tvduc : 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 4: BẠCH YẾN


Tin tức — August 7, 2013 at 5:03 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 4: BẠCH YẾN

by 

Giọng hát trầm đặc biệt đó cũng đã trở nên quen thuộc với khán giả Việt Nam từ rất nhiều nãm qua, mặc dù âm sắc rất trầm nhưng giọng hát chị thuộc loại “mezzo soprano”, đã góp phần không ít trong việc tạo cho nhạc phẩm “Ðêm Ðông” trở thành bất hủ.

Ca sĩ Bạch Yến

Ca sĩ Bạch Yến

Với 50 năm góp mặt trong lãnh vực nghệ thuật, Bạch Yến rất xứng đáng được coi là một nữ nghệ sĩ có quá trình hoạt động lâu dài nhất cho đến ngày hôm nay. Với những thăng trầm trong cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp, tên tuổi của chị vẫn là một tên tuổi lớn trong việc giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với khán giả năm châu qua nhạc dân ca cổ truyền hiện nay cũng như từng góp mặt trong giới “show business” tại Hoa Kỳ trong một thời gian dài.

Mở mắt chào đời tại vùng châu thổ sông Cửu Long (miền Nam Việt Nam), Bạch Yến gia nhập làng ca nhạc khi còn nhỏ tuổi và sớm nổi tiếng tại Saigon với giọng hát đặt biệt trầm mặc dù giọng thuộc loại cao (mezzo soprano), ngân nga phong phó qua những nhạc phẩm Việt Nam bất hủ như “Đêm Đông” và các nhạc phẩm ngoại quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nho, Ý hoặc Do Thái.

t122109

Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến sinh năm 1942. Hát lần đầu tiên lúc 7 tuổi tại rạp Norodome Phnom Penh, Campuchia.

Năm 1953 đoạt giải nhất Huy Chương Vàng Thi Ca Nhi Đồng do Đài Phát Thanh Pháp Á (Radio Diffusion France Asie Saigon) trao tặng. Năm 1954 : Nghệ sĩ diễn Môtô bay. Năm 1956 trở lại với âm nhạc. Năm 1961, Bạch Yến sang Paris để trau dồi nghệ thuật. Được hãng đĩa Polydor mời thâu và đưa đi trình diễn một vòng qua Bỉ, Đức và Áo. Theo giao kèo, Bạch Yến phải hát loại nhạc twist thịnh hành lúc bấy giờ ở Âu châu, thời gian này được đánh dấu bởi ba đĩa hát và vài phim scopitones (như clips hiện giờ).

Năm 1965, Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang Hoa Kỳ tham gia Ed Sullivan Show, chương trình truyền hình ăn khách nhất xứ Mỹ (với 35 triện khán giả). Một hợp đồng hai tuần với Ed Sullivan Show trở thành 12 năm lưu diễn khắp xứ Mỹ với những với những nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby, Mike Douglas, Joey Bishop, Pat Boone, và một số quốc gia Mỹ châu như Canada, Mexico , Nam Mỹ, Venezuela, Colombia, Panama, cạnh những danh hề như Jimmy Durante, Carlos Almaran (Panama) kiêm tác giả bản Historia de Un Amor (1955), bản nhạc này có một thời rất phổ thông thịnh hành trên thế giới với tên Pháp “Histoired’Un Amour”.

Với nhạc sĩ dương cầm danh tiếng Liberace diễn quanh 46 tiểu bang Hoa Kỳ và danh ca Frankie Avalon. Mike Qayne mời Bạch Yến về Hollywood để hát trong phim “Mũ nồi xanh” (The Green Berets) do tài tử John Wayne đóng vai chính.

Vợ chồng danh ca Bạch Yến - giáo sư Trần Quang Hải.

Vợ chồng danh ca Bạch Yến – giáo sư Trần Quang Hải.

Lúc Bạch Yến tái ngộ Paris cũng là lúc cuộc sống và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng với sự gặp gỡ nhạc sĩ kiêm nghiên cứu dân tộc, nhạc học gia Trần Quang Hải, sau trở thành phu quân của Bạch Yến. Trần Quang Hải thuyết phục Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam và kết quả là hai người đã cùng nhau trình diễn trên 3000 buổi hát dân ca khắp cả năm châu, mặc dầu thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc để đáp lại tấm thịnh tình của những người hâm mộ mình. Hai người đã thâu chung 8 dĩa hát 33 vòng, và một CD với một đĩa trong đó được thưởng Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.

t122105

Là một ca sĩ đa tài, Bạch Yến đã có công đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền ca nhạc Việt Nam và nhất là vào sự giới thiệu và phổ biến nhạc Việt Nam với người ngoại quốc.

