Tran Van Khe talked about the history of Vong Co


Tran Van Khe talked about the history of Vong Co
Uploaded on Oct 10, 2007
Prof. Tran Van Khe had the great performance about “Da Co Hoai Lang & Vong Co” (Sep 12nd 2007) at his home. There’re many audiences came to visit and be attractived with this performance.

At the end, Prof. Tran Van Khe sang some old songs that nobody know. “Yen tuoc tranh ngon” is a nice song!

Camera by KV

GS Trần Văn Khê nói về hơi điệu trong nhạc truyền thống


GS Trần Văn Khê nói về hơi điệu trong nhạc truyền thống
Uploaded on Oct 7, 2009
GS Trần Văn Khê giảng giải về cách thức nhận biết hơi, điệu trong âm nhạc truyền thống: điệu Bắc, điệu Quảng, hơi Xuân, hơi Ai… Mỗi phần giảng giải đều có minh họa vài câu rao cho các hơi, điệu trên đờn Tranh do Hải Phượng trình diễn. Tiếng đờn của Hải Phượng rất đằm thắm và ngọt ngào trong từng chữ nhấn, chính xác trong từng cách thể hiện hơi, điệu của nhạc truyền thống miền Nam Việt Nam.

Chuyên đề “Âm nhạc dân tộc Việt Nam” do Khoa Nhân học ĐH. KHXH & NV thực hiện cùng với Giáo sư Trần Văn Khê 2009.

– Video by Khánh Vân –

THANH SƠN : GIA ĐÌNH NHàNHẠC


Gia đình nhã nhạc

Posted on 16/07 by 

Nhã nhạc Huế là âm nhạc cung đình. Vì thế, nhã nhạc thường chỉ được tấu lên nơi cung điện hay những nơi trang trọng. Vậy mà ở một nơi thôn dã thuộc ấp 1, xã Phước Bình (Long Thành, Đồng Nai), từ nhiều năm nay, có một gia đình vẫn hàng ngày cùng chơi nhã nhạc trên bãi cỏ vườn nhà hay bên bờ suối.

 

Cả gia đình chơi nhã nhạc trên bãi cỏ vườn nhà

1. Khoảng 20 năm về trước, ở cái ấp 1 này, bỗng xuất hiện một cặp vợ chồng dáng vẻ thành thị chở nhau trên một chiếc xe cub 81 đã cũ. Hồi ấy, dân ấp 1 còn nghèo, xe máy hiếm hoi, thành ra với chiếc xe cub 81 ấy, cặp vợ chồng nọ đã được coi ngay là người khá giả. Cặp vợ chồng ấy tìm đến đây để mua đất đai. Nhưng lạ ở chỗ trong khi những người khá giả trên thành phố thường tìm mua đất mặt tiền hay có vị trí đắc địa, đi lại dễ dàng, thì cặp vợ chồng “khá giả” này lại cứ dắt nhau đi thật sâu vào bên trong, nơi chỉ thấy cỏ hoang, cây dại …

Vậy mà cặp vợ chồng ấy vẫn cứ tiếp tục vạch cỏ, vạch lá mà đi tiếp. Mãi đến khi thấy trước mặt là một dòng suối nhỏ chắn ngang, họ mới chịu dừng lại, hỏi mua mảnh đất đó. Hai vợ chồng cùng nhau phát hoang, dựng căn nhà nhỏ, đơn sơ, rồi ở lại sống đời thôn dã. Ở đây, họ mở một xưởng làm đàn tranh. Hàng ngày, hai vợ chồng cùng những người thợ cặm cụi làm từng cây đàn. Những lúc rảnh rỗi, họ lại cùng nhau luyện và chơi nhã nhạc cung đình Huế trong vườn nhà hay trên cái nhà sàn nhỏ dựng sát bên con suối mà họ gọi là suối “Bến Trăng”.

2. Cặp vợ chồng ấy là ông Vĩnh Tuấn và bà Phan Thị Thanh Thúy. Ông Vĩnh Tuấn là dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, cháu đời thứ 4 của Tuy Lý Vương Miên Trinh. Từ khi mới lên 3, Vĩnh Tuấn đã được mẹ rồi ông ngoại truyền dạy về âm nhạc dân tộc. Ông ngoại Vĩnh Tuấn vốn là một danh cầm của triều đình Huế.

Vợ chồng Vĩnh Tuấn – Thanh Thúy

Nhờ đó, Vĩnh Tuấn đã lĩnh hội được những cái hay nhất, tinh túy nhất của nhã nhạc cung đình Huế. Lớn lên, Vĩnh Tuấn đi học trường nhạc rồi làm giảng viên dạy đàn tỳ bà và kèn Clarinet tại Trường Quốc gia Âm nhạc Huế. Sau đó, ông chuyển sang dạy thỉnh giảng về văn học dân gian ở ĐH Sư phạm Huế. Năm 1980, ông vào Sài Gòn, mở một xưởng làm đàn tranh.

