BBC TV : Phỏng vấn nhạc sư Vĩnh Bảo /Mất văn hóa, dễ mất nước’, UK


Mất văn hóa, dễ mất nước’

Cập nhật: 08:12 GMT – thứ hai, 19 tháng 8, 2013

Nhạc sư Vĩnh Bảo, năm nay 96 tuổi, là một trong những nghệ nhân cao tuổi nhất trong dòng nhạc Tài tử Nam Bộ.

Món nhạc cụ đầu tiên mà ông chạm tay tới khi mới lên 5 tuổi là chiếc tiêu.

Âm nhạc là truyền thống được trân trọng trong gia đình ông, một gia đình địa chủ thời những năm 1910.

Nghệ sỹ Vĩnh Bảo lần đầu tiên ghi đĩa nhạc năm 1938 và trở thành thầy giáo dạy nhạc truyền thống ở Việt Nam.

Ông cho rằng, phần lớn người Việt Nam thích nghe nhạc buồn, có lẽ vì lịch sử chiến tranh kéo dài của đất nước.

Là nhân chứng qua hai cuộc chiến với Pháp và Mỹ, ông vẫn liên tục chơi đàn qua mọi thời kỳ và hoàn cảnh, vì khi đàn “nó cho tôi đến gần với thiền”, ông nói.

Ông khuyên giới trẻ nên hiểu rằng, “đánh địch trên chiến trường tuy khó khăn, gian nan, nhưng dễ hơn mặt trận văn hóa. Mà một dân tộc mất đi văn hóa của mình thì mất nước dễ dàng lắm.”

Phỏng vấn tại Việt Nam do nhà báo Justin Rowlatt thực hiện cho chương trình Working Lives của BBC. Đây là một phần của loạt chương trình về Việt Nam trên truyền hình và trang web BBC trong tháng Tám năm 2013.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/08/130815_vinh_bao_musician_working_lives_video.shtml

Jason GIBBS : Nên bỏ chữ ‘nhạc sến’, VIETNAM


Nên bỏ chữ ‘nhạc sến’

Thứ Tư, 16/10/2013 13:57 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – LTS: Từ Mỹ, nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam Jason Gibbs gửi cho TT&VH Cuối tuần bài viết của anh về “nhạc sến” sau khi theo dõi cuộc tranh cãi về dòng nhạc này trên các trang báo và diễn đàn ở Việt Nam. 

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một cái nhìn “từ bên ngoài” về “nhạc sến”. 

1. Tôi được nghe đến tên gọi “nhạc sến” lần đầu tiên năm 1995 lúc xếp hàng trước khi vào thính phòng nghe một chương trình nhạc truyền thống Việt Nam ở San Francisco. Tôi đứng cạnh một người đàn ông đứng tuổi lúc đang đợi chương trình bắt đầu. Điều thú vị cho tôi, ông là một người Hà Nội chính gốc sinh năm 1921 và đã suốt đời kiếm sống bằng nghề chơi nhạc.

Chúng tôi chuyện trò về nhạc Việt một cách rất thân mật và thoải mái. Tôi tỏ ý rằng rất thích các ca khúc bolero của miền Nam.   Ông ấy đáp – “À, nhạc sến.  Anh có biết chữ “nhạc sến” không?”,  tôi trả lời “không”.  Ông rằng: “Nhạc ấy cũng gọi là nhạc máy nước”. Ông ấy giải thích: Ngày xưa, trước khi có ống nước vào các nhà, các con sen, con ở phải xếp hàng ở máy nước công cộng để lấy nước mang về nhà. Các cô gái trẻ từ nhà quê ra tập trung chờ đợi lượt của mình thì được nghe như một đàn chim hót líu lo – này là chuyện trêu trọc, ngồi lê mách lẻo. Một nhu cầu nữa là ca hát cho vui, cho giải trí.

Ông ấy kể đến thời gian mà nhạc ấy được gọi nôm na bằng tên “dân ca mam-bô”. Các bài hát của phong trào này nghe rất khác nhạc sáng tác ở miền Bắc trước 1954. Nhạc cải cách vốn là nhạc trữ tình chủ yếu chịu ảnh hưởng của nhạc Pháp, nhạc cổ điển, và nhạc Hawaii. Ông phân biệt nhạc sến với “nhạc sang”, tức là nhạc sang trọng mà hiện nay được gọi là nhạc tiền chiến. Dân ca mam-bô gồm những bài hát của các nhạc sĩ như Hoàng Thi Thơ, Trịnh Hưng, Hoài An, Thu Hồ, Mạnh Phát… Các bài ca ấy viết theo ngũ cung miền Trung và miền Nam với phong cách nhịp nhàng và vui tươi. Loại nhạc này được phát triển thành nhạc bolero rất phổ biến đến bây giờ.

