NHẠC SƯ VĨNH BẢO : Về Đàn tranh phái nữ và ký âm của ông Julien Tiersot


Chú Thuyết Phong thương mến,

Tôi thấy một số ảnh chụp vào năm 1900 có nhiều phụ nữ chơi đàn Tranh.

Tôi ngạc nhiên vì vào thời điểm trên, có thể nói là hầu hết gia đình Việtnam cấm con gái học đàn, lý do là con gái mà chơi đàn khó lấy chồng.

Tôi biết khoảng năm 1930, có Bà Ba Niệm ở Vĩnh Long, vừa đànTranh vừa ca Nhạc Tài tử Nam bô. 

Năm 1935, Cô Tuyết-Mai ơ Mỹ long (Sađéc) năm 17 tuổi chơi đàn Tranh. Sau đó cô lên Sài gòn, lấy chồng là Cảnh sát và đàn Tranh cho Gánh hát Cải lương, và một cô nữa 18 tuổi chơi đàn Tranh là con gái ông Bảy Lợi (Thợ sơn), ở Đất mới Nam vang (Phnom Penh)

(cô nầy là học trò của thầy Năm Hòa người Sađéc lên Nam vang dạy đàn  –  thầy Năm Hòa là anh của Chín Sớm, ca sĩ tên tuổi ĐàiPhát Thanh Saigon).

 

Danh từ Cải lương người thì dịch là “reformed”, người thì dịch là: “renovated’?. Cách dịch nào chính xác?

 

Ông Pháp Julien Tiersot nói ông ghi nhạc qua giọng của ông Viang.

Tôi tọc mach muốn biết xem:

ông Viang có biết đàn hay ca không?

ông ca có đúng bản không?

Không thấy nói ông ca bản gì của Nhạc Tài tử, nhạc Sân khấu Cải lương hay Hát bội?

 

Nhạc Việt nam thuộc về Nhạc Điệu (musique modale). Trong một bản đàn, gần như hầu hết nốt đàn đều có trang trí (ornements) bằng Rung,Mỗ, Nhấn, Luyến láy …..

Vấn đề trang trí toàn khác nhau giữa Điệu (mode), Hơi (air) nầy, vàĐiệu (mode), Hơi (air) khác,

 

Tôi có người cô học trò người Đài Loan tên Hui Ling Wu chuyên đàn Tranh Gu zheng. Hai năm trước đây cô sang Sài gòn thọ giáo đàn Tranh Việt nam, tìm hiểu nhạc Việt nam qua tôi.

Khi quay vê Đài Loan cô làm luận án Tiến sĩ, lấy đề tài “Bản Nam xuân, Nam ai” của Nhạc Tài tử Nam bộ.

 e.mail cho tôi nói lên sự bối rối của cô khi Thầy của cô vừa là người bảo trợ cô, bắt buộc cô dùng ký âm theo số 1, 2, 3, 4 …. hoăc theo

“Do  ré  mi  fa  sol  la  si » cho hai Điệu nầy.

Cô không dám có ý kiến với Thầy nên e.mail khẩn khoản nhờ tôi xem có cách gì cứu cô thoát cái nạn nầy.

Tôi soạn ra một đoạn nhạc gồm 8 nhịp và ghi ra theo ký âm của riêng tôi.  

Đoạn nhạc nầy có thể đàn theo Điệu, Hơi Nam Xuân và  Điệu, HơiNam Ai(trang trí nốt đàn (ornements) Điệu Xuân và Ai khác nhau).  

Tôi dùng đàn Tranh để thu thanh.

Cùng đoạn nhạc lần thứ nhứt, tôi đàn theo Điệu, Hơi Nam Xuân, diễn tả sự thanh thản (serenity),

Lần thứ nhì, theo Điệu, Hơi Nam Ai, diễn tả nỗi đau khổ (profound sadness).

Tôi gởi sang cô Hui Ling Wu đoạn nhạc và thu âm nói trên.

Sau khi nhận, cô mang ra trình với thầy cô, ông nầy chịu thua và bảo cô hảy làm theo thầy của cô ở Sài gòn.

 

Trở lại với chuyện ghi âm của ông Julien Tiersot.  

Giả sử ông Viang là người biết đàn biết ca, thì qua giọng của ông Viang, khi ghi âm, dù người ấy là nhạc sĩ Việt nam, cũng không tài nào nhận ra những nét Rung, Mỗ, Nhấn, Luyến láy của nốt đàn, nói chi là ông Julien Tiersot là người Pháp, rất xa lạ với nhạc Việt nam.

 

Tóm lại, một bản đàn mà nốt đàn thiếu trang trí (ornements) như Rung, Mỗ, Nhấn, Luyến láy, chẳng khác nào viết chữ Việt không dấu,nói tiếng Việt không giọng hay sai giọng.

12-08-2013

Vĩnh Bảo

 vinh bao

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s