Trương Hoàng : Xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú: Sao lại bị dừng?


Thứ Ba, 23/07/2013 – 10:13

 

Nguồn tin từ Bộ VHTTDL cho biết, mọi việc liên quan đến xét tặng danh hiệu sẽ bị ngừng cho đến khi Luật Thi đua – Khen thưởng (sửa đổi) được Quốc hội thông qua.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu không đợi được đến lúc được vinh danh.
Nghệ nhân Hà Thị Cầu không đợi được đến lúc được vinh danh.
 

Như thế, đồng nghĩa với việc xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân (NNND), Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) – một việc mà không chỉ nghệ nhân, mà nhân dân cả nước đều mong mỏi, chờ đợi từ hàng chục năm nay – cũng sẽ bị trì hoãn chưa biết đến bao giờ.

Tưởng chừng như đã…

Thông tin trên quả thật gây thất vọng cho không ít người quan tâm, yêu mến văn hóa truyền thống. Còn nhớ trong hội thảo lấy ý kiến cho bản dự thảo lần 3 được tổ chức vào hồi tháng 4.2013, phần lớn các đại biểu đều cho rằng, việc xét tặng danh hiệu cho nghệ nhân là không thể chậm trễ hơn được nữa và việc xét tặng cũng đừng quá cứng nhắc và hành chính hóa… Bởi từ lúc các cơ quan quản lý đặt vấn đề cần phong tặng danh hiệu cho nghệ nhân, đến lúc này thì đã là gần 10 năm. Trong 10 năm ấy, có tới gần một nửa số nghệ nhân dân gian đã về cõi vĩnh hằng, mang theo cả một kho báu văn hóa phi vật thể của quốc gia.

Cũng tại hội nghị ấy, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên có hứa là dự thảo Nghị định quy định đối tượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT sẽ được hoàn thiện trong quý II và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Và nếu điều đó được thực hiện,theo đúng trình tự thì cũng phải đến cuối năm 2014, may ra đợt xét tặng đầu tiên mới được tiến hành. Được như thế cũng đã là mừng lắm rồi, bởi phần lớn các nghệ nhân dân gian hiện đều ở tuổi “gần đất xa giời”, việc truy tặng sẽ không còn ý nghĩa gì với người đã khuất, có chăng chỉ là để an ủi người còn sống mà thôi.

Nay, dự thảo nghị định do Bộ VHTTDL soạn thảo đã được trình Chính phủ; nhưng đến giờ lại có thông tin là Chính phủ sẽ không xem xét, phê duyệt trước khi Quốc hội thông qua Luật Thi đua – Khen thưởng (sửa đổi)!

Lẽ nào!

Lẽ nào, chỉ đến bây giờ Chính phủ mới thấy rõ sự phi lý của việc sẽ có 2 nghị định về việc phong tặng NNND, NNƯT – điều đã được báo giới cảnh báo từ trước. Về việc có 2 nghị định, xin được giải thích thế này: Trước 2009, việc phong tặng nghệ nhân được thực hiện theo Luật Thi đua – Khen thưởng và quy định rõ là chỉ xét tặng nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công truyền thống, đồng thời việc phong tặng được Chính phủ giao cho Bộ Công Thương làm, chứ không phải là Bộ VHTTDL.

Năm 2009, Quốc hội đã sửa Luật Di sản văn hóa, đồng thời sửa Luật Thi đua – Khen thưởng. Điều 3 của Luật Thi đua – Khen thưởng (sửa đổi năm 2009) đã nói rõ danh hiệu NNND, NNƯT để dành cho người có công, có tài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể (tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống, tri thức dân gian và nghề thủ công truyền thống). Thế nhưng, đến thời điểm đó, Bộ Công Thương coi việc phong tặng danh hiệu cho nghệ nhân nghề thủ công truyền thống là của mình.

Thế mới có chuyện Chính phủ “nhân nhượng”, giao cho Bộ VHTTDL chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương cùng soạn thảo nghị định (năm 2012). Thế mới có chuyện “việc ai nấy làm”. Và cuối cùng thì mới có chuyện “không thể để việc ai nấy làm” như hiện nay, phải đợi sửa đổi luật rồi hạ hồi phân giải. 

Đã là luật thì phải tuân thủ thôi. Nhưng có điều, sự tắc trách của những người thực hiện luật pháp- trong trường hợp này- ít nhiều sẽ để lại hậu quả đáng tiếc, không dễ gì tìm được sự cảm thông từ xã hội trước một việc tưởng chừng như rất hiển nhiên – tôn vinh những “quốc gia chi bảo”. Vậy mà việc đơn giản ấy lại gây biết bao tranh cãi và quan trọng hơn, đó cũng là hành động làm tổn thương tinh thần với các nghệ nhân.

 
Theo Trương Hoàng
Báo Lao động

WIKIPEDIA : Vọng cổ


Vọng cổ

Vọng cổ, hay vọng cổ Bạc Liêu, là một điệu nhạc rất thịnh hành ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Việt Nam. Nó được bắt nguồn từ bài “Dạ Cổ Hoài Lang” (nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng) của nghệ sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu). Bản vọng cổ là một trong những điệu nhạc căn bản của sân khấu cải lương.

Sơ lược nguồn gốc và nhạc pháp

Bài “Dạ cổ hoài lang” có 20 câu, hai nhóm đầu mỗi nhóm 6 câu, hai nhóm sau mỗi nhóm 4 câu. Mỗi câu trong bài có 2 nhịp, gọi là nhịp đôi.

Ngay từ thời chỉ mới có nhịp đôi, bản “Dạ cổ hoài lang” đã được đặt lời khác. Việc đặt (ngôn ngữ nhạc Việt gọi là “soạn”) lời ở các bản cổ nhạc không giống như đặt lời tân nhạc. Một bài tân nhạc khi đặt lời thì theo sát câu nhạc của lời trước, tức là theo đúng hay rất sát nốt nhạc trong mỗi stanza. Đặt lời một bản cổ nhạc giống như làm bài thơ họa: Theo đúng nốt nhạc (ngôn ngữ nhạc Việt gọi là chữ nhạc) ở cuối câu (chỗ dứt nhạc) và theo giọng bình – trắc ở những chữ đó.

Câu 2 nhịp, tuy nhiên, không thỏa mãn được nhu cầu của các nhà soạn nhạc. Bản nhạc (bản vọng cổ luôn gọi là “bản”, không gọi là “bài”) được tăng lên 4 nhịp, tức nhịp tư, trong khoảng thời gian 1927-1935. Sau đó tăng lên nhịp tám năm 1936-1945, và cũng khoảng thời gian này được mang tên bản “Vọng cổ“. Từ nhịp tám lên nhịp 16, 32, 64, 128, … Bản thông dụng nhất hiện nay là bản nhịp 32.

Bản vọng cổ nhịp đôi, nhịp tư chỉ theo sát chữ nhạc ở chỗ dứt câu. Nhưng khi bản nhạc có nhiều nhịp, phải theo đúng chữ nhạc ở một số nhịp nhất định.

Thí dụ, câu 1 của bản nhịp đôi chỉ cần dứt ở chữ cống, theo chuẩn của bản Dạ cổ hoài lang.

