HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Nhạc sĩ Huỳnh Khải: Từ anh nông dân đến thạc sĩ âm nhạc


Nhạc sĩ Huỳnh Khải: Từ anh nông dân đến thạc sĩ âm nhạc

huynh khai voi dan nhac tay phuong
Đờn kìm giữa dàn nhạc khí Tây phương.

Một ngày cuối năm 2003, Nhạc viện TP Hồ Chí Minh đã trang trọng tổ chức cuộc thi tốt nghiệp Cao học Sư phạm âm nhạc dân tộc (trình tấu và bảo vệ luận văn) cho hai tân thạc sĩ. Đặc biệt, một trong hai tân thạc sĩ ấy vốn xuất thân từ một nông dân chân đất, mê đờn ca tài tử, từng là… trưởng ban văn nghệ xã.

 

Có lẽ những người có mặt ở phòng hòa nhạc Nhạc viện TP Hồ Chí Minh vào sáng 27/12/2003 đều cảm thấy xúc động khi chứng kiến Huỳnh Khải ôm cây đờn kìm ngồi giữa dàn nhạc giao hưởng của nhạc viện để biểu diễn tác phẩm Bình minh (concerto của nhạc sĩ Quang Hải soạn cho đờn kìm và dàn nhạc giao hưởng) dưới sự chỉ huy của nữ nhạc trưởng Hoàng Điệp. Tiếng đờn kìm bay lượn, chấp chới trên nền nhạc Tây phương khiến người nghe vừa lâng lâng cảm xúc vừa cảm thấy tự hào bởi đang mục kích một nhạc cụ dân tộc đơn sơ, quen thuộc lại đang được cả một dàn nhạc khí Tây phương tôn vinh… Tiếp đó, nhạc sĩ Huỳnh Khải đã bảo vệ luận văn tốt nghiệp với đề tài Phương pháp sư phạm đờn kìm trong âm nhạc tài tử, sân khấu cải lương và sáng tác mới cho đờn kìm. Luận văn của Huỳnh Khải được đánh giá xuất sắc.

Nhac si Huynh Khai Tu anh nong dan den thac si am nhac

Nhạc sĩ Huỳnh Khải.

Huỳnh Khải sinh năm 1957 tại Thủ Thừa (Long An). Ngay từ thời ấu thơ, rất nhiều lần anh đã tựa mình bên bộ ngựa, say mê nhìn cha – vốn là một nghệ nhân đờn ca tài tử – cùng bạn bè ông diễn tấu giao duyên trong lúc nông nhàn. Những lúc đó, đố ai rứt cậu bé Khải ra khỏi “chiếu diễn”, những giai điệu đờn ca tài tử đã thấm đẫm vào tâm hồn cậu và mê mẩn nhất là những âm thanh phát ra từ cây đờn kìm – “bảo bối” của cha mình. Cho nên những khi ông bố treo cây đàn lên vách để đi ra đồng thì cậu con trai bắc ghế lấy xuống rồi đánh mò những bài bản tài tử mà cậu đã thuộc nằm lòng. Thấy con có năng khiếu, người cha cũng đem hết những “ngón nghề” của mình truyền lại cho con từ lúc cậu mới 9 tuổi. Ở nhà Khải học đờn kìm với cha, ra ngoài thì học guitar phím lõm với bạn bè cùng trang lứa, khi đã đủ “bản lĩnh” thì kéo nhau đi giao lưu đờn ca tài tử.

Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), học hết lớp 12 nhưng do điều kiện khó khăn nên Huỳnh Khải không thi vào đại học mà ở lại quê nhà làm trưởng ban văn nghệ xã. Khi đó anh vừa sáng tác các vở dài và đờn chánh guitar phím lõm, còn về đờn kìm thì anh rành hết 20 bản tổ và nhiều giai điệu cải lương.

Công trình nghiên cứu của NS Huỳnh Khải giúp cho người học đờn kìm (ở 3 phong cách: tài tử, sân khấu cải lương, đờn tác phẩm mới) sau khi được thầy hướng dẫn cơ bản rồi thì tự học là chính, không cần nhiều thời gian học trực tiếp với thầy mà vẫn đạt hiệu quả, khi quên bài bản thì giở sách ra tự ôn lại hoặc học lại. Sách gồm 3 phần: lý thuyết về nhạc lý, các bài tập thực hành và CD minh họa kèm theo giáo trình. Trước mắt, sách này sẽ được giảng dạy ở khoa Âm nhạc dân tộc của Nhạc viện TP Hồ Chí Minh – Thạc sĩ âm nhạc dân tộc Huỳnh Khải.

– Anh chơi được khá nhiều nhạc cụ âm nhạc dân tộc, tại sao anh lại chọn cây đờn kìm để làm công trình luận văn?

– Khi tôi đi đờn cải lương thì chuyên sử dụng cây guitar phím lõm nhưng do hồi nhỏ đã quá quen thuộc với cây đờn kìm nên khi vào nhạc viện tôi chọn cây đờn này làm nhạc cụ chính để học (trung cấp). Khi lên bậc đại học thì phải chọn học 2 nhạc cụ (chính và phụ). Tôi chọn đờn kìm (chính) và đờn tranh (phụ). Kìm học với NSƯT Võ Văn Khuê, tranh học với NGƯT Nguyễn Văn Đời. Cho nên chuyện tôi “đồng hành” với cây đờn kìm cũng là một tất yếu.

– Từ đâu anh có ý tưởng xây dựng luận văn “Phương pháp sư phạm đờn kìm trong âm nhạc tài tử, sân khấu cải lương và sáng tác mới cho đờn kìm”? Có khó khăn lắm không?

– Xưa nay, các nghệ nhân, nghệ sĩ âm nhạc dân tộc khi dạy đờn cho học trò chỉ có một phương pháp là “cầm tay, dạy ngón”. Phương pháp này có ưu điểm là học nhanh, đạt hiệu quả cao nhưng thầy và trò luôn phải cận kề bên nhau. Trò không thể tự học, khi trò quên ngón không thể tự ôn mà phải tìm đến thầy… Công trình của tôi tính từ lúc thai nghén cho đến viết thành luận văn hoàn chỉnh là 10 năm. Khó khăn vì đờn kìm là một nhạc cụ đặc trưng, rất ít tài liệu (nếu có thì cũng chỉ là bản chép tay rất thô sơ, khó hiểu). Tôi phải tìm đến các nghệ nhân (kể cả ở các tỉnh xa) để tìm hiểu, tham khảo, thu thập tài liệu… Thuận lợi là tôi đã gắn bó với cây đờn kìm từ hồi nhỏ, rồi hoạt động phong trào nghiệp dư, tham gia sân khấu cải lương chuyên nghiệp, qua băng đĩa và qua quá trình công tác giảng dạy. Đặc biệt với sự dạy dỗ trực tiếp của cố NSƯT Võ Văn Khuê và sự cố vấn của các nhạc sĩ: cố NSƯT Vũy Chỗ, NSƯT Ba Tu, NGƯT Nguyễn Văn Đời…, tôi đã từng bước hoàn thành công trình nghiên cứu để bảo vệ luận văn và được Giáo sư – NSND Quang Hải trực tiếp hướng dẫn đề tài tốt nghiệp.

