Âm nhạc dân tộc mất dần chỗ đứng


Âm nhạc dân tộc mất dần chỗ đứng.

Âm nhạc dân tộc mất dần chỗ đứng

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2013-09-22
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

09222013-tradi-musi-los-pop-sta.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Dàn nhạc dân tộc Việt Nam (thuộc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội (2010)

Dàn nhạc dân tộc Việt Nam (thuộc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội (2010)

Courtesy vnam.edu

 Nghe bài này

Nghệ thuật dân tộc đang trở nên bơ vơ, lạc lõng trước cơ chế thị trường, xu hướng sính nhạc ngoại, quay lưng với âm nhạc dân tộc của phần lớn giới trẻ ngày càng đáng báo động…hay nhạc dân tộc thưa vắng người nghe, mất dần bản sắc, biến dạng và mất chất… đang là những điều trăn trở suy nghĩ của nhiều nhà nghiên cứu và thẩm định âm nhạc tại Việt Nam.

Trách nhiệm về ai

Những điều tâm huyết này đã được chia sẻ trong hội thảo khoa học “Âm nhạc dân tộc với cuộc sống hôm nay” do Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc tổ chức hồi tháng 8 vừa qua tại TPHCM.

Nếu nhìn vào thực trạng của âm nhạc Việt Nam, người ta thực sự lo lắng khi thấy đa số thanh thiếu niên hiện giờ rất sành điệu với các trào lưu pop, rock, nhạc Hàn, nhạc Hoa, anh Ngữ mà đang quay lưng lại với chính âm nhạc dân tộc, âm nhạc dân tộc đang mất dần vị trí trong thị hiếu nghe nhìn trong giới trẻ Việt. Liệu đó là lỗi của họ, của những người nghệ sĩ làm nhạc dân tộc hay xét rộng ra là lỗi của một chính sách bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam? Câu hỏi hẳn không dễ trả lời phải không thưa quí vị?

Tính cho đến thời điểm này, Việt Nam đã có 5 di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến âm nhạc được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại, đó là: nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù, Quan họ và Hát Xoan Phú Thọ.  Nhưng vì sao giới trẻ ngày càng thờ ơ lãnh đạm với âm nhạc dân tộc, vì sao nhiều năm trời, dòng nhạc dân tộc không có tác phẩm nào thực sự xứng tầm… Chia sẻ với chúng tôi những băn khoăn, trăn trở của dòng nhạc dân tộc, G.S, T.S Trần Quang Hải, người bỏ tâm huyết nghiên cứu nhạc dân tộc nhiều chục năm qua, tỏ rõ lo âu:

Vấn đề bảo tồn dân ca người ta đã nói rất nhiều, nhưng đến khi thực hiện lại không có gì hết. Thí dụ về ca trù…ca trù được tôn vinh là di sản văn hóa phi vật thể do UNESCO phong tặng năm 2009…bây giờ tại Việt Nam, tôi thấy những nghệ sĩ lớn tuổi không được giúp đỡ, bồi dưỡng, còn những người trẻ thì lại hướng về nhạc ngoại lai, nhạc Hàn, nhạc Tây phương

G.S, T.S Trần Quang Hải

 

 

 

Vấn đề bảo tồn (dân ca) người ta đã nói rất nhiều, nhưng đến khi thực hiện lại không có gì hết. Tôi lấy một thí dụ về ca trù. Kể từ khi ca trù được tôn vinh là di sản văn hóa phi vật thể do UNESCO phong tặng năm 2009. Theo luật của UNESCO, khi được đưa vào danh sách của di sản văn hóa phi vật thể cần được khẩn cấp cứu trợ, trong vòng 4 năm phải làm kiến nghị báo cáo đưa ra tất cả những gì cho thấy rằng bảo tồn có được chính phủ lưu ý tới cũng như vấn đề phát triển và phát triển như thế nào. Sau 4 năm, bây giờ tại Việt Nam, tôi thấy những (nghệ sĩ) lớn tuổi không được giúp đỡ, bồi dưỡng, còn những người trẻ thì lại hướng về nhạc ngoại lai, nhạc Hàn, nhạc Tây phương, hip hop, techno, rap rồi nhạc pop.

