VŨ TRUNG : Du lịch Văn hóa: Hỗ trợ hay phá hoại di sản?


VĂN HOÁ ››
23/06/2013 13:20 GMT+7
 

Du lịch Văn hóa: Hỗ trợ hay phá hoại di sản?

 – Hàng loạt vấn đề được các nhà khoa học đặt ra tại Hội thảo Quốc tế 10 năm thực hiện công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (sáng 23-6) – đã khiến các nhà quản lý, chính quyền địa phương phải suy ngẫm và tránh những hành xử thô bạo với di sản…

TIN BÀI KHÁC

Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của các học giả, các nhà khoa học, nghiên cứu đến từ 17 quốc gia. Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova cho rằng vấn đề quan tâm hiện nay là làm thế nào bảo vệ được các di sản văn hóa một cách bền vững tránh sự xâm hại của thiên nhiên và con người.

Di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn, UNESCO, du lịch văn hóa
(Ảnh minh họa)

Thế giới: Du lịch văn hóa phá hoại văn hóa?

Liên Hiệp Quốc đang thảo luận về quá trình toàn cầu hóa 2014-2015 để đưa ra chương trình hoạt động về những vấn đề quan tâm hiện nay trong chương trình phát triển và bảo tồn di sản văn hóa toàn cầu, tranh thủ ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học về phương án tối ưu để bảo vệ các di sản” -Bà Irina Bokova nói.

Nhiều học giả nước ngoài đặt ra nguy cơ biến mất của di sản văn hóa phi vật thể khi toàn cầu hóa đang như “cơn bão” với cường suất lớn càn quét hủy diệt.

Học giả Jo Caust (Đại học Melboure, Úc) đặt câu hỏi: chúng ta đang hỗ trợ hay phá hoại các báu vật thế giới? Du lịch văn hóa hiện nay đang khai thác mà không đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy.

Di sản văn hóa phi vật thể là báu vật do con người tạo ra. Giàu có và du lịch giá rẻ cho phép số người đi du lịch tăng theo cấp số nhân đã gia tăng áp lực lên các vùng di sản phi vật thể và gây tổn thương. Trong khi đó, cư dân địa phương phụ thuộc hoàn toàn vào du lịch để kiếm sống.

Câu hỏi được đặt ra hiện nay là khách du lịch có thể đem lại sự phồn thịnh  cho một cộng đồng nhưng cũng chính khách du lịch là tác nhân phá hủy hay làm suy thoái những nét độc đáo của văn hóa địa phương. 

Di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn, UNESCO, du lịch văn hóa
Hội thảo quốc tế 10 năm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể

Tại Việt Nam: can thiệp nghi lễ cộng đồng

Tiến sĩ Phan Phương Anh, Viện văn hóa nghệ thuật nói về vấn đề tính thiêng của nghi lễ đã đưa ra con số 7.966 lễ hội  tại VN gắn liền với tín ngưỡng và tôn giáo. Trong đó tính thiêng của nghi lễ là sự cô đặc của các biểu trưng xã hội tạo nên sự gắn kết các thành viên trong cộng đồng.

Tuy nhiên hiện nay, quá trình di sản hóa đã tạo ra sự sở hữu hóa lễ hội, trong đó nghi lễ bị can thiệp, cộng đồng chủ thể thay đổi…Đây là vấn đề cần quan tâm để bảo vệ tính thiêng của tín ngưỡng như là sự bảo tồn giá trị của văn hóa phi vật thể hiện nay-TS Phương Anh cảnh báo.

Di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn, UNESCO, du lịch văn hóa
Các nhà khoa học trao đổi bên lề Hội thảo

GS/TS Balaban (Đại học North Carolina, Mỹ) lại đưa ra vấn đề các bài hát hay thi ca truyền miệng của Việt Nam như ca dao, vọng cổ, ca trù…là một kho tàng văn hóa tồn tại hàng nghìn năm nay. Chính ca dao đã bắt cây cầu giữa truyền thống truyền khẩu và truyền thống văn học cao cấp.

