NGÀNH MAI : Lão bà 82 tuổi tham gia đờn ca tài tử


Lão bà 82 tuổi tham gia đờn ca tài tử

 

Ngành Mai

Ai cũng biết cổ nhạc đờn ca tài tử xuất phát ở miền Nam Việt Nam từ thời xa xưa, và những ai từng say mê nhạc tài tử thì hầu như đã thấm sâu vào máu thịt vậy.

Vào năm 1999, trong tuần lễ “Liên Hoan Ðờn Ca Tài Tử” ở Cần Thơ, đêm 23 Tháng Tám cả hội thi từ ban giám khảo, các thí sinh, cho đến quan khách, khán giả đều ngỡ ngàng, khi nghe ban tổ chức giới thiệu lão bà nghệ nhân Từ Rạng Danh, 82 tuổi sẽ mở đầu chương trình, tham dự hội thi “Bản Ðồ Việt Nam.”

Một lão bà tóc bạc trắng với chiếc áo dài màu xanh nước biển, bà ung dung bước lên sân khấu. Cả hội trường lặng đi, chỉ còn tiếng đàn kìm, cò, lục huyền cầm trỗi lên hòa trong lời ca của bà vang rõ từng âm sắc, nhịp nhàng lòng câu, lòng bản chắc như đinh đóng vào cột. Nếu ai đó không nhìn thấy mà chỉ nghe bà lão ca thôi, thì cứ ngỡ là giọng ca đầy sức quyến rũ của một phụ nữ tuổi ngũ tuần.

Dàn nhạc và lời ca dứt chữ “liu” của bài Tây Thi, lão bà cúi đầu chào khán giả, tràng pháo tay kéo dài mãi không dứt. 

Nghệ sĩ Trúc Linh (trưởng ban giám khảo) bước lên sân khấu ôm lão bà hôn thắm thiết. Chị cười sung sướng mà đôi dòng nước mắt lăn tròn, vì không chế ngự được niềm xúc động và cảm kích. Chị thốt lên:

-Má ơi! Má ca hay quá!

Ðược biết thân sinh của lão bà xưa kia là nghệ nhân đờn ca tài tử cùng thời với các tiền nhân: Hai Cư, Ba Chột, Cao Văn Lầu… Năm 19 tuổi bà được phụ mẫu truyền dạy ca rành 20 bài Tổ của nhạc tài tử Nam Bộ, và từng ca tài tử khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh vào những năm của thập niên 1930 ố 1940.

Khi chiến tranh bùng nổ, vì cuộc sống mưu sinh, bà Từ Rạng Danh đã không còn ca hát nữa, và đây là lần đầu tiên bà ca trở lại bài Tây Thi khi xưa, thế mà giọng vẫn chuẩn, nhịp nhàng. Không biết giờ đây bà có còn mạnh giỏi để có dịp tham gia đờn ca tài tử với các thế hệ sau.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=174176&z=268&template=viewtemplatephone.htm&gclid=CLTaseyKi7sCFSbHtAod3hwArg

 

NHẬT HỒ : Đờn ca tài tử Nam Bộ: Sức sống mãnh liệt và thách thức


Đờn ca tài tử Nam Bộ: Sức sống mãnh liệt và thách thức
(LĐ) NHẬT HỒ – 7:38 AM, 02/11/2013

 

 

 

 

Câu lạc bộ ĐCTT ấp 8 (xã Phong Thạnh Tây, huyện Phước Long, Bạc Liêu) thường xuyên sinh hoạt.

 

Hồ sơ khoa học Đờn ca tài tử Nam Bộ (ĐCTTNB) đã được hoàn tất, đang trình đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Để chuẩn bị cho sự kiện này, Cục công tác phía Nam (Bộ VHTTDL) vừa tổ chức Hội thảo khoa học “ĐCTTNB với việc nâng cao đời sống văn hóa cộng đồng”. Thêm một lần nữa, ĐCTTNB được khẳng định là món ăn tinh thần không thể thiếu của cư dân miền sông nước Nam Bộ.

 

 

Dòng nhạc dân gian đặc trưng miền sông nước Nam Bộ

Là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, ĐCTT ghi đậm dấu ấn một thời tổ tiên đi khai hoang mở cõi phương nam. Ra đời thế kỷ 19 –  muộn hơn các loại hình nghệ thuật dân gian khác – nhưng ĐCTT thừa hưởng tinh hoa của nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và dân học dân gian. Theo nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê, sở dĩ ĐCTTNB có sức sống mãnh liệt và là một phần không thể thiếu trong đời sống âm nhạc của người bình dân ở Nam Bộ vì nó xuất phát từ những người bình dân, gần gũi với nhân dân, với miền sông nước Nam Bộ.

