Tran Van Khe talked about the history of Vong Co


Tran Van Khe talked about the history of Vong Co
Uploaded on Oct 10, 2007
Prof. Tran Van Khe had the great performance about “Da Co Hoai Lang & Vong Co” (Sep 12nd 2007) at his home. There’re many audiences came to visit and be attractived with this performance.

At the end, Prof. Tran Van Khe sang some old songs that nobody know. “Yen tuoc tranh ngon” is a nice song!

Camera by KV

GS Trần Văn Khê nói về hơi điệu trong nhạc truyền thống


GS Trần Văn Khê nói về hơi điệu trong nhạc truyền thống
Uploaded on Oct 7, 2009
GS Trần Văn Khê giảng giải về cách thức nhận biết hơi, điệu trong âm nhạc truyền thống: điệu Bắc, điệu Quảng, hơi Xuân, hơi Ai… Mỗi phần giảng giải đều có minh họa vài câu rao cho các hơi, điệu trên đờn Tranh do Hải Phượng trình diễn. Tiếng đờn của Hải Phượng rất đằm thắm và ngọt ngào trong từng chữ nhấn, chính xác trong từng cách thể hiện hơi, điệu của nhạc truyền thống miền Nam Việt Nam.

Chuyên đề “Âm nhạc dân tộc Việt Nam” do Khoa Nhân học ĐH. KHXH & NV thực hiện cùng với Giáo sư Trần Văn Khê 2009.

– Video by Khánh Vân –

THANH SƠN : GIA ĐÌNH NHÃ NHẠC


Gia đình nhã nhạc

Posted on 16/07 by 

Nhã nhạc Huế là âm nhạc cung đình. Vì thế, nhã nhạc thường chỉ được tấu lên nơi cung điện hay những nơi trang trọng. Vậy mà ở một nơi thôn dã thuộc ấp 1, xã Phước Bình (Long Thành, Đồng Nai), từ nhiều năm nay, có một gia đình vẫn hàng ngày cùng chơi nhã nhạc trên bãi cỏ vườn nhà hay bên bờ suối.

 

Cả gia đình chơi nhã nhạc trên bãi cỏ vườn nhà

1. Khoảng 20 năm về trước, ở cái ấp 1 này, bỗng xuất hiện một cặp vợ chồng dáng vẻ thành thị chở nhau trên một chiếc xe cub 81 đã cũ. Hồi ấy, dân ấp 1 còn nghèo, xe máy hiếm hoi, thành ra với chiếc xe cub 81 ấy, cặp vợ chồng nọ đã được coi ngay là người khá giả. Cặp vợ chồng ấy tìm đến đây để mua đất đai. Nhưng lạ ở chỗ trong khi những người khá giả trên thành phố thường tìm mua đất mặt tiền hay có vị trí đắc địa, đi lại dễ dàng, thì cặp vợ chồng “khá giả” này lại cứ dắt nhau đi thật sâu vào bên trong, nơi chỉ thấy cỏ hoang, cây dại …

Vậy mà cặp vợ chồng ấy vẫn cứ tiếp tục vạch cỏ, vạch lá mà đi tiếp. Mãi đến khi thấy trước mặt là một dòng suối nhỏ chắn ngang, họ mới chịu dừng lại, hỏi mua mảnh đất đó. Hai vợ chồng cùng nhau phát hoang, dựng căn nhà nhỏ, đơn sơ, rồi ở lại sống đời thôn dã. Ở đây, họ mở một xưởng làm đàn tranh. Hàng ngày, hai vợ chồng cùng những người thợ cặm cụi làm từng cây đàn. Những lúc rảnh rỗi, họ lại cùng nhau luyện và chơi nhã nhạc cung đình Huế trong vườn nhà hay trên cái nhà sàn nhỏ dựng sát bên con suối mà họ gọi là suối “Bến Trăng”.