 

Hát then đàn Tính. daibieunhandan.vn
Hát then đàn Tính. daibieunhandan.vn


 

 

Thưa quí vị, theo giáo sư Trần Quang Hải, những người đi học về đàn tranh hay các nhạc cụ cổ truyền khi ra trường rất khó kiếm được việc làm mưu sinh, còn những người đi học ca trù thì tương lai cũng không biết làm sao cả, trong khi những nghệ sĩ này phải bỏ ra 5 – 7 năm để học tập, chưa kể điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn. G.S Trần Quang Hải chia sẻ thêm:

 

Còn những loại khác như quan họ, hát xoan… chúng ta có rất nhiều, nói rất nhiều, ai nấy cũng đều muốn truyền thống âm nhạc của tỉnh, của làng mình phát triển và kêu gọi, để sao cho loại nhạc đó được phát triển đúng theo đường lối của ông cha ta để lại. Thế nhưng, bây giờ càng ngày càng đi xa, mang lên sân khấu, pha trộn với những điệu vũ vào trong đó, thí dụ, hát quan họ giờ không còn hát chay, hát mộc nữa mà là phải hát có nhạc đệm, thành ra tất cả những điều đó hoàn toàn đi sai hết so với những gì mà UNESCO đưa ra để giúp cho những truyền thống đó được bảo tồn một cách chính xác.

 

Tìm giải pháp

 

Dưới góc nhìn của một người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, cũng như đã từng góp ý nhiều cho nghệ thuật dân gian nước nhà trong những đợt xét tặng của UNESCO cho các di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam, G.S Trần Quang Hải cho rằng, một mặt nhờ có phong tặng của UNESCO mà các thể loại dân ca truyền thống của VN được bè bạn quốc tế biết đến nhiều hơn, nhưng mặt tiêu cực lại là ý thức của những người khai thác và sử dụng các giá trị văn hóa này, họ đã khiến cho các truyền thống đó bị đi sai lệch:

 

Chúng ta cần phải nhận thức rằng những báu vật sống ngày càng ra đi và để lại một lỗ trống rất lớn, không có một chương trình giáo dục nào đưa nhạc cổ truyền vào trong trường học và phải khuyến khích làm sao để có được những chỗ cho những người đi học nhạc cổ truyền có nơi dạy, học và phát triển

G.S, T.S Trần Quang Hải

Tôi thấy UNESCO đã tôn vinh những loại nhạc đó không phải là để đem lại một sự ích lợi, mà rốt cuộc lại làm cho những truyền thống đó càng ngày càng đi sai lệch, vì thế đó là một điều rất hại và Việt Nam đã tốn rất nhiều tiền để được một danh hiệu của UNESCO. Rồi từ đó, họ lại khai thác, lợi dụng dùng vào trong du lịch, dùng vào trong chiều hướng hoàn toàn đi phản lại đường lối của nhạc cổ truyền. Thành ra, tôi thấy rằng điều đó càng ngày càng làm cho nhạc cổ truyền càng ngày càng đi vào chỗ bế tắc và sẽ không bao giờ có thể thoát ra được.

Vậy không lẽ, dân ca Việt Nam sẽ đi vào chỗ bế tắc khi người làm nghệ thuật dân ca thì không ý thức được hết cách bảo tồn, trong khi, giới thưởng thức trẻ tuổi thì không mặn mà với truyền thống dân tộc. Câu hỏi mang tính giải pháp nào cho nhạc dân tộc Việt Nam được chúng tôi đưa ra và G.S Trần Quang Hải bộc bạch:

Chúng ta cần phải nhận thức rằng những báu vật sống ngày càng ra đi và để lại một lỗ trống rất lớn, không có một chương trình giáo dục nào đưa nhạc cổ truyền vào trong trường học và phải khuyến khích làm sao để có được những chỗ cho những người đi học nhạc cổ truyền có nơi dạy, học và phát triển. Đồng thời, làm sao phải bồi dưỡng cho những báu vật sống có đủ kinh tế để sống, từ đó, họ mới có thể truyền lại và những người học nhạc cổ truyền mới thấy được đó là phương pháp, điều kiện có thể sinh sống được, chứ không phải chỉ học chơi. Vì vậy, đó không phải chỉ là một vấn đề cho một vài người trong chúng ta kêu gọi được, mà đây là cả một đường lối chung của một chính phủ, cơ quan giáo dục, để từ đó, tạo nên một sự hợp tác chung của tất cả các nghệ nhân trên khắp Việt Nam.