Nhờ cái xưởng đàn ấy mà Vĩnh Tuấn gặp được Thanh Thúy. Thanh Thúy cũng người gốc Huế. Do nhà nghèo quá, cô cùng mẹ phiêu dạt vào Lâm Đồng rồi tới Sài Gòn. Ở đây, cô gõ cửa xưởng đàn của Vĩnh Tuấn và được ông nhận vào làm việc. Vĩnh Tuấn làm đàn tranh rất cầu kỳ, cẩn thận. Một cây đàn từ khi bắt đầu làm đến khi hoàn chỉnh phải trải qua rất nhiều công đoạn, dài tới 2 năm trời … Nhưng Thanh Thúy không nản, quyết tâm theo nghề và trở thành thợ giỏi trong xưởng đàn. Không những thế, những tiếng đàn của Vĩnh Tuấn trong những đêm thanh vắng đã khiến cô cảm thấy rung động. Rồi một hôm, cô mạnh dạn gặp Vĩnh Tuấn để “bái sư”, xin ông cho cô được học đàn.

Và tình yêu chung với âm nhạc đã làm nảy sinh tình cảm nam nữ trong trái tim thày trò Vĩnh Tuấn – Thanh Thúy. Sau ngày thành hôn, họ tiếp tục làm đàn kiếm sống. Nhưng việc làm đàn ngày càng khó khăn vì người mua đàn ít dần đi, trong khi giá nhân công ở Sài Gòn lại trở nên đắt đỏ. Vả lại, Sài Gòn ngày càng náo nhiệt, ồn ào ảnh hưởng tới việc làm đàn tranh, vốn cần không gian thật yên tĩnh để thẩm âm cho từng cây đàn thật chuẩn xác, tinh tế. Đó là lý do đưa đẩy vợ chồng họ đến với mảnh đất vắng bên suối Bến Trăng.

Thời gian đầu, xưởng đàn của Vĩnh Tuấn đã giải quyết được việc làm cho một số lao động địa phương. Những cây đàn do ông làm ra được nhiều Việt kiều và người mê nhạc cụ dân tộc trong nước tìm tới hỏi mua. Nhưng càng ngày, khi người am tường và mê nhạc dân tộc càng ít đi, thì khách mua đàn cũng thưa vắng. Đã thế, năm 1998, một trận lụt lớn trên sông Đồng Nai, khiến cho nước ở suối Bến Trăng dâng cao tới 3 m, cuốn trôi gần hết đồ đạc, vật dụng sinh hoạt và nhất là những cây đàn tranh đang làm dở của Vĩnh Tuấn. Hai vợ chồng phải vật lộn với dòng nước lũ, mới vớt lại được khoảng 50 cây đàn.  Vĩnh Tuấn ngậm ngùi: “Tôi giờ đã già yếu rồi, chẳng còn sức để hoàn thiện những cây đàn này. Vả lại, để làm nốt những cây đàn này, phải tốn rất nhiều tiền. Mà làm ra, chắc gì đã có ai mua, vì đàn tranh người ta làm để bán không kỹ như tôi làm, không cẩn xà cừ, không sơn mài …, nên giá rẻ hơn nhiều. Đành hy vọng 3 đứa con sau này sẽ hoàn thành”.

3. 3 đứa con của Vĩnh Tuấn và Thanh Thúy là Tôn Nữ Tần Tranh, Bảo Long và Bảo Thạnh. Từ khi các con còn nhỏ, ông bà đã cùng nhau truyền dạy những ngón đàn dân tộc, nhất là nhã nhạc cung đình Huế. Sẵn cái “gien” mê nhạc cổ truyền, ba chị em học đàn rất miệt mài, sáng dạ và đã lĩnh hội được hết những bài bản nhã nhạc cung đình Huế. Thấy các con đã thành tài, ông thành lập ban Tứ tuyệt Tơ đồng nhã nhạc, gồm vợ và các con. Mẹ gảy đàn nguyệt, Tần Tranh đàn tranh, Bảo Long đàn tỳ bà, còn Bảo Thạnh chơi nhị huyền. Ngày nào ban tứ tuyệt cũng cùng nhau chơi nhã nhạc, từ 10 bài trong Liễn Bộ Thập Chương tới Long Ngâm, Tứ Đại Cảnh, Đăng Đàn Cung … Hết chơi nhạc trên bãi cỏ rộng ở vườn nhà, cả gia đình lại đưa nhau lên căn nhà sàn bên suối Bến Trăng, cùng chơi đàn cho tới tận khuya.

Ban Tứ tuyệt chơi nhã nhạc ở Duyệt Thị Trang

Trên một phần đất trang trại, vợ chồng ông đã nỗ lực xây dựng một khu nhà theo lối xưa, mà ông gọi là Duyệt Thị Trang. Cái tên ấy như là sự gợi nhớ về Duyệt Thị Đường, nhà hát của triều đình Huế xưa. Mới đây, ban tứ tấu đã cùng chơi Nhã nhạc ở Duyệt Thị Trang để Hãng phim Đài TH TP HCM ghi hình làm DVD Hồn Quốc Nhạc. Ngoài ra, Vĩnh Tuấn đang cố gắng hoàn thiện 2 tâm nguyện khác là làm bộ ký âm riêng cho âm nhạc dân tộc và phối hợp nhạc lễ Phật giáo với nhã nhạc cung đình Huế.