Hà Đình Nguyên

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

ĐỖ HẠNH : Nhạc sĩ Huỳnh Khải: Âm nhạc dân tộc có sức sống mãnh liệt


Nhạc sĩ Huỳnh Khải: Âm nhạc dân tộc có sức sống mãnh liệt
Thứ bảy, 19/03/2011, 23:38 (GMT+7)

Say mê nhạc cụ dân tộc từ nhỏ, lớn lên càng quyết tâm đeo đuổi con đường mà mình đã chọn. Và sau những năm tháng nỗ lực không biết mệt mỏi, giờ đây anh đã trở thành Trưởng khoa Âm nhạc dân tộc của Nhạc viện TPHCM. Điều đáng quý chính là tình yêu dành cho âm nhạc truyền thống của anh lúc nào cũng cháy bỏng, thôi thúc anh làm nhiều điều để giữ gìn và phát triển âm nhạc dân tộc. Anh là nhạc sĩ, thạc sĩ Huỳnh Khải.

“Chúng ta sống trên nền văn hóa dân tộc của đất nước mình”.

– PV: Thưa nhạc sĩ, sau nhiều năm nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, đặc biệt là đàn kìm, đàn tranh và ghi-ta phím lõm, anh nhận thấy sức sống của các loại nhạc cụ này thế nào?

Nhạc sĩ, thạc sĩ HUỲNH KHẢI: Trong đờn ca tài tử, người ta thích nhất là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu và đặc biệt, từ khi cây đàn ghi-ta được đưa vào dàn nhạc của mình thì nhiều người cũng thích cây đàn này. Tuy nhiên, nếu chơi tài tử không thì người ta lại thích những cây đàn dân tộc nhiều hơn bởi lúc đàn việc điều khiển “rung, nhấn, nhá” gần gũi với mình hơn. Thời gian qua, chúng ta tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động âm nhạc dân tộc và đặc biệt là từ năm 1986 có câu lạc bộ (CLB) đờn ca tài tử đầu tiên ra đời ở Bến Tre, rồi sau đó nhiều tỉnh, thành khác cũng thành lập các CLB đờn ca tài tử nên sức sống của âm nhạc dân tộc nói chung là hết sức mãnh liệt.

– Theo anh, chúng ta cần làm gì để phát huy được giá trị của các loại nhạc cụ độc đáo của dân tộc và hấp dẫn giới trẻ?

“Sân khấu cải lương không thể quay lại thời vàng son hồi những năm 70 – 80 của thế kỷ trước. Thực tế cuộc sống có nhiều thay đổi, đòi hỏi cải lương cũng phải có những thay đổi để thích ứng. Tôi nghĩ, cải lương sẽ không chết mà sẽ có hình thức hoạt động khác. Trước đây, cải lương hay là nhờ… điều kiện kỹ thuật chưa hiện đại. Tại sao? Chẳng hạn như, khi thu đĩa một tuồng cải lương, nghệ sĩ phải học thuộc từng lời ca và nhạc sĩ cũng phải nỗ lực đàn thật hay. Còn bây giờ, kỹ thuật hiện đại, nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ ỷ lại, ít nỗ lực nên kém hấp dẫn là vậy!”

Nhạc sĩ Huỳnh Khải

Hiện nay, các phương tiện truyền thông rất phát triển nên các loại hình nghệ thuật khác được đưa lên mạng Internet nhiều, tác động nhanh đến công chúng. Theo tôi, nếu nói về hưởng thụ âm nhạc dân tộc thì giới trẻ ít quan tâm hơn. Tôi nghĩ, các loại hình nghệ thuật khác thu hút giới trẻ là do nhiều năm qua đã được số hóa, đưa lên mạng nhiều, còn âm nhạc dân tộc chưa được số hóa, phổ biến trên mạng nhiều nên có phần thua kém.

Chính vì thế, tôi nghĩ, âm nhạc dân tộc nếu muốn thu hút giới trẻ thì nhất thiết phải được đẩy mạnh số hóa, đưa lên mạng thật nhiều, chắc chắn 5 – 10 năm nữa sẽ có chuyển biến khác hẳn. Thời gian qua, tôi đã xây dựng cho mình một trang web để đưa âm nhạc truyền thống lên. Và hàng tuần, tôi đều cố gắng dành thời gian viết bài (đặc biệt là chân dung của các nghệ sĩ, nhạc sĩ âm nhạc truyền thống) đưa lên trang web này để có thể cung cấp cho nhiều người những tư liệu mà mình có được. Với những ai quan tâm đến âm nhạc dân tộc đều có thể truy cập vào websitewww.huynhkhai.com để tìm hiểu.

– Trong thời buổi hội nhập hiện nay, văn hóa ngoại lai đang du nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều thì việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc nói chung và âm nhạc truyền thống nói riêng là hết sức khó khăn. Anh suy nghĩ sao về vấn đề này?

Khi hội nhập với thế giới, không chỉ âm nhạc dân tộc mà ngay cả các loại hình nghệ thuật khác cũng gặp không ít khó khăn. Đây là thách thức đồng thời là một cơ hội để chúng ta vượt qua, khẳng định mình. Trong mỗi người chúng ta, chỉ có thể sống và tồn tại trên một nền văn hóa dân tộc của mình chứ không thể nào dựa vào văn hóa của dân tộc khác. Chính vì thế mà chắc chắn rằng, chúng ta sẽ vượt qua thách thức ấy. Nếu nói riêng về âm nhạc dân tộc, ở tất cả các tỉnh thành, Sở VH-TT-DL nào cũng vận động thành lập các CLB để sinh hoạt, biểu diễn.

Tôi nghĩ, đây là những bước đi hết sức cơ bản và cần thiết. Nếu muốn âm nhạc dân tộc trường tồn và phát triển, những việc làm như thế chúng ta phải kiên trì thực hiện, chứ không thể làm theo kiểu ngày một, ngày hai. Hiện nay, các đài phát thanh, truyền hình cũng tổ chức nhiều sân chơi cho người yêu thích âm nhạc dân tộc, đó cũng là điều kiện thuận lợi để âm nhạc dân tộc phát triển. Tôi tin rằng với những việc đã, đang làm của các ngành, các cấp, chắc chắn chỉ độ 5 năm nữa, loại hình âm nhạc dân tộc trong cộng đồng sẽ có những bước chuyển mạnh mẽ.

– Sau 8 năm đưa công trình nghiên cứu “Phương pháp sư phạm đàn kìm trong âm nhạc tài tử, sân khấu cải lương và sáng tác mới cho đàn kìm” của anh vào giảng dạy tại Nhạc viện TPHCM, anh nhận thấy phương pháp này mang lại hiệu quả thế nào?

Nếu nói đó là công trình nghiên cứu của tôi thì cũng chưa đúng lắm. Bởi tôi tổng hợp tất cả sự hiểu biết của mình về âm nhạc dân tộc và qua tham khảo của các thầy cô rồi đúc kết lại. Chung quy lại là tôi kết hợp cách dạy truyền thống (tức là truyền ngón) với cách dạy theo giáo trình, giáo án. Mỗi phương pháp này đều có những ưu – nhược điểm, cần bổ sung cho nhau. Chẳng hạn, với cách dạy truyền thống, người thầy đàn rồi học trò đàn theo, qua ngày mai gặp lại, học trò đàn lại cho thầy xem có đúng không, nếu không đúng, thầy sẽ sửa ngay. Đây là ưu điểm, nhưng bên cạnh đó có nhược điểm là ở buổi học sau, học trò quên cách đàn mà lại không có thầy thì không thể nào đàn được.

