VI THÙY LINH : GS,TS Trần Quang Hải: Tận lực vì sức sống âm nhạc Việt Nam


GS,TS Trần Quang Hải:

Tận lực vì sức sống âm nhạc Việt Nam
Thứ tư, 24/07/2013 – 02:22 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
 

Tiếp nối xuất sắc con đường của cha Trần Văn Khê – GS,TS dân tộc nhạc học đầu tiên ở Pháp, GS,TS Trần Quang Hải (quốc tịch Pháp), chuyên gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực này có nhiều sáng tạo đa dạng làm rạng danh âm nhạc truyền thống Việt Nam khắp thế giới.

 

Sống tại Paris từ năm 1961, làm việc cho Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS), nghiên cứu tại Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng con người, con đường sự nghiệp của GS Trần Quang Hải nhằm vào sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành nhạc thế giới (World music), pha trộn nhạc tùy hứng, Jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành loại nhạc mới. Trần Quang Hải là con người âm nhạc toàn năng: nghiên cứu, sáng tạo, biểu diễn giảng dạy. Ông được thế giới phong là “Vua muỗng”, “Vua đàn môi” bởi thể hiện mới lạ, trình diễn ấn tượng với tần suất cao. Là nghệ sĩ Việt Nam trình diễn nhiều nhất thế giới, hơn 3.000 buổi tại 70 quốc gia, dự 150 đại hội, liên hoan âm nhạc truyền thống. Bằng uy tín quốc tế, GS Trần Quang Hải đã viết sách, nhiều bài giới thiệu, trả lời phỏng vấn báo, đài quảng bá cho âm nhạc dân tộc Việt Nam và góp phần vào các hồ sơ: Quan họ và Ca trù (2009), hát Xoan (2011) được UNESCO công nhận Di sản thế giới. Từ ngày 17 đến 24-6-2013, GS,TS Trần Quang Hải đã về nước tham gia thẩm định, đánh giá, bổ sung cho hồ sơ Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đệ trình UNESCO. Đây cũng là công việc ông đang tiếp tục làm bằng “hứng khởi đặc biệt”.

Ông cho biết cụ thể hơn về sự tham gia của các học giả quốc tế vào tiến trình hoàn thiện hồ sơ Ví, Giặm?

Trần Quang Hải được thế giới phong là “Vua muỗng”, “Vua đàn môi” bởi thể hiện mới lạ, trình diễn ấn tượng với tần suất cao.

Có năm GS, TS nước ngoài được mời về thẩm định, thảo luận, đánh giá âm nhạc và ý nghĩa Ví, Giặm. Barley Norton (Đại học London Goldsmith, Anh) Yoshihiko Tokumaru (ĐH Seitoku), Oshio Satomi (ĐH Giáo dục Miyagi) – Nhật Bản, Tvrtko Zebec (Viện Nghiên cứu Dân tộc học dân gian Croatia) và tôi (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp). Chúng tôi đã nghe hát Ví, Giặm trên sông Lam, thẩm định sinh hoạt và truyền dạy ở CLB Ví, Giặm Thanh Chương, Ví phường vải của CLB Trường Lưu, Ví phường nón ở Thạch Hà. Hồ sơ Ví, Giặm của Việt Nam đã nộp, song cần bổ sung để thuyết phục Đại hội đồng UNESCO họp và bỏ phiếu tháng 4-2014. Trước khi về nước, tôi trả lời hai đài phát thanh lớn quốc tế về Ví, Giặm và viết một tham luận bằng sự tìm hiểu gián tiếp qua băng, đĩa.

Và khi xem, thẩm định trên thực tế, ông thấy dân ca Ví, Giặm thế nào?

Ồ, câu hỏi này làm tôi say sưa đấy, không vắn tắt được đâu (cười)…

Ví và Giặm là hai thể loại hát dân ca không nhạc đệm, được cộng đồng người Việt Nam ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo ra. Hiện có khoảng 15 điệu Ví và tám điệu Giặm gọi tên theo bối cảnh cuộc sống, lao động nghề nghiệp, ca từ bằng thơ dân gian, cô đọng. Ví thường là thơ lục bát, lục bát biến thể, ngoài âm điệu đối, tức hứng (sáng tác tại chỗ). Giặm là thơ ngũ ngôn, câu thứ năm lặp ý câu thứ tư, đổi vài chữ, nhấn mạnh điều muốn nói. Nó khác các loại hình dân ca khác là ý được lặp lại. Trên sông Lam, chúng tôi xem cảnh hát đối giữa các anh đánh cá trên sông và các cô giặt chiếu (hát luôn). Cá nhân tôi thích Ví hơn, nhất là hát giao duyên trai gái lúc đang lao động hay buổi tối.

