính cách lịch sự của người hát phường vải, tăng vẻ lịch sự cho ngưới hát, ca nam lẫn nữ. Khi bên trai đến hát, bên nữ thường chào mừng bằng những câu khá niềm nở, khá cung kính. Các câu hát chào mừng đó, khi thì e dè bóng gió:

Mấy khi khách tới vườn đào,

Trăm hoa mủm mỉm đón chào đông quân.

Khi thì mạnh dạn tha thiết:

Cau non tiệm chũm lòng đào,

Trầu têm cánh phượng ra chào bạn quen.

Khi thì trang trọng kiểu cách:

Chào chàng bước tới vườn đào,

Sấm ra dưới biển, gió trào trên cây.

Nhưng tất cả đều ngụ tình, đều nói lên lòng mừng rỡ, sung sướng vì được gặp nhau:

Vừa ra gặp bạn giữa đường,

Cũng bằng tiến sĩ trong trường bước ra.

Và đều có tính chất ca ngợi buổi gặp gỡ đó:

Bữa nay ta lại gặp ta,

Giá như lụa hạ thêu hoa vẽ rồng.

Khi bên nữ hát chào mừng rồi thì bên nam cũng phải hát chào mừng lại. Nội dung và tính cách lời chào mừng của bên nam cũng như bên nữ, tức là phải trang nhã, khiêm tốn:

Đến đây mừng cảnh mừng hoa,

Trước mừng lân lý sau ra mừng nường.

—-

Mừng nàng áo vải hồ tơ,

Cửi canh lão luyện, tay đưa mỏng mềm.

Sau nay người ta thấy bước hát dạo không được tự nhiên cho lắm, thì hát chào mừng thay cho hát dạo.

 

c. Hát hỏi

Khách đến nhà, chào mừng xong rồi thì phải hỏi quê quán, tên tuổi của khách. Ở đây cũng vậy, bằng câu hát, bên nữ hỏi bên nam quê quán ở đâu:

Bữa ni chàng mới tới nhà,

Hỏi chàng coi thử ở xa hay gần?

Cha mẹ thế nào:

Chữ rằng hải hoác sơn cao,

Xuân thu nay đã bước vào tuần mô?

Anh em được mấy người:

Ơn trên phụ mẫu tại đường,

Hòe dình, Đậu quế phân phương mấy nghành?*

Tại sao biết đây mà đến:

Hỏi chàng khách lạ bóng trăng,

Bỗng đâu mà biết Kim Lăng có chùa?

Tên họ là gì:

Hỏi anh tên họ là chi

Nói cho em biết, mai đi em chào?

Còn bên nam hỏi bên nữ, thường hỏi tuổi bao nhiêu:

Trăng lên khỏi núi trăng tròn,

Xuân xanh em mấy mà dòn rứa em?

Đã có chồng chưa:

Ngó lên trời bạc mây hồng,

Thương em hỏi thật có chồng hay chưa?

Sau mỗi câu hát hỏi thì bên nam hoặ bên nữ lựa ý, lựa lời mà đáp lại. Hát hỏi có tác dụng làm cho hai bên hiểu biết nhau. Bên nữ hỏi bên nam lý lịch từ xa đến gần, ít hỏi có vợ con chưa, vì mặc nhiên coi chàng trai đến hát là đến hỏi vợ rồi. Bên nam chủ động hơn, hỏi bên nữ tuổi tác, chồng con ngay từ câu hát hỏi đầu tiên.

Thời hát phường vải còn mang nhiều tính chất dân gian, bên nam trả lời thế nào không rõ, chứ từ ngày hát đố, hát đối mang nhiều tính chất chữ nghĩa, bên nam ít khi trả lời thật thà tên họ của mình lắm. Chỉ một số người nổi tiếng trong làng hát phường vải mới nói rõ tên họ và quê quán của mình. Như Lê Nguyên Khái ở Trung Cần, đậu cử nhân, một tay “trỗi” về đặt câu hát hay và đối đáp tài tình đã trả lời:

Anh đây cử Khái, Trung Cần,

Con ông quan lớn ở gần bàu Sen.

Còn nói chung ít người nói rõ tên họ và quê quán của mình. Vì nói thật tên họ mà không đối, khống đáp được những câu hát đố, hát đố chặng sau sẽ xâu hổ, xấu hổ không chỉ hôm đó mà còn mang tiếng mãi về sau. Nên các chàng trai thường tìm cách trả lời loanh quanh, chung chung:

Tên anh tên bưởi tên bòng,

Tên cam tên quýt em hòng hỏi chi.

Hoặc trả lời một cách kiêu kỳ mà mơ hồ:

Quê anh vốn ở Hoan Châu,

Họ hoàng, tên giáp xuân thu đôi mười.

Hoan Châu là tên cũ của đất Nghệ Tĩnh. Còn hoàng giáp là những người đậu nhị giáp tiến sĩ (học vị cao hơn tiến sĩ). Có người trả lời một cách nghịch ngược:

Quê anh vốn ở Nam Đàn,

Họ anh là Nguyễn, tên rằng “Lý Mây”.

Nam Đàn có biết bao nhiêu là làng xã, biết anh ta ở làng xã nào. Còn cái tên “Lý Mây” nói lái lại là “lấy mi”.

