NGUYÊN ANH : Ðôi uyên ương đẹp của làng âm nhạc truyền thống


tran quang hai_bach yen 2
 
GS-NS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến

 

 

Ðôi uyên ương đẹp của làng âm nhạc truyền thống
[02/11/2011 15:10:34]

Trong giới mộ điệu âm nhạc dân gian trong nước và nước ngoài, mấy ai không biết đến đôi vợ chồng rất sáng tạo trong công việc mà lại chỉn chu trong đời sống gia đình, đó là Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải và nữ ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến. Họ là hình ảnh đẹp về dòng nhạc truyền thống của Việt Nam trong thời toàn cầu hóa.

Trần Quang Hải: Không dựa bóng cha

Giáo sư nhạc sĩ Trần Quang Hải là một trong hai người con trai của Giáo sư, Tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê. Anh là người con trai duy nhất nối nghiệp cha đi theo con đường âm nhạc, nỗ lực bảo vệ, phát huy âm nhạc truyền thống. Gia đình anh nhiều đời làm nghệ thuật cổ truyền. Cụ cố Trần Quang Thọ là nhạc công trong cung đình Huế. Bên ngoại là dòng dõi của Nguyễn Tri Phương, vị quan yêu nước đã tử tiết khi Pháp chiếm thành Hà Nội. Trong gia đình của cụ Nguyễn Tri Phương từng nuôi nhiều nhạc sư nổi tiếng. Bố anh, Giáo sư Trần Văn Khê là người say mê âm nhạc, rất nhiều cao vọng trong sự nghiệp, lại tham gia phong trào văn nghệ sĩ chống Pháp cùng Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng… Thấy thế, gia đình vội lo chuyện gia đình, để có người nối dõi sự nghiệp sau này. Trần Quang Hải cho biết: Lúc đó còn đang học trường thuốc, Trần Văn Khê nghe lời người cô Trần Ngọc Viện, người đã lo cho ăn học từ nhỏ tới lớn, để lập gia đình, với hy vọng có con trai nối dòng họ Trần. Trong gia đình họ Trần, thân phụ Trần Văn Khê đã qua đời sớm , để lại hai trai là Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch (từ trần năm 1994 tại Paris, Pháp). Nếu không may hai cậu trai ấy qua đời mà chưa có con trai nối dòng thì dòng họ Trần sẽ tuyệt. Nghe theo lời của cô, Trần Văn Khê chịu lập gia đình.


Nhạc sĩ Trần Quang Hải và cha – GSTS Trần Văn Khê

Trần Quang Hải ra đời ngày 13-5-1944, tại Linh Ðông, Thủ Ðức, Sài Gòn. Không chỉ dòng tộc vui mừng mà bạn bè của Trần Văn Khê cũng vô cùng háo hức. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã viết ca khúc “Trần Quang Hải bao nỗi mừng” để chia vui với người bạn chí thân!

Tiếng là con nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng Trần Quang Hải phải sống cuộc đời tự lập từ bé. Gia đình anh tản cư về đồng bằng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Huỳnh Văn Tiểng (Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ) bổ nhiệm bố anh làm “Nhạc trưởng quân đội Nam Bộ” với cấp đại đội trưởng trong chiến khu, nên bố con không mấy khi gặp nhau. Sau đó bố anh về thành, hoạt động cùng với anh em văn nghệ sĩ, bị lộ, năm 1948 Trần Văn Khê bị bắt.  Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp, vừa “lánh nạn”, vừa du học với hai bàn tay trắng, để lại gia đình sau lưng. Sự nghiệp âm nhạc của Trần Văn Khê thành công rực rỡ, uy tín khắp toàn thế giới. Ở quê nhà, Trần Quang Hải phải tự lập để học tập và phấn đấu vươn lên, khi người cha không còn ở Việt Nam nữa. Anh học ở Trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn, theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, tốt nghiệp Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn năm 1961.

Sang Pháp năm 1961, Trần Quang Hải miệt mài học tập. Ban đầu, anh mơ ước trở thành một nghệ sĩ violon. Nhưng nhờ sự góp ý khéo léo của cha mình, anh hiểu rằng, cái đang cần và anh có thể thành công chính là trở thành một chuyên gia về âm nhạc Việt Nam, âm nhạc châu Á. 

Trần Quang Hải học khá nhiều ngành về nghệ thuật, để bổ trợ lẫn nhau. Anh lấy chứng chỉ văn chương Pháp, Ðại học Xoóc-bon, Pa-ri, 1963, chứng chỉ dân tộc nhạc học, Viện Dân tộc học Pa-ri, 1964, chứng chỉ Anh văn Cambridge năm 1964. Sau đó anh tốt nghiệp cao học dân tộc nhạc học, Trường Cao đẳng Khoa học Nhân văn, Pa-ri, rồi tốt nghiệp Trung tâm Nghiên cứu nhạc Ðông Phương về lịch sử năm 1969, lấy chứng chỉ Âm thanh học, Ðại học Khoa học, Pa-ri.

Trần Quang Hải là tiến sĩ Dân tộc nhạc học năm 1973. Năm 1989, anh tốt nghiệp giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ Văn hóa Pháp tổ chức. Trần Quang Hải chính thức trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc truyền thống châu Á.