Ví phường vải phổ biến rộng, nó tương tự hát quan họ. Với quan họ, luyện giọng rất quan trọng (bảo đảm vang, rền, nền, nảy), còn Ví phường vải chỉ là hát thường. Chàng trai gặp cô gái đang làm việc, anh gợi chuyện bằng câu mở đề để sau đó hát chung, trong đó có hát: chào mừng, mời trầu, đối (đố), giao duyên và giã bạn. Nét riêng của hát phường vải là hay có những ông đồ nho “gà” câu hóc hiểm để bên kia không đối được. Giặm là hát ru, hát kể, kể về phong tục, lịch sử. Mỗi điệu, thí dụ trong Ví phường vải, có một số nhạc điệu khi hát lên, người hát tập trung vào âm giai ngũ cung; trong khi những loại hát Ví khác dựa vào âm giai tứ cung (bốn nốt nhạc), phương ngữ đậm đặc, nên giai điệu biến chuyển theo giọng nói thành nhạc điệu rất đặc biệt của vùng Nghệ – Tĩnh, không thấy ở bất cứ đâu.

Ví thường liên hệ đến các sinh hoạt. Người đan nón, có Ví phường nón, dân chài lưới có Ví chài lưới, hát chèo thuyền. Thật sôi động, trong lúc làm việc thì có người hát kể, xướng và xô, một người hát lên và cả đám hò theo, hò hò khoan hay hò hố khoan… là nhịp điệu giúp cho người ta quên bớt mệt nhọc.

Xin GS cho biết ấn tượng khi đến Nghệ An – Hà Tĩnh?

Nhờ lời mời về thẩm định, đóng góp cho hồ sơ Ví, Giặm, tôi lần đầu được về xứ Nghệ, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã đến thăm ngôi nhà thơ ấu của Bác Hồ ở Nam Đàn, nhà của chí sĩ Phan Bội Châu. Ở đất hiếu học nức danh này, mùa hè rất nóng, nhưng con người thì chất phác, nghèo mà tình cảm.

Hà Tĩnh thơ mộng, tôi thiện cảm cả phong cảnh lẫn con người. Núi Hồng sông La nên thơ, trữ tình hơn vì có nhiều cô gái đẹp, quả đúng như lời đồn. Tôi có niềm đồng cảm khi gặp TS Văn hóa học Võ Hồng Hải (Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh) từng học ở Paris, anh là người con của đất này, tích cực trong vai trò ủy viên thường trực Ban chỉ đạo lập hồ sơ Ví, Giặm.

Bảo tồn báu vật dân gian và đưa ví, giặm ra quốc tế

Theo GS, vì sao Ví, Giặm bị mai một và sau đây, cách bảo tồn hữu hiệu, khả thi là gì?

Hà Tĩnh thơ mộng, tôi thiện cảm cả phong cảnh lẫn con người. Núi Hồng sông La nên thơ, trữ tình hơn vì có nhiều cô gái đẹp, quả đúng như lời đồn.

Ví, Giặm gắn với phường nghề, nghề truyền thống mất dần, thanh niên trẻ rời quê về Hà Nội và các tỉnh học, sinh sống, lập nghiệp; lớp trung niên, người già còn lại không đủ để duy trì. Như nghề tầm tang (cấy lúa và dệt vải) chỉ còn một nửa.