Sau hát hỏi thường có hát phong cảnh. Các câu hát phong cảnh thường ca ngợi cảnh đẹp nơi mình đến hát, hoặc cảnh đẹp quê hương mình, như những câu:

Nam Đàn gió thổi phi phòng

Vân Sơn mây bá, Phù Long rồng chầu.

—–

Vui thay Gia Lạc, Kim Liên,

Mâu Tài của tốt, bàu Sen hoa nhiều.

—–

Đất yên quả có cảnh Hà,

Nước Hà tĩnh túc, sen Hà thanh tao.

—–

Vui thanh cảnh đẹp vui thay,

Bồng lai có phải chốn này hay không?

Sau này đến chặng hát đố, hát đối, người ta hay lấy cảnh của địa phương mình (tức làng mình hay làng chung quanh) để bẻ câu hát, do đó hát phong cảnh không còn là một bước riêng nữa. Ngay ba trong bốn câu ví dụ trên đã mang tính chất hát đối rồi. Như câu đầu đã mang tính chất chơi chữ: Phi phong là gió thổi, vân là mây, long là rồng.

Ba bước trên trong chặng đầu của một cuộc hát phương vải thời gian không hết bao nhiêu mà dùng trí cũng chưa nhiều. Nó mới là chặng mào đầu đưa chuyện mà thôi, nên giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của câu hát có bị hạn chế phần nào.

 

=============

* Hòe đình, Đậu quế hay môn quế: lấy tích trong câu “Vương thị tam hòe, Đậu yên ngũ quế”, trước sân nhà họ Vương có trồng ba cây hòe sau sinh ba con trai, trước cửa nhà họ Đậu (ở Yên Sơn) có trồng năm cây quế, sau sinh ngũ quý tử. Các con của hai nhà này đều học hành giỏi giang, đỗ đạt, làm nên danh giá.

Phần II: Chặng thứ hai (hát đố, hát đối).

http://vidamdodua.com/index.php?Module=Content&Action=view&id=564&Itemid=678

X.V. : Hy vọng ví, giặm Nghệ – Tĩnh sẽ được công nhận là Di sản VH phi vật thể thế giới, VIETNAM


31.03.2013 19:45:54

Hy vọng ví, giặm Nghệ – Tĩnh sẽ được công nhận là Di sản VH phi vật thể thế giới

VN Times –

Ngày 23/3, Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Trưởng phòng Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết: Dân ca ví, dặm Nghệ – Tĩnh chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới năm 2014.

Ví dặm nghệ tĩnh

Biểu diễn dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012

 

Tất cả hồ sơ về dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được nhanh chóng hoàn thiện, chính thức trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) muộn nhất ngày 31/3. Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh hiện nay được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở 259 làng, thôn, xóm, khu dân cư của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung Việt Nam).

 

Theo Phòng Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ VH,TT&DL): Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể thế giới năm 2014.

 

Tất cả hồ sơ về dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được nhanh chóng hoàn thiện, chính thức trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) muộn nhất ngày 31/3.

 

Ví và giặm là hai thể hát dân ca không có nhạc đệm, được cộng đồng người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt và lao động. Dân ca ví, giặm mang đậm bản sắc địa phương về điệu hát, ca từ, giọng điệu cũng như âm điệu.

 

Theo các chuyên gia ước tính thì hiện nay có khoảng 15 điệu ví và 8 điệu giặm được gọi tên theo bối cảnh cuộc sống, lao động, nghề nghiệp như: Ví phường vải, ví đò đưa, giặm ru, giặm kể…

 

Ví, giặm thông thường có ca từ bằng thơ dân gian cô đọng, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hát nên luôn được trao truyền, kế thừa và sáng tạo. Ngoài ra, loại hình dân ca này cũng có nội dung phản ánh xã hội, lịch sử; thể hiện những tâm tư, tình cảm, tình yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa.

 

Bên cạnh đó, dân ca ví, giặm còn giáo huấn, triết lý trọng nghĩa, trọng tình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam.

 

Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh hiện nay được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở 259 làng, thôn, xóm, khu dân cư của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung Việt Nam). Đa số người Nghệ-Tĩnh đều biết hát ví, giặm vì loại hình dân ca này chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa, cuộc sống của họ.

 

Hiện nay, đã có 51 câu lạc bộ dân ca ví, giặm; có hơn 800 nghệ nhân và nhiều cá nhân ở hai tỉnh; các nghệ sĩ, nhạc sĩ chuyên nghiệp ở Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ ở Nghệ An và Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh quan tâm tới việc diễn xướng, truyền dạy, bảo tồn và phát huy dân ca ví, giặm.

 

Được biết, tại tỉnh Nghệ An, không gian của dân ca ví, giặm Nghệ-Tĩnh tập trung ở 167 làng, thôn, xóm, khu dân cư thuộc 59 xã, phường trong 14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh.

 

X.V

http://vntimes.com.vn/san-khau/san-khau-ba-mien/29095-hy-vong-vi-giam-nghe-tinh-se-duoc-cong-nhan-la-di-san-vh-phi-vat-the-the-gioi.html