Thị trường nhạc tại miền Nam thời kỳ đó rất đa dạng. Các loại nhạc và tất cả các nghệ sĩ đều được thể hiện trên đài truyền hình. Đặc trưng của các đại nhạc hội của Sài Gòn xưa cũng được kế tiếp bởi các video Paris By Night sau này. Các chương trình phải có cái gì đó cho các lớp khán giả, từ trẻ đến già, từ sang đến… chưa sang.  Và vì thế người nghe nhạc hay phân biệt giữa tân và cổ, ta và Tây, sang và không sang.

Chương trình live show ca nhạc Hát trên quê hương 2 mới đây của ca sĩ Quang Lê tại sân khấu Lan Anh đã không còn một chỗ trống. Khán giả của dòng nhạc quê hương dường như lúc nào cũng là những người chung thủy nhất

2. Khi tôi mới đến Việt Nam trong những năm 1990 nhiều người nói đến nhạc vàng, nhưng người ta rất ít (gần như không) nói về nhạc sến.  Ở miền Bắc “nhạc vàng” là thuật ngữ để nói về tất cả các loại nhạc được phổ biến ở miền Nam (và ở các thành thị miền Bắc dưới thời chính quyền Pháp và Bảo Đại trước 1954). Sau năm 1975 nhạc vàng vẫn là tên gọi của các loại nhạc bị cấm từ trước, rồi các loại nhạc sản xuất ở hải ngoại. Thực ra nhạc vàng là nhạc thị trường theo góc nhìn của một xã hội bao cấp.  

Tôi đề cập đến nhạc vàng vì những người chê loại nhạc bị gọi là nhạc sến cũng phê phán những nét “ủy mị”, “sướt mướt” đã từng đổ lỗi tại nhạc vàng. Cách giải nghĩa âm nhạc bằng những tính từ ấy gốc từ chính sách văn hóa Mao Trạch Đông thành phong trào “bài trừ nhạc màu vàng” của thời Hà Nội mới giải phóng và cũng làm ảnh hưởng chính sách văn hóa Việt Nam đến những năm Đổi mới.

Chữ “sến” thì gần như không có trong quyển từ điển nào. Tôi chỉ biết đến một trường hợp là quyển từ điểnVietnamese-English Student Dictionary (Từ điển Sinh viên Việt – Anh) – Southern Illinois University Press, 1971 của Nguyễn Đình Hòa dịch chữ sến là “kind of wood” (một loại gỗ) và “(slang) young woman” – (tiếng lóng – phụ nữ trẻ). Ông Hòa không định nghĩa thêm, nhưng vì biết đến nguồn của từ này thì tôi nghĩ rằng phải giải thích thêm – sến là chữ lóng nói đến phụ nữ trẻ từ nông thôn (lục tỉnh) ra. Dịch chữ sến cho chính xác hơn thì phải nói đến các từ như wench hay hussy. Hai từ ấy đều mô tả phụ nữ trẻ, gốc nông thôn, với phong cách thô tục ít hay nhiều.

Tóm lại thì chữ sến và nhạc sến bao gồm nhiều ý xấu. Chữ này biểu lộ thái độ miệt thị phụ nữ, người nông thôn, và dân lao động. Còn ngữ từ này là của dân miền Bắc tạo ra cũng chứng tỏ thái độ coi khinh văn hóa Nam. Một điều nữa tôi cũng nghĩ rằng từ nhạc sến chứa ít nhiều định kiến “xướng ca vô loài” của ngày xưa.  Nghĩa là nhạc lịch thiệp không dơ tay vào việc chợ búa (là địa vị của phụ nữ), việc buôn bán, việc sinh sống. Như thế là trái với ý nhạc lịch thiệp mà phải được xã hội trợ cấp theo ý các nhà chuyên môn thanh khiết không ăn lương của kinh tế thị trường.