Bạch Yến – Diễn mô-tô bay và hát nhạc ngoại

Ca sĩ Bạch Yến có giọng hát rất đặc biệt. Chị nổi tiếng ở nước ngoài hơn là trong nước.

Lúc còn nhỏ Bạch Yến đã đoạt huy chương vàng ca nhạc thiếu nhi của Ðài phát thanh Pháp Á năm 1953. Tuy nhiên do kinh tế sa sút, bố mẹ chia tay, cuộc sống của chị rất khó khăn. Chị đi diễn xiếc mô-tô bay khi còn rất nhỏ, và có lần bị xe đè lên người gây chấn thương.

Bạch Yến bước vào sự nghiệp ca hát ở Việt Nam từ năm 1956, vất vả lặn lội trong các phòng trà, vũ trường. Năm 1961 chị sang Pháp học thanh nhạc và thật may mắn, với tài năng của mình, trong hai năm chị đã được mời thu 3 đĩa hát tại Pháp!

Khi chị về nước, với tiếng tăm của mình, chị đã được mời tham gia vào chương trình Ed. Sullivan show đang rất nổi ở Mỹ. 

Bạch Yến không ngờ, với hợp đồng ban đầu tại Mỹ hai tuần, chị đã ở Mỹ biểu diễn 12 năm ròng, từ năm 1965 đến năm 1977. Chị là ca sĩ Việt Nam duy nhất từng trình diễn chung với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Mike Douglas… ngay tại Mỹ. 

Ðến khi gặp Trần Quang Hải, chị quyết định rời Mỹ sang định cư ở Pháp, đó là năm 1978.

Hai người vốn biết nhau từ năm 1963 ở Pháp. Bẵng một thời gian dài, năm 1978, chị tình cờ gặp lại anh trong một đại nhạc hội ở Pa-ri. Chị từng bộc bạch: “Anh Trần Quang Hải mời tôi đi ăn cơm. Sau bữa cơm, anh nói “mình cưới nhau đi”, tôi tưởng anh đùa nên cũng đùa “ừ, cưới thì cưới”, chẳng dè anh ấy làm thật, hai tuần sau cưới liền”.

Chị cũng cho biết, hồi nhỏ như bao người khác, mong có tấm chồng để nhờ. Khi thành đạt rồi, chị thấy có thể sống một mình, tự do thoải mái. “Vậy mà không hiểu sao khi anh Hải nói mình cưới nhau đi, tôi lại gật đầu liền”. Họ thực là một sự kết hợp thú vị. Như đôi uyên ương, thời gian tưởng chia cắt họ, nhưng rồi họ vẫn tự nhiên mà đến với nhau. Như một định mệnh!

Cùng bước đi trên con đường âm nhạc dân tộc

Theo truyền thống Việt Nam, “lấy chồng thì phải theo chồng”, Bạch Yến đã từ bỏ sự nghiệp hát nhạc quốc tế để hát nhạc truyền thống của Việt Nam. 15 năm trời chị chuyên tâm học hát nhạc cổ truyền của dân tộc.

Họ đi hát với nhau, chồng áo dài khăn đóng, vợ áo nâu sòng, áo tứ thân, năm tà, đi guốc mộc, hài đen, vấn khăn đen… Chị rất nỗ lực, bởi như có lần chị tâm sự: “Ði biểu diễn là đi làm văn hóa, đi truyền bá văn hóa dân tộc chứ không chỉ là làm văn nghệ”. Hai vợ chồng chị đến hơn 70 quốc gia đã biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam.

Nhạc sĩ Trần Quang Hải có người nâng khăn sửa túi, càng thêm hăng hái làm việc. Anh là Hội viên của 20 hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế; giảng dạy âm nhạc tại hơn 100 trường đại học của 50 quốc gia trên thế giới. 


Hình ảnh quen thuộc của đôi uyên ương âm nhạc truyền thống

Trần Quang Hải và Bạch Yến đã diễn khoảng 3.000 buổi biểu diễn nghệ thuật truyền thống Việt Nam tại hơn 100 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế. Họ đã phát hành 15 đĩa nhựa, tám CD, bốn phim vi-đê-ô, và tham gia vào 10 CD của những cơ quan nghiên cứu quốc tế… Ðặc biệt, hai vợ chồng có 8.000 học trò tại 70 quốc gia trên thế giới.

Một kỷ niệm chung đáng nhớ đánh dấu sự ăn ý của cặp uyên ương này, trong lĩnh vực âm nhạc dân gian,  đó là vào năm 1983, Bạch Yến cùng Trần Quang Hải đoạt giải thưởng lớn nhất dành cho một đĩa nhạc dân ca cổ (Grand Prix Du Disque de l’Académie Charles Cros).

Nhưng có lẽ niềm vui lớn nhất của Trần Quang Hải và Bạch Yến là trong thời mở cửa giao lưu, phát triển thông tin in-tơ-nét, họ có điều kiện về nước làm việc và biểu diễn nhiều hơn. Sau 50 năm ca hát, nổi tiếng khắp nơi, Bạch Yến có dịp gần gũi hơn với người xem trong nước. Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải cũng có tham gia nhiều hơn vào công tác bảo tồn phát huy âm nhạc truyền thống tại Việt Nam. Con gái của anh chị cũng có điều kiện để gắn bó với đất nước Việt Nam của mình.

