HẠNH NGUYÊN : Sức sống của một “đặc sản” xứ Nghệ, VIETNAM


Sức sống của một “đặc sản” xứ Nghệ
06/03/2013
 
Tiết mục tham gia Liên hoan tiếng hát dân ca xứ Nghệ 
 
Điệu hò từ lao động sản xuất
 
Hát ví, hát dặm xưa kia đã ăn sâu vào mỗi nếp nghĩ, sinh hoạt của cộng đồng người Nghệ An, Hà Tĩnh và làm nên những nét riêng biệt của người xứ Nghệ không thể lẫn vào đâu được. Đã có nhiều nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển, trường tồn …của lối hát đặc biệt này.
 
Không gian khởi xướng cho tất cả các loại hình dân ca đều xuất phát từ lao động, sản xuất và ví, dặm ở xứ Nghệ cũng không nằm ngoài quy luật đó. Mới đầu, dân ca ví, dặm xứ Nghệ còn thô sơ, mộc mạc, giản dị, xuất phát từ lời ca của những cô gái kéo sợi, đi cấy, dệt vải…nhưng sau đó theo thời gian thì ví, dặm phát triển lên một tầm cao mới với lề lối, bố cục chặt chẽ và hình thành nên những vần điệu  dân ca trữ tình, hấp dẫn làm say đắm lòng người.
 
Ví là “ví von”, chẳng hạn như “Thân em như hạt mưa sa. Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đồng”. Ví là “với”, bên nam hát đối đáp với bên nữ. Ví cũng là “vói”, bên nam đứng ngoài đường, ngoài ngõ hát vói vào trong sân, trong nhà đối đáp với bên nữ đang quay sợi, kéo vải…Còn dặm gần nghĩa với dắm lúa, điền nan. Ví, dặm là hai kiểu hát khác nhau nhưng đều có không gian diễn xướng gắn liền với lao động sản xuất, trong các làng nghề truyền thống, hoặc những lúc nông nhàn, lúc chèo thuyền, thả lưới ven sông, lên rừng lấy củi, hay mỗi dịp lễ hội… vì vậy ví, dặm thường được gắn với những tên gọi như ví phường Vải, ví phường Đan, ví phường Cấy, ví phường Củi… 
 
Cũng xuất phát từ hát ví, hát dặm mà đại thi hào Nguyễn Du từng có bài văn tế sống Nhị nữ Trường Lưu khi ông lặn lội từ Nghi Xuân sang Can Lộc để hát đối với hai cô gái nơi đây. Khi bước vào sân không may bị ngã thì liền có câu hát đối rằng: “Đến đây hò hát làm thân. Cúi đầu bái lạy trước sân làm gì?/Đất chi có đất lạ lùng. Đứng thì không chịu, nằm cùng lại cho”…Truyền rằng xưa, tại đất Kỳ Anh (Hà Tĩnh) có cô đào Nguyễn Thị Nhẫn nổi tiếng hát hay, đối giỏi khiến sĩ tử Phan Bội Châu ở đất Nghệ An cũng tìm gặp để thi thố tài năng.
 
Khi không gian diễn xướng của dân ca ví, dặm là phường nón, phường vải, phường cấy…không còn thì thay vào đó là những loại hình nghệ thuật khác mà âm hưởng của loại dân ca đặc sắc này vẫn là hồn cốt, là sự biến hóa, thăng hoa của loại hình mới. Điều đáng tự hào là ví, dặm – “Chất Nghệ” ấy lúc thì âm thầm, lúc lại mãnh liệt, và cho đến hôm nay vẫn không ngừng chảy trong đời sống. 
 
 
Nghệ nhân Nguyễn Khánh Cẩm (người tóc bạc)
 đang say sưa nói về dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh
 
Nguồn cảm hứng cho âm nhạc đương đại 
 
    Vượt qua rào cản về thời gian, sự khốc liệt của bom đạn chiến tranh, sự biến đổi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa…dân ca ví, dặm xứ Nghệ vẫn khẳng định được sức sống trường tồn của mình. Những nét tinh túy trong dân ca ví, dặm xứ Nghệ trở thành nguồn cội của các ca khúc đương thời, là nơi để những bài hát về Hà Tĩnh, Nghệ An được cất cánh.
 
Trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ví, dặm Nghệ Tĩnh đã tiếp thêm sức mạnh, nghị lực cho quân dân ta …Khi hòa bình lập lại vẫn còn những ca khúc đi cùng năm tháng mang âm hưởng của dân ca ví, dặm mà mỗi khi cất lên người nghe nhận ra ngay, ví như: “Một  khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý; “Nhớ về Hà Tĩnh” – NS Giang Minh Thực; “Hà Tĩnh trên đường chiến thắng” – NS Thái Quý; “Qua đèo ngang” – NS Phan Huỳnh Điểu; “Người con gái sông La” – NS Doãn Nho; “Hà Tĩnh chiến thắng” – NS Hồ Bắc; “Nghe câu ví phường vải” – NS Vũ Minh Vỹ…
Và như lời của bà Phan Thư Hiền, Phó giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh thì “với sự nỗ lực của chính quyền địa phương 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh trong việc bảo tồn, phát triển dân ca ví, dặm xứ Nghệ và sự yêu mến loại hình dân ca này của các nghệ nhân, của toàn thể nhân dân, những không gian diễn xướng năm xưa đang dần được tái hiện. Điều đó được thể hiện trong Liên hoan dân ca ví, dặm xứ Nghệ vào tháng 6-2012, hoạt động của gần 100 câu lạc bộ trên địa bàn 2 tỉnh, trong phong trào nghệ thuật quần chúng thường ngày”…
 