Thegioif5 sưu tầm

G.Sơn – T.Khanh : Đờn ca tài tử ở Phú Quốc


 

TUỆ PHƯƠNG : Bảo lưu giá trị di sản văn hóa đờn ca tài tử


 

THANH TRANG : Liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ lần 3 năm 2005 – khu vực miền Tây: Niềm tin vào lớp tài tử trẻ


Liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ lần 3 năm 2005 – khu vực miền Tây: Niềm tin vào lớp tài tử trẻ

05/08/2005 21:27

 
Ban ĐCTT Hậu Giang thi diễn đêm khai mạc liên hoan – Ảnh: Vĩnh Trà

Đến hẹn lại lên, từ ngày 20.7 đến 2.8, những “tri âm tri kỷ” của vùng đất cải lương lại có dịp cùng nhau so lại phím đờn, hòa với lời ca ngọt ngào tại Liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ lần 3 – năm 2005 khu vực miền Tây.

Tham dự liên hoan có 9 ban đờn ca tài tử (ĐCTT) của các tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bến Tre và TP Cần Thơ. So với liên hoan trước, số ban ĐCTT lần này ít hơn. Song điều phấn khởi là lớp tài tử trẻ chiếm đa số, họ nắm được cái gốc của ĐCTT, phân biệt tài tử truyền thống với tài tử phát triển. Mỗi ban đều chuẩn bị chương trình rất chu đáo. Nội dung gọn, nhẹ phản ánh phong phú đời sống xưa và nay. Bài bản thể hiện đủ điệu trong ba Nam, sáu Bắc, bảy bài Lễ, bốn bài Oán và bài vọng cổ. Đặc biệt, Ban tổ chức có sự đột phá hấp dẫn, 3 lần thay đổi không gian thi diễn: Trường Đại học Cần Thơ, Hồ Sen thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), du thuyền sông Hậu (bến Ninh Kiều – TP Cần Thơ).

Một tiết mục của Ban ĐCTT Đài PT-TH Cần Thơ

Ban ĐCTT Vĩnh Long tạo nên sức hút cho liên hoan ngay trong đêm khai mạc qua cách dàn dựng chương trình mới lạ: Một gia đình lão nông có truyền thống ĐCTT, trai gái trong xóm dù lam lũ ruộng vườn vẫn ngày ngày đến đây tập đờn tập hát. Cô con gái của lão đẹp nết đẹp người, được một thanh niên thành thị đem lòng yêu thương. Chuyện sui gia bất thành bởi lão nông không thể chấp nhận sự tính toán lời lỗ trong hôn nhân, lối sống phô trương giả tạo của mẹ chàng trai… Không một lời giới thiệu mà người xem vẫn nhận ra cốt truyện nhờ thứ tự bài ca: Thục phán An Dương Vương (điệu Phú lục), Điểm hẹn bừng lên (Nam ai), Sui gia hụt (cổ bản ca ra bộ), Dạy gái làm dâu (Tứ đại oán lớp hồi thủ)… Nghệ nhân Tuấn Sang là người ca xuất sắc điệu Phú lục – một điệu trong sáu Bắcvốn rất khó chơi. Tại nhà thủy tạ khu văn hóa Hồ Sen thị xã Vị Thanh, đêm đêm khán giả đến xem chật kín, bất kể nắng mưa. Đội Trung tâm VH-TT TP Cần Thơ có nghệ nhân Phan Văn Út ca 2 câu vọng cổ nhịp 32 mang đậm phong cách tài tử, Đào Xinh với 22 câu Bình bán chấn (Nối tiếp những chiến công) gây ấn tượng sâu sắc. Riêng đội Sóc Trăng toàn nghệ nhân ca rất trẻ, chất giọng ngọt xớt, mùi mẫn, không bị sai nhịp hoặc chênh hơi: Trần Hà Giang (điệu Lưu thủy trường trong 6 Bắc), Thanh Nhã (ngũ đối hạ trong bảy bài Lễ), Phương Oanh (Giang Nam lớp 1 trong 4 bài Oán)… Đây là những bài bản lớn trong 20 bản tổ của ĐCTT mà trước đây chỉ những nghệ nhân già mới chơi thành công.

Danh sách 6 ban ĐCTT tham gia chung kết Liên hoan ĐCTT Nam Bộ lần thứ 3 tại TP.HCM vào ngày 21 đến 23.8:

– Trung tâm VH-TT TP Cần Thơ

– Trung tâm VH-TT tỉnh Vĩnh Long

– Sóc Trăng

– An Giang

– Đài PT-TH TP Cần Thơ

– Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang).

Điểm nhấn của liên hoan là Đêm tài tử Cửu Long, tái hiện cuộc chơi ĐCTT ở sân vườn. Tại đây, lớp “hậu duệ” trẻ được dịp giao lưu, gặp gỡ với một số “tiền bối” của môn nghệ thuật vừa bác học vừa dân gian này: NSND Huỳnh Nga, NSƯT Công Thành, NSƯT Ba Tu, nghệ nhân Bạch Huệ. Chính từ đây, mọi người có thêm những kiến thức bổ ích về ĐCTT.