Giáo sư Trần Văn Khê, người rất am tường về nhã nhạc, sau khi nghe ban Tứ tuyệt này chơi Nhã nhạc, đã phải thốt lời khen ngợi: “Đây là một gia đình đặc biệt. Mặc dù sống ở nơi xa xôi thành thị, ưa cảnh hoa đồng cỏ nội, nhưng lòng luôn luôn giữ được cái truyền thống của nhạc cung đình Huế, tức là đúng theo bài bản ngày xưa của nhạc cung đình.

Và các cháu đây tuy là tuổi nhỏ nhưng đàn rất chính xác, đưa được nét chân phương, giữ lại được những gì từ thuở cha ông để lại của ca nhạc Huế và những bài bản trong nhã nhạc Huế”. Nhắc lại lời khen ấy của Giáo sư Trần Văn Khê, Vĩnh Tuấn tâm sự “Lời của thày Khê khiến tôi cảm động lắm, vì như vậy là mình đang đi đúng đường”.

4. Từ hơn 1 năm nay, trang trại của Vĩnh Tuấn đã vắng hẳn vì cả 3 đứa con đều đã lên học trên Sài Gòn. Vợ ông cũng lên theo để chăm sóc con cái, đến cuối tuần bà mới về nhà. Đôi bàn tay của Vĩnh Tuấn, sau một cơn đột quỵ, giờ chơi đàn không còn hay như xưa nữa. Tiếng đàn vì thế cũng đã thưa vắng. Trang trại của ông, với giá đất bây giờ, chỉ cần bán đi một phần đất nhỏ thôi, là ông đã có tiền tỷ trong tay. Nhưng Vĩnh Tuấn kiên quyết không bán một mét đất nào. Ông bảo “Lượm trái dừa trong vườn đem bán đã đủ mua gạo ăn rồi. Thức ăn thì sẵn rau trong vườn, cá dưới suối. Tôi muốn giữ nguyên mảnh đất này với hy vọng sẽ là nơi gặp gỡ của những người yêu nhạc dân tộc, yêu nhã nhạc cung đình Huế”.

Thanh Sơn (nongnghiep.vn)

http://www.tranvankhe.vn/2013/07/16/gia-dinh-nha-nh%E1%BA%A1c/

 

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2013/07/16/gia-dinh-nha-nh%e1%ba%a1c/#sthash.26nm9A39.dpuf

GS TRẦN VĂN KHÊ : Hoa đã nở tràn trên bước trăm năm / Trần Văn Khê nghĩ về Phạm Duy


29/01/2013 08:21 (GMT + 7)
 

 
TT – LTS: Tiễn biệt nhạc sĩ Phạm Duy vừa qua đời ngày 27-1, Tuổi Trẻ trích đăng bài viết của GS Trần Văn Khê từ quyển sách sắp hoàn thành của ông về Phạm Duy – một người bạn thâm giao.

GS Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy trong ngày mừng sinh nhật nhạc sĩ Phạm Duy năm 2010 – Ảnh tư liệu Trần Văn Khê

 

Ðối với tôi, Phạm Duy là một người nhạc sĩ có những khả năng rất đặc biệt trong âm nhạc mà không phải bất kỳ người nhạc sĩ nào cũng có thể hội tụ đầy đủ. Sự cảm thụ âm nhạc nghệ thuật của Duy cũng mang tính cách rất riêng, rất “Phạm Duy”, nhưng cái riêng đó không hề lạc ra khỏi gốc rễ tình cảm chung của người VN.

 

Những cuộc phiêu lưu “chiêu hồn nhạc”

Nếu như trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều nhạc sĩ thường thiên về sở trường chuyên môn của mình: những ca khúc hoặc sáng tác nhạc không lời, hoặc viết về nhạc trữ tình quê hương, nhạc hành khúc, nhạc mang âm hưởng theo phong cách truyền thống hoặc theo quy luật sáng tác của phương Tây… thì với Phạm Duy, khả năng sáng tác âm nhạc – không, với tôi giờ đây Duy không sáng tác nữa, mà Duy đã làm những cuộc phiêu lưu “chiêu hồn nhạc” – hết sức đậm đà, huyền diệu, đầy thơ mộng mà cũng đa dạng và phong phú vô cùng! Duy “chiêu” được “hồn” ông thần nhạc và thành công trong nhiều thể loại, có lẽ bản thân ông thần âm nhạc cũng “mê” lối “chiêu hồn” của Duy rồi chăng?

Thành công – đối với Duy mà nói, không phải chỉ sớm nở tối tàn, “triêu như thanh ty, mộ như tuyết” (thơ Lý Bạch) mà phải nói rằng những nhạc phẩm đó đã và vẫn mang nhiều giá trị về ngôn ngữ âm nhạc lẫn ca từ không lẫn với bất cứ ai, đặc biệt là những nhạc phẩm ấy sống mãi trong lòng người Việt say mê âm nhạc nghệ thuật.