Ông cho rằng đây là vốn di sản viết bằng chữ Nôm hiện đang có nguy cơ bị lãng quên do nó là những văn bản được viết bằng ngôn ngữ của nhân dân từ nhiều thế kỷ trước. Vậy làm thế nào để bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể này nếu không khẩn trương và có chính sách đầu tư thích đáng?

Hàng trăm ý kiến đề xuất cũng như nhiều câu hỏi được đặt ra của các học giả, các nhà khoa học tại Hội thỏa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đang còn chưa được trả lời.

Vũ Trung

http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/128294/du-li-ch-van-ho-a–ho–tro–hay-pha–hoa-i-di-san-.html

THANH PHƯƠNG RFI : Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn, phỏng vấn GS Trần Quang Hải, 10.06.2013


THỨ HAI 10 THÁNG SÁU 2013
Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn
Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.

Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.

RFI

Hát ví và hát giặm Nghệ Tĩnh đã được Việt Nam đề nghị với tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong danh sách của năm 2014. Trước khi từ Paris về Việt Nam để dự một hội thảo về hồ sơ hát ví và giặm Nghệ Tĩnh chuẩn bị cho hồ sơ nộp UNESCO, giáo sư Trần Quang Hải, nhà dân tộc nhạc học đã dành cho RFI Việt ngữ một cuộc phỏng vấn về nghệ thuật âm nhạc cổ truyền này, cũng như về việc bảo tồn những di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận.
 

NGUYỄN THÀNH : Thách thức bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể


09:38 | 24/06/2013
 

Thách thức bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể

Tô mỳ Quảng kỷ lục châu Á: Đủ cho 600 người ăn
Khai mạc Festival Biển Nha Trang – Khánh Hòa

TP – Văn hóa phi vật thể đang đứng trước mối thách thức của phát triển kinh tế và toàn cầu hóa.

Đó là những nhận định của các nhà nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành của nhiều nước tham gia Công ước Liên Hợp Quốc đưa ra tại hội thảo quốc tế: “10 năm thực hiện công ước bảo vệ di sản phi vật thể của UNESCO – bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai do Bộ VHTT&DL phối hợp với UBND tỉnh Quảng Nam và UBQG UNESCO Việt Nam tổ chức, trong khuôn khổ Festival Quảng Nam lần thứ 5.

Theo bà Irina Bokova, Tổng Giám đốc UNESCO Văn hóa phi vật thể là bộ phận vô cùng quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của mỗi dân tộc. Quá trình toàn cầu hóa hiện nay, cùng những thay đổi lớn trên lĩnh vực kinh tế, xã hội đã và đang đưa tới mối đe dọa cho việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở mỗi nước và trên thế giới.

“Nếu chúng ta không có những suy nghĩ và hành động mạnh mẽ, thế giới sẽ không còn di sản văn hóa phi vật thể. Văn hóa phi vật thể phải gắn kết với phát triển kinh tế, phát triển văn hóa một cách bền vững” – bà Irina Bokova nói.

Ông Phạm Cao Phong, Tổng thư ký UBQG UNESCO Việt Nam cho biết: Việt Nam tham gia Công ước từ năm 2005 và đã góp đáng kể trong công cuộc bảo vệ văn hóa phi vật thể của nhân loại. Việt Nam đã có 7 di sản được UNESCO công nhận trong đó có 5 di sản thuộc danh sách di sản phi vật thể đại diện của nhân loại và 2 di sản cần thiết bảo vệ khẩn cấp.

lNgày 23/6, nằm trong khuôn khổ Festival Quảng Nam lần thứ 5, Sở VHTT&DL Quảng Nam phối hợp với Công ty TNHH Du lịch Mạo hiểm Việt Nam và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức lễ khai trương hai làng du lịch cộng đồng Bhơ Hồông, làng Đhơ Rồng (Đông Giang).

Nguyễn Thành

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/633417/Thach-thuc-bao-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the-tpp.html

THẾ PHONG : Nhìn lại 10 năm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, hội thảo 10 năm công ước UNESCO, 6.2013


Nhìn lại 10 năm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể

11:59 AM, 23/06/2013

(Chinhphu.vn) – Hội thảo khoa học quốc tế “10 năm thực hiện Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO – Bài học kinh nghiệm và định hướng trong tương lai” khai mạc sáng 23/6, tại thành phố Hội An do Bộ VHTTDL và UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp tổ chức.