Đêm 2.8 chung kết xếp hạng trên du thuyền sông Hậu với tên gọi Đêm tài tử thương hồ gồm 6 đội thi diễn. Giữa sông nước mênh mông, chiếc du thuyền nhẹ lướt trong gió lồng lộng, tạo thêm ngẫu hứng cho những tri âm tri kỷ. Bên tung bên hứng, bên xướng bên họa, khiến người thưởng thức cũng say theo. Hình ảnh chơi tài tử trên ghe thương hồ được tái hiện một cách sinh động. Qua phần trả lời câu hỏi kiến thức ĐCTT Nam Bộ cho thấy lớp trẻ ngày nay am hiểu rất nhiều và tỏ ra yêu thích hơn bộ môn nghệ thuật này. Kết thúc liên hoan, 18 nghệ nhân ca và nghệ nhân đờn được trao giải thưởng cá nhân xuất sắc toàn người trẻ tuổi. Hầu hết các ban nhạc đều có nhiều bài viết lời mới. Điều đó cho ta niềm tin, rằng ĐCTT vẫn có sức sống mãnh liệt và đang được kế thừa, phát triển.

Thanh Trang

http://www.thanhnien.com.vn/news1/pages/200531/118043.aspx

 
 
 
 

SÂN NHẠC CỦA BẰNG HỮU CỎ THƠM SỐ 17 (tháng 8, 2013), VIRGINIA, USA


SÂN NHẠC CỦA BẰNG HỮU CỎ THƠM SỐ 17 (tháng 8, 2013) PDF Print E-mail

                            ~ Baie-Trinité – Tranh màu nước: Nguyễn Thanh Cảnh (Canada) ~

                             Mời quý vị thưởng thức: Toàn bộ các bản nhạc ở dưới” 

                     (hay bấm vào tên bản nhạc hay sau  để nghe từng bản nhạc) 

Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Sáng tác: Lam Phương – Tiếng hát: Bạch Yến (Paris)

Ai Ra Xứ Huế – Sáng tác: Duy Khánh – Tiếng hát: Phạm Hữu

Lời Gọi Chân Mây – Sáng tác: Lê Uyên Phương – Tiếng hát: Hiếu Thuận

Chiều Về Trên Sông – Sáng tác: Phạm Duy – Đàn guitar & hát Phạm Ngọc Lân:   MP3    Youtube

Sao Đêm – Sáng tác: Lê Trọng Nguyễn – Hòa âm: Quốc Toản – Tiếng hát Tâm Hảo:  MP3   Youtube

Đồi Biếc – Thơ: Lưu Nguyễn Đạt – Phổ nhạc: Hoàng Thiện Căn
                  Hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu – Tiếng hát: Hoàng Cung Fa

Đêm Về – Sáng tác: Hoàng Trọng – Tiếng hát: Thanh Lan

Cơn Mưa Phùn – Sáng tác: Đức Huy – Song ca Thanh Tuyền-Đức Huy (1971):  MP3    Youtube

Giọt Buồn Đêm Mưa – Thơ: Hoàng Ngọc Quỳnh Giao – Phổ nhạc: Nguyễn Tuấn
                                          Tiếng hát Hương Giang:  MP3    Youtube

Tình Không Phai – Thơ: Hà Bỉnh Trung – Phổ nhạc: Phan Anh Dũng (Virginia)
                                   Hòa âm, guitar và hát Triệu Vinh:  MP3

         

                        ~ Đảo Anticosti – Tranh màu nước: Nguyễn Thanh Cảnh (Canada) ~

Mùa Thu Mây Bay – Sáng tác: Tạ Bình – Tiếng hát: Như Hương

Bóng Người Đi – Sáng tác: Văn Phụng – Tiếng hát: Thái Ninh

Mùa Hè Sắp Qua – Sáng tác, đàn guitar, hát: Trần Chí Phúc

Mãi Mãi Bên Em – Sáng tác: Từ Công Phụng – Tiếng hát: Cao Thăng

Biển Nhớ – Sáng tác: Trịnh Công Sơn – Hòa âm: Đặng Vũ Khánh – Tiếng hát: Hà Mai Điệp

Áo Tím Chiều Mây – Sáng tác, hòa âm: Thanh Trang – Tiếng hát: Vũ Trung Hiền

Phút Giây Là Mãi Mãi – Sáng tác: Lê Vân Tú – Tiếng hát Lê Hiếu:  MP3   Youtube

Dấu Yêu Tình Đầu – Sáng tác: Ngọc Lễ – Song ca: Minh Nguyệt & Triệu Vinh

Màu Thu Năm Ngoái – Thơ: Hồ Dzếnh – Phổ nhạc: Nguyễn Thanh Cảnh – Tiếng hát: Xuân Phú

Ngày Nào Trời Trở Gió – Sáng tác: Ngu Yên – Tiếng hát: Julie

> Đây là link:  20 bản nhạc list số 16 

                                                 

         Xin vui lòng gởi nhạc và ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng – email: dathphan1@gmail.com

Thỉnh thoảng tôi có nhận được nhạc của bằng hữu đính kèm qua email hay gởi tặng cả CD. Tôi nghĩ, nếu gom những bản nhạc này vào một nơi trên website để mọi người cùng thưởng thức thì có lẽ tốt hơn. Vì lý do trên, “sân nhạc” được thành hình với mong ước được sự đóng góp thường xuyên hơn của những bằng hữu Cỏ Thơm yêu âm nhạc.