Chỉ cần chứng kiến sự đam mê của nghệ nhân dân gian Nguyễn Khánh Cẩm (xã Kỳ Bắc, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) khi truyền dạy dân ca ví, dặm cho con em thì cũng  hiểu được sức sống của loại hình dân ca này như thế nào. Ông Cẩm cho biết: “Vì yêu và say dân ca ví dặm nên tôi mới tự thân vận động thành lập câu lạc bộ dân ca Kỳ Anh, ngoài ra tôi còn dạy hát dân ca cho học sinh của 32 trường cấp 2 trong toàn huyện. Cả nhà tôi có truyền thống thích hát và hát hay dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh”.  
 
Tháng 12-2012, dân ca ví, dặm xứ Nghệ được công nhận là Di sản phi vật thể mang tầm quốc gia. Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Thanh, Trưởng ban nghiên cứu văn hóa nghệ thuật nước ngoài của Viện văn học nghệ thuật Việt Nam đã nói trong Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “Dân ca ví, dặm Nghệ – Tĩnh” theo tiêu chuẩn UNESSCO rằng: “Dân ca ví, dặm xứ Nghệ tự thân nó đã, đang chứa đựng rất nhiều giá trị và thế hệ chúng ta hiện nay phải cố gắng để loại hình nghệ thuật này sớm trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
HẠNH NGUYÊN

BNN : Đông Mơi một thời hát ví, VIETNAM


Đông Mơi một thời hát ví
Làng Đông Mơi (xã Trung Nghĩa) nằm ở điểm cực tây trong hệ thống 49 làng Quan họ gốc của vùng Kinh Bắc và là một trong 2 làng Quan họ gốc của huyện Yên Phong. Cùng với dân ca Quan họ, nơi đây từng có loại hình nghệ thuật hát Ví – một hình thức diễn xuớng dân gian gắn với cuộc sống lao động những ngày nông nhàn, ngày nay chỉ còn trong ký ức của những người cao tuổi.

Theo lời cụ Nguyễn Đức Thị, 91 tuổi, một trong những bậc cao niên nhất làng Đông Mơi thì từ thuở thiếu thời, hát Ví là loại hình ca hát phổ biến, được lớp thanh niên ưa chuộng. Để có một cuộc hát Ví thật đơn giản, vì hát Ví là hát đối đáp nên có khi chỉ với hai người cũng có thể thành một cuộc hát Ví.

Đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, lại không còn nghe và hát Ví từ sau Cách mạng tháng Tám nên cụ Thị bảo không còn nhớ được nhiều bài. Đọc một đoạn còn nhớ nhất, cụ giải thích “Hát Ví là hát đối đáp, có khi chỉ 2 người cũng hát, đông người cũng hát, không cần hẹn trước mà nhiều khi các cô gái đi đường gặp chàng trai cầm tay trêu ghẹo, tỏ tình, cô gái đáp lại mà cũng thành hát Ví”. Người ta hát Ví quanh năm và dường như ở đâu có lao động, ở đó có hát Ví. Trước đây hát Ví được tổ chức thi, có trao giải để tạo sự hấp dẫn và tính sôi nổi. Theo như cụ Thị nói thì làng Đông Mơi có hai vợ chồng cụ Ngô Văn Tấc, Ngô Thị Nhị hát Ví nổi tiếng, dù thi ở trong làng hay đến đâu so tài cũng đều giành giải Nhất. Giờ đây, hai cụ đã mất, con cái đều ở Hiệp Hòa (Bắc Giang), trong làng cũng không mấy ai còn biết về nghệ thuật hát Ví xưa kia nữa. Hát Ví có nhiều nội dung: hát thơ, hát mời nước, mời trầu, mời điếu (mời điếu thuốc lào), hát thay nhau, hát kết… Những năm hát Ví còn phổ biến, nam thanh nữ tú cả làng Đông Mơi đều biết hát Ví.

Cuộc thi hát Ví ở Đông Mơi thường được tổ chức vào dịp lễ hội của làng, ngày 12 tháng Giêng âm lịch nhưng không phải năm nào cũng diễn ra. Giải thưởng cho người hát Ví giỏi không nhiều, chỉ là chiếc khăn mặt, cái quạt và thêm chút tiền thưởng nhưng ai biết hát Ví cũng háo hức đăng ký thi. Thông tin về cuộc thi hát Ví thường được yết tại địa điểm thi. Đến cuộc thi hát Ví, đầu tiên người ta hát chào nhau, sau tùy lời đối mà đáp lại.