Nhưng câu 1 của bản nhịp 32 phải có chữ hò ở nhịp 16, hò ở 20, xê ở 24, xang ở 28, cống ở 32. Ở bản 32 nhịp, tất cả các câu đều có xề (gọi là “xuống” xề) ở nhịp 4. (Trên thực tế, bản 32 nhịp thường câu 1 và 4 ngắn, chỉ có 16 nhịp sau, còn 16 nhịp đầu nói thơ hoặc nói lối hoặc xen tân nhạc.

Khi câu nhạc còn ngắn, bản nhạc chỉ gieo vần ở cuối câu. Lên tới nhịp 32, 64, các soạn giả bắt đầu gieo vần liên kết bên trong mỗi câu.

Các bản vọng cổ nhịp 2, 4, v.v.

Cùng với việc tăng số nhịp trong mỗi câu, bản vọng cổ ngày càng đa dạng thêm nhờ sự sáng tạo của các soạn giả, các nghệ sĩ làm bản vọng cổ ngày nay rất phong phú.

Vọng cổ nhịp đôi

Bản Vọng cổ nhịp đôi tức là bản Dạ cổ hoài lang nguyên thủy.

Sáu câu đầu trong bản này như sau, vần gieo mỗi câu một lần (trong đó có câu vần lưng tức yên vận):

  1. Từ là từ phu tướng,
  2. Bảo kiếm sắc phán (phong) lên đàng.(phán : sai bảo; không phải là phong)
  3. Vào ra luống trông tin chàng.
  4. Năm canh mơ màng.
  5. Em luống trông tin chàng,
  6. Ôi gan vàng thêm (quặn) đau.(thêm :đã đau nhiều rồi; quặn : đau lần đầu. Có lẽ “thêm” phù hợp hơn)

Sáu câu này có sáu chữ dứt câu như sau:

  1. ………. cống
  2. ………. xang
  3. ……….
  4. ……….
  5. ………. xề
  6. ………. liu

Những chữ nhạc này được dùng trong tuồng “Tham phú phụ bần” như sau:

  1. (Đào:) Vì đâu nên xui khiến (cống)
  2. Cha nỡ rẽ thúy chia uyên (xang)
  3. Làm cho đôi ta đeo phiền (hò)
  4. Mang nặng lời nguyền (hò)
  5. (Kép:) Đành cam đứt câu nghĩa tình (xề)
  6. Trên Thiên Hoàng xin chứg minh (liu)

Tới hết 20 câu thì hết bản.

Vọng cổ nhịp tư

Nhịp tư bắt đầu có từ năm 1927. Từ bản này, vọng cổ bước một bước thay đổi quan trọng: Chữ nhạc trong bài không theo hơi Bắc (tức Bắc chánh) nữa mà đổi sang hơi Bắc Oán. Dưới đây là sáu câu đầu bản “Khúc oan vô lượng” của soạn giả Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi.

  1. Đêm nào ngọn đèn khuya, mẹ đây chong trắng đĩa
  2. Chàng ôi, nếu có gặp nhau họa chỉ trong giấc mộng huỳnh lương
  3. Trời đất ôi! Vợ chồng tôi đang vui câu đầm ấm nơi cảnh gia đường
  4. Vì ai gieo oan mà để cho thiếp phải cam dồn dập nơi khốn cảnh đoạn trường
  5. Hơn bốn năm trường tựa nơi canh cửa thiếp trông chờ
  6. Đã biết rằng tuyệt vô hy vọng mà lòng mong thiếp những hoài mong

Vọng cổ nhịp tám

Bản nhịp tám, từ năm 1936, bắt đầu ngân nga hơn bản nhịp tư. Người góp công làm bản nhịp tám được công chúng ưa chuộng phải kể đến nghệ sĩ Lưu Hoài Nghĩa tức Năm Nghĩa. Nhiều bản tuồng nhịp tám tới nay vẫn còn nổi tiếng, như bản “Tô Ánh Nguyệt” của soạn giả Trần Hữu Trang:

  1. Sau khi tôi có chết đi rồi, xin Cậu chứng kiến cho tấc lòng tôi mà tỏ hết khúc nói cho ai kia được rõ nỗi khổ tâm của tôi trước giờ tôi nhắm mắt
  2. Dưới nấm mộ xanh, thân người mạng bạc, ngàn muôn năm linh hồn tôi họa chăng được tiêu tan khối hận chốn tuyền đài
  3. Mười tám năm dư lắm lúc tôi muốn vạch mặt phơi gan mà than thở với đất trời
  4. Nhưng mà mối hận tình nó nấu nung trong tim phổi, nghĩ bao nhiêu tội lỗi, gặp mặt ai tôi nói chẳng nên lời
  5. Ngày hôm nay, tôi sắp lìa xa bao nhiêu kẻ thân yêu quý mến mà từ giã cõi đời
  6. Cậu ôi, tôi nhờ cậu nói lại với má thằng Tâm rằng tôi mong giũ sạch nợ trần ai đặng thoát ra khỏi vòng tình thiên hận hải, vậy tôi xin có một đôi lời nhắn nhủ cùng với ai.

Vọng cổ nhịp mười sáu

Tới bản mười sáu, từ năm 1946, mỗi câu bắt đầu dài, như sáu câu sau đây trong “Tôn Tẫn giả điên”, nổi tiếng với giọng ca Út Trà Ôn:

  1. Úy trời đất ôi! Nỗi đoạn trường, cũng vì tôi đây quá tin thằng Bàn Quyên là bạn thiết cho nên ngày hôm nay thân của tôi phải ra nông nỗi
  2. Còn như công cuộc ngày hôm nay đây, bởi tôi không cẩn thận cho nên bạn tôi nó mới đành nhẫn tâm chặt lấy một bàn chơn tôi
  3. Khi tôi còn ở trên non thì tôi quyết ẩn thân tu tâm dưỡng tánh, luyện thuốc trường sanh mong thành chánh quả đặng có tọa hưởng Bồ Đoàn
  4. Nào hay đâu thằng Bàn Quyên nó lên năn nỉ ỷ ôi, lời ngon tiếng ngọt, nó nói rằng chúa của nó là một đấng minh quân chơn mạng. Bởi vậy cho nên nó bảo tôi một một, hai hai cũng phải xuống mà đầu hàng.
  5. Cho nên khi ấy tôi mới hạ san, thì thầy của tôi có cho tôi một bức cẩm nang lại dặn tôi rằng: Hễ khi nào lâm nạn thì dở ra xem rồi liêu> chước biến quyền
  6. Vậy thì tôi đây vọng nguyện với Tôn sư, khai thơ cứu mạng. Ủa sao tôi chẳng thấy điều chi lạ, chỉ thấy trong thơ có một chữ “Cuồng”. Ờ, ờ, phải rồi, đây thầy tôi bảo tôi giả điên đặng có thoát thân.

Thời kỳ vọng cổ nhịp mười sáu cũng là lúc câu vọng cổ có trộn vô những câu nói thơ (tức ngâm thơ, theo điệu Tao Đàn hoặc Vân Tiên) và những câu hò. Đây là sáng kiến của nghệ sĩ Út Trà Ôn ảnh hưởng cho tới nay. Trong bản “Tôn Tẫn giả điên”, Út Trà Ôn nói thơ trong câu 11-12 và hò trong câu 13 như sau:

11. Bây giờ buồn quá, để nói thơ cho bà con cô bác nghe chơi: Buồn cười vua Trụ đa đoan, mê nàng Đắc Kỷ rồi giết oan hết cả trào. Nói qua tới lớp vua U mà yêu ấp ả má đào
12. Ẵm ôm nàng Bao Tỉ giặc vào cũng không hay. Còn vua Kiết có tánh rồi hay say, nghe lời của Muội Hỷ mà lại giết ngay tôi Long Phùng.
13. Hò hơ… chết tôi, tôi chịu xin đừng bận bịu bớ điệu chung tình. Hò hơ… con nhạn bay cao rồi khó bắn, hò hơ… con cá ở ao quỳnh cũng khó câu…

Từ khi có bản vọng cổ mười sáu nhịp, câu nhạc đã bắt đầu đa dạng phong phú.