Để mọi người thoải mái với sân nhạc, sự chọn lựa sẽ nhẹ nhàng. Xin quý bạn gởi nhạc theo dạng MP3, WMA,youtube hay pps kèm theo tên bản nhạc, tác giả và người trình bày. Nhạc có thể dưới hình thức nhạc có lời hay không lời, nhạc do bạn sáng tác, bạn hát nhạc của mình hay của người, người khác hát nhạc của bạn, thơ của bạn được ai đó phổ nhạc v v Nhạc sẽ lần lượt được đem vào trang. Khi đủ 20 bài cho trang, một trang mới sẽ được thành hình.

Cảm ơn quý bạn và mong tất cả có những giây phút vui tươi khi nghe nhạc của mình hay của người.

Quý anh chị và quý bạn yêu âm nhạc thân mến,
Mùa Hè ở Virginia sắp qua đi!
Tôi đã nhận nhạc của nhiều bạn gởi về từ đầu tháng 8 mà nay mới hoàn tất
chương trình số 17 này. Mong quý anh chị và quý bạn thứ lỗi cho vì thú thật là …
hơi “lè phè”, rong chơi mùa hè.
Mời tất cả thưởng thức:
Thân chúc mọi người thoải mái, vui vẻ, hạnh phúc.
Xin vui lòng tiếp túc ủng hộ, phổ biến và gởi nhạc về cho chương trình số 18 cho tháng 9.
Phan Anh Dũng
Richmond, Virginia – USA

TUYẾT MAI : Những gánh hát xưa


Những gánh hát xưa
17.08.2013 03:31
Xem hình

Quê tôi thời ấy (1955) thường dùng tứ “Gánh hát” thay vì “Đoàn hát” như bây giờ. Mỗi lần đi lưu diễn, ngoài cỗ xe bò để chở phông màn và gia đình ông Bầu, còn các nhân viên, đào kép đều phải tự gồng gánh hành lý của mình lục đục theo sau; có phải vì vậy mà gọi là “Gánh hát” chăng?

Sau khi hòa bình (1954), nguồn giải trí tinh thần của bà con chẳng có gì. Muốn đọc báo thì phải nhờ đò dọc từ quận (huyện) ngày một chuyến lên tận “tỉnh” mua giùm, nhưng hầu hết người dân ký tên đều bằng dấu thập nguệch ngoạc thì mấy ai đọc được báo? Radio thì cả làng chưa ai có, nên nguồn giải trí duy nhất là những gánh hát mà lâu lâu mới đến một lần.

Gánh hát xưa có hai dạng. Dạng thứ nhất là hát bội. Với hát bội, dù gánh cũng có “tên” đàng hoàng nhưng không ai gọi cả; mà họ chỉ gọi tên ông Bầu của gánh đó mà thôi: Gánh bầu Bời, gánh bầu Trình… Dạng thứ hai là cải lương, với cải lương, không biết sao người ta lại gọi “tên” gánh hát đó mà không gọi tên ông Bầu: Gánh Kiếp Bướm, gánh Điền Viên… Có thể kể thêm một dạng nữa là “hát bội pha cải lương”, nhưng dạng nầy khán giả quê tôi không ưa chuộng; vì “Thà hát bội ra hát bội, cải lương ra cải lương chứ vừa hát bội vừa cải lương nghe nó tréo ngoe!”. Các cụ bảo thế!

Dù với dạng nào, tùy theo gánh hát nhỏ, lớn mà chọn nhà lồng chợ hay đình làng để trình diễn. Khi vừa tới điểm; một bộ phận lo việc thiết lập sân khấu, phông màn; và lấy vải thô bao quanh nhà lồng (hay đình làng) để phân cách không gian “rạp hát” và bên ngoài để tiện việc kiểm soát, bán vé.

Bộ phận thứ hai không kém quan trọng là bộ phân “rao bảng”. “Rao bảng” nôm na có nghĩa là báo cho người trong làng biết hôm nay có gánh hát đến và đêm nay diễn tuồng gi. Bộ phận nầy mướn một cỗ xe ngựa. Hai bên hông và sau xe có vẽ hình ấn tượng nhất của nội dung tuồng hát diễn đêm đó. Trên xe để môt trống chầu, trên đó có một hay hai người đánh liên tục từng ba dùi một (Thùng thùng! Thùng!) suốt từ đầu làng đến cuối làng.. Vì tốc độ ngựa chạy chậm nên sau xe là lũ con nít chúng tôi tự nguyện chạy theo… chơi! Với gánh hát nhỏ như bầu Bời, bầu Trình , thì chỉ cần để trống trước cửa “rạp”. Lũ trẻ tranh nhau mà đánh (cũng từng ba dùi một). Âu cũng là cách tiết kiệm chi phí vậy!

Mỗi lần gánh hát về làng thì y như ngày hội. Coi hát cũng nhiều mà đi chơi cũng không ít. Một trong những động lực nầy là nam nữ được hẹn hò nhau “hợp pháp”! Đội quân bán hàng theo thời vụ hoạt động cũng xôm trò, dù chỉ là mía chặt khúc, đậu phộng nấu… , mà nước đá si rô, nước đá nhận là món hàng đặc biệt nhất, vì ngày thường không hề có, ngay cả lúc tiệc tùng.