Có những thể loại nhạc đối với người nhạc sĩ này là sở trường nhưng với người khác nó lại không phải là thế mạnh. Còn Duy có thể làm cho những thể loại âm nhạc khác nhau “chịu” theo mình, nghe lời mình uốn nắn và đưa vào tâm hồn tình cảm của Duy. Những thể loại Duy làm đều được tán thưởng của giới mộ điệu âm nhạc, lấy được nhiều tình cảm từ công chúng. Ðiều đó không hề dễ có đối với một tác giả. Nó tồn tại cho tới bây giờ cũng đủ để thấy giá trị âm nhạc Phạm Duy mang một dấu ấn khó phai trong dòng chảy âm nhạc Việt, và hạnh phúc hiếm có nhất: vẫn vững chãi trước ba đào thời gian. […]

 

Thán phục một tinh thần nghiên cứu

Trước khi sang Pháp để tiếp cận với âm nhạc (học tại lớp dạy âm nhạc học của thầy Jacques Chailley năm 1954) thì Phạm Duy đã là một nhà “dân tộc âm nhạc học” hẳn hòi rồi! Ở VN, Duy đã tự mình ghi âm, ghi hình, sắp loại các bài dân ca và các bài lý, những câu hò ở nông thôn VN… và tự ký âm ra các bài nhạc đó. Duy đã có cách nhìn rất khoa học trong việc phân loại, sắp xếp và ghi chép những vấn đề liên quan trong khi tìm hiểu về dân ca, dân nhạc VN.

Ngoài việc sưu tầm và nghiên cứu dân ca lúc đầu, sau này trong những chuyến đi xuyên Việt, Phạm Duy lại có dịp tiếp cận với nhiều bộ môn âm nhạc khác như: ca Huế, đờn ca tài tử, các điệu hát lý, điệu hò của Trung, Nam bộ, và đặc biệt hơn nữa là thể loại âm nhạc dân tộc thiểu số ít ai chú ý tới… Mỗi lần tiếp cận là mỗi lần Duy ghi chép rất kỹ lưỡng, sâu sắc để sau này có dịp cho ra đời cuốn Ðặc khảo về dân ca VN mà khi được đọc tôi rất ngạc nhiên, đồng thời cũng thán phục tinh thần nghiên cứu của bạn mình. Duy theo dõi nhiều và đi sát phong trào nhạc mới từ lúc khởi thủy cho đến những giai đoạn phát triển ra nhiều trào lưu. Duy cũng có được những điều kiện thuận lợi khi quen biết với những bạn bè, các bậc tiền bối văn nghệ sĩ, nhất là giới nhạc sĩ và từng nhiều lần trao đổi, trò chuyện với họ, biết được từng thời điểm ai làm gì, sáng tác như thế nào…

Từ những lợi thế như vậy, mỗi nhạc phẩm của Duy đưa ra đều mang tính cách thời sự, gắn liền với từng sự kiện xảy ra trong đất nước và không thiếu những hình ảnh rất chân thật sống động ở những nơi mà dấu chân Duy đã đi qua, in lại trong ký ức một cách sâu sắc rồi trở thành những hình tượng nghệ thuật đặc biệt trong âm nhạc.[…]

Con chim Việt lãng du từng bay khắp nơi dẫu chưa mỏi cánh nhưng bây giờ cũng đã tìm được nơi đất lành cho chim đậu. Dấu chân trên mặt đất lúc này không còn là dấu mộng trên đường về, giờ thì “tuyết đã tan trên vài mỏi mòn”, Duy hãy tận hưởng đi cảm giác của đường trần trong hơi ấm tình quê. […]

Duy thương mến!

Chúng ta đã đến, đã đi và đã về, đã làm và đã sống, đã yêu và đã mơ, đã thăng và đã trầm, đã cười và đã khóc… suốt hai thế kỷ này. Nhưng Duy ơi! Một kiếp nhân sinh với bao năm tháng trôi chảy không ngưng nghỉ, có lúc này có lúc kia, nhưng câu chuyện cứ tiếp nối nhau không dứt, thì Khê cũng như Duy, Duy cũng như Khê, đều mỉm cười và mong rằng:

…Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Ðầu cành khô bỗng hoa nở tràn.

GS TRẦN VĂN KHÊ

(*) Tựa nhỏ trong bài do Tuổi Trẻ đặt.

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/532272/hoa-da-no-tran-tren-buoc-tram-nam.html

 

 ————————————

 

* Tin bài liên quan:

 

>> Ca sĩ Đức Tuấn: “Nhạc ông không hề già, không hề cũ”
>> Lắng đọng với năm bài hát vang bóng Phạm Duy

>> Trái tim nghệ sĩ luôn lưu luyến cuộc đời

TRUNG UYÊN : GS TS TRẦN VĂN KHÊ : Suốt đời làm “lan can” cho con


Suốt đời làm “lan can” cho con

21/05/2011 01:03 (GMT + 7)
 

 
TT – “Cha mẹ hãy làm lan can cầu cho con, không phải để ngăn con vượt qua mà để con khỏi té ngã xuống nước, để con không đi sai đường, để cảnh báo cho con những nguy hiểm” – đó là một trong những chia sẻ của GS.TS Trần Văn Khê tại buổi giao lưu với khoảng 300 phụ nữ ở Q.12, TP.HCM chiều 19-5.

Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê – Ảnh: TRUNG UYÊN

Giáo sư minh họa thông điệp ấy bằng phương pháp dạy dỗ của người cô thứ ba trong gia đình bên nội – người hi sinh cuộc đời, thay thế cha mẹ của giáo sư đã mất sớm – chăm lo cho giáo sư và các em.