G.S Trần Văn Khê, cha ruột G.S Trần Quang Hải từng nhận định “nếu để mất âm nhạc truyền thống thì ngàn vàng không thể mua lại được, mọi hành động quay lưng với văn hóa là có tội với tổ tiên.” Hi vọng rằng, với sự chung tay góp sức của các cơ quan phụ trách văn hóa, các nghệ sĩ âm nhạc dân ca tâm huyết, và hơn hết là ý thức bảo tồn các giá trị truyền thống của mỗi chúng ta, mà nghệ thuật âm nhạc dân tộc sẽ mãi trường tồn như một minh chứng cho sự phong phú và giàu có của nền âm nhạc Việt Nam cổ truyền.

Xin hẹn quý vị trong chương trình kỳ tới

 

NHẠC PHẨM NÀO CHO KIẾN TRÚC SƯ VIỆT NAM / diễn giả : KTS TRẦN QUANG MINH


Published on Sep 19, 2013
Bài nói chuyện của KTS. Minh Bò tại hội KTS HCM:
Các nhạc phẩm của nhạc sỹ chuyên nghiệp chỉ viết ngành xây dựng ca ngợi hình ảnh người thợ xây chưa nắm tính chất nghề nghiệp đặc thù của các ngành kỹ sư trong xây dựng và kiến trúc sư. NÉT ĐẶC THÙ CỦA KIẾN TRÚC SƯ: KTS là người chuyên sáng tác công trình kiến trúc và KTS có những công việc riêng biệt không thể lẫn lộn với kinh tế xây dựng, kỹ sư hay thợ xây… trong ngành Xây Dựng nên các ca khúc cho Kiến trúc phải dựa trên những đặc thù đó mà viết nhạc. Định hướng sáng tác ca khúc kiến trúc trên tinh thần theo sát với ngành nghề và nhấn mạnh yếu tố dân tộc tính trong thời điểm phát triển Đất nước hội nhập với thế giới phương châm: Hòa nhập nhưng không Hòa tan.
Đã có nhạc sỹ Lưu Hữu Phước từng làm điều này. Phần lớn các tác phẩm âm nhạc của ông đều dựa trên thang Âm Ngũ Cung.
Thí dụ: Bài Xếp bút nghiên (Điệu Bắc_Hơi Hạ) là điệu Ngự dùng trong Âm Nhạc Cung Đình Huế diễn tả sự hào hùng của bậc trí sỹ trượng phu lên đường tranh đấu cho quê hương…mà các em ca sỹ ngày nay không nắm vững tinh thần Lưu Hữu Phước, tinh thần dân tộc nên rất nhiều ca sỹ đã hát sai bài hát này.
Chua thêm: Nhạc dân tộc có
6 Bắc — 3 Nam — 4 Oán
Điệu Bắc_Hơi Hạ: Bài Xếp bút nghiên của Lưu Hữu Phước
Điệu Bắc
Hơi Bắc : U , C rung L , S , X mổ
Hơi Quảng : U , C mổ L , S , X rung
Hơi Hạ: giống hơi Bắc nhưng : S vuốt về X, L vuốt về C, U X C U là trục
•Chú thích : Hò=L, Xự=U, Xang=S, Xê=X, Cống=C

François PICARD : Décès de John Wright (1939-2013)


Décès de John Wrightwright

Vie de la Société
Publié le lundi 9 septembre 2013

John Wright (1939-2013)

Avec John Wright, ménétrier, violoneux, nous quitte un personnage délicieux, un musicien arpenteur, fabricant de liaisons amicales et éclectiques, innovateur, incubateur de traditions.

Né Britannique, John Wright l’est resté toute sa vie, grâce à un accent formidable et un sens de l’humour qui marquait tout ce qu’il faisait avec tant de sérieux.