Nguyên Anh

VI THÙY LINH : Cố NSND Sỹ Tiến và câu nói bất hủ: “Nếu ta chết, đừng chôn ta!”(*), VIETNAM


Cố NSND Sỹ Tiến và câu nói bất hủ: “Nếu ta chết, đừng chôn ta!”(*)

Thứ Ba, 22/05/2012 13:57 |

(TT&VH) – “Kịch Sỹ Tiến thổ tận can tràng – một công nhân sân khấu. Bổn đoàn không quảng cáo hoang đường, quý vị sẽ thấy Chu Du hộc máu như thực, được thể hiện bởi Sỹ Tiến” – đoạn quảng cáo này cùng ảnh Sỹ Tiến là áp-phích dán khắp Hải Phòng 50 năm trước.

1. Tôi có dịp cùng danh ca Lệ Quyên – con gái út NSND Sỹ Tiến về Hải Phòng Hè 2010, cùng chị đi qua các rạp hát mà bố mẹ và chị đã diễn.

Đứng ở bến xe Tam Bạc, nơi đoàn Kim Ngọc từ Sài Gòn ra đóng đại bản doanh hồi thập niên 1950, mời Sỹ Tiến xuống diễn, chị đã khóc.

Con đông, khi có tuổi, Sỹ Tiến vẫn đi diễn. Lửa nghề làm ông bền sáng. Những vai Tống Nhân Tông (vở Tống Nhân Tông tra án Quý Phi), Ngũ Tử Tư, Quan Công, Chu Du, An Lộc Sơn là các vai thành công của ông không ai bì kịp.

 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao Giải thưởng Hồ Chí Minh cho NSƯT Khánh Hợi – vợ cố NSND Sỹ Tiến ngày 19/5. Ảnh Nguyễn Đình Toán

Để thu hút khán giả, được ông thầy lang người Hoa mách nước, ông đun thuốc Bắc và phẩm, tối diễn thì chiều phải nhịn ăn, uống 2 lít “thuốc” ấy. Đến màn diễn, vừa hát vừa vũ đạo vẫn đứng tại sân khấu, 3 lần thổ huyết, “máu” phun 3 lần khác nhau, lần cuối như vòi rồng “phun” vào Trương Phi đỏ cả phục trang, bắn xuống khán đài.

Màn “rùng rợn” ăn tiền này, giới sân khấu cả nước chỉ Sỹ Tiến làm được. Ông vận hơi, điều khí để “phun” được đúng lúc, đẹp và hiệu quả, là quặn thắt ruột gan.

Đàn con 8 người, nuôi thêm các cháu, lại hiếu khách, nên căn gác 24 phố Lương Ngọc Quyến nhà ông luôn là “câu lạc bộ”, nơi tụ họp nhiều tên tuổi lớn của giới sân khấu và văn học. Những bậc lớn tuổi hơn luôn coi ông là bạn, do ông theo nghề, nổi tiếng sớm, vì tài mà trọng nhau.

2. Trước 1954, ông đã là ký giả sân khấu sắc sảo, bởi là người trong cuộc, viết về sân khấu là viết về tình yêu nước, đả kích lũ tay sai cho Tây, nên độc giả, bạn nghề gọi ông là “Molière Việt Nam” (Molière 1622-1673, nhà hài kịch lớn nhất Pháp thế kỷ 17). Chất nhân văn, khát vọng về cái đẹp, lòng bác ái trước thân phận cùng khổ, lại khiến ông được mệnh danh “Victor Hugo Việt Nam”.

Vở kịch đầu tiên trên sân khấu Hà Nội sau ngày giải phóng, tháng 10/1954 cũng là vở đầu tiên viết về đề tài công nhân Giành ánh sáng tự do (được Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN chọn là 1 trong 100 vở hay nhất) do Sỹ Tiến viết. Báo L’ Humanité (Nhân đạo) của cơ quan T.Ư Đảng Cộng sản Pháp số ra 9/5/1955 đã giới thiệu về Sỹ Tiến và vở này, ví nó như vở: Mặt trời là của chúng tôi, Tổ quốc khi phát xít chiếm đóng Paris của Pháp.

 

NSND Sỹ Tiến và NSƯT Bích Được (vai Hoạn Thư) trong phòng hóa trang rạp Chuông Vàng, trước giờ diễn vở Kiều (1962)

3. Cả đời Sỹ Tiến không được phân nhà, chưa một lần xuất ngoại. Văn cách, tâm hồn ông luôn phóng khoáng, rộng mở, đầy yêu thương.

Bút tích Thế Lữ chép tặng lớp kịch An Lộc Sơn và Dương Quý Phi làm quà tặng sinh nhật 60 Sỹ Tiến, ghi rõ: “Thân ái tặng anh Sỹ Tiến lớp kịch mà anh đã sống với An Lộc Sơn những giây phút tuyệt vời trên sân khấu ngày nào”.

Nghệ sĩ Võ An Ninh thì tặng ảnh đen trắng ông ngồi đò trên suối Yến, rủ bạn Sỹ Tiến du xuân chùa Hương. Còn học giả Hoa Bằng thì viết “Trên trang hý khúc thân yêu/ Có danh Sỹ Tiến hùng kiêu, anh tài”. ĐD-NSND Phạm Văn Khoa cứ tiếc vì chưa mời được Sỹ Tiến vào một phim của ông.