Giáo sư Trần Văn Khê xúc động kể: “Cô Ba không bắt ép chúng tôi làm chuyện này chuyện nọ mà thường khuyên lơn, dạy dỗ, cắt nghĩa. Những lời dạy bảo của cô cũng chính là kim chỉ nam cho tôi suốt cuộc đời, để tôi có thể sống an nhiên tự tại, không ân hận điều gì”.

Cha mẹ nên ứng xử thế nào khi con đến tuổi yêu là thắc mắc của không ít người. Giáo sư tiếp tục “tư vấn” bằng những trải nghiệm của bản thân: “Cô Ba không chỉ quan sát chuyện ăn uống, học hành, nghỉ ngơi của tôi mà còn chú ý cả tiếng đờn của tôi. Năm 1941, trong thời gian tôi chuẩn bị rời Sài Gòn ra Hà Nội học thuốc, cô rất lo lắng vì suốt những năm học nội trú, tôi như con nhộng nằm trong kén, nay chuẩn bị ra ngoài đời”.

Khi nghe tôi khảy đờn, cô bảo tiếng đờn ấy rất gợi tình và không quên dặn dò: “Khi ra Hà Nội, con đờn chơi mà có ai đó cảm tiếng đờn, muốn kết chặt tình thương, nhưng con thấy tình yêu ấy không dẫn đến hôn nhân thì hãy tìm cách lánh xa. Con có quyền yêu, song hãy để tình yêu ấy thúc đẩy sự học và đã yêu thì hãy yêu chân thật, không bao giờ gian dối, để dầu có chia tay cũng không phải ân hận”.

Những thông điệp giáo dục ấy được giáo sư tiếp tục lĩnh hội và thực hiện khi đảm đương vai trò làm cha: không dùng roi vọt mà cảm hóa bằng lời lẽ, thậm chí làm thơ để dạy con, dạy bằng cả cái tâm, bằng cả tình thương…

Trong ứng xử vợ chồng, thông điệp được giáo sư nhấn mạnh là “vợ chồng đối xử nhẹ nhàng với nhau, xem nhau như tân khách. Hãy học cách thích nghi với bạn đời chứ không phải muốn bạn đời thích nghi với mình”.

Trong khuôn khổ chuyên đề, khán giả cũng có dịp tìm hiểu “công thức làm bánh tình yêu” do thạc sĩ xã hội học Phạm Thị Thúy (giảng viên Học viện Hành chính quốc gia cơ sở TP.HCM) truyền đạt. Các nguyên liệu làm nên “chiếc bánh tình yêu” gồm: tình bạn, sự thủy chung, tình yêu, sự thành thật, thương yêu, tha thứ, tôn trọng, hi vọng, âu yếm chăm sóc, niềm tin, nụ cười và… một ít xa cách.

Để làm ra thành công “chiếc bánh tình yêu” không thể thiếu sự tỉ mỉ, chăm chút, theo dõi sát sao từng “công đoạn”. Và một thông điệp quan trọng được các khán giả đồng thuận: “Bánh này phải do hai người cùng làm và chỉ dành cho hai người ăn. Cần ăn bánh này mỗi ngày với sự độ lượng”.

TRUNG UYÊN

http://tuoitre.vn/Nhip-song-tre/Tinh-yeu-loi-song/438849/suot-doi-lam-lan-can-cho-con.html

NGUYỄN THẾ THANH : Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn, VIETNAM


Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn

11/02/2013 15:00 (GMT + 7)
TTXuân – Tết 2006 là một cột mốc thời gian đáng nhớ trong cuộc đời giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê. Lần đầu tiên được ăn Tết tại “nhà của mình” trên chính đất nước mình, cảm giác trong ông xao xuyến, bồi hồi rất lạ.

Lúc khai đàn đầu xuân, tập quán mà ông giữ được bao năm qua, cuốn phim ký ức bỗng đưa ông về những năm đầu thập niên năm mươi ở nước Pháp, khi ông vừa theo học ở khoa giao dịch quốc tế Trường Chính trị Paris vừa đi đánh đàn thuê ở tiệm ăn La Paillote do ông Từ Bá Hòa làm chủ. Đánh đàn để kiếm sống, nhưng ông chỉ sử dụng các nhạc cụ truyền thống Việt Nam và chơi các bản nhạc truyền thống Việt Nam, vậy mà thực khách ưa thích.

Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ mà ông vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp nơi trên thế giới. 15 đại học ở nước ngoài, 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc tại 67 quốc gia, 20 liên hoan âm nhạc thế giới… ở bất cứ nơi đâu ông có mặt, âm nhạc Việt Nam lại đĩnh đạc vang lên.

Tháng 8-2006, tại một nhà hát ở Torino (Ý) trong tuần lễ “Di sản âm nhạc Việt Nam” do các bạn Ý tổ chức, mỗi khi các nghệ sĩ Hải Phượng, Huỳnh Khải, Nhứt Dũng biểu diễn dứt một tiết mục nhạc tài tử và nhạc lễ Nam bộ, giáo sư Trần Văn Khê lại lên sân khấu giới thiệu bằng tiếng Pháp và tiếng Anh về ý nghĩa, về những điểm chung và riêng của các loại hình âm nhạc này.

