MINH AN : Âm nhạc dân tộc: Bơ vơ trước cơ chế thị trường, VIETNAM


Âm nhạc dân tộc: Bơ vơ trước cơ chế thị trường

Thứ bảy, 10/08/2013, 09:35 (GMT+7)

Những vấn đề băn khoăn, nhiều ý kiến tâm huyết với nghệ thuật truyền thống, với âm nhạc dân tộc đã được đặt ra tại hội thảo “Âm nhạc dân tộc với cuộc sống hôm nay” do Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc phối hợp cùng Nhạc viện TPHCM tổ chức ngày 9-8.

Một chương trình biểu diễn đờn ca tài tử phục vụ người dân TP, do Trung tâm Văn hóa TP phối hợp cùng Đài Truyền hình TPHCM tổ chức. Ảnh: LÊ MINH

Lạc lõng

TS Văn Minh Hương, Giám đốc Nhạc Viện TPHCM nêu một thực tế: “Bức tranh của nền kinh tế thị trường ở TPHCM khá rõ: những lĩnh vực có sự tham gia của thành phần kinh tế ngoài nhà nước theo cơ chế xã hội hóa ngày càng phát triển. Ngoài những mặt được, nó cũng dẫn đến nhiều hệ lụy. Trong lĩnh vực âm nhạc thời gian qua, vấn nạn nhiều ngôi sao trở thành nạn nhân hoặc tự biến mình thành… nạn nhân qua những scandal không mấy sạch sẽ cũng xuất phát từ đây. Lợi nhuận đã làm bẻ cong năng lực thật sự của các tài năng, qua đủ các chiêu thức lăng xê. Để thu hút khán giả, nhiều nhà đầu tư tìm mọi cách để đối tượng của mình được khán giả biết đến, bất chấp lòng tự trọng và đạo đức nghề nghiệp”. Trong vấn đề này, sự dễ dãi của một số phương tiện truyền thông, nhất là truyền thông mạng đã vô tình tiếp tay, khiến giá trị tài năng trong biểu diễn âm nhạc ngày càng nhiễu loạn, biến tướng. Một thực tế không khó nhìn thấy, nhiều nghệ sĩ được đầu tư đào tạo bài bản, có năng lực thật sự lại không thể sống bằng nghề nghiệp mình theo đuổi, khổ luyện trong khi nhiều người năng lực có hạn nhưng nhờ hậu thuẫn, nhờ công nghệ lăng xê trở nên mau chóng nổi tiếng và hái ra nhiều tiền nhờ một bước thành sao!

“Dòng âm nhạc truyền thống và dòng nhạc cổ diển thính phòng trở nên lạc lõng và bơ vơ trước cơ chế thị trường. Thực tế, đoàn ca múa nhạc dân tộc Bông Sen, dàn nhạc dân tộc Nhạc viện TPHCM, một số CLB âm nhạc truyền thống tại các nhà văn hóa quận huyện, Nhà hát giao hưởng nhạc vũ kịch, dàn nhạc Nhạc viện TPHCM đều hoạt động cầm chừng. Đây dường như là những mảnh đất bị bỏ quên”, bà Minh Hương dẫn chứng.

Một cánh én không làm nên mùa xuân

GS-TS Trần Văn Khê cho rằng: “Không chỉ có bảo tồn, chúng ta cần phải có những hành động cụ thể bảo vệ âm nhạc dân tộc, ngăn chặn sự xâm hại của các loại nhạc lai căng. Âm nhạc dân tộc chưa đến được với các bạn trẻ, thanh thiếu niên thì coi như thiếu một phần sức sống”. Và một điều quan trọng, theo GS-TS Trần Văn Khê là nên đưa âm nhạc dân tộc vào học đường, giáo dục cho các em học sinh ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Ông Lê Văn Toàn, Giám đốc Viện Âm nhạc quốc gia tâm tư: “Thực tế, chúng ta đang thiếu sự ưu tiên đầu tư, đào tạo trong ngành âm nhạc dân tộc, từ cán bộ quản lý, nghệ sĩ biểu diễn. Các chương trình âm nhạc dân gian truyền thống thì đang hầu như vắng bóng trong khi các games show, chương trình truyền hình thực tế chỉ mang tính giải trí là chính thì lại đang chiếm lĩnh trên truyền hình. Cứ theo xu hướng này thì trình độ thẩm mỹ âm nhạc của công chúng bao giờ được nâng cao? Từ trước đến nay, truyền thống quan họ thường là hát đôi, nhiều lắm thì vài đôi cùng hát, chứ làm gì có chuyện đồng ca quan họ vài ngàn người, rồi lại còn hát quan họ mà hát nhép”.