2. Cặp vợ chồng ấy là ông Vĩnh Tuấn và bà Phan Thị Thanh Thúy. Ông Vĩnh Tuấn là dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, cháu đời thứ 4 của Tuy Lý Vương Miên Trinh. Từ khi mới lên 3, Vĩnh Tuấn đã được mẹ rồi ông ngoại truyền dạy về âm nhạc dân tộc. Ông ngoại Vĩnh Tuấn vốn là một danh cầm của triều đình Huế.

Vợ chồng Vĩnh Tuấn – Thanh Thúy

Nhờ đó, Vĩnh Tuấn đã lĩnh hội được những cái hay nhất, tinh túy nhất của nhã nhạc cung đình Huế. Lớn lên, Vĩnh Tuấn đi học trường nhạc rồi làm giảng viên dạy đàn tỳ bà và kèn Clarinet tại Trường Quốc gia Âm nhạc Huế. Sau đó, ông chuyển sang dạy thỉnh giảng về văn học dân gian ở ĐH Sư phạm Huế. Năm 1980, ông vào Sài Gòn, mở một xưởng làm đàn tranh.

Nhờ cái xưởng đàn ấy mà Vĩnh Tuấn gặp được Thanh Thúy. Thanh Thúy cũng người gốc Huế. Do nhà nghèo quá, cô cùng mẹ phiêu dạt vào Lâm Đồng rồi tới Sài Gòn. Ở đây, cô gõ cửa xưởng đàn của Vĩnh Tuấn và được ông nhận vào làm việc. Vĩnh Tuấn làm đàn tranh rất cầu kỳ, cẩn thận. Một cây đàn từ khi bắt đầu làm đến khi hoàn chỉnh phải trải qua rất nhiều công đoạn, dài tới 2 năm trời … Nhưng Thanh Thúy không nản, quyết tâm theo nghề và trở thành thợ giỏi trong xưởng đàn. Không những thế, những tiếng đàn của Vĩnh Tuấn trong những đêm thanh vắng đã khiến cô cảm thấy rung động. Rồi một hôm, cô mạnh dạn gặp Vĩnh Tuấn để “bái sư”, xin ông cho cô được học đàn.

Và tình yêu chung với âm nhạc đã làm nảy sinh tình cảm nam nữ trong trái tim thày trò Vĩnh Tuấn – Thanh Thúy. Sau ngày thành hôn, họ tiếp tục làm đàn kiếm sống. Nhưng việc làm đàn ngày càng khó khăn vì người mua đàn ít dần đi, trong khi giá nhân công ở Sài Gòn lại trở nên đắt đỏ. Vả lại, Sài Gòn ngày càng náo nhiệt, ồn ào ảnh hưởng tới việc làm đàn tranh, vốn cần không gian thật yên tĩnh để thẩm âm cho từng cây đàn thật chuẩn xác, tinh tế. Đó là lý do đưa đẩy vợ chồng họ đến với mảnh đất vắng bên suối Bến Trăng.

Thời gian đầu, xưởng đàn của Vĩnh Tuấn đã giải quyết được việc làm cho một số lao động địa phương. Những cây đàn do ông làm ra được nhiều Việt kiều và người mê nhạc cụ dân tộc trong nước tìm tới hỏi mua. Nhưng càng ngày, khi người am tường và mê nhạc dân tộc càng ít đi, thì khách mua đàn cũng thưa vắng. Đã thế, năm 1998, một trận lụt lớn trên sông Đồng Nai, khiến cho nước ở suối Bến Trăng dâng cao tới 3 m, cuốn trôi gần hết đồ đạc, vật dụng sinh hoạt và nhất là những cây đàn tranh đang làm dở của Vĩnh Tuấn. Hai vợ chồng phải vật lộn với dòng nước lũ, mới vớt lại được khoảng 50 cây đàn.  Vĩnh Tuấn ngậm ngùi: “Tôi giờ đã già yếu rồi, chẳng còn sức để hoàn thiện những cây đàn này. Vả lại, để làm nốt những cây đàn này, phải tốn rất nhiều tiền. Mà làm ra, chắc gì đã có ai mua, vì đàn tranh người ta làm để bán không kỹ như tôi làm, không cẩn xà cừ, không sơn mài …, nên giá rẻ hơn nhiều. Đành hy vọng 3 đứa con sau này sẽ hoàn thành”.