Rồi, thật là bất ngờ, ông cầm lấy cái trống bồng đánh lên để khán giả có thể nhận ra những âm thanh khác biệt của nó với các loại trống khác. Tay trống của ông mềm mại và dứt khoát, tiếng trống lúc nhặt lúc khoan, không ai còn nhớ ra người chơi trống đã tám mươi lăm tuổi…

Tiếng vỗ tay dành cho ông rền vang khán phòng. Khoảnh khắc xúc động ấy người viết bài này may mắn được chứng kiến…  Chả trách, các đồng nghiệp quốc tế của Trần Văn Khê vẫn gọi ông là người đa tài: giỏi nghiên cứu, giỏi truyền giảng, giỏi ngoại ngữ và giỏi kỹ năng biểu diễn. Họ thành tâm thú nhận đã bị mê hoặc vì sự tài tình và vẻ say sưa của ông khi truyền đến họ nét đặc sắc của một nền âm nhạc mà ông đã đắm mình từ tấm bé…

Trở về Việt Nam sau chặng đường bôn ba hơn nửa thế kỷ ở xứ người, giáo sư Trần Văn Khê đã mang theo về 435 kiện sách và hiện vật âm nhạc quý giá mà ông thu thập, gìn giữ trong suốt những năm dài nghiên cứu, giảng dạy và nay tặng lại Nhà nước Việt Nam để phục vụ cộng đồng. Nhưng, có lẽ biệt tài giới thiệu âm nhạc dân tộc của ông mới chính là thứ tài sản quý giá hơn cả mà cộng đồng được ông trao tặng.

Với sự giúp sức của các cơ quan nhà nước và bạn bè thân hữu, ngôi nhà ông ở những năm cuối đời tại đường Huỳnh Đình Hai (Bình Thạnh, TP.HCM) thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa sống động. Tại ngôi nhà này, từ tuổi tám mươi lăm đến nay, Trần Văn Khê vẫn kết nối các mối quan hệ âm nhạc trong và ngoài nước, vẫn trực tiếp tham gia giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc, đặc biệt nhất là vẫn tham gia biểu diễn trong các buổi sinh hoạt định kỳ và ngoại kỳ.

Một đêm tháng 2-2007, khi ca nương Phạm Thị Huệ chuyển từ đàn đáy phụ họa với nhóm ca trù TP.HCM sang phần độc tấu đàn tì bà theo phong cách Huế, Trần Văn Khê đã bất ngờ nhập cuộc, kéo Phạm Thị Huệ ứng tác ứng tấu với ông một đoạn chỉ có trống và tì bà. Tiếng tì bà của Phạm Thị Huệ đi theo tiết tấu trống của Trần Văn Khê say sưa và thần tình một cách lạ lùng.

Đoạn nhạc hòa tấu đầy ngẫu hứng và hào hứng sáng tạo đó khó gặp ở thời nay đã lay động hết thảy những người tham dự chương trình sinh hoạt định kỳ hôm ấy. Ngoài vẻ say sưa, không ai còn nhận thấy nét già nua, đau ốm nào trên gương mặt Trần Văn Khê. Ông đã luôn cháy lên như thế mỗi khi đắm mình với nghệ thuật dân tộc, bằng lời và bằng nhạc.

Đến thăm giáo sư Trần Văn Khê một ngày cuối năm 2012, câu chuyện giữa chủ khách đã theo các sổ ghi chép và hình ảnh mà lần trở lại những kỷ niệm xa gần liên quan đến sự nghiệp của ông. Ông lướt qua rất nhanh, thậm chí bỏ qua những gì ông cho là không còn quan trọng nữa. Tỉ như những giải thưởng, những danh hiệu của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và cả Chính phủ Việt Nam đã trao cho ông trong hơn nửa thế kỷ qua. Chúng rất nhiều và không phải không có ý nghĩa.

Nhưng giờ đây, với tư cách là nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, quan trọng nhất với ông vẫn là những ngày cuối đời này làm sao góp phần nhiều hơn nữa vào việc nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá để âm nhạc dân tộc thực sự làm rung động và đi vào tâm cảm của người đương thời, nhất là người trẻ. Ông sợ cách làm cẩu thả, chiếu lệ, thiếu cảm xúc và thiếu cả kỹ năng sẽ làm cho âm nhạc dân tộc mất đi khả năng lay động khán giả đương thời, cho dù di sản ấy thực sự quý giá và đặc sắc.

Ông muốn những Thúy Hoan, Đỗ Lộc, Trần Quang Hải, Phạm Thị Huệ, Huỳnh Khải, Hải Phượng, Đức Dũng, Anh Tấn, Nhứt Dũng, Văn Môn, Lê Tứ, Đinh Linh, Tuyết Mai… và những điểm sáng khác được nhân ra nhanh hơn, nhiều hơn thay vì còn ít như hiện nay.

Và trong khi mọi sự chưa phải đã được như mong muốn, Trần Văn Khê vẫn tự mình tham gia các chương trình giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc cho người trẻ. Thực hiện dự án “Dạy âm nhạc dân tộc trong bậc tiểu học” ở Trường tiểu học Trần Hưng Đạo. Lên truyền hình biểu diễn các bài dân ca Bắc, Trung, Nam cùng các cháu bé ở Nhà Thiếu nhi quận 1. Nhìn ông mặc áo dài khăn đóng, mái tóc bạc phơ say sưa hát tung hứng với các diễn viên nhí, ai mà biết được mắt ông đã mờ đi nhiều lắm và đi lại đã rất khó khăn.