“Một cánh én không làm nên mùa xuân”, câu nói của GS-TS Trần Văn Khê khiến nhiều người suy ngẫm. Theo GS-TS Trần Văn Khê, bảo tồn âm nhạc dân tộc cần phải thể hiện ở hướng tích cực, tức là phải có những chương trình hành động cụ thể, lộ trình thích hợp chứ không chỉ có bảo tồn bằng hình thức ghi chép, thu âm, quay hình rồi để đó tư liệu.

“Tôi mong rằng, những điều tâm tư mà hội thảo hôm nay đặt ra sẽ trở thành những chương trình hành động cụ thể và khả thi chứ không chỉ dừng lại ở những dòng báo cáo, ghi nhận. Bởi vì vấn đề này đã được nói đi nói lại qua rất nhiều hội nghị, hội thảo, tâm tư đã nhiều của không chỉ những người trong giới”,  GS Nguyễn Thuyết Phong tâm huyết. Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Vương Duy Biên cho rằng: “Những người làm công tác âm nhạc, cơ quan quản lý văn hóa và phương tiện truyền thông cùng góp phần hướng dẫn giáo dục thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Dự án sân khấu học đường trong hơn 10 năm qua cho thấy là hướng đi đúng”.

GS Hoàng Chương, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc cho hay thêm một tin vui, tháng 9 tới đây, trung tâm và Bộ VH-TT-DL sẽ tổ chức một hội thảo quy mô lớn để lập hồ sơ nghệ thuật hát bài chòi, trình tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

MINH AN

Nhạc sĩ Văn Hiệp – Bài ” 6 câu vọng cổ”


Nhạc sĩ Văn Hiệp – Bài ” 6 câu vọng cổ”
Published on May 21, 2012
Nhạc sĩ Văn Hiệp trình bày
Vọng cổ truyền thống…. hay và đầy cảm xúc
Anh này chắc là học trò của ns Văn Giỏi. Từ cách nhấn nhá (nhấn ngón trỏ, chụp ngón giữa), âm thanh (ME-8) và chử đờn cũng giống.

KIM ỬNG : Nhạc sư Vĩnh Bảo: Trong tiếng đàn có chữ nhân


Nhạc sư Vĩnh Bảo: Trong tiếng đàn có chữ nhân
Thứ bảy, 03/05/2008, 23:10 (GMT+7)

Ít ai biết trong căn nhà số 282B/21 ngõ hẻm sâu đường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thạnh là nơi tiếng đàn tranh, đàn cò, đàn kìm của nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn vang lên qua nhiều năm tháng. Người biết đến ông, có thể là bạn bè nghệ sĩ, nghệ nhân cố cựu, là khách tri âm mộ điệu, là học trò từ bên trời Tây “tầm sư học đạo” với nhạc sư Vĩnh Bảo qua Internet. Mới đây ông được Chính phủ Pháp công bố tặng Huy chương Văn học Nghệ thuật năm 2008.

Cây đàn đoản đầu tiên

Nhạc sư Vĩnh Bảo

Từ quê làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp), cậu bé Nguyễn Vĩnh Bảo vừa lên 5, 6 tuổi đã được “ươm mầm” trong môi trường âm nhạc gia đình và sau đó là môi trường âm nhạc của xã hội vào những năm 20, 30 của thế kỷ XX.

Đầu tiên, Vĩnh Bảo học đàn với người cha ruột là ông Nguyễn Hàm Ninh, một nhà Đông y, có ruộng đất và hết sức tài hoa, sử dụng thành thạo ba nhạc cụ: đàn kìm, đàn tranh, đàn cò; biết cả đờn ca tài tử và nhạc hát bội.

Ông Nguyễn Hàm Ninh sợ con mê đàn, chểnh mảng học hành nên cấm không cho cậu bé Vĩnh Bảo chơi đàn. Không được học chính thức, Vĩnh Bảo vẫn theo nài nỉ học đàn lén với những người thợ trong nhà, và dùng đàn đoản (một nhạc cụ có thùng đàn giống đàn kìm (nguyệt), dày 3 tấc, cần ngắn, dây to) để đàn “nhái” theo các anh trai.