Với những gánh cải lương thì có bán vé hẳn hoi.; nhưng với hát bội thì không, mà là “bà bầu” và vài người thân tín đứng ở cửa thu tiền. Giá cũng không nhất định. Những đêm đầu người coi đông thì người lớn năm đống, trẻ em ba đồng, những ngày cuối giá có hạ hơn. Chỉ vì không bán vé mà thường xuyên xảy ra việc kèo cưa “trả giá” khá buồn cười: “Một đứa ba đồng, hai đứa “ăn” năm đồng thôi, được không?”. Lại có nhiều rự lợi dụng lúc chen lấn mà lẻn vào không trả tiền; đôi khi cũng được trót lọt, nhưng phần đông bị… nắm lổ tai, nắm tóc kéo ra! Tương tợ, cũng có rự giở vải lén chui vào, và hậu quả cũng giống trường hợp trên!

Đêm cuối cùng, đại hạ giá, có khi chỉ còn phân nửa! Thế mà cũng chẳng ai coi, vì không ai có tiền mà coi hoài, hơn nữa viêc đồng áng họ cần phải được nghỉ ngơi dưỡng sức. Khi đó trong “rạp” toàn là khán giả nhí mà cũng chẳng được bao nhiêu; mà chúng vào coi là coi đào kép, trang phục, đánh thương đánh kiếm, chứ hát bội thường “hát chữ nho” thì có hiểu gì đâu mà coi? Có hiểu chăng là một vài câu thông dụng: “Tróc mã đề thương, ứ ư ứ ư…” hay những câu tên quân trình báo: “ Cấp báo! Cấp báo!”- “Điều chi?” – “Dạ, chí nguy thậm chí nguy! Giặc Hung Nô vượt khỏi biên thùy. Ta, dũng tướng thảy đều tử trận…”, “Lui! Thôi rồi!… “ (ò e ó e)

Không có gánh nào có ghế cho khán giả ngồi; muốn ngồi ghế thì phải mang theo! Ánh sáng thì nhờ vào cái đèn măng sông treo một bên sân khấu. Với gánh cải lương thì “sang” hơn, họ có máy đèn riêng, để đến lúc hai đối thủ đánh phép: ”Hô biến!”, đèn vụt tắt, lập tức bên sau phông màn trắng, khán giả thấy các bảo bối đấu nhau quyết liệt. Đây là màn ăn khách nhứt! Ngoài ra, nhờ có máy đèn mà có cảnh “phực đèn màu” sau khi đào kép xuống “hò” (câu 1, câu 5), làm giọng ca thêm muồi, thêm lâm ly tình tứ hơn, đã khiến nhiều tiếng vỗ tay, nhiều tiếng tắc lưỡi ngợi khen.

Về dàn nhạc tùy theo cải lương hay hát bội, mà có đờn nguyệt, đờn gáo, đờn cò, ghi ta, và trống. Mọi thứ cũ mèm, được điều khiển bởi quý “thầy đờn”… “hình mai vóc liễu”, ốm tỏng ốm teo!

Về tuồng tích thì thường diễn trích đoạn của các truyện Tàu; như “Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”, “Tôn Tẩn hạ san”, hoặc những chuyện cổ tích như “Thạch Sanh Lý Thông”, “Phạm Công Cúc Hoa” v..v..

Về “kịch bản” (với hát bội) dường như có “khuôn mẫu” sẵn cho đào kép, nghĩa là có những bài bản riêng cho mọi tình huống. Như khi hai tướng xông trận thì hát thế nào, khi vua lâm triều thì phải hát ra sao, v..v.. thêm vào đó chút “hát cương” tùy theo tay nghề của đào kép. Ông Bầu vừa đạo diễn, vừa nhắc tuồng.

Có nhiều khán giả nhí khoái vào hậu trường để coi đào kép sắm tuồng hơn coi trên sân khấu, trong đó có kẻ viết bài nầy. Chúng thường được dễ dãi nếu không phá phách hay ăn ổi chín, vì “sợ tổ thích mùi thơm của ổi mà bỏ đi”. Các anh chị đào kép bảo vậy!

Nếu nghệ sĩ ngày nay là một trong những nghề có thu nhập cao nhứt, thì nghệ sĩ hát bội (và cả cải lương gánh nhỏ) thời đó có thu nhập rất ít oi, nói khác đi, nếu chỉ dựa vào thù lao diễn xuất thì không thế nào đủ sống. Đó là nói với đào chánh, kép chánh; còn “kép cơm”, tức những người đóng vai lính, quân hầu thì càng thê thảm, bởi lâu lâu mới được chút ít tiền bồi dưỡng để… hớt tóc mà thôi!