Theo một số tài liệu về nghệ thuật dân gian, hát Ví xưa kia rất phổ biến do hát Ví lẻ đối đáp bất cứ lúc nào, chỗ nào mà không cần tổ chức. Cuộc hát có thể diễn ra dài ngắn không ai định trước, lệ thuộc vào người đáp có tiếp tục hay không.

Hát Ví gắn liền với lao động của nhà nông, vì thế, nó còn gọi là hát cày cấy hay ví cày cấy. Hát trong vụ làm cỏ lúa gọi là hát vơ cỏ… Đây là loại hình dân ca có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với đời sống lao động và tình cảm của người nông dân các vùng trung du và đồng bằng Hà Bắc trước đây. Hình thức diễn xướng của hát Ví đơn giản, tự nhiên, gắn liền với quang cảnh thiên nhiên sẵn có và sinh hoạt đời sống hàng ngày của người lao động. Không cần dựng cảnh, không cần dàn nhạc đệm, cũng như chẳng phải hoá trang, người ta vẫn hát Ví. Cây đa, bến nước, dòng sông, con đò, cày cấy, tát nước… đều có thể làm nền, làm phông cho một cuộc hát Ví.

Cũng như các loại hình văn nghệ dân gian khác, hát Ví là hình thức thỏa mãn nhu cầu giao lưu văn hoá, văn nghệ, giao lưu tình cảm của người lao động một cách ý nhị và thuận lợi nhất. Nó trở thành món ăn tinh thần, bổ dưỡng tâm hồn tình cảm của người bình dân. Sau những ngày lao động vất vả, người ta thường mượn ánh trăng, dòng nước để thả hồn sang với bạn. Hát mãi, có khi thâu đêm, mặt trời ló rạng, đành giã bạn.

Hát Ví không khó bởi lời hát chủ yếu được phát triển trên nền tảng gốc là ca dao nhưng để có điệu hát Ví hay cần sự sáng tạo, thông minh và khả năng đối đáp linh hoạt, nhanh trí của người “nghệ sỹ”. Hát Ví ở Đông Mơi dần rơi vào quên lãng đã để lại một khoảng trống, một miền thương nhớ khôn nguôi…

Ngày 27/07/2011 – 14:41:12
Tác giả: BNN -*

http://bacninh.edu.vn/thptchuyenbacninh/news/new1257/dong-moi-mot-thoi-hat-vi

Hát ví – “đặc sản” của văn hoá xứ Nghệ, VIETNAM


Hát ví – “đặc sản” của văn hoá xứ Nghệ

Một chiều thành Vinh mưa lất phất bay, tôi tách khỏi dòng người đang hối hả ngược xuôi trên đường, tìm đến căn phòng nhỏ ở khu trung cư Quang Trung (phường Quang Trung, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) để gặp nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Ninh Viết Giao.

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Thanh, nhưng PGS Ninh Viết Giao lại mang trong mình tình yêu tha thiết với dân ca xứ Nghệ. Theo ông, dân ca xứ Nghệ là một di sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, tình yêu và tài hoa của bao thế hệ, cộng đồng dân cư, của các dân tộc anh em trên quê hương Nghệ An – Hà Tĩnh.

“Có thể xem đó là một thứ rượu đặc biệt, được chưng cất từ nụ cười và những giọt nước mắt, từ những say đắm mãnh liệt cũng như nỗi buồn đau khắc khoải, từ mồ hôi, nước mắt và máu của nhân dân, là tấm gương phản chiếu một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất đời sống vật chất và tinh thần, những nét riêng trong truyền thống, bản sắc, tính cách của con người xứ Nghệ”, PGS Ninh Viết Giao chia sẻ.

Những câu dân ca ví, giặm có mối gắn bó thân thiết với mỗi người dân xứ Nghệ. Ngay từ khi còn thơ ấu, các em nhỏ đã được nghe câu dân ca ru hời của bà, của mẹ. Lớn lên thêm chút nữa, các em truyền cho nhau những trò chơi dân gian qua các bài đồng dao, bài vè quen thuộc. Thời niên thiếu qua đi, những bài đồng dao trả lại cho đàn em, thanh thiếu niên lại hát những bài ví, giặm để đối đáp, bày tỏ tình cảm của mình với người yêu.

Theo PGS Ninh Viết Giao, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví; nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng với: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví.

Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn. Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để đối đáp. Và rồi, những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ bình dị, dễ thuộc, chau chuốt, mượt mà.

Một tiết mục trong liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ do UBND tỉnh Nghệ An tổ chức năm 2012. Ảnh: Chu Anh.

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát.

Câu ví truyền thống được xây dựng trên hệ thống điệu thức năm âm, giai điệu được lập thành trên một câu thơ lục bát hoàn chỉnh mà những âm chính của điệu thức được vận động biến hoá ở âm thứ sáu của cả hai vế trong câu thơ. Vậy là vần của thơ đã gắn liền với điệu của nhạc, nhịp điệu của câu hát được gắn liền với tiết tấu câu thơ.

Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng quyền tự do của chính mình. Rõ ràng, họ đã lấy hát ví làm ngọn giáo để chống lại tư tưởng kìm kẹp, o ép của chế độ phong kiến bấy lâu.

