QUANG MINH NHẬT : Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa quốc gia


Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa quốc gia

19/01/2013 09:28

Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL Hoàng Tuấn Anh vừa ký quyết định công nhận Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (tạm gọi tắt là Di sản).

Di sản này thuộc các tỉnh thành sau đây: An Giang, Bạc Liêu, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, TP.Hồ Chí Minh, Trà Vinh, Vĩnh Long.

Quang Minh Nhật

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130119/don-ca-tai-tu-nam-bo-la-di-san-van-hoa-quoc-gia.aspx

TS NGUYỄN THỊ MỸ LIÊM : Đờn ca tài tử miền Tây Nam bộ


Xã hội-Nhân văn[ Đăng ngày (22/06/2013) ]
Đờn ca tài tử miền Tây Nam bộ
 
Trước nay, người ta thường có câu mời “về miền Tây nghe đờn ca Tài tử…” mà ít khi nghe ai mời về miền Đông… !!! Tuy nhạc Tài tử không dành riêng cho người miền Tây, nhưng ai cũng nhận thấy ở đây đờn ca Tài tử phát triển mạnh, đậm đà chất Nam Bộ, và đã trở thành một “đặc sản” văn hóa âm nhạc vùng miền. 
Trong khối thống nhất của Văn hóa – âm nhạc Nam Bộ, đờn ca Tài tử của người miền Tây vừa có những nét chung của nghệ thuật đờn ca thính phòng hết sức tài tử – ngẫu hứng vừa có những nét riêng mà ai cũng dễ dàng nhận ra. Đó là những sáng tạo riêng của “phái Tài tử miền Tây” những năm đầu thế kỷ XX, của Vọng cổ Bạc Liêu, của những bài bản mang nhiều đặc điểm riêng về hơi điệu cùng những huyền thoại danh cầm tài tử: Hai Phát, Tư Huyện, Sáu Quý, Năm Cơ…

1. Phong trào đờn ca Tài tử Nam bộ đầu thế kỷ XX, Phái Tài tử miền Đông, Phái Tài tử miền Tây…

Đến đầu thế kỷ XX, phong trào đờn ca Tài tử ở miền Nam đã rất phát triển, đây là thời kỳ xuất hiện nhiều nhạc sĩ, nhạc sư, nhóm đàn Tài tử. Các nhóm Tài tử ở Nam bộ liên kết thành hai khối mà lúc bấy giờ gọi là “Phái Tài tử miền Đông” và “Phái Tài tử miền Tây”. Họ có những hoạt động âm nhạc mang tính ganh đua với nhiều chủ trương khác nhau nhưng đều góp phần làm phát triển nghệ thuật đờn ca Tài tử. Đứng đầu Phái nhạc Tài tử miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại), và thầy Ký Quờn (Trần Quang Hườn hay Quờn) đứng đầu phái Tài tử miền Tây. Cả hai Phái Tài tử đều có những công lớn trong việc cải soạn bài bản tiếp thu từ nhạc vùng ngoài, sáng tác thêm bài bản mới, hoàn thiện phong cách nhạc Tài tử và giảng dạy, đào tạo nhiều học trò, phát triển phong trào đờn ca ở Nam bộ.

Ông Ba Đợi vốn là quan nhạc triều Nguyễn, ông đem âm nhạc vào truyền dạy ở miền Nam, có công cải soạn nhạc Thính phòng Huế thành nhạc Nam Bộ.. được nhạc giới tôn làm hậu tổ của ngành nhạc Lễ, nhạc Tài tử Nam bộ.

Khác với Phái Tài tử miền Đông, ngoài việc thu thập và cải soạn những bài bản nhạc vùng ngoài thành nhạc Tài tử, nhóm còn chủ trương sáng tác thêm những bài bản mới. Những bài bản của Thầy Ký Quờn sáng tác đến nay tuy chỉ còn được biết qua những tên gọi, nhưng chủ yếu được sáng tác dựa trên hơi – điệu của nhạc cổ truyền:

Hiệp điệp xuyên hoa (Những con bướm đâu hút nhụy hoa)

Thanh đình điểm thủy (Chuồn chuồn vờn trên mặt nước)

Kim oanh trịch liễu (Con chim oanh làm cong cành liễu)

Song cưu đối ngữ (Hai con chim cú nói chuyện)

Anh võ năng ngôn (Con vẹt hay nói)

Cơ miêu quắc thử (Mèo vồ chuột)

Tước dược (Chim sẻ nhảy cao)

Cứ hổ bào nhập trọng địa (Hổ báo vào đất dữ)