Bị huyết áp cao, tai biến, vậy mà hễ tỉnh, ông lại nhắc đến nghề, hỏi thăm đồng nghiệp.

Năm 1976, ông được cử vào TP.HCM thanh tra văn hóa, gặp lại các bạn thời tuổi trẻ, những người từng giữ, mời ông vào Nam mở đoàn hát. Lúc ốm nặng, ông vẫn ước ao vào Sài Gòn vì nhớ bạn, thương những ngôi sao vang bóng quạnh hiu tuổi xế chiều.

Khi nghệ sĩ Kim Chung từ Pháp về, tới BV Việt Xô thăm ông, kỳ lạ thay, Sỹ Tiến minh mẫn lạ thường, nhớ lại tất cả kỷ niệm quan trọng của đời sân khấu, nói tới các bản thảo, dự định dang dở. Sự bừng lóe ấy là lần cuối, ngay đêm đó 17/11/1982, ông từ trần. Người nghệ sĩ sinh mùa Xuân ra đi vào mùa Đông, để lại nhiều công trình quý giá với những nhan đề khiêm nhường: Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương, Tìm nguồn âm nhạc cổ điển dân tộc, Hướng dẫn sử dụng nhạc cụ dân tộc, Nhà soạn kịch cải lương Trần Hữu Trang, Lịch sử sân khấu cải lương, Lịch sử sân khấu tuồng, Lịch sử sân khấu chèo, Viết một vở cải lương như thế nào, Ba mươi năm sân khấu cải lương XHCN…

 

“Nếu ta chết, đừng chôn ta! Hãy căng da ta lên mặt trống, để ta được sống gần sân khấu mỗi ngày” (NSND Sỹ Tiến)  

4. Các lão nghệ sĩ cải lương ở Hà thành, nay chỉ còn NSƯT Khánh Hợi (1923 – đang ở 1A Mã Mây), NS Tám Toàn (1920, ở 12 Ngõ Gạch), NSƯT Bích Được (1925, đang ở Thanh Nhàn, là bà ngoại ca sĩ Minh Ánh, Minh Anh), vợ chồng NSƯT Tiêu Lang (1929) và Kim Xuân (1931) vẫn ở 48 Bát Đàn, NS Châu Thuận (1926, ở 37 Hàng Ngang), đều đã ngoài 80, 90 tuổi. Đó là những tài danh quý báu của Thủ đô, của sân khấu VN. Tất cả họ đều không quên Sỹ Tiến.

Và di sản đồ sộ của sự nghiệp Sỹ Tiến, vẫn kéo dài ánh sáng không chỉ trong hồi quang ký ức, mà trong khát vọng của những tình yêu máu thịt, đam mê dành cho sân khấu VN của các lớp thế hệ nghệ sĩ chưa bao giờ lụi tắt. NSND Sỹ Tiến có một câu nói được nhiều người biết, nay đã thành bất hủ. Câu nói vẫn còn như vang vọng khắp các sân khấu, các ngõ ngách của đời sống sân khấu, không chỉ phía hào quang sáng đèn, mà cả sau cánh gà, nơi “hố nhạc” (vị trí của các nhạc công đứng, ngồi để chơi trực tiếp cho vở diễn). Đó là ngọn lửa tiếp truyền cho các nghệ sĩ thời ông và sau này: “Nếu ta chết, đừng chôn ta! Hãy căng da ta lên mặt trống, để ta được sống gần sân khấu mỗi ngày”.

Với Sỹ Tiến, sân khấu là sự sống. Ông đã truyền tình yêu nghệ thuật, văn chương cho các con, truyền lửa cho đồng nghiệp của mình. Ông vẫn sống, bóng tỏa một “dị nhân” bằng vai diễn và máu chữ của người đã tận hiến cho sân khấu đến cả linh hồn.

(*) Tiếp theo kỳ 1: Chuyện về “ông hoàng cải lương đất Bắc” trên TT&VH số ra ngày 21/5.

Vi Thùy Linh

VI THỤY LINH : Chuyện về “ông hoàng cải lương đất Bắc, NSND SỸ TIẾN


Cố NSND Sỹ Tiến được trao giải thưởng Hồ Chí Minh:

Chuyện về “ông hoàng cải lương đất Bắc

Thứ Hai, 21/05/2012 10:20 |

(TT&VH) – Nghệ sĩ duy nhất của giới cải lương miền Bắc cho đến nay, vinh dự được tặng giải thưởng danh giá bậc nhất Việt Nam – Giải thưởng Hồ Chí Minh – là NSND Sỹ Tiến (1916 – 1982), một nghệ sĩ toàn năng hiếm có của nền sân khấu VN thế kỷ 20, người được giới nghề ghi nhận tài năng xuất chúng và nhân cách lớn. 

Đón nhận giải thưởng từ Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, là người vợ ông – NSƯT Khánh Hợi (90 tuổi), hiện là nữ nghệ sĩ cải lương (CL) cao tuổi nhất VN. Do con cái sống ở nước ngoài và TP. HCM, việc làm hồ sơ chậm, nên sau khi qua đời 30 năm, NSND Sỹ Tiến- cánh chim đầu đàn của CL miền Bắc mới được tôn vinh – niềm vinh dự không chỉ riêng cho gia đình, dòng họ ông, mà còn với nghệ thuật CL Bắc.