Khi câu hát cất lên người nghe vừa thấy dí dỏm lại vừa buồn man mác. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động xứ Nghệ.

Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Cách vận dụng những tiếng đệm này vào trong cơ cấu giai điệu còn được gọi là bắt giọng, giữ giọng, lấy hơi, giữ hơi… Đó là yếu tố xây dựng cao độ, trường độ, cường độ, là những nhân tố tạo màu sắc không thể thiếu trong cơ cấu giai điệu của hát ví.

Vào cuộc hát ví, bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm, vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những nghệ sỹ nông dân “hai sương một nắng” trên đồng ruộng vụt trở thành những “tiểu thư khuê các”, những “trang công tử hào kiệt”, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Hát ví xứ Nghệ đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức: Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Hai hình thức hát ví này đều có những điểm đặc biệt và độc đáo riêng.

Hiện nay, trong xu thế mở cửa và hội nhập, những loại hình nghệ thuật dân gian như hát ví đang có nguy cơ thất truyền và mai một. Thiết nghĩ, hát ví là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam cần được giữ gìn, bảo tồn và phát huy trong tương lai.

Theo Báo Quân đội nhân Dân

http://www.hoidoanhnghiepnghetinh.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=541:-hat-vi-c-sn-ca-vn-hoa-x-ngh-&catid=42:dien-anh&Itemid=251

Hát ví xứ Nghệ, VIETNAM


Hát ví xứ Nghệ PDF In Email

Hát ví là lối hát giao duyên nam nữ phổ biến ở Nghệ Tĩnh vào cuối thế kỷ XIX. Chưa được chứng minh rõ ràng nhưng có nhiều cơ sở để nhận định rằng có thể hát ví đã thịnh hành từ thế kỷ thứ XVII.

Nếu đưa ra nhận xét rằng hát ví bắt nguồn từ điệu hát ca của cư dân vùng sông nước Lam thì cũng chưa hẳn đã là lời lý giải thuyết phục . Thực tế có rất nhiều loại hát ví như : Ví đò đưa, ví phường vải, ví phường nón, ví phường cấy, ví phường buôn, ví trèo non … “Phường” là từ địa phương dùng để chỉ một hoạt động mang tính tập thể. Theo cách nghĩ của tôi hát ví là làn điệu dân ca mang tính ngẫu hứng bắt nguồn từ lối sống cộng đồng, được dân gian hóa và trở thành quen thuộc trong lối sống thường nhật, sự ngẫu hứng này đã làm cho cuộc sống sinh động hơn, sự ngẫu hứng, khoáng đạt được đan xen cả trong quá trình lao động và nông nhàn.

Hát ví chủ yếu là lối hát trữ tình .Có một nét rất đặc trưng là lời hát ví thường là câu văn thể lục bát hay lục bát biến thể nhưng sử dụng rất ít từ Hán – Việt. Với cách sử dụng rất nhiều từ địa phương thân thuộc nhưng lại đạt được phong thái tự nhiên. Sự chải chuốt đó mang đến cho lời hát trữ tình giàu tính nhạc điệu bay bổng ngân vang mà rất gần gũi mang đậm chất của người dân xứ Nghệ.

– Một ngày hai bận trèo non
Lấy chi mà đẹp mà giòn hỡi anh

– Một ngày hai bận cơn đèn
Lấy chi má phấn răng đen hỡi chàng

– Đưa anh ra tận cầu Dằng
Tình so Ngàn Hống, ngãi bằng rào Trum

Hát đò đưa cũng là một lối hát ví đặc trưng của cư dân sông nước. Giọng hát ngân nga lẫn vào dòng chảy của con nước, khi là lời tự tình của trai gái , khi bày tỏ mối đồng cảm. Khi thì hát với những con thuyền xuôi ngược, khi thì hát với chính mình với đất trời với tiếng khua của mái chèo, với tiếng sóng vỗ của mạn thuyền rồi bỗng nhiên có tiếng hát đối vọng lại từ bờ, cứ như thế như thế con thuyền khuất dần cùng giọng hát âm vang hòa vào tiếng sóng

– Bóng trăng em tưởng bóng đèn
Bóng cơn em tưởng bóng thuyền anh xuôi

– Nác chảy cho bè anh trôi
Ai bắt bè anh lại kết nên đôi vợ chồng

Trong các lối hát ví thì hát phường vải là lối hát chặt chẽ, qui cũ nhất và có luật của lối hát giao duyên. Không như các lối hát khác mang tính đại chúng thì hát phường vải khắt khe hơn, có cả sự tham gia của các nhà nho, các vị khoa bảng, các cậu học trò.

Điển hình cho lối hát này là hát phường vải Trường Lưu (Nơi đây ngày xưa nổi tiếng với là làng vải Trường Lưu và một dòng văn có tiếng vang lớn).

Hát phường vải diễn ra rất nhiều chặng và có thể kéo dài trong thời gian dài có lẫn cả đố và đối đáp nên nó đòi hỏi trình độ của các phường hát vì lý do này mà hát phường vải chỉ thịnh hành ở những vùng có truyền thống nho học. Nó gồm nhiều trường đoạn được phân khúc khá rõ ràng :

Khi “Phường” hát con trai đến thì đánh tiếng ngay từ ngoài ngõ:
Chốn này vui vẻ tưng bừng,
Hạc nghe tiếng phượng xa chưng tới nơi
Phường con gái đang dệt vải , xe sợi sẽ hát đối lại:
Dừng xa khoan kéo ơ phường
Hình như có khách viễn phương tới nhà

Thế là hai phường bắt đầu hát dạo, hát hỏi, khi đã say thì hát hát chào mừng.
Trượng đoạn hay nhất là trường đoạn hát đố. Một trường đoạn rất khó cần cả kiến thức và văn chương.  Đoạn này diễn ra có thể nhiều đêm. Nhiều khi phường hát con gái còn mời cả thầy nho, thầy đồ về trùm kín mặt để đối lại với phường hát con trai. Bởi lý do này mà hát phường vải ngoài tính dân gian, trữ tình còn giàu chất trí tuệ.
Khi đã thân thiết là các màn “hát mời”, “hát xe kết” và cuối cùng là “hát tiễn”

-Anh về nước mắt dòng dòng
Thấu thiên thấu địa, thấu lòng em chưa?

-Ra về chín nhớ mười thương,
Bước chân lên ngựa cầm cương dùng dằng.

Sưu tầm

http://nghean.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=251:hat-vi-x-ngh-&catid=38:chuyen-de-hoi-thao&Itemid=94

Con trai NS Văn Cao: Không có chuyện trao bản quyền “Tiến quân ca” cho Nhà nước, VIETNAM


Con trai NS Văn Cao: Không có chuyện trao bản quyền Nhạc sĩ Văn Thao – con trai trưởng của cố nhạc sĩ Văn Cao

 

Con trai NS Văn Cao: Không có chuyện trao bản quyền “Tiến quân ca” cho Nhà nước

Thứ sáu 07/06/2013 16:13

Trước sự việc liên quan đến ca khúc của cha mình, Nhạc sĩ Văn Thao – con trai trưởng của cố nhạc sĩ Văn Cao và gia đình ông đã lên tiếng phản hồi.

 

– Thưa ông, trước sự việc đại biểu quốc hội Huỳnh Thành đưa ý kiến về việc nên chỉnh sửa và thay đổi một số ca từ trong bài “Quốc ca”, gốc là ca khúc “Tiến quân ca” của cố nhạc sĩ Văn Cao, ông nghĩ sao?– Gia đình chúng tôi hoàn toàn không có bất kỳ một ý kiến nào xung quanh câu chuyện này. Quyết định về Quốc ca là câu chuyện của Nhà nước. Nhưng có một điều thế này, như ai cũng biết đây là ca khúc đã đi vào lịch sử 7-8 chục năm rồi, với đầy đủ ý nghĩa của nó.

Đây cũng không phải là lần đầu tiên câu chuyện thay đổi Quốc ca được đem ra xem xét và bàn bạc. Việc này đã được thực hiện một lần rồi và cũng không thay đổi được nữa.

Đây là đợt sửa Hiến pháp của Nhà nước, nhưng trong đó không hề có nội dung bàn về việc chỉnh sửa hay thay đổi Quốc ca. Nếu có thì cũng chỉ là ý kiến cá nhân của một đại biểu quốc hội. Vì thế, gia đình không quan tâm và cũng không có bất kỳ ý kiến nào cả. Mà tôi nghĩ báo chí cũng không nên làm “ầm ĩ” lên.

Ca khúc “Tiến quân ca” của cố nhạc sĩ Văn Cao được chọn làm Quốc ca của nước Việt Nam từ 2.9.1945 đến nay

– Ông nghĩ gì về những ý kiến tranh luận trái chiều của giới văn nghệ sĩ?

– Tôi cũng theo dõi những ý kiến tranh luận đó. Hãy cứ để cho mọi người bàn bạc về sự việc này, lấy ý kiến của mọi người một cách khách quan nhất. Nếu cần thiết có thể lấy ý kiến của toàn dân.

– Nếu bây giờ, Quốc hội có quyết định sửa lời quốc ca, thì gia đình ông sẽ quyết định ra sao?

– Bao giờ Ủy ban thường vụ Quốc hội họp xong, có quyết định thì lúc đó mới bàn đến chuyện này.

Bút tích của nhạc sĩ Văn Cao chia sẻ về ca khúc “Tiến quân ca” của mình

– Theo một số nguồn tin cho biết, năm 2010, gia đình có làm đơn đề nghị trao bản quyền ca khúc “Tiến quân ca” lại cho Nhà nước. Sự việc này thực hư thế nào?

– Không có cái chuyện ấy (việc trao bản quyền lại cho Nhà nước – PV) đâu. Tôi là con trưởng của ông, tôi khẳng định là hoàn toàn không có sự việc trên. Có thể trong gia đình có một cá nhân nào đó có ý vậy thôi, chứ gia đình chưa hề bàn bạc, thống nhất hay quyết định gì về vấn đề này.

– Vậy hiện nay, bản quyền của ca khúc “Tiến quân ca” thuộc về ai?

– Gia đình đã trao bản quyền tác giả ca khúc “Tiến quân ca” của ông (nhạc sĩ Văn Cao – PV) cho Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam. Thế nên có bất kỳ vấn đề gì đó liên quan đến bản quyền ca khúc, cứ làm việc với ông Phó Đức Phương.

Bà Trần Lan Vinh (con dâu của nhạc sĩ Văn Cao, vợ nhạc sĩ Văn Thao) chia sẻ thêm ý kiến của cá nhân bà về sự việc này: Quốc ca không chỉ là một ca khúc đơn thuần, nó còn chứa đựng ý nghĩa lịch sử sâu sắc, Quốc ca đã đi vào lòng người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ, vì thế việc sửa đổi không thể làm một cách tùy tiện mà phải rất thận trọng.

 

Theo Trí thức trẻ

http://laodong.com.vn/Am-nhac/Con-trai-NS-Van-Cao-Khong-co-chuyen-trao-ban-quyen-Tien-quan-ca-cho-Nha-nuoc/120397.bld

 

DƯƠNG PHƯƠNG VINH :Quốc ca: ‘Văn Cao có sửa thì sửa’, VIETNAM


Quốc ca: ‘Văn Cao có sửa thì sửa’

TP – Đến ca từ Quốc tế ca cũng không thỏa mãn tất cả. Quốc ca Pháp bạo liệt hơn Tiến quân ca. Cho nên văn nghệ sĩ nổi tiếng được hỏi đều cho rằng không nhất thiết sửa lời Quốc ca Việt Nam.

Trần Đăng Khoa: “Nếu có sửa đổi thì sửa đổi Hiến pháp chứ không phải sửa đổi Quốc ca”
Trần Đăng Khoa: “Nếu có sửa đổi thì sửa đổi Hiến pháp chứ không phải sửa đổi Quốc ca”.

Hôm 4/6, đại biểu quốc hội Huỳnh Thành đã đề xuất sửa một phần lời bài Quốc ca cho phù hợp với tình hình mới, cụ thể là câu Đường vinh quang xây xác quân thù. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhạc sĩ Phó Đức Phương và nhạc sĩ – nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha có ý kiến khác.

Nếu sửa phải từ năm 1946 và người sửa là Văn Cao

Theo Trần Đăng Khoa, đến con của Văn Cao cũng không có quyền sửa Quốc ca. Ngoài câu chuyện bản quyền ra còn lý do khác. Anh Khoa nói:

“Trước đây, chúng ta cũng đã định thay Quốc ca. Đã có bao nhiêu nhạc sĩ tài danh thi với Văn Cao để sáng tác Quốc ca mới mà đều thua ông ấy cả. Mặc dù xét về tài năng, các nhạc sĩ tham gia cuộc thi không phải kém. Ngay cả Văn Cao có sáng tác Quốc ca để thi với Tiến quân ca của chính ông thì ông cũng sẽ thua.

Bởi kiệt tác ấy, nó là nó cộng với cái ở ngoài nó. Đó là những kỷ niệm đã trở thành linh thiêng của cả một dân tộc và cả một thời đại. Những tác phẩm khác, dù cũng rất hay, nhưng không có cái thế mạnh này. Vì thế, không ai thắng được Văn Cao. Cũng không thể thay Quốc ca được.

Nếu cần sửa đổi thì sửa đổi Hiến pháp chứ không phải sửa đổi Quốc ca. Nếu có sửa Quốc ca thì phải sửa từ năm 1946, khi Tiến quân ca thành Quốc ca. Và người sửa chỉ có thể là Văn Cao! Bây giờ Văn Cao, đã thành người trong cõi nhớ thương rồi, thì ai sửa được.

Quốc hội có quyền chọn hoặc bỏ hẳn, chứ không có chuyện thay đổi lời Quốc ca. Đến cả con Văn Cao cũng không sửa được, vì vi phạm luật bản quyền. Đây chỉ là ý kiến của một cá nhân, một đại biểu quốc hội, chứ không phải chủ trương của Quốc hội. Quốc hội không bao giờ ngớ ngẩn như thế.

 “Trong ca khúc, lời rất quan trọng nhưng lời chỉ là một phần của tác phẩm âm nhạc. Ra quốc tế, người ta cử Quốc ca chỉ có nhạc chứ có lời đâu. Mà phần lời thì đã thành một phần của lịch sử. Đừng đụng vào cõi thiêng”.Trần Đăng Khoa

Cũng cần nói rõ hơn rằng, ngày xưa Văn Cao viết Tiến quân ca chứ có viết Quốc ca đâu. Cụ Hồ và Quốc hội khoá đầu tiên năm 1946 đã sáng suốt chọn ca khúc này làm Quốc ca. Bây giờ chê ca từ Đường vinh quang xây xác quân thù thì cũng có lý, nhưng không phải cái có lý nào cũng làm được. Giai đoạn lịch sử đó nó thế, phải đằng đằng sát khí vì chiến tranh mà. Đó chỉ là một phần con người Văn Cao. Còn có một Văn Cao khác, Văn Cao nghệ sĩ. Chế Lan Viên gọi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày vĩ đại và năm vĩ đại thì Văn Cao gọi là Mùa bình thường mùa vui nay đã về… Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người… Hay chưa? Mới mẻ chưa? Cái tư duy tỉnh táo, vượt trước thời đại, có ai hơn được Văn Cao?!”.