Vọng cổ 32 nhịp

Bản vọng cổ 32 nhịp, từ năm 1955, là bản vọng cổ được coi là tiêu chuẩn hiện nay, mặc dù cũng đã xuất hiện bản 64 nhịp và 128 nhịp.

Từ bản 32 nhịp, mỗi câu bắt đầu có vần gieo ngay trong câu, vì 32 nhịp là một quãng quá xa để chỉ có một vần. Câu dưới đây trong bản “Nắng chiều quê ngoại” của soạn giả Viễn Châu là một thí dụ:

  1. Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rủ bóng đang vươn lên ngọn khói lam chiều. Cảnh hoàng hôn sao nhuộm vẻ tiêu điều. Khóm lau thưa xào xạc trên lối đường mòn vẳng lặng cô liêu; nhà Ngoại tôi khuất sau mấy lũy dừa xanh soi bóng dịu hiền, bên cạnh mái đình làng đìu hiu cỏ phủ.

Bản vọng cổ 32 nhịp đầy đủ có 6 câu. Tức là ngắn hơn các bản nhịp tám thường có 20 câu. Tuy nhiên, ngay cả 6 câu cũng có khi không sử dụng hết. Bản vọng cổ khi ghi ra giấy, do đó, thường có đánh số câu để người nghệ sĩ biết bản nhạc sử dụng câu nào. Hai câu 1 và 4 thường chỉ có 16 nhịp cuối câu.

Khi bản vọng cổ đã tới 32 nhịp, nhiều soạn giả chêm vô những câu nói giặm. Để nghệ sĩ vô ca vọng cổ cho êm, soạn giả cũng thường gối đầu bằng một khúc nói lối văn xuôi, những câu nói lối văn vần (lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, hoặc cả thơ mới), hoặc một bản ngắn cổ điển như Lưu thủy, Hành vân, Sương chiều, hoặc tiêu biểu là Lý con sáo.

Tham khảo

HUỲNH HẢI : Festival “Đờn ca tài tử” lần thứ nhất sẽ diễn ra vào tháng 4/2014


Thứ Tư, 24/07/2013 – 00:33

Festival “Đờn ca tài tử” lần thứ nhất sẽ diễn ra vào tháng 4/2014

(Dân trí)- UBND tỉnh Bạc Liêu cho biết, Festival Đờn ca tài tử cấp Quốc gia lần thứ nhất sẽ diễn ra vào tháng 4/2013 với nhiều sự kiện hoạt động đặc sắc góp phần tôn vinh thể loại nghệ thuật độc đáo của vùng Nam Bộ.

Theo UBND tỉnh Bạc Liêu, Festival Đờn ca tài tử lần thứ nhất sẽ diễn ra vào tháng 4/2014 (dự kiến từ 26/4- 1/5/2014) với tên gọi “Festival Đờn ca tài tử Việt Nam – Bạc Liêu 2014” có chủ đề “Đờn ca tài tử- Tiếng lòng người phương Nam”.Đây là lễ hội văn hóa mang tầm Quốc gia và Quốc tế sẽ diễn ra chủ yếu trên địa bàn TP.Bạc Liêu. Lễ hội sẽ có nhiều hoạt động đặc sắc diễn ra trong suốt 1 tuần lễ như: Chương trình nghệ thuật khai mạc Festival và dự kiến đón bằng UNESCO công nhận nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Lễ tôn vinh soạn giả; Lễ hội ẩm thực Nam bộ; Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Đờn ca tài tử Nam Bộ; Lễ hội đường phố; Hội thi người đẹp tài tử; Hội thảo và kết nối tua – tuyến du lịch; Đại nhạc hội “Sắc màu làn điệu phương Nam”; Thi sáng tác lời mới cho các bài bản tài tử; Thi sáng tác ảnh thời sự nghệ thuật; Chương trình nghệ thuật bế mạc Festival Đờn ca tài tử…

Image 

 
Một hình ảnh trong lễ kỷ niệm 90 năm ra đời bản Dạ cổ hoài lang nổi tiếng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. (Ảnh: Huỳnh Hải)

 

Để phục vụ cho Festival Đờn ca tài tử, tỉnh Bạc Liêu đang tập trung xây dựng, tôn tạo các công trình văn hóa lớn như: mở rộng Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Nhà hát Cao Văn Lầu, Trung tâm triển lãm văn hóa- văn học- nghệ thuật, Quảng trường chính trị và văn hóa Hùng Vương, Nhà thi đấu đa năng, Tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, Tượng đài sự kiện Mậu Thân, Trung tâm Hội chợ triển lãm, cụm nhà Công tử Bạc Liêu, khu du lịch Nhà Mát, khu du lịch vườn chim Bạc Liêu….

Ông Võ Văn Dũng- UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu- nhấn mạnh: Việc Thủ tướng Chính phủ chọn Bạc Liêu tổ chức Festival Đờn ca tài tử cấp quốc gia lần thứ nhất là một vinh dự cho tỉnh Bạc Liêu. Qua các sự kiện hoạt động trong khuôn khổ Festival sắp tới, không chỉ trong nước mà còn cả thế giới hiểu thêm vùng đất Nam Bộ nói chung, đặc biệt Bạc Liêu- là cái nôi lớn, nơi sản sinh ra một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

                                                                                                           
 Huỳnh Hải

NGUỒN GỐC “CA RA BỘ”


3. Văn hóa tinh thầnĐặc điểm của người dân Nam Bộ, trong đó có miền Tây là yêu nước nồng nàn, bất khuất, chống áp bức, bất công, trọng nghĩa, khinh tài, khẳng khái, khoáng đạt, thủy chung, yêu chuộng cái mới. Nhà Bác học Lê Quý Đôn còn cho rằng: Cởi mở, bộc trực, chân thật, dễ tin người, hào hiệp và mến khách, năng động và dám làm ăn lớn(1).

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cũng viết: Người Nam Bộ, thói thường, chuộng khí tiết, trọng nghĩa, khinh tài, sĩ phu ham đọc sách. Thường lấy việc mình lí làm đầu, nhưng vụng về lời văn. Nông dân siêng năng, khi khởi công gieo cấy, sau lại ít hay bòn xới gì, cứ để tùy theo Trời mà mùa được hoặc mất. Bá công kĩ nghệ còn thô sơ, đồ dùng thì mộc mạc mà bền. Khách buôn bán lớn đều từ ngoài đến, người địa phương chỉ buôn bán nhỏ, chuyển từ chỗ nhiều đến chỗ ít, giúp vào cuộc sống hằng ngày mà thôi. Đất nhiều sông rạch, ai cũng biết bơi lội. Người đủ 4 phương, mỗi nhà có tập tục riêng(1).