Tầm vóc lỗi lạc và những tác phẩm đỉnh cao của ông, bao năm qua vẫn được truyền tụng, đề cao qua những đánh giá đầy trân trọng của các học giả, nghệ sĩ nổi tiếng các thế hệ. Sau khi qua đời, hai lần ông được tôn vinh, và đều là người đầu tiên của CL Bắc: danh hiệu NSND đợt 1 (1984), và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 4 (2012).


Cố NSND Sỹ Tiến.

1. NSND Doãn Hoàng Giang – Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội NSSK VN nhấn mạnh: “Tôi rất yêu mến và kính trọng ông Sỹ Tiến, vừa tài, vừa đẹp, một vẻ đẹp văn minh. CL là nghệ thuật kịch hát xuất xứ từ miền Nam, mà Sỹ Tiến lại nhiều lần dẫn đoàn vào Nam – cái nôi CL. Đúng như ông mong muốn, miền Bắc chính là “chiếc xe nôi” đưa CL tiến lên. Tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, ông đã làm nghiêng ngả cả nghệ sĩ lẫn khán giả CL và được gọi là “ông hoàng CL đất Bắc”. Nhiều kỷ lục của Sỹ Tiến đến nay chưa ai vượt được”.

Niềm vui lớn cuối đời của lão nghệ sĩ Khánh Hợi là sự tưởng thưởng xứng đáng cống hiến lớn lao của NSND Sỹ Tiến với CL nói riêng, nền sân khấu (SK) VN nói chung. Từ Paris, bà đã bay một mình về Hà Nội hôm 25/3, để chờ đón ngày trọng đại. Tuổi cửu thập vẫn minh mẫn, đôi mắt bà ánh lên hạnh phúc mà lệ chứa chan.

SK là cuộc sống của vợ chồng bà. Họ vào nghề từ năm 8 tuổi và tận lực đúng nghĩa “sinh nghề tử nghiệp”. Sỹ Tiến đã xả thân trọn đời vì sân khấu bằng tình yêu, đam mê mãnh liệt từ tài năng kiệt xuất, đa dạng nhiều lĩnh vực. GS-Anh hùng lao động Vũ Khiêu, người bạn thân cùng tuổi NSND Sỹ Tiến nhận định: “Sỹ Tiến – sống chết vì sân khấu bằng tài năng toàn diện, nhân cách cao cả, là nghệ sỹ lớn trong các nghệ sĩ lớn nhất, ngôi sao sáng trong những ngôi sao sáng nhất của nền SK VN thế kỷ 20”.

2. Năm 1957, Sỹ Tiến tham gia sáng lập Hội Nhà văn VN, Hội Nghệ sĩ sân khấu VN khi đã có mấy chục năm tuổi nghề trên cả hai lĩnh vực. Thiên khiếu cho ông sự say mê, can đảm theo nghiệp dẫu bao nhọc nhằn khổ ải. Cậu bé Nguyễn Xuân Kim (tên thật của ông) rất nhỏ đã thuộc, ngâm thơ Phan Bội Châu theo ông nội, 8 tuổi lên SK, 14 tuổi viết được những bài ca đầu tiên, theo đúng niêm luật bài bản; 18 tuổi đã lẫy lừng SK ba miền, có cuộc đời như một vở diễn, một bộ phim li kỳ, một  tiểu thuyết chương hồi hấp dẫn, gay cấn. Và khi nhân vật chính đã từ trần 30 năm, xem kịch bản (KB) của ông, tất cả vẫn còn sống động, gây dư chấn.

Đọc tác phẩm Sỹ Tiến, nghe những nghệ sĩ cùng thời, học trò Sỹ Tiến kể lại, tôi như “nhập đồng” tình yêu sân khấu (SK) của bậc tài hoa.

Chưa một hồi ký nào khiến tôi bị cuốn hút và xúc động đến thế. Đích thực những trang viết “chưng cất” từ mồ hôi, nước mắt, tim não tác giả, làm sống dậy cả một “triều đại” kịch hát thăng hoa hơn nửa thế kỷ, có danh vọng lẫn đắng cay, hạnh phúc và mất mát.

Vì quá mức khiêm tốn, ông đã giấu mình khi viết về hành trình SK trong vai trò của một kép chính, soạn giả danh tiếng được các bạn, đoàn, gánh 3 miền nể trọng, là chứng nhân của các sự kiện SK mà ông tham gia, như một nhân tố chủ lực. Độc giả tinh vẫn nhận ra nỗi thiết tha ham cống hiến, tình nghĩa, sự liên tài của ông với đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc.

Cố NSND Sỹ Tiến vai Ngũ Tử Tư (năm 1935).

3. Lịch sử CL miền Bắc và lịch sử cải lương VN có một “sử gia” ghi lại, đó là Sỹ Tiến, cuộc đời ông như “biên niên sử” của sân khấu HN. Tầm vóc hàng chục công trình nghiên cứu các lĩnh vực tuồng, chèo, cải lương, giáo trình hướng dẫn sử dụng nhạc cụ dân tộc của SK kịch hát dân tộc (đã in sách hoặc lưu trữ tại Viện Nghệ thuật SK) khiến “ Sỹ Tiến là người đầu tiên nghiên cứu và viết giáo khoa thư – nền tảng của Cải lương học” như Phó GS Tất Thắng viết về ông.