Tróc mã (Đuổi bắt ngựa)

Đàn tâm (Mở lòng – trái tim)

Đó là những bài bản viết theo điệu Bắc. Ngoài ra, một số bài được viết theo điệu Nam:

Đông hoàng (Mùa đông vàng), viết theo hơi Nam Xuân

Thu thinh (tiếng mùa thu) viết theo hơi Nam Ai

Ông sáng tác hai bài theo điệu Oán: Thừa nhan (Gặp gỡ) và Hàn huyên (Tâm sự). Ngoài ra, ông có hai bài theo hơi Nam và hơi Oán, đến sau này còn được nhiều người nhắc tên, nhưng chữ đàn ra sao thì không ai nhớ. Đó là bài “Tẩu lẫn phi oanh (Chạy theo đom đóm) và bài “Dạ bán chung thinh” (Tiếng chuông nửa đêm). Riêng bài “Dạ bán chung thinh” vẫn bị nhầm lẫn là “Dạ bán chung tình”. Một số nhạc sĩ lão thành còn cho bài này đã gợi ý cho bài Dạ cổ Hoài Lang sau này của nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu).

Thầy Ký Quờn còn là tay sáng kiến, ông không ngừng cải tiến các nhạc khí. Nhiều người còn nhắc đến cầy đàn “Đại ba tiêu”, “Tiểu ban tiêu” được ông sáng chế có dáng dấp như cây quạt “ba tiêu” thần kỳ trong truyện “Tây Du” có khả năng quạt tắt núi lửa. Theo mô tả và vẽ lại theo ký ức của Gs. Trần Văn Khê và nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, cây đàn có hình dáng gần như cây guitare, nhưng thùng đàn có hình cây quạt nói trên. Đàn có 4 dây tơ như các cây đàn dây gẩy cổ truyền.

Thầy Ký Quờn còn chế tác đàn “song thương”, làm bằng hai nửa phần vỏ trái dừa khô, có 2 hoặc 3 dây và đàn bằng cung kéo (đàn song thương có lẽ được cải tiến đàn gáo có hộp cộng hưởng là nửa vỏ gáo dừa khô). Ông còn sáng chế ra đàn “Đại đồng minh”, là loại nhạc khí 3 dây có hộp hưởng hình chữ nhật, diễn tấu bằng cung kéo nhưng không giữa cung vĩ ở giữa các dây như đàn cò (nhị). Các nhạc sư thường so sánh đàn Đại đồng minh với đàn Contrebasse của nhạc phương Tây. Hoặc ông sáng chế đàn Trùng Đồng: cải tiến từ đàn bầu nhưng hộp cộng hưởng lớn hơn và có đến 2 cần, 2 bầu đàn… Nhiều nhạc sư cho rằng ban đầu thầy Ký Quờn muốn cải tiến cây đờn kìm để có thể kêu to hơn, âm vang hơn. Nhưng sau đó là những chế tác nhiều nhạc khí khác nhau… Tuy nhiên, do hình dáng những nhạc khí mà ông chế tác lạ mắt, người đời không quen dùng nền dần dần bị bỏ quên. Và sau này, do chiến tranh cũng như nhiều lý do khác, những nhạc khí, những bài bản của ông đều bị thất lạc… Có thể, cùng trong phái Tài tử miền Tây lúc đó còn nhiều sáng tác, canh cải của nhiều nhạc sĩ khác nữa, nhưng rất tiếc chúng ta còn quá ít tài liệu về họ.

Trong những ganh đua của hai Phái nhạc miền Đông và miền Tây còn được nhạc giới kể đến việc sáng tác hai nhóm bài bản:

– Nhóm bài Tứ Bửu do nhóm tài tử miền Tây sáng tác gồm: Minh hoàng thưởng nguyệt, Ngự giá đăng lâu, Phò mã giao duyên và Ái tử kê.

– Đáp lại, nhóm miền Đông sáng tác nhóm bài Ngũ Châu, gồm: Kim tiền bảng, Ngự giá, Hồ lan, Vạn liên và Song phi hồ điệp.

Sau Thầy Ký Quờn, nhạc giới Tài tử miền Tây có thể còn nhiều người thích sáng tác bài bản, cải tiến nhạc khí… cũng như không thiếu những danh cầm với những ngón đờn thần diệu khác nữa. Họ đã góp phần xây dựng đờn ca Tài tử miền Tây nói riêng và nghệ thuật đờn ca Tài tử Nam bộ nói chung.