Theo cách nhìn ấy nhạc sến chỉ là đồ rẻ tiền bán ở thị trường. Nếu chữ sến được bỏ thì ý nghĩa đúng của dòng nhạc này sẽ được bộc ra. Cách đây gần 15 năm cố nhạc sĩ Văn Phụng nói cho tôi nghe rằng ông không thích thái độ miệt thị nhạc thịnh hành ở miền Nam và hải ngoại. Ông đề nghị gọi nhạc này bằng “nhạc dân tộc tính phổ thông”. Vài năm sau tôi được nói chuyện với cố danh ca Minh Trang. Bà ấy cũng không chấp nhận thái độ trên và chủ trương gọi nhạc này bằng “nhạc quê hương”.

Tôi nhất trí với bà Minh Trang. Nhạc quê hương bày tỏ một miền quê chung của những người còn sống ở làng quê hay những người vì nhu cầu đời sống phải sống xa quê. Cả lịch sử của Việt Nam trăm năm vừa qua là các chuyến đi của người dân quê vào các thành thị (hay các miền quê của họ bị thành thị hóa). Đời sống của bao thế hệ người nông thôn với những mối quan hệ thân thiết với người cùng xóm và với thiên nhiên bị gián đoạn bởi nhu cầu kiếm sống hay vì chiến tranh. Nhạc này đậm đà các điệu hò, lý miền Nam và điệu vọng cổ. Lời ca của nhạc quê hương nói đến các con sông, những bến đò chiều, những chuyến xe lam, những đường chiều nghiêng nắng, các mùa trái cây chín, mùa hoa nở… Và bao mối tình bị đoạn tuyệt vì các biển đổi trong đời thường của các người Việt Nam.  

Bởi vì đa số người Việt còn sống ở nông thôn thì quá trình này sẽ không ngừng nối tiếp. Người đồng quê và từ đồng quê ra cần một luồng âm nhạc riêng bày tỏ nỗi niềm của họ. Trong môi trường mới ở thành thị rất khác với đời sống êm ấm ngày xưa trong trí nhớ, mọi người cần đến một luồng âm nhạc “tri kỷ” thông cảm với hoàn cảnh mình.

Các nhạc sĩ, nhà phê bình hay nhà báo tung ra chữ nhạc sến để tỏ một thái độ không đẹp với dân nghèo Việt Nam. Tất nhiên mỗi người được phép phát biểu ý kiến về chất lượng của tất cả các loại âm nhạc, nhưng họ không nên xúc phạm người nghe nhạc ấy. Tôi đề nghị bỏ chữ nhạc sến trong việc bình luận âm nhạc

Jason Gibbs (Nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam) 
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nen-bo-chu-nhac-sen-n20131009103206306.htm

 

Tang lễ Nghệ sĩ Bạch Huệ tổ chức tại Dươnng Lão Nghệ sĩ


TANG LỄ NS BẠCH HUỆ TỔ CHỨC TẠI DƯỠNG LÃO NSKhi NS mở cửa phòng gọi Cô ra xem film Bao Công thì Cô đang nằm thế này …

Zoom in (real dimensions: 800 x 600)

Phát hiện Cô qua đời…giử nguyên hiện trường gọi cho người nhà đến.
Người nhà đến và sửa soạn lại cho Cô nằm
Zoom in (real dimensions: 800 x 600)

Mới chết đây thôi vì cơ thể còn mềm …nhưng rờ lên mũi thì…không còn thở nửa

Zoom in (real dimensions: 700 x 933)

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ, sanh năm 1933 tại Cần Thơ. Con của nhạc sư Sáu Tửng, chuyên đờn kìm và là em ruột của nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh, người được biết qua hai bài tân nhạc đã một thời là nhạc được ưa thích nhất của giới sinh viên – thanh niên ở Saigon.

Đó là bản nhạc Hoa trắng thôi cài trên áo tím, nhạc Huỳnh Anh, thơ Kiên Giang và bản nhạc Mưa Rừng, sáng tác riêng cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga ca trong tuồng Mưa Rừng của Hà Triều Hoa Phượng.

Truyền thống gia đình 

Từ nhỏ, cô Bạch Huệ đã thâm nhiểm điệu đàn câu ca cổ nhạc vì cha của cô là nhạc sư chuyên xử dụng cây đờn kìm, ông có nhiều bạn nhạc sĩ thường tổ chức những buổi đờn ca tài tử ở địa phương. Khi nhạc sư Sáu Tửng đi đờn cho gánh hát của bà Phùng Há thì ở nhà, cô Bạch Huệ cũng được các chú bác nhạc sĩ, bạn của cha cô dạy cho cô ca và mời cô tham gia các buổi đờn ca tài tử. Bạch Huệ nổi tiếng là một danh ca, ca rất đúng bài bản cổ nhạc và ca chắc nhịp, giọng ca mượt mà truyền cảm nên nhiều người khuyên cô nên theo nghề nghiệp cầm ca của gia đình.