Nhiều công trình nghiên cứu sau này đều từ nền tảng tinh hoa ấy, mà tác giả hoàn toàn tự học, không học hàm học vị. Tác phẩm của Sỹ Tiến là khối lượng đồ sộ gần 100 KB. Nhìn danh mục tác phẩm của ông, tôi kinh ngạc không hiểu nổi bộ não sáng tạo ấy đã viết khi nào lúc nào khi đời sống qua nhiều nổi nênh, gánh vác vai trò lãnh đạo, lo từ chuyên môn tới cơm áo cho anh em, gây dựng tiếng tăm cho các đoàn, mà chẳng màng danh lợi.

Cả đời ông không hề lĩnh lương, không biết giữ tiền, chịu nhiều thua thiệt. Vợ ông lại tính nghệ sĩ hào phóng, nên ông bà chẳng thể giàu, với đàn con 8 đứa và những đứa cháu nghèo phải nuôi, với thân thể bị bệnh phổi, gan từ 1962 rồi đau dạ dày nặng – bệnh nghề nghiệp sau những vai diễn để đời.

Trả giá ư? Nếu coi đó là trả giá, thì Sỹ Tiến đã dám trả rồi. Trong sự “hoang tưởng” của tuổi trẻ, giả dụ có sống gấp đôi số mệnh mình, tôi không viết nổi 1/5 lượng tác phẩm Sỹ Tiến. Và tôi biết, rất nhiều người kính phục ông, không chỉ bởi tài năng phi thường mà bởi tất cả họ cộng lại, cũng không thể có độ điên say tận hiến đến phút cuối như Sỹ Tiến, người được những người bạn danh tiếng trong giới cầm bút gọi là “Victor Hugo Việt Nam” “Molière Việt Nam” bởi sự đa dạng và tính nhân văn, hài hước trí tuệ trong các vở diễn mà ông là tác giả.

4. Vào nghề, có năng khiếu thiên bẩm, lại sáng dạ, chịu tập, rèn mình khắc nghiệt, cậu bé Kim 8 tuổi đã được lưu diễn kiếm tiền, trong khi vẫn phải làm “hậu đài”, “chạy cờ” mà DV tập sự học nghề phải trải. Trưa nắng to, bà chủ gánh bắt cậu mặc mũ mão cân đai, đi hia, ngồi xe rong khắp thị xã Bắc Giang, quảng cáo cho suất diễn tối. Mấy chị mới lớn, có chút tiền buôn bán, viết thư tình, mua nước hoa gửi qua bà hàng nước cửa rạp.

Khổ nỗi, cậu bé xinh trai hát hay múa đẹp kia nào biết chuyện ái tình. Các chị kéo nhau “bao vây” cửa rạp, đòi lại quà. Kinh hãi, Kim bỏ Bắc Giang về Hà Nội. Từ đây, cậu lại đi bộ đến Nam Định, rồi nhập ban gánh vào Nghệ An, gặp anh ruột. Cậu xin phép, cũng là thông báo, cậu sẽ theo đoàn Mụ Giám (ông chủ gánh người Hoàng tộc, ở Huế đàn ông quyền quý cũng gọi là “Mụ”) vào Huế. Rồi thọ học Tư Hợi – thầy tuồng của đoàn. Một hôm, bọn sở cẩm bắt thầy Tư Hợi, vì đoàn diễn “Ngũ hổ bình tây”, bị quy “bình Tây” là “đánh Tây”.

Mụ Giám theo kiện, xin xỏ mấy tuần không được, đoàn rã đám. Cậu bé Kim lại một mình cuốc bộ vượt đèo Hải Vân. “Cả ngày tôi chỉ ăn 2 cái bánh đa, khát uống nước ao, lần vào Đà Nẵng”. Đọc đến đây, tôi bật khóc.

Đón xem kỳ 2: Cố NSND Sỹ Tiến và câu nói bất hủ: “Nếu ta chết, đừng chôn ta!”. Vi Thùy Linh

NSND Sỹ Tiến: “Ông hoàng” của cải lương Bắc, VIETNAM


NSND Sỹ Tiến: “Ông hoàng” của cải lương Bắc

Image

“Nếu ta chết, đừng chôn ta!/ Hãy căng da ta lên mặt trống, để ta được gần sân khấu mỗi ngày!” Câu nói nổi tiếng một thời của NSND Sỹ Tiến như vẫn còn vang vọng nơi mặt trống và các ngõ ngách của “làng sân khấu” mỗi khi sáng đèn.
Lần tìm về quá khứ và gặp gỡ những con người cùng thời với NSND Sỹ Tiến, chúng tôi mới cảm nhận được sự vĩ đại trong tác phẩm và trong nhân cách của nhà soạn giả cải lương đa tài này.
“Kỷ lục của ông chưa nhiều người vượt được”

Đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh với các tác phẩm của NSND Sỹ Tiến (1916-1982) là hoàn toàn xứng đáng. Có thể gọi ông là ông tổ cải lương miền Bắc. Ông là người đưa cải lương từ Nam ra Bắc, kết nối các gánh, các đoàn.

Nhà hát Cải lương Hà Nội ngày hôm nay tạo dựng được thương hiệu riêng cũng là nhờ những viên gạch đầu tiên do Sỹ Tiến sáng tạo ra Đoàn Tiếng Chuông Vàng Thủ đô, tiền thân của nhà hát, đồng thời những vở diễn mà Sỹ Tiến dàn dựng và làm soạn giả đã trở thành kinh điển mẫu mực của Nhà hát Cải lương Hà Nội.