 

Hội thảo quốc tế 10 năm thực hiện công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Ảnh VGP/Thế Phong

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ Anh Tuấn cho biết Hội thảo sẽ tập trung làm rõ vai trò của UNESCO và tầm quan trọng của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO đối với công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam và trên thế giới. Đồng thời trao đổi kinh nghiệm về bảo vệ di sản, thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác giữa các nước tham gia Công ước, đặc biệt là các nước ASEAN trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, góp phần kết nối mạng lưới bảo vệ di sản trong khu vực và trên thế giới.

PGS. TS Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đánh giá: “10 năm thực hiện Công ước 2003 đã làm cho mọi người ý thức được giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, từ đó tự hào và xác định trách nhiệm của mình với di sản phi vật thể của quốc gia mình của dân tộc mình và của cả nhân loại. Việt Nam đã tích cực tiếp thu được nhiều bài học của các nước, của các nhà khoa học nước ngoài trong vấn đề bảo vệ di sản”.

GS.TS Yim Dawnhee, Đại học Dongguk (Hàn Quốc), đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa dân gian ở trong di sản văn hóa phi vật thể đồng thời vinh danh các nghệ nhân nghệ sĩ. Thí dụ tại Hàn Quốc những ai được công nhận là di sản nhân văn sống về di sản văn hóa phi vật thể thì phải truyền dạy cho thế hệ trẻ những kỹ thuật về nghệ thuật đó. Những người học không phải trả tiền cho việc đào tạo này.

 

Tính đến nay đã có 150 quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước này, trong đó có 93 quốc gia thành viên đã đưa 257 di sản vào danh sách đại diện nhân loại và 31 di sản vào danh sách bảo vệ khẩn cấp.  

“Chính phủ Hàn Quốc trả cho các di sản nhân văn sống môt khoản phụ cấp là 125.000 won (tương đương khoảng 1.100 USD)/tháng, chữa bệnh miễn phí, và các hỗ trợ đặc biệt khác, giúp nâng cao uy tín của các di sản nhân văn sống”, GS.TS Yim Dawnhee chia sẻ.

Nói về các nguy hại đối với văn hóa phi vật thể nhân loại, PGS.TS Jo Caust, Đại học Melbourne (Australia), đã cảnh báo việc lạm dụng việc phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể vào phát triển du lịch thiếu sự kiểm soát mà giải pháp cần thiết là phải phát triển du lịch bền vững.

Bà Jo Caust quan ngại những tác động tiêu cực như thế được gọi là “xâm lăng” văn hóa từ bên ngoài, từ cộng đồng cư dân này tác động đến cộng đồng cư dân khác, ví dụ ở một số khu du lịch như Bali của Indonesia, kể cả Hội An của Việt Nam. 

Bên cạnh đó, các đại biểu làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với bảo tồn di sản văn hóa vật thể, với đa dạng văn hóa và sự tham gia của cộng đồng xã hội vào công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.

Các ý kiến tại hội thảo cũng bày tỏ nhu cầu tiếp tục nghiên cứu trao đổi những vấn đề trong khuôn khổ pháp lý Công ước 2003, như định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể, về tài sáng tạo di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể là di sản văn hóa phi vật thể có cần phải bảo vệ nguyên trạng không hay là có thể tái tạo để phục vụ, để truyền dạy, để trình diễn đối với cộng đồng.

Dịp này các đoàn nghệ trong nước biểu diễn, giới thiệu đến các đại biểu hai tiết mục nghệ thuật đang đệ trình UNESCO công nhận Di sản phi vật thể nhân loại là Đờn ca tài tử Nam Bộ và Dân ca Ví Dặm Nghệ Tĩnh.

 

Việt Nam đã có 7 di sản văn hóa phi vật thể được tuyên dương (Nhã Nhạc cung đình Huế năm 2003, không gian cồng chiêng Tây Nguyên 2005, dân ca Quan Họ Bắc Ninh và Hát Ca trù 2009, Hội Giống ở đền Phù Đổng và đền Sóc 2010, hát Xoan Phú Thọ 2011, và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ 2012.