Còn với cách dạy theo giáo trình thì ngược lại chỉ cần chỉ qua một lần, học trò có thể tự học không nhất thiết phải có thầy mới học được. Nhưng cái nhược là học trò không được thầy chỉ dạy, luyện – nắn nót ngón đàn. Cho nên sau khi đưa “Phương pháp sư phạm đàn kìm trong âm nhạc tài tử, sân khấu cải lương và sáng tác mới cho đàn kìm” vào giảng dạy, tôi nhận thấy các em học thuận lợi hơn.

– Xin cảm ơn và chúc anh thành công!

Đỗ Hạnh (thực hiện)

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/nguoicuacongchung/2011/3/253307/

TRẦN MẠNH HÀO : Liên hoan ca trù đầu tiên ở Việt Nam


Liên hoan ca trù đầu tiên ở Việt Nam

(TS)Trong những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 sắp tới, Liên hoan ca trù toàn quốc 2005 sẽ diễn ra tại Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) và Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Đây là dịp để các “lò”, các phường, các CLB ca trù trong cả nước gặp gỡ giao lưu với nhau.

Lien hoan ca tru dau tien o Viet Nam
Hát ả đào (Tài liệu của Phạm Duy, chụp năm 1952)

Để liên hoan thực sự trở thành một dấu ấn không thể phai trong tâm trí những người tham dự là điều không dễ. Đó cũng là vấn đề mà BTC liên hoan lo lắng. Ông Vũ Duy Cương, quyền Trưởng phòng nghệ thuật, Cục nghệ thuật biểu diễn, thành viên BTC cho biết: “Có thể coi liên hoan lần này như một sự thể nghiệm bởi đây là lần đầu tiên Việt Nam có được một lễ hội của nghệ thuật ca trù. Chuẩn bị cho liên hoan, Cục NTBD đã đầu tư mở lớp bồi dưỡng cho 13 CLB ca trù, rất mừng 13 CLB này vẫn hoạt động và cho đến nay các em đã nhân rộng phong trào thành 20 CLB”.

Tại sao liên hoan không tập trung về một mối mà lại diễn ra tại hai điểm Nghi Xuân (Hà Tĩnh) và Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội)?

Ca trù là một hình thức hát đặc trưng của vùng Đồng bằng Bắc bộ được hình thành từ giáo phường nhà Lê (thế kỷ XV-XVI). Hát ca trù có nhiều tên gọi khác nhau như: hát ả đào, hát cô đầu, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát quan viên, hát nhà tơ, hát tựa chung…

Về quy mô, hát ca trù thường tổ chức dưới hai hình thức: Hát đám nhỏ và hát đám lớn. Hát đám nhỏ thì chỉ cần một đào kép, hoặc hai đào một kép. Hát đám lớn thì nhiều cặp đào kép, nếu hát qua đêm phải có nhiều bài hát.

Về tổ chức của các loại nhạc cụ có: Đàn đáy, phách, trống chầu.

Hát ca trù là loại hình nghệ thuật công phu đòi hỏi phải tỉa tót trau chuốt từng hơi, từng chữ, phải buông, ngân, bắt chênh, bắt chợt, bắt tròn hay rung con kiến…

Ông Vũ Duy Cương: Khi BTC chọn hai địa điểm này đã căn cứ vào tất cả những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, lý luận. Ca trù có hai dòng khác nhau: Ca trù cửa đình và ca trù cửa quyền với nghi thức không gian cũng khác nhau. Một nơi là dòng ca trù của thị thành ngàn năm văn hiến, một nơi là dòng ca trù của thôn quê, của những nét dân dã, thâm thuý. Phần tổ chức ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám chính là dòng ca trù của chốn kinh kỳ, nổi tiếng trước đây ở Khâm Thiên (còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu).

Nghi Xuân (Hà Tĩnh) được chọn là nơi tổ chức dòng ca trù của thôn quê vì nhiều nhà chuyên môn đã khảo sát và cùng cho rằng: Nghi Xuân – Hà Tĩnh chính là một trong những cái nôi của nghệ thuật ca trù Việt Nam ở chốn thôn quê.

Liên hoan ca trù lần này chính là dịp tôn vinh những giá trị nghệ thuật cổ truyền của dân tộc, đồng thời cũng là cơ hội để nghệ nhân và công chúng tìm hiểu lẫn nhau. Nhưng với lượng thời gian ngắn như vậy, e rằng sẽ không làm thoả mãn chính các nghệ nhân nói riêng và công chúng nói chung?

Vấn đề này cũng là cái khó của chúng tôi nhưng phải nhìn vào thực tế vì lực lượng “đào nương” tham gia liên hoan còn rất trẻ, hầu hết đang hoạt động trong các CLB, “vốn” lại chưa nhiều. Vì vậy, nếu cứ kéo ra nhiều ngày, e rằng các “đào nương” không đủ sức.

Ca trù là một hình thức nghệ thuật cổ, rất kén người nghe. Không phải ai cũng có thể hiểu và thích nghệ thuật cao siêu này vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tâm tư tình cảm và không gian ca trù. Vậy để người thưởng thức có thể phần nào cảm nhận “cái hay, cái đẹp” trong nghệ thuật ca trù, BTC sẽ tổ chức không gian nghệ thuật tại Liên hoan như thế nào?

Thực ra, tham vọng của BTC rất lớn, mong muốn phần nào phục dựng được những nề nếp cổ trong một canh hát. BTC nhất trí sẽ tổ chức được một không gian liên hoan vừa có phần lễ, phần hội và phần thi. Quang cảnh toàn bộ lễ hội đó sẽ được thiết kế dựa trên tất cả các sách sử ghi chép lại nhằm tái hiện được rõ ràng không gian của chốn thị thành và không gian của chốn nông thôn khác nhau như thế nào.

Tại Nghi Xuân – Hà Tĩnh, BTC sẽ cố gắng tạo dựng không gian văn hóa dân gian như những quán hàng cổ xưa, những ông đồ viết câu đối, chữ nho, một số hàng thủ công mỹ nghệ, hay những trò chơi dân gian… Không gian ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ sắp đặt theo nghi thức hát cửa đình vừa trang trọng, vừa tôn nghiêm. Tại đây, sẽ có nhiều hình thức nghệ thuật gắn liền với đời sống ca trù như: xướng vịnh, thơ phú; sẽ có các nhà thơ tên tuổi thể hiện những bài thơ theo đúng lối cổ và nghệ nhân ca trù sẽ phải ứng tác ngay tại chỗ. Ngoài ra, chúng tôi sẽ mời những diễn viên, nghệ sĩ chuyên nghiệp đến để cùng tham gia biểu diễn những tiết mục mang tính dân tộc như: Múa bỏ bộ, Thét nhạc, Dâng hương…”.