Tình cảm, tâm lí của con người ở đồng bằng sông Cửu Long thường diễn ra hằng ngày, trên mọi mặt hoạt động của xã hội. Đó là:

– Tình cảm kết bạn xóm làng với nhau, thân thiết như người nhà, không phân biết từ đâu đến hay dân tộc nào, chỉ biết sống gần nhau, sớm tối có nhau.

– Tâm lí quý khách, trọng tình nghĩa, trọng học vấn, đùm bọc người cùng địa phương là một nét chung của các dân tộc ở đây.

– Cung cách ứng xử bộc trực, thẳng thắn, dễ dãi, chí tình và những tác phong nóng nảy, không chịu khuất phục trước đàn áp và bất công, tinh thần xả thân bảo vệ người dân và lẽ phải.

Đó là những đặc trưng tâm lí xã hội chung rõ rét của người dân Tây Nam Bộ, bất luận dân tộc nào.

Tuy nhiên, từng khu vực riêng, với những đặc thù về kinh tế, xã hội, tâm lí, tình cảm cụ thể cũng có những điểm riêng. Nông dân vùng rừng và biển, tuy học vấn còn thấp, nhưng nặng nghĩa tình, hết mình vì bạn bè và người tin cậy, dứt khoát với kẻ thù (thà sống bất hợp pháp, không thích sống hợp pháp với quân thù). Nông dân vùng ruộng cũng giống như vùng rừng, biển “ăn đứng, thua nằm”, quyết sống chết với quân thù. Nông dân vườn, học thức, hiểu biết có khá hơn, sinh hoạt như tiểu tư sản thành thị; trong đấu tranh chống địch, khả năng đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp rất thích hợp.

Văn hóa dân gian

Những truyền thống tốt đẹp đó được giữ vững và phát huy cao, sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, biểu hiện nổi nhất trong các cuộc đấu tranh khởi nghĩa chống áp bức, bóc lột trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

Những hoạt động văn nghệ ở đây có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển và vui chơi giải trí lành mạnh trong những ngày thường, nhất là các ngày lễ hội. Văn nghệ dân gian đã sớm phát triển, ngay từ lúc người dân đặt chân lên vùng đất mới. Đó là các điệu dân ca đậm đà bàn sắc Nam Bộ, như hò chèo, ghe, hò xay lúa, hò đối đáp… Các điệu lí, nói thơ Lục Vân Tiên. Người Khơme thì đua ghe ngo, đua bò, thả đèn gió…

Ngoài ra, còn có phong trào đờn ca tài tử trong xóm, ấp. Các loại hình sân khẩu như: hát Dù Kê của người Khơme, hát Tiều, hát Quảng của người Hoa, hát Bội của người Việt đều được nhân dân ưa thích.

Trước đây ở Gia Định thành, có gánh hát bội của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Đến năm 1932, sau khi Lê Văn Duyệt mất, tại Bạc Liêu có gánh hát Bội của bầu An (tức Lê Bình An, 1817 – 1887).

Hát Bội Nam Bội đã một thời làm rạng rỡ các bảng hiệu truyền thống Việt Nam, từ gánh hát bầu Lê Văn Duyệt, rồi bầu An, đến sau này bầu Bòn, bầu Thắng… với những vở hát Bội nổi tiếng, như: Sơn Hậu, Kim Thạch Kì duyên (của Bùi Hữu Nghĩa).

Sau đó, cổ nhạc truyền thống Nam Bộ lại bộc phát một loạt bài bản mới sáng tác, như Sáu Bắc, Bảy Bài, rồi Ba Nam và Bốn Oán rất được ưa thích, không chỉ ở Nam Bộ mà phổ biến trong cả nước.

Nhạc sư Lê Tài Khị (tức Nhạc Khị, 1862-1924) là người Bạc Liêu, con ông Lê Bình An (bầu An). Nhạc Khị là bậc thầy, được giới cổ nhạc tôn là Hậu Tổ của nhạc truyền thống Nam Bộ.

Học trò của Nhạc Khị là:

– Cao Văn Lầu (Sáu Lầu), tác giả “Dạ cổ hoài lang”.

– Mộng Vân (soạn giả nhiều bản cải lương nổi tiếng).

Từ những năm 1910, đờn ca tài tử phát triển nhanh thành phong trào rộng khắp Nam Bộ. Thế là từ ca đến hát, dẫn đến phong trào ca ra bộ (đó là bước quá độ từ biểu diễn âm nhạc, chuyển sang biển diễn sân khấu).

Khoảng năm 1914-1915, ca ra bộ Bùi Kiệm – Nguyệt Nga của tác giả Trương Duy Toản, lần đầu tiên xuất hiện tại Phong Điền (Cần Thơ) rất được ưa thích. Sau đó Trương Duy Toản dựng lên vở hát Lục Vân Tiên (vở cải lương đầu tiên trên sân khấu Thầy Năm Tú – Mĩ Tho năm 1971(3)).

Cùng lúc đó, tại Thốt Nốt (nay thuộc thành phố Cần Thơ, từ một nhóm tài tử ở làng Trung Nhất (thị trấn Thốt Nốt) đờn hát rất hay, có năng khiếu biểu diễn (ca ra bộ) được nhiều người mến mộ, như: Trần Ngọc Đảnh, Tư Bền, Song Hỉ… Trong đó có Huỳnh Năng Nhiêu (kép Bảy Nhiêu) là một trong số những ngôi sao cải lương góp phần cùng Ba Vân, Năm Châu, Tư Trang, Phùng Hà… đưa nghệ thuật sân khẩu cải lương từ buổi non trẻ vào thời kì hưng thịnh.

Từ đó, ông Vương Có (trưởng nam của ông Vương Thiệu, chủ hãng rượu) thích văn nghệ, ca hát tài tử, bỏ tiền ra mua sắm y trang, vẽ cảnh trí, mua nhạc cụ, lập đoàn hát cải lương “Tập ích ban”. Vở diễn đầu tiên ra mắt khán giá tại rạp (thị trấn Thốt Nốt) là “Tình duyên phấn lục” (năm 1916). Tiếp theo hai kịch bản “Cô gái gia huê” (Javet) và “Tình duyên trắc trở” của soạn giả kiêm thầy tuồng Nguyễn Trọng Quyền, bút danh Mộc Quán(4).

Những năm tiếp theo các ban hát lớn tiếp tục ra đời như: Trần Đắc (1930), Hữu Thành, Phước Cương… Ban ca kịch Dân Nam và ban Đồng Tâm đều ở Cần Thơ.

Riêng đại ban Trần Đắc của ông Trần Đắc Nghĩa ở Cân Thơ, thu hút hầu hết đào kép có tên tuổi như: Phùng Há, Tư Chơi, Bảy Nhiêu, Năm Châu… nên biểu diễn được khán giả hoan nghênh, đi trình diễn từ Nam chí Bắc(5).

(1) Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diêm – Mạc Đường: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
(2) Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, t.II, tr.73.
(3) Trương Bỉnh Tông: Đôi nét về lịch sử văn học nghệ thuật Tây Nam Bộ, năm 1913.
(4) Soạn giả Mộc Quán (Nguyễn Trọng Quyền), sinh năm 1876, tại Trung Nhất (Thốt Nốt), làm thư kí hãng rượu của ông Vương Thiệu (cha của Vương Cổ) có Tây Học, Hán Học, ông viết truyện và làm thơ.
Ông sáng tác gần 80 kịch bản cải lương cho các đại ban như: Tập ích ban, Huỳnh Kì, Phụng Hỏa, Tân Tân… Phần lớn kịch bản này được thâu vào đĩa hát. Có vở đã trở thành mẫu mực (cổ điển), dùng để dạy ở các trường nghệ thuật Trung ương, như: Phụng Nghi Đình (1939), Những vai mẫu trong Phụng Nghi Đình đã gắn liền tên tuổi các nghệ sĩ lừng danh của sân khấu cải lương gần ngót một thế kỉ qua, như Phùng Há, út Trà Ôn, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Ngọc Giàu…
(5) Ngô Hồng Khanh: Văn hóa nghệ thuật tỉnh Cần Thơ (Huỳnh Minh: Cần Thơ xưa và nay, Cánh Bằng, 1966). 

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=24971.5;wap2

TRẦN QUANG HẢI : MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ NHẠC CỔ TRUYỀN


MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ NHẠC CỔ TRUYỀN 
07-08-2011, 10:30 AM


Nhạc cổ truyền đối với chúng ta là một loại nhạc xưa được truyền tụng cho tới ngày nay. Tân nhạc là loại nhạc mới. Mới ở đây là nghĩa gì? Có phải là loại nhạc soạn theo nhạc ngữ Âu Mỹ, hay nói một cách khác, là các bài nhạc được soạn trong khoảng 80 năm nay (từ năm 1930) theo kiểu Tây phương nghĩa là có hòa âm, dùng các nốt nhạc như Do-Re-Mi-Fa-Sol-La-Si-Do mà không dùng Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Líu như trước thời Pháp thuộc?

Có những bài ca như Vọng cổ, Tứ Đại Oán, và rất nhiều bài bản được sáng tác cho hát cải lương miền Nam có phải là cổ nhạc hay tân nhạc, vì các bài này được sáng tác từ khoảng đầu thế kỷ thứ 20 trở đi? Vấn đề “Cổ” và “Tân ” hoàn toàn tương đối tùy theo quan niệm, nhận xét của người nghiên cứu.

Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử âm nhạc thế giới, thì giai đoạn âm nhạc cận đại của nhạc ngữ Tây phương bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó, ranh giới định rõ cổ và tân nhạc rất là lu mờ.

Để tránh mọi ngộ nhận phức tạp, chúng ta tạm gọi như sau. “Cổ nhạc” là loại nhạc được lưu truyền từ ngàn xưa đến nay theo phương pháp truyền khẩu, dính liền vào đời sống hàng ngày của người dân quê hay thị thành hoàn toàn tiêm nhiễm văn hóa Đông Phương. “Tân nhạc” dùng để chỉ loại nhạc được các nhạc khí Tây Phương trình bày như nhạc phòng trà, nhạc được sáng tác theo phương pháp Tây Phương.

Trở về nhạc cổ truyền Việt Nam, phần đông người Việt thường lầm lẫn giữa “Vọng cổ”, “Cải lương”, và “Cổ nhạc”. Chúng tôi thường nghe người mình nói với nhau khi đi xem đại nhạc hội do các hội tổ chức cho người Việt tỵ nạn xem : “Chà! kỳ này hát toàn tân nhạc không, còn cổ nhạc sao không thấy đâu hết !”, mặc dù trong chương trình buổi đó có nhiều tiết mục dân ca, hát bội, vv … Đa số người Việt tỵ nạn chỉ biết có “Vọng cổ” mà thôi và chỉ thích nghe một bài Vọng cổ, chứ ngoài ra không để ý đến những bài khác dùng trong hát cải lương. Những người đặt tuồng lại không thấu triệt vốn liếng cổ nhạc nên số bài bản được sử dụng trong các tuồng cải lương ngày nay ở hải ngoại rất bị giới hạn, và số nghệ sĩ cải lương chỉ ráng học 6 câu xuống cho thật mùi là ăn tiền, chứ không cần học hỏi thêm bài bản như các nghệ sĩ tiền bối của giai đoạn 1940.

Với mục đích trình bày cùng độc giả một kho tàng phong phú của nền cổ nhạc Việt Nam, và một số vốn đáng kể về bài bản trong hát cải lương, cũng như sự hình thành về sự phát triển của bài ca Vọng cổ, chúng tôi tạm chia bài tiểu luận này làm ba phần: Vọng cổ là gì? – Cải lương là gì? – Cổ nhạc là gì?

VỌNG CỔ LÀ GÌ?

Ai sáng tác bài “Vọng cổ”? Theo đa số các nhà nghiên cứu Việt Nam, ông Sáu Lầu (tên thật là Cao Văn Lầu), người gốc gác tỉnh Bạc Liêu, nhân nghe trống điểm văng vẳng từ một chòi canh gần thôn xóm nhà, thấy tâm hồn xúc động mà nẩy ra ý nhạc viết thành bài “Dạ Cổ Hoài Lang” (nghĩa là nghe trống canh khuya nhớ chồng). Ông Sáu Lầu, sau khi chung sống với vợ 8 năm mà không có một mụn con, ba má của ông mới bắt ông phải kiếm một người vợ khác để hy vọng có con nối dõi tông đường. Vào nă m 1920 ông Sáu Lầu mới dùng cây đờn cò để sáng tác bài “Hoài Lang” (nhớ tới người yêu của mình”. Sau đó ông Sáu Lầu mới đờn bài này cho ông Tần Xuân Thơ (gọi là Thống, thầy tuồng của gánh Tân Minh Kế ở Bạc Liêu) nghe. Chính ông Tần Xuân Thơ viết lời cho bài “Hoài Lang” được sửa lại là “Dạ Cổ hoài lang”, nhịp hai. Khi hát cải lương thành hình trong thập niên 20, bài “Dạ Cổ hoài lang” được các ông thầy tuồng đưa vào các vở cải lương và dần dần thay thế bản Tứ đại oán.

Chuyện gia đình của ông Sáu Lầu được thu xếp ổn thỏa. Vợ chồng ông Sáu Lầu được yên bề và sau đó hai người sanh được mấy mụn con. Ông Tần Xuân Thơ mới đề nghị cùng ông Sáu Lầu đổi tên bài lại thành “Vọng cổ” (tức nhớ chuyện dĩ vãng).

Khoảng năm 1925-27, bài “Dạ Cổ hoài lang” được phổ biến rộng rãi trong giới cải lương. Nhịp hai không đủ chỗ để viết lời cho nên bài “Vọng cổ” được tăng lên thành nhịp 4. Bài “Tiếng nhạn kêu sương” của ông Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) có thể là bài đầu tiên viết theo bản “Dạ Cổ hoài lang nhịp tư”.

Thầy Giác là người khởi xướng bài “Dạ Cổ hoài lang nhịp 8 ” vào khoảng nă m 1929-1930. Nhưng phải đợi tới năm 1935-37 nghệ sĩ Năm Nghĩa chính thức phổ biến trong giới yêu cải lương qua bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa”.

Bài “Vọng cổ nhịp 16″ được chính thức thành hình vào năm 1938 qua tiếng đờn của nhạc sĩ Bảy Hàm với tiếng hát của cô Tư Sạng trong bài “Tình Mẫu Tử”. Nhưng phải đợi vài năm sau (sau thế chiế n thứ 2) với tiếng hát điêu luyện của nghệ sĩ Út Trà Ôn trong bài “Tôn Tẩn Giả Điên”, bài “Vọng cổ nhịp 16″ mới được phổ biến rộng rãi hơn.

Từ năm 1954 trở đi, bản “Vọng cổ nhịp 32″ xuất hiện qua các dĩa há t do các hãng dĩa Asia, Hồng Hoa, Lam Sơn, Hoành Sơn xuất bản. Bài “Đội Gạo Đường Xa” của Kiên Giang do nghệ sĩ Hữu Phước hát được kể là tiêu biểu nhứt.

Từ năm 1964, soạn giả Viễn Châu mới đưa tân nhạc vào tạo thành loại hát “tân cổ giao duyên”. Cách đưa tân nhạc vô bài Vọng cổ bắt buộc phải rút ngắn bản Vọng cổ làm bài Vọng cổ 6 câu còn lại 4 câu thôi.

Về sau có người đưa bài Vọng cổ lên thành Vọng cổ nhịp 64 và Vọng cổ nhịp 128 nhưng không thành công. Cho nên tới hôm nay, sau hơn 50 năm bản Vọng cổ nhịp 32 vẫn còn “ăn khách” và được phổ biến mạnh mẽ.

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, chưa bao giờ chúng ta được thấy một bài nhạc biến chuyển và phổ biến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam và trong lòng của đại đa số người Việt trong cũng như ngoài nước. Tuy là một bài buồn nghe muốn “đứt ruột, nhức xương “, làm cho người xa nhà, nhớ quê hương, mà cũng có thể làm cho người lính hy sinh tánh mạng nơi chiến trường để giữ vững bờ cõi, hay nung nấu lòng nhớ nước thương nòi của người di tản hiện nay. Thường thì bài buồn dùng âm điệu buồn, bài vui dùng âm điệu vui như chúng ta biết trong cách sử dụng viết nhạc. Đây là một trường hợp ngoại lệ, mà nếu có dịp, tôi sẽ phân tích tường tận hơn.

Vọng cổ chỉ là một bài trong phần nhạc cải lương. Biết hát vọng cổ chưa có thể nói là biết hát cổ nhạc, biết hát cải lương. Hát vọng cổ theo loại nhạc thính phòng hay loại nhạc “xa-long” (tiếng Pháp là “Salon”) hoàn toàn khác với hát vọng cổ trong cải lương. Người hát vọng cổ theo loại nhạc thính phòng cố gắng hát cho thật hay trong cách ngân nga, luồng giọng cho ngọt, nhịp nhàng cho chắc. Người đệm đàn cho bài vọng cổ trong loại nhạc thính phòng chỉ cần giữ nhịp cho chắc, và có thể nhấn vuốt tùy theo tài nghệ của người đánh đờn. Hát vọng cổ trong cải lương có khi chỉ hát hai câu, 4 câu, hoặc 5 câu, ít khi hát 6 câu từ đầu đến cuối. Sự khác biệt giữa hai cách hát rất quan trọng. Có người chỉ biết hát hoặc hoặc đờn vọng cổ cho loại nhạc thính phòng mà không thể hát hay đờn vọng cổ cho hát cải lương.


CẢI LƯƠNG LÀ GÌ?

Ngày nay chúng ta ai ai cũng ghiền nghe và coi hát cải lương, vì cải lương, sau trên 80 năm xuất hiện, hình thành và phát triển ở miền Nam trước và trên toàn lãnh thổ sau đó, phản ảnh đời sống hàng ngày của chúng ta, nói lên những gì mà chúng ta không thể nói được.
Nhà khảo cổ và nghiên cứu hát bội và hát cải lương Vương Hồng Sển, trong quyển “Hồi ký 50 năm mê hát: 50 năm cải lương”, tủ sách Nam Chi, do Phạm Quang Khai, cơ sở xuất bản năm 1968, Saigon, không chắc chắn ngày khai sanh của bộ môn hát mới này. Ở Saigon, có tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập hát cải lương vào năm 1966, nghĩa là hát cải lương được mở mắt chào đời vào năm 1916. Vì không có tài liệu viết trên giấy trắng mực đen, nên không thể khẳng định ngày giờ chắc chắn của sự xuất hiện của cải lương.

Theo sự hiểu biết của tôi, hát cải lương đầu tiên được xuất hiện dưới hình thức ca tài tử tại tư gia khoảng năm 1915. Các tài tử còn ca các bài cũ kiểu “độc thoại ” và chưa có ra bộ tịch gì hết. Lúc đó đã có thấy xuất bản một quyển “Bản đờn tranh và bài ca” do Phụng Hoàng Sang soạn, và Đinh Thái Sơn xuất bản, Saigon, in lần thứ ba, năm 1907. Như thế có đoán là lần in thứ nhất có thể vào khoảng 1900. Qua quyển này chúng ta được biết vào thời đó, giới cầm ca hát đờn những bài sau đây : “Lưu Thủy Trường”, “Phú Lục”, “Bình Bán chấn”, “Xuân Tình”, “Bình Bán Vắn”, ” Bát Man Tấn Cống”, “Tứ Đại”, Phụng Hoàng”, “Nam Xuân”, “Nam Ai”, “Tứ Đại Cảnh”. Có người cho rằng ông thầy Ký Trần Quang Quờn đã sáng tác bài “Tứ Đại Oán” và “Văn Thiên Tường”. Điều chắc chắn là ông Trần Quang Quờn đã sáng chế nhiều cây đờn như cây đại ba tiêu, tiểu ba tiêu, cây song thương mà ngày nay không thấy được phổ biến. Có thể nói đây là giai đoạn tượng hình thai nghén của hát cải lương.

Bắt đầu năm 1916, loại ca đối thoại xuất hiện, nhiều người hát chung, và gọi đó là “Ca ra bộ”. Bài hát điển hình nhất là bài “Tứ đại oán ” (Bùi Kiện thi rớt ) phát khởi từ Vũng Liêm (Vĩnh Long) tại nhà thầy Phó Mười Hai. Tại Vĩnh Long, chúng ta có thể nghĩ là nơi phát xuất của hát “ca ra bộ”, giai đoạn phôi thai của hát cải lương. Ngoài ông Phó Mười Hai, mỹ danh Tống Hữu Định, ông Trần Quang Quờn, ông Phạm Đăng Đàng là một danh cầm đất Vãng là những người đóng góp đắc lực cho sự hình thành của hát cải lương sau này.

Phải đợi tới gần dứt thế chiến thứ nhứt, dưới chế độ toàn quyền Albert Sarrault, dân được chính phủ bảo hộ nới rộng cho phép lập hội hè hát dân ca nên một số chủ bút thân hào phú hộ tụ tập nhau lại (Huyện Của, Bùi Quang Chiêu, Đốc Phủ Bảy, Hồ Văn Trung, Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng, vv …) bèn chia nhau các vai tuồng, và lên sân khấu lần đầu, hát quyên tiền giúp Pháp chống Đức. Do sự cải tân từ nghệ thuật hát bội, mới nẩy sinh ra danh từ “Hát bộ” nghĩa là hát ra bộ qua vở tuồng “Gia Long tẩu quốc, Pháp Việt nhứt gia” diễn tại nhà Hát Tây Saigon ngày 16 tháng 11, 1918.

Từ đó, ở miền Nam bắt đầu mọc lên như nấm các nhóm ca ra bộ, rồi cải lương như ở Vĩnh Long có thầy Phó Mười Hai Tống Hữu Định, ở Sa Đéc có gánh xiệc pha ca ra bộ rồi cải lương của André Thận, ở Sóc Trăng có gánh hát của thầy thuốc Trần Văn Minh, ở Mỹ Tho có gánh của Thầy Nă m Tú, ở Chợ Lớn có gánh thầy Mười Vui, ở Saigon có gánh Tân Thinh, ở Long Xuyên có gánh Tập Ích Ban (của Vương Văn Có), vv …

Suy đi nghĩ lại, điểm mà ai cũng đồng ý là hát cải lương bắt nguồn từ hát bội. Lúc ban sơ, các tuồng hát đều dựa theo tuồng cổ của hát bội như “Trảm Trịnh Ân”, “Ngưu Cao tảo mộ”, “Thoại Khanh Châu Tuấn”. Ở hát bội, câu ca không cần bị gò bó theo nhạc đàn, tuy rằng căn bản phải gìn giữ đúng với âm điệu, do đó diễn viên được tự do sáng tạo, được phát huy sở trường, câu hát cao hay thấp, mau hay chậm, ngân nga hay kéo dài không bị giới hạn, chỉ cần phải hòa với nhạc đàn ở những nhịp chánh là được. Còn trong cải lương, câu ca phải đúng với điệu đàn, phải hợp với giai điệu và tiết tấu. Để tránh những cử chỉ tượng trưng quá nhiều và hát hay thét lớn cùng những tuồng tích xưa, hát cải lương với những bài ca mùi mẫn, với những tranh dàn cảnh huy hoàng, với những tuồng gần với xã hội Việt Nam, với lời văn đơn giản của ngôn ngữ thường ngày, với những động tác tự nhiên đã đổi mới nghệ thuật diễn xuất, nhạc điệu. Về âm nhạc thì bỏ những lối hát nam, hát khách, bỏ luôn lối xướng, bạch, hướng, tán, chỉ giữ và phát triển thêm lối nói lối cho thật mùi hợp với tiếng đờn tài tử. Số vốn ca nhạc của sân khấu cải lương ngày từ buổi đầu cũng đã rất phong phú. Về điệu “Lý “, có “Lý Ngựa Ô”, “Lý Con Sáo “, “Lý Giao Duyên “, “Lý Ngựa Ô Nam”, “Lý Thập Tình “, “Lý Chuồn Chuồn”. Về ngâm thì có ngâm Sa Mạc, Bồng Mạc, Ngâm Sổng, hoặc lối ngâm mới trong cải lương áp dụng theo dây Oán . Có ba bài Nam : “Nam Xuân”, “Nam Ai ” và “Nam Đảo”, bốn bài oán như “Tứ Đại Oán”, “Phụng Hoàng”, “Giang Nam”, “Phụng Cầu “, và bốn bài oán phụ như “Văn Thiên Tường”, “Bình Sa Lạc Nhạn “, “Bộc Thủy Ly Tao”, và “Thanh Dạ Đề Quyên”. Ngoài ra những cảnh vui thì có 5 bản vui và ngắn như “Bình Bán Vắn “, “Tây Thi Vắn”, “Khổng Minh Tọa Lầu”, “Mẫu Tầm Tử”, “Long Hổ Hội”. Sáu bài Bắc lớn như “Lưu Thủy Trường”, “Phú Lục”, “Bình Bán chấn”, “Xuân Tình”, “Tây Thi”, “Cổ Bản”. Bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ như “Xàng Xê”, “Ngũ Đối Thượng”, “Ngũ Đối Hạ”, “Long Đăng “, “Long Ngâm “, “Vạn Giá “, “Tiểu Khúc “. Đó là chưa kể 8 bài ngắn khác dùng trong nhiều trường hợp vui buồn khác nhau như “Ái Tử Kê “, “Chiêu Quân”, “Trường Tương Tư”, “Đường Thái Tôn “, “Bát Man Tấn Cống”, “Duyên Kỳ ngộ”, “Ngự Giá “, “Kim Tiền Bản”, và sau cùng là 10 Liên Hoàn (Phẩm Tuyết, Nguyên Tiêu, Hồ Quảng, Liên Hoàn, Bình Nguyên, Tây Mai, Kim Tiền, Xuân Phong, Long Hổ, Tẫu Mã).

Giai đoạn tiên khởi của cải lương bắt đầu bằng gánh hát của thầy André Thận vào năm 1917. Đến năm 1918, gánh André Thận rã, thầy Nă m Tú ở Mỹ Tho mới gom góp các tài tử của André Thận lập nên gánh Thầy Năm Tú, sắm thêm y phục, tranh cảnh, và có Trương Duy Toản là thày soạn tuồng đàng hoàng.

Lúc đầu là phụ diễn trước khi chiếu phim hát bóng. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván gõ, và mặc quốc phục chỉnh tề, vừa ca vừa ra bộ. Thầy Năm Tú có công trong việc đưa nhạc cải lương đến với mọi tầng lớp người Việt trên toàn cõi xứ Việt Nam qua các dĩa hát 78 vòng mà những người từ bát tuần trở lên đều nhớ mỗi khi nghe dĩa hát bát đầu bằng câu “Đây là bạn hát cải lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho, hát cho dĩa Pathé Phono nghe chơi”.

Từ đó trở đi, các gánh đua nhau mọc lên như nấm. Nào gánh Tập Ích Ban, gánh Tân Thinh Ban, gánh Văn Hý Ban, gánh Võ Hý Ban, gánh Phước Cương, gánh Trần Đắc, gánh Huỳnh Kỳ, gánh Phụng Hảo, vv … đã tạo cho sân khấu cải lương một nền móng vững chắc. Những tài tử cải lương gạo cội tiền bối người còn người mất (hiện nay chỉ còn có bà Phùng Há ở Saigon) như các bà Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nam, Hai Nhỏ, Ba Út, Năm Sa Đéc, Thanh Tùng, Kim Thoa, và các nam nghệ sĩ như Từ Anh, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Năm Nghĩa, Tám Danh, Ba Du, vv… đã đưa nghệ thuật diễn xuất cải lương từ chỗ sơ khai đến chỗ toàn hảo.

Từ năm 1938 đến năm 1945, nhóm Kim Thoa của Tư Chơi và gánh Kim Chung tìm cách pha nhạc Tây vào câu ca bài bản cổ Việt.

Đến giai đoạn hồi cư (1946-47), hát cải lương xuất hiện trở lại và chỉ đem tuồng cũ ra diễn lại mà thôi.

Từ năm 1950 trở về sau, cải lương lại pha thêm đấu kiếm, đánh võ, đánh chưởng, vừa ca vừa hát giọng Tàu (Hồ Quãng), giọng Âu Mỹ, rồi lại sinh ra loại tân cổ giao duyên.

Tuồng tích cải lương được phân chia ra nhiều loại : tuồng tàu, tuồng dã sử, tuồng chiến (gánh hát của Bảy Cao), tuồng La Mã, Phù tang, tuồng xã hội, tuồng chưởng, tuồng hồ quãng, vv…

Giai đoạn 50-60, những nghệ sĩ hữu hạng và thượng thặng mà đa số chúng ta đều biết tiếng như là Út Trà Ôn (từ trần năm 2001), Thành Được (hiện sống ở San Jose, Hoa Kỳ), Thanh Tú (hiện ở Saigon, Việt Nam), Hùng Cường (từ trần ở California, Hoa Kỳ), Dũng Thanh Lâm (từ trần ở California, Hoa Kỳ), vv … về phía nam, và Út Bạch Lan (hiện sống ở Saigon), Thanh Nga (từ trần), Bạch Tuyết (hiện sống ở Saigon), Ngọc Giàu (Saigon), Thanh Thanh Hoa (Saigon), Ngọc Nuôi (từ trần ở Hoa Kỳ), Kim Chưởng (Saigon), vv … về phía nữ.

Một số hề nổi tiếng như Ba Vân (từ trần), Sáu Đước (gánh Tân Đồng Ban, từ trần), Tư Rọm (gánh Việt Hùng Minh Chí, từ trần), Hề Trường, Hề Tỵ (gánh Tân Hí, Mộng Vân, Phát Thanh), Lê Tám (gánh Hoa Sen), Hề Phúc Lai, Hề Tư Vững, Hề Giác, Hề Minh, Hề Hai Vinh,vv …là những người đã đem sức đem hơi ra chọc được tiếng cười dòn tan của khán giả. Tất cả các danh hề kể trên đã sang bên kia thế giới.

Từ năm 1970 trở đi, các nghệ sĩ trẻ như Minh Phụng, Minh Cảnh, Tấn Tài, Chí Tâm (hiện sống ở Hoa Kỳ), Vương Kiệt, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Hương Lan (sống ở Hoa kỳ), Phượng Liên (hiện sống ở Hoa kỳ) vv … nối tiếp con đường đã vạch sẵn của các bậc tiền bối.

Tại miền Nam trước 1975 có trên 50 gánh hát lưu diễn quanh năm. Ngày nay số gánh hát vẫn tương đương và tiếp tục phát triển nghệ thuật cải lương ở Việt Nam, trong khi ở hải ngoại ngành cải lương không còn thu hút khán giả nữa, và các nghệ sĩ cải lương tỵ nạn đã phải tìm một nghề khác để mưu sinh.

CỔ NHẠC LÀ GÌ?

Cổ nhạc, nói chung, bao gồm nhiều loại nhạc khác nhau: nhạc cung đình, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng (hát bội, chèo, cải lương), nhạc dân gian từ bài hát ru con, các loại đối ca, đến loại hò đưa linh. Nói một cách khác, cổ nhạc là nhạc của người dân Việt từ thời lập quốc đến giai đoạn hiện đại do người Việt sáng tác theo truyền thống truyền khẩu. Trong phạm vi bài này, tôi tạm gác một bên các loại nhạc đồng bào thiểu số vì không thể kê khai nhạc của 54 sắc tộc sống trên xứ Việt như người Thái, Mông, Mường, Mán, Thổ, Tày, Dao, Ra-đê, Ba-na, Mnong, Sê Đăng, Ê Đê, Chàm, vv…

Nhạc cung đình được Lương Đăng phỏng theo nhạc cung đình nhà Minh bên Trung quốc vào thế kỷ thứ 15. Đến thời nhà Nguyễn (1802-1945), nhạc cung đình gồm các loại : Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ Tự nhạc, Đại Triều nhạc, Thường Triều nhạc, Cứu Nhựt nguyệt giao trùng nhạc, cung trung chi nhạc, Yến nhạc, văn nhạc, võ nhạc do nhiều dàn nhạc như đại nhạc, tiểu nhạc với số nhạc công rất đông. Đó là chưa kể một số điệu vũ như văn vũ, võ vũ, tứ linh vũ, hoa đăng vũ, bát man tấn cống vũ, vv …

Nhạc tôn giáo gồm có nhạc Khổng giáo bây giờ không còn nữa (chỉ còn nghe tại Đài Loan và Đại Hàn mà thôi ), nhạc Phật Giáo rất phong phú với các điệu niệm, tán, tụng đầy nhạc tính, nhạc Cao Đài đặc biệt miền Nam trên điệu Nam (Nam Xuân, Nam Ai, Oán), và tất cả các loại nhạc dính liền với các tế lễ như chầu văn, hầu văn, rỗi bóng, lên đồng, nhạc đám ma. Nhạc thính phòng (tạm gọi là thính phòng theo nghĩa Tây phương), là một bộ môn rất được ưa chuộng tại Việt Nam. Có ba loại nhạc thính phòng đặc thù của ba miền : miền Bắc có “Hát Ả Đào”, miền Trung có “Ca Huế “, và miền Nam có “Đàn Tài Tử “. Hát ả đào còn gọi là “Ca Trù “, “Hát Cô Đầu” không còn được thịnh hành tại miền Bắc vì không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại mặc dù đã được chấn hưng từ 20 năm nay. ” Ca Huế “, với các bài Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, 10 bài ngự vẫn còn được ưa thích. “Đàn Tài Tử ” được bành trướng mạnh mẽ tại miền Nam với các đại hội liên hoan được tổ chức tại các tỉnh miền Nam (Tân An, Mỹ Tho, Bạc Liêu). Chính “Đàn Tài Tử ” đã đóng góp rất nhiều cho sự hình thành nhạc hát cải lương.

Nhạc dân gian Việt Nam rất giàu. Miền Bắc có biết bao nhiêu dân ca đã làm sống lại những nét đẹp của phong cảnh, của phong tục nghìn xưa như loại hát quan họ Bắc Ninh với phong tục kết bạn, ngủ bọn (liền anh, liền chị), hát thi hát lấy giải; rồi hát trống quân, hát giậm, hát phường vải, hát ví, hát xoan, cò lả, hội sim. Ngoài ra còn có hát xẩm. Miền Trung có hò sông Mã, hò mái nhì, mái đẩy, mái sấp, hò hụi, hò nện, các điệu lý như lý mười thương, lý con sáo, lý giao duyên. Trong Nam những điệu hò thay đổi từng miền, từng vùng như Hò Đồng Tháp, hò Bạc Liêu, hò Bến Tre, hò lơ, hay các điệu lý như Lý Ngựa Ô, lý chuồn chuồn, lý con khỉ đột, lý dĩa bánh bò, lý che hường, vv … Hầu hết các điệu lý, hò, đối ca đều dựa trên thể thơ lục bát rất đặc biệt Việt Nam. Dân ca Việt Nam, nhờ vào những cuộc hát thi lấy giải và óc sáng tạo nhạy bén mà ngày nay có trên mấy ngàn bài được phổ biến khắp nơi.

Tôi hy vọng rằng, qua bài tiểu luận này, quý bạn đọc sẽ có một khái niệm đại cương về thế nào là “Vọng cổ”, thế nào là “Cải lương”, thế nào là “Cổ nhạc”. Biết được nguồn gốc nhạc Việt là một điều cần thiết nhứt cho kiến thức văn hóa của mỗi người trong chúng ta lúc phải bị lìa xa quê hương. Hiểu được nhạc mình, biết qua nhạc người, dung hòa hai nền nhạc Âu và Việt để đừng bị mất gốc mất rể và có thể dạy dỗ con cháu thuộc thế hệ sau. Tự hào nhạc Việt, cũng như tự hào tiếng nói Việt, văn hóa Việt là nung nấu chí khí quật cường bất khuất của dân tộc Việt, là nuôi dưỡng tình yêu quê hương, tình thương dân tộc để xứng đáng là con cháu dòng dõi Lạc Hồng.

(theo TS Trần Quang Hải)

Nguồn: http://nguoimientay.info/diendan/showthread.php?t=5074#ixzz2cRhdwyS5