Hiện Việt Nam còn có rất nhiều bộ môn âm nhạc và nghệ thuật xứng đáng như hát xẩm, hát chèo, chầu văn, múa rối nước, hát Ví Dặm Nghệ Tĩnh, các loại hát và đàn của các dân tộc vùng Việt Bắc, các dân tộc Tây nguyên, Chăm, hát Bài Chòi, hát tuồng Bình Định, đàn đá, kèn đá Phú Yên, nhạc Phật giáo tán tụng miền Trung, Đờn ca Tài Tử Nam Bộ, bài Dạ cổ Hoài Lang, nhạc lễ miền Nam, v.v…có thể sẽ được UNESCO đánh giá đúng mức để tuyên dương trong tương lai.

Thế Phong

http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Nhin-lai-10-nam-bao-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the/20136/171630.vgp

MINH QUỐC : Hà Thị Cầu – chút hồn xẩm Việt còn lại nay đã tắt, VIETNAM


Hà Thị Cầu – chút hồn xẩm Việt còn lại nay đã tắt

Chủ Nhật 3, Tháng Ba 2013, bởi NCC

Báu vật trong kho tàng hát xẩm dân gian Việt – nghệ nhân Hà Thị Cầu đã lìa cõi tại quê nhà, hưởng thọ 97 tuổi. Cầu cho hương hồn Cụ an bình nơi vĩnh hằng và kính cẩn chia buồn cùng tang quyến – BBT ĐÔNG TÁC GIAO LƯU

Nghệ nhân Hà Thị Cầu, tên thật Hà Thị Năm sinh tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong một gia đình 3 đời hát xẩm. Từ 8 tuổi, cô bé Năm đã bê thau đồng lê la khắp chốn chợ quê hành nghề hát xẩm kiếm sống. Định cư tại Yên Mô, Ninh Bình, bà trở thành người vợ thứ 18 của ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu (biệt danh Chánh Trương Mậu).

JPEG - 19.8 kb

Cụ Hà Thị Cầu được coi là báu vật sống cuối cùng của nghệ thuật hát xẩm Việt Nam. Tuy không biết chữ, nhưng cụ là người thông minh, rất giỏi làm thơ và sáng tác các bài hát xẩm, hầu hết các bài hát xẩm do cụ biểu diễn đều do cụ tự đặt lời và truyền dạy cho con cháu.

Xẩm là loại hình dân ca có từ thời nhà Trần, dã sử tương truyền đó là tiếng hát than vận tranh giành vương quyền bất thành của Trần Quốc Đĩnh (con vua Trần Thánh Tông). Thái tử Đĩnh bị chọc mù mắt, vứt trong rừng sâu, nhờ tiếng đàn (do Bụt – một biểu tượng Phật giáo nguyên thủy truyền dạy) mà cứu được mạng sống và tìm được đường trở về chốn cung đình.

Với các vần thơ lục bát thêm tiếng láy tiếng đệm, khúc Xẩm không chỉ là tiếng than thân trách phận mà còn là tiếng hát giữ lại những gương anh hùng trong sử sách, châm biếm thói hư tật xấu của người đời, của quan tham.

Hà Thị Cầu đã vương vào nghiệp cầm ca, mà là thứ ca của tầng đáy xã hội kiếm chút tiền dư nơi bến đò, cuối chợ, trên xe hỏa… Kháng chiến chống Pháp, khúc ca Xẩm trở thành công cụ tuyên truyền vận động nhân dân bám đất chống giặc ngoại xâm. Năm 1977, bà đã giành được nhiều giải thưởng văn nghệ quần chúng. Tiếc rằng, khi phường nhạc Xẩm mai một, không ai nối tiếp cái nghiệp xướng ca bị cả xã hội mặc định là chỉ dành cho người cùng đường, mạt vận mới theo.

Trời thương phận mỏng, Hà Thị Cầu như con chim đơn côi kêu Cuốc Cuốc không biết mệt mỏi gần một thế kỷ, kêu đến khi kiệt cùng trong xương tủy, khi không cất lên được tiếng nữa thì lại trở về với dúi cây bụi đất chốn làng quê.