Thành viên của BGK gồm những ai và tiêu chí chấm thi sẽ như thế nào, thưa ông?

Hiện nay chưa thể thống nhất về thành viên BGK vì hầu hết các nghệ nhân xuất sắc trong làng ca trù đều đã tuổi cao sức yếu hoặc không còn nữa. Thứ hai, các địa phương có thể giao lưu với nhau nhưng bằng mặt lại không bằng lòng, nghệ nhân này không phục nghệ nhân kia là hiện tượng phổ biến. BTC sẽ cố gắng mời gọi những nhà lý luận chuyên sâu, đam mê nghệ thuật ca trù và một số nghệ nhân tiêu biểu làm thành viên BGK

Tiêu chí chấm thi được chia làm hai loại: Ca và nhạc. Vì đây là hát thơ nên tiêu chí chấm ca trước hết đòi hỏi sự am hiểu trong cách lấy hơi, chuyển giọng hay tiếng phách trong-đục-khoan-nhặt phải như thế nào, cách đàn có tiếng “vê”, tiếng “vẩy”, tiếng trống chầu ra vào đúng nhịp đúng câu, phê phán phân minh. Đối với nhạc phải có thang âm, điệu thức và tiết tấu, diễn tấu…

  • Trần Mạnh Hào (thực hiện)

Việt Báo (Theo_VietNamNet)

ĐỨC NGUYÊN : Việt Nam – con đường di sản: Trăn trở ca trù


Việt Nam – con đường di sản: Trăn trở ca trù (19/07/2013)
Tháng 10-2009, nghệ thuật ca trù Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Thế nhưng sau hơn 3 năm được UNESCO vinh danh, ca trù vẫn đang ở tình trạng thiếu vắng cả người biểu diễn lẫn người thưởng thức. 
 
 
 Một tiết mục biểu diễn của NSƯT Bùi Thị Kim Đức
 tại đêm khai mạc Liên hoan Ca trù toàn quốc lần 2 năm 2012
 
Cạn dần tinh túy 
 
Theo Công ước UNESCO năm 2003, các di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của các quốc gia sau khi được đề cử, công nhận sẽ đăng ký vào hai danh sách di sản của nhân loại, đó là: Di sản đại diện của nhân loại và Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp. Di sản từ danh sách này có thể chuyển sang danh sách khác căn cứ vào hiện trạng, sức sống của di sản. Với lộ trình đó, đến năm 2014, chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ đưa loại hình di sản văn hóa phi vật thể này vượt qua ranh giới “cần được bảo vệ khẩn cấp”. Thế nhưng, việc bảo tồn ca trù xem ra không đơn giản.
 
 Sở dĩ nói vậy, bởi vì số nghệ nhân lão làng của ca trù ngày càng mai một. Điểm lại lịch sử của ca trù, chúng ta sẽ thấy, từ thế kỷ 19 đổ về trước là thời kỳ hoàng kim của ca trù. Cung vua, phủ chúa khi có sự kiện gì trọng đại đều cho mời các ca nương, kép đàn ca trù vào biểu diễn. Bởi đây là một loại nghệ thuật thuộc hàng bác học. 
 
40 năm ca trù bị quên lãng, chúng ta đã mất đi những thế hệ hiểu biết về ca trù. Những ca nương, kép đàn mất dần theo thời gian, người còn lại bây giờ đã rất già yếu. Thêm vào đó, trong suốt một thời gian dài, người nghệ sỹ không được biểu diễn. Bởi thế, tinh túy của nghệ thuật ca trù cũng phai phôi. Dù với bất cứ ai, bất cứ lĩnh vực nào, khi không được thực hành thì cũng sẽ không thể tồn tại. Văn hóa là phải sống, nghệ thuật phải cần “đất diễn”. Nếu nghệ thuật xướng ca chỉ dừng ở mức văn bản lý thuyết thì nó cũng đã là ở trạng thái “chết”, chứ chưa nói đến  những tác động khác…
 
Theo PGS, TS. Lê Văn Toàn – Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), hiện toàn quốc có khoảng trên 60 CLB ca trù, với trên 500 thành viên tham gia sinh hoạt, tập luyện. Tuy nhiên, số nghệ nhân thực hành ca trù so với thời điểm xây dựng hồ sơ gửi UNESCO còn 21 người, đến giờ một số cụ đã mất, số nghệ nhân còn lại tuổi cao sức yếu.
 
GS.TSKH Tô Ngọc Thanh – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trăn  trở: Nếu chúng ta không nhanh chóng học tập tinh hoa của những nghệ nhân đi trước thì khi các cụ mất đi, ca trù sẽ mất theo…
 
Vắng người nghe…
 
Chung nỗi lòng giữ gìn di sản trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, ông Lê Văn Lộc – Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh cho hay: Hiện thành phố có 14 đào nương, hầu hết đều trên dưới 60 tuổi. Nếu không bảo tồn kịp thời, thì khoảng chục năm nữa TP Hồ Chí Minh sẽ tự xóa tên trên bản đồ các địa phương có di sản ca trù. “Dự định mở lớp truyền dạy thì không đào đâu ra học viên. Dự định gắn ca trù với du lịch thì các cơ sở du lịch từ chối. Nghệ nhân nhiệt tình, tự nguyện mở lớp truyền dạy tại gia, muốn được hỗ trợ kinh phí cũng rất khó khăn, nhiêu khê. Cho đến nay chưa có nghệ nhân truyền nghề nào được hỗ trợ kinh phí” – ông Lộc cho biết.
 
Từ khi ca trù được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, người ta biết đến ca trù nhiều hơn. Vì thế, trong một giai đoạn ngắn nhu cầu thưởng thức loại hình nghệ thuật này cũng tăng lên, nhất là với khách quốc tế. Nhưng thế hệ trẻ Việt Nam lại chẳng mấy mặn mà với việc nghe và học hát ca trù. Vì thế việc học nghề và truyền nghề đối với loại hình nghệ thuật bác học như ca trù lại càng kén người học. Các cấp, ngành hữu quan của các tỉnh, thành phố thiếu quan tâm, hỗ trợ kinh phí, địa điểm để bảo tồn và duy trì hoạt động của các CLB ca trù tại địa phương.
 
Hiện nay, các CLB ca trù vẫn duy trì sinh hoạt, biểu diễn ở các điểm diễn ngay tại CLB, trong khu vực phố cổ, để thu hút khách du lịch, từ đó tạo nguồn thu hoặc kêu gọi các nhà hảo tâm tài trợ. Nhưng chưa có sự kết hợp chặt chẽ nào giữa các CLB ca trù với các công ty lữ hành, vì vậy, các CLB cứ hoạt động một cách thoi thóp trong tình yêu với môn nghệ thuật ca trù truyền thống.
 
Bà Nguyễn Thị Ngoan – Chủ nhiệm CLB ca trù Chanh Thôn (Phú Xuyên, Hà Nội) cho biết: Chanh Thôn là một trong những cái nôi của ca trù Hà Nội. Chỉ riêng địa phương này đã có 3 ca nương, kép đàn được phong Nghệ nhân dân gian. Khi ca trù được vinh danh thì Chanh Thôn được đón nhiều đoàn nghiên cứu, phóng viên về tìm hiểu. Nhưng từ đó đến bây giờ không mấy ai hỏi thăm đến các cụ, đến phong trào ca trù của thôn. Thậm chí khi các cụ ốm hay mất đi cũng không thấy tổ chức nào quan tâm. 
 