2. Những đóng góp cho phong trào đờn ca Tài tử Nam bộ

Đóng góp cho sự hình thành và phát triển phong trào đờn ca Tài tử là một đội ngũ đông đảo các nhạc sư, nhạc sĩ. Họ có thể đã được nhạc giới truyền tụng, tôn vinh… nhưng cũng có những nhạc sư, nhạc sĩ chỉ lưu tên tuổi trong trí nhớ của các thế hệ sau bởi những ngón đàn thần diệu… Có thể kể rất nhiều những người trong số họ, như:

– Nhạc Sanh Khị (Nhạc Khị, Lê Tài Khị) ở Bạc Liêu, ông là người không chỉ giỏi nghề nhạc lễ mà còn là một tay đờn Tài tử lừng danh. Trong nhiều nghiên cứu, Nhạc Khị còn được cho là người mở đầu cho nhóm Tài tử Bạc Liêu với nhiều sáng tạo, đóng góp cho nhạc Tài tử sau này.

– Cao Văn Lầu, người sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang, bài nhạc khởi đầu cho bài Vọng cổ nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu, nhịp 32… Bài Vọng cổ được mệnh danh là bài bản “vua” trong sân khấu Cải Lương nhưng cũng là bài bản đã gợi ý cho bao nhiêu danh cầm sáng tạo hệ thống dây mới, lối đánh mới, chữ đàn lạ … Bài Vọng cổ còn là bài bản đã tạo nên biết bao tên tuổi của những danh cầm như: danh cầm Ba Lích (Long Xuyên), Năm Cơ (Trà Vinh)… Hay các danh ca Cô Hai Đá, Cô Tư Bộn, Ba Nhơn, Tư Bé, nghệ sĩ Năm Nghĩa, Út Trà Ôn… đã vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh.

– Thời gian sau của nghệ thuật đờn ca Tài tử còn được sự đóng góp của nhiều danh cầm miền Tây như Hai Phát (Hồng Tấn Phát, Trà Vinh), Giáo Thinh (Nguyễn Văn Thinh, gốc Sa Đéc, sau lên Sài Gòn), Nguyễn Vĩnh Bảo, Ba Cần, Ba Chột… Họ là những nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn đồng thời là những nhạc sĩ sáng tác, là những người thầy. Họ đã đào tạo nhiều thế hệ học trò tiếp nối con đường nghệ thuật và phát triển đờn ca Tài tử như nag2y nay.

– Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, ở miền Tây còn nổi lên phong trào canh cải, thể nghiệm, đưa nhiều nhạc khí khác nhau vào dàn hòa đàn Tài tử. Đàn đoản, đàn sến, đàn tam… lần lượt được các nhạc sĩ thể nghiệm đưa vào dàn hòa đờn – ca. Khoảng năm 1930, thầy giáo Tiên ở Rạch Giá là người đầu tiên đem đàn mandoline để đàn bản Việt. Mặc dù tiếng đàn của ông trên đàn mandoline rất đơn giản, chưa có nhấn nhá, thêm thắt… Nhưng việc sử dụng đàn mandoline là một gợi ý cho những canh cải tiếp sau đó như: móc lõm phím đàn mandoline và chỉ sử dụng 4 dây đơn để nhấn nhá dễ dàng hơn; sáng chế đàn guita-mando còn gọi là đàn octavina (to hơn mandoline nhưng nhỏ hơn đàn guitare) và cuối cùng là cải tiến, móc lõm phím cây đàn guitare espagnole để có cây đàn guitare phím lõm ngày nay…

– Cùng giai đoạn này nghệ thuật sân khấu Cải lương đã rất phát triển. Nổi lên như một “mốt thời thượng” là sự tiếp thu các kịch bản, nội dung từ điện ảnh hoặc sân khấu hí kịch Nam Trung Hoa do những người Triều Châu (Tiều), Quảng Đông (Quảng) đưa vào miền Nam. Không ít những nhạc sĩ đã chuyển soạn bài bản nhạc phim, nhạc Tiều, nhạc Quảng cho Cải lương. Những bài này cũng được nhạc giới sử dụng đờn ca trong những buổi hòa đờn. Đặc biệt là hàng loạt những bài bản được in trong cuốn “Nhạc Tài tử” do nhóm Tài tử Bạc Liêu soạn lục, ghi chép và xuất bản: Liêu Giang, Mẫu đơn, Thuấn hóa, Lưỡng long tranh châu, Nhựt nguyệt, tam Quan nguyệt, Hòa Duyên, Cảnh xuân, Vạn thọ, Huỳnh ba, Ngũ quan…

Sự chuyển soạn và đờn ca những bài bản này cho gần với âm điệu Việt đã dẫn đến việc sinh ra một loại hơi – điệu mới làm phong phú âm nhạc cổ truyền miền Nam: “Hơi Quảng”. Hơn thế nữa, những lối đàn ca của nhóm nhạc Tài tử Bạc liêu cũng “phảng phất” dâu đó lối rung nhấn của hơi Quảng, sự pha trộn các hơi điệu Quảng và hơi Bắc, hơi Quảng và hơi Nam Đảo… không chỉ trong khi hòa đàn, diễn tấu Tài tử mà còn hiện hữu trong Nhạc Lễ Nam bộ!