Bị cấm học đàn, kết quả học tập của Vĩnh Bảo sụt hẳn! Giấy báo của trường gửi về đã khiến người cha suy nghĩ, tìm hiểu nguyên nhân. Rất may, với phương pháp giáo dục khá tiến bộ, ông Nguyễn Hàm Ninh đã xét lại và nhờ thế năng khiếu âm nhạc bẩm sinh của con trai đã tiếp tục được khơi dậy, phát triển qua những ngón đàn “tuyệt kỹ” của các thầy đàn nổi tiếng đương thời như Hai Lòng (Vĩnh Long), Năm Nghĩa, Ba Sáng (Trà Ôn), Sáu Tý (Cao Lãnh)…

Học đàn bài bản trực tiếp qua các nghệ nhân, nghệ sĩ và hàng trăm bạn đàn dù nhiều hay ít, qua biết bao lần biểu diễn, Vĩnh Bảo đã tự trui rèn cho mình những ngón đàn riêng độc đáo. Thuộc thế hệ kế tục các nhạc sư Cao Văn Lầu (Bạc Liêu), Trầm Văn Kiên (Cần Thơ), Vĩnh Bảo sớm nổi tiếng với tài đàn và là một trong những gương mặt nhạc sĩ cổ nhạc tài danh cùng thời hoặc xấp xỉ với Chín Kỳ, Giáo Thinh, Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm, Mười Tiểng, Năm Vĩnh, Hai Thơm, Mười Còn, Tư Đước, Năm Cơ, Văn Vĩ, Sáu Tửng… 

Sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp của Vĩnh Bảo được ông nhấn mạnh đến “dấu ấn năm 1938” khi được chủ hãng đĩa Béka mời tham gia cùng nhạc sĩ Năm Nghĩa, Ba Cần hòa âm đàn gáo, đàn tranh, đàn kìm cho giọng ca vàng của cô Ba Thiệt (chị cô Năm Cần Thơ).

Thăng trầm cùng nhiều biến cố lớn của lịch sử, có lúc “lang bạt kỳ hồ” sang Campuchia, có lúc ông “trụ” lại với hoạt động 10 năm dạy đàn tranh tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

Nhận xét về tài đàn của nhạc sư Vĩnh Bảo, GS-TS Trần Văn Khê có lần đã bày tỏ trong một buổi giảng tại Hà Lan: “Tôi chưa nghe ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, vừa bay bướm, vừa sâu sắc”.

GS-TS Nguyễn Thuyết Phong (Đại học Kent, Mỹ) nhận xét “Hai nhạc sư Vĩnh Bảo và Nguyễn Hữu Ba là hai trí thức âm nhạc, là chim đầu đàn của cả thế hệ âm nhạc toàn miền Nam”.

TS Christopher Maillard (Đại học Toulouse, Pháp) khi sang Việt Nam đã không ngại ngần đến căn nhà nhỏ của nhạc sư Vĩnh Bảo để trò chuyện, “thọ giáo” và cùng đàn với ông hàng đêm…

Tấm lòng nhân hậu của nghệ sĩ

Thật lạ lùng, xúc động, cho đến năm nay đã bước vào tuổi 91, ngón đàn tranh, đàn cò, đàn kìm của người nghệ sĩ tài năng bậc thầy âm nhạc tài tử Nam bộ vẫn “tươi”, điêu luyện… Trò chuyện cùng ông, người nghe có cảm giác vui sướng và khâm phục khi khám phá được “một quyển sách bách khoa sống”.

Trong biết bao câu chuyện kể về cuộc đời thăng trầm của mình, của bạn bè, người nghe cảm nhận ở ông – một nghệ sĩ lớn với biết bao trải nghiệm vinh quang và cay đắng trong đời. Ông là người có trí tuệ khá sắc sảo, trí nhớ chính xác, nhân cách khẳng khái và có cách kể chuyện thật thâm trầm, dí dỏm.

Nhưng cũng qua những chuyện kể, người nghe có thể nhận ra tấm lòng nhân hậu của một nghệ sĩ. Tuổi thơ gắn bó với một vùng sông nước Nam bộ và sống trong thời kỳ dấu ấn văn hóa, giáo dục của Pháp in đậm nhưng rất may mắn, cậu học sinh đã tự hiểu thế nào là giàu – nghèo, là sự bất công giữa chủ điền và tá điền.

Lớn lên mưu sinh ở Sài Gòn, ở Campuchia, Vĩnh Bảo càng thấm thía trước bao điều khổ của người dân xóm lao động nghèo, của những cô gái tha phương cầu thực ở xứ người… Đã bao lần ông đã cứu người từ lòng trắc ẩn, từ mệnh lệnh của trái tim.

Tất cả những hành động ấy khi kể lại và tự cắt nghĩa, nhạc sư Vĩnh Bảo cho rằng đó là nhờ âm nhạc. Âm nhạc đã “ngấm” vào máu thịt, giúp ông luôn nghĩ đến tình thương, nghĩ đến điều muốn san sẻ với người khác về nỗi khổ của họ. Ông trầm giọng: “Tôi nghĩ trong tiếng đàn đã có chữ nhân”. 