Ông đã đào tạo nên những nghệ sĩ tài danh cho sân khấu cải lương Bắc như: Kim Chung, Sỹ Hùng, Khánh Hợi, Bích Thuận, Tường Vy, Bích Được, Hải Tý, Mộng Dần, Tuấn Sửu, Lệ Thanh… Và để lại hàng loạt những tác phẩm có thể coi là đỉnh cao của sân khấu cải lương nổi tiếng thời đó. Những tác phẩm Những mảnh tình nghệ sĩ, Giành ánh sáng tự do, Mạc Tuyết Lan, Quan Hán Khanh, Tây Thi Phạm Lãi được vào danh sách đề cử giải là những tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của ông. Tác phẩm của ông khai thác nhiều đề tài truyền thuyết dân gian, đề tài lịch sử, đề tài cách mạng.

Ngoài ra, ông còn chỉnh lý, cải biên nhiều vở cũ cho các đoàn dàn dựng. Kỷ lục của ông chưa phải nhiều người đã vượt được. Những tác phẩm cải lương của Sỹ Tiến không chỉ biểu diễn thành công ở phía bắc mà mang vào trong nam – cái nôi của sân khấu cải lương cũng làm “nghiêng ngả” cả nghệ sĩ cải lương và khán giả Nam Bộ. Người miền Nam gọi Sỹ Tiến là “ông hoàng của cải lương Bắc”. (NSND DOÃN HOÀNG GIANG)

NSƯT Khánh Hợi (bìa phải) đang hóa trang cho chồng – NSND Sỹ Tiến vai Chu Du; chính giữa là NSƯT Kim Xuân vai Tiểu Kiều trong vở Kiều (1962)

“Đi đầu trong đổi mới cho nghệ thuật cải lương Bắc”

Ngay từ khi tôi còn bé, trước Cách mạng Tháng Tám, tôi đã nghe danh nghệ sĩ Sỹ Tiến và được thấy vị thế của ông trong giới sân khấu Cải lương mỗi khi tôi đi xem. Sỹ Tiến là người có công rất lớn trong sự nghiệp xây dựng nền sân khấu Cải lương phía Bắc nước ta và là cầu nối giữa giới nghệ sĩ Cải lương Nam – Bắc. (NSND ĐÌNH QUANG)

Sỹ Tiến là soạn giả đi đầu sáng tác những vở có nội dung vượt lên mô tip quen thuộc thời ấy. Cả mặt kết cấu kịch bản, văn phong cũng được chú ý đổi mới. Ông rất đáng được ghi nhận khi đã khai thác giá trị trong những trang sử hào hùng của dân tộc hoặc cốt truyện dân gian.

Nhiều khán giả khó tính thời đó cảm thấy khó chịu khi xem ngôn ngữ tầm thường của một số vở cải lương thì khi xem tác phẩm của Sỹ Tiến đều chịu.

Ngay như tác phẩm Mạc Tuyết Lan là một vở dã sử thôi nhưng rất hay bởi ngôn ngữ của ông đậm chất văn học, vừa mang tính hành động vừa mang tính nghệ thuật, phù hợp với ngôn ngữ sân khấu.

Tác phẩm Giành ánh sáng tự do do Đoàn cải lương Kim Chung dựng năm 1955 là vở diễn để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất. Tác phẩm cũng có ý nghĩa với chính bản thân Sỹ Tiến: Một soạn giả cải lương mạnh dạn chuyển ngòi bút sang thể loại kịch nói lại thuộc đề tài công nhân.

Tôi còn nhớ tờ báo Luymanite – cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ra ngày 9.5.1955 đã giới thiệu về Sỹ Tiến và vở Giành ánh sáng tự do: “Sỹ Tiến – một tác giả sân khấu Việt Nam rất quen biết, sống ở Hà Nội trong thời kỳ kháng chiến nhưng đã khước từ thường xuyên động lực ngoại lai hóa ngòi bút của mình – anh chỉ viết những vở có tính chất bất hợp pháp dưới chế độ nô lệ, thực dân Pháp như các vở Mặt trời là của chúng tôi, Tổ quốc khi phát xít chiếm đóng Pari…

Giành ánh sáng tự do là vở kịch đề cập tới những thảm họa và những nỗi chia biệt do cuộc di cư ép buộc, những mối ràng buộc của nhân dân Thủ đô với đồng ruộng, đất đai, cuộc chiến đấu của công nhân với tầng lớp tiểu tư sản thị dân và mối tình của Hoàng với Hương là hai thanh niên Việt Nam tượng trưng cho cuộc hội ngộ nhằm khẳng định ngày sinh thành của một dân tộc”. Vở kịch Giành ánh sáng tự do được xếp là một trong số 100 vở hay nhất của sân khấu cách mạng. Quả thực những người làm cải lương, đặc biệt là cải lương miền Bắc phải thừa nhận công lao của Sỹ Tiến giúp cho sân khấu cải lương khởi sắc, có thế đứng trong lòng khán giả. (NSND MẠNH TƯỞNG)

“Một nhân cách lớn”

Sau Cách mạng Tháng Tám, vào những năm kháng chiến chống Pháp, tên tuổi Sỹ Tiến lừng danh trên cả phương diện diễn xuất, đào tạo, dàn dựng, tác giả. Có thể khẳng định ông là một con người đa tài khi ở vai trò nào ông cũng rất tài năng.