Điều khiến cho nhiều người băn khoăn nhất không phải là thiếu đội ngũ trẻ kế cận, bởi theo nhận định của các nhà nghiên cứu: các CLB ca trù đã có thế hệ trẻ tiếp nối. Điều băn khoăn ấy lại do ca trù đang thiếu vắng người nghe chuyên nghiệp trong mỗi đêm diễn, mỗi kì liên hoan. Có mặt tại các buổi biểu diễn của liên hoan chủ yếu là những người trong nghề, nhà nghiên cứu, phóng viên báo chí. Còn lại, số lượng khán giả đến nghe ca trù thì chẳng mấy ai. 
Ông Tô Ngọc Thanh tỏ ra thất vọng: “Thậm chí tôi cho rằng chẳng có ai. Bởi vì từ trước đến nay chúng ta chưa bao giờ đặt vấn đề để có công chúng….
 
Năm 2005, Liên hoan Ca trù toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức. 7 năm sau, năm 2012, một kì Liên hoan tiếp theo mới được tổ chức. Ngay tại Hà Nội, nơi được nhắc tới như cái nôi của nghệ thuật, đang chứa đựng và nuôi dưỡng nhiều loại hình nghệ thuật, từ ca trù, xẩm…  hai kỳ Liên hoan Ca trù lần 1 (2005) và lần 2 (2012) cũng cách nhau tới 12 năm. Chỉ chừng ấy cũng đủ hiểu, ca trù bị rơi vào quên lãng từ phía những nhà quản lý văn hóa. Việc gìn giữ và đưa ca trù trở lại mới chỉ là tâm huyết của người yêu ca trù và nỗ lực của các nghệ nhân, những ca nương, kép đàn ở CLB ca trù. Liên hoan Ca trù Hà Nội sẽ được tổ chức định kì 2 năm/lần đã động viên phần nào những người đeo đuổi nghiệp ca trù, nhưng chừng ấy, chưa thể giúp ca trù sống lâu bền với công chúng. 
 
Chúng ta cần một nhà hát di sản để giúp công chúng đến gần hơn, hiểu và yêu ca trù hơn nữa. Nếu chúng ta không thay đổi nhận thức, không nhanh chóng có chiến lược mang tầm quản lý nhà nước thì sẽ ra sao khi chỉ còn 1 năm nữa (trong thời hạn 5 năm quy định) để vượt qua những kiểm soát gắt gao của UNESCO. 1 năm còn lại cho nỗ lực gìn giữ danh hiệu “Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại” là quá ngắn ngủi để ca trù không còn phải gánh thêm hai chữ “khẩn cấp”.
Đức Nguyên

Theo Danh nhân Hưng Yên : Đào Nương – vị tổ của nghệ thuật ca trù Việt Nam


Đào Nương – vị tổ của nghệ thuật ca trù Việt Nam

10/27/2011 10:26:12 AM
Đào Nương – một ca nương sống ở khoảng cuối thế kỷ 15, dùng kế chuốc rượu cho giặc Minh say mềm, rồi đêm đến đợi cho chúng chui vào túi ngủ, đẩy xuống sông.

 
Đào Nương Đào Thị Huệ quê làng Đào Đặng, Tiên Lữ, Hưng Yên

Bà là người đàn bà tài sắc, biết hát ả đào. Bà từng được vua Lê khen thưởng công lao. khi bà mất, nhân dân xây đền thờ tại nhà nơi bà ở. Tương truyền bà là người phát minh ra loại hình hát ả đào rất phát triển ở đồng bằng Bắc Bộ.Bà được suy tôn là một trong những vị tổ nghệ thuật ca trù của nước ta.

Đào Nương tên thật là Đào Thị Huệ, quê làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, phủ Khoái Châu ( nay là thôn Đào Đặng, xã Trung Nghĩa, thị xã Hưng Yên). Thủa ấy, con gái làng Đào Đặng xinh đẹp có tiếng, bà học thông biết rộng, hát hay múa giỏi, tiếng đồn hoa nhãn sắc nổi tiếng cả một vùng.

Năm bà 18 tuổi, nhà Minh mượn cớ phù Trần diệt Hồ kéo quân sang xâm lược nước ta, chúng đóng quân ở khắp mọi nơi, vơ vét của cải, giết hại lương dân. Căm thù quân giặc sách nhiễu, tàn sát ức hiếp dân lành, bà bàn với dân làng tìm cách giết giặc. Nhờ có tài nghệ xuất sắc, lại khéo léo, nên quân giặc rất tin và nể bà, chúng thường qua lại quán của bà ăn uống, chè chén no say rồi lăn ra ngủ.

Hồi bấy giờ, Hưng Yên còn là vùng sình lầy, lau sậy um tùm, ruồi muỗi nhiều vô kể. Quân giặc không quen phong thổ thường sinh bệnh tật và chết vì muỗi độc. Vừa sợ lạnh, vừa sợ muỗi đốt chúng nảy ra sáng kiến làm những túi gai đêm đến chui vào ngủ, nhờ bà buộc lại, sáng hôm sau lại mở túi ra. Nhiều lần như vậy, Đào Nương nghĩ ra kế giết giặc. Đợi đến đêm khuya khi chúng đã ngủ say, bà cùng với dân làng khiêng từng bao tải ném xuống sông,  nước cuốn trôi ra biển. Đêm nào cũng vậy, thấy quân số ngày càng hao hụt mà không biết vì cớ gì, chúng cho rằng đất này nghịch không thể ở được, bèn kéo nhau đi nơi khác. Từ đó nhân dân trong vùng yên ổn làm ăn. Nhớ công ơn bà, dân làng lập đền thờ và đặt tên thôn  ây là thôn Ả Đào.

 

Đất nước thanh bình, Lê Thái Tổ lên ngôi biết chuyện bèn phong bà làm chức phúc thần, cho sửa lại đền thờ và cấp ruộng cúng tế. Hiện này làng Đào Đặng còn có đền thờ và tượng bà. Hội đền tổ chức từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 6 tháng 2 (âm lịch) hàng năm. Bà được suy tôn là một trong những vị tổ nghệ thuật ca trù của nước ta.