KIM ỬNG

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2008/5/151135/

Nhạc sư Vĩnh Bảo / Tiếng đờn đắng ngọt như đời


Ngày 28.05.2010, 08:10 (GMT+7)
 

Nhạc sư Vĩnh Bảo

Tiếng đờn đắng ngọt như đời

Nhả chút tơ tằm lên phím nhạc
Gởi vào cung bậc ít tâm tư
Nắn dây, giọng oán từng hơi thở
Gởi với đường tơ muôn mảnh lòng
(thơ Vĩnh Bảo)

Ông ở trong một căn nhà rất nhỏ ở quận Bình Thạnh, TP.HCM, nằm lẩn khuất sau nhiều ngã rẽ. Ngôi nhà 30m2 chứa đến sáu nhân khẩu: ông bà, gia đình con trai và cháu nội. Phía trên có một cái gác, và chính cái gác nhỏ có bancông chìa ra mặt tiền hẻm đón chút nắng gió này là nơi ông sống với ký ức và những giấc mơ âm nhạc.

Đó là nơi cây đại thụ của nền âm nhạc cổ truyền dân tộc, cũng là người gần như duy nhất đang gìn giữ bí quyết làm ra những cây đàn hay nhất cho âm nhạc truyền thống Việt Nam, ở tuổi 92, vật lộn từng ngày với cái nóng và sự thiếu thốn, chật chội để một lòng nghĩ đến việc truyền bá âm nhạc dân tộc cho các học trò trên khắp thế giới.

Thưa nhạc sư, ông có sinh sống được bằng nghề dạy và chơi đàn, nhất là trong thời buổi mà nhạc dân tộc cổ truyền đang “thất thế”?

Tôi giờ vừa dạy nhạc trên internet, vừa làm nhiều thứ, kể cả dịch văn bản, tài liệu tiếng Pháp cho bạn bè, bà con cô bác cần nhờ… Giờ tôi sống đơn giản, học trò thương gửi tiền nuôi. Học trò của tôi có cả nước ngoài và trong nước, đa số là học trên mạng. Còn những ai đến đây phải là thân lắm hay học trò cũ ngày xưa, tôi mới nhận lời dạy. Vì tôi có những tâm tư riêng, về người Việt mình bây giờ không phải như ngày xưa.

Tôi chơi với ai cũng thiệt tình nên không thích gặp những người gian dối. Vì sao bây giờ tôi không nhận học trò nữa ư? Ai thích học thì tôi dạy, không phân biệt, không giấu nghề… nhưng có một học trò giỏi khó lắm. Học nhạc giống như đi tu, không phải đi đúng đường hay trật đường. Là do cái tâm mình. Chẳng hạn như cô học văn trong trường với cô giáo, nhưng khi cô ra trường có thể viết hay hơn cô giáo, đó là do tâm hồn cô đẹp, văn cô đẹp làm cho ngôn ngữ của cô đẹp, đi vào lòng người êm ái.

Giống như tiếng đờn, gần nhiều người xấu, tâm xấu, tiếng đờn xấu xa… Tất nhiên, tài năng họ có, nhưng còn kinh nghiệm với đời thì có thể không bằng tôi, với gần cả đời trải qua, tuy không thể truyền kinh nghiệm nhưng có thể khuyên bảo họ… Chịu khó nghe người đi trước, tiếp thu được là cũng có tiếng đờn đắng ngọt như đời.

Điều gì khiến ông không bao giờ từ bỏ nhạc dân tộc dù có phải trả giá bằng cả cuộc đời nhọc nhằn?

Từ lúc xa gia đình, tha hương khắp chốn, lang thang ở Sài Gòn, tôi chưa bao giờ có nhà. Lấy vợ, có nhiều bạn thương tình cho ở đậu vài ba năm… mãi đến năm 2000, hơn 80 tuổi, mới mua được căn nhà này, mấy chục cây vàng đó. Ngày trước, có thời gian tôi dạy trường nhạc, lãnh lương hàng tháng, không phải lo lắng gì, chỉ chuyên tâm vào âm nhạc. Sau đó tôi có đoạn đời thèm được sống cái kiếp cơ cực của người ta. Tại tính tôi thích lăn xả vô cuộc đời, mà chơi với thượng lưu trí thức làm sao biết giới khác họ sống thế nào. Gia đình tôi rất giàu có, nhưng tôi vẫn nghèo. Vợ tôi vô nhà bảo sanh, phải đóng 20 đồng, tôi chạy đi kiếm tiền, mượn bạn, bạn đưa luôn 25 đồng…

Hồi đó bạn bè thương mình lắm. Tôi không muốn lợi dụng ai, nên sống nghèo. Rồi tôi bỏ trường nhạc ra lái taxi, mục đích là được gia nhập thế giới của những số phận bạc phước, hẩm hiu. Trên những chuyến xe đó, tôi gặp được ngàn ngàn mảnh đời, không ai giống ai, nhưng ai cũng có ước mơ được sống yên ổn, không chiến tranh. Đó cũng là một trong những thứ người nhất, nhân văn nhất của dân tộc mình. Những mảnh đời đó đi vào âm nhạc của tôi, như những lời tự tình. Vì thế, dù cơ khổ, tôi cũng vẫn chỉ thấy mình thật sự sống với tiếng đờn, mỗi ngày.

