tvduc : 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 7: PHƯƠNG DUNG


Tin tức — August 21, 2013 at 12:05 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 7: PHƯƠNG DUNG

by 

Cô nổi tiếng năm 17 tuổi sau khi trình bày thành công bài hát “Nỗi buồn gác trọ” của Mạnh Phát và Hoài Linh vào năm 1962, sau đó tiếng hát của cô đã đi vào lòng người với bài hát “Những đồi hoa sim” năm 1964, Dzũng Chinh phổ thơ của nhà thơ Hữu Loan.

Ca sĩ Phương Dung

Ca sĩ Phương Dung

Năm 1965, với bài hát “Tạ từ trong đêm” của nhạc sĩ Nhật Trường – Trần Thiện Thanh, Phương Dung đã nhận được giải huy chương vàng giành cho nữ ca sĩ trong năm, và người nhạc sĩ của bài hát được giải Bài hát xuất sắc nhất trong năm.

Nếu kể đến những giọng ca được coi là huyền thoại đã đi vào lịch sử tân nhạc Việt Nam thì chắc chắn Phương Dung không thể nằm ngoài danh sách này. Chất giọng cao và lảnh lót của chị đã chính thức đến với người nghe từ cuối thập niên 50, khi còn là một thiếu nhi 13, 14 tuổi. Giọng ca đó càng ngày càng gây nhiều chú ý trong bối cảnh của cuộc chiến tranh với những nhạc phẩm mang nội dung thật gần gũi với tình yêu trong thời chinh chiến hoặc với những nét đẹp của quê hương. Những yếu tố đó đã mang đến cho Phương Dung một sự thành công thật lớn để chị có thể hãnh diện về sự đóng góp của mình cho nền tân nhạc Việt Nam. Sau khi xuất hiện không bao lâu, Phương Dung đã được báo chí và những người ái mộ tặng cho danh hiệu “Con Nhạn Trắng Gò Công”, bắt nguồn từ thành phố nơi chị sinh trưởng ở vùng Tiền Giang vào năm 1945…

Gia đình Phương Dung là một gia đình khá giả ở Gò Công, có vườn tược, hoa mầu cùng cửa hàng buôn bán như chị cho biết. Song thân chị có tất cả 4 người con. Ngoài Phương Dung, là một người con gái lớn và 2 người con trai. Cả hai người sau đều gia nhập binh chủng Nhảy Dù, trong số có một người tử trận tại Cổ Thành Quảng Trị vào mùa hè năm 72. Trưởng thành trong một hoàn cảnh thoải mái về vật chất, người con thứ hai trong gia đình với một người mẹ là em vợ nhà văn nổi tiếng Hồ Biểu Chánh, rất yêu thích văn chương.

Thân phụ Phương Dung là người xuất gia một thời gian từ khi còn trẻ. Tuy nhiên sự xuất gia này được chị giải thích là chỉ gieo duyên chứ không đi hẳn vào vào con đường tu hành . Điều này có nghĩa sau thời gian gieo duyên vài năm, ông trở về coi sóc vườn tược của gia đình. Riêng về việc Phương Dung muốn ca hát, ông tỏ ra rất ủng hộ chị trên con đường nghệ thuật. “Ông nói rằng đi hát là một cái nghề rất là lương thiện mà tự vì người dân của mình họ bảo thủ và có một cái nhìn sai lạc về những người làm nghệ thuật nói chung. Nhưng mà con đi hát thì phải biết mình là người yêu nghệ thuật mà đi hát chứ không phải sống một cuộc sống bừa bãi . Tự vì người nghệ sĩ mà không làm nghệ thuật giỏi và hay thì người ta đâu có thích. Và nếu nói theo Phật pháp người mà được người ta thương mến nhiều là người có tu nhiều kiếp lắm”, đó là nguyên văn lời Phương Dung kể về ông bố của mình đối với nghiệp cầm ca.

Tuy song thân Phương Dung sống theo lối cổ, mang nhiều ảnh hưởng của Nho học và thích thơ phú. Nhưng cả hai đều có đầu óc rất cởi mở.. Có thể vì vậy Phương Dung ít ra cũng mang chút ảnh hưởng về nghệ thuật, về sự phóng khoáng trong tâm hồn khi tỏ ra rất thích đọc sách về thơ văn để hết lòng ngưỡng mộ nhà văn Nguyễn Tuân và say mê những tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Ngoài ra chị cũng rất thích những sáng tác thuộc loại văn chương “miệt vườn” của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam hay Nguyễn Văn Ba, vv…Trong lần tâm sự với người viết, Phương Dung cho biết nếu được đi lại từ đầu, chị vẫn thích theo đuổi con đường nghệ thuật. Nếu không thành ca sĩ cũng sẽ thành một nhạc sĩ hoặc một nhà văn hay một nhà đạo diễn điện ảnh. Lý do dễ hiểu là chị là một con người mang một tâm hồn rất nhậy cảm nên dễ xúc động, chẳng hạn như trước những vần thơ hay mà chị thuộc nằm lòng. Phương Dung đã tỏ ra say sưa khi đề cập đến vấn đề này: “là một người tình cảm thì phải nhiều chứ. Như vậy, mới hát đuợc, mới sống được với trái tim của người khác. Như vậy mới có thể rung động trước những câu thơ như.”Ta đem trái đất ngâm thành rượu, ta lấy càn khôn biến thành môi…”