Gánh hát thường về làng vào tháng mười một âm lịch cho đến trước khi sắp đổ mưa, vì thời gian nầy dân làng có thu nhập (chủ yếu là lúa), hoặc rảnh rang; nên đến coi đông, nhưng rồi nhiều lắm gánh hát cũng lưu lại chỉ một tuần, thì rạp hát vắng hoe. Gánh không hát nữa, nhưng cũng chẳng dọn đi, ông Bầu cho ở lại để đào kép kiếm việc làm. Ai mướn gì làm nấy, như gặt lúa, vác lúa; với những người yếu sức thì đi mót, đi câu, bắt cua lưới cá. Đào kép đều từ nông dân xuất thân nên những việc làm đó họ chẳng thua gì dân bản xứ.

Với hát bội, không có thì coi đỡ ghiền chứ thực tình khán giả cũng không “mặn” lắm. Cho nên từ khi cải lương về làng, hát bội không còn chỗ đứng nữa. Gánh bầu Bời và bầu Trình năm xưa thỉnh thoảng lại đến, rồi một vài đêm lại gồng gánh buồn bã lên đường để rồi không bao giờ trở lại! Thấy tình cảnh nầy, không biết ai trong làng tôi đã ứng khẩu và truyền miệng câu “thơ” ác nhơn: “Bầu Trình hát dở đừng lo/ Sang năm hát khá được đi xe bò!/ Bầu Bời hát dở đừng rầu/ Sang năm hát khá được ngồi xe trâu!”

Với gánh cải lương, thu nhập có khá hơn nhiều. Buổi trưa rỗi việc, mấy chú bác ở Xóm Ngã Tư, mời đào kép chánh và một hay vài ông “thầy đờn” đến nhà “làm” mấy bài vọng cổ hay mấy lớp xàng xê quanh bàn rượu, bữa cơm, đơn sơ nhưng thắm tình… nghệ sĩ! Tất nhiên trước khi ra về, anh chị đào kép cũng được chút thù lao khá hậu hỉ.

Tuồng tích cũng không khác gì hát bội; nhưng nhờ trang phục bắt mắt và văn chương bóng bẩy làm người coi thích thú; cũng như diễn xuất “thực” hơn, lời ca muồi hơn, nên có nhiều đoạn đã làm người xem xúc động, rơi nước mắt, và không ngần ngại kẹp tiền vào quạt giấy phóng lên sân khấu! (Đây là hình thức thưởng tiền ở quê tôi).Và đào kép cũng không ngừng khai thác khía cạnh nầy: Mở đầu tuồng Phạm Công Cúc Hoa là màn Phạm Công cõng mẹ mù lòa đi ăn xin. Hai mẹ con quần áo rách bươm, Phạm Công vẻ mặt thểu não, tay cầm thau nhôm móp méo, cõng mẹ chầm chậm quanh sân khấu; ca điệu Hoài Tình: “Bà con cô bác giùm thương/ bố thí cho tôi một chén cơm thừa/… (nói dậm: Mẹ ! Me! Mẹ rán nhịn đói chút xíu nữa nghe mẹ! Chừng nào bà con cho cơm, con đút mẹ ăn nghe mẹ!…). Thế là nước mắt khán giả tuôn ra, tiếng hỉ mũi rồn rột, giọng nghẹn ngào: “Tui cho tiền nè!” . Và quạt giấy kẹp tiền “bay” lên tới tấp, người không có quạt thì tự đem lên. Một ông “thầy đờn” thấy vậy nói với Phạm Công: “Được khá đó nghen mậy! Tiếp lớp 2 nghe!” (tức bảo ca lại lần nữa); nhưng Phạm Công ca tiếp tới lớp 4, khi mà khán giả lơi cho tiền mới thôi! Hồi còn trẻ con, chúng tôi chuyên “coi hát” trong hậu trường nên nghe thấy rõ cảnh nầy.

Một tuồng có hai màn, hết màn một là nghỉ giải lao. Trước khi qua màn hai thì một người đứng sau màn (thường là ông bầu hoặc anh kép chánh) nói lời tri ân khán giả và giới thiệu vở tuồng ngày mai với những lời lưu loát và không kém văn hoa. Gần cuối màn hai thì gánh hát cho “thả dàn”, tức mở cửa ai muốn coi cứ vào coi, việc làm nấy cũng không ngoài mục đích quảng cáo lời ca điệu hát, trang phục, diễn viên của mình.

Đến năm 1960, quê tôi nằm trong vùng binh lửa. “Gánh nhà” bầu Trình, bầu Bời nghe nói đã “rã gánh”, đào kép “về quê cắm câu”; chỉ tụ tập lại hát trong những ngày lễ cúng đình thần. Những gánh cải lương cũng biệt tích, trong lúc ở thập niên nầy (60-70) là thời vàng son của cải lương: Ở Sài gòn có nhiều đoàn hát lớn như Kim Chung, Thanh Minh, Hương Mùa Thu… , xuất hiện nhiều soạn giả lớn với nhiều tuồng hát để đời.