Tôi là nhạc sĩ, sống với nội tâm nhiều hơn ngoại cảnh. Đối với tôi không có chuyện lớn, chuyện nhỏ, không có kỳ quan, chỉ có tình thương. Những huân chương với tôi chỉ là hão huyền, mộng, giả… nhưng trong đời không có khen chê, thưởng phạt thì không tiến bộ. Và chỉ có âm nhạc mới làm dịu lòng người. Những nhạc sĩ được gọi đúng với tên gọi có nhiệm vụ hâm nóng lại, làm thăng hoa cho cuộc sống của chính mình và những người chung quanh. Có khi âm thầm lau nước mắt trong lúc mọi người cười. Cũng có lúc chỉ mình mình thưởng thức được vẻ lộng lẫy của thế gian.

Tôi có khả năng nghe tiếng đờn biết tính tình người, biết cả họ sẽ có cuộc đời thế nào. Nhạc ảnh hưởng đến cuộc sống rất mạnh, nhất là sức khoẻ. Bản nhạc nghe êm dịu, trái tim ta đập đều, nhưng nếu nhịp điệu mạnh thì chân tay muốn giựt rồi. Nhạc dân tộc đưa tôi gần với thiền. Được ở trong trạng thái thiền nghĩa là thắng được chính mình, bằng lòng với cái tối thiểu mình đang có, không đòi hỏi. Vì tôi hiểu, cuộc sống chỉ đãi ngộ những người ít đòi hỏi, biết phục tùng, ngoan ngoãn, còn hồi trẻ tôi toàn làm ngược lại nên khổ.

 

Những người nhạc sĩ được gọi đúng với tên gọi có nhiệm vụ hâm nóng lại, làm thăng hoa cho cuộc sống của chính mình và những người chung quanh. Có khi âm thầm lau nước mắt trong lúc mọi người cười. Cũng có lúc chỉ mình mình thưởng thức được vẻ lộng lẫy của thế gian.

 

Ngày nay, có phải do chúng ta đã bớt đau khổ vì thảm hoạ chiến tranh, nên những Tứ đại oán, Nam ai… không còn làm nhức nhối tâm thức người Việt?

Đừng đổ thừa chiến tranh mà nhạc dân tộc bị mai một. Đâu riêng gì mình, Nhật Bổn bị chiến tranh, nhưng sau chiến tranh họ vẫn phục hồi được. Tôi nhìn thời thế bây giờ, nghĩ quẩn: một dân tộc vọng ngoại, thích nhạc Mỹ, nhạc Âu… rồi bỏ nhạc mình là tự giết chết cội rễ. Nước họ nuôi dưỡng nhân tài, tìm nhân tài, còn mình thì sợ nhân tài… Mất lần hồi là tại mình, mình chê mình, mình cho mình là dở rồi lấy của người ta đem về cho là hay. Nhạc dân tộc ngày xưa gần như là độc tôn. Hồi đó, nghe nhạc Tây như vịt nghe sấm, bà con mê nhạc dân tộc, nghe thấm thía lắm. Lần lần tụi trẻ lớn lên rồi chê, thích nhạc Tây vì nghĩ nếu biết nó thì thấy mình sang trọng, có oai… Nhỏ đã cho ăn cơm Tây, lớn biểu nó ăn cơm mắm kho, ăn sao được…

Tinh thần vọng ngoại lớn quá mà. Nhạc dân tộc dần bị lai căng, mất gốc. Những người biết chuyện muốn nói thì không ai mời họ nói, còn những người nói tầm bậy tầm bạ thì được mời lung tung, thành ra cái giả lộng hành. Thời điểm huy hoàng của nhạc dân tộc là từ năm 1930 đến 1970. Tất cả đều là tự phát, người này dạy người kia, học lẫn nhau.