Khi còn theo học ở trường tiểu học nữ Gò Công, cô bé Phan Phương Dung nhiều tình cảm đã tỏ ra rất yêu thích ca hát và luôn có mặt trong các chương trình văn nghệ do trường tổ chức… Sau khi học hết bậc tiểu học, gia đình cho Phương Dung lên Sài Gòn thi vào lớp Đệ Thất trường trung học Gia Long niên khóa 1958 – 1959. Sau khi thi, dù lúc đó không nuôi mộng trở thành ca sĩ để sống mà chỉ thích được ca, được hát cho hay như chị nói. Nhưng Phương Dung cũng đã tự mình mò mẫm hỏi thăm đường đến tận đài phát thanh Sài Gòn sau khi biết được nơi đây sắp tổ chức một cuộc tuyển lựa ca sĩ. Sau này Phương Dung cũng không biết tại sao mình đã bạo dạn như vậy. Chắc chắn không có lý do nào khác hơn là niềm say mê ca hát. Thời gian này tân nhạc Việt Nam đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng, đang cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn như Thu Hương, Tâm Vấn, Thái Thanh, Thanh Thúy, Lệ Thanh, Bạch Yến, Bích Chiêu, vv…Đó là những khuôn mặt chị nhìn thấy vào đài phát thanh một cách dễ dàng lúc đứng ngòai cổng nhìn vào. Trong khi “tôi đứng ở ngoài thì ông gác-dan ra hỏi: này cô bé làm gì mà cứ thập thò ngoaì này hoài vậy.” “Thưa con muốn vào để lấy đơn dự thi ca sĩ”. Ông biểu ngừng xe đạp đây vào trong phòng đó, để cái thẻ học sinh ở đây vào queo tay trái có ông nhạc sĩ nào đeo kính cận già già thì hỏi xin giấy tờ làm thủ tục dự thi ca sĩ”

f_PHUONGDUNGSm_cc90b6c

Cô bé tỉnh Gò Công mặc dù rất bỡ ngỡ, nhưng cũng theo lời chỉ dẫn của người gác dan vào gặp nhạc sĩ Võ Đức Tuyết. Khi Phương Dung cho biết ý định muốn dự thi hát của mình, chị đã được vị nhạc sư tên tuổi này đề nghị hát thử nhạc phẩm “Em Bé Quê” là bài Phương Dung sẽ dự thi. Nhờ đã quen đứng trước khán giả qua những buổi văn nghệ tại trường, Phương Dung đã không ngại ngùng gì đứng hát ngay giữa phòng, trước bao nhiêu người là những giọng ca nổi tiếng…

Nhưng may mắn chỉ đến với Phương Dung ở vòng sơ khảo và bán kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ vào năm 58 của Đài Phát Thanh Sài Gòn. Vì “vào chung kết thì Phương Dung rớt. Tại vì lúc mà cuối cùng họ đưa một cái bài bắt mình vừa phải vừa xướng thanh, vừa hát luôn, tất nhiên là mình phải biết rành về solfège mới làm được. Mấy người kia vì họ có đem theo đờn. Họ đờn, họ dượt nên họ hát hay. Còn mình hát thì có lỗi trong lúc mình xướng âm. Thành ra mình rớt.. Mình chỉ được đứng hạng 4″. Hai trong ba người được chấm đậu mà Phương Dung còn nhới là Nhật Thiên Lan và Thanh Sơn. Người sau trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng sau đó và là tác giả của ca khúc từng một thời hầu như ai cũng biết tới là “Nỗi Buồn Hoa Phương”…

Tuy buồn vì không được lọt vào trong ba giải đầu, nhưng Phương Dung lại may mắn được giới thiệu với một nhạc sĩ nổi tiếng vào thời đó là Khánh Băng trong thời gian ông phụ trách chương trình văn nghệ cho giải trí trường Thị Nghè, là nơi xuất thân của không ít nghệ sĩ nổi tiếng. Vì số tuổi còn nhỏ nên chỉ quen mặc đầm, Phương Dung tỏ ra hơi ngượng ngập trong chiếc áo dài đầu đời khi xuất hiện lần đầu tên trên sân khấu giải trí trường Thị Nghè. Nhưng do mê hát nên cuối cùng cũng đã vượt qua được những ngượng ngùng, e thẹn lúc ban đầu để dần dần gây được chú ý bằng tiếng hát của mình. Chỉ trong vài năm đầu tiên đi hát, Phương Dung đã mau chóng gặp những cơ hội tiến thân tại những địa điểm trình diễn mà trước đó nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã đi qua. Chẳng hạn như phòng trà Tứ Hải của ông Trần Cao Tăng, một thời là giám đốc đài phát thanh Pháp Á, là nơi Phương Dung hát “lót đường” vào năm 59 cho những giọng ca đã có tên tuổi mà Thanh Thuý là một trong số này. Năm sau, 1960, chị về hát ở phòng trà Anh Vũ là nơi trình diễn của rất nhiều nghệ sĩ như: Thanh Thuý, Khánh Ly, Trúc Mai, Bạch Yến, Bích Chiêu, Trần Văn Trạch, ban Tam Vân, Phương Lan, Quốc Thắng, v v…

Vào thời gian này, vì đi hát nhiều và nhất là chỉ chú tâm vào niềm đam mê ca nhạc nên Phương Dung đã không có được đủ điểm trong những kỳ thi tam cá nguyệt nên chỉ theo học trường Gia Long được đúng một niên khóa. Sau đó chị chuyển qua trường Đức Trí và học tại trường tư thục này đến hết lớp 11 rồi nghỉ học luôn. Song song trong thời kỳ đó, chị cũng đã theo học tại Hội Việt – Mỹ đến hết lớp 6.

Ít ai còn nhớ và cũng không ngờ là thời kỳ hát ở Anh Vũ, Phương Dung lại là giọng ca chuyên trình bày những nhạc phẩm tiền chiến như Thiên Thai, Khối Tình Trương Chi, Trương Chi, Đàn Chim Việt, Suối Mơ, Buồn Tàn Thu, v v…Nguyên nhân là chị đã được hướng dẫn trong thời kỳ đầu bởi nhạc sĩ Lê Trung Quân (cũng đi hát dưới tên Vân Quang), cũng là một sĩ quan Không Quân là một người dạy chị hát theo giọng Bắc để trình bày những ca khúc tiền chiến. Cũng do đó, Phương Dung đã rất thích trước khi chuyển qua loại nhạc thời trang theo thị hiếu của khán thính giả và do các hãng đĩa nhạc yêu cầu, với các sáng tác của Lê Minh Bằng, Thanh Sơn, Châu Kỳ, vv…

090317083004-931-214

Nhưng phải công nhận từ khi chuyển hẳn qua nhạc tình cảm phổ thông có tính cách đại chúng, Phương Dung đã mau chóng thành công và được biết tới nhiều với những ca khúc như : Chuyện Tình Lan Và Điệp, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, Hoa Nở Về Đêm, Những Đồi Hoa Sim, v v… Với nhạc phẩm Đường Về Khuya của người nhạc sĩ cùng gốc Gò Công là Lê Dinh, Phương Dung lần đầu tiên thu thanh tiếng hát mình trên đĩa nhựa. Kế đó là những nhạc phẩm Vọng Gác Đêm Xuân, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, vv…rất được khán thính giả ưa thích. Nhưng phải đợi đến năm 1962 khi nhạc phẩm Nỗi Buồn Gác Trọ ra đời thì tên tuổi Phương Dung thật sự đã bước vào một khúc quanh quan trọng, nhất là khi nhạc phẩm này được đưa vào phim “Saigon By Night” của hãng phim Alpha.