Năm 1947, lúc 14 tuổi, Bạch Huệ lên Saigon tìm đường tiến thân bằng con đường ca cổ nhạc. Nhiều nhạc sĩ đờn cho các quán ca nhạc và đài phát thanh là bạn của nhạc sư Sáu Tửng nên họ mời Bạch Huệ đến ca trong quán ca nhạc Đức Thành Hưng ở sau chợ Saigòn và quán cổ nhạc của thầy Mười An ở Cầu Ông Lãnh. Cô Bạch Huệ nổi danh là một danh ca chẳng những tốt giọng mà về nghệ thuật, cô ca rành rẽ, đúng điệu 20 bài bản Tổ, 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán và 7 bài. Đây là một trường hợp đặc biệt vì ít có ca sĩ học đầy đủ trọn bài bản, phần đông các ca sĩ chỉ học ca từng lớp của mỗi bài ca. Ví vụ ca Nam Ai, họ chỉ học Nam Ai lớp một hay bản Nam Ai lớp mái, chứ không học đủ trọn bài một cách căn bản như Bạch Huệ.

Danh ca Tám Thưa, trưởng Ban Việt Nam Cổ Nhạc đoàn mời cô ca trên đài Phát Thanh Pháp Á và sau đó thu nhận cô làm ca sĩ của Ban Việt Nam Cổ nhạc đoàn. Đài Phát Thanh Saigon. Các hãng dĩa Asia, Hoành Sơn, Pathé cũng nhanh chóng khai thác giọng ca lạ và khả năng ca nhiều bài bản của nữ danh ca Bạch Huệ để giới thiệu với thính giả miền Nam và cả thính giả Hà Nội và Huế

Nữ ca sĩ Bạch Huệ ca theo lối chân phương, đúng từng điệu thức, đúng theo phong cách tài tử nên thính giả , thực khách của các nhà hàng ca nhạc rất thích nghe nữ danh ca Bạch Huệ ca, tuy nhiên vì số thính giả chọn lọc nên số thính giả đó chỉ là một số rất ít nếu so với khán giả cải lương, vì vậy thu nhập của các ca sĩ tài tử như Bạch Huệ, Sáu Thoàng, Chín Sớm cũng thua sút xa so với các danh ca vọng cổ trong lãnh vực cải lương như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Mỹ Châu, Ngọc Giàu…

Các danh ca chuyên đờn ca tài tử như Sáu Thoàng, Chín Sớm, Thành Công, Kim Nguyên gia nhập các gánh hát Kim Thoa, Thanh Minh, Kim Chung với hy vọng tìm một địa vị khả quan trên sân khấu cải lương nhờ vào giọng ca tốt và biết nhiều bài bản cổ nhạc. Nữ danh ca Bạch Huệ cũng gia nhập đoàn hát Hoài Dung – Hoài Mỹ và trong hai năm 1957 – 1958, cô đã thay đổi qua các đoàn hát khác như Song Kiều, Kim Thanh, Tơ Đồng nhưng ca sĩ Bạch Huệ sớm nhận ra rằng hát trên sân khấu cải lương không phải chỉ có ca cổ nhạc mà còn phải có khả năng diễn xuất, phải có duyên sân khấu và phản ứng nhạy bén với các bạn diễn. Diễn viên cải lương muốn thành công cần phải có nhan sắc đẹp, giỏi vũ đạo trên sân khấu, có phong thái sang trọng, và nhứt là có dịp may gặp một vai tuồng thích hợp để phát huy khả năng ca diễn của mình.

Danh ca vọng cổ 

Nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương. Nữ ca sĩ Bạch Huệ không được khán giả hoan nghinh như các thính giả đã hoan nghinh giọng ca tài tử của Bạch Huệ. Do đó, tuy trong việc đờn ca tài tử ở các đài phát thanh, hãng dĩa hay các quán ca nhạc không mang lại cho Bạch Huệ một số thu nhập khá để cho cuộc sống được thoải mái nhưng Bạch Huệ cũng đành chấp nhận việc trở về với ca nhạc tài tử ở Đài Phát Thanh, hợp với khả năng của cô.