3. 3 đứa con của Vĩnh Tuấn và Thanh Thúy là Tôn Nữ Tần Tranh, Bảo Long và Bảo Thạnh. Từ khi các con còn nhỏ, ông bà đã cùng nhau truyền dạy những ngón đàn dân tộc, nhất là nhã nhạc cung đình Huế. Sẵn cái “gien” mê nhạc cổ truyền, ba chị em học đàn rất miệt mài, sáng dạ và đã lĩnh hội được hết những bài bản nhã nhạc cung đình Huế. Thấy các con đã thành tài, ông thành lập ban Tứ tuyệt Tơ đồng nhã nhạc, gồm vợ và các con. Mẹ gảy đàn nguyệt, Tần Tranh đàn tranh, Bảo Long đàn tỳ bà, còn Bảo Thạnh chơi nhị huyền. Ngày nào ban tứ tuyệt cũng cùng nhau chơi nhã nhạc, từ 10 bài trong Liễn Bộ Thập Chương tới Long Ngâm, Tứ Đại Cảnh, Đăng Đàn Cung … Hết chơi nhạc trên bãi cỏ rộng ở vườn nhà, cả gia đình lại đưa nhau lên căn nhà sàn bên suối Bến Trăng, cùng chơi đàn cho tới tận khuya.

Ban Tứ tuyệt chơi nhã nhạc ở Duyệt Thị Trang

Trên một phần đất trang trại, vợ chồng ông đã nỗ lực xây dựng một khu nhà theo lối xưa, mà ông gọi là Duyệt Thị Trang. Cái tên ấy như là sự gợi nhớ về Duyệt Thị Đường, nhà hát của triều đình Huế xưa. Mới đây, ban tứ tấu đã cùng chơi Nhã nhạc ở Duyệt Thị Trang để Hãng phim Đài TH TP HCM ghi hình làm DVD Hồn Quốc Nhạc. Ngoài ra, Vĩnh Tuấn đang cố gắng hoàn thiện 2 tâm nguyện khác là làm bộ ký âm riêng cho âm nhạc dân tộc và phối hợp nhạc lễ Phật giáo với nhã nhạc cung đình Huế.

Giáo sư Trần Văn Khê, người rất am tường về nhã nhạc, sau khi nghe ban Tứ tuyệt này chơi Nhã nhạc, đã phải thốt lời khen ngợi: “Đây là một gia đình đặc biệt. Mặc dù sống ở nơi xa xôi thành thị, ưa cảnh hoa đồng cỏ nội, nhưng lòng luôn luôn giữ được cái truyền thống của nhạc cung đình Huế, tức là đúng theo bài bản ngày xưa của nhạc cung đình.

Và các cháu đây tuy là tuổi nhỏ nhưng đàn rất chính xác, đưa được nét chân phương, giữ lại được những gì từ thuở cha ông để lại của ca nhạc Huế và những bài bản trong nhã nhạc Huế”. Nhắc lại lời khen ấy của Giáo sư Trần Văn Khê, Vĩnh Tuấn tâm sự “Lời của thày Khê khiến tôi cảm động lắm, vì như vậy là mình đang đi đúng đường”.

4. Từ hơn 1 năm nay, trang trại của Vĩnh Tuấn đã vắng hẳn vì cả 3 đứa con đều đã lên học trên Sài Gòn. Vợ ông cũng lên theo để chăm sóc con cái, đến cuối tuần bà mới về nhà. Đôi bàn tay của Vĩnh Tuấn, sau một cơn đột quỵ, giờ chơi đàn không còn hay như xưa nữa. Tiếng đàn vì thế cũng đã thưa vắng. Trang trại của ông, với giá đất bây giờ, chỉ cần bán đi một phần đất nhỏ thôi, là ông đã có tiền tỷ trong tay. Nhưng Vĩnh Tuấn kiên quyết không bán một mét đất nào. Ông bảo “Lượm trái dừa trong vườn đem bán đã đủ mua gạo ăn rồi. Thức ăn thì sẵn rau trong vườn, cá dưới suối. Tôi muốn giữ nguyên mảnh đất này với hy vọng sẽ là nơi gặp gỡ của những người yêu nhạc dân tộc, yêu nhã nhạc cung đình Huế”.