Trước sự ăn khách của Phương Dung, hãng đĩa Sóng Nhạc của ông Lê Tất Oanh đã mời chị ký một giao kèo độc quyền vào năm 1964 với một giá rất cao vào thời đó là nửa triệu đồng. Mỗi tháng thu thanh 4 nhạc phẩm, dù không có bài để thu vẫn được trả lương. Với Sóng Nhạc, Phương Dung tiếp tục làm say mê thính giả với tiếng hát cao chót vót của mình trong những ca khúc đã trở thành bất hủ như Huyền Sử Ca Một Người Mang tên Quốc (hát với nhật Trường), Những Đồi Hoa Sim, vv…Riêng Những Đồi Hoa Sim do Dũng Chinh phổ nhạc từ thơ của Hữu Loanđã được dùng làm nhạc phẩm chính cho cuốn phim Tiếng Hát Nửa Khuya (“Songs At Night”) do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ thực hiện vào năm 1964. Trong phim này Phương Dung đã được mời thủ diễn một vai quan trọng bên cạnh nam tài tử Huy Cường. Ngoài Những Đồi Hoa Sim, còn một vài nhạc phẩm khác do Phương Dung trình bày cũng được đưa vào cuốn phim này như Không Bao Giờ Ngăn Cách, Bóng Đêm, vv..

Đến năm 1965, Phương Dung chuyển qua trình bày nhiều nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh và rất được khán thính giả thích thú.. Cũng trong năm đó, nhạc phẩm Tạ Từ Trong Đêm của Trần Thiện Thanh do Phương Dung trình bày đã đoạt giải Bài Hát Hay Nhất cùng với Huy Chương Vàng dành cho ca sĩ trình bày xuất sắc do Thanh Thương Hội trao tặng. Ngoài ra cũng với Tạ Từ Trong Đêm, Phương Dung còn được tạp chí Sân Khấu của ký giả Nguyễn Ang Ca trao giải Nữ Ca Sĩ Được Cảm Tình Nhất Năm 65. Ngoài những sáng tác của Trần Thiện Thanh, tiếng hát Phương Dung còn được biết đến nhiều với những nhạc phẩm của Thanh Sơn, Hoàng Trang, Hồng Vân, Thu Hồ và đặc biệt những sáng tác của nhóm Lê Minh Bằng.

Từ giữa thập niên 60, Phương Dung đã trở thành một trong những giọng ca được mến mộ nhất với thể loại nhạc thời trang. Từ quê ra tỉnh, “Con Nhạn Trắng Gò Công” với tiếng hát đặc biệt của mình hầu như đã chinh phục tất cả mọi người. Riêng tại Sài Gòn, Phương Dung đã cộng tác liên tiếp trong những năm 95, 96 và 97 mỗi đêm với 7 phòng trà và vũ trường. Đó là Tự Do, Maxim’s, Olympia, Quốc Tế, Bồng Lai, Paramount và Văn Cảnh. Đó là một thành tích hiếm có ca sĩ nào đạt nổi.

phuongdung

Hiện nay tuy đã có tuổi nhưng giọng ca của Phương Dung vẫn không phai dần theo năm tháng, vẫn còn đó lối hát tâm tình, cứ như trăn trở về một dĩ vãng ngày xưa. Tiếng hát Phương Dung ngọt ngào mà chơn chất như người con gái Gò Công, luôn được khán thính giả yêu mến tới nay.

Thegioif5 sưu tầm

tvduc : 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 2: KHÁNH LY


Tin tức — August 4, 2013 at 1:26 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 2: KHÁNH LY

by 

Nhắc đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, người ta nhớ ngay đến tiếng hát Khánh Ly. Nghe nhạc Trịnh với giọng ca của Khánh Ly để suy ngẫm về cuộc đời, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của âm nhạc, để thông cảm với một tâm hồn… quá hay, quá đẹp.

Ca sĩ Khánh Ly và nhạc sĩ  Trịnh Công Sơn tại Huế năm 1967

Ca sĩ Khánh Ly và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại Huế năm 1967

Tiếng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh Công Sơn đã đi liền với nhau như một định mệnh. Nhạc Trịnh Công Sơn là những bài tình ca cho đất nước, cho dân tộc, và cho tình yêu. Bằng tiếng hát Khánh Ly, và có lẽ chỉ bằng tiếng hát Khánh Ly, những bài hát của Trịnh Công Sơn đã thấm sâu vào tâm hồn mọi người Việt Nam. Ðã mấy chục năm trôi qua từ ngày cô bé Khánh Ly đi chân đất, hát trước hàng ngàn sinh viên Việt Nam và gây xúc động mạnh mẽ với một thứ âm nhạc lạ kỳ. Ngày nay, nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã trở thành một phần của tâm hồn người Việt chúng ta.

khanh-ly-mot

Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai, sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945 tại Hà Nội, cũng có khi cô lấy tên Phạm Thị Lệ Mai theo họ Phạm của người cha dượng. Năm 1954, Lệ Mai theo mẹ di cư vào miền Nam.

Khi còn ở Hà Nội, dù chưa tới 9 tuổi, Khánh Ly đã tham dự một cuộc thi hát với bài Thơ Ngây cùa nhạc sĩ Anh Việt nhưng không được giải gì. Cuối năm 1956, mới 11 tuổi, Khánh Ly một mình đi nhờ xe chở rau từ Đà Lạt về Sài Gòn tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom. Lệ Mai hát bài Ngày Trở Về của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau “thần đồng” Quốc Thắng.