Trong những thập niên 50, 60, 70, các danh ca vọng cổ thành danh trên sân khấu cải lương đều có ký contrat bạc triệu với các bầu gánh hát, số lương cũng lên đến vài ngàn đồng mỗi suất hát. Các danh ca tài tử thì bị thiệt thòi về tài chánh, số thu nhập rất khiêm tốn. Ca sĩ Thành Công có vợ là chủ tiệm may Hạnh Dung nên cuộc sống kinh tế thoải mái hơn các ca sĩ tài tử khác.

Nữ ca sĩ Bạch Huệ vẫn đeo đuổi theo nghiệp cầm ca mà cô đã chọn theo truyền thống của gia đình. Tuy thu nhập vừa đủ sống nhưng về phần tinh thần thì Bạch Huệ được các nghệ sĩ ngành ca cổ tôn vinh là bậc thầy trong lối ca tài tử.

Khi cô Ngọc Ánh, giảng viên dạy ca cổ nhạc trường quốc gia âm nhạc từ trần, Bạch Huệ được mời dạy ca thế cho cố nghệ sĩ Ngọc Ánh.

Đến những năm 1990, tình hình sân khấu cải lương xuống dốc, người ta tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc với hy vọng phục hồi phong trào đờn ca tài tử cổ nhạc, tiền thân của nghệ thuật sân khấu cải lương. Nội dung chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc gồm có nhiều bài vọng cổ nổi tiếng, nhiều trích đoạn cải lương hay với thành phần nghệ sĩ tài danh nhiều thế hệ đã thu hút đông đảo khán giả mỗi tháng một lần, khi thì Vầng Trăng Cổ Nhạc được tổ chức trên sân thượng khách sạn Rex, khi thì được tổ chức trong khu du lịch Đầm Sen. Ở khu dưỡng lão nghệ sĩ cũng tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Đêm Rầm Ca Hát.

Các tỉnh tổ chức Vầng Trăng Cổ Nhạc ở địa phương và tổ chức nhiều cuộc thi tuyển những giọng ca vàng, các tour du lịch sinh thái có đờn ca tài tử cổ nhạc. Nữ ca sĩ Bạch Huệ tuy đã lớn tuổi ( 74 tuổi ) nhưng sức khoẻ nghệ sĩ Bạch Huệ còn tốt, giọng ca còn truyền cảm nên cô được mời dạy ca cho các lớp ca tài tử từ vỡ lòng đến các lớp cao với 20 bài bản tổ ở thàng phố và một số tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Cần Thơ. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ cũng được mời làm giám khảo các kỳ thi đờn ca tài tử ở thành phố và các tỉnh.

Khi sân khấu cải lương diễn trọn tuồng không có rạp hát để diễn, khán giả cải lương mất dần thói quen đến rạp hát để coi hát thì những chương trình ca lẽ, ca vọng cổ và hát trích đoạn cải lương của Vầng Trăng Cổ Nhạc được khán thính giả ưa thích, dịp nầy khiến cho nữ nghệ sĩ Bạch Huệ và các ca nhạc sĩ chuyên đờn ca tài tử có đất để hoạt động. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ được phong là Nghệ Nhân Dân Gian sau 60 năm góp công với nền nghệ thuật đờn ca tài tử.

Hiện nay ít có nghệ sĩ thông hiểu tường tận và đầy đủ 20 bài bản Tổ, phần lớn các nghệ sĩ chỉ học ca từng lớp trong mỗì bản ca theo yêu cầu của từng tuồng, tôi nghĩ là nếu không thu thanh ghi âm lại tất cả điệu thức, cách ca, cách đờn thì tôi e rằng sau khi các nghệ nhân lão thành khuất núi rồi thì nghệ thuật đòn ca 20 bài bản Tổ sẽ thất truyền.

VÀI HÌNH ẢNH LƯU NIỆM CỦA NS BẠCH HUỆ VỚI TRANG NHÀ CAILUONGVIETNAM.VN


Hình ảnhCô góp vui lại một bài hát :

Zoom in (real dimensions: 1024 x 576)Hình ảnh

 

Trang nhà và toàn bộ các nghệ sĩ trong viện DLNS – trong đó cô ngồi phía tay trái: