Tổng kết công tác chuẩn bị chương trình nghệ thuật “Ví, giặm … lung linh hồn quê Xứ Nghệ”


Tổng kết công tác chuẩn bị chương trình nghệ thuật “Ví, giặm … lung linh hồn quê Xứ Nghệ”

Căn cứ vào Kế hoạch số 145/KH.UBND.VX ngày 05/4/2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc tổ chức “Liên hoan dân ca hò ví, giặm Xứ Nghệ năm 2012”. Trong đó điểm nhấn là màn nghệ thuật “Ví, giặm … lung linh hồn quê Xứ Nghệ” được tường thuật trực tiếp trên VTV1 vào lúc 20h ngày 23/6/2012. Ngay sau khi được chỉ định là đơn vị tổ chức sự kiện chính trị, VHNT trọng tâm này, Công ty TNHH Nghệ Thuật Quảng Cáo H.20 đã xây dựng kế hoạch và nhanh chóng triển khai công tác chuẩn bị để đêm khai mạc diễn ra thành công tốt đẹp…

Xác định hoàn thành tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công chương trình nghệ thuật “Ví, giặm…lung linh hồn quê Xứ Nghệ là tiền đề, cơ sở bước đầu để Tỉnh Nghệ An hoàn thành Hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca hò ví, giặm Nghệ An là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hội đồng thành viên của công ty đã triệu tập các cuộc họp để triển khai công tác chuẩn bị. Hệ thống thủ tục văn bản phối hợp với các đơn vị được hoàn tất, ngày 20/5 Công ty ký hợp đồng với ê – kíp sáng tạo nghệ thuật do Đạo diễn Vũ Hải làm trưởng ê – kíp, ngày 23/5 ký hợp đồng với Nhà hát tuổi trẻ về việc cung cấp 60 diễn viên múa chuyên nghiệp, trong cùng thời gian đó Ban công tác của công ty cũng làm việc với NSND Minh Thông về việc chịu trách nhiệm toàn bộ về mặt chuyên môn cũng như chất lượng của các màn múa sử dụng trong chương trình; từ ngày 25/5 – 02/6/2012 Công ty xúc tiến gặp gỡ lãnh đạo và ký kết hợp đồng sản xuất chương trình với các đoàn nghệ thuật trong tỉnh như Nhà hát dân Ca Nghệ An, Đoàn ca múa Nghệ An. Đồng thời với công tác chuẩn bị về con người, Công ty cũng triển khai nhanh chóng công tác chuẩn bị về cơ sở vật chất để phục vụ cho đêm khai mạc như hệ thống sân khấu, âm thanh, ánh sáng, màn hình Led, hệ thống trang phục, đạo cụ… Ngày 5/6/2012 hệ thống sân khấu phục vụ chương trình được thi công lắp đặt. Với diện tích chiều rộng 34m, chiều sâu 20m, được bố trí thành 3 cấp trên tổng chiều cao 3,2m sân khấu phục vụ chương trình nghệ thuật “Ví, giặm … lung linh hồn quê Xứ Nghệ” là một trong những sân khấu lớn nhất từ trước tới thời điểm hiện tại được lắp đặt tại Quảng Trường Hồ Chí Minh.

Với sự đam mê nghề nghiệp và muốn góp sức minh vào việc đưa dân ca hò ví, giặm Xứ Nghệ trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tập thể công ty không quản thời gian, thời tiết hăng say thực hiện kế hoạch do Ban lãnh đạo công ty đề ra. Lòng nhiệt huyết, ý thức trách nhiệm và tinh thần “màu cờ sắc áo” (H.20 là đơn vị đầu tiên của tỉnh Nghệ An tổ chức sự kiện mang tầm cỡ quốc gia tại địa bàn của Tỉnh) đã được đền đáp xứng đáng bằng sự thành công của chương trình nghệ thuật “Ví, giặm … lung linh hồn quê Xứ Nghệ” với chất lượng chuyên môn đươc đánh giá rất cao, hoành tráng về hệ thống cơ sở vật chất.

Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại công tác chuẩn bị của H.20 cho chương trình:

Hình ảnh luyện tập của các đoàn nghệ thuật:

Thày và trò đoàn ca múa đang tích cực luyện tập nội dung của đoàn trong chương trình

Cô và trò trường CĐ VHNT Nghệ An cũng miệt mài luyên tập vì sự thành công của chương trình

Các khối ghép chương trình tại Quảng trường Hồ Chí Minh

Hình ảnh công tác chuẩn bị về cơ sở vật chất

Gần 700m2 sân khấu phục vụ chương trình nhanh chóng được H.20 lắp đặt

Hệ thống cảnh trí trên sân khấu cũng được khẩn trương hoàn thiện

Sân khấu cơ bản hoàn thiện

Hệ thống âm thanh, ánh sáng cũng được lắp đặt rất hoành tráng

Những giàn đèn đồ sộ sẽ đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho chương trình

Sân khấu đã sẵn sàng cho chương trình

Bằng sự chỉ đạo sát sao và quyết liệt của ban lãnh đạo, sự nhiệt tình của đội ngũ cán bộ nhân viên, chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng mọi công tác chuẩn bị cho đêm khai mạc đã được hoàn tất. Tất cả đẵ sẵn sàng cho đêm khai mạc…

Ghi chép, tổng hợp từ H.20

http://sukienh20.com/?detail=232&tong-ket-cong-tac-chuan-bi-chuong-trinh-nghe-thuat-vi-giam–lung-linh-hon-que-xu-nghe

THÚY NGỌC : Lắng sâu câu ví giặm quê nhà, NGHỆ TĨNH, VIETNAM


Lắng sâu câu ví giặm quê nhà

Theo Báo Hà Tĩnh|Thứ sáu, 24/05/2013 06:13

Sự kiện dân ca ví, giặm được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đã trở thành món quà vô giá đối với những thành viên trong CLB dân ca ví, giặm Thạch Châu (Lộc Hà). Niềm tự hào đó đã tiếp thêm sức mạnh để CLB ngày càng có nhiều tiết mục neo đậu trong lòng khán thính giả, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể.

Anh Nguyễn Đình Kế – Trưởng ban Văn hóa xã, Chủ nhiệm CLB dân ca ví, giặm Thạch Châu cho biết: “CLB chúng tôi được hình thành từ năm 2008 trên nền tảng đội văn nghệ quần chúng, hiện tại đã có 31 thành viên. Từ những hội diễn, hội thi văn nghệ quần chúng ở cơ sở, CLB đã phát hiện, bồi dưỡng những hạt nhân có chung một niềm say mê và chất giọng tốt. Nhờ vậy, không chỉ củng cố được vị trí trong lòng công chúng mà vừa qua tại Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, các tiết mục của đoàn CLB Thạch Châu đã được đông đảo khán giả đón nhận và đã giành được giải nhất. Ngoài ra, tại liên hoan nghệ thuật quần chúng kỷ niệm 5 năm thành lập huyện, liên hoan dân ca ví, giặm Hà Tĩnh, CLB chúng tôi đều giành được giải nhất”.

Lắng sâu câu ví giặm quê nhà
Tiết mục biểu diễn của CLB Dân ca ví, giặm Thạch Châu tại liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ.

Với những người dân Thạch Châu, tình yêu dân ca ví, giặm dường như đã thấm đẫm vào tâm hồn, dạt dào trong huyết quản của biết bao thế hệ. Sinh ra đã được nghe những câu ví, giặm từ lời ru của bà, của mẹ, lớn lên đã được theo các chị đi nghe hát dân ca ở những buổi tập, những hội diễn văn nghệ quần chúng trên địa bàn nên với những người dân nơi đây, ví giặm đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu. Bà Nguyễn Thị An – một thành viên CLB năm nay đã gần 80 tuổi cho biết: “Dù tuổi cao, sức yếu nhưng tôi vẫn xin vào CLB để được thỏa mãn niềm đam mê dân ca ví, giặm, để được sống lại một thời tuổi trẻ và cũng được chứng kiến sức sống của dân ca trong lòng thế hệ trẻ ngày nay”.

Điều đáng mừng là những điệu ví, lời ca mộc mạc nhưng đậm đà tình quê cũng đã thực sự hấp dẫn đối với thế hệ trẻ. Việc đưa dân ca vào trường học trên địa bàn không chỉ góp phần làm giảm bớt sự căng thẳng của những giờ học mà còn là mạch nguồn trong mát bồi đắp thêm tình yêu quê hương cho các em. Em Lê Thị Hải Yến (học sinh lớp 11, thành viên nhỏ tuổi nhất của CLB) cho biết: “Từ nhỏ, em đã say mê những câu hò, điệu ví. Được tham gia CLB dân ca của xã, em rất vinh dự và tự hào. Em sẽ cố gắng tập luyện thật nhiều bài dân ca hay hơn nữa”.

Với CLB dân ca ví, giặm Thạch Châu, hồn cốt, tài sản vô giá của quê hương không chỉ được gìn giữ qua việc sưu tầm và biểu diễn những lời cổ mà còn là việc sáng tác thêm nhiều bài hát mới. Cũng theo anh Kế: “Đến nay, xã đã sưu tầm được 20 bài cổ, còn số lượng lời mới chúng tôi không thể thống kê hết bởi qua mỗi đợt liên hoan văn nghệ quần chúng hay những ngày lễ lớn lại có thêm nhiều sáng tác mới ca ngợi sự đổi thay của quê hương. Và bên cạnh những tiết mục cổ được dàn dựng công phu gắn liền với những giải thưởng lớn của CLB như: diễn xướng “Kháp mặt hẹn dạ nên duyên”, “Thử lòng chung thủy”, tiết mục hát múa dân ca lời mới “Thạch Châu quê mẹ” cũng đã được đánh giá cao tại các hội diễn lớn.

Sau những hội diễn, điệu ví, câu hò lại theo các bà, các chị trở về với sự yên bình của làng quê, xua đi những vất vả, lo toan sau mỗi ngày lao động, nuôi dưỡng, bồi đắp thêm tình yêu hương cho lớp trẻ.

Thúy Ngọc

http://www.tin247.com/lang_sau_cau_vi_giam_que_nha-71-20130524061332137.html

GS TSKH ĐỖ THỊ KIM LIÊN : Hát Giặm Nghệ Tĩnh – Một thể hát dân ca đậm bản sắc văn hoá xứ Nghệ


Hát Giặm Nghệ Tĩnh – Một thể hát dân ca đậm bản sắc văn hoá xứ NghệNgày đăng tin : 6/24/2011

Cùng với thể Hát ví, thể Hát giặm được xem là thể loại dân ca “đặc sản” của Nghệ Tĩnh, nghĩa là chúng chỉ tồn tại ở địa phương Nghệ Tĩnh mà không có ở bất kì một địa phương nào khác. Chữ giặm gần với chữ giắm (phân biệt với lối hát “dặm” ở Hà Nam theo nghĩa là dặm đường, vừa đi vừa hát trong hội lễ mừng Lí Thường Kiệt – như quan niệm của một số người). Theo các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xứ Nghệ giải thích, sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất là một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giắm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại, như bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà. Thể Hát giặm chủ yếu là 5 chữ.

1. Đặt vấn đề

Cùng với thể Hát ví, thể Hát giặm được xem là thể loại dân ca “đặc sản” của Nghệ Tĩnh, nghĩa là chúng chỉ tồn tại ở địa phương Nghệ Tĩnh mà không có ở bất kì một địa phương nào khác. Chữ giặm gần với chữ giắm (phân biệt với lối hát “dặm” ở Hà Nam theo nghĩa là dặm đường, vừa đi vừa hát trong hội lễ mừng Lí Thường Kiệt – như quan niệm của một số người). Theo các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xứ Nghệ giải thích, sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất là một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giắm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại, như bài Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà. Thể Hát giặm chủ yếu là 5 chữ. Trong một bài, số câu 4, 6, 7, 8 chữ cũng có nhưng những câu phá cách này không nhiều. Ví dụ:

       Mời các vị dạo chơi tỉnh nhà

Bây giờ mùa đó dón rồi (6 chữ)

Xin mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà (8 chữ)

Quỳnh Lưu đó không xa (5 chữ)

Mời các ngài đến thử 

Lụa sồi không mấy trự (đồng)

Cứ may mặc tự nhiên

Chẳng ai dám hỏi tiền,

May một khi mười bộ

May một lần chục bộ (2.tr.22)

 ….

Trong bài này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu đặc điểm của câu giặm (câu lặp lại) trong thể Hát giặm Nghệ Tĩnh. Trong hai tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, do Ninh Viết Giao và Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, chúng tôi thống kê được: ở tập 1, trong tổng số 95 bài có 302 câu lặp lại, trong tập 2, trong tổng số 72 bài có 201 câu lặp.

2. Phân biệt hiện tượng lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh với phép điệp ngữ trong Tu từ học

Theo Đinh Trọng Lạc, điệp ngữ (còn gọi: lặp) là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe (5, tr.275). Điệp ngữ có cơ sở tâm lí: một vật kích thích, xuất hiện nhiều lần sẽ làm người ta chú ý. Điệp ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các phạm vi của lời nói. Trong giới hạn của một phát ngôn, điệp ngữ được dùng như một phương tiện tăng cường lô gích cảm xúc cái nghĩa của phát ngôn đó. Ví dụ:

– Ứ, ừ, bà không chết! Bà không được chết.

– Ừ, bà không chết. Bà chết thế nào được. Bà chết thì ai nuôi dạy cháu bà. Khi nào cháu lớn, học hết lớp 10, cháu đi Liên Xô học đại học, bà mới chết.

– Ứ, ừ, lúc ấy bà cũng không được chết cơ!   (Ma Văn Kháng)

Ở ví dụ trên, từ chết được lặp đi lặp lại 7 lần ở 7 câu nhằm nhấn mạnh điều mà cả người nói và người nghe cùng hướng đến, cùng mong mỏi là bà không chết. Qua sự lặp lại đó, tác giả gián tiếp nói đến tình yêu thương, quí mến lẫn nhau giữa hai bà cháu.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của tác giả Nguyễn Như Ý thì phép lặp có ba cách hiểu:

Việc tăng gấp đôi độ dài của âm tố.

Việc tái lập lại một chữ cái trên văn tự để biểu thị tính chất dài của nguyên âm.

Lối nhắc lại một từ hoặc một ngữ để làm rừ ý nghĩa cần nhấn mạnh. Ví dụ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành thành công, đại thành công. (7, tr.209)

Cách quan niệm phép lặp của Nguyễn Như Ý cũng trùng với cách quan niệm của Đinh Trọng Lạc ở nhóm nghĩa thứ ba.

So sánh cách hiểu phép lặp (hay điệp ngữ) ở hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Như í, chúng tôi thấy câu lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh có điểm riêng, khác với phép lặp trong tu từ học ở những điểm sau:

Về số lượng, trong Hát giặm Nghệ Tĩnh chỉ có hiện tượng lặp ở hai câu đứng cạnh nhau, còn phép lặp trong tu từ học có thể tự do: trong một câu, lặp hai câu, ba câu hoặc lặp cách quãng.

Về tính chất lặp: trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, lặp lại câu đi trước ở câu 2, nhất thiết phải có một từ nào đó biến đổi khác với từ cùng vị trí với câu trước. Còn ở phép lặp trong tu từ học lại không đòi hỏi quy tắc này.

Ví dụ, ở hai câu Hát giặm tuy lặp lại nhưng vẫn có từ ông/ bà; từ ra/ tận không lặp.

Tui giận ông hàng cá/ Tui giận bà hàng cá. (2, tr.193)

Ngọt ra đằng sau ót/ Ngọt tận đằng sau ót. (2, tr. 23)

Trong bài Khi mẹ vắng nhà,  tỏc giả Trần Đăng Khoa có sử dụng phép lặp ở 5 dòng thơ (lặp ngữ) hoàn toàn giống nhau:

– Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai

Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo

Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm

Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ trong vườn

Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng. (4, tr.35)

Chính đặc điểm trên làm nên đặc trưng riêng cho thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh. Có thể nói, trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, một hoặc hai từ ở câu thứ hai tuy không lặp lại hoàn toàn từ ở câu đi trước nhưng luôn bị chi phối bởi một số nhân tố nhất định. Sau đây chúng tôi đi sâu phân tích, mô tả những nhân tố chi phối đó.

3. Sự khác biệt giữa từ (âm tiết) của câu lặp so với từ (âm tiết) của câu đi trước trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

3.1. Về thanh điệu của từ (âm tiết) ở câu lặp so với câu đứng trước

Câu lặp thứ hai luôn chứa một từ nào đó, ở vị trớ giữa câu (âm tiết thứ hai hoặc thứ ba) hoặc đứng cuối câu (âm tiết thứ năm) có sự biến đổi về thanh điệu. Ở hai dòng thơ, sự biến đổi theo quy tắc như sau: Câu đứng trước chứa từ (hay âm tiết) có thanh điệu thuộc âm vực cao, từ (hoặc âm tiết) ở câu lặp luôn có thanh điệu thuộc âm vực thấp hơn. Chúng thể hiện qua 4 dạng:

Dạng  1: thanh không –> thanh huyền. Dạng này chiếm tỷ lệ cao nhất, gồm 319/511, chiếm 62,4 %.

 

Từ thuộc

  âm vực

    Từ chứa thanh                   Ví dụ
     Cao Thanh không Quế Quỳ Châu tốt nhất
     thấp Thanh huyền Quế Phủ Quỳ tốt nhất

 

Ví dụ: – Quế Quỳ Châu tốt nhất / Quế Phủ Quỳ tốt nhất. (2, tr.26)

– May một khi mười bộ / May một lần chục bộ. (2, tr.26)

– Tới Cồn Dinh ta nghỉ /Tới Cồn Đà ta nghỉ. (2, tr.130)

Dạng 2: Thanh không –> thanh sắc. Dạng này chiếm tỷ lệ cao thứ hai, gồm 112/ 511, chiếm  21,9 %.

 

     Từ thuộc

      âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao Thanh không  Trăm cơn chi cũng khô

 

         Thấp Thanh sắc    Ngàn cơn chi cũng héo.

 

Ví dụ: – Trăm cơn chi cũng khô/ Ngàn cơn chi cũng héo (2, tr. 29)

– Trăm cơn chi cũng khô/ Ngàn cơn chi cũng đốt (2, tr. 30)

– Nay o nọ dì kia/ Mốt o ni dì khác (2, tr.70)

– Nước sông Cái chảy sang/ Nước thủy triều lên xuống (2, tr. 132)

Dạng 3 : Thanh không –> thanh nặng. Dạng này chiếm tỷ lệ cao thứ ba, gồm 49/511, chiếm tủy lệ 9,5 %.

 

     Từ thuộc

      âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao – Thanh không/

– thanh huyền

 – Em mừng riêng trong tâm

 

         Thấp – Thanh nặng   –  Em mừng riêng trong dạ.

 

 

Ví dụ: Thanh không –> thanh nặng

– Không kể sớm với trưa/ Không kể hàng với họ (2, tr.123)

– Trách chi mà không xinh/ Trách chi mà không lạ. (2, tr.143)

– Nước chè Gay vàng rộm/ Nước chợ Gay vàng rộm (2, tr.23)

Dạng 4 : Thanh huyền –> thanh nặng. Dạng này chiếm tỷ lệ thấp nhất, tỷ lệ là 31/ 511 từ, chiếm tỷ lệ là 6,09 %.

 

     Từ thuộc

      Âm vực

    Từ chứa thanh                     Ví dụ
         Cao – thanh huyền    – Nước chè Gay vàng rộm
         Thấp – Thanh nặng     – Nước chợ Gay vàng rộm

 

Ví dụ: Thanh huyền –> thanh nặng

– Đem của công về làm giàu/ Đem của dân về sinh lợi (2, tr.176)

– Mất cả ruộng bàu/ Mất cả ruộng cạn. (2, tr.46)

– Nước chè Gay vàng rộm/ Nước chợ Gay vàng rộm (2, tr.23)

3.2. Về đặc điểm từ loại và ngữ nghĩa của  từ ở câu lặp so với từ của câu đứng trước 

Câu lặp và câu đứng trước không giống nhau hoàn toàn như phép điệp từ ngữ trong văn học viết, mà chúng luôn có một từ nào đó biến đổi về vỏ ngữ âm. Từ biến đổi về âm thanh này phải cùng từ loại (cùng đại từ, cùng danh từ, cùng tính từ, cùng động từ, cùng số từ) với từ của câu đứng trước. Trong tổng số 511 câu giặm, hiện tượng cùng phạm trù từ loại này xảy ra hoàn toàn. Chẳng hạn: Ông mô rồi cũng có/ Bà mô rồi cũng có (2, tr.23) đều cùng từ loại danh từ; Phúc nhà ta biết mấy/ Phúc nhà mình biết mấy (2, tr. 36) cùng từ loại đại từ; Năm ba tiền cũng được/Vài ba hào cũng được (2, tr.190) cùng từ loại số từ; Ta khoan thai chưa vội/ Ta dần dà chưa vội (2, tr.126) cùng từ loại tính từ.

Bên cạnh sự giống nhau về từ loại, hai từ ở câu lặp và câu đứng trước lại có những điểm khác nhau như sau:

a) Hai từ khác âm nhưng cùng trường nghĩa

a1) Sử dụng đại từ

* Sử dụng đại từ nhân xưng

Đại từ nhân xưng là những từ xưng hô giữa người và người trong hoạt động giao tiếp. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi thường gặp nhất là các cặp từ: ta/ mình; người ta/ mình; ai/ người; kẻ/ người, ta/ bạn…

– Kẻ trôi lợn trôi bò/ Người có chi trôi hết. (2, tr.35)

– Kẻ chở lúa chở ngài/ Người chở tiền chở bạc. (2, tr.36)

* Sử dụng đại từ chỉ định

Đại từ chỉ định là những từ thường đi kèm phía sau danh từ để hạn định ý nghĩa không gian, thời gian gần hay xa so với người nói: lúc nãy/ lúc ni; mụ/nào; ni/ này; nớ/ ni; bữa ni/ bữa rày…

– Trâu mi bữa ni tau lấy/ Bò mi bữa rày tau lấy. (2, tr. 37)

– Thầy bỏ tớ lúc ni/ Vợ bỏ chồng lúc khác . (2, tr.72)

a2) Sử dụng danh từ

* Danh từ chỉ người

Đây là những danh từ chỉ người, thuộc tiểu nhóm danh từ tổng hợp, có hai âm tiết, mang nghĩa số nhiều.

– Van anh em sắp bó/ Van bạn bầu sắp bó. (2, tr.79)

– Anh em ta chịu cả/ Chị em mình chịu cả (2, tr.79)

* Danh từ cùng trường nghĩa, gốc Hỏa

– Anh mới cam trong tâm/ Anh mới đành trong dạ. (2, tr.157)

– Em mừng riêng trong tâm/ Em mới đành trong dạ. (2, tr.111)

a3. Sử dụng số từ  (đi kèm danh từ)

Số từ là những từ mang nghĩa số lượng. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, số từ thường xuất hiện thành cặp sóng đôi với nghĩa biểu trưng: năm… mười, mười…trăm, trăm…vạn, năm ba…vài ba… 

– Năm ngày mưa một trộ/ Mười ngày mưa một trộ. (2, tr.30)

– Mười người nhất tâm/ Trăm người như một. (2, tr.119).

b) Hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa là một nghệ thuật biến cải (vỏ ngữ âm của từ) hết sức độc đáo, không gây sự nhàm chán, tạo tính mới mẻ đối với người nghe. Qua khảo sát hai tập Hát giặm Nghệ Tĩnh, chúng tôi bắt gặp hiện tượng đồng nghĩa xảy ra chủ yếu là 5 từ loại: động từ, danh từ, đại từ, số từ, phụ từ. 

b1. Đồng nghĩa động từ

Đây là nhóm đồng nghĩa xuất hiện với tần số nhiều nhất so với các từ loại khác trong cùng nhóm đồng nghĩa. Qua thống kê, chúng tôi thường gặp nhất là đồng nghĩa từ địa phương với từ toàn dân: nom/ chộ; thấy/ chộ; mắc/ nợ hoặc cả hai đều là từ địa phương.

*Sau đây là những cặp từ đồng nghĩa địa phương và toàn dân:

– Nom bốn phương vui vẻ/ Nhìn bốn phương vui vẻ.(2, tr.115)

– Không mắc ai nửa chữ/ Không nợ ai nửa đồng (2, tr.165)

*Từ địa phương và từ địa phương:

– Nom rừng sâu xanh ngắt/ Chộ mây phủ trong ngoài. (tr.114)

* Đồng nghĩa ngữ cảnh: qua/ về; giao/ nạp; co khu/ co giò; khuyên / dặn…

Đây là trường hợp hai từ vốn không đồng nghĩa nhưng nhờ ngữ cảnh, chúng trở thành đồng nghĩa (có thể khác nhau về sắc thái). Chúng tôi gọi những hiện tượng này là đồng nghĩa ngữ cảnh lâm thời[*]. Chẳng hạn: Giao và nạp; qua và về; khuyên và dặn.

– Giao cho bà thủ quỹ/ Nạp cho bà thủ quĩ. (2, tr.188)

– Qua Thanh Chương cũng tiện/ Về Thanh Chương cũng tiện (2, tr.24)

– Ghé qua chơi một tỉ/ Ghé về chơi một tỉ (2, tr.25)

– Ta khuyên mình đừng vội/ Ta dặn mình đừng vội (2, tr.130)

b2. Đồng nghĩa danh từ

* Đồng nghĩa danh từ chỉ người

Cặp danh từ chỉ vợ chồng cũng được sử dụng hết sức tài tình:

– Thuận ông thuận mụ/ Thuận vợ thuận chồng. (2, tr.161)

– Ném quân Tây cho chết/ Ném quân thù cho chết (2, tr.185)

* Đồng nghĩa danh từ chỉ đấng tối cao (theo văn hóa của người Việt)

– Sổ trời xanh đó định/ Sổ Nam Tào đó định (tr.119).

* Đồng nghĩa danh từ chỉ thời gian (nhờ ngữ cảnh)

– Biết khi nào cho biết/ Biết ngày nào cho biết. (2, tr117)

– May một khi mười bộ/ May một lần chục bộ (2. tr.22)

b3. Đồng nghĩa đại từ

Hai đại từ đồng nghĩa

Hai câu thường có hai từ đồng nghĩa: đồng nghĩa giữa từ địa phương và từ toàn dân: chi/gì; mô/ nào …

– Đánh trận mô cũng được/ Đánh trận nào cũng được (2, tr.189)

– Mi đến mần chi đó nữa/ Mi đến mần gì đó nữa. (2, tr.37)

Có những từ đặt riêng thì không đồng nghĩa nhưng nhờ ngữ cảnh sử dụng, chúng lại trở nên đồng nghĩa. Nhờ đó, nó tạo nên nét phong cách riêng của Hát giặm Nghệ Tĩnh. Chẳng hạn từ ta và từ mình trong câu: Đưa anh em ta đi khẩn/ Đưa anh em mình đi khẩn. (2, tr.183)

b4. Đồng nghĩa số từ

Thuộc nhóm này, chúng ta chỉ gặp cặp số từ chục/ mười

– Xin biếu không chục hũ/ Xin biếu ngài mươi hũ (2, tr.23)

– May một khi mười bộ/ May một lần chục bộ (2, tr.21)

b5. Đồng nghĩa tính từ

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, hiện tượng đồng nghĩa tính từ không nhiều

– Kể còn lâu chưa hết/ Kể còn dài chưa hết (2, tr.129)

– Ta khoan thai chưa vội/ Ta dần dà chưa vội. (2, tr. 126)

b6. Hai phụ từ đồng nghĩa

Phụ từ là những từ không mang nghĩa từ vựng mà thường đi kèm trước (hoặc sau động từ, tính từ) để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ và tính từ đó. Chúng gồm những cặp từ như: nỏ/ không; nỏ/mụ; đừng/ chớ, ra/ tận… Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, cũng như đại từ, ta gặp hiện tượng đồng nghĩa phụ từ giữa từ toàn dân và từ địa phương.

 – Đừng nghe mồm thiên hạ/ Chớ nghe mồm thiên hạ. (2, tr.167)

 – Không chi mạnh bằng gạo/ Nỏ chi bạo bằng tiền. 2, (tr.111).

c) Đảo trật tự các thành tố trong 1 từ ghộp; hay đảo các từ trong cụm từ

*Trong từ

–  Ai cười chê cũng chớ/ Ai chê cười cũng chớ (2, tr.154)

* Trong cụm

 Lờn đình trung đứng nhởi/ Hội giữa đình đứng nhởi. (2, tr.130)

– Viết bức thư gửi lại/ Bức thư tình gửi lại. (2, tr.127)

d. Sử dụng từ đơn ở hai vế mà hai từ đó, nếu gộp lại thì thành một từ gộp

– Ở cho được mùa/ Ở cho được màng. (2, tr.42) –> Mùa màng

– Kiếm nát trong bụi cơn (cây)/ Kiếm nhàu trong bụi cỏ (2, tr.336)–> nhàu nát; cây cỏ

đ. Biến cải hai yếu tố trong kết cấu thành ngữ

– Nỗi nguồn ân bể ái/ Nguyền bể cạn bia mòn (2, tr.85)

Biến cải từ: nguồn ân ái/ sông cạn đá mòn

e. Sử dụng cặp từ trái nghĩa

Nhóm này ít xuất hiện hơn cả. 

*Danh từ thời gian trái nghĩa

– Ngày núi khe làm bạn/ Đêm vượn hót làm vui. (2, tr.115)

*Danh từ trừu tượng

– Lắm điều vui, điều tủi/ Lắm điều buồn, điều tủi. (2. tr.264)

* Danh từ chỉ người trái nghĩa: Tui giận ông hàng cỏ/ Tui giận bà hàng cỏ (2, tr.193)

4. Vai trò của việc sử dụng từ biến đổi ở câu giặm trong Hát giặm Nghệ Tĩnh

4.1. Tạo sự mới mẻ đối với người nghe

Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, câu giặm có vai trò nhấn mạnh giống phép lặp trong tu từ học (điệp ngữ, điệp cú). Tuy nhiên, ở Hát giặm Nghệ Tĩnh luôn có ít nhất là một từ (ở câu giặm) biến đổi khác so với từ cùng vị trí ở câu đứng trước nhằm mục đích nhấn mạnh tạo sự mới mẻ với người nghe, không đơn điệu, nhàm chán. Chúng làm nên đặc trưng riêng, đậm bản sắc của người Nghệ Tĩnh. Ví dụ: Kẻ thua năm ba quan/ Người thua năm bảy chục (2, tr.165) biến đổi từ ở vị trí thứ nhất; Ta lựa đi một trận/ Ta cũng lựa một trận (2, tr.183) biến đổi từ ở vị trí thứ hai; Tài chi ai chịu nổi/ Tài chi mình chịu nổi (2, tr.193) biến đổi từ ở vị trí thứ ba; Đưa anh em ta đi khẩn/ Đưa anh em mình đi khẩn (2, tr.187) biến đổi ở vị trí thứ tư; Khen cho bà khéo mua/ Khen cho bà khéo chọn (2, tr.193) ở vị trí thứ năm.

4.2. Tạo cấu trúc cân đối nhịp nhàng, hài hòa

Con người Nghệ Tĩnh nói riêng và người Việt nói chung ưa sử dụng cấu trúc câu theo lối nhịp nhàng, hài hòa, cân đối. Trong Hát giặm Nghệ Tĩnh, việc sử dụng câu lặp luôn chứa một hoặc hai từ có sự biến cải đi so với từ ngữ cùng vị trí ở câu đi trước được tuân theo sự đối ứng một cách khá nghiêm ngặt. Đặc điểm này nói lên người Nghệ Tĩnh ưa sử dụng cấu trúc cân đối, hài hòa. Biểu hiện ưa sử dụng cấu trúc có tính cân đối hài hòa này cũng được thể hiện rõ qua cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ của người Việt. Theo Hoàng Văn Hành, “thành ngữ đối là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt. Chúng chiếm tới 56% tổng số thành ngữ có trong thực tế tiếng Việt. Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ. Chẳng hạn: Mẹ tròn/ con vuông, đầu tắt /mặt tối, ăn xổi/ ở thì, tay bắt/ mặt mừng, đầu cua /tai nheo, thay lòng/ đổi dạ” (3, tr.38). Theo Đỗ Thị Kim Liên trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng, trong ba kiểu quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong tục ngữ: quan hệ lập luận, quan hệ so sánh, quan hệ đối lập thì quan hệ đối lập cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (6, tr.166-168). Điều kiện để xem hai vế A và B có quan hệ đối lập khi:

– Cấu trúc phải cân đối, gồm hai phần Đề và Thuyết

– Nghĩa của từ ở phần Đề và ở phần Thuyết, hoặc của cả phần Đề và Thuyết phải trái ngược nhau: Tiên trách kỉ (A)/ Hậu trách nhân (B); Cháu bên nội (A), tội bên ngoại (B); Khoai đất lạ (A), Mạ đất quen (B)…. Đây cũng chính là biểu hiện của việc người Việt thiên về sử dụng cấu trúc cân đối nhịp nhàng.

4.3. Tạo nhịp lẻ/chẵn cho lời hát

Đối với thể Hát giặm Nghệ Tĩnh, ai cũng biết khi hát thường có nhịp 3/2, tạo sự ngắt gãy, ngắn gọn. Ví dụ: Nhút Thanh Chương/ cũng ngọt, Kể chẳng mấy/ đồng tiền, Xơ mít chất/ đầy hiên, Băm một khi/ tám nống, Băm một lần/ tám nống (2, tr.25). Ngay bài thơ của Huy Cận Gửi bạn người Nghệ Tĩnh được Phạm Tuyên phổ nhạc thành bài hát với những câu mở đầu cũng ngắt nhịp tương tự như ngắt nhịp trong Hát giặm: Ai ơi cà/ xứ Nghệ, Càng mặn lại/ càng giòn, Nước chè xanh/ xứ Nghệ, Càng chát lại/ càng ngon… Trong khi đó, ở những câu thơ bình thường 5 chữ, theo ngắt nhịp truyền thống, người đọc thường hay ngắt nhịp 2/ 3 để tạo độ kéo dài, ngân vang cho câu thơ (Em ơi/ đợi anh về hoặc Bổ cam/ ngoài cửa trước, Hương/ bay vào cửa sau). Các nhà ngôn ngữ học gọi đó là nhịp thể loại. Tuy vậy, tùy theo cảm xúc, mạch thơ, người đọc có thể ngắt nhịp, hay phải ngừng giọng theo những kết cấu gồm các từ có quan hệ về nghĩa, không bắt buộc theo nhịp 2/3. Sau đây, chúng tôi chọn bài thơ 5 chữ của Trần Đăng Khoa làm ví dụ minh họa.

Nửa đêm tỉnh giấc

Nửa đêm / em tỉnh giấc

Bước ra hè / em nghe

Nghe tiếng sương/ đọng mật

Đọng mật/ trên cành tre

Nghe ri rỉ /tiếng sâu

Nó/ đang thở cuối tường

Nghe rì rầm/ rặng duối

Há miệng/ đòi uống sương.

(Trần Đăng Khoa, 4, tr.35)

5. Kết luận

Trên đây, chúng tôi đó đi sâu tìm hiểu những khác biệt về câu lặp trong Hát giặm Nghệ Tĩnh so với biện pháp lặp trong tu từ học nói chung. Sự khác biệt giữa câu lặp so với câu đứng trước thể hiện chủ yếu qua sự biến đổi 1 từ (hay âm tiết) đứng ở vị trí thứ ba hoặc thứ năm của câu lặp so với từ cùng vị trí ở câu đi trước. Tuy nhiên, giữa hai từ cùng vị trí luôn đó có mối quan hệ, sự ràng buộc nhất định. Đó là, chúng có thanh điệu thuộc hai âm vực cao thấp khác nhau; cùng từ loại nhưng khác vỏ ngữ âm, thuộc cùng trường nghĩa, trái nghĩa, đồng nghĩa; đảo thành tố trong từ hay trong cụm nhằm tạo nên nghĩa mới. Vai trò của câu lặp có ba vai trò: a) nhấn mạnh; b) có sự biến đổi ít nhất một từ nhằm tạo nên sự đổi mới, thú vị cho người nghe; c) tạo sự ngắt nhịp lẻ/ chẵn (3/2) trong lời hát, tạo sự ngắt nhịp riêng của thể loại Hát giặm Nghệ Tĩnh.

Từ kết quả đưa lại do sự khảo sát trên, có thể khẳng định Hát giặm Nghệ Tĩnh là kho tư liệu quí giá lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của người Nghệ Tĩnh.

 

Tài liệu tham khảo

Diệp Quang Ban, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010

Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Nxb Khoa học, tập 1+ 2, năm 1962.

Hoàng Văn Hành, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

Trần Đăng Khoa, Thơ chọn lọc, Nxb Văn hóa-Thông tin, năm 1998.

Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, năm 1998.

Đỗ Thị Kim Liên, Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng, Hà Nội, năm 2006.

Nguyễn Như Ý, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 1996

 

 

[*] GS.TSKH ĐỖ THỊ KIM LIÊN

http://www.ngheandost.gov.vn/JournalDetail/ar966_Hat_Giam_Nghe_Tinh_-_Mot_the_hat_dan_ca_dam_ban_sac_van_hoa_xu_Nghe.aspx

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


[*] Đồng nghĩa lâm thời vốn là những từ, về bản chất, không phải đồng nghĩa, nhưng nhờ ngữ cảnh, chúng trở nên đồng nghĩa.

 

HỒNG HÀ : Hồi sinh cho câu ví giặm, NGHỆ TĨNH , VIETNAM


DI SẢN

25/08/2012 07:20
Hồi sinh cho câu ví giặm

(Toquoc)- Trong lộ trình đưa dân ca ví, giặm trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Hà Tĩnh- cái nôi của di sản văn hóa độc đáo này đang nỗ lực để di sản thực sự có đời sống trong nhân dân.

Là cái nôi của điệu hò ví giặm nhưng Hà Tĩnh đi sau Nghệ An trong công tác bảo tồn, gìn giữ di sản văn hóa này. Hiện hai tỉnh đang bắt tay phối hợp lập hồ sơ đưa dân ca ví giặm trở thành Di sản Văn hóa quốc gia và tiến tới đệ trình UNESCO công nhận dân ca ví giặm là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2015. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với bà Phan Thư Hiền- Phó Giám đốc Sở VHTTDL Hà Tĩnh để có cái nhìn tổng quát hơn về di sản này trong đời sống người dân ở mảnh đất địa linh, nhân kiệt này.

Sau thành công của Liên hoan dân ca ví giặm lần đầu tiên được hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh phối hợp tổ chức, Hà Tĩnh đã làm những gì trong lộ trình triển khai thực hiện việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận dân ca ví giặm là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, thưa bà?

– Sau khi có chủ trương phối hợp với tỉnh Nghệ An lập hồ sơ trình Bộ VHTTDL công nhận dân ca ví giặm là di sản cấp quốc gia và hướng tới lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng tích cực chỉ đạo ngành văn hóa chú trọng nhiều biện pháp. Trong đó, tích cực triển khai công tác tuyên truyền quảng bá như tổ chức các hội thảo, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức nhiều liên hoan, hội thi, hội diễn, đặc biệt là liên hoan câu lạc bộ dân ca toàn tỉnh nhằm đẩy mạnh sinh hoạt của các câu lạc bộ dân ca ví giặm. 

 

Bà Phan Thư Hiền: “Trong nhân dân, tình yêu đối với ví giặm còn rất lớn và chỉ cần khơi lại là sẽ sôi nổi”

 

Công tác điền dã điều tra thu thập các tài liệu, thống kê các làn điệu, các thể loại dân ca ví giặm trên địa bàn Hà Tĩnh cũng được chúng tôi thực hiện hoàn thiện và lập hồ sơ cùng với Nghệ An đề nghị Bộ VHTTDL công nhận dân ca ví giặm là di sản văn hóa quốc gia.

+ Nếu như Nghệ An có thế mạnh là lưu giữ dân ca ví giặm qua các câu lạc bộ thì được biết thế mạnh của Hà Tĩnh là ví giặm đang còn sức sống trong nhân dân. Vậy bà có thể đánh giá về sinh hoạt dân ca ví giặm trong đời sống nhân dân hiện nay ở địa phương?

– Hà Tĩnh còn nhiều vùng quê có bản sắc riêng, là cái nôi của dân ca ví dặm như hát ví phường vải Trường Lưu (huyện Tân Lộc) hát ví phường nón xã Tiên Điền (Nghi Xuân), hát giặm ở Thạch Hà. Đặc biệt, vùng đất Hà Tĩnh gắn với nhiều danh nhân, danh sĩ, nghệ nhân dân gian nổi tiếng như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Nguyễn Huy Ánh…Bởi vậy, trong nhân dân, tình yêu đối với ví giặm còn rất lớn và chỉ cần khơi lại là hoạt động sẽ sôi nổi.

Có thể nói về bảo tồn và gìn giữ thì Hà Tĩnh đi chậm hơn Nghệ An đặc biệt trong hệ thống xây dựng câu lạc bộ. Do xuất phát từ tỉnh nghèo nên tập trung lo các vấn đề kinh tế, xã hội khác. Bên cạnh đó, di sản văn hóa vật thể cũng được quan tâm hơn di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, tỉnh đã chú trọng và quan tâm hơn. Đặc biệt là rất chú trọng đội ngũ nghệ nhân. Hiện lực lượng này còn rất mỏng. Trên toàn tỉnh chưa đầy 100 nghệ nhân tuổi trung niên trở lên, còn thế hệ cao tuổi thì chưa đếm được trên đầu ngón tay.