3. Đờn ca Tài tử miền Tây, ngẫu hứng và sáng tạo…

Trong diễn tấu nhạc Tài tử, chưa thấy những phân tích, phê bình về “phong cách” nhất là phong cách của một nhóm, “phái” nhạc (như với nhạc Tài tử miền Tây chẳng hạn)… Nhưng mọi người đều có thể có những nhận xét hết sức rõ ràng về tiếng đàn của một cá nhân nhạc sĩ nào đó. Bởi nhạc giới hết sức am hiểu thuộc từng chữ đàn của lòng bản và cách thể hiện của người nhạc sĩ Tài tử phải luôn thêm thắt, thêu thùa, hoa lá… Phong cách của nhạc Tài tử là ngẫu hứng, đờn ca phải luôn sáng tạo. Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo thường nói[1]: “…Mỗi nhạc sĩ mỗi cách tô điểm riêng, do đó, một bản đàn qua rồi đàn trở lại, lần nào cũng không giống lần đàn nào; mỗi lần đàn có mỗi hay ho duyên dáng, sức sống riêng biệt. Chính ở điểm này mà thính giả Việt Nam đánh giá tài ba của nhạc sĩ nào là: ngón đàn tươi mới, đàn mùi, sắp chữ, sắp nhịp hay… mà ít ai tán thưởng tác phẩm…”. Như vậy, nếu đã có ngẫu hứng, có sáng tạo trong diễn tấu thì phong cách của mỗi người nhạc sĩ sẽ thể hiện trong quá trình diễn tấu đó. Tuy vậy, do ít có những bài viết, nghiên cứu về những vấn đề này nên chưa có những hệ thống hóa về phong cách của nhạc sĩ cũng như của nhóm nhạc sĩ…

Tuy nhiên, cũng theo nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, “…phong cách đàn Tài tử rất là quy tắc, đàn phải tròn vành rõ nghĩa, bản nào dây nấy, hòa với nhau phải rõ nhạc khí nào chánh, nhạc khí nào phụ…” và ông nhắc nhở: “muốn thêm thắt thì phải nghĩ đến việc thêm để làm gì, vì ý gì? Đối với đàn các bài “tổ”[2] thì khi thêm thắt phải có ý nghĩa, vừa phải và giữ nét hay, nét chính của bài bản…”

Tuy nhiên, đã không ít lần chúng ta nghe nói đến “Vọng cổ Bạc Liêu”. Đó là lối hát Vọng cổ khác nhau của một số ca sĩ. Chẳng hạn, cô Hai Đá ca bản Vọng cổ nhịp tám với lời “…Gió bấc lạnh lùng, trên con đường ba sinh thấy hoa rụng rời trên mặt đất…” (do Soạn giả Lê Kim Hải viết lời), với kiểu lên giọng đặc biệt (thay vì xuống Xang, lại kên Liu ở cuối câu) ai cũng cho rằng đó là phong cách riêng, là “Vọng cổ Bạc Liêu” !

Mặt khác, nhiều nhạc sĩ đã sáng tạo cách lên dây đàn khác nhau để từ hệ thống dây mới, họ có lối sắp câu nhạc, thêm chữ đàn mới lạ, ngẫu hứng hơn nữa trong diễn tấu. Từ đó, có “dây Đồng Tháp”, “dây Tứ Nguyệt”, “dây Ngân vang”, “dây Bán Ngân vang”…

Tạm kết

Có thể nói, đờn ca Tài tử miền Tây đã có những đóng góp xứng đáng cho nghệ thuật đờn ca Tài tử Nam bộ, và phần nào đó đã thể hiện những nét riêng mà ai cũng dễ dàng nhận thấy:

– Trong sáng tạo bài bản, họ luôn tìm tòi, đưa ra những bài bản mới, luôn cải soạn để làm giàu hệ thống bài bản Tài tử.