Thanh Sơn (nongnghiep.vn)

http://www.tranvankhe.vn/2013/07/16/gia-dinh-nha-nh%E1%BA%A1c/

 

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2013/07/16/gia-dinh-nha-nh%e1%ba%a1c/#sthash.26nm9A39.dpuf

GS TRẦN VĂN KHÊ : Hoa đã nở tràn trên bước trăm năm / Trần Văn Khê nghĩ về Phạm Duy


29/01/2013 08:21 (GMT + 7)
 

 
TT – LTS: Tiễn biệt nhạc sĩ Phạm Duy vừa qua đời ngày 27-1, Tuổi Trẻ trích đăng bài viết của GS Trần Văn Khê từ quyển sách sắp hoàn thành của ông về Phạm Duy – một người bạn thâm giao.

GS Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy trong ngày mừng sinh nhật nhạc sĩ Phạm Duy năm 2010 – Ảnh tư liệu Trần Văn Khê

 

Ðối với tôi, Phạm Duy là một người nhạc sĩ có những khả năng rất đặc biệt trong âm nhạc mà không phải bất kỳ người nhạc sĩ nào cũng có thể hội tụ đầy đủ. Sự cảm thụ âm nhạc nghệ thuật của Duy cũng mang tính cách rất riêng, rất “Phạm Duy”, nhưng cái riêng đó không hề lạc ra khỏi gốc rễ tình cảm chung của người VN.

 

Những cuộc phiêu lưu “chiêu hồn nhạc”

Nếu như trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều nhạc sĩ thường thiên về sở trường chuyên môn của mình: những ca khúc hoặc sáng tác nhạc không lời, hoặc viết về nhạc trữ tình quê hương, nhạc hành khúc, nhạc mang âm hưởng theo phong cách truyền thống hoặc theo quy luật sáng tác của phương Tây… thì với Phạm Duy, khả năng sáng tác âm nhạc – không, với tôi giờ đây Duy không sáng tác nữa, mà Duy đã làm những cuộc phiêu lưu “chiêu hồn nhạc” – hết sức đậm đà, huyền diệu, đầy thơ mộng mà cũng đa dạng và phong phú vô cùng! Duy “chiêu” được “hồn” ông thần nhạc và thành công trong nhiều thể loại, có lẽ bản thân ông thần âm nhạc cũng “mê” lối “chiêu hồn” của Duy rồi chăng?

Thành công – đối với Duy mà nói, không phải chỉ sớm nở tối tàn, “triêu như thanh ty, mộ như tuyết” (thơ Lý Bạch) mà phải nói rằng những nhạc phẩm đó đã và vẫn mang nhiều giá trị về ngôn ngữ âm nhạc lẫn ca từ không lẫn với bất cứ ai, đặc biệt là những nhạc phẩm ấy sống mãi trong lòng người Việt say mê âm nhạc nghệ thuật.

Có những thể loại nhạc đối với người nhạc sĩ này là sở trường nhưng với người khác nó lại không phải là thế mạnh. Còn Duy có thể làm cho những thể loại âm nhạc khác nhau “chịu” theo mình, nghe lời mình uốn nắn và đưa vào tâm hồn tình cảm của Duy. Những thể loại Duy làm đều được tán thưởng của giới mộ điệu âm nhạc, lấy được nhiều tình cảm từ công chúng. Ðiều đó không hề dễ có đối với một tác giả. Nó tồn tại cho tới bây giờ cũng đủ để thấy giá trị âm nhạc Phạm Duy mang một dấu ấn khó phai trong dòng chảy âm nhạc Việt, và hạnh phúc hiếm có nhất: vẫn vững chãi trước ba đào thời gian. […]