Năm 1962, Khánh Ly thực sự bước chân vào sự nghiệp ca hát, cô hát cho phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Cuối năm đó cô chuyển lên sống tại Đà Lạt và hát cho các phòng trà ở đó. Năm 1964, Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, lúc đó còn chưa nổi tiếng, ông mời cô về Sài Gòn biểu diễn. Lúc đó, vì không muốn rời Đà Lạt nên Khánh Ly từ chối lời đề nghị của người nhạc sĩ trẻ đó.

Năm 1967, do tình cờ cô gặp lại Trịnh Công Sơn tại Sài Gòn và từ đó, Khánh Ly cùng Trịnh Công Sơn đã trở thành một hiện tượng của tân nhạc Việt Nam.

Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời cho sinh viên tại Quán Văn nằm trên bãi đất rộng sau trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Họ tiếp tục trình diễn khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong sân cỏ trường đại học, nơi Khánh Ly được mệnh danh là “Nữ Hoàng Chân Đất” hay “Nữ Hoàng Sân Cỏ”. Khánh Ly chính là ca sĩ Việt Nam đầu tiên tổ chức sô (show) diễn riêng của mình.

Về biệt danh “Nữ hoàng chân đất”, theo lời thuật lại của Khánh Ly trong băng Video Một đời Việt Nam thực hiện năm 1991, khi chưa có kinh nghiệm ca hát và lần đầu tiên xuất hiện trước một đám đông khoảng một ngàn người, Khánh Ly đã không giữ được bình tĩnh vá đứng không vững, phải vịn vào vai Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn nói “bỏ tay ra và đứng hát cho nghiêm chỉnh”, vì run quá, nên Khánh Ly cởi bỏ đôi giày cao gót và đứng chân đất và nhờ đó, đã có thể bình tĩnh để trình bày hết bài hát của Trịnh Công Sơn trong suốt một đêm đó, khoảng 30 đến 40 bài hát trong 1 đêm. Khánh Ly kể về thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.

Từ năm 1967 đến 1975, Khánh Ly hợp tác với nhiều hãng đĩa tại Sài Gòn, thâu âm nhiều bài hát trong các dĩa nhạc của các hãng dĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Tình Ca Quê Hương, Dư Âm, Nhạc Ngày Xanh, Continental và thâu vào băng Akai của Chương trình Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Sơn Ca, Họa Mi, Jo Marcel… Năm 1968, Khánh Ly mở Hội Quán Cây Tre ở Đakao, số 2bis đường Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Đây là nơi tụ họp của các văn nghệ sĩ và các sinh viên học sinh yêu văn nghệ yêu tiếng hát Khánh Ly, và đây cũng là nơi tổng phát hành những cuốn băng nổi tiếng Trịnh Công Sơn – Khánh Ly Hát Cho Quê hương Việt Nam.

Năm 1970, nhận được lời mời của đài truyền hình NHK, Khánh Ly sang biểu diễn ở Nhật Bản. Khánh Ly đã ghi âm và trình diễn các ca khúc bằng cả hai thứ tiếng Việt và Nhật.

Năm 1970, Chiến tranh Việt Nam lan rộng, Trịnh Công Sơn viết nhiều ca khúc phản chiến và được Khánh Ly hát trong những cuốn băng Hát Cho Quê Hương Việt Nam. Khánh Ly cũng tham gia hát trong những buổi ca nhạc gây dựng quỹ của các hội đoàn, hội Công giáo Việt Nam để xây chùa, nhà thờ, trại mồ côi, trại tị nạn. Năm 1972, cô mở một phòng trà ca nhạc mang tên Khánh Ly trên đường Tự Do, số 1214 tại thành phố Sài Gòn.

Vợ chồng ca sĩ Khánh Linh và bạn bè

Vợ chồng ca sĩ Khánh Ly và bạn bè

Sau năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam và định cư tại Cerritos, California, Hoa Kỳ. Năm 1979, một lần nữa Columbia Nippon lại mời Khánh Ly đến Nhật để thâu băng nhạc của Trịnh Công Sơn. Năm 1982, đài Bunka Honso Radio mời Khánh Ly tham gia Liên hoan Âm nhạc Châu Á với nhiều nghệ sĩ nhiều nước châu Á. Năm 1985, Khánh Ly cùng chồng là nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan mở hãng thu riêng Khánh Ly Productions.

Năm 1996, Đài truyền hình NKH ở Nhật Bản đã chọn Khánh Ly là một trong 10 nhân vật nổi tiếng để làm phim tài liệu về cuộc đời và gia đình Khánh Ly.

khanhly1

Hiện nay Khánh Ly vẫn tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình.

Thegioif5 sưu tầm

tvduc : 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 6: HÀ THANH


Tin tức — August 19, 2013 at 12:21 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 6: HÀ THANH

by 

Có một loài chim khi cất tiếng hót thánh thót vang vọng giữa trời mây sông nước, không gian như lắng đọng để hoà nhập trong âm điệu du dương: hoàng oanh. Mang âm hưởng đó, có tiếng ca ngọt ngào, truyền cảm như làn gió nhẹ, như tiếng reo của thuỳ dương, như tơ vương giăng mắc, như sương khói lững lờ, như lời tình tự giữa trăng thanh, như ru ta vào cõi mộng mơ, dìu ta lạc bước vào đất thần kinh với hoàng thành cung điện, với đền đài lăng tẩm, với sông nước hữu tình, với nhạc điệu trầm bỗng, thướt tha: Hà Thanh.

Ca sĩ Hà Thanh

Ca sĩ Hà Thanh

Sinh trưởng ở Liễu Cốc Hạ, Hương Trà, lớn lên bên dòng Bến Ngự đường Huyền Trân Công Chúa, Trần Thị Lục Hà sinh ra trong gia đình gia giáo có mười anh chị em, theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh. Là một Phật tử thuần thành, thuở nhỏ đã được quy y với Đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết.

Lục Hà thích hát từ thuở mới cắp sách đến trường, dần dà năng khiếu về ca hát được thể hiện qua chương trình “Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh” trên Đài phát thanh Huế.

Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, cô nữ sinh Lục Hà của Trường Đồng Khánh mới 16 tuổi tham dự với danh xưng Hà Thanh. Qua 6 nhạc phẩm rất khó hát được Hà Thanh trình diễn như Dòng Sông Xanh (Le Beau Danube Bleu) của J.Strauss, lời Việt của Phạm Duy, Nhạc Buồn (Tristesse) của Chopin, lời Việt của Anh Ngọc, Đêm Tàn Bến Ngự & Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước, Được Mùa của Phạm Đình Chương, Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay của Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Hà Thanh được Ban Giám Khảo chấm giải nhất với số điểm 19/20.

hathanh02

Tên tuổi Hà Thanh đã được giới yêu thích âm nhạc ái mộ với làn hơi trong sáng, êm ái, ngọt ngào, cao sang, mượt mà, bóng bẩy, tình tự quê hương, có nét độc đáo trong âm điệu đất thần kinh. Tuy yêu nghề nhưng chưa dấn thân vào nghiệp, Hà Thanh vẫn tiếp tục con đường học vấn, chỉ hát ở Huế nhưng những ca khúc được trình bày đã vang xa khắp bốn phương trời qua lán sóng phát thanh của Đài phát thanh Huế, đánh dấu sự chờ đợi, hẹn hò của các trung tâm phát hành đĩa nhạc ở Sài Gòn.

Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm chọn lọc.

Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập trong môi sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Từ đó, góp mặt với những tiếng hát hàng đầu như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Mai Hương, Lệ Thu, Minh Hiếu, Thanh Thuý… Vào giữa thập niên 60, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Thời gian kế tiếp, xuất hiện trên Đài Truyền hình, một giọng ca rất Huế, một hình ảnh rất thân quen đã tạo dựng cho tên tuổi Hà Thanh với sắc thái đặc biệt gắn liền với nhiều bản tình ca in sâu vào tâm tư tình cảm tha nhân.

Vào cuối thập niên 50, Nguyễn Văn Đông cho ra mắt vài nhạc phẩm đầu tay như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Mầu Nhớ… Quái kiệt Trần Văn Trạch đã đưa ca khúc Chiều Mưa Biên Giới lên đỉnh trăng sao trong khung trời ca nhạc. Thập niên 1960, Nguyễn Văn Đông làm Giám đốc nghệ thuật trung tâm đĩa nhạc Continental, ca khúc Chiều Mưa Biên Giới qua tiếng hát Hà Thanh đã đưa người nghe lâng lâng tâm hồn, bay bỗng “theo áng mây trôi chiều hoang, bầu trời xanh xanh, vầng trăng, cờ về chiều tung bay phất phới…”. Và, hình ảnh biên giới với người đi khu chiến được khơi dậy trong lòng mọi người.

Từ đó, nhiều ca khúc của Nguyễn Văn Đông được Hà Thanh trình bày, qua gần 4 thập niên, vẫn là tiếng hoàng oanh ngân vang đầu núi. Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Hải Ngoại Thương Ca, Nhớ Một Chiều Xuân… của Nguyễn Văn Đông, qua tiếng hát, vô hình chung trở nên bản quyền của Hà Thanh. Ở đó, có khi như định mệnh, thời gian ở hải ngoại, Hà Thanh gắn liền với Hải Ngoại Thương Ca. Với ca khúc Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự của Dương Thiệu Tước, với Tà Áo Tím, Thuở Ấy Yêu Em, Anh Đi Về Đâu của Hoàng Nguyên, với Chùa Hương của Hoàng Quý, Dứt Đường Tơ của Văn Thuỷ và Dzoãn Mẫn với Mối Tình Trương Chi của Phạm Duy, và nhất là Hẹn Một Ngày Về của Lê Hữu Mục… được Hà Thanh trình bày, qua bao thập niên, vẫn là giọt sương long lanh, tiếng hót của loài chim quý trênđỉnh núi, lời tình tự ngát hương.

HATANH1

Tuy là ca sĩ chuyên nghiệp nhưng hoàn cảnh đời sống hải ngoại đưa đẫy công việc không liên quan đến nghề nghiệp trong sinh hoạt văn nghệ. Nói như thi hào Nguyễn Du “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, làm sao rời bỏ tiếng ca, giọng hát khi lòng còn tha thiết, vẫn còn trong sáng, ngọt ngào, nét độc đáo trong tiếng hát. Trong suốt thời gian vợ chồng xa cách, Hà Thanh rất ít xuất hiện trên sân khấu, con chim hoàng oanh ngậm ngùi im tiếng. Đã một thời nơi đất thần kinh, Hà Thanh được mệnh danh con chim hoạ mi trong vòm trời ca nhạc.

Bước vào thập niên 90, thỉnh thoảng về thăm Little Saigon, Hà Thanh xuất hiện, trình làng tiếng ca trong vài cuốn CD. Ngoài những ca khúc được hát chung với vài ca sĩ thành danh, tiếng hát Hà Thanh với CD khởi đầu Hải Ngoại Thương Ca, và CD kế tiếp Chiều Mưa Biên Giới, gồm hai mươi ca khúc quen thuộc, vang danh. Những ca khúc nầy đã một thời tạo dựng tên tuổi Hà Thanh nổi tiếng trong kiếp cầm ca. Và, ngược lại, đôi khi còn là của riêng bởi giọng ca đặc biệt ngọt ngào, thướt tha, mềm mại như lụa đào, như dáng liễu nhẹ nhàng tung bay trong làn gió nhẹ.

Ở đây, gặp lại những tình khúc một thời luyến nhớ từ Chiều Mưa Biên Giới. Mấy Dặm Sơn Khê, Nhớ Một Chiều Xuân, Hải Ngoại Thương Ca, Khúc Tình Ca hàng hàng Lớp Lớp của Nguyễn Văn Đông đến Thiên Thai của Văn Cao, Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh, Nỗi Niềm của Tuấn Khanh, Tiếng Xưa của Dương Thiệu Tước, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn của Văn Phụng.

Hà Thanh được hầu hết mọi người ái mộ từ nhân cách của người ca sĩ đến giọng ca được trải dài trong gần nửa thế kỷ. Bước vào thiên niên kỷ mới, Hà Thanh bước sang tuổi lục tuần. Hà Thanh còn giữ được giọng ca truyền cảm, điêu luyện để đóng góp vào dòng sinh hoạt ca nhạc hải ngoại, Hà Thanh thực hiện tiếng ca của con chim hoàng oanh để được lưu truyền, nếu không, phôi phai theo thời gian, mỗi chuổi giây đưa ta về miền cát bụi… rồi một ngày nào đó, không còn tác phẩm cho đời, ngậm ngùi tiếc nuối. Trước kia, Hà Thanh không xuất hiện ở vũ trường, vào đầu thập niên 70 Hà Thanh xuất hiện với lý do đặc biệt vì không nhận thù lao.

Hà Thanh, một giọng ca bay bỗng, lẫy lừng, tiếng hát đã chinh phục hàng triệu trái tim trên làn sóng điện, và, một cuộc sống trầm lặng. mộ đạo, hiếu thảo bên thân mẫu vào tuổi cửu tuần. Tiếng hát Hà Thanh cao vút, luyến láy rất nhuần nhuyễn khơi dậy nhựng mạch nguồn của nhớ nhung, của một thời yêu thương với khung trời vấn vương bao kỹ niệm, của hương xưa, của thuở chiến chinh, của trời mây non nước… tất cả mang theo hình ảnh thân thương của bóng dáng quê hương. Tiếng hát Hà Thanh như cuốn hút người nghe thả hồn về quá khứ, thả mình trong tĩnh lặng, trong nỗi xa xăm bị đánh mất, mịt mù thức mây… được vỡ về, bầy tỏ, an ủi cho nhau bởi âm điệu ngọt ngào du dương.

Thegioif5 sưu tầm

tvduc / 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 1: CA SĨ THÁI THANH


Tin tức — August 3, 2013 at 2:32 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 1: CA SĨ THÁI THANH

by 

Thái Thanh “ Một ca sĩ của dân tộc ”. Thái Thanh “ Một tiếng hát dâng hiến tâm tình ” Thái Thanh đã hát cho bao nhiêu thế hệ chúng ta, từ đầu thập niên 50, khi mới 17 tuổi, từ Bắc vào Nam, hơn 20 năm với quê hương chinh chiến.

Ca sĩ Thái Thanh

Ca sĩ Thái Thanh

Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng.

Với 1 giọng ca trong trẻo, cao vút cùng một cách hát và nhả chữ không thể nhầm lẫn, tiếng hát Thái Thanh đã sống cùng trái tim yêu nhạc của bao người qua nhiều thế hệ. Tên tuổi Thái Thanh gắn liền với âm nhạc Phạm Duy & Phạm Đình Chương cùng những ca khúc sống mãi với thời gian: Ngày xưa Hoàng Thị, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Dòng Sông Xanh, Nửa Hồn Thương Đau….

Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ của bà là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh.

Thái Thanh lập gia đình với tài tử Lê Quỳnh vào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi. Năm 1985 Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh – Đêm Tái Ngộ năm 1986) và ghi âm một số CD với Trung tâm Diễm Xưa. Hai con gái của bà Ý Lan và Quỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh giải nghệ năm 2002, nhưng đến năm 2006, bà lại xuất hiện trên sân khấu chương trình “Thái Thanh và ba thế hệ”.

Thái Thanh ở Montreal 2005

Thái Thanh ở Montreal 2005

Tiếng hát Thái Thanh là một âm vang thời cuộc, tiếng hát của bà không đơn thuần là một tiếng hát nữa, mà đã là một hiện vật lịch sử.

Thegioif5 sưu tầm

Related Posts

http://thegioif5.com/10-nu-ca-si-co-suc-anh-huong-nhat-viet-nam-ky-1-ca-si-thai-thanh/

tvduc: 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 5: HOÀNG OANH


Tin tức — August 8, 2013 at 3:20 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 5: HOÀNG OANH

by 

Tiếng hát mật ngọt Hoàng Oanh trải qua nhiều năm tháng, không thể lẫn lộn với bất cứ giọng ca nào. Nó đi sâu vào lòng người, ngất ngây như uống phải thứ men say và gợi nhớ muôn trùng một vùng trời kỷ niệm, đầy ắp thương yêu.

cohoangoanh05

Hoàng Oanh là một tài năng đa diện. Với một làn hơi ngọt ngào, nồng nàn tình cảm, Hoàng Oanh đã có khả năng trình bày tất cả các loại nhạc cũng như lối ngâm. Từ những nét sang trọng, dịu dàng, quý phái của nhạc tiền chiến đến những bản dân ca ba miền, những bài tình tứ quê hương, từ những câu hò mái đẩy miền Trung đến bài vọng cổ miền Nam hay câu Sa mạc, hát ví của miền Bắc…

Tiếng hát cũng như giọng ngâm của Hoàng Oanh có chút gì thật sâu đậm, buồn man mác nhưng thật tình tứ, đã chinh phục được đa số thính giả.

cohoangoanh01

Bà tên thật là Huỳnh Kim Chi , sinh ngày 27 tháng 1 năm 1950 tại tỉnh Mỹ Tho nhưng trưởng thành ở Sài Gòn . Gia đình bà có 6 chị em, tuy chịu sự giáo dục nề nếp nghiêm khắc của cha, nhưng vì cũng là một nghệ sĩ, nên ông cũng tạo điều kiện cho bà phát triển tài ca ngâm. Bà bắt đầu được cha dạy hát khi mới lên 5 tuổi và đến năm lên 8, bà trình diễn trên sân khấu lần đầu tiên Liên trường võ khoa Thủ Đức với hai bản nhạc “Hương lúa miền Nam” và “Có một đàn chim”.

Năm 11 tuổi, bà theo học Trung học tại trường Gia Long ( Trường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ ) nhưng vẫn thường xuyên đi thu âm và biểu diễn. Ngày 6 tháng 11 năm 1964, tại phòng thâu băng đường Võ Duy Nguy (Chợ Cũ); trong lúc đang tập hát với ban nhạc của nhạc sư Nghiêm Phú Phi, nhà văn Lê Thanh Thái chụp mấy tấm hình tặng bà kèm theo bài thơ có hai câu:

“Vượt núi tiếng hò ra xứ Huế…

Oanh vàng dìu dặt gợn dòng Hương…”

Cũng vào năm đó, bà được mời đi trình diễn đại nhạc hội ở Huế. Do có khiếu ngâm thơ và thường ngâm thơ trước khi hát, bà đã tạo nên sự khác biệt cho các phần trình diễn của mình trong suốt sự nghiệp và được đánh giá là “đủ tài ca ngâm”.