Năm 1956, tôi đi dạy, cũng chỉ một nhóm người, cho nên vấn đề giáo dục âm nhạc khác nhau. Nhưng việc học nhạc dân tộc ngày xưa là truyền khẩu, truyền nối, không thành văn. Ông thầy nói, người học ghi nhớ trong đầu, rồi nhiều người nói với nhiều ngả khác nhau. Thậm chí nhiều bản nhạc cũng không nhớ do ai sáng tác. Vậy tìm hệ thống thế nào được. Có người học sao đờn vậy. Có người cũng sáng tạo… không ai phục ai, ai cũng chơi theo cách của mình, không bằng cấp… Giờ dạy kiểu đó đâu có được, phải có giáo trình, muốn vậy phải có trình độ mới soạn được. Do vậy khi tôi dạy, tôi mới sáng chế ra ký âm, nhưng một con én không thể làm nên mùa xuân, cũng vì vậy mình không có trường chính quy… Lần hồi, mai một đi thôi.

Người Việt cần có niềm tin nào vào những bí ẩn của thanh âm tự tình dân tộc? Để duy trì nó cho các thế hệ con cháu, chúng ta phải làm gì đây?

 

– Ông tên đầy đủ là Nguyễn Vĩnh Bảo, sinh năm 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, 
tỉnh Sa Đéc. 
– Từ năm 12 tuổi, ông được may mắn gặp những nhạc sư nổi tiếng và đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa 
(Trà Ôn)… tính ra với gần 200 “thầy” ở khắp ba miền Nam – Trung – Bắc. Ngoài đàn tranh là 
sở trường, ông còn sử dụng thành thạo đàn kìm, đàn cò, đàn gáo.
– Năm 1935, ông sáng chế ra dây tỳ và dây xề liêu. 
– Năm 1947, ông dạy tiếng Pháp ở trường 
tư thục Ngô Quang Vinh.
– Năm 1955, trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn được thành lập. Ông được trường mời dạy môn đàn tranh, cùng với các nhạc sư, nhạc sĩ Chín Kỳ (Nguyễn Văn Kỳ), Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm. Sau đó, ông được trường cử làm trưởng ban cổ nhạc miền Nam. 
Trong thời gian dạy tại đây, ông Vĩnh Bảo có sáng chế phương pháp ký âm bài bản nhạc truyền thống. 
– Ông là người đầu tiên cải tiến đàn tranh 
từ 16 dây ra loại có kích thước lớn với 17, 19 và 21 dây.
– Ông được trao giải thưởng Đào Tấn năm 2005, năm 2008 nhận giải Văn học nghệ thuật của bộ Văn hoá Pháp.

(THEO NHẠC SƯ VĨNH BẢO VỚI 65 NĂM ĐÀN TRANH, TRẦN QUANG HẢI)

 

Tiếng nhạc là sản phẩm của xã hội, là tiếng nói của xã hội đó, cô có ở trong cộng đồng đó, nghe mới thấy thấm thía. Nhạc dân tộc hồi đó thuần khiết. Đến khi tiếp xúc với các loại nhạc khác của thế giới, tôi biết vẫn có thể giữ nó thuần khiết, nhưng vì xu hướng thời thượng, muốn nhạc dân tộc vẫn từ từ lậm vào người nghe qua những giai điệu mới theo sự phát triển của xã hội đang ào ạt, tôi muốn làm cái gì mới hơn một chút, nhưng nghe qua, vẫn biết đó là nhạc dân tộc vì nó thật sự được viết trên nền nhạc dân tộc.

Có cách giữ không ư? Những người giữ đã chết hoặc sắp chết. Tôi đã ở đây ba mươi mấy năm, tôi cũng chẳng làm gì được cho nước nhà hết vì đâu có ai dùng mình… giờ thì hết hơi rồi. Nhưng mấy năm gần đây được bầu bạn cùng ông Trần Văn Khê hoà nhịp đờn cũng thú. Hay ngồi nhìn mấy cháu Hải, Phượng… tay nhịp nhàng, lòng êm ái, thấy cũng có tương lai. Chỉ mong các cháu ấy tiếp tục đào tạo thêm học trò, và mong bà con thuyết phục con cháu mình chịu nghe đờn tranh, tiếng sáo, các bà các cô chịu ru con bằng điệu hò, rủ nhau đi coi vọng cổ. Cứ từ từ vậy, biết đâu…

Ông đã tiếp nhận không gian âm nhạc từ môi trường gia đình, trong đó, vẻ như chính người cha – một thầy thuốc đông y mê nhạc dân tộc đã ảnh hưởng đến đam mê và sự lựa chọn của ông từ thuở thiếu thời?