Quốc ca là biểu tượng của lịch sử, không cần phản ánh Hiện tại

Đó là ý kiến của nhạc sĩ Phó Đức Phương. Ở góc độ công dân và người làm bản quyền, nhạc sĩ Phó Đức Phương phát biểu: “Không cần thiết thay đổi ca từ Quốc ca, vì bài này đã đi vào tâm khảm người dân cùng với thời kỳ khai sinh ra nhà nước Việt Nam.

Chưa kể sự thay đổi đó lại vô cùng phức tạp. Ngày xưa, tôi ở Cục Nghệ thuật Biểu diễn, trong Ban chấm thi Quốc ca mới, khổ ải vô cùng. Không thể tưởng tượng nhốn nháo, phức tạp thế nào. Có rất nhiều chuyện buồn cười suốt một năm trời. Ngoài ra trong vấn đề này còn có quyền sở hữu và quyền nhân thân được nhà nước và thế giới ghi nhận”.

Phó Đức Phương: “Ngày xưa tôi trong Hội đồng chấm thi Quốc ca mới, khổ ải vô cùng”
Phó Đức Phương: “Ngày xưa tôi trong Hội đồng chấm thi Quốc ca mới, khổ ải vô cùng”.

Nước Nga từng sửa lời Quốc ca, nhưng…

Nguyễn Thụy Kha: “Tôi từng nói với Văn Cao rằng giá ông viết đường vinh quang xây xác bao người sẽ hợp lý hơn”
Nguyễn Thụy Kha: “Tôi từng nói với Văn Cao rằng giá ông viết đường vinh quang xây xác bao người sẽ hợp lý hơn”.

Ngoại trừ nước Nga, quốc ca nhiều nước tồn tại đã vài trăm năm mà người ta không sửa.

Quốc tế ca cũng có những ca từ bị kêu là không có giá trị bền vững theo thời gian: Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành. Theo nhạc sĩ – nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha, lời Quốc ca Pháp (La Marseillaise) còn “bạo liệt” hơn Tiến quân ca.

Tuy vậy, anh Kha cũng cho rằng, giá hồi đó Văn Cao viết Đường vinh quang xây xác bao người sẽ hợp lý hơn xây xác quân thù. Bởi để đi đến chiến thắng, cả người thắng lẫn người thua đều đổ máu và chưa biết bên nào nhiều hơn bên nào.

Nhớ lại, một nhạc sĩ phổ thơ thành công bậc nhất và tự viết được những ca từ mềm mại như Hoàng Hiệp mà cũng có những câu như: Xuyên thây quân cướp nào vô đây (Cô gái vót chông, phổ thơ Moli Clavy). Hỏi về điều này, Phó Đức Phương nhận xét: “Hồi đấy hát lên có thấy ghê gì đâu. Lúc bấy giờ không khí nó phải như thế!”. Trần Đăng Khoa: “Chiến tranh nó thế. Tô Hải còn viết bài Sẵn sàng bắn như sau: Biển trời của ta đâu có phải ao nhà của chúng nó!”.

Theo luật sư Phạm Thanh Thủy (Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc VN), Điều 19 về Quyền nhân thân qui định việc sửa đổi lời bài hát phải xin phép chủ sở hữu. Nhưng khoản 3 điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ lại qui định trong những trường hợp vì lợi ích an ninh quốc phòng và một số lợi ích khác, nhà nước có quyền hạn chế quyền lợi đó, tức Nhà nước có quyền sửa đổi lời bài hát.

Dương Phương Vinh

Ý kiến của bạn
Nếu việc sửa Quốc ca diễn ra thì có lẽ đến một ngày nào đó người ta sẽ đòi sửa hoa văn, họa tiết trên trống đồng Đông Sơn. Theo tôi quốc ca không làm cho thế giới thấy sợ chúng ta vì nội dung của nó đâu, quốc ca là truyền thống là bài học đậm chất 4 nghìn năm của dân tộc ta, là bài ca giữ nước, là bài học lịch sử đó thôi, Quốc ca cũng là lời cảnh báo nhắc nhở bằng âm nhạc cho những kẻ nào nếu có ý định xâm lược đe dọa dân tộc ta đó thôi! Ngày trước tôi không nghe nói UNESCO đòi chúng ta thay đổi Quốc ca thì họ mới công nhận Hà Nội là thành phố vì hòa bình!!!
Lê Hoàng Sơn
Đường vinh quang xây xác quân thù. Đúng là như vậy, sự thực là như vậy, từ ngàn năm nay. Không có gì phải thay đổi, không có gì phải thanh minh. Trăm năm nữa con cháu chúng ta cũng phải biết điều đó.
thach

LAM ANH & CHIÊU MINH : Nhiều nhạc sĩ không đồng tình về việc thay lời Quốc ca, VIETNAM


 

Nhiều nhạc sĩ không đồng tình về việc thay lời Quốc ca

Thứ Sáu, 07/06/2013 06:40 | In bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Sau đề xuất sửa lời Quốc ca của đại biểu quốc hội Huỳnh Thành (tỉnh Gia Lai) trong phiên họp dự thảo sửa đổi Hiếp pháp 1992 ngày 4/6 vừa qua, đã có rất nhiều ý kiến của các nghệ sĩ về vấn đề này.TT&VH đăng tải ý kiến của một số nhạc sĩ nói về lý do tại sao không nên sửa đổi lời ca của bản Quốc ca.