Introduisant, avec Lionel Rocheman et ses hootenannies, le folk en France dans les années 1960, il crée avec Catherine Perrier le folk-club Le Bourdon. Au-delà de ses propres disques (guimbarde, fiddle), il est le personnage emblématique de la collection « Spécial instrumental » du Chant du monde, qui donna envie à chacun de pratiquer un instrument folk/trad. Comme René Zosso ou Claude Flagel, il établit des liens de travail et d’amitié, toujours maintenus jusqu’à ses derniers moments, entre le folk, les traditions locales (Vendée, chants de marins, Auvergne) et les musiques anciennes, que ce soit le chant, la danse, la musique ou encore la facture : compagnie Maître Guillaume, invention de la danse baroque avec Francine Lancelot, jeu du krwth, reconstitution des instruments du portail de la Gloire de Compostelle, APEMUTAM. Du côté des chercheurs, ses collaborations avec les ethnomusicologues sont constantes (Geneviève Dournon, Tran Quang Hai, sur lequel son influence fut considérable), et celles avec les acousticiens sont pionnières (bulletin du Groupe d’acoustique musicale n° 25, 1967). Ménétrier il le fut aussi, en rétablissant le statut de violoneux fiddler comme musicien professionnel. S’il vécut de la musique, on peut dire aussi que la musique des cinquante dernières années vécut de lui.

François Picard

http://www.ethnomusicologie.fr/deces-de-john-wright

john wrightjohn wright 2

Hoàng Phương – Ngọc Phan : Đờn ca tài tử – Kỳ 3: Rạp hát, đĩa hát thầy Năm Tú


Ngọc Phan – Hoàng Phương : Đờn ca tài tử Nam bộ – Kỳ 2: Doanh nhân mê hát xướng


Hoàng Phương – Ngọc Phan : Đờn ca tài tử Nam bộ: Ngón đờn kìm của bậc tài hoa


THANH HIỆP : Hiện thân Tổ nghiệp: Trọn đời với chữ Tâm / Phùng Há & Năm Châu


Hiện thân Tổ nghiệp: Trọn đời với chữ Tâm

Thứ Tư, 18/09/2013 23:05

Những người làm nghề không quên bài học đáng nhớ của 2 nghệ sĩ tiền bối, hiện thân của tổ nghiệp sân khấu đã sống trọn đời với chữ Tâm trong sáng: NSND Năm Châu và NSND Phùng Há

Khi còn là đào chánh cho đến lúc về chiều nương thân ở cửa chùa, NSND Phùng Há (tên thật là Trương Phụng Hảo) đã luôn đặt chữ Tâm lên hàng đầu trong bất cứ công việc nào liên quan đến nghề hát và những hoạt động xã hội do bà khởi xướng. Còn với NSND Năm Châu (tên thật Nguyễn Thành Châu), từ khi còn là kép hát cho đến lúc ông cầm bút sáng tác rồi quản lý, đào tạo cả một thế hệ vàng của sân khấu cải lương, chữ Tâm luôn được ông đặt trong mỗi công việc khiến con cháu theo nghề khâm phục.

Vì nghệ sĩ nghèo

Thành tựu mà cả 2 đạt được, ngoài những vở tuồng, vai diễn là trường phái “thật và đẹp” trên sân khấu của họ trở thành khuôn mẫu sáng tạo cho thế hệ trẻ nối bước.

Không chỉ có vậy, soạn giả Mai Quân kể lại: “Nhìn thấy thực tế của nhiều nghệ sĩ có thời hoàng kim lên xe, xuống ngựa, xài tiền như nước nhưng lúc về chiều lại không chốn nương thân, thậm chí đến lúc chết cũng không có hòm mà chôn, cô Bảy Phùng Há và anh Năm Châu đã cảm thấy xót xa nên đã đứng ra kêu gọi giới nghệ sĩ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, vận động mạnh thường quân giúp đỡ những nghệ sĩ nghèo ốm đau, bệnh tật”.
 
NSND Phùng Há, nghệ sĩ Kim Chưởng (thứ 3 và tư từ phải qua) trong ngày cúng Tổ năm 1997
 tại Ban Ái hữu nghệ sĩ TP

Cô Bảy Phùng Há thời đó rất sáng giá. Từng trải tuổi thơ khó nhọc nên cô thấm thía sự cơ cực của cái nghèo. Dựa vào mối quan hệ rộng và tài ngoại giao, cô Bảy đã vận động trường đua ngựa Phú Thọ (TP HCM) cho Hội Nghệ sĩ Ái hữu tương tế một ngày thu nhập. Thời đó, số tiền được nhận là 139.000 đồng, cô Bảy mua đất làm nghĩa trang cho nghệ sĩ. Ngày ấy, ông Năm Châu và cô Bảy rất xúc động khi nhận mảnh đất với diện tích 6.080 m2 ở xã Hạnh Thông Tây (quận Gò Vấp, TP HCM). Nhờ vậy, giới sân khấu có đất làm nghĩa trang và xây chùa Nghệ Sĩ như bây giờ.