JPEG - 36.8 kb
Cụ Cầu tại Nhà hát Lớn Hà Nội năm 2011 (ảnh Việt Long)

Năm 2011, khi Xẩm vẫn trong diện đề cử là di sản văn hóa vật thể của UNESCO thì cụ Cầu đã yếu lắm. Cụ Cầu nghèo khổ, chứng kiến đất nước đi qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng cuộc đời vẫn như đường chỉ thẳng đến nút cuối vẫn là nghèo khổ.

12 giờ rưỡi trưa nay, anh Nơi, con rể cụ báo tin cho báo chí, cụ đã lìa trần. Thế là một kiếp cơ cực đã buông. Cụ Cầu dặn, nếu một ngày nằm xuống, thì treo 2 cây đàn nhị trên bàn thờ. Báu vật nhân gian đã nhả hết tơ.

Lễ viếng nghệ nhân Hà Thị Cầu được bắt đầu từ lúc 7g sáng ngày 4-3 và lễ an táng được tổ chức vào lúc 9g30 sáng 5-3 tại nghĩa trang Đầm Thuần (xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình).

Minh Quốc

http://van-hien.vn/spip.php?article5509

Tham giàu lấy chú biện tuần
Tuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chan
Thà rằng lấy chú xẩm xoan
Công nợ không có hát tràn cung mây.

Tối trời bắt xẩm trông sao
Xẩm thề có thấy ông nào, xẩm đui.

HƯƠNG LAN : Chuyện giữ hồn xẩm, VIETNAM


Chuyện giữ hồn xẩm

Thứ Sáu 2, Tháng Mười Một 2012

Từ 26 – 28.10, tại sân bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (Hà Nội) diễn ra chương trình tái hiện xẩm tàu điện, kết hợp giới thiệu ẩm thực Hà thành. Sự kiện này gây tò mò cho những ai mê xẩm, nhưng lại đem đến cho những người bao năm qua vẫn miệt mài giữ xẩm đôi chút ngẫm ngợi…

Những gánh xẩm đầu TK20

Xẩm tàu điện xưa, xẩm tàu điện nay…

Thập niên 70, Xuân Hoạch còn là một nghệ sĩ trẻ măng, từng có không ít bữa bám lỳ tàu điện hàng giờ, chỉ để nghe xẩm. Ngày đó, ông mê mệt giọng hát và tiếng đàn của cụ trùm xẩm Nguyễn Văn Nguyên. Ông bảo: “Cụ Nguyên kéo đàn hồ hay lắm. Tàu điện chạy xình xịch, ồn ã thế mà tiếng đàn vẫn vang rất rõ, bay rất xa”. Cùng với nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên, xẩm tàu điện khi ấy có một “ông trùm” nổi bật khác là nghệ nhân Vũ Đức Sắc, ngoài giọng hát còn lừng danh với tiếng đàn nhị. NSND Xuân Hoạch nhớ rất rõ, những chuyến tàu điện toả đi từ Bờ Hồ suốt một thời đã trở thành sân khấu lưu động của các nghệ sĩ xẩm. Và những người soát vé, phần vì mê xẩm, phần vì cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của các nghệ sĩ, thường là bị khiếm thị, nên luôn coi họ như hành khách đặc biệt, không bao giờ thu phí hay gây khó dễ. Tất cả những yếu tố ấy, cộng hưởng với nhau, đã tạo nên một “đặc sản” riêng có cho xẩm Hà Nội: xẩm tàu điện, với cách hát, nhạc cụ và trang phục có những nét riêng so với xẩm chợ và xẩm cô đầu, chủ yếu là để phù hợp với sân khấu lưu động tàu điện.