 

Hiện nay, bà vẫn xuất hiện thường xuyên trong các chương trình Paris by Night, Asia cũng như các hoạt động nghệ thuật ở hải ngoại.

Tâm tình của Hoàng Oanh

cohoangoanh08

Tôi sinh trưởng tại miền Nam, quê tôi tỉnh Mỹ Tho trồng nhiều dừa nên cũng gọi là tỉnh dừa. Năm lên 11 tuổi tôi học đệ thất trường Gia Long, tôi có mấy “cô bé” bạn học người Huế. Không thân lắm nhưng tôi để ý đến giọng nói “trọ trẹ”. Lần đầu tiên tiếp xúc với bạn mới, phải để ý lắng tai nghe mới hiểu được bạn tôi đang nói gì. Nhưng đến khi các “cô bé’” xúm lại nói chuyện với nhau thì tôi đành chịu, không làm sao xen vô câu chuyện với họ được.

Năm lên đệ tam, tôi có thêm mấy người bạn miền Trung khác. Tuy quen lần với giọng Huế lơ lớ, nhưng thú thật khi bạn tôi lên trả bài, tôi nghe tiếng được tiếng mất.

 hoangoanh14

Qua bạn bè cùng lớp, bắt đầu biết đôi chút về miền Trung, về Huế, tôi tưởng tượng nững cô gái ngoài kia với mái tóc thề xõa bờ vai trong một thành phố thơ mộng, cổ kính. Bao nhiêu đó đã kích thích trí tò mò của tôi về xứ Huế với tâm tình lắng sâu nhưng nhậy cảm của những cô gái Huế. Bạn bè tôi thường tả là Huế đẹp, Huế thơ. Tôi thích hát những bạn có âm hưởng miền Trung. Không những thích, tôi thấy hình như có gì hợp với tâm hồn mình lúc đó. Những bài ca Huế tôi hát dễ dàng, hồn nhạc thấm vào hồn tôi tự nhiên mà tôi không nhận ra.

 

Cơ hội tốt lành đã đến khi hãng đĩa Việt Nam mời tôi thu băng bài “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh. Tôi nhận lời ngay, không do dự. Dường như với tuổi trẻ mộng mơ, trong lòng tôi có sẵn cảm tình với Huế, hôm đó tôi hát “Ai Ra Xứ Huế” với tâm hồn mình, với lòng tha thiết, mến yêu như một ca sĩ hát cho quê hương chôn nhau cắt rún. Anh Duy Khánh nghe xong rất vui thích vì theo lời anh tôi diễn tả đúng lời nhạc, ý nhạc anh muốn gởi gắm cho thành phố thân yêu anh vừa từ giã. Anh Duy Khánh nhường tôi thâu bản nhạc này, một hân hạnh đối với tôi, cô nữ sinh đang tập tễnh vào ngưỡng cửa “nghiệp cầm ca”. Đĩa hát thâu băng đầu tiên của tôi được phổ biến, được nhiều thính giả gởi lời khen ngợi, khuyến khích, cô nữ-sinh-ca-sĩ có mặt với sân khấu kể từ “buổi đầu lưu luyến”.

hokhanhlan02

Không bao giờ tôi quên được hôm đó, ngày 6 tháng 11 năm 1964 tại phòng thâu băng đường Võ Duy Nguy (Chợ Cũ); trong lúc tôi đang “dợt” với ban nhạc của nhạc sư Nghiêm Phú Phi, nhà văn Lê Thanh Thái chụp mấy “bô” hình tặng tôi kèm theo bài thơ lâu ngày tôi quên tuốt luốt, chỉ còn nhớ được mỗi hai câu:

“Vượt núi tiếng hò ra xứ Huế…

Oanh vàng dìu dặt gợn dòng Hương…”

Cũng vào năm đó tôi được mời đi trình diễn đại nhạc hội ở Huế. Còn gì vui hơn, còn gì thỏa thích hơn, tôi nhận lời liền, mặc dù lúc ấy tôi rất bận rộn chuyện học hành thi cử liên miên.

 

Chương trình lưu diễn gồm cả Đà Nẵng, Qui Nhơn, nhưng tôi chỉ nôn nao chờ đợi chuyến đi Huế, thành phố tôi biết nhiều bằng tưởng tượng của tuổi trẻ mới lớn lên. Trong đoàn lưu diễn có chị Bạch Yến và Phương Dung. Chúng tôi không đi một mình mà có má đi theo. Việc này đã tạo cơ hội cho một số bạn bè lớn tuổi trong nghề thích vui đùa, chọc phá hay chế nhạo. Họ đùa nghịch dỡn chơi bằng cách thêm vào chữ “má” trước tên ca sĩ. Còn nhỏ, chưa quen với lối đùa nghịch của lớp bạn bè lớn tuổi, tôi hơi mắc cỡ nhưng không biết làm thế nào, nghĩ rằng có má đi cùng tôi đỡ lo nhiều chuyện, người sẽ lo lắng cho tôi, lỡ có đau ốm hay chuyện gì xẩy ra bất thần.

hoangoanh17

Và Huế không phải bằng tưởng tượng, mà Huế thật sự với dòng sông Hương thơm mát, với cảnh đẹp thiên nhiên đã ở trước mắt tôi. Có ra đến đây nhìn cảnh, nhìn người mới thấy Huế gợi cảm có sức thu hút, quyến rũ du khách. Nhìn cầu Tràng Tiền bắt ngang sông Hương, nhìn những đoàn học sinh đồng phục trắng, từng bước nhẹ nhàng thanh thoát như chim, nhìn phong cảnh Huế, không phải “ai” ra xứ Huế nữa, mà chính tôi, tôi đang sống, đang có mặt trên thành phố nên thơ này.