Gia đình tôi có bốn anh em trai, ba gái. Ông cụ nhà tôi là địa chủ, có đất, học chữ nho, làm thơ, thuốc đông y, học võ, nuôi gà, cây kiểng và đờn rất hay: kìm, tranh, cò và hát bội mà kép hát cũng phục. Ảnh hưởng của cha nên tôi cũng mê, và mò mẫm học. Có thầy đến dạy, ông già không bằng lòng vì sợ con cái bỏ học mê đờn. Mẹ tôi thì khuyến khích. Mẹ tôi là một người đàn bà tuyệt diệu, tôi chưa thấy người mẹ nào thương con, hiền đức, ăn ở nhân hậu, rộng rãi đến vậy. Mẹ tôi còn khuyến khích, phê bình tiếng đờn của tôi. Lúc tôi lên sáu, thấy tôi ôm cây đờn dài quá với không tới, bà lẳng lặng đi tìm mua cho tôi cây đờn nhỏ, tôi mê lắm. Kể ra thì cuối cùng anh em tôi cũng bỏ, không ai làm nghề này vì không sống nổi, chỉ nghĩ đó là thú chơi. Chỉ riêng mình tôi sống vì nghề này.

Trong khi tôi đờn, tôi nghĩ nhiều chuyện lắm. Nào là chiến tranh, nhân tình thế thái, người thương, người ghét, những buồn vui đi ngang qua tiếng đờn… nhưng đờn mà cái tâm không yên thì đờn không hay được… Phải như người đứng bên dòng sông, thấy dòng đời trôi mà nhận ra phận người. Người đờn giỏi, nghĩ sao đờn vậy, càng đờn càng hưng phấn, não hoạt động, tim đập, máu chảy lưu loát như tiếng đàn… Cái gì mình biết thật sâu thì mình nói như không.

THỰC HIỆN: NGÂN HÀ
TRANH MINH HOẠ: HOÀNG TƯỜNG

 

Giáo sư Hoàng Chương:

Cách đây năm năm, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong có trao cho tôi hồ sơ tài năng âm nhạc đề tên nhạc sư Vĩnh Bảo để giúp tôi tìm được người xứng đáng được trao giải Đào Tấn, tôi đọc một mạch. Giải thưởng được trao cho ông, tôi có dịp trò chuyện, nhận thấy ông không chỉ là một nhạc sư uyên bác, khiêm nhường mà còn có ngón đàn thần sầu.

Mỗi lần nghe ông chơi, tôi như được sống với thế giới thiêng liêng của mình. Tôi chỉ thật sự được ông tin tưởng khi vừa cách đây vài tháng, cũng chính giáo sư Phong gọi điện báo ông cụ bị xuất huyết não, đang nằm bệnh viện Chợ Rẫy, nhưng gia đình không đủ tiền để mổ. Ngay lập tức tôi gọi điện thoại khắp nơi và cuối cùng ông cụ được cứu sống nhờ bác sĩ Tuyết Nga, giám đốc bệnh viện Vũ Anh nhận lời chạy chữa cho cụ hoàn toàn miễn phí. Giờ thì mỗi lần nghĩ đến cụ, tôi lại thấy cụ như người thầy thân thương, người cha đáng kính của mình.

Nghệ sĩ Hải Phượng:

Tôi được diễn với thầy nhiều lần, mỗi lần như vậy là một lần được sống với âm nhạc dân tộc lên đến mức tuyệt đỉnh. Vì thầy là người có khả năng đi vào tiếng đàn của người khác, nương nhẹ và nâng người chơi cùng mình lên đến mức thăng hoa. Đối với người chơi đàn tài tử, đó là bản lĩnh của tài năng.

Ngoài đời thầy là người dí dỏm, thông minh. Có nhiều hôm nói chuyện với thầy mà quên cả tuổi tác của thầy. Những câu chuyện của thầy phần lớn đều mang ý nghĩa sâu sắc mà được thầy kể rất hài hước. Còn điều này nữa: thầy còn là một nghệ nhân đóng đàn tuyệt vời. Bất kỳ một người chơi nhạc dân tộc nào cũng cố gắng có cây đàn “made by Vĩnh Bảo”. Cây đàn do thầy làm ra được xem như một trong những chuẩn mực đóng dấu cho sự chuyên nghiệp của nghệ sĩ chơi đàn dân tộc.

http://sgtt.vn/Loi-song/122926/Tieng-don-dang-ngot-nhu-doi.html

Nhạc sư Vĩnh Bảo dạy nhạc bốn phương


Nhạc sư Vĩnh Bảo dạy nhạc bốn phương

thứ 5, 21/01/2010 09:05:07-

 

 
 
 
Ngón tay nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn nhuần nhuyễn lướt trên phím đàn, ngày ngày miệt mài dạy học trò. Ông cũng nhanh gọn trong từng cú rê chuột, từng động tác “click”, bởi học trò ông không chỉ có người Việt Nam, họ còn là người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc… và ông dạy họ qua internet.