Gần đây nhất, ngày 22-11-2012 ông nhận lời làm diễn giả trong chương trình “Đi tìm tiếng nói thế hệ” do PACE tổ chức. Với đề tài “Người trẻ và âm nhạc dân tộc”, ông không nói với hơn 600 bạn trẻ về khả năng dâng hiến, về khát vọng thành công, về tính độc lập trong tư duy. Đó là phần luận bàn của các chuyên gia khác. Ông đi xe lăn đến diễn đàn này để trò chuyện với những người trẻ về cảm xúc mà mỗi con người cần phải có, phải giữ để làm nên độ mặn nhạt trong lối sống của mình. Nguồn cội văn hóa sẽ cho người ta một phần rất quan trọng của cảm xúc đó.

Ông giải thích một cách giản dị cho cử tọa trẻ nghe về sự khác biệt của ca trù, ca Huế, chầu văn, nhã nhạc, nhạc tài tử…, về sự tinh tế của dòng nhạc dân gian và sự thâm trầm của dòng nhạc bác học trong âm nhạc dân tộc. Và, bằng chất giọng còn rất trầm ấm nhưng hơi lực chẳng còn như ý, ông đã cất tiếng hát cho các bạn trẻ nghe những điệu ru của miền Nam, miền Trung và miền Bắc.

“Ví dầu con cá nấu canh/Bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho thơm”. Nỗ lực ngân nga của ông, nét biểu cảm của bài ru trên gương mặt của một người đã đi qua chín mươi hai năm cuộc đời đã làm xúc động thế hệ 7X, 8X, 9X. Tiếng vỗ tay nhiều lần và kéo dài trong khán phòng như thay cho sự chia sẻ và lời tri ân dành cho ông – người mà cả đời tự gánh lấy trách nhiệm giữ gìn và truyền đến mọi người ngọn lửa tình yêu với âm nhạc dân tộc. Vượt qua sự thông thường, câu chuyện về âm nhạc truyền thống Việt Nam có phần nỗ lực minh họa sống động của ông trở thành bức thông điệp về một giá trị văn hóa đặc sắc mà cha ông để lại cho con cháu.

Đến nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn, nếu may mắn gặp chủ nhà, khách có thể sẽ được nghe nhiều câu chuyện thú vị. Như là câu chuyện sau đây mà nếu muốn, khách có thể lục lọi trong Thư viện Trần Văn Khê (đặt tại nhà ông hiện nay) để biết. Đó là chuyện ông – với tư cách là người Việt Nam đầu tiên được Đại học Sorbonne Paris trao bằng tiến sĩ âm nhạc học với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” (La Musique Vietnammienne (traditionnelle) – đã may mắn có cơ hội được giao soạn thảo chín trang về lịch sử âm nhạc Việt Nam trong Encyclopedie de la Pleiade vào cuối năm 1958. Đó là lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam được góp mặt vào hệ thống công cụ tra cứu tri thức thế giới.

Đó cũng là một điểm tựa tinh thần, “danh chính ngôn thuận” để Trần Văn Khê thêm tự tin dấn thân vào sự nghiệp quảng bá miệt mài các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp, ở Hội đồng quốc tế âm nhạc Unesco và nhiều trung tâm nghiên cứu quan trọng khác. Nhờ đó và cùng với sự góp sức từ nhiều bạn bè, đồng nghiệp của Trần Văn Khê mà nhiều năm sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên, ca trù… được Unesco vinh danh là kiệt tác di sản truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.

Cũng có thể khách sẽ được nghe câu chuyện ca trù nhiều năm bị quên lãng ở miền Bắc Việt Nam đã “sống lại” như thế nào. Đó là năm 1976, giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê lần đầu về thăm đất nước theo lời mời của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Nhiều cơ quan ở Hà Nội đã mời ông đến nói chuyện: Hội nhạc sĩ Việt Nam, Trường Âm nhạc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Đài Tiếng nói Việt Nam…

Ở đâu ông cũng nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy vốn cổ. Sau đó ít lâu, thính giả rất ngạc nhiên nghe trên sóng phát thanh quốc gia tiếng tom chát của ca trù, cả tiếng giới thiệu vang vang của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Với lần xuất hiện đó, ca trù đã đàng hoàng góp mặt vào đời sống âm nhạc đương đại. Nguyễn Xuân Khoát đã viết cho Trần Văn Khê bức thư vẻn vẹn một dòng “Sự kiện anh về nước đã động viên tôi rất nhiều. Cảm ơn anh”. Lời cảm ơn ấy không mảy may xã giao mà từ đáy lòng một người hằng thiết tha với nghệ thuật ca trù.