Ngày xưa thời ông chẳng có ai được đào tạo bài bản ở trường lớp, bằng nỗ lực đọc, tự học ghê gớm, lăn lộn với nghề, với năng lực văn chương, Sỹ Tiến đã trở thành một con người uyên bác được giới văn nghệ sĩ trân trọng. Tác phẩm của ông nổi trội tính văn học và thấm đẫm tính nhân ái.

Tôi vào Đoàn cải lương Chuông Vàng từ năm 12 tuổi, ông đã làm thầy hướng dẫn và dạy dỗ tôi từ những vai diễn nhỏ. Sau này khi trở thành một tác giả cải lương, tôi cũng chịu ảnh hưởng từ thầy Sỹ Tiến bởi việc không dễ dãi trong câu cú viết lách.

Ông đã trải qua nhiều vị trí quan trọng như sáng lập ra Đoàn kịch Hoàn chân Độc lập, sáng lập Đoàn kịch xung phong tuyên truyền kháng chiến miền Nam, Đoàn trưởng Đoàn Kim Chung mới, Đoàn trưởng đoàn kịch Nam Tiến, Liên đoàn trưởng Liên đoàn ca kịch Thủ đô, ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam… quyền sinh quyền sát trong tay, có thể viết ra là dựng nhưng ông vô cùng cầu toàn với chính bản thân mình, cẩn thận từng câu, từng chữ, không hề dễ dãi khi đặt bút viết.

Với năng lực viết của mình, ông còn tham gia viết nhiều bài báo ủng hộ cách mạng. Ngoài nghiệp diễn viên, đạo diễn, soạn giả, Sỹ Tiến cũng tha thiết theo đuổi mấy chục năm trời nghề làm báo, những bài báo của ông đã có tác dụng rõ rệt hạn chế thói quen làm ăn bất lương của chủ gánh hát, hướng nghệ sĩ viết, diễn và sống đúng đắn. Ông bộc lộ nhân cách nghệ sĩ lớn biết tôn trọng thành quả sáng tạo của người đi trước và đầy lòng ưu ái nâng đỡ lớp vào nghề sau ông.(NSƯT NHẬT MINH)

NSND Sỹ Tiến và NSND Ái Liên (1975)
“Với cha tôi, sân khấu là sự sống”

Chúng tôi rất vui mừng và tự hào vì có một người cha xuất chúng, đã được Nhà nước và anh em đồng nghiệp công nhận đề cử ông vào danh sách Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng cao quý nhất trong văn học nghệ thuật của nước nhà.

Đây không chỉ là niềm vui mừng cho bản thân bố tôi, của gia đình, dòng họ mà còn là niềm tự hào của nghệ thuật cải lương miền Bắc. Tôi nghe mẹ tôi và các cô chú Kim Xuân, Tiêu Lang kể rằng, năm 1954 có nhiều nghệ sĩ đã bỏ Hà Nội chạy vào Nam thì bố tôi là người đầu tầu phân tích giữ lại ở Hà Nội được phần lớn những nghệ sĩ tên tuổi như: Kim Xuân, Tiêu Lang, Tuấn Sửu, Mộng Dần, Bích Được…

Nhà tôi khi đó rất nghèo nhưng cha tôi thường dạy bảo con cái bằng tình cảm, chưa bao giờ tôi bị ông đánh một roi nào cả, các anh chị cũng vậy… Mỗi lần đi công tác hay đi thực tế, những lá thư mà cha tôi viết về cho nhà thường là được ông làm bằng thơ.

Tôi khắc sâu trong dạ những câu thơ của cha mình như: “Mặc đời hãnh tiến cười chê/ Cha không cầm bút viết thuê cho thù”, “Con ơi nhớ lấy câu này/ Cha tôi nghệ sĩ không ngoài nhân dân”, “Nếu ta chết, đừng chôn ta! Hãy căng da ta lên mặt trống, để ta được gần sân khấu mỗi ngày”, với cha tôi, sân khấu là sự sống.

Cha tôi nghỉ hưu năm 1979, nhưng ông vẫn rất nặng tình với sân khấu. Ngay cả sau khi ông ốm thập tử nhất sinh, gượng đứng dậy thì lại tới chuyện thần kinh bị tổn thương trầm trọng. Dù vậy, bạn bè, gia đình tới thăm ông ít khi nghe được tiếng than thở về sức khỏe mà qua giọng nói chớm không còn bình thường ông vẫn nhắc nhở tới việc hoàn tất những công trình dang dở: Đó là cuốn Lịch sử 30 năm sân khấu cải lương xã hội chủ nghĩa, Tiểu luận Viết một vở Cải lương như thế nào…

Ước vọng của ông muốn thu gom cho bạn nghề đi sau. Mong muốn nghệ thuật sân khấu cải lương ngày càng đổi mới, vươn tới chất trí tuệ hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc để càng cuốn hút công chúng. (Bà LỆ QUYÊN, con gái của cố tác giả SỸ TIẾN)

http://www.newdaymedia.com.vn/165n/nsnd-sy-tien-ong-hoang-cua-cai-luong-bac.html