NSND – soạn giả Viễn Châu nói trong niềm xúc động: “Cuộc đời của cô Bảy và anh Năm không có chuyện khuất tất khi nắm quyền hành, nắm tài sản chung của tập thể. Chữ Tâm được họ khắc cốt trong từng việc nhỏ”.

Ngọc nghề tỏa sáng

Trọng chữ nghề để thăng tiến trên con đường nghệ thuật luôn là lời dạy của các nghệ sĩ tiền bối dành cho những nghệ sĩ trẻ mới bước vào nghề. Với NSND Năm Châu và Phùng Há, họ luôn xem sàn diễn là nơi mài giũa độ sáng của ngọc nghề. Càng mài giũa càng lấp lánh, rực rỡ trong sự chiêm ngưỡng của công chúng. Nhưng không phải ai cũng có đủ bản lĩnh để chế ngự cái tôi đầy tự ái mà dường như tạo hóa bắt buộc người nghệ sĩ phải mang lấy như một thử thách khi muốn chạm vào ngọc nghề. Sự nghiệp nghệ thuật của 2 vị tổ nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật khắc nghiệt của cuộc sống. Giữa họ có nhiều điểm riêng và cũng có những điểm chung gắn kết rất thú vị.

Lúc Phùng Há còn nhỏ, cô đi làm công, đã được nhiều người xung quanh biết đến vì giọng ca quá hay. Ông bầu gánh Tái Đồng Ban nghe tiếng tìm đến, mời cô về gánh hát của mình. Đó là lần đầu cô gặp anh Năm Châu, người trực tiếp dạy hát cho cô. Khi đó, nghệ sĩ Năm Châu đã là người sáng tác những kịch bản nổi tiếng: Tội của ai, Khúc oan vô lượng… Ít lâu sau, cô và anh trở thành đào kép chánh trên sàn diễn. Nhưng định mệnh khiến xui cô dứt áo theo chồng, nhận lời cầu hôn của nghệ sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung), tay đàn chính của gánh, là người hướng dẫn cô trên sàn diễn mỗi ngày.

Và chính cuộc đời tài hoa lắm nỗi truân chuyên của 2 người đã đúc kết tâm trạng để ông và bà ca diễn thật hay, mang nỗi đau riêng dồn nén vào hơi thở các số phận nhân vật trên bản thảo kịch bản, trên sàn diễn. Nghệ sĩ Phùng Há giống nghệ sĩ Năm Châu ở chỗ quyết đoán số mệnh nghệ thuật. Ở họ, không có việc để bản thân mình bị động khi đã kiên quyết thực hiện kế hoạch nghệ thuật. Điểm chung ở họ là giữ gìn cương vị một nhà sư phạm, cả 2 cùng đứng trên bục giảng, cùng thị phạm trên sàn tập cho cả một thế hệ nghệ sĩ vàng của sân khấu cải lương miền Nam.

Ngọc nghề của họ đã được tôi luyện cũng từ những gian truân, cay đắng của kiếp người. Định mệnh đã đưa họ theo những lối đi riêng trên đường đời nhưng tình yêu giữa họ chưa bao giờ tắt trong trái tim trân quý nghề.
 
Họ là những người sống chết với nghề, đóng góp không nhỏ cho sự sáng tạo và phát triển của sân khấu nước nhà như những hiện thân của tổ nghiệp, được hậu bối tôn kính.
 

Duyên đào kép

Nét riêng của họ cũng từ mối tình dang dở mà phảng phất điểm giống nhau. NSND Viễn Châu kể: “Sự tình cờ của định mệnh lại cho Phùng Há và Năm Châu tái ngộ vào năm 1953 khi họ cùng tham gia gánh Trần Đắc. Họ cũng tái ngộ sàn diễn với tư cách là một cặp đào kép ăn ý và đẹp đôi nhất lúc bấy giờ với nhiều vở diễn để đời. Những vở tuồng ông viết như: Nợ dâu, Men rượu hương tình, Sân khấu về khuya… chính là lời tâm sự bi ai ông dành cho bà. Nhưng dường như giữa họ chỉ có duyên đào kép mà không có duyên vợ chồng”.

Kỳ tới: Không cầu danh lợi

Bài và ảnh: Thanh Hiệp