Khê nghĩa là suối. Trần Văn Khê một đời qua ví như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát. Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài. Tết Quý Tỵ năm nay, theo cách tính của ông bà, Trần Văn Khê bước vào tuổi 93. Trong lời kết cuốn sách sắp xuất bản dịp đầu năm tới ông viết về Phạm Duy – người bạn sinh cùng tuổi con gà, tình thân quyện chặt với nhau già nửa thế kỷ, mỗi câu đều thấm đẫm tâm sự của một người đã nghiền ngẫu trải nghiệm tri hành nghề nghiệp cùng thời cuộc:

“Chúng ta đã đến, đã đi và đã về, đã làm và đã sống, đã yêu và đã mơ, đã thăng và đã trầm, đã cười và đã khóc… qua hai thế kỷ nay. Nhưng Duy ơi, một kiếp nhân sinh với bao năm tháng trôi chảy không ngừng nghỉ, có lúc này cũng có lúc khác, những câu chuyện cứ tiếp nối nhau không dứt, thì Khê cũng như Duy, Duy cũng như Khê, đều mỉm cười và mong rằng:

Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Đầu cành khô bỗng hoa nở tràn”

(Người tình già trên đầu non).

NGUYỄN THẾ THANH

————————————

* Tin bài liên quan:

>>Xem thêm về GS-TS Trần Văn Khê

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/532583/nha-tran-van-khe-o-sai-gon.html#ad-image-0

T. HUỆ : Giáo sư Trần Văn Khê: Tre chưa tàn, măng đã mọc


Giáo sư Trần Văn Khê: Tre chưa tàn, măng đã mọc

07/08/2013 14:42 (GMT + 7)
 

 
TTO – Sáng nay (7-8), giáo sư Trần Văn Khê đã có những chia sẻ chân tình về niềm đam mê âm nhạc dân tộc với khán giả tại nhà sách Phương Nam Vincom nhân dịp tái bản có bổ sung cuốn Hồi ký Trần Văn Khê.

>> Trần Văn Khê – Người truyền lửa tuổi 94
>> Tặng Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh cho GS Trần Văn Khê
>> Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/562503/giao-su-tran-van-khe-tre-chua-tan-mang-da-moc.html#ad-image-0

 

 

 

 

Trong dịp này Công ty sách Phương Nam cũng giới thiệu bộ phim tài liệu Trần Văn Khê – Người truyền lửa cũng như audio book thu âm giọng đọc cuốn hồi ký của chính giáo sư Trần Văn Khê.

Theo như chia sẻ của giáo sư Trần Văn Khê, cuốn hồi ký tái bản lần này có thêm những trang viết về giai đoạn mà giáo sư nói vui là “hoàng hôn của cuộc đời” khi trở lại sống ở Việt Nam trong một căn nhà khang trang do Nhà nước cấp. Ngoài ra cuốn hồi ký cũng bổ sung nhiều hình ảnh tư liệu trong đó có những hình ảnh giáo sư Trần Văn Khê với nhạc sĩ Phạm Duy.

Thầy Trần Văn Khê cũng chia sẻ trong quá trình thu âm giọng đọc của chính mình có những lúc bỗng nhiên bị đau nói không ra tiếng, nhưng ông tin rằng độc giả khi nghe những dòng hồi ký qua tiếng nói của ông sẽ cảm động hơn vì có những khi đọc lại ông cảm thấy xúc động thật sự.

Ông nói “ví dụ như lúc người mẹ lâm chung nói những lời cuối, khi đọc đến đó tôi xúc động thật sự, tôi hình dung được mẹ tôi đã khóc như thế nào”. Chính vì vậy giáo sư Trần Văn Khê tin rằng chính sự xúc động đó có thể lay động được khán giả hơn.

Trong buổi giao lưu thầy Khê cũng chân tình chia sẻ về sự tin cậy với một thế hệ kế tiếp sẽ gìn giữ và truyền bá được tinh hoa của nền âm nhạc truyền thống của dân tộc Việt Nam. Ông xúc động bày tỏ: “Trong khi tôi nói về âm nhạc dân tộc, những cặp mắt học trò của tôi sáng trưng lên. Họ làm được những điều tôi nói. Họ còn đưa những điều tôi truyền đạt vào giảng dạy tại các trường âm nhạc. Điều đó có nghĩa là tre chưa tàn mà măng đã mọc. Thật là một điều may mắn”.

Có mặt tại buổi giao lưu, nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng, một trong những học trò của thầy Khê, nói rằng cô đã học được nhiều nhất ở thầy Khê chính là tinh thần xả thân vì âm nhạc dân tộc. “Thầy không chỉ là một người thầy, một sư phụ mà còn là một người cha đã dẫn dắt, chỉ dẫn con đường đi cũng như giải đáp những thắc mắc khó khăn của tôi”.

Hải Phượng cũng chia sẻ mình đã thật may mắn khi biết thầy từ khi còn rất nhỏ. Ngoại chị gọi thầy là thầy, mẹ chị gọi thầy là thầy, chị gọi thầy là thầy, đến lượt con gái chị gọi thầy là thầy. Chị cũng kể lại kỷ niệm về câu chuyện năm 1992 khi chị qua Pháp biểu diễn chung với thầy Khê. Lúc đó thầy nói “thầy đã được hòa đàn với mẹ con, giờ được hòa đàn với con, thầy mong sẽ có ngày hòa đàn với con của con”. Thật may mắn điều đó đã thành sự thật khi con gái của Hải Phượng, bé Hải Minh, đã từng có dịp hòa đàn với thầy.

Trong buổi giao lưu, khán giả còn được chứng kiến màn trình diễn xúc động của 3 thầy trò giáo sư Trần Văn Khê, nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng và nghệ sĩ đàn kìm Huỳnh Khải trong các tiết mục âm nhạc dân tộc.

T.HUỆ