+ Tỉnh có chủ trương gì để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản này trong đời sống, đặc biệt là với thế hệ tiếp nối?

– Hiện Hà Tĩnh có gần 100 câu lạc bộ dân ca, trong đó có dân ca ví giặm của các huyện thị, TP, các xã phường thị trấn và các trường học. Chúng tôi đã chỉ đạo các đơn vị nghệ thuật, trung tâm văn hóa tỉnh, các trường nghệ thuật trong tỉnh và phối hợp với Sở Giáo dục Đảo tạo đưa dân ca vào trường học và dạy trên sóng phát thanh truyền hình của tỉnh. Hiện nay, việc dạy dân ca ví giặm đang áp dụng ở bậc tiểu học và thí điểm ở huyện Nghi Xuân.

Riêng về các nghệ nhân, để tôn vinh và động viên họ lưu giữ và truyền dạy, sở VHTTDL đã gửi hồ sơ đề nghị Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam công nhận 13 nghệ nhân có công bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Nhiệm vụ trước mắt chúng tôi tiếp tục động viên các nghệ nhân cao tuổi trao truyền lại những giá trị họ đang nắm giữ thông qua các lớp tập huấn, truyền dạy. Thông qua hình thức sinh hoạt câu lạc bộ, tỉnh cũng đang đẩy mạnh sinh hoạt ví dặm trong toàn tỉnh. 

 

 

Bảo tồn không gian diễn xướng cho ví giặm mới bảo tồn được di sản lâu dài

Hiện nay, việc hỗ trợ động viên cho các nghệ nhân chưa được là bao. Do khó khăn chung của tỉnh nên chưa có chính sách riêng, chỉ dịp lễ tết, các dịp liên hoan hoặc các nghệ nhân đau ốm thì tỉnh mới gặp mặt, động viên. Chúng tôi cũng đã đề xuất các cấp có thẩm quyền trình chính sách đối với các nghệ nhân, đặc biệt là chính sách thu hút nhân tài và đặc thù với các nghệ sỹ, nghệ nhân.

Với đối tượng trẻ khuyến khích thu hút các em có tài năng, đam mê. Các em đoạt giải cao trong các hội diễn thì đặc cách thu hút vào các trường nghệ thuật, tuyển sinh những học viên có năng khiếu vào đào tạo tại trường văn hóa nghệ thuật của tỉnh. Trong các hội thi hội diễn chúng tôi cũng dành nhiều cơ cấu giải cho các em trẻ tuổi.

+ Hình thức gìn giữ dân ca ví giặm ở các câu lạc bộ có khả thi nhưng lại vấp phải nỗi lo sân khấu hóa. Bởi ví giặm được sinh ra và tồn tại, phát triển trong đời sống lao động, sản xuất?

– Đúng vậy, câu lạc bộ chỉ là hình thức để tập hợp, bảo tồn cấp bách thôi. Bảo tồn không gian diễn xướng cho ví giặm mới bảo tồn được di sản lâu dài. Thực tế, để bảo tồn trong đời sống dân gian thì hiện nay, không gian diễn xướng, không gian văn hóa của ví giặm không còn nữa. Nhưng hiện nay Hà Tĩnh vẫn có chủ trương bảo tồn một số làng cổ thuần Việt như Quỳnh Lưu, Cương Gián, Tiên Điền… đó là những làng cổ còn giữ được phong cách, kiến trúc không gian cổ trên địa bàn tỉnh. Hy vọng, đó sẽ là những cái nôi nuôi dưỡng, gìn giữ không gian của ví giặm.

+ Xin cám ơn bà về cuộc trò chuyện!

Hồng Hà (thực hiện)

http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/11/di-san/110561/hoi-sinh-cho-cau-vi-giam.aspx

HỒ HỮU THỚI : DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI


Tham luận: DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI

Thứ bảy, ngày 18 tháng năm năm 2013
DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI

( Tham luận của nhạc sĩ HỒ HỮU THỚI )

 

 
  Dân ca xứ Nghệ nói chung, Ví, Giặm nói riêng đều xuất phát từ lao động sản xuất; mới đầu còn thô sơ, mộc mạc, về sau do tác động của nhiều yếu tố khác nhau đã hình thành những điệu hát dân ca trữ tình, hấp dẫn làm say đắm lòng người.
Ví, Giặm là hai thể hát khác nhau, theo PGS Ninh Viết Giao:
Ví là “ví von”:
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đồng”
Ví là “Với”, bên nam hát đối đáp với bên nữ.
Ví là “Vói”, bên nam đứng ngoài đường, ngoài ngõ hát vói vào trong sân, trong nhà đối đáp với bên nữ đang quay xa, kéo vải…
“Giặm” là xuất phát từ tính phân đoạn trong một bài hát giặm; Giặm là giắm vào, diền vào như giắm lúa, điền nan trong một cái rổ; Riêng ý kiến của PGS Ninh Viết Giao: “Giặm là tiếng vang lại của tiếng nói con người nơi núi rừng, nhất là khi chúng ta đi vào những khu rừng có nhiều vách đá thẳng tắp cheo leo, khi nói một câu chúng ta thường nghe lại tiếng nói của chính mình”. Hát giặm có hai hình thức: Hát giặm nam nữ và hát giặm vè (tức vè sáng tác theo thể hát giặm).    Ví, Giặm xứ Nghệ lúc mới ra đời chỉ là những câu hát riêng của chị em trong lúc lao động một mình, về sau có sự tham gia của những chàng trai, câu hát trở nên tình tứ, dịu dàng, uyển chuyển. Đặc biệt, từ khi có các nhà nho, nhà trí thức bình dân và một số nhà khoa bảng có danh tiếng tham gia, câu hát đã có thêm chất trí tuệ, chất uyên thâm, nho học; Buổi đầu đi chơi hát phường Vải họ thường bày câu hát cho bên nam, gọi là thầy gà. Rồi bên nữ cũng vậy, những buổi hát thế nào cũng mời cho được thầy gà. Dần dần các thầy gà trở thành người hát chính thức trong các cuộc chơi.