Người Huế hiếu khách và rất tình cảm. Trong suốt thời gian ở Huế, ngày nào tôi và má tôi cũng được hướng dẫn đi thăm thành phố, di tích và thắng cảnh. Chưa được đi thăm lăng tẩm nghe nói đẹp lắm, nhưng chúng tôi được đưa đi đèo Hải Vân. Rất tiếc hôm đó vì đi nhiều nơi, vừa đến chân đèo thì trời sụp tối phải trở về cho kịp giờ trình diễn. Bù lại chúng tôi được đi đò trên sông Hương một buổi tối. Huế có những quán hàng rong đặc biệt, không những hàng quà trên bờ, mà cả dưới nước. Đò chúng tôi thả trôi theo dòng nước, không xa cầu Trường Tiền lắm, bỗng nghe những tiếng rao dài từ trên những chiếc thuyền nhỏ không mui. Món ăn cũng đặc biệt: cơm hến. Người Nam ăn hủ tiếu, người Bắc ăn phở, người Trung ăn bún bò, món ăn “quốc hồn, quốc túy” của ba miền; ra Huế tôi biết thêm một điều, ngoài bún bò Huế có thêm cơm hến. Gồm đủ mùi vị cay, mặn, nồng, the the vì co khế chua, nhưng dư vị sau cùng là “mặn mà tình quê”.

 

Có một kỷ niệm làm tôi nhớ mãi là hôm đầu tiên mới đến Huế, đang từ của sổ khách sạn nhìn ra ngoài chờ đợi ban tổ chức có hẹn thì một nhóm mấy chị nữ sinh Đồng Khánh đến thăm. Sáu cô nữ sinh tha thướt trong áo dài màu trắng, nón bài thơ, cặp sách cầm tay; mặc dù chưa gặp nhau, lần nào nhưng chúng tôi vui vẻ chuyện trò như những người bạn quen từ lâu, chuyện trời mưa trời nắng, chuyện Sài gòn, chuyện Huế, chuyện hát hò … vui thật là vui.

Hình ảnh áo dài trắng, nón lá, cặp sách đối với tôi chẳng có gì xa lạ vì tôi cũng mang những thứ ấy ngày ngày hai buổi đến trường, nhưng hôm ấy tự nhiên tôi thấy nôn nao “chi lạ”, vừa bạn, vừa khách, vừa xa, vừa gần. Lần gặp gỡ đầu tiên này với mấy chị nữ sinh Đồng Khánh làm tôi nhớ mãi.

cohoangoanh09

Cầm tay nhau sắp ra về, một cô bé có lẽ cũng trạc tuổi tôi, 15 tuổi, không hiểu sao rất mến tôi, hẹn sẽ viết thơ cho tôi. Trở về Sài gòn, rất nhiều lần tôi nhận được thơ của người bạn mới, lần nào thơ viết cũng thật dài, hai ba tờ giấy đôi. Mến thương nhất là lần nào cũng vậy, ba tờ giấy được nhuộm thành màu tím rất đẹp, màu tím Huế, thật dễ thương và viết lên trên bằng loại chữ màu trắng nguyên cả bức thơ. Vừa vui mừng, vừa ngạc nhiên thích thú, tôi biên thơ hỏi thăm cách làm để cố gắng đáp lại lòng mến thương của người bạn Huế. Mặc dù đã đựoc chỉ dẫn cẩn thận, tôi thí nghiệm nhiều lần nhưng lần nào cũng vụng về không làm sao có được màu trắng trong và màu tím trinh nguyên như bức thơ tôi nhận được. Không đáp được tâm tình người bạn mới, tôi đành tự an ủi rằng không phải là cô nữ sinh tình tứ sông Hương núi Ngự, không ai đủ nhẫn nại làm được.

Không biết bây giờ “cô bé” ấy ở đâu, trong nước hay ở xứ người: Hoàng Oanh vẫn nhớ chị mãi, nhớ những bức thơ màu tím, mực trắng, nhớ mãi kỷ niệm xưa của chị.

hokhanhlan04

Chỉ đến thăm Huế một lần và một lần thôi vì sau đó phải bỏ nước ra đi, tưởng tượng nếu có dịp ra Huế thêm nhiều lần sẽ còn chồng chất bao nhiêu kỷ niệm khó quên khác.

Thegioif5 sưu tầm

 http://thegioif5.com/10-nu-ca-si-co-suc-anh-huong-nhat-viet-nam-ky-5-hoang-oanh/

tvduc : 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 3: LỆ THU


Tin tức — August 6, 2013 at 10:24 am

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 3: LỆ THU

by 

Nữ ca sĩ rất nổi tiếng, một trong những giọng ca lớn của tân nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng cô là người trình bày rất thành công nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến… và nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác.

lethu1ng2zw5

Lệ Thu, một cái tên tiền định hát bằng nước mắt đau thương, bàng bạc như tơ sương của khung trời mùa Thu đất Bắc, như một lời giới thiệu mở đầu … tèng teng teng…Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông,… Rồi một buổi trưa hè nào đó bên nhà hàng xóm văng vẳng xa vắng Gọi Nắng trên vai em gầy đường xa áo bay,…Chỉ một mỹ từ duy nhất để diễn tả về Lệ Thu thôi “Đẹp”, Lệ Thu là một tiếng hát Đẹp. Thưởng thức tiếng hát Lệ Thu như là thuởng thức một Dung Nhan đẹp đẽ và rắn rỏi.

Ở Lệ Thu, cái đẹp còn ở lối phát âm tiếng Việt khi hát. Nghĩ đến Lệ Thu là mường tượng ngay ra được Vẻ đẹp của tiếng Việt, Nhẹ nhàng, Uyển chuyển và rất tròn vành rõ chữ.

 

Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 07 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất cả 8 người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.

 

Trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy nghệ danh Lệ Thu, trong một cuộc phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: “Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu”. Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau cô quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.

 

Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored Thing… Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp về tên Sơn.

 

Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một năm sau.

 

Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.

le-thu

Đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát. Sau khi con cái trưởng thành và lập gia đình, Lệ Thu sống một mình ở thành phố Fountain Valley.

 Thegioif5 sưu tầm