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha: Lịch sử thì không ai thay đổi được

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha cũng khẳng định: Sự ra đời của Quốc ca gắn liền với việc hình thành Nhà nước và thể chế VN. “Quốc ca gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt, mà giai đoạn lịch sử đó đã khai sinh ra nước VN hiện nay. Đó là một phần lịch sử, mà lịch sử thì không ai thay đổi được”.

Nói về ý kiến chê một số lời của Quốc ca không phù hợp với hiện tại, ông Kha đặt sự so sánh với La Marseillaise, bàiquốc ca Pháp có câu “lấy máu lũ tanh hôi tưới ngập luống cày”. “Bài hát ấy ra đời trong hoàn cảnh nước Pháp đang bước vào cuộc chiến tranh chống lại liên quân Áo – Đức. Và thực tế, người Pháp vẫn rất tôn trọng La Marseillaise”.

Chỉ là đề xuất ban đầu của một Đại biểu Quốc hội, vậy nhưng ý tưởng đặt lời mới cho Quốc ca VN xem ra sẽ gây nên rất nhiều luồng ý kiến khác biệt từ dư luận.

Nhạc sĩ Vũ Tự Lân: Không cần thiết đổi lời Quốc ca

“Tôi nhớ cách đây mấy chục năm, chúng ta đã từng tổ chức cuộc thi sáng tác Quốc ca trên toàn quốc. Lúc đó, chúng ta còn muốn thay đổi cả nội dung và âm nhạc nên cuộc thi bắt đầu từ việc sáng tác lời trước, sáng tác nhạc sau. Trong cuộc vận động ấy, có 16 trong hàng ngàn bài có lời hay nhất đã được chọn và được phổ nhạc cho từng bài. Truyền thông báo chí đã đăng tải thông tin rộng rãi nhưng không có tác phẩm nào được chấp nhận.

Trong khi đó, bài Tiến quân ca đã ăn sâu vào tâm khảm nhiều người quá rồi. Vậy tại sao bây giờ chúng ta phải thay đổi?

 

Đại biểu quốc hội Huỳnh Thành có đề xuất như vậy là tốt nhưng để sửa ca từ cho phù hợp với sự phát triển của đất nước hiện nay (đề xuất sửa đổi được nêu cụ thể trong đoạn “Đường vinh quang xây xác quân thù” – PV) thì theo tôi, chúng ta đã từng trải qua một thời kỳ đấu tranh như vậy thì cũng nên ghi nhớ nhưng không phải vì thế mà chúng ta vẫn còn “hiếu chiến” đến bây giờ.

Muốn chữa thì chữa rất dễ vì đã từng có thời kỳ thay đổi nhưng có cần không? Có tác dụng không? Quan điểm của tôi là không cần thiết.

 

Nhạc sĩ Phó Đức Phương: Phản đối việc thay lời Quốc ca

Có mặt trong cuộc họp của Trung tâm quyền tác giả âm nhạc Việt Nam vào sáng 5/6, nhạc sĩ Phó Đức Phương bày tỏ quan điểm không đồng tình với ý tưởng sửa lại lời Quốc ca trên nền nhạc cũ.

“Ngắn gọn, quan điểm của tôi là phản đối điều này. Người ta đang nhầm lẫn về chức năng của Quốc ca. Đó là tác phẩm mang tính chất biểu trưng cho lịch sử, chứ không phải là nhạc phẩm để phản ánh đời sống kinh tế xã hội hôm nay. Có hàng loạt ca khúc khác để thực hiện điều ấy” Nhạc sĩ Phó Đức Phương nói.

 

 

Theo lời ông Phương, Quốc ca VN ra đời cùng thời điểm với sự hình thành của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tồn tại trong suốt gần 70 năm qua. Trên thế giới, việc sửa lại lời Quốc ca không phải là trường hợp phổ biến – trong khi một số nước lại có những bản Quốc ca đã tồn tại trên dưới 200 năm.

“Không phải cứ đặt lại lời mới là xong. Việc đổi lời Quốc ca sẽ dẫn tới rất nhiều phiền toái, lộn xộn trong đời sống bình thường.” Nhạc sĩ nói thêm.

“Tôi có được đọc một số sáng tác dự thi trong cuộc phát động viết Quốc ca mới, từng được phát động vào cuối thập niên 1970. Nói thật, không sáng tác nào đủ sức và đủ tầm để thuyết phục người nghe. Thậm chí, có những sáng tác ấu trĩ, ngô nghê tới mức không thể tin nổi”.

Lam Anh, Chiêu Minh (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa