TRAN QUANG HAI Intensive Overtone Singing Workshop, 3-8 september 2013, Pontedera, ITALY


Per il calendario completo clicca qui.
Il canto armonico, detto anche canto difonico, diplofonico e triplofonico, ed in inglese overtone singing, è una tecnica nella quale il cantante sfrutta le risonanze che si creano nel tratto vocale (tra le corde vocali e la bocca) per far risaltare gli armonici presenti nella voce. In questo modo una singola voce può produrre simultaneamente due o più suoni distinti.
Khoomei o il canto di gola è il nome usato in Tuva e in Mongolia per descrivere diversi stili di canto e tecniche in cui un solo cantante produce contemporaneamente due (o più) toni distinti; il più basso è il tono fondamentale della voce e suona come un ronzio costante simile al timbro della cornamusa scozzese, il secondo corrisponde ad una delle parziali armoniche ed è come un fischio che risuona a tonalità molto elevate.
spazio NU – via Firenze  42/A – 56025 Pontedera (PI) 
0587 54 634 – 329 09 08 119- 349 13 71 631

http://www.spazionu.com/?p=790

Nhạc sư VĨNH BẢO : Chút góp ý Nhân đọc bài viết của cô Minh-An:


Chút góp ý Nhân đọc bài viết của cô Minh-Anh:
———————————————–
 
Danh từ TÀI TỬ đúng nghĩa Tự Điển là “NGƯỜI CÓ TÀI”.
dich sang tiếng Pháp là “AMATEUR”.
 
Tiếng Pháp: Nhạc Tài Tử  “Musique des Amateurs”.
“Amateur”  phiên âm ra Tiếng Viêt là:  “a-ma-tơ”.
 
Trong dân gian hiểu danh từ “A-MA-TƠ” là nhắm vào việc làm do thích mà làm, không phải “chuyên môn” (“professionnel”). 
 
Nhạc Tài Tử dịch sang tiếng Pháp là;  “Musique de Divertissement”.
 
Dân gian, vì chân thấy loại nhạc nầy phần đông do những người “không chuyên” đàn, nên gọi là “Nhạc Tài Tử”, do đó thành danh là “Nhạc Tài Tử”. 
 
Người chơi đàn “không chuyên” là người học đàn không có trường lớp hẳn hòi, học qua sự hướng dẫn của bạn bè rồi tự phát, việc chơi đàn do thích, không làm nghề, không ăn tiền.  Nhưng thực tế có cho thấy thỉnh thoảng trong Nhạc Tài tử vẫn có vài tay đàn học có Thầy hẳn hòi, đàn rất điêu luyện.   
Khác với ngày xưa, ngày nay Nhạc Tài Tử phần đông là đàn phải có thù lao. 
Vĩnh Bảo, 20 tháng 8, 2013

NGUYỄN LÊ TUYÊN & NGUYỄN ĐỨC HIỆP : NGHIÊN CỨU & PHÊ BÌNH về bài ký âm của ông Julien Tiersot


NGHIÊN CỨU VÀ PHÊ BÌNH

Nguyễn Lê-Tuyên – Nguyễn Đức Hiệp

Lời giới thiệu

 

Chúng tôi nhận được bài phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong Thử “giải mã” câu chuyện “Vũ khúc Đông dương”, do nhà nhạc học Trần Quang Hải gửi đến.  Chúng tôi nhận thấy có lẽ GS Phong đã không đọc hoặc bỏ qua các chi tiết trong bài viết nghiên cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đã đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Phát triển số 1 và số 2 năm 2013.  Trong bài viết phản hồi này, chúng tôi phải trình bày lại bài viết nghiên cứu, việc phát hiện sự kiện Cleo de Merode múa với ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ thế giới Paris 1900 và việc bổ túc bản ký âm Vũ khúc Đông dương do nhà nhạc học người Pháp Julien Tiersot ghi lại.  

 

 

SỰ THẬT và HỌC THUẬT 

 

Đầu tiên, chúng tôi nhận thấy trái lại với lời tuyên bố của chính ông trong việc đi tìm “sự thật” và tranh luận “học thuật”, GS Phong có lẽ đã không tham khảo kiểm chứng trước khi trả lời phỏng vấn.  Bài viết nghiên cứu  Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 của Tạp chí Nghiên cứu Phát triển cũng được đăng lại trên rất nhiều trang mạng khác như : Diễn Đàn (Pháp), Đờn ca tài tử, Văn chương Việt, Nam kỳ lục tỉnh, Cổ nhạc Việt Nam, vv.  Bài nghiên cứu có từ tháng 1 năm 2013, nhưng lại không tạo ra sự “báo động”,  “choáng ngợp đến độ sửng sốt” cho GS Phong.  Nói chung, bài phỏng vấn của ông dựa theo chi tiết của phương tiện thông tin đại chúng, không tham khảo trích dẫn từ bài nghiên cứu mà lại phê bình về “học thuật” của chúng tôi.  Đây là một điều phản khoa học và rất khó hiểu !

NGHIÊM TÚC, TRÁCH NHIỆM VÀ TÔN TRỌNG

 

Chúng tôi có bài nghiên cứu nghiêm túc từ trước với nhiều tư liệu bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, việc gán ép chúng tôi “trợ lực” và “mượn danh” là không hợp lý và không nên.  Thông tin về bản ký âm Vũ khúc Đông dương được đăng trên nhiều cơ quan truyền thông khác nhau, trong đó có việc chúng tôi đã thông báo cho một số chuyên gia trước khi công bố báo chí. Vấn đề bài báo Vietnam News là một sự hiểu lầm ngoài ý muốn.  Phóng viên đã có thư khẳng định với những cá nhân có liên hệ rằng chúng tôi và cả Vietnam News không hề có mục đích như GS Phong đã nêu ra.  Bài báo cũng được chỉnh sửa lập tức.  Đây là thái độ có trách nhiệm của chúng tôi và Ban biên tập của Vietnam News.  Chúng ta đang sống ở thế kỷ 21, mọi sự thật đều được đưa ra ánh sáng.  Không biết tại sao GS đưa ra cách suy diễn về “trợ lực” và “mượn danh” vào bài phỏng vấn có tính cách học thuật?  Nếu cố ý để gây ra thiệt hại danh dự người khác là một thái độ phản khoa học, thiếu tôn trọng và phải có trách nhiệm chỉnh sửa.

 

GS Phong có nhắc đến việc Nguyễn Lê Tuyên là một “nhạc sỹ guitar Rock”.  Chúng tôi cũng không biết GS đưa vào tranh luận học thuật với mục đích gì ?  Dù sao, điều này cũng chứng tỏ GS đã không kiểm chứng thông tin.  Lê Tuyên là giảng viên âm nhạc chính quy, đã từng giữ chức vụ Uỷ viên Ban Sáng tạo Nghệ thuật và Phó Giám đốc Nghệ thuật của Liên hoan Âm nhạc Gillawarna của Bộ Giáo dục New South Wales Australia.  Lê Tuyên hiện nay là Teaching Fellow của Đại học Quốc gia Úc. Nguyễn Đức Hiệp là nhà khoa học Bộ Môi trường New South Wales và đã có nhiều bài nghiên cứu về khoa học và văn hoá Việt Nam.  Chúng tôi đến với âm nhạc cổ truyền Việt Nam bằng một niềm say mê, nghiêm túc và trân trọng.  Chúng tôi giữ tôn trọng và yêu cầu GS cũng có thái độ nghiêm túc và tôn trọng !      

“SỰ QUA LOA VÀ MÙ MỜ VỀ KIẾN THỨC TOÀN DIỆN CỦA PARIS EXPOSITION UNIVERSELLE”?

GS Phong đã cho rằng chúng tôi “chưa đọc”, “không biết”, “cũng không biết”, “qua loa và mù mờ về kiến thức toàn diện của các sự kiện Exposition Universelle”.  Rất khó hiểu GS dựa vào đâu để nói như vậy.  Những phát biểu này của GS Phong là sai sự thật, có lẽ vì không tìm hiểu bài nghiên cứu của chúng tôi.   Sự thật là chúng tôi đã trích dẫn rất nhiều tài liệu về Exposition 1889, 1900, 1906, vv, trong bài nghiên cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 !  Chúng tôi đã trình bày một số đoạn ký âm nhạc Hát bội của Tiersot tại Hội chợ Thế giới Paris năm 1889 ;  cùng với việc nhạc sỹ Debussy thưởng lãm và sử dụng nhạc Hát bội Việt Nam trong một số sáng tác cho Piano.   Đây là vài thí dụ trích từ bài nghiên cứu :  

  1. “…Debussy và một số nhạc sĩ, nhà phê bình, ký giả, đã so sánh tuồng Roi de Duong với vở opera Ring des Nibelungen của Wagner và nhạc hát bội chói tai với tiếng trống kinh hoàng với nhạc Wagner, hay là Esclarmonde của Massenet trong thời điểm lúc đó đã và đang diễn ở Pháp. ”

 

  1. “Tiersot đã ký âm các giai điệu của đàn gáo mà Debussy đã thưởng thức tại buổi trình diễn…

 

 

Hình 1: Giai điệu đàn Cò

  1. “…Michael Schmitz đã minh họa những ảnh hưởng của nhạc Hát Bội trong tác phẩm Pour les Quatres viết cho đàn Piano.  Sự đối thoại tiết tấu giữa tay phải và tay trái trong tác phẩm này tương tự như phong cách song tấu của nhạc cụ Việt Nam mà Debussy đã nghe tại Exposition 1889…”

 

  1. “Schmitz cho rằng sự thay đổi đột ngột về âm sắc và tốc độ âm nhạc để thể hiện các yếu tố tình tiết thay đổi trong Hát Bội cũng đã được Debussy sử dụng ngay trong phần đầu tác phẩm. Tiết tấu của trống và giai điệu của Đàn Gáo được giới thiệu vào khoảng khuôn nhịp 20-57. Schmitz tin rằng Debussy cũng có cảm hứng từ các bộ điệu của Hát Bội khi sáng tác tác phẩm này..”

 

CLEO DE MERODE VÀ BAN NHẠC VIỆT NAM TẠI HỘI CHỢ PARIS 1900

 

 

Hình 2: Cảnh cô Cléo de Mérode nhảy vũ điệu Cam Bốt dựa theo câu truyện truyền thuyết ‘Chiếc nhẫn kỳ diệu theo tiếng ca và nhạc tài tử ở Nhà hát Đông Dương.   (Nguồn : Le Panorama, nouvelle série, n° 20. RV-936986)

Nếu không có bằng chứng, chúng tôi sẽ rất tán thành “việc gán ép múa Cao Miên với nhạc Việt là không có cơ sở” ; cũng sẽ có sự suy luận giống như của GS Phong rằng hình chụp chung trên sân khấu “có thể hiểu là phô trương tất cả nghệ sĩ Đông dương tham gia Hội chợ”.  Tuy nhiên, chúng tôi đã có bằng chứng để công bố việc Cleo de Merode múa với ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ Thế giới Paris 1900 trong bài nghiên cứu từ tháng 1 năm 2013.  Chúng tôi xin trích lại từ bài nghiên cứu :

 

  1. Nhà báo và nhà phê bình nghệ thuật, ông Arthur Pougin, đã đến Théâtre Indochinois (Nhà hát Đông Dương) ở Trocadéro trong khuôn viên của Hội chợ thế giới Paris 1900 để xem một xuất trình diễn và ông đã mô tả như sau:[1] 

 

Cléo de Mérodemặc dầu cô ta đẹp, cô ta chỉ là một người An Nam nhuộm giả tạo, một người An Nam hàng lậu, mà sự kỳ lạ ngoại lai chỉ có thể cho một ảo tưởng tương đối…Sáu thiếu nữ và mười thanh niên vào và yên lặng ngồi xuống đất, đối mặt với khán giả, làm thành hai hàng, hàng đầu là các thiếu nữ, và thanh niên ở hàng sau. Tất cả đều có dụng cụ âm nhạc, mà tất cả họ vừa chơi vừa hát, hợp thành một bản hòa tấu.”

 

  1. Maurice Talmeyr đã viết chi tiết hơn về ban nhạc tài tử trong buổi trình diễn ở Nhà Hát Đông Dương:[2]

 

“…Ánh sáng đèn điện phủ khắp đoàn vũ công, những đồ trang sức vàng mạ, những đồ sơn mài, đồ trang trí, những gương mắt đánh sáp mơ ảo của các nhạc công ngồi xổm, với âm nhạc nhè nhẹ, lanh lảnh, và hơi nhôn nhốt chua, vang âm, lên, cuồn cuộn theo điệu múa, cuộn lẫn nhau như một họa tiết Joli (vignette Joli), có một chút tính chất trẻ con. Toàn bộ tập hợp này rất dễ chịu. Nhưng minh tinh Cam Bốt nào mà tôi thấy nhảy múa trước mắt tôi trong cảnh trí Đông Dương này?… Cô Cléo de Mérode!

 

  1. Báo Sân khấu Nghệ thuật Le Monde Artiste ngày 14/10/1900 cho biết như sau:

 

     “Ở nhà hát Đông Dương – Do đoàn hát người An Nam ở Nhà hát Đông Dương là đoàn duy nhất không muốn rời Hội chợ trước khi bế mạc, đó hiển nhiên tại vì đoàn thu hút khán giả nhiều nhất. Đúng thật là ở nhà hát này và với âm nhạc lanh lảnh của ban nhạc này, cô Cléo de Mérode đã nhảy theo tiếng nhạc qua các bước chân của cô một cách chậm rãi mơ mộng”[3]

 

  1. Với tư cách là một nhà nhạc học, Tiersot đã không nhắc gì đến cô Cleo de Merode, có lẽ vì điều này đã được nhắc đến ở rất nhiều nơi khác.  Tuy nhiên, Tiersot đã ghi chép về sự kết hợp giữa nhạc cụ, giọng ca và điệu múa : (phần này trích Đờn ca tài tử tại Hội chợ Thế giới Paris 1900 của Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp, sẽ đăng vào tháng 10)

 

Các nhạc cụ này cùng nhau đệm cho điệu múa một cách đồng nhất, mà vẫn giữ sự độc lập của từng nhạc cụ.

 

…Các nhạc cụ đàn dây bè trầm gẩy tách tiếng đi theo giọng ca để tạo ra một Chủ âm thay phiên với một Át âm cùng một tiết tấu với bè trên; phần trên này; nó được trình tấu bởi các nhạc cụ trong trẻo, đặc biệt là đàn Cò (violon 2 dây) mà âm thanh có phần chua chát, nhưng lại rất sắc sảo, đã cho tiếng hát một sự rung cảm rất đặc biệt. Cuối vũ điệu, tiếng của các cô hòa chung để tăng gấp đôi giọng ca…[4]

Tóm lại, chúng tôi có bằng chứng bằng hình ảnh, tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau để công bố phát hiện cô minh tinh Cleo de Merode đã múa trên tiếng nhạc của ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ 1900.  Thật ra còn rất nhiều tài liệu khác nhắc đến sự kiện này nhưng chúng tôi thấy không cần thiết phải bàn thêm.  Xin nhắc lại, bài nghiên cứu này đã được đăng từ tháng 1 năm 2013, nhưng lại không tạo ra sự “choáng ngợp đến độ sửng sốt”  cho GS Phong.

BAN NHẠC VIỆT NAM Ở PARIS EXPOSITION 1900 LÀ BAN NHẠC GÌ ?

 

GS Phong đã cho rằng tại Hội chợ Triển lãm 1900, “théâtre (ở đây phải hiểu là “hát bội”) là điểm nổi trội hơn hết.”  Chúng tôi đã nêu ra trong bài nghiên cứu rằng ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ Paris 1889 đúng là trình diễn Hát bội.  Nhưng tại Hội chợ Paris 1900 có phải cũng trình diễn Hát bội?  (Ở đây, chúng tôi mạn phép chú thích cho độc giả rằng théâtre có nghĩa là sân khấu, nhưng cũng có nghĩa là nhà hát).  Tiersot đã nêu lên sự khác biệt ở Théâtre Annamite (Nhà hát An Nam) năm 1889 và ở Théâtre Indochinois năm 1900 (Nhà hát Đông duơng) như sau:  

 

  1. Sự khác biệt về biên chế của giàn nhạc ở Nhà hát Đông duơng đã được Tiersot mô tả rất chi tiết, ngay cả cách phát âm tiếng Việt cũng được ghi chép cẩn thận  đàn ; Teou (Tiêu); Tranh; Kìm; Houyen (Huyền, Độc huyền cầm, đàn Bầu) :

 

“Nhưng tại đây tôi cũng còn thấy một cây đàn còn khác lạ lý thú hơn nữa. Đó là một nhạc cụ gồm có một thanh rung mà âm thanh thay đổi độ cao tùy theo ấn vào  mạnh hay nhẹ [người dịch : đàn Bầu]…Các nhạc cụ khác của đoàn Hát này, ngoài những đàn violon 2 dây (tên là đàn Cò trong ngôn ngữ của bản xứ), có thêm Sáo (Teou) với các nhạc cụ Bộ đàn dây. Nhạc cụ nầy tương tự như đàn Koto của Nhật bản (dây đàn căng trên thân đàn và lên dây theo điệu âm giai Ngũ cung) được gọi là đàn Tranh (nên nhận xét là cây đàn này rất phổ biến ở vùng Viễn đông, nhưng ở các nước khác có tên khác nhau: chúng ta biết ở Trung Quốc có 2 loại đàn này có tên khác nhau Kín và Chế do sự khác biệt về kích thước. Hai đàn dây khác thuộc bộ Luth, một cái to (Kìm), một cái nhỏ (Tan); còn có đàn harpe một dây (Houyen) [5] (tất cả chữ in đậm là của chúng tôi)

 

  1. Biên chế này cũng được Maurice Talmeyr khẳng định:

 

“…người chơi đàn tranh, hay đàn guitare mười sáu dây, một người chơi đàn kim (kìm), hay đàn guitare bốn dây (xưa là 4 dây, ngày nay đàn kìm chỉ có 2 dây), một người chơi đàn co (cò), hay đàn violon hai dây, hai người chơi đàn doc [n.d: độc huyền cầm/ đàn bầu] hay violon một dây, một người thổi tieu (tiêu) hay sáo, một người chơi đàn ty [người dịch: tỳ bà] hay guitare chơi với móng tay, một người chơi liou (?) hay đàn violon có vĩ dài (grand archet), một người chơi đàn tam (tam) hay mandoline chơi bằng cách bấm ở đầu một phím lõm (corne)” [6]

 

 

  1. Tiersot đã ghi là ấn tượng đầu tiên của ông về Hát bội năm 1889 :

 

…với tiếng la khóc khủng khiếp, kèm theo một âm thanh địa ngục của trống và nồi niêu rạn nứt. Những tiếng động này là gì?… Nhà hát An Nam !   [7]

 

 

 

 

  1. Khác với ấn tượng về Hát bội, Tiersot cho rằng nhạc cụ bộ gõ tại Nhà hát Đông dương năm 1900 là nhẹ nhàng hơn :

 

“…đây là nhóm nhạc cụ it ồn ào và âm thanh nhẹ nhàng hơn là các loại trống ghê gớm của Nhà hát An Nam

 

  1. Thêm vào đó, kỹ thuật hòa tấu và phong cách diễn tấu ngẫu hứng đã được ông Viang trình bày cho Tiersot như sau :

 

Các nhạc cụ này cùng nhau đệm cho điệu múa một cách đồng nhất, mà vẫn giữ sự độc lập của từng nhạc cụ…Các nhạc sĩ của tôi không biểu diễn hoàn toàn giống nhau, miễn là trong tổng thể, mọi người bắt đầu cùng một lúc và ngừng lại chổ chuyển hòa âm, tất cả hoàn hảo, trong khi người nhạc sĩ biến tấu giai điệu tự do theo ý họ. Như vậy trong cách hòa tấu chung vẫn có những ngẫu hứng cá nhân;…Cũng nên thêm vào là các nhạc cụ không chơi cùng một lúc mà theo thứ tư vai trò. ” (phần này trích Đờn ca tài tử tại Hội chợ Thế giới Paris 1900 của Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp, sẽ đăng vào tháng 10)

Tiersot đã ghi lại : Trưởng đoàn, Ông Viang và các nhạc công, từ Saigon đến….  Để tìm hiểu về ban nhạc Việt Nam tại Nhà hát Đông dương năm 1900, chúng tôi đã nhìn lại bối cảnh lịch sử và sự phát triển âm nhạc cổ truyền ở Nam bộ.   Vương Hồng Sển ghi trong Hồi ký 50 năm mê hát là vào thế kỷ 19 tại các điểm Nam kỳ không có dàn đờn cổ nhạc Việt, chỉ có dàn nhạc Lễ.[8]    Theo TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm thì Dàn nhạc Lễ gồm hai nhóm nhạc gọi là Phe Văn và Phe Võ, Phe Văn gồm những nhạc cụ dây kéo vào trống lễ …Và, đã dần hình thành một dàn đờn không chỉ dành trong lễ bái trong những dịp quan – hôn – tang tế mà còn chơi trong nhiều dịp khác, đó là  ‘nhóm nhạc đờn cây’.  Nhóm nhạc đờn cây này có thể đã bỏ bớt bộ trống nhạc (của dàn nhạc Lễ), thêm vào những nhạc khí dây gẩy khác như đàn kìm (nguyệt), đàn tranh, ống tiêu….[9]  

 

Cũng theo TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm : Đó là khoảng ba thập niên cuối của thế kỷ XIX…những nhóm ‘nhạc đờn cây’ càng lúc càng được ưa chuộng… đã lan tràn, trở thành phổ biển khắp Nam bộ và được những người trong giới gọi là Đờn – ca Tài tử”.  Với sự miêu tả của Tiersot về sự khác biệt ở Nhà hát An Nam 1889 và Nhà hát Đông duơng 1900, cùng với các ghi chép của Pougin va Talmeyr;  cộng vào bối cảnh lịch sử và phát triển âm nhạc ở Nam bộ theo Vương Hồng Sển và TS Nguyễn thị Mỹ Liêm, chúng tôi thấy “phải hiểu théâtre là Hát bội” không thuyết phục.  Chúng tôi đã suy luận đây không thể là ban nhạc Hát bội, nhưng rất phù hợp với sự hình thành của ban nhạc Tài tử ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

BẢN KÝ ÂM CỦA JULIEN TIERSOT

 

 

 

Hình 2: Bản Nhạc tài tử “Danse de L’Indo-chine” (Vũ điệu Đông dương) của Julien Tiersot ký âm (Nguồn : Julien Tersot.  Notes d’Ethnographie Musicale.  Paris: Libraire Fischbachee, 1905)

Chúng tôi phải nhấn mạnh về trọng tâm nghiên cứu là đưa ra một cái nhìn tổng quan về ban nhạc Tài tử trình diễn với Cleo de Merode tại Hội chợ Thế giới 1900. Bản ký âm Vũ khúc Đông duơng của nhà nhạc học Julien Tiersot là hệ quả và sự bổ xung tài liệu để tìm hiểu ban nhạc Tài tử Việt Nam đã trình diễn ra sao.  Tiersot đã ghi lại theo ông Viang, trưởng đoàn nhạc Tài tử: “…giai điệu của bản này là nền tảng cho bài bản âm nhạc ở Nhà hát Đông dương”.  Do đó, bản ký âm có thể cho thấy những giai điệu được ban nhạc Tài tử Việt Nam trình diễn tại Hội chợ 1900.  Trong bài Đờn ca tài tử ở Hội chợ Thế giới Paris 1900 (đã gửi từ tháng 5), chúng tôi có trình bày về bối cảnh lịch sử của Hội chợ ; về sắc lệnh của Toàn quyền Đông dương Paul Doumer, việc xây dựng Nhà hát Đông dương ở Paris; sự quan tâm đến Nhạc Tài tử Việt Nam của các nhà nghiên cứu và dư luận ở Pháp cũng như khán giả quốc tế tham dự Hội chợ Thế giới Paris 1900 ; các ghi chép của Tiersot về buổi gặp gỡ với ông Viang cùng với bản ký âm để độc giả có cái nhìn tổng quan về sự kiện.

 

Theo TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm, các sách về nhạc Tài tử được in đầu tiên ở Việt Nam là năm 1907.[10] Nếu xét về niên đại, bản ký âm Vũ khúc Đông dương là sớm hơn hai năm.  Nhưng nếu xét về ký âm Phương Tây thì sớm hơn nhiều.  Chúng tôi không hề cho rằng Vũ khúc Đông duơng là bài Tài tử cổ nhất, chỉ là bản ký âm Phương Tây cổ nhất, được xuất bản năm 1905,  phát hiện vào thời điểm tháng 4 năm 2013.  Chúng tôi ngạc nhiên về suy luận cho đây là bản Tài tử cổ nhất.  Nếu bàn về học thuật, không thể suy luận bài ký âm cổ nhất là bản nhạc Tài tử cổ nhất.  Thí dụ, không thể cho rằng các bài bản trong sách Bản đờn tranh của Phụng Hoàng San xuất bản năm 1907 là xưa hơn các bài bản trong sách Lục tài tử in năm 1911, chỉ là được in trước hoặc sau.  Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng đã thấy tài liệu của bà Judith Gautier in năm 1900 nhưng không có đủ bằng chứng để suy luận nên đã không đưa vào bài viết nghiên cứu.  Chúng tôi mong GS sẽ viết bài nghiên cứu về bản ký âm Gautier.

 

Nhà nhạc học Tiersot tốt nghiệp và giảng dạy ở Conservatoire de Paris.  Ông không chỉ ký âm nhạc Việt Nam mà đã ghi lại nhạc Nhật bản, Trung Quốc, vv.  Công trình của ông về Nhạc dân gian Pháp đã được giải Prix Brodin năm 1845. Bản ký âm của ông còn thô sơ, có rất nhiều thiếu xót sai lac, không thể phản ảnh chính xác bài bản của nhạc Tài tử.  Tuy vậy, tài liệu này cho thấy một số vết tích về nhạc Tài tử và phương pháp ký âm của một nhà nhạc học Tây Phương đầu thế kỷ 20.  Trong bài nghiên cứu, chúng tôi có đặt giả thuyết rằng bản này có thể chứa đựng nhiều giai điệu khác nhau vì Tiersot sử dụng rất nhiều nhóm vạch nhịp kép (||).  Trong đó có thể có những giai điệu đã bị thất truyền.  Đây cũng có thể là một bản sáng tác hay dàn dựng chỉ để phục vụ cho buổi trình diễn tại Nhà hát Đông dương. 

 

Nhận định chuyên môn chính xác như là có bài bản gì, điệu gì, hơi gì, kỹ thuật tô điểm âm thanh ra sao, vv,  đương nhiên phải được xác định từ các học giả và nghệ nhân có kinh nghiệm thâm niên và học thuật uyên bác về nhạc Tài tử.  Chúng tôi đã gửi thông báo cho một số nhà nhạc học về sự phát hiện này từ trước cũng vì mục đích đó.  Tuy nhiên, nhận định của họ là sự lựa chọn và chuyên môn của từng cá nhân, không ảnh hưởng đến việc phát hiện bản ký âm.  Nguyễn Lê Tuyên đã cộng tác với nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền để viết bài nghiên cứu Bản ký âm Nhạc tài tử của Tiersot năm 1900 ở Tạp chỉ Âm nhạc của Viện Âm nhạc.  Ông Hiền đã sử dụng phát hiện nầy để chuyển ký âm Phương Tây ra chử Đàn.  Ông cũng đưa ra một số nhận định cá nhân về bản ký âm này.  Chúng ta nên có thái độ tôn trọng với ý kiến chuyên môn của từng cá nhân.

‘’NHÀ NGHIÊN CỨU ĐÚNG NGHĨA’’   

 

Sự tự giác trong nghiên cứu và phê bình phải được thể hiện bằng hành động. Với nhiều bằng chứng, chúng tôi đã và tiếp tục trình bày nghiên cứu trên một tạp chí có đăng ký ISSN để tất cả các học giả Việt Nam và thế giới có thể kiểm chứng.   Đây là vấn đề chính danh và nghiêm túc.  Chúng tôi làm việc mạch lạc và có trình tự rõ ràng.  Nghiên cứu nào cũng có thể có thiếu xót, sơ hở hoặc ngay cả sai lầm.  Chúng tôi cũng không ngọai lệ, có thể được đồng ý, bị phê bình, hay thậm chí bị bác bỏ.  Tuy nhiên, ý kiến trái chiều cũng phải tự giác nghiêm túc với việc tham khảo kiểm chứng, và nên đưa ra những ý kiến xây dựng để làm sáng tỏ vấn đề.  Không nên phê bình chỉ bằng phát biểu tuyên bố với báo chí mà nên phản ảnh bằng bài viết nghiêm túc trước.  Đây là con đường đi tìm sự thật, rất chông gai nhưng đầy thú vị.  Hội đồng Đạo đức Nghiên cứu Nhân văn ở Mỹ và Úc sẽ nghĩ sao về những lời phê bình sai lệch, mà lý do là không tham khảo kiểm chứng, hoặc chỉ dựa vào thông tin của đại chúng ? Thêm vào đó, Hội đồng sẽ nghĩ sao về những điều không liên quan đến học thuật lại được đưa vào bài tranh luận học thuật?

KẾT LUẬN

 

Với hình ảnh và tư liệu, chúng tôi đã công bố phát hiện Cleo de Merode trình diễn với ban Nhạc tài tử ở Hội chợ Thế giới Paris 1900 trong bài Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.  Sau đó, chúng tôi tiếp tục đưa ra một cái nhìn tổng quan hơn về sự kiện này trong bài Đờn ca tài tử tại Hội chợ Thế giới Paris 1900; trong đó chúng tôi bổ xung nhiều tài liệu, có bài Vũ khúc Đông dương do Tiersot ghi chép những giai điệu được ban nhạc Tài tử Việt Nam trình diễn tại Hội chợ 1900.  Đây không phải là bài Tài tử cổ nhất, mà là bản ký âm Phương Tây có niên đại sớm hơn các tài liệu được in ấn trước đây.  Sự phát hiện này vào thời điểm tháng 4 năm 2013.

 

Chúng tôi hy vọng bài viết này đã làm sáng tỏ mọi việc.  Chúng tôi giữ tôn trọng và chỉ tập trung vào vấn đề học thuật.  Tuy nhiên chúng tôi đã phải nêu ra một số điểm không phù hợp và không nên đề cập đến trong giới học thuật.  Sau bài viết này, chúng tôi mong sẽ chỉ tiếp nhận tranh luận bằng bài viết nghiên cứu nghiêm túc ở một nơi thích hợp hơn.

 

Sydney 8/2013

 

 

 

Tài liệu chú thích

 

  1. Arthur Pougin. Le théâtre à l’Exposition universelle de 1889: notes et descriptions, histoire et souvenirs. Fischbacher, Paris, 1890., pp. 89-99
  2. Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901
  3. Le Monde Artiste.  Illustré. Musique – Théâtre – Beaux-Arts, A40, No.41, 14/10/1900, pp. 647
  4. Julien Tiersot, Notes d’Ethnographie Musicale, Libraire Fischbachee, Paris, 1905.
  5. Julien Tiersot, sách đã dẫn.
  6. Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901
  7. Julien Tiersot, Musiques pittoresques. Promenades musicales à l’exposition de 1889.  Paris: Librairie Fischbacher, 33 rue de Seine, 1889, Paris, 117 p. Bibliothèque nationale de France, Tolbiac, 8- V- 21753 
  8. Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, Năm mươi năm cải lương, Nxb Trẻ, 2007.
  9. Nguyễn, Thị Mỹ Liêm. Góp phần nghiên cứu Đờn ca Tài tử. Hà Nội: Nhà xuất bản âm nhạc, 2011. tr 34.

 

  1. Nguyễn, Thị Mỹ Liêm, sách đã dẫn.

[1] Arthur Pougin. Le théâtre à l’Exposition universelle de 1889: notes et descriptions, histoire et souvenirs. Fischbacher, Paris, 1890., pp. 89-99

[2] Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901

[3] Le Monde Artiste.  Illustré. Musique – Théâtre – Beaux-Arts, A40, No.41, 14/10/1900, pp. 647

[4] Julien Tiersot, Notes d’Ethnographie Musicale, Libraire Fischbachee, Paris, 1905.

[5] Julien Tiersot, sách đã dẫn.

[6] Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901

[7] Julien Tiersot, Musiques pittoresques. Promenades musicales à l’exposition de 1889.  Paris: Librairie Fischbacher, 33 rue de Seine, 1889, Paris, 117 p. Bibliothèque nationale de France, Tolbiac, 8- V- 21753  

[8] Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, Năm mươi năm cải lương, Nxb Trẻ, 2007.

[9] Nguyễn, Thị Mỹ Liêm. Góp phần nghiên cứu Đờn ca Tài tử. Hà Nội: Nhà xuất bản âm nhạc, 2011. Tr 34.

 

[10] Nguyễn, Thị Mỹ Liêm, sách đã dẫn.

DUY NGUYÊN : GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!


GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!

Thứ ba 24/01/2012 06:06

Ở cái tuổi “Cửu thập siêu thọ” (91 tuổi), GS Trần Văn Khê vẫn rất minh mẫn khi kể về Tết cổ truyền của người Nam Bộ. Trong đó, đờn ca tài tử là một phần không thể thiếu và trở thành nét văn hóa vui xuân của người Nam Bộ xưa. Nhân ngày đầu xuân, PV báo điện tử Infonet đã có cuộc trò chuyện với GS Trần Văn Khê về vấn đề này.

GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!

GS bắt đầu gắn bó và nghiên cứu về loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử từ khi nào?

Tôi bắt đầu nghiên cứu về đờn ca tài tử vào năm 1953, nhưng đã tiếp cận từ khi còn trong bụng mẹ. Lúc mẹ tôi mang thai tôi, người cậu ruột mỗi ngày đều thổi sáo cho thai nhi nghe. Từ bé tôi có thể biểu diễn đờn ca tài tử, nhưng khi lớn lên, tôi lại say mê nhạc phương Tây, một thời gian xao lãng âm nhạc dân tộc.

Sau này khi sang Pháp học, có một khoảng thời gian ba năm liền tôi phải nằm điều trị tại nhà dưỡng lao. Đây cũng chính là lúc tôi dành nhiều thời gian để suy nghĩ và chợt giật mình khi thấy mình đang đi sai đường, cần phải trở về với âm nhạc dân tộc. Tôi bắt đầu trở lại luyện tập đờn tranh, đờn kìm, đờn cò và viết thư cho cậu ruột hỏi thăm về đờn ca tài tử.

GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!

Năm 1953, tôi chọn âm nhạc dân tộc làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ, trong đó hiểu biết nhiều nhất là đờn ca tài tử.

Năm 1954, tôi xuất viện và tiếp tục học trường Nhạc học. Từ đây, tôi có được phương pháp nghiên cứu để nghiên cứu sâu sắc hơn và nhiều hơn về đờn ca tài tử, không sai lệch bản chất của âm nhạc đờn ca tài tử.

Năm 1958, tôi bảo vệ luận án tiến sĩ thành công. Trong luận án này, âm nhạc đờn ca tài tử có một vị trí quan trọng vì hiểu rõ những nhạc khí dùng trong đờn ca tài tử, những hơi điệu, biết cách ghi âm…

Đờn ca tài tử có vị trí như thế nào trong ngày Tết Nguyên đán của người Nam Bộ xưa thưa GS?

Đối với gia đình tôi, một gia đình có truyền thống mộ điệu đờn ca tài tử tại Nam Bộ thì mùng hai Tết Nguyên đán là một ngày hết sức quan trọng. Đây được xem là buổi “khai đờn” long trọng, như văn nhân “khai bút” hay nhà nông “khai canh”, chính là một nét đẹp truyền thống mang đậm tính văn hoá dân tộc.

Ngày hôm đó, mọi người trong dòng họ tụ tập tại nhà người cậu thứ Tư, vừa vui Xuân vừa dự buổi hòa nhạc theo phong cách đờn ca tài tử miền Nam. Bà con lối xóm và những người mộ điệu ở khắp nơi cũng đến rất đông để thưởng thức âm nhạc.

Tiếc là ngày nay, do công việc mỗi người mỗi cảnh nên không thể tiếp tục duy trì truyền thống này.

GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!

Chơi ĐCTT trong ngày Tết cổ truyền là một nét văn hóa truyền thống

GS có thể nói thêm về không gian chơi đờn?

Khung cảnh chơi đờn ca tài tử không cần quá long trọng nhưng phải tạo được không khí nhậu chơi, uống rượu, nói chuyện rồi ngồi đờn. Khi đờn, có những lúc cao hứng, nhập điệu, đó là lúc đờn hay nhất. Và không khí uống rượu, tâm tình là “chất xúc tác” tạo cảm hứng cho người chơi.

Nói như vậy để thấy, không phải đờn ca tài tử kêu đờn là đờn được. Mà phải có hứng mới đờn.

Hồ sơ Đờn ca tài tử Nam Bộ đã trình Unesco hồi tháng tư đến nay. Là người tham gia cố vấn cho bộ hồ sơ này, GS có lòng tin như thế nào vào việc đờn ca tài tử Nam Bộ sẽ sớm được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại?

Tôi có lòng tin đối với đờn ca tài tử Nam Bộ, vì trước khi làm hồ sơ, khoảng thời gian bên Pháp, tôi đã “dọn đường” cho bộ hồ sơ này rồi.

Năm 1963, tôi nhờ bà Bá tước De Chambure về Việt Nam phối hợp với GS Nguyễn Hữu Ba ghi âm lại những bản đờn ca tài tử như: Tây Thi, Ngũ đối hạ… do nghệ nhân Sáu Tửng đờn kìm, nghệ sĩ Bạch Huệ ca. Khi giới thiệu với Unesco đĩa hát này, Unesco đã có lời khen ngợi.

Năm 1972, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo dạy học bên Mỹ, có ghé Paris cùng tôi thu âm đĩa hát cho hãng đĩa Ocora (Đài phát thanh Pháp). Người nghe hoan nghênh vô cùng. Unesco hay tin, liên hệ với tôi và mong muốn làm một đĩa mang nhãn hiệu Unesco với đề tài là Musical sources (nguồn gốc âm nhạc) mà chủ đề là nhạc tài tử.

GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!

“Tôi có lòng tin đờn ca tài tử sẽ sớm được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”

Lần này, Unesco phái chuyên gia Hubert de Frayseix sang nhà tôi tại Pháp để thu âm, chụp hình tôi và nhạc sư Vĩnh Bảo biểu diễn. Đĩa hát ngay sau đó được phổ biến khắp nơi. Xem như Unesco đã gián tiếp nhìn nhận rằng đờn ca tài tử là môn nghệ thuật có giá trị văn hóa. Từ trước đến nay, các bộ môn nghệ thuật khác chưa được vậy. Đó là thế mạnh.

Năm 1994, nghệ sĩ Hải Phượng cùng tôi ghi âm đĩa nhạc về đờn ca tài tử và đĩa hát đó đã đạt hai giải thưởng, trong đó có một giải thưởng lớn của những nhà phê bình trẻ tuổi người Đức. Được tờ báo “ Thế giới âm nhạc” (Le monde de la musique) đánh giá là: “Choc” (chấn động) trên cả 4 sao.

Đĩa hát về âm nhạc tài tử do Nhạc sư Vĩnh Bảo và tôi ghi âm từ năm 1972 cũng đã được chuyển ra thành CD năm 1994 và đĩa hát đó theo tạp chí Diapason (Pháp) là đĩa hát về nhạc dân tộc bán chạy nhất năm 1994. Tạp chí này đã quyết định tặng cho đĩa hát danh hiệu Diapason d’or. Như vậy, không chỉ có nhà nghiên cứu quan tâm mà đông đảo quần chúng cũng thích và mua đĩa, cho thấy âm nhạc tài tử có một sức cuốn hút lớn đối với người nghe.

Ngoài ra, bộ hồ sơ khi tiến hành lập, được sự quan tâm của nhà nước, tạo sự chú ý theo dõi của cả nước. Và mỗi người nghệ sĩ tham gia hồ sơ đều sẵn sàng đem những cái hay để giới thiệu với nước ngoài.

Làm thế nào để bảo tồn được loại hình nghệ thuật này, thưa GS?

Trước hết, phải đem âm nhạc vào học đường. Không phải để biến học trò thành nhạc công, nhạc sĩ, ca sĩ mà là cho các em biết đờn ca tài tử là gì, cho các em tiếp cận. Tổ chức những buổi chơi tài tử chứ không phải thi, tạo hào hứng trong các em.

Mà muốn chơi được thì phải sống được trước đã, phải làm sao cho những người thầy giỏi đờn ca tài tử sống được với nghề. Nghệ nhân đờn ca tài tử mà phải đi làm thợ mộc thì còn ai muốn theo nghiệp tài tử.

GS Trần Văn Khê: “Khai đờn” đầu xuân là lễ long trọng!

“Muốn bảo tồn loại hình nghệ thuật ĐCTT thì phải làm cho nghệ nhân sống được với nghề”

Truyền thông đại chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến âm nhạc dân tộc. Phát sóng đờn ca tài tử mà toàn phát những giờ không ai nghe thì làm sao người ta tiếp cận. Còn khi có minh tinh màn bạc nước ngoài sang Việt Nam thì lại đưa lên truyền hình, vé bán 200 – 300.000 đồng, giới trẻ đỗ xô chạy mua đi nghe… Trong khi đó, đờn ca tài tử tổ chức rất cực khổ, không thu vé lại không ai xem.

Việc thay đổi tư duy không phải chỉ một ngày, một buổi hay một người làm được, mà là một câu chuyện dài và cần sự thay đổi của cả nước.

Cảm ơn GS. Chúc GS năm mới nhiều sức khỏe!

Duy Nguyên

Ảnh: Triệu Long

MINH AN : Để nghệ thuật đờn ca tài tử sống mãi


Để nghệ thuật đờn ca tài tử sống mãi
Thứ hai, 20/12/2010, 23:45 (GMT+7)

Với người dân Nam bộ, đờn ca tài tử đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu đời. Từ cội nguồn nhạc lễ và nhạc cung đình Huế, gia sản đờn ca tài tử Nam bộ ngày càng phát triển đồ sộ, phong phú, biểu đạt được tâm lý, tình cảm và đời sống của con người Nam bộ. Khi tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, làm gì để nghệ thuật đờn ca tài tử giữ được bản sắc truyền thống của mình là một câu hỏi lớn. Đây cũng là nội dung của buổi sinh hoạt nghệ thuật, giao lưu do GS-TS Trần Văn Khê tổ chức tại nhà riêng mới đây.

Thương nhớ cội nguồn

Những ai từng sống ở Nam bộ hay có dịp về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát, những dịp cúng tế ở đình, ở miễu, đám cưới, đám hỏi, đám tang hay giỗ chạp, tiệc tùng đều có thể được thưởng thức đờn ca tài tử. Đờn ca tài tử có thể trình diễn ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào; trang phục thường giản dị, bình dân, không câu nệ.

Theo GS-TS Trần Văn Khê, khi vào đến miền Nam, đờn ca tài tử đã thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ để phù hợp nếp sống mới. Đó là tâm sự của những con người tháo vát, sáng tạo tuy đã tìm thấy cuộc sống an lành khi đến vùng đất màu mỡ nhưng lòng luôn thương nhớ cội nguồn.

Chính vì vậy, trong các điệu, hơi, đờn ca tài tử thường phảng phất nỗi buồn. Đặc biệt, những người thích đờn ca tài tử hay cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hòa đàn để người mộ điệu thưởng thức. Người đàn tài tử chính thống hễ vui, ngẫu hứng thì đàn chơi, còn không hứng thì thôi, không ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ.

Cũng có người hiểu lầm chữ “tài tử” ở đây là không chuyên nghiệp. GS-TS Trần Văn Khê cho rằng, tài tử là người có tài và chỉ việc không dùng nghệ thuật của mình làm kế sinh nhai. Tuy nhiên, không phải vì thế mà trình độ của đàn tài tử lại thấp. Để trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện rất công phu.

Nhạc khí chính của đờn ca tài tử là đàn kìm và đàn tranh, đôi khi có ống sáo hay ống tiêu, đặc biệt có song lang (làm bằng hai thanh tre già) để đánh nhịp. Ngoài ra có thể có thêm đờn sến, đờn gáo, đờn bầu, tỳ bà nhưng không thông dụng.

Về sau, đờn ca tài tử có sự góp mặt của các nhạc khí phương Tây như violon,mandoline khoét phím, guitar măng-đô, guitar hạ uy di, guitar Tây Ban Nha được chỉnh lại (còn gọi là guitar phím lõm) nhưng hầu hết đã được điều chỉnh để có thể “nói” trung thực và chính xác ngôn ngữ của âm nhạc truyền thống Việt Nam vốn “nói ít mà ý nghĩa nhiều”…

Khác với ca trù miền Bắc hay ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đàn, trong đờn ca tài tử Nam bộ, dàn nhạc được chú ý hơn tiếng ca. Thường người nghe rất chú trọng vào chữ đàn nhấn có gân, cách sắp chữ duyên dáng, cách xuống câu ngọt ngào, uyển chuyển đến lối đàn bay bướm, đa dạng.

Để nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống sống mãi

Theo nhạc sư Vĩnh Bảo, một buổi đờn ca tài tử thường không theo chương trình sắp sẵn, mà những người đồng điệu gặp nhau, cao hứng muốn đàn bản gì là tất cả cùng hòa đàn. Thế nên tại buổi giao lưu, nhạc sư Vĩnh Bảo nói vui: “Nếu hôm nay tôi đàn hay, phần lớn là nhờ quý vị đó”. Đây cũng chính là nét văn hóa đặc trưng, góp phần làm nên sức sống cho nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ.

Ngoài phần giới thiệu những nét đặc trưng của đờn ca tài tử, nhiều tiết mục biểu diễn minh họa tại buổi giao lưu hết sức sống động.

Giây phút xúc động của hai người bạn tri âm tri kỷ: Nhạc sư Vĩnh Bảo và GS-TS Trần Văn Khê.

Cả nhạc sư Vĩnh Bảo và GS-TS Trần Văn Khê đều tâm tư, trong cuộc sống hối hả, giao lưu văn hóa quốc tế rộng mở, phương tiện giải trí ngày càng phong phú, hiện đại, loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam với bản sắc đặc trưng như đờn ca tài tử dễ bị bỏ quên, nhất là với giới trẻ.

Không khí buổi sinh hoạt như “nóng” lên với phần giao lưu. Không gian nghệ thuật đờn ca tài tử xưa như được tái hiện khi GS-TS Trần Văn Khê ca bài Ngũ đối hạ. Không ngần ngại, sư thầy Thích Phước Cường cũng xung phong ca bài Tây Thi.

Thầy Phước Cường cho biết, từ nhỏ ở Vĩnh Long, thầy thường xuyên nghe cha đờn ca tài tử vào những đêm trăng nên cũng được học đôi chút. Những tiếng vỗ tay lại tiếp tục vỡ òa khi chị Mai Mỹ Duyên góp giọng với 20 câu Nam Xuân…

Cuối buổi giao lưu, GS-TS Trần Văn Khê siết tay nhạc sư Vĩnh Bảo – người anh, người bạn tri âm tri kỷ mà tâm tình: “Tôi rất vui khi có được những người trẻ hiểu và yêu âm nhạc truyền thống như thế. Mong rằng con số này sẽ ngày càng nhiều hơn”.

MINH AN

http://www.sggp.org.vn/amnhac/2010/12/246396/

Q.N.: Mỹ Tâm ngẫu hứng cùng acoustic, VIETNAM


Mỹ Tâm ngẫu hứng cùng acoustic

20/08/2013 10:09 (GMT + 7)
 
 
TT – “Họa mi tóc nâu” Mỹ Tâm (ảnh) sẽ có đêm nhạc riêng theo phong cách “mộc” (acoustic) với chủ đềGửi tình yêu của em diễn ra lúc 20g ngày 24-8 tại khán phòng của Queen Plaza 3 (5 Hồng Hà, P.9, Q.Phú Nhuận, TP.HCM).

Đây là chương trình ngoài dự định trong năm của Mỹ Tâm, nhưng từ sự thành công của album vol.8 Tâm cộng với nhiều lời yêu cầu của khán giả nên Mỹ Tâm đã quyết định tổ chức. 

 

 

“Vì vol.8 Tâm lấy cảm hứng từ những gì rất chân thật trong cuộc sống và được trình bày với một phong cách tươi tắn, mộc mạc ở cả hình thức lẫn nội dung nên đêm nhạc Gửi tình yêu của em sẽ được thực hiện theo phong cách acoustic trong một khán phòng ấm cúng, không gian vừa phải và gần gũi, lãng mạn để phù hợp với “đường lối” của album” – Mỹ Tâm nói. Cô cũng cho biết sẽ thể hiện 20-25 ca khúc được khán giả yêu thích và cả những bài hát được yêu cầu bất kỳ.

Q.N.

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/564630/my-tam-ngau-hung-cung-acoustic.html