– Về nhạc khí, những nhạc sĩ miền Tây luôn đi đầu trong chế tác, cải tiến nhạc khí. Họ là những người giàu sáng kiến, thích tìm tòi, canh cải… nhưng trên hết vẫn là lòng say mê sáng tạo và luôn hướng đến việc kết hợp nghệ thuật dân tộc với những cái mới, tiếp thu những giá trị văn hóa âm nhạc bên ngoài.

– Trong diễn tấu, nhạc sĩ miền Tây luôn là những người có tính cách ngẫu hứng sáng tạo. Rất nhiều danh cầm, danh ca Tài tử đã ghi tên mình trong lịch sử hơn 100 năm hình thành và phát triển của nghệ thuật đờn ca Tài tử. Lịch sử không thể ghi chép hết những tên tuổi và những đóng góp của họ cho phong trào âm nhạc phát triển rộng khắp và có sức mạnh lan tỏa như nhạc Tài tử. Đó cũng là đặc điểm của thể loại, tính chất “tài tử’ vậy. Mặt khác, do giao lưu, tiếp biến với người Hoa vùng lục tỉnh, vừa mang dấu ấn của sự sáng tạo trong điều kiện diễn tấu nghệ thuật diễn xướng, nhạc giới Tài tử miền Tây còn có những sáng tạo riêng.

Đờn ca tài tử miền tây Nam bộ không có những nét riêng biệt, rạch ròi về phòng cách so với đờn ca Tài tử miền Đông hay tách biệt với nghệ thuật đờn ca Tài tử Nam bộ. Họ có những sáng tạo riêng, có những đóng góp hết sức rõ ràng, có một lối ca diễn chân thật, đậm đà… nhưng trên hết, đờn ca Tài tử miền tây Nam bộ vẫn là những thành viên của phong trào đờn ca Tài tử Nam bộ, vẫn thuộc nguồn cội chung của Văn hóa – âm nhạc Nam Bộ – Việt Nam.


[1] NGUYỄN VĨNH BẢO, “Nhạc Tài tử Nam bộ”, bản đánh máy, tài liệu cá nhân, trang 6 và những bài giảng cá nhân.

[2] Ý nhắc khi diễn tấu các bài trong hệ thống “Hai mươi bài Tổ” của nhạc Tài tử Nam bộ.

TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm (Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh)
Theo vanhoahoc.vn (nttung)

http://www.canthostnews.vn/Default.aspx?tabid=233&NDID=29416

GSTS Trần Văn Khê : Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trong Không Gian Văn Hoá Nam Bộ


Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trong Không Gian Văn Hoá Nam Bộ

don ca tai tuĐờn ca tài tử là thể loại nhạc thính phòng đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung.

Theo các bậc thầy trong nghề, Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất phát từ những nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó Ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng.

Vào đến miền Nam, Đờn ca tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới. Những con người tháo vát, đầy sáng tạo tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của Đờn ca tài tử thường thích những điệu có phảng phất nỗi u buồn. Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu thay đổi tùy lúc, tuỳ người.

Có người hiểu lầm rằng chữ “tài tử” có nghĩa là không chuyên nghiệp, mang tính cách giản dị của dân gian và của những người nghiệp dư. Thật ra “tài tử” có nghĩa là người có tài (Dập dìu tài tử giai nhân; Tài tử giai nhân tế ngộ nan). Chữ “tài tử” còn để chỉ việc không dùng nghệ thuật của mình làm kế sinh nhai. Người Đờn ca tài tử khi nào thích thì cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hoà đàn để vui chơi và để cho người mộ điệu thưởng thức. Trước đây cũng như bây giờ, người đàn tài tử “chính thống” hễ vui thì đàn chơi còn không “hứng” thì thôi, khó ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ.

Nhưng không phải vì vậy mà trình độ nghệ thuật của đàn tài tử lại thấp. Muốn trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu, học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và luôn tạo cho mình một phong cách riêng.

Nhạc khí trong Đờn ca tài tử

Nhạc khí chính là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh. Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng thổ pha tiếng kim, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò). Đôi khi có ống sáo ngang hay ống tiêu thổi dọc. Và đặc biệt là song lang (nghĩa là hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp. Ngoài ra còn có các nhạc khí khác như đờn sến, đờn gáo, đờn độc huyền, đờn tỳ bà nhưng ít thông dụng.

Từ khoảng năm 1930 có thêm những nhạc khí phương Tây như violon, mandoline khoét phím, ghi-ta măng-đô, ghi-ta Hạ-uy-di, ghi-ta Tây Ban Nha được chỉnh lại, thường gọi là ghi-ta phím lõm, để có thể “nói” trung thực, chính xác ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Khác với Ca trù miền Bắc hay Ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đàn, trong Đờn ca tài tử dàn nhạc lại được chú ý hơn tiếng ca. Người nghe chú trọng vào chữ đàn nhấn có gân, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề… ngọt ngào uyển chuyển; cách đàn câu thòng, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng. Nhưng tiếng ca cũng không kém phần quan trọng.