Người ta gọi ông là nhạc sư, vì ngoài khả năng chơi điêu luyện hầu hết nhạc cụ dân tộc Việt Nam, ông còn là người chế tác đàn. Chỉ nghe một âm rung của đàn, ông đã biết nó có khuyết tật gì. Cho đến nay, nhắc đến đàn tranh, người ta không thể không nói đến việc ông tạo thêm dây đàn thứ 17 và sau đó là 21 (đàn tranh ban đầu chỉ có 16 dây).

5 tuổi biết đàn

“Lúc tôi mang cây đàn tranh 17 dây, ai cũng cười. Họ còn chế nhạo tôi tạo đàn cho người có bàn tay 6 ngón”, nhạc sư Vĩnh Bảo kể. Nhưng khi ông trình diễn bằng cây đàn ấy, nhiều người đã phải ngả mũ kính phục. 

Năm 1935, trong một đêm trăng sáng nghe tiếng ếch vang, ông nghiên cứu tạo âm thanh ấy bằng tiếng đàn, chế ra dây tỳ và dây xề liêu trên đàn gáo. 

Nhạc sư Vĩnh Bảo (trái) và GS Trần Văn Khê cùng nhau dạo một khúc đàn. Ảnh: Võ Hà

Những sáng tạo đặc biệt ấy sinh ra từ một nền tảng dày dặn về âm nhạc. Sinh trong một gia đình mà cha, anh chị em đều biết chơi nhạc cụ dân tộc, từ khi 5 tuổi, cậu bé Nguyễn Vĩnh Bảo đã biết gảy đàn đoản, sau đó là đàn tranh, độc huyền cầm, mandoline, guitar, violon và piano. Đến năm 10 tuổi, cậu đã tham gia chế tác đàn. Cho đến nay, ông đã thọ giáo hơn 200 nhạc sư về nhạc cụ dân tộc, trong đó có các nghệ nhân nổi tiếng của cả 3 miền Nam Trung Bắc, như thầy Sáu Tý, Năm Nghĩa, Hai Lòng, Ba Sáng… 

Năm 1960, ông lập ban nhạc Tinh Hoa với sự tham gia của nhiều ca sĩ, nhạc sĩ về nhạc tài tử miền Nam, biểu diễn trên đài phát thanh. Sau đó ông đem ngón đàn của mình đi chinh phục thính giả phương Tây. Năm 2008, chính phủ Pháp tặng ông huân chương Văn học nghệ thuật (Offcier des Arts et des Lettres). Trước đó, tại nước nhà, ông đã nhận được giải thưởng Đào Tấn.

 

‘Tôi già rồi mà…’

Không thích xuất hiện nhiều, nhạc sư Vĩnh Bảo chọn cách sống lặng lẽ cùng tiếng đàn và thơ ca trong căn nhà nhỏ ở quận Bình Thạnh (TP HCM), tiếp các nhà âm nhạc học từ các nước tìm đến đàm đạo.

Ông chẳng lấy làm lạ khi giới trẻ đi tìm học những cái mới, chứ không phải những tinh hoa cổ truyền. “Chúng ta đã nói quá nhiều về bảo tồn, nhưng chưa có ai nói được bảo tồn cụ thể là làm những gì? Thế nên đừng trách khi lớp trẻ không mặn mà với những làn điệu truyền thống”, ông nói. Chính vì thế, ông rất quý những người trẻ tìm đến học đàn, tận sức truyền lại những gì mình có cho họ.

Ngược lại, ông cũng luôn lắng nghe và tiếp nhận. “Thậm chí học trò mình cũng có thể là thầy mình. Đôi khi mình am hiểu về kỹ thuật, nhưng lại không có sự trong sáng như học trò. Tôi già rồi mà”, ông đùa.

Hằng ngày, trực tiếp hoặc qua internet, ông hướng dẫn học trò những kỹ thuật tạo âm rung, tạo âm bi, âm vui… Nhưng không phải ai cũng học được chất thiền trong âm nhạc của ông. Ông bảo, khi người ta trải qua nhiều dâu bể, đi một chặng đường quá dài trên cuộc đời này, thấu hiểu những vô thường của cuộc sống, tự khắc tiếng đàn sẽ khác đi…

 

“Tôi xem nhạc sư Vĩnh Bảo như một người thầy lớn. Cho đến nay tôi vẫn chưa nghe được tiếng đàn nào sâu sắc và điêu luyện hơn của ông ấy. Không chỉ tài hoa trong ngón đàn, ông ấy còn thành thạo tiếng Anh, Pháp, và dạy được học trò đến từ nhiều nước”, GS Trần Văn Khê.

 

Theo www.baodatviet.v

http://www.tinmoi.vn/Nhac-su-Vinh-Bao-day-nhac-bon-phuong-01110469.html