     Ví , giặm không chỉ hát đơn lẻ mà đã trở thành quy cách hát ví và thủ tục hát giặm (thủ tục hát giặm chỉ có trong hát giặm nam nữ). Quy cách hát ví thường có 7 bước, 3 chặng; Chặng 1 là các bước hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi; Chặng 2 là các bước hát đố và hát đối; Chặng 3 chặng quan trọng nhất, có nhiều câu hát hay gồm các bước: hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Quy cách này đã hình thành trong dân gian từ lâu đời, mang tính chất nguyên hợp (Phoncolo). Quy cách này chỉ thể hiện đầy đủ trong hát ví phường Vải, còn các điệu ví khác không có hoặc không đầy đủ.
Về thủ tục hát Giặm nam nữ cũng có 3 bước cơ bản: hát dạo, hát đối và hát xe kết. Trong bước hát dạo có khi chỉ hát chào, hát mừng, hát hỏi thay cho hát dạo còn hát đối hầu như vắng bóng. Quy cách hát cũng rất đơn giản, không đầy đủ như hát Ví. Vai trò nhà nho ít tham gia hát Giặm, nếu có chỉ là những nhà nho biết hát và thích hát, còn làm thầy bày, thầy gà thì rất khó. Vì hát Giặm nam nữ có bài tới ba, bốn chục câu; Thậm chí năm, sáu chục câu mà người hát phải hát liền một mạch thì không thể gà được.
Bên cạnh việc hình thành quy cách hát và thủ tục của cuộc hát, tính chất, không gian và thời gian của hát dân ca nói chung, Ví, Giặm nói riêng cũng là một vấn đề quan trọng cần tìm hiểu. Hát Xoan Phú Thọ là hát nghi lễ, hát ở cửa đền; Hát Quan Họ là hát giao duyên, hát trên sông, hát sau đền, hát trong hội Lim; Còn Ví, Giặm xứ Nghệ là hát trong lao động, hát trong lúc đang kéo sợi, dệt vải, đan lát rổ, rá, đi cấy, đi gặt, hái củi, chèo thuyền trên sông… với những tên gọi khác nhau như: ví phường Vải, ví phường Đan, ví phường Cấy, ví phường Củi… Về thời gian, khắp vùng xứ Nghệ ở đâu cũng vang lên câu Ví, câu Giặm, hát suốt quanh năm, hát cả bốn mùa, hễ nam nữ có dịp gặp nhau, cùng nhau lao động là cùng nhau hát Ví, hát Giặm.
Đôi nét khái quát trên để thấy rằng: Ví, Giặm xứ Nghệ, những giá trị vốn có mà chúng ta tiếp cận hôm nay không phải là bất di bất dịch, mà đã có sự bổ sung, hoàn thiện dần theo điều kiện phát triển của xã hội qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Ví dân ca là văn nghệ tự túc của người dân lao động, họ tự ngẫu hứng sáng tác và lưu truyền từ đời này sang đời khác; Quá trình ngẫu hứng sáng tác và diễn xướng truyền miệng là quá trình bổ sung, hoàn thiện và có thêm nhiều dị bản khác nhau. Tuy nhiên, dù bổ sung, hoàn thiện đến đâu thì dân ca nói chung, Ví, Giặm nói riêng vẫn nằm trong kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc, là tài sản vô giá của đất nước Việt Nam.
Vậy, Ví, Giặm xứ Nghệ trong đời sống đương đại thì sao?
Trong đời sống đương đại Ví, Giặm vẫn tồn tại, nói đúng hơn là tồn tại và phát triển một cách mạnh mẽ, khác với khái niệm bổ sung, hoàn thiện của thời kỳ còn mang tính chất nguyên hợp (Phoncolo), chưa bị ảnh hưởng các trường phái âm nhạc chính quy khác.
Vào đầu những năm 30 của thế kỷ trước, khi phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh bùng nổ, câu Ví, câu Giặm chuyển tải nội dung đấu tranh của công nhân Trường Thi, Bến Thủy, của nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Và không những câu Ví, câu Giặm chuyển tải nội dung mới, mà còn có cả sáng tác mới có dấu ấn tác giả, mang đậm chất Ví, Gặm xứ Nghệ.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lại xuất hiện những câu Ví, câu Giặm chuyển tải các nội dung: Tố cáo chiến tranh, tiễn người thân lên đường nhập ngũ, những mất mát hy sinh trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ; Kể cả những sáng tác mới của các tác giả mang đậm chất Ví, Giặm như: “Cùng nhau đi hùng binh”, “Ta lại đào công sự”, “Thần sấm ngã”…
Hòa bình lập lại, miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, cùng miền Nam tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Câu Ví, câu Giặm lại tiếp tục chuyển tải kịp thời, đầy đủ những nội dung mới của thời kỳ này. Câu Ví, câu Giặm không chỉ đứng một mình mà còn liên kết với nhau thành những tiết mục hoạt ca, hoạt cảnh để chuyển tải nội dung lớn hơn, phong phú và đa dạng hơn. Đặc biệt, từ khi phong trào sân khấu quần chúng của tỉnh phát triển (1960), nhiều vở kịch ngắn (kịch hát dân ca) xuất hiện, trong đó có các vở “Không phải tôi” của Nguyễn Trung Giáp, “Khi ban đội đi vắng” của Nguyễn Trung Phong, “Hỏi ai quan trọng” của Nguyễn Tiến Đang… Nhất là từ khi Đoàn Dân ca Nghệ An được thành lập (1973) (nay là Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ), hàng chục vở diễn được thể nghiệm thành công; Ví, Giặm xứ Nghệ không chỉ là điệu hát độc lập mà còn là lời hát của nhân vật trong các vở diễn sân khấu. Và một điều tất yếu là phải cải biên và phát triển Ví, Giặm xứ Nghệ, vì các làn điệu nguyên gốc trong những vở diễn hiện đại không đủ sức để chuyển tải tâm trạng, tính cách của nhân vật, nhất là những xung đột kịch sâu sắc. Nhiều làn điệu cải biên và phát triển Ví, Giặm xứ Nghệ đã đáp ứng được yêu cầu hình thành và phát triển bộ môn sân khấu “kịch hát dân ca xứ Nghệ”. Những làn điệu đó không chỉ sử dụng trong một vở mà nhiều vở diễn khác nhau, gọi là đa dùng; Không chỉ sử dụng trong sân khấu mà còn sử dụng độc lập trong các cuộc giao lưu gặp mặt thân mật, tiệc cưới, mừng sinh nhật…
Nhiều thập kỷ qua, phong trào văn nghệ quần chúng trong tỉnh phát triển mạnh mẽ, nhiều lễ hội dân gian, truyền thống được phục dựng, một số lễ hội mới cũng được hình thành và phát triển như: Lễ hội làng Sen, Lễ hội uống nước nhớ nguồn, Lễ hội sông nước Cửa Lò… Gần đây nhất là phong trào đưa dân ca vào trường học đã thực hiện hơn một thập kỷ qua trong hầu hết các trường phổ thông ở Nghệ An. Ví, Giặm xứ Nghệ thực sự đã đi vào đời sống cộng đồng, bằng những chương trình, tiết mục hát dân ca của các đội nghệ thuật quần chúng; Bằng những giờ dạy hát dân ca trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh; Bằng những giờ dạy hát dân ca của các thầy cô giáo trong các trường phổ thông; Và bằng những cuộc liên hoan hát dân ca hàng năm của tỉnh, của Sở Giáo dục – Đào tạo Nghệ An tổ chức. Tháng 6 này là cuộc Liên hoan Ví, Giặm xứ Nghệ lần thứ nhất được tổ chức tại thành phố Vinh, có sự phối hợp của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.    Ví, Giặm xứ Nghệ không những đi vào đời sống cộng đồng người Nghệ ngay chính quê hương, mà cả người Nghệ xa quê và những người không phải quê hương xứ Nghệ nhưng rất yêu thích dân ca xứ Nghệ. Họ được gia đình, người thân thường xuyên gửi tặng những đĩa hát dân ca, tiếp xúc với những vở diễn sân khấu hóa dân ca xứ Nghệ trên Đài Truyền hình Trung ương, những chương trình dân ca nhạc cổ Bắc, Trung, Nam trong đó có dân ca xứ Nghệ trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Họ không những tiếp xúc với các làn điệu Ví, Giặm nguyên gốc được đưa vào sân khấu thể nghiệm, đưa vào các chương trình hát dân ca, mà còn tiếp xúc với những bài ca đi cùng năm tháng như: “Trông cây lại nhớ tới Người”- Đỗ Nhuận, “Câu hát quê hương”- Hồ Hữu Thới -Nguyễn Trọng Tạo, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác”- An Thuyên…
Ví, Giặm xứ Nghệ trong đời sống đương đại không còn có không gian thật và môi trường diễn xướng vốn có, mà thay vào đó là sự tái hiện bằng sân khấu, sàn diễn các không gian và môi trường diễn xướng cũ. Người diễn xướng là diễn viên chuyên nghiệp, không chuyên và những người yêu thích dân ca, nhất là học sinh trong các trường phổ thông. Các nghệ nhân hát Ví, Giặm xứ Nghệ tuổi cao, sức yếu đã lần lượt ra đi, số còn lại chỉ đếm đầu ngón tay. Họ không còn đủ sức để tham gia diễn xướng như ngày xưa, chỉ làm được một số việc như: hát cho các nhà sưu tầm, nghiên cứu ghi âm để gìn giữ cho muôn đời sau, hát để truyền dạy cho lớp trẻ, trao đổi những vấn đề mà báo chí và các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu…
Ví, Giặm trong đời sống đương đại cũng không còn có hình thức văn nghệ tự túc như ngày xưa ông cha ta đã làm. Mặc dù ở đâu đó, trong các đội nghệ thuật quần chúng, thỉnh thoảng vẫn có các tiết mục tự biên, tự diễn; Nhưng tự biên, tự diễn ở đây vẫn khác với ngày xưa, tự biên tự diễn ở đây có dấu ấn tác giả, văn nghệ tự túc ngày xưa là của nhân dân.
Vậy, cần phải tiếp tục làm gì đối với Ví, Giặm xứ Nghệ trong thời gian tới?   Không phải đến bây giờ mới đặt vấn đề cần phải làm gì và làm như thế nào đối với tài sản vô giá Ví, Giặm xứ Nghệ, mà năm, sáu chục năm qua chúng ta đã làm, kết quả đạt được đại bộ phận người dân xứ Nghệ đều biết. Công việc cần làm hiện nay là chuẩn bị các điều kiện cần thiết để lập Hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận “Ví, Giặm xứ Nghệ là Di sản phi vật thể của nhân loại, cần bảo vệ khẩn cấp”. Lập Hồ sơ khoa học trên cơ sở những giá trị vốn có của ông cha để lại, không thể đưa những kết quả cải biên, phát triển Ví, Giặm xứ Nghệ vào Hồ sơ khoa học. Vì vậy, cần gấp rút tiến hành việc điều tra, khảo sát, đánh giá lại toàn bộ kho tàng dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ một cách khách quan, khoa học; Cần phục dựng lại một số quy tắc và thủ tục hát dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ để tuyên truyền rộng rãi ra cả nước và bạn bè quốc tế; Cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chương trình đưa dân ca vào trường học, dạy hát dân ca trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, định kỳ tổ chức Liên hoan Hát dân ca… Làm cho Ví, Giặm xứ Nghệ đi sâu hơn nữa vào đời sống cộng đồng, được cộng đồng đón nhận, lưu truyền gìn giữ và phát huy, cộng đồng là chủ nhân của dân ca Ví, Giặm.
Trong đời sống đương đại, không chỉ có cách làm là đưa Ví, Giặm vào các tác phẩm lớn như: kịch hát dân ca, kịch hát mới phát triển Ví, Giặm, thanh xướng kịch, opera, operette dựa trên chất liệu dân ca xứ Nghệ mới đáp ứng được đời sống tinh thần của nhân dân. Chúng ta đang ở ngay chính giũa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập và phát triển tiềm năng du lịch, trong đó kể cả di sản Ví, Giặm xứ Nghệ, là những sản phẩm vô giá để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Chỉ cần tổ chức những chương trình hát dân ca Ví, Giặm ngắn gọn, nhỏ nhẹ ở các điểm du lịch quan trọng, có thể làm thỏa mãn đời sống tinh thần của nhân dân địa phương và du khách gần xa. Chính đây mới là cái cần làm đối với dân ca Ví, Giặm trong đời sống đương đại, còn cái mới (ví, Giặm cải biên và phát triển), họ đã được nghe nhiều trên hệ thống thông tin đại chúng.
Ví, Giặm xứ Nghệ trong đời sống đương đại chắc hẳn còn nhiều cái phải bàn và nhiều việc phải làm. Một số nét khái quát trên là quá trình chúng tôi sống với Ví, Giặm, lặn, ngụp cùng Ví, Giặm để làm nghề, xin được nêu ra để cùng tham khảo. Hy vọng, Ví, Giặm xứ Nghệ sớm được UNESCO công nhận là “Di sản phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp”. Đến lúc đó, nhân dân xứ Nghệ nói riêng, nhân dân cả nước nói chung sẽ cùng vui mừng chào đón lễ vinh danh Ví, Giặm xứ Nghệ.