Theo Danh nhân Hưng Yên

http://www.hungyentv.vn/phohien/125/5645/Danh-nhan-hung-yen/Dao-Nuong-%E2%80%93-vi-to-cua-nghe-thuat-ca-tru-Viet-Nam.htm

TRẦN PHƯƠNG : Làng Đông Môn – Cái nôi của nghệ thuật ca trù Việt Nam


Thời gian đăng bài: 11.04.2013 bởi 

Theo các vị cao niên địa phương, nghệ thuật ca trù xuất hiện ở Đông Môn khoảng hơn 200 năm nay (muộn nhất là từ thế kỷ XVIII). Hơn thế nữa ở Đông Môn có đền thờ tiên sư, tiên thánh (gọi là phủ từ hay đền Ca công) mà hàng năm ngày hội chính mở vào 24-3 âm lịch, “con cháu nhà thánh” ở các nơi như Hà Nam, Phủ Lý, Bắc Ninh, Kinh Môn, Kim Thành…về làm lễ rất đông. Vào thập niên 30-40 của thế kỷ trước, trong làng xuất hiện nhiều ca quán do những gia đình, dòng họ đứng ra thành lập và lấy nghiệp hát làm nghề kiếm sống…

8F911400CAA413C11DD74EF407479F9D
Hát ca trù là một môn ca hát đặc sắc của dân tộc ta, có từ lâu đời, với nhiều tên gọi khác nhau như hát ả đào, hát cửa đình, hát ả tơ… Có nhà nghiên cứu cho rằng nghệ thuật ca trù có từ thế kỷ XVI. Còn tập thể tác giả cuốn “Lịch sử Việt Nam” tập I do Uỷ ban Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 lại cho rằng hát ả đào đã xuất hiện từ thời Lý căn cứ vào kết quả nghiên cứu của nhiều bộ môn lịch sử, nghệ thuật, mỹ thuật.

    Về thời gian xuất hiện của nghệ thuật hát ca trù còn có ý kiến khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất về thời điểm phát triển cao của nó là vào thế kỷ XVIII – XIX. Nhiều nhà thơ sành thơ nôm cũng là những tác giả của nhiều bài hát nói khá phổ biến như Nguyễn Công Trú (1778-1858), Cao Bá Quát (? – 1855), Nguyễn Quý Tân (1811-1856), Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), Trần Tế Xương (1870 – 1907), Phan Bội Châu (1867 – 1940)…Ca trù vốn là một thứ nhạc vui. Xã hội cũ dùng nó vào dịp lễ nghi, khánh tiết, khao vọng, cưới xin, yến tiệc. Các nhà nho còn quan niệm ca trù là thú chơi thanh nhã của tao nhân, mặc khách. Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành “phường”, “giáo phường” do trùm phường và quản giáp cai quản. Tham gia hát ca trù ít nhất gồm 3 người: một ca sĩ là nữ gọi là (đào hay ca nương) hát theo lối nói và phách lấy nhịp (phách là một nhac cụ làm bằng gỗ hoặc tre, được gõ bằng 2 que); một nhạc công nam giới gọi là (kép) đệm đàn đáy cho người hát- đàn đáy là một loại đàn cổ dài gồm 3 sợi dây tơ và 10 phím đàn; một người chơi trống hoặc đánh trống chầu gọi là (quan viên- thường là tác giả bài hát). Sự tán thưởng của quan viên qua bài hát, người hát biểu hiện bằng cách, đánh vào thành trống nhiều lần biểu hiện đắc ý, nếu không hài lòng với người hát, quan viên đánh 2 nhịp trống.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, hát ca trù là một nghề kiếm sống của người dân ở Đông Môn, xã Hoà Bình (Thuỷ Nguyên). Theo ông Trần Bá Sự – nguyên Chủ nhiệm CLB ca trù Đông Môn thì- ca trù xuất hiện ở Đông Môn từ đầu thế kỷ XIX, người đưa ca trù về Đông Môn là cụ kép đàn Tô Tiến Trọng- là trùm phường của một giáo phường Kinh Môn (Hải Dương) thuộc ty giáo phường Bắc Thạch (Bắc Ninh). Được sự đồng ý của giáo phường Kinh Môn, ông trùm phường Tô Tiến Trọng đã rước thần tượng nhị vị tổ nghề là: Đinh Dự Thanh Xà đại vương và Mãn Đường Hoa công chúa và bản sắc phong về  phủ từ Đông Môn để thờ cúng. Từ đó phủ từ Đông Môn (còn gọi là đền Ca công) là nơi đền thờ tổ nghề của “Tam phủ, bát huyện” thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Khi về Đông Môn, ông đã dạy ca trù cho người thân trong họ, các dòng họ tại địa phương và biến làng Đông Môn trở thành một ca quán nổi tiếng khắp cả nước. Tục truyền, vì Đông Môn có đền thờ tiên sư, tiên thánh mà hàng năm ngày hội chính mở vào ngày 24 – 3 âm lịch, “con cháu nhà thánh” ở các nơi như Hà Nam, Phủ Lý, Bắc Ninh, Kinh Môn, Kim Thành…đều về làm lễ, còn nghệ nhân ca trù Đông Môn thì không phải đi lễ ở nơi khác. Ở Đông Môn, nhiều vọng tộc lớn như: Tô, Phạm, Nguyễn…duy trì tục lệ mỗi khi có đứa trẻ lớn lên đều được ông bà, cha mẹ truyền nghề theo lối truyền miệng để trở thành “ca nương”, “kép đàn”…Sau khi được ông Tô Tiến Trọng dạy cho nghề hát ca trù, nhiều gia đình, dòng họ tự đứng ra thành lập các giáo phường (bố đàn con hát, cháu đánh trống). Người thì mở cơ sở hát tại nhà, có người lên Hà Nội, sang Hải Phòng, ra Quảng Yên. Cũng có người đi hát trong hàng tổng, hàng huyện, hàng tỉnh từng đợt theo lời mời của những nơi cần. Đào, Kép ở Đông Môn nổi tiếng đàn ngọt hát hay. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Đông Môn có những đào nương có giọng hát tốt như bà Hỗ, bà Tân, bác Xuyến…và những người đàn giỏi như cụ Bốn, cụ Bút, ông Tăng, ông Nghị…Nhà hát của cụ Cửu Tuế, người Đông Môn mở ở Khâm Thiên (Hà Nội) nổi tiếng nhờ có nhiều đào kép có trình độ nghệ thuật cao tuyển chọn ở quê nhà đưa lên.

Phủ từ (ngôi từ của hàng phủ) – nhân dân trong vùng quen gọi là đền Ca công tuy không lớn nhưng xinh xắn, đẹp đẽ. Đồ thờ, tế khí, nghi trượng đẹp vào loại nhất huyện. Năm 1968 do lâu ngày không sửa chữa, đền bị dột nát, hợp tác xã phải dỡ đi, đồ thờ bị hư hỏng gần hết, chỉ còn bộ ngai, phù điêu thần tượng nhị vị Ca công và hòm sắc chuyển về đình Đông Môn. Về thần tích, thần phả đều bị thất lạc, chỉ còn bản thần sắc đời Gia Long (1802 – 1819), nội dung cho biết, hai thần Ca công ở Đông Môn được vua Gia Long phong tặng 2 lần, một lần vào ngày 15-2 năm Giáp Tý (1804) được tặng chữ đẹp (mỹ tự) và ngày 15-6 năm Gia Long thứ 9 (1810) được thăng trật. Thần sắc cũng cho biết vợ chồng công chúa này vốn là chính thần thuộc ty giáo phường Bắc Thành thờ và được các triều đại trước khen tặng (lịch triều bao tặng) về công lao dạy nghề. Lòng sắc ghi: Thánh nữ tiên sư trinh tĩnh từ hụê phương dung cẩn khiết khuông hành Mãn Đường Hoa công chúa – Quốc tế tiên sư thông minh dũng quyết anh uy trợ quốc dịch vụ giáo dân thần khoan minh mẫn Đinh Thanh Xà đại vương. Theo lệ cổ, trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày hội đền Ca công được tổ chức đều đặn hàng năm. Chương trình ngày hội gồm hai phần chính. Ban ngày, sau khi làm lễ thánh có cuộc thi hát giữa nghệ nhân các vùng nhằm mục đích đua tài, trao đổi kinh nghiệm. Nhân dịp này còn kiểm tra tay nghề để kết nạp hội viên mới. Người muốn ra nhập giáo phường phải qua đào tạo theo hình thức truyền nghề do các nghệ nhân cũ trực tiếp kèm cặp với thời gian ít nhất là 2 năm cho người học đàn, 3 năm cho người học hát. Trước ngày hội người phụ huynh hay người đỡ đầu người muốn xin ra nhập giáo phường phải trình trước ông thủ bạ của giáo phường và nộp một khoản lệ phí nhỏ. Ban ngày hôm lễ chính có dành thời cần thiết cho người xin nhập giáo phường biểu diễn trình nghề trước nhà thánh và đông đảo hội viên. Việc kiểm tra tay nghề trong lễ “mở xiêm áo” cho các cô đào trẻ tuy nhẹ nhàng, không quy định thể thức, tiêu chuẩn chặt chẽ, những công chúng đều là những nghệ nhân sành sỏi, trình độ thẩm âm cao, luôn có ý thức giữ gìn uy tín nghề nghiệp của nhà thánh nên muốn vượt qua “cửa” này đòi hỏi phải có quá trình khổ luyện, thực sự say mê nghề hát.

images614803_Ca_tru__Dinh_hang_kenh

Chương trình buổi tối ngày hội là nghi lễ tế thánh được cử hành nghiêm trang, trọng thể. Người tham gia từ chủ tế, bồi tế…cho đến người phục vụ buổi tế phải là hội viên chính thức do giáo phường cắt cử. Người ngoài dù chức tước, địa vị xã hội thế nào cũng không được dự tế. Lễ phẩm không có gì đặc biệt gồm hương đăng, hoa quả, xôi thịt…chi phí do các đệ tử đóng góp.

Tiếc rằng, do chiến tranh loạn lạc, từ khoảng những năm 1950 ca trù Đông Môn bị dần mai một. Với mong muốn bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, năm 1993 chính quyền địa phương đã đứng ra thành lập CLB ca trù Đông Môn thuộc (xã Hoà Bình) với sự đóng góp của nghệ nhân hát ca trù Tô Thị Chè (dạy hát), ông Tô Văn Nghị (kép đàn) và rất nhiều những người đam mê ca trù cùng tham gia. Ông Trần Bá Sự – nguyên Chủ nhiệm CLB ca trù Đông Môn nhớ lại: “Nhận thấy môn nghệ thuật truyền thống của ông cha ngày càng bị mai một, địa phương đã xin chính quyền xã thành lập CLB lưu giữ và truyền lại nghề cho các lớp con cháu trong làng. Những ngày đầu thành lập, do thiếu người chúng tôi đã vận động toàn bộ đội tế nữ quan, tế nam quan của đình làng vào hoạt động. Nhạc cụ trang bị cho CLB những ngày đầu là chiếc đàn đáy mua của nghệ nhân Nguyễn Văn Hãn ở Hải Phòng về sửa lại, trống và phách do thành viên trong CLB đóng góp trang bị cho việc dạy học và sinh hoạt của CLB…”.

Sau gần 20 năm hồi sinh và phát triển, nhờ được sự dạy bảo của các nghệ nhân tâm huyết với ca trù, đến nay CLB ca trù Đông Môn đã dần tìm lại vị thế của mình là. Nhiều nghệ nhân, ca nương, kép đàn, trống chầu của CLB ca trù Đông Môn và CLB ca trù Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng đoạt Huy chương vàng, Huy chương bạc trong các hội diễn ca trù toàn quốc, được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian” quốc gia. Tiêu biểu là ca nương Đỗ Quyên, Tô Thị Ninh, Hoàng Minh Khánh, Nguyễn Thị Hằng, Phạm Thị Liên; kép đàn Tô Văn Tuyên, Phạm Thị Liên…Các nghệ nhân Tô Thị Chè, Nguyễn Văn Hãn… được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”…Đặc biệt, mới đây ca nương Nguyễn Đỗ Quyên, Chủ nhiệm CLB Ca trù – Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.

                                                                                                       Trần Phương

http://www.thuynguyen.info/lang-dong-mon-cai-noi-cua-nghe-thuat-ca-tru-viet-nam.html

 

GIANG NAM : Nhân lên truyền thống văn hóa nghìn năm / CA TRÙ, CHÈO


Nhân lên truyền thống văn hóa nghìn năm
 
Tiết thu đang tràn ngập các nẻo đường Hà Nội. Nắng đã nhạt bởi cái hanh hao của heo may. Ðâu đây góc phố nhỏ hương cốm tỏa lan từ những gánh hàng của các mẹ, các chị. Với nhiều người Hà Nội, mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm. Và mỗi độ thu về, thành phố lại rực rỡ cờ hoa – như một sự sắp đặt ngẫu nhiên: mùa thu luôn gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước và Thủ đô nghìn năm yêu dấu. 999 năm trước, vào một ngày thu, Vua Lý Thái Tổ xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư ra thành Ðại La và đổi tên thành Thăng Long. Suốt mấy trăm năm bao vương triều hưng vong, nhưng vị thế kinh đô của Thăng Long không hề thay đổi. Những người đỗ đạt qua các kỳ thi về với kinh đô góp công cùng chính quyền xây dựng đất nước. Những người thợ tài khéo muôn nơi tụ về kinh kỳ để lập nên 36 phố phường… Kinh đô Thăng Long trở thành nơi hội tụ, chắt lọc tinh hoa của đất nước, hình thành truyền thống văn hiến, nếp sống thanh lịch. Hơn chín trăm năm sau ngày Vua Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long, những con người của thời đại Hồ Chí Minh đã tiếp tục viết nên những trang sử vàng trong lịch sử dân tộc. Mùa thu năm 1945, Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội trở lại vị thế Thủ đô của đất nước. Chín năm sau, ngày 10-10-1954 trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử Hà Nội khi những anh Bộ đội Cụ Hồ trở về giải phóng Thủ đô.

Với bề dày lịch sử, Hà Nội có biết bao di sản. Ðó là Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, phố cổ Hà Nội, làng cổ Ðường Lâm, làng cổ Ðông Ngạc… Nhiều nhân tài tụ về Thăng Long khiến văn hóa tinh thần của Hà Nội mang bản sắc riêng. Nói đến văn hóa tinh thần, ca trù là niềm tự hào của người Hà Nội. Mặc dù loại hình nghệ thuật này cũng tồn tại ở một số địa phương khác, nhưng trên đất Thăng Long, ca trù thể hiện mọi nét tinh túy khi được “cộng hưởng” với nền văn hóa giàu tính bác học, với nét hào hoa của người Hà Nội. Bởi thế, nó được xem là “đặc sản” của đất Thăng Long. Ðúng vào dịp kỷ niệm 999 năm Thăng Long – Hà Nội và 55 năm Ngày giải phóng Thủ đô, ca trù được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhân dân cả nước vui mừng khi di sản văn hóa của cha ông giờ đã được cả thế giới thừa nhận. Nhưng cũng như nhiều di sản văn hóa khác, cùng với niềm vui là những băn khoăn, ca trù đứng trước thách thức bảo tồn, phát huy, nhất là khi di sản này được xếp vào loại “cần bảo vệ khẩn cấp”. Cách đây mấy năm, khi các nhà khoa học mới rục rịch làm hồ sơ để công nhận Di sản văn hóa cho ca trù, chúng tôi đã gặp nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi – Chủ nhiệm Câu lạc bộ ca trù Thái Hà, hậu duệ một dòng họ hát ca trù nổi tiếng ở ấp Thái Hà khi xưa. Ngay từ lúc ấy, ông Mùi đã trải lòng những băn khoăn về ca trù: Nếu được công nhận thì mừng quá, nhưng giá như có những biện pháp bảo tồn cụ thể thì hay biết mấy.

Gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi vốn là dòng họ có nhiều ca nương, kép đàn phục vụ trong cung đình nhà Nguyễn. Bản thân chỉ là một tay trống chầu, ông Mùi không đủ điều kiện truyền nghiệp tổ tiên cho con (các yếu tố tạo nên một canh hát gồm có đàn, hát, trống chầu), nhưng nghĩ đến trách nhiệm với dòng họ, ông Mùi vẫn tìm mọi cách để mạch chảy văn hóa gia đình mình không đứt. Ông gửi gắm con cái đến những nghệ nhân có tiếng, để rồi hai người con trai ông: Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Mạnh Tiến trở thành hai kép đàn, cô con gái Nguyễn Thị Hòa được đích thân nghệ nhân Quách Thị Hồ dạy dỗ trở thành một ca nương. Năm 1995, giữa thời buổi còn khó khăn, Câu lạc bộ Ca trù Thái Hà đã ra đời, thành viên gồm toàn những người trong gia đình. Hiện nay, Câu lạc bộ Ca trù Thái Hà đã có những ca nương “nhí”, Nguyễn Thu Thảo, Nguyễn Kiều Anh, cháu nội của nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi. Hơn ai hết, gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi nếm trải nhiều đắng cay với ca trù. Tạm gác lại một thời ca trù bị lãng quên do sự nhầm lẫn giữa một loại hình văn hóa với một thú vui, sang đến thời đất nước đổi mới, chủ trương khôi phục, bảo tồn các di sản văn hóa của Ðảng, Nhà nước được triển khai, số phận ca trù vẫn cứ long đong. Nói một cách nôm na, không tạo điều kiện cho nghệ nhân ca trù sống được bằng nghề hát, thì dù có tâm huyết đến mấy, nhiệt huyết và lòng đam mê cũng ít nhiều bị tác động bởi cơm áo gạo tiền. Nếu ai quan tâm đến ca trù, sẽ thông cảm cho trăn trở của người nghệ nhân già: Năm 2002, một khóa đào tạo ca trù quy mô được tổ chức, song nó được thực hiện bởi nguồn kinh phí do Quỹ Ford tài trợ. Từ đó đến nay, việc đào tạo những thế hệ kế cận cho ca trù, vẫn trông chờ vào tấm lòng của những người nghệ nhân.

Trên địa bàn Thủ đô, mấy năm trước, hát chèo Tàu cũng từng được xếp vào danh sách “ứng viên” trở thành Di sản văn hóa phi vật thể. Chèo Tàu là loại hình diễn xướng dân gian ca ngợi thành hoàng Tổng Gối (tức xã Tân Hội – huyện Ðan Phượng) Văn Dĩ Thành, cũng là “đặc sản” chỉ địa phương này có. Hội hát chèo Tàu xưa huy động tới mấy trăm người tham gia hoạt động diễn xướng dân gian nên 25 năm hội hát mới được tổ chức một lần. Năm 1922, là lần cuối cùng hội hát được tổ chức quy mô. Sau một thời gian dài lãng quên, mãi đến năm 1998, bằng nhiều nỗ lực của chính quyền và nhân dân địa phương, hội hát chèo Tàu mới được tái hiện, nhưng không khí và quy mô còn kém xa hội hát thủa trước. Khi đến Tân Hội, tôi gặp bà “cái tàu” (vai diễn quan trọng nhất trong hát chèo Tàu) Nguyễn Thị Thu vừa đi cấy ruộng về, bà Thu đon đả: “Mê chèo Tàu chỉ khổ chồng con thôi”. Thật ra cả nhà đều ủng hộ bà Thu hát chèo Tàu, nhưng bà Thu không phải không có lý. Ðể học hát chèo Tàu, để chuẩn bị biểu diễn, cả tháng trời bà phải cùng mọi người trong Câu lạc bộ chèo Tàu luyện tập, chưa kể phải mua sắm trang phục biểu diễn với kinh phí gần như tự túc hoàn toàn. Hát chèo Tàu rộ lên một thời, nhưng khi chèo Tàu lỡ “chuyến tàu” Di sản Văn hóa phi vật thể thế giới, không ít người đã nhanh chóng quên mất sự góp mặt của di sản này trên bản đồ văn hóa. Riêng với người dân xã Tân Hội, trước sau như một, tình yêu chèo Tàu vẫn cháy bỏng. Thời gian gián đoạn khá lâu, việc lần tìm lại chèo Tàu nguyên bản là hết sức khó khăn, người Tân Hội vẫn nỗ lực hết mình. Theo truyền thống, tham gia hội hát chỉ có phụ nữ, nhưng không vì thế đàn ông khoanh tay đứng nhìn. Những “trí thức làng” như các ông Ðông Sinh Nhật, Ðào Văn Hà… vẫn đang dày công tìm lại các câu hát cổ cũng như làm sáng tỏ nguồn gốc của chèo Tàu.

Ðất nước và Thủ đô đang trước ngưỡng cửa của sự kiện trọng đại – kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Trước thềm sự kiện trọng đại này, Hà Nội tổ chức 55 sự kiện mừng 999 năm Thăng Long – Hà Nội, mừng 55 năm Giải phóng Thủ đô như một cuộc tập dượt cho ngày Ðại lễ. Cả nước háo hức chờ ngày Ðại lễ, nhưng liệu có ai đó tự hỏi, sau Ðại lễ, Hà Nội sẽ như thế nào? Những công trình được xây dựng, những việc làm được hôm nay, sẽ trở thành những di sản cho con cháu nhiều năm sau nữa. Hẳn nhiên, những công trình, những phần việc sẽ đi vào sử sách, nhưng có một điều cũng chắc chắn không kém, là thái độ ứng xử với di sản văn hóa của cha ông chúng ta hôm nay, cũng sẽ được thế hệ sau phán xét. Hà Nội có kho báu di sản, trong đó, có di sản tâm hồn mà đam mê của gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi hay của những nghệ nhân chèo Tàu chỉ là một trong nhiều, rất nhiều thí dụ. Ðó chính là hòn đá tảng, là nền móng vững chắc để chúng ta giữ gìn, xa hơn là nhân lên truyền thống văn hóa nghìn năm.

Giang Nam

http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_hanoi/_mobile_tinmoinhan/item/17821702.html