Kha Tiệm Ly.

tuyetmai (Theo VNND)

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1160

QUẢNG TUẤN : Ưu tư từ ngôi chùa cổ Vĩnh Phước An


Ưu tư từ ngôi chùa cổ Vĩnh Phước An

Trong lịch sử phát sinh và phát triển đờn ca tài tử miền Tây nói chung và của xứ Bạc Liêu nói riêng, sự đóng góp của quý vị Hòa thượng là rất lớn. Trong cuộc hội thảo khoa học “Sư Nguyệt Chiếu với sự nghiệp Nhạc lễ Cổ truyền Nam Bộ” năm 2007 tại thị xã Bạc Liêu, những bài tham luận đã ghi nhận điều này.

 

Mặt tiền Chùa
                                                                  

Trong một chuyến về Bạc Liêu, chúng tôi đi thăm mộ nghệ sĩ Cao Văn Lầu và viếng chùa Vĩnh Phước An, ngôi chùa một thời góp công trong tiến trình xây dựng nên tên tuổi những vị nghệ sĩ đờn ca tài tử lừng danh, như Cao Văn Lầu, Sư Nguyệt Chiếu, Nhạc Khị,…

Từ trung tâm thị xã Bạc Liêu qua cầu Kim Sơn đến ngã tư rẽ vào đường Cao Văn Lầu, đi thêm khoảng một cây số nữa lại rẽ phải là đến khu mộ Cao Văn Lầu, đi thẳng thì vào chùa Vĩnh Phước An.

Đó là ngôi chùa nhỏ, vì bảng hiệu nhỏ, đường vào chùa cũng nhỏ, người đi lại cũng… quá ít, nhưng khi vào trong, chùa trông cũng thoáng đãng, mang vẻ tịch mặc, cổ kính. Khi vào chùa, tôi gặp những người coi sóc, hỏi thăm vị trụ trì thì họ bảo, chùa hiện nay không có ai trụ trì, chủ chùa là người nhà của vị trụ trì trước, anh Năm Nhan (Trương Văn Nhan). Ngài trụ trì mất và để lại ngôi chùa này cho ông ấy. Đây là ngôi chùa của gia đình, nằm trong hệ thống chùa của một đại gia đình ở vùng này.

Chùa nhìn chung, khá nhỏ, chỉ có chánh điện và nhà trai cùng bàn thờ tổ, nhưng được xây dựng kiên cố và tình trạng còn khá nguyên vẹn so với những ngôi chùa ra đời từ thế kỷ XIX.

Hiện nay, không ai biết chùa được xây dựng từ khi nào, chỉ biết đến khi Hòa thượng Huệ Quang về đây thì được sự trợ giúp của Phật tử để trùng tu lại. Khi tôi vào trong chánh điện thì nhìn thấy bên trái có một bàn thờ nhỏ, trên bàn thờ có thiết trí bài linh vị ghi tên bà Dương (?) Thị Anh, không ai biết tại sao bà được thờ ở đây. Nhiều người đoán bà là một phú hộ giàu có trong vùng. Bà là người phát tâm xây chùa này trước tiên, khoảng năm 1886. Có lẽ đây là bàn thờ của bà Hai Ên. Đi lui phía sau, trên bàn thờ tổ có rất nhiều bài vị thờ các nữ thí chủ, nhiều khả năng họ là những người cúng dường xây dựng, trùng tu chùa và khi mất thì thờ trên bàn thờ đặt cạnh bàn thờ tổ của chùa.                                                              

Chánh điện chùa Vĩnh Phước An

Giữa bàn thờ tổ là bài vị của Hòa thượng Thanh Trương Yên Hóa (1830-1903), sư phụ của Hòa thượng Huệ Quang, cùng với những vị Hòa thượng khác. Tổng cộng trên bàn thờ có 16 bài vị, có cái đọc được, cái không, chữ được chữ mất do bị mờ hay bị phủ lớp sơn mới. Nghe nói, chùa cũng lưu giữ một bản sắc phong, không biết của ai.

Vĩnh Phước An là ngôi chùa nổi tiếng một thời với những vị Hòa thượng chuyên về nghi lễ. Hiện nay, chùa còn lưu giữ khá đầy đủ pháp khí của trai đàn chẩn tế, như nhạc lễ: trống, kèn, tang, mõ, các bộ y hậu, mũ mão, giày (hia) của vị chủ sám, các bản khắc gỗ để in Phái quy y, các loại sớ điệp chẩn tế, sớ cầu an, cầu siêu, dâng sao giải hạn,… Những bản khắc gỗ in giấy sớ cầu an, cầu siêu vẫn được vị giữ chùa sử dụng để in cúng hàng ngày. Ngoài ra, chùa cũng còn lưu giữ những bức tượng Phật nhỏ, xâu chuỗi để vị chủ sám tung rải khi cúng chẩn tế. Đây là những thứ hiện dễ bị mất cắp nhất. Trong tủ kinh có những bộ Kinh, Luật chữ Hán cũ kỹ, lâu quá không ai mở ra coi ngó chăm sóc.

Trong các bài viết về những vị nghệ sĩ đờn ca tài tử nổi danh, tên của Hòa thượng Minh Bảo được nhắc đến. Thực tế, theo lời kể của anh chủ chùa, vị trụ trì thời kỳ này là Hòa thượng Huệ Quang. Hòa thượng về khi chùa trùng tu năm Giáp Thìn (1904). Ngài là một nhân vật nổi tiếng và có uy tín trong giới Phật tử thời bấy giờ và từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Trưởng lão Bạc Liêu. Ngài viên tịch vào năm Kỷ Dậu (1969).