Đăng lại bài trên:  Blog Nguyễn Trọng Tạo

 

Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Viet Nam) , Intangible Cultural Heritage UNESCO 2014


Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Viet Nam)
Liste représentative – 2014

Dossiers en cours (2014)

Vous trouverez ci-dessous les dossiers pour le cycle 2014. Cette liste n’est pas encore complète et est mise à jour quodiennement au fur et à mesure de l’enregistrement des dossiers éligibles reçus.

Il s’agit de dossiers de candidatures pour la Liste de sauvegarde urgente ou la Liste représentative, de propositions pour le Registre des meilleures pratiques de sauvegarde ainsi que de demandes d’assistance internationale supérieure à 25 000 dollars des États-Unis. Le Comité sera amené à les examiner lors de sa neuvième session en novembre 2014.

Files under process (2014)

Below are the files for 2014 cycle. This list is not yet complete and is updated daily as eligible files are being registered.

This list includes nominations for the Urgent Safeguarding List or the Representative List, proposals for the Register of Best Safeguarding Practices and requests for International Assistance of more than US$ 25,000. The Committee will examine them during its ninth session in November 2014.

http://www.unesco.org/culture/ich/index.php?lg=en&pg=00581&include=slideshow.inc.php&id=01008&width=620&call=slideshow&mode=scroll

TRẦN HOÀI : DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI, VIETNAM


DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI

 
QĐND – Thứ Ba, 09/04/2013, 22:34 (GMT+7)
 

QĐND – Mới đây, hồ sơ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi đến UNESCO, đề nghị xem xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ví, giặm là thể hát dân ca không có nhạc đệm, được sáng tạo và phổ biến trong quá trình sinh hoạt, lao động, sản xuất, mang đậm dấu ấn bản sắc địa phương về ca từ, giọng điệu, âm điệu. Trải qua bao thăng trầm, dân ca ví, giặm vẫn khẳng định sức sống âm thầm mà bền bỉ trong đời sống nhân dân…

Trong đời sống sôi động hiện nay, cũng như dân ca của các vùng miền khác, dân ca Nghệ Tĩnh có những biểu hiện mai một đáng tiếc. Cần phải làm gì và làm như thế nào để bảo tồn và phát huy, phát triển kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh là vấn đề vô cùng lớn và khó khăn… Nói đến bảo tồn dân ca, theo một số nhà nghiên cứu, bao gồm nhiều hình thức: Bảo tồn phục cổ, tức là bảo lưu toàn bộ giá trị nguyên dạng cả làn điệu, cả môi trường, cả không gian diễn xướng và bảo tồn hình thái văn hóa. Thực tế hiện nay, dân ca ví, giặm hiện đang được bảo tồn ở dạng văn bản, tức là các làn điệu; còn vấn đề bảo tồn không gian văn hóa, hình thái diễn xướng thì còn nhiều trở ngại… Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ngành văn hóa Nghệ Tĩnh đã dàn dựng, thể nghiệm các vở diễn sử dụng chất liệu dân ca ví, giặm để phát triển tình huống, xung đột kịch, diễn tả nội tâm nhân vật. Quá trình đó gọi là “sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh” và tạo ra thể kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh, với những vở kịch tiêu biểu như “Mai Thúc Loan”, “Không phải tôi”, “Cô gái sông Lam”…

 
Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012. Ảnh: http://donghuonghatinh.vn

Tuy vậy, không gian văn hóa và diễn xướng của dân ca ví, giặm không chỉ ở sân khấu, lễ hội được tổ chức “hoành tráng” mà là những nơi diễn ra sự kiện của làng xóm cư dân với sự tham gia của cộng đồng, diễn ra tại khắp mọi nơi như khi đang làm đồng, khi chèo thuyền đánh cá, khi dệt vải… Vì thế, vấn đề bảo tồn không gian văn hóa dân ca ví , giặm đòi hỏi các cấp chính quyền và ngành văn hóa cần tìm tòi, tổ chức và nhân rộng những mô hình hoạt động phù hợp. Hiện nay, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã thành lập được một số câu lạc bộ dân ca ví, giặm. Ví, giặm cũng đã được đưa vào các trường học từ nhiều năm nay. Nhưng qua khảo sát và tìm hiểu thực tế, hiệu quả của phong trào mới chỉ dừng lại ở hoạt động “bề nổi”, chưa tạo ra được chuyển biến thực sự trong nhận thức, tình cảm và kỹ năng hát dân ca ví, giặm trong cộng đồng. Sự tồn tại của di sản dân ca ví, giặm nếu chỉ được đặt ra trên các sân khấu, trong các câu lạc bộ hay ở các tiết học ngắn ngủi của trường học, thì đó chỉ là sự tồn tại một cách “hình thức”. Những người yêu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh cho rằng, cần nhìn thẳng vào thực tế để tổng kết, đánh giá hiệu quả của công tác bảo tồn, phát huy di sản dân ca, xem xét một cách nghiêm túc các giải pháp đã thực hiện có hiệu quả đến đâu, ở mức độ nào; cần có những nghiên cứu chuyên sâu về môi trường văn hóa, tâm lý, thị hiếu âm nhạc của công chúng đương đại để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp bảo tồn, phát huy di sản dân ca cổ truyền. Để thực hiện được điều đó, các cấp, các ngành chức năng cần thay đổi nhận thức, phát huy tính chủ động, sáng tạo nghiên cứu, đồng thời đầu tư thỏa đáng cho bảo tồn và phát triển dân ca ví, giặm; tổ chức tuyên truyền, quảng bá rộng rãi dân ca ví dặm…

Một sự thật khách quan là không gian diễn xướng dân ca ví,  giặm nguyên bản như “cây đa, giếng nước, sân đình” cổ xưa đã không còn. Nhưng để tồn tại với tư cách là một hình thức văn nghệ dân gian thì ví, giặm phải được tồn tại trong chính cuộc sống của cộng đồng. Điều đó có nghĩa di sản dân ca ví, giặm đang đòi hỏi cần có không gian mới để tồn tại và phát triển, phát huy sức mạnh văn hóa, tinh thần trong cuộc sống hiện đại ngày nay…

TRẦN HOÀI

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/236986/print/Default.aspx