Trước kia, chính quyền cách mạng bài trừ phong kiến, nhiều dân ca trữ tình không được khuyến khích hát vì cho rằng đó là sản phẩm thời phong kiến, thuộc địa; nên bị thất thoát các loại hình nghệ thuật dân gian; đặc biệt là ca trù -nghệ thuật cao cấp ở đô thị. Bảo tồn nghệ thuật truyền thống rất cấp thiết, lại là vấn đề khó. Không thể giữ y nguyên, duy trì một cái gì cổ xưa nguyên bản trong thời điểm hiện tại. Bao loại hình giải trí cạnh tranh, cuộc sống nhiều biến động, đổi thay, cách thức giữ gìn dân ca hữu hiệu nhất là làm những nghiên cứu điền dã, gom góp tư liệu trong dân gian; cần khẩn trương vì nhiều nghệ nhân đã lớn tuổi, mất dần đi. Nếu không làm nhanh, tương lai sẽ không còn những làn điệu Ví, Giặm trung thực, chỉ còn loại cải biên. Điều này, tôi góp ý không chỉ cho Nghệ – Tĩnh, mà ở các địa phương có di sản. Di sản là báu vật, nghệ nhân là những người mang chứa, truyền bá di sản đó, họ cần được trân trọng bằng đãi ngộ xứng đáng về tinh thần, vật chất, theo chính sách Nhà nước và mỗi tỉnh. Phải làm hệ thống tài liệu lưu trữ, gìn giữ lại cho thế hệ sau, cho ai muốn tìm hiểu, học hỏi. Hiện tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh có 51 CLB dân ca Ví, Giặm, 800 nghệ nhân, các nghệ sĩ và nhạc sĩ địa phương tại Trung tâm bảo tồn, phát huy di sản dân ca Nghệ – Tĩnh đầy tâm huyết. Sức sống của Ví, Giặm không chỉ là đưa lên sân khấu, sân khấu hóa dân ca, đem vào đó nhạc cụ đệm; mà còn ở sức lan tỏa khi chất liệu, âm hưởng Ví, Giặm được đưa vào tác phẩm của các nhạc sĩ nổi tiếng mà kiều bào ta và khán giả quốc tế đã biết đến, nghe và yêu thích qua sóng phát thanh, truyền hình, như: Ví giận thương, Ví đò đưa, những câu hò…

GS sẽ đóng góp gì cho việc hoàn thiện hồ sơ Ví, Giặm?

Dù kín lịch biểu diễn, giảng dạy đến hết năm, tôi vẫn canh cánh nhiệm vụ về bài nghiên cứu độc đáo về Ví, Giặm gửi UNESCO, tiếp tục phổ biến về dân ca này ra thế giới theo nhiều kênh. Nghiên cứu của tôi về Ví, Giặm có tên “Nhạc ngữ Ví, Giặm qua cái nhìn âm thanh học”. Qua các băng, đĩa ghi âm mang về Pháp, tôi sẽ đo bằng máy (phần mềm vi tính) đánh giá về cao độ, luồng nhạc, giai điệu đi theo thang nhạc thế nào, tiết tấu mạnh – yếu, nhịp nội ngoại, hát đồng ca, song ca, đa âm. Tôi và vợ đã cùng nhau diễn dân ca ba miền khắp thế giới, sau đây tôi và Bạch Yến sẽ tập hát Ví giận thương để biểu diễn.

Sở hữu 300 chiếc đàn môi và được công nhận là người diễn đàn môi nhiều nhất thế giới, GS có thể chơi thạo các nhạc cụ gì?

Tôi là một trong những người sáng lập, ủy viên BCH và là cố vấn khoa học, Hội Đàn môi quốc tế. Từ 6 tuổi, tôi đã dùng muỗng (thìa) nhựa, nhôm, inox tạo ra âm nhạc điệu, bị ba mắng, thậm chí từ mặt, vẫn cứ kiên trì tìm tòi và sáng tạo để đạt trình độ biểu diễn thu hút trên nhiều nước. Học Violon tại Sài Gòn; khi sáng tác học Sorbonne, theo lời ba khuyên, tôi chuyên chú vào âm nhạc dân tộc, đi con đường riêng mà có ích nhiều cho quê hương. Tôi chơi các loại đàn ghi – ta, banjo, mandoline, sáo tre trúc, flute, đàn tranh, bầu, nhị nguyệt, đánh sinh tiền (nhạc cụ cung đình Huế gồm 3 thanh, 2 thanh gắn đồng tiền), trống Iran, đàn Vina, Tembura (Ấn Độ), đàn Nam Hồ (nhị Trung Quốc), đờn ca tài tử.

VI THÙY LINH (Thực hiện)
http://www.nhandan.com.vn/hangthang/van-hoa/item/20836502-t%E1%BA%ADn-l%E1%BB%B1c-v%C3%AC-s%E1%BB%A9c-s%E1%BB%91ng-%C3%A2m-nh%E1%BA%A1c-vi%E1%BB%87t-nam.html