 

Thán phục một tinh thần nghiên cứu

Trước khi sang Pháp để tiếp cận với âm nhạc (học tại lớp dạy âm nhạc học của thầy Jacques Chailley năm 1954) thì Phạm Duy đã là một nhà “dân tộc âm nhạc học” hẳn hòi rồi! Ở VN, Duy đã tự mình ghi âm, ghi hình, sắp loại các bài dân ca và các bài lý, những câu hò ở nông thôn VN… và tự ký âm ra các bài nhạc đó. Duy đã có cách nhìn rất khoa học trong việc phân loại, sắp xếp và ghi chép những vấn đề liên quan trong khi tìm hiểu về dân ca, dân nhạc VN.

Ngoài việc sưu tầm và nghiên cứu dân ca lúc đầu, sau này trong những chuyến đi xuyên Việt, Phạm Duy lại có dịp tiếp cận với nhiều bộ môn âm nhạc khác như: ca Huế, đờn ca tài tử, các điệu hát lý, điệu hò của Trung, Nam bộ, và đặc biệt hơn nữa là thể loại âm nhạc dân tộc thiểu số ít ai chú ý tới… Mỗi lần tiếp cận là mỗi lần Duy ghi chép rất kỹ lưỡng, sâu sắc để sau này có dịp cho ra đời cuốn Ðặc khảo về dân ca VN mà khi được đọc tôi rất ngạc nhiên, đồng thời cũng thán phục tinh thần nghiên cứu của bạn mình. Duy theo dõi nhiều và đi sát phong trào nhạc mới từ lúc khởi thủy cho đến những giai đoạn phát triển ra nhiều trào lưu. Duy cũng có được những điều kiện thuận lợi khi quen biết với những bạn bè, các bậc tiền bối văn nghệ sĩ, nhất là giới nhạc sĩ và từng nhiều lần trao đổi, trò chuyện với họ, biết được từng thời điểm ai làm gì, sáng tác như thế nào…

Từ những lợi thế như vậy, mỗi nhạc phẩm của Duy đưa ra đều mang tính cách thời sự, gắn liền với từng sự kiện xảy ra trong đất nước và không thiếu những hình ảnh rất chân thật sống động ở những nơi mà dấu chân Duy đã đi qua, in lại trong ký ức một cách sâu sắc rồi trở thành những hình tượng nghệ thuật đặc biệt trong âm nhạc.[…]

Con chim Việt lãng du từng bay khắp nơi dẫu chưa mỏi cánh nhưng bây giờ cũng đã tìm được nơi đất lành cho chim đậu. Dấu chân trên mặt đất lúc này không còn là dấu mộng trên đường về, giờ thì “tuyết đã tan trên vài mỏi mòn”, Duy hãy tận hưởng đi cảm giác của đường trần trong hơi ấm tình quê. […]

Duy thương mến!

Chúng ta đã đến, đã đi và đã về, đã làm và đã sống, đã yêu và đã mơ, đã thăng và đã trầm, đã cười và đã khóc… suốt hai thế kỷ này. Nhưng Duy ơi! Một kiếp nhân sinh với bao năm tháng trôi chảy không ngưng nghỉ, có lúc này có lúc kia, nhưng câu chuyện cứ tiếp nối nhau không dứt, thì Khê cũng như Duy, Duy cũng như Khê, đều mỉm cười và mong rằng:

…Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Ðầu cành khô bỗng hoa nở tràn.

GS TRẦN VĂN KHÊ

(*) Tựa nhỏ trong bài do Tuổi Trẻ đặt.

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/532272/hoa-da-no-tran-tren-buoc-tram-nam.html

 

 ————————————

 

* Tin bài liên quan:

 

>> Ca sĩ Đức Tuấn: “Nhạc ông không hề già, không hề cũ”
>> Lắng đọng với năm bài hát vang bóng Phạm Duy

>> Trái tim nghệ sĩ luôn lưu luyến cuộc đời