Những nét đặc thù của nghệ thuật Đờn ca tài tử

1. Rao: Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu rao theo hơi đó, một mặt dẫn thính giả đi lần vào điệu, vào hơi để nghe bản đàn, đồng thời cũng là lúc nghe thử cây đàn có phím nào lệch hay dây đàn cứng quá hoặc mềm quá không, để lúc biểu diễn tiếng nhạc được hoàn chỉnh hơn.

Khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung luôn có nét nhạc cố định, câu “rao” theo truyền thống miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu người học đàn theo cách của thầy, nhưng khi đạt đến mức nghệ thuật khá cao thì được phép sáng tạo những câu rao của riêng mình.

2. Chữ nhạc: Mỗi chữ nhạc không có cao độ tuyệt đối, chỉ có cao độ tương đối, cũng không có cao độ cố định mà có thể là một chữ đờn ‘non’ hay ‘già’. Nhiều chữ nhạc trong bản đàn được tô điểm bằng cách nhấn nhá, rung, mổ. Bàn tay mặt tạo ra những thanh có cao độ, trường độ, cường độ, màu âm, nhưng đó chỉ mới là cái “xác” của âm nhạc; phải nhờ bàn tay trái rung, nhấn để tạo nên cái “hồn” làm nên giá trị đích thực của nghệ thuật.

3. Những cách tô điểm đặc thù : Thường thì trong các loại nhạc tô điểm là điều không bắt buộc, nhưng trong nhạc tài tử, chính những cách tô điểm đặc thù, nhứt là cách đờn chữ ‘xang’, định rõ được các hơi Bắc, Quảng, Xuân, Ai khác nhau như thế nào.

4. Cấu trúc âm thanh: Đờn ca tài tử có cấu trúc ‘động và mở’ thay vì ‘tịnh mà đóng’ như phương Tây.

5. Phát triển và vận hành giai điệu: Khi hoà đàn, người Đờn ca tài tử không bao giờ lập lại y khuôn lòng bản như thầy đã dạy mà phải dựa theo quan điểm thẩm mỹ học chân phương, đàn hoa lá.

Đặc biệt cách phát triển và vận hành giai điệu trong Đờn ca tài tử tuân theo những nguyên tắc của dịch lý, một triết lý sống trong xã hội người Việt nói riêng và người vùng Đông Á nói chung. Theo đó thì con người và sự vật luôn thay đổi không ngừng, nhưng sự thay đổi đó không làm ta biến dạng vì có những yếu tố bất dịch không thể thay đổi được, nghĩa là có biến dịch mà cũng có bất dịch. Cũng vậy, trong đàn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tuỳ trường phái hay người đàn, nhưng lòng bản không thể thay đổi, do vậy dù cho người đàn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại thì người nghe vẫn nhận ra bản đàn.

Ngoài ra lại còn có giao dịch: khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì phải thay đổi để không đi đến xung đột. Hoà đàn tài tử cũng vậy: nếu tỳ bà hoà với đàn kìm, vì cả hai có màu âm gần giống nhau nên thường thì đàn kìm chơi nhịp nội trong khi tỳ bà đàn nhịp ngoại để có sự hoà hợp.

6. Bài bản: Theo thường Đờn ca tài tử có 20 bài tổ, tuy không phải người Đờn ca tài tử nào cũng thuộc đầy đủ hay khi hoà đàn cũng không bắt buộc phải chơi hết 20 bài, nhưng các nghệ sĩ đều phải biết tên các bài đó bao gồm: 6 bài Bắc, 3 bài Nam, 4 bài Oán và 7 bài lớn (có khi gọi là 7 bài hơi nhạc hoặc 7 bài cò).

Ngoài ra còn có rất nhiều bài bản khác được dùng, trong đó Vọng cổ 32 nhịp là thông dụng nhứt. Trong một chương trình hoà nhạc Đờn ca tài tử lúc nào cũng có bài Vọng cổ.

Đờn ca tài tử theo đúng truyền thống

Một buổi Đờn ca tài tử thường không theo một chương trình sắp sẵn mà những người đồng điệu gặp nhau, cao hứng muốn đàn bản gì thì tất cả cùng hoà với nhau.