Chính vì những ký ức còn tươi rói nên với xẩm tàu điện nay, NSND Xuân Hoạch đã mường tượng ngay một không gian biểu diễn, mà theo ông, giúp khán giả cảm nhận rõ nét hơn cái hồn của xẩm tàu điện: Các toa xe điện cũ còn “nằm” ở đường Thuỵ Khê. Nếu sử dụng một toa nhỏ, tái hiện một phần không gian, để người nghệ sĩ ngồi ngay cửa toa vừa hát xẩm vừa kéo đàn thì rất hay… Và giọng ông có chút bần thần khi biết, trong chương trình tái hiện xẩm tàu điện, cái gợi nhớ đến xẩm tàu điện xưa chỉ là tiếng tàu điện leng keng phát ra từ loa. Không gian của xẩm tàu điện nay, ngoài xẩm, còn dành chỗ để giới thiệu về ẩm thực Hà thành, với những món quà quê, những đồ uống dân dã. Thì cũng là một cách làm…

Và chuyện giữ hồn xẩm

Không có gì ngạc nhiên khi giới nghiên cứu đón nhận sự kiện xẩm tàu điện nay với thái độ từ tốn. Bởi trong những năm qua, đã có không ít nỗ lực đổ ra nhằm khôi phục xẩm mà kết quả không phải bao giờ cũng được như mong đợi. Đạt được thành tựu lớn hơn cả, phải kể đến dự án khôi phục xẩm do trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (trực thuộc hội Nhạc sĩ Việt Nam) thực hiện, với sự góp sức của nhiều tên tuổi lớn như: Thao Giang, Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan… Sau bốn năm dốc sức sưu tầm, nghiên cứu, đào tạo, trung tâm đã khôi phục được rất nhiều làn điệu xẩm, đặc biệt là hai điệu xẩm đã hoàn toàn thất truyền: Điệu xẩm tàu điện và Hò bốn mùa. Ngoài ra, một sân khấu xẩm miễn phí cũng liên tục sáng đèn mỗi tối cuối tuần tại chợ Đồng Xuân, suốt từ năm 2006 đến nay…

Nhưng thật bất ngờ khi biết, những người đã có công hồi sinh xẩm ngày ấy nay hầu hết đều rời trung tâm. NSND Xuân Hoạch chia sẻ: “Tôi rút lui, một phần vì thấy… nản”. Hơn nữa, ông có tới ba cái nản. Thứ nhất, những người dám sống trọn vẹn với xẩm, giờ đếm trên đầu ngón tay. Xưa, các nghệ sĩ xẩm vừa hát vừa đàn, không biết đàn thì chí ít cũng phải biết sử dụng bộ gõ, đó là một nguyên tắc bất di bất dịch. Nay, tìm mỏi mắt không ra một người vừa đàn giỏi, vừa hát hay, mà hình ảnh thường thấy là người đàn cứ đàn, người hát cứ hát. Thứ hai, đội ngũ chèo đổ sang hát xẩm nhiều, chưa học xẩm cho tới đã hát khiến xẩm bị chèo hoá quá nhanh. Thứ ba, đạo đức nghề nghiệp càng lúc càng lung lay, mà đỉnh điểm là việc không hiếm nghệ sĩ xẩm chọn cách hát nhép, đàn nhép. Chừng ấy hiện tượng khiến NSND Xuân Hoạch không khỏi lo rằng không lâu nữa cả nghệ sĩ lẫn công chúng rồi sẽ bị lẫn lộn giữa xẩm thật, xẩm giả. Cùng chung suy nghĩ, nhà nghiên cứu Thao Giang bày tỏ, ông cảm thấy buồn khi người ta đưa xẩm ra biểu diễn ở những không gian không phù hợp, hay đem một bài xẩm vốn dành cho cặp đôi nghệ sĩ là vợ chồng “nhét” vào miệng một cô bé đang được xem như một gương mặt triển vọng của xẩm….

Chính vì nóng ruột trước những phương thức khôi phục xẩm như thế, nên năm ngoái, ông đã tìm cách liên kết với học viện Âm nhạc Huế, mở lớp đào tạo (bậc đại học) nghệ nhân cho năm loại hình nghệ thuật: hát xẩm, trống quân, quan họ, ca trù, hát văn. Khoá đầu tiên, chỉ chọn được 16 sinh viên đủ tiêu chuẩn. Đầu vào phải “tinh”, vì nội dung học chắc chắn rất vất vả. Để đảm bảo khi ra trường, với việc tinh tường cả hát, đàn, và phương pháp luận, đây sẽ là lứa nghệ sĩ có khả năng đi đến cùng với xẩm và quan trong nhất, đó là giữ được hồn xẩm.

Hương Lan (SGTT)

http://van-hien.vn/spip.php?article5191

THỦY TIÊN : Muộn vẫn phải làm!


Muộn vẫn phải làm!

Chủ Nhật 05:47 11/08/2013

(HNM) – Hội thảo “Âm nhạc dân tộc với đời sống hôm nay” do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc phối hợp với Nhạc viện TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 9-8 là lời cảnh báo tiếp theo về sự thờ ơ của khán giả, sự thiếu quan tâm của cơ quan chức năng, thiếu ưu ái của giới truyền thông đối với tài sản quý báu này. Thực ra, không chỉ âm nhạc, các loại hình nghệ thuật có hai chữ “dân tộc” đằng sau đều trong tình trạng báo động. 

Từ nhiều năm nay, các nghệ sỹ Nhà hát Tuồng Việt Nam đã trăn trở, kiếm tìm lối đi để khán giả hôm nay đến với bộ môn nghệ thuật bác học này, nhưng xem ra không mấy kết quả. Rạp Hồng Hà (Hà Nội) hiếm khi đỏ đèn. Với chèo, cũng ít khi thấy Nhà hát Chèo Việt Nam hay Nhà hát Chèo Hà Nội nhộn nhịp khán giả như những năm 80 của thế kỷ trước. Các trích đoạn vẫn thi thoảng diễn ở đâu đó cho khán giả cao tuổi xem, còn vở dài thì lâu rồi không thấy. Cải lương ra đời muộn hơn, mới ngót trăm năm và là nghệ thuật dành cho tầng lớp thị dân. Song cách đây không lâu, Nhà hát Cải lương Hà Nội đã phải pha trộn cải lương với điện ảnh trong vở “Yêu là thoát tội” để lôi kéo khán giả, tuy nhiên kết quả cũng không mấy khả quan. Ngoài ra, sân khấu Dù kê ở Nam bộ, ca kịch bài chòi Nam Trung bộ hay kịch hát Nghệ Tĩnh… cũng chỉ thấy tại hội diễn hay liên hoan sân khấu!

Có rất nhiều nguyên nhân khiến khán giả không mặn mà với sân khấu truyền thống. Nguyên nhân chủ quan đầu tiên xuất phát từ chính thể loại khiến khán giả trẻ khó tiếp nhận vì họ không hiểu. Nguyên nhân thứ hai là do các vở diễn thuộc loại hình sân khấu truyền thống thường có tiết tấu chậm, khó nghe rõ lời, nhất là các vở tuồng cổ có nhiều từ Hán – Nôm. Trong khi đó, chưa có nơi nào quan tâm tổ chức, truyền bá kiến thức để khán giả trẻ hiểu được trình thức, tính ước lệ, tại sao lại là nghệ thuật tả ý… trong sân khấu dân tộc là nguyên nhân khách quan nhưng giữ vai trò quan trọng để khán giả đến với nghệ thuật dân tộc. 

Sân khấu nói riêng và nghệ thuật dân tộc Việt Nam nói chung khác với nghệ thuật phương Tây. Nghệ thuật phương Tây có chuẩn còn nghệ thuật Việt Nam thì không nên buộc người thưởng thức phải có sự hiểu biết nhất định. Ví dụ, cũng là một làn điệu quan họ nhưng các vùng có thể hát rất khác nhau. Nếu không biết, lớp trẻ sẽ cho rằng nơi này hát đúng, nơi kia hát sai trong khi tất cả đều không sai…

Chúng ta đã đầu tư khá nhiều tiền của cho các dự án văn hóa vật thể nhưng lại chưa có chương trình tầm cỡ quốc gia, dài hơi để phổ biến nghệ thuật dân tộc trong hệ thống trường học. Khi lớp trẻ không hiểu thì dẫn đến không thích, không yêu, trong khi họ có quá nhiều thứ để chọn. Đã quá muộn nhưng muộn vẫn phải làm, còn hơn không làm gì mà chỉ đứng nhìn giới trẻ xa dần bản sắc văn hóa dân tộc.

Thủy Tiên