Là người nổi tiếng về khoa chẩn tế, Ngài xây dựng đội ngũ kinh sư và những người chơi nhạc để phục vụ cho công việc cúng kiếng của mình. Chính sư Nguyệt Chiếu đã có thời gian về đây sống với Hòa thượng và tham gia vào đội ngũ kinh sư chẩn tế. Ngài nhận nghệ sĩ Cao Văn Lầu làm đệ tử khi cha mẹ ông từ Long An đưa đến chùa gởi cho Ngài dạy đạo. Cao Văn Lầu là một tay trống trong đội ngũ nhạc lễ. Họ hình thành nên một ê kíp kinh sư, lễ nhạc và đi nhận đám cúng trong vùng. Khi có đám, họ cùng nhau lo lễ, khi rảnh rỗi thì cùng nhau chơi nhạc. Trong ban lễ này Hòa thượng Huệ Quang là chủ sám của các lễ đàn, trong đó, sư Nguyệt Chiếu là kinh sư. Xét từ góc độ âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo, người chủ sám là vị thông hiểu lễ nhạc nhất, vì đó là vị điều khiển toàn bộ buổi lễ, kinh sư là những người giữ vai trò phụ họa. Tất cả ban lễ nhạc đều thực hiện theo sự “chỉ đạo” của vị chủ sám. Nói theo từ chuyên môn của nhạc thì ngài chủ sám chính là nhạc trưởng. Nếu đúng như vậy, Hòa thượng Huệ Quang phải là một người rất giỏi về âm nhạc, nghi thức cúng lễ và là người có đức độ thì mới có thể tập hợp được những nhân vật xuất sắc như Nguyệt Chiếu, Cao Văn Lầu, Nhạc Khị,… để tham gia vào ban kinh sư, nhạc lễ của mình. Tuy nhiên, có lẽ do không có tài liệu gì để lại, cho nên đến nay không ai biết gì về vị chủ sám này. Trên bức tường chùa, hai bức tranh xưa có giá trị, anh Năm giới thiệu, một bức chụp bốn người mà anh chỉ nhận ra hai người ngồi giữa, bên trái là sư Nguyệt Chiếu, bên phải là sư trụ trì, hai phía ngoài không biết ai. Bức tranh cũ kỹ và giấy đã mục, mặc dù anh giữ rất kỹ. Một bức hình được lồng trong khung kính, giấy cũng đã mục, là hình Sư Nguyệt Chiếu. Đây là bức hình được sử dụng rộng rãi trong các bài viết về Sư Nguyệt Chiếu hiện nay.                                             

Thập điện Diêm vương
 

Như vậy, phong trào canh tân và hiệu đính nhạc cổ giai đoạn đầu thế kỷ có sự đóng góp rất lớn của các vị Hòa thượng, trong đó có Hòa thượng Huệ Quang, trụ trì chùa Vĩnh Phước An. Chùa là nơi nuôi dưỡng những tài năng cho nhạc cổ, cả về mặt kinh tế và nghệ thuật. Nói cách khác, từ góc nhìn này, ta thấy nhạc lễ Phật giáo làm nền tảng cho tiến trình xây dựng nên nghệ thuật đờn ca tài tử lừng danh xứ Nam Bộ. Thế nhưng, hiện nay, khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển nhạc cổ, đờn ca tài tử, chúng tôi chưa thấy ai quan tâm đến những vị Hòa thượng chuyên về cúng lễ, mặc dù đóng góp của họ không hề nhỏ.

Mặt khác, việc lên tiếng kêu gọi sự quan tâm đến số phận của ngôi chùa Vĩnh Phước An tới các cấp chính quyền lẫn những ban ngành liên quan đã có từ mấy năm trước cho đến nay vẫn chưa có kết quả gì. Tất nhiên, khi đến chùa, ai cũng công nhận những giá trị lịch sử văn hóa của ngôi chùa này đối với văn hóa Nam Bộ xứng đáng được ghi nhận, thế nhưng, có lẽ có những uẩn khúc gì nữa làm cho việc công nhận di tích văn hóa lịch sử của ngôi chùa này đến nay vẫn chưa được tiến hành. Có lẽ, chỉ có sự ưu tư của người chủ chùa này thôi thì không đủ để ngôi chùa có tên trong danh mục di tích lịch sử văn hóa tỉnh, mà cần có sự quan tâm của Tỉnh hội Phật giáo, cùng những ban ngành đoàn thể của tỉnh Bạc Liêu.

Hiện nay, anh Năm Nhan đã phát nguyện xuất gia ở chùa Khánh Sơn, Sóc Trăng, dự định tháng Tư này thọ giới Sa di. Hy vọng, sự phát nguyện này của anh sẽ mở ra trang mới cho ngôi chùa cổ này.

 

Quảng Tuấn

http://www.daitonglam.com/?module=detail&id=128