Ngày xưa buổi hoà nhạc bắt đầu bằng những bản đàn, bài ca điệu Bắc, hơi Bắc vui tươi; tiếp theo chuyển sang hơi Quảng, hơi Nhạc, hơi Hạ; rồi qua điệu Nam, hơi Xuân, hơi Ai, qua Đảo ngũ cung. Phần cuối bao giờ cũng chuyển qua hơi Oán, Ai Oán và Vọng cổ là những điệu buồn vẫn được người nghe chuộng hơn những bài vui.

CLIP ĐỜN CA TÀI TỬ

GSTS Trần Văn Khê
Nguồn:tranquanghai.info

HẢI MINH : Bảo tồn và phát triển đờn ca tài tử Nam Bộ


Bảo tồn và phát triển đờn ca tài tử Nam Bộ

Nhân dân – 27/06/2013 21:21

Có thể nói, đờn ca tài tử Nam Bộ là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng vùng Nam Bộ. Thế nhưng, cùng với xu hướng phát triển văn hóa, loại hình này có nguy cơ bị mai một, nhất là ở các đô thị lớn, hiện đại như TP Hồ Chí Minh. Việc phát triển và bảo tồn môn nghệ thuật này đang được ngành văn hóa thành phố triển khai, tuy nhiên lại đang vướng nhiều khó khăn từ khâu đào tạo, biểu diễn, sân khấu…

Các câu lạc bộ đờn ca tài tử trên địa bàn TP Hồ Chí Minh là sức sống cho môn nghệ thuật đờn ca tài tử phát triển.
 

Còn thiếu nhiều thứ

Theo một thống kê gần đây của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Hồ Chí Minh, toàn thành phố có khoảng 100 câu lạc bộ, đội, nhóm hoạt động đờn ca tài tử với hơn 1.000 người tham gia sinh hoạt. Ngoài ra, TP Hồ Chí Minh còn có hàng nghìn người đang học tập, rèn luyện tại các câu lạc bộ, đội, nhóm, các lò dạy đờn ca tài tử tại các nhà riêng của thầy nhạc hoặc các nhóm đờn ca tài tử tự phát không thuộc hệ thống đội, nhóm, câu lạc bộ trực thuộc các trung tâm văn hóa. Tuy nhiên, theo đánh giá của nghệ nhân dân gian Hoàng Tấn, số lượng người chơi đờn ca tài tử nhiều nhưng chất lượng chuyên môn tay nghề không cao.

Trong khi số người tham gia chơi đờn ca tài tử khá đông, nhưng số lượng trường đào tạo chính thống về đờn ca tài tử trên địa bàn lại không nhiều. Hiện TP Hồ Chí Minh chỉ có các trường như: Đại học Sân khấu và Điện ảnh, Trường cao đẳng Văn hóa nghệ thuật, Nhạc viện thành phố, Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang đang có chuyên ngành đào tạo. Nhạc sĩ Phan Nhứt Dũng, giảng viên Trường đại học Sân khấu và Điện ảnh TP Hồ Chí Minh cho biết: “Tôi thấy việc phát triển nguồn nhân lực đờn ca tài tử đang đi xuống, thể hiện rõ nhất ở khâu tuyển sinh. Trước đây, mỗi lần tuyển sinh có hàng trăm em dự thi nhưng hiện nay lượng học sinh, sinh viên dự thi ngày càng ít. Bên cạnh đó, có một thực tế là khi ra trường, sinh viên hầu như không có “đất diễn”. Trong mỗi lần thi giải Trần Hữu Trang có khoảng mười em đoạt giải nhưng sau cuộc thi đó cũng chỉ có khoảng ba em có sân khấu để diễn, số còn lại phải chạy khắp nơi để tìm “đất diễn”. Trong khi đó, hiện cả thành phố cũng chỉ có một sân khấu chuyên về cải lương là Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang nhưng nhà hát này cũng đang trong quá trình ngưng diễn chờ xây dựng lại”.

Ở một khía cạnh khác, vấn đề sáng tác lời mới cũng là một rào cản làm cho việc phát triển đờn ca tài tử gặp nhiều khó khăn. Hiện lời mới của các bài ca chưa được sáng tác nhiều, nội dung nói về cuộc sống mới đương đại còn ít, mà theo ông Nguyễn Quang Vinh, Trưởng phòng Văn hóa – Gia đình thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Hồ Chí Minh, là do các nhạc sĩ không am hiểu về nhạc đờn ca tài tử. “Sắp tới, chúng ta cần công nhận việc truyền dạy đờn ca tài tử là một nghề để có những giải pháp đào tạo, truyền nghề phù hợp; đồng thời cũng để bảo tồn và phát triển nghề đờn ca tài tử Nam Bộ. Hơn nữa, trong đào tạo cần tập trung truyền dạy nghề đờn để cân bằng tỷ lệ nghệ nhân đờn và nghệ nhân ca. Bởi nếu trong cuộc chơi đờn ca tài tử mà chỉ toàn người ca mà không có người đờn thì điều gì sẽ xảy ra, tất nhiên là cuộc chơi sẽ không diễn ra nữa”- nghệ nhân dân gian Hoàng Tấn đề nghị.

Cần có giải pháp đồng bộ

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa qua đã đệ trình lên UNESCO công nhận nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện này đã khiến các địa phương, trong đó có TP Hồ Chí Minh tích cực tìm các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển môn nghệ thuật này.

Để góp phần nâng cao chất lượng, số lượng bài ca tài tử có nội dung mới, Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh đã tổ chức Cuộc vận động sáng tác lời ca mới theo điệu 20 bản Tổ, vọng cổ nhạc tài tử, chặp cải lương. Nhạc sĩ Huỳnh Khải, quyền Trưởng khoa nhạc dân tộc thuộc Nhạc viện TP Hồ Chí Minh cho biết, đã chọn ra 12 bài để thu âm và in thành tập sách để lưu hành trong các cuộc sinh hoạt âm nhạc dân tộc. Đây là tiền đề để phát triển loại hình nghệ thuật này theo hướng hiện đại.

“Ngay từ bây giờ, chúng ta nên thực hiện các biện pháp bảo tồn đồng bộ tại từng địa phương. Từng địa phương nên xác định, có định hướng phát triển cụ thể cho từng Câu lạc bộ đờn ca tài tử của địa phương mình. Chỉ khi tập trung đào tạo được một Câu lạc bộ đờn ca tài tử mũi nhọn, đỉnh cao thì khi đó mới có thể xây dựng được âm nhạc đờn ca tài tử có nét văn hóa riêng của từng tỉnh, đồng thời cũng là để bảo tồn, định hướng phát triển môn nghệ thuật. Bên cạnh đó, các phương tiện truyền thông của tỉnh đó cũng phải quảng bá, giới thiệu loại hình này, từ đó mới phát triển đi sâu vào cuộc sống, nhận thức của người dân” – nhạc sĩ Huỳnh Khải đề nghị.

Còn theo nghệ nhân dân gian Hoàng Tấn, muốn bảo tồn và phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử, trước tiên phải quan tâm đến nhân tố con người. Cụ thể là cần có chính sách thỏa đáng về vật chất và tinh thần cho các bậc thầy, nghệ nhân làm công việc truyền dạy đờn ca tài tử, có chính sách tôn vinh, ghi nhận công lao của họ. Thường xuyên có mối liên lạc, liên kết giữa các câu lạc bộ để việc truyền dạy theo một giáo trình thống nhất, tránh “tam sao thất bản” và có kế hoạch tập huấn cho các nghệ nhân làm công việc truyền dạy, nâng cao chất lượng giảng dạy. Mặt khác, các bậc thầy đờn ca tài tử hiện nay phần lớn đã cao tuổi, mà lớp nghệ nhân kế tục không nhiều, đây là điều đáng lo ngại cho công tác truyền dạy, vì vậy cần thiết khẩn trương đào tạo đội ngũ nghệ nhân dạy nghề đờn ca tài tử.

Theo nhạc sĩ Nhứt Dũng, muốn bảo tồn và phát huy loại hình này thì phải “văn ôn, võ luyện”, bởi “không thể lâu lâu chúng ta tổ chức một chương trình, hay vài ba tháng có một cuộc thi đờn ca tài tử, khi hết chương trình chúng ta lại dẹp và không tập luyện. Như vậy, không thể nói là bảo tồn và phát triển đờn ca tài tử”.

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, bắt nguồn từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Theo đó, đờn ca tài tử là nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây ghi-ta phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục. Xét ở khía cạnh khác, loại âm nhạc này đúng ra là một loại nhạc thính phòng thường trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ…

HẢI MINH

HOÀNG PHƯƠNG – NGỌC PHAN : Đơn ca tài tử – Kỳ 3: Rạp hát, đĩa hát thầy Năm Tú


HOÀNG PHƯƠNG & NGỌC PHAN : Đơn ca tài tử Nam bộ – Kỳ 2: Doanh nhân mê hát xướng


 
 

HOÀNG PHƯƠNG – NGỌC PHAN : Đờn ca tài tử Nam bộ: Ngón đờn kìm của bậc tài hoa