Thạc sĩ Trịnh Xuân Khoa – Đại học Văn hóa TPHCM – cho rằng, từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, dưới sự ra đời của nhạc tài tử theo thể thức ca ra bộ đã đưa  ĐCTTNB phát triển thành 2 con đường, mà thành tựu rực rỡ là sự ra đời và phát triển của bài “Dạ cổ Hoài lang” của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Còn theo ông Trần Minh Huần – Phó Giám đốc Sở VHTTDL Bạc Liêu – từ bài “Dạ cổ Hoài lang”, các nghệ nhân sau này phát triển thành bài vọng cổ ngày nay. Chính điều này mà một số người  hiểu nhầm vọng cổ, cải lương với ĐCTTNB là một, thực chất rất khác nhau.

Những lời cảnh báo không thừa

 

ĐCTTNB phục vụ khách du lịch tại Vườn Nhãn (TP.Bạc Liêu).

TS Mai Mỹ Duyên – Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh TPHCM – cảnh báo: “Những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian trên sân khấu và không gian trình diễn mới đã làm câu hò, điệu lý, giọng hát ru trở nên lạc lõng, khô cứng hoặc chỉ còn là nỗi niềm hoài vọng quá khứ ở các nghệ nhân”. “Nhạc tài tử nói riêng và nghệ thuật dân tộc nói chung đang trong tình trạng báo động về lực lượng kế thừa. Hơn 5 năm qua, Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh TPHCM trong hơn 5 năm qua không chiêu sinh được học viên để đào tạo nghệ thuật sân khấu truyền thống” – TS Duyên cho biết. Còn theo nghệ nhân dân gian Lê Hoàng Tấn – Chủ nhiệm CLB ĐCTT, Trung tâm Văn hóa TPHCM – các đơn vị tạm gọi là chính quy (Trường Cao đẳng nghệ thuật sân khấu TPHCM, Trường Văn hóa nghệ thuật TPHCM, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang) có dạy 20 bài bản tổ, nhưng chủ yếu để phục vụ cho đờn, ca, diễn ở sân khấu cải lương. Chính vì vậy, khi ra trường học viên không phát huy được. Việc truyền nghề tại các CLB ĐCTT hiện vẫn chưa có bộ giáo trình chuẩn, trong khi giới trẻ ưa thích bộ môn này ngày càng ít, vì vậy ngày càng có ít nghệ nhân trong lĩnh vực này.

Từ những thực trạng này, các đại biểu cho rằng: Rất cần sự đầu tư của nhà nước trong việc phát huy, phát triển bộ môn ĐCTTNB; quan tâm đến công tác đào tạo, truyền nghề (kể cả nghệ nhân đờn, nghệ nhân ca); cố gắng gìn giữ nguyên bản ĐCTTNB song song với việc phát triển những lời mới dựa trên 20 bài, bản tổ…

ĐAN THÙY – HỌA MI : Chuyện có hậu của vợ chồng nghệ sĩ tài danh và kiệt tác “Dạ cổ hoài lang”


Chuyện có hậu của vợ chồng nghệ sĩ tài danh và kiệt tác “Dạ cổ hoài lang”

Cập nhật lúc 10:28 21/04/2011

Phunutoday -Cũng trong buổi chiều ngày hôm ấy, vợ chồng Cao Văn Lầu đưa nhau ra bìa ruộng, ôm nhau tiếp tục nức nở, đến chạng vạng buộc lòng phải chia tay. Cao Văn Lầu thấy vợ chỉ ôm theo gói quần áo cũ, ông liền lấy khăn rằn quấn cổ đội lên đầu cho vợ ra đi.

Bi kịch đời người nghệ sĩTrong một lần trao đổi với người viết, ông Nguyễn Văn Tấn – Vụ trưởng, Giám đốc cơ quan đại diện Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch tại TP.HCM – đã chia sẻ cảm nhận của mình về một kiệt tác mà ông yêu thích: “Dạ cổ hoài lang” vừa mang niềm riêng của tác giả, vừa chất chứa nỗi buồn chung của thời đại vong quốc. Buồn nhưng không bi lụy, nét nhạc lạc quan trỗi lên ở cuối bài khiến bài ca thấm đượm nỗi lòng của điệu buồn ai oán phương Nam, nhưng lại gợi mở một niềm tin về phận nước. 

Ở đấy, người nghe cảm nhận được nỗi lòng, thấy được mơ ước, khát khao của chính mình. Chính vì vậy, qua bao thế hệ, bao tầng lớp khắp vùng Nam bộ, kẻ sĩ lẫn dân quê từng gõ nhịp hát “Dạ cổ hoài lang” để lắng nghe tiếng lòng thầm thì, buồn vui và hy vọng”. Dường như đó không chỉ là cảm nhận của ông Tấn nói riêng mà là cảm nhận chung của nhiều người về “báu vật” “Dạ cổ hoài lang” của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu ra đời cách đây ngót 92 năm. 

e
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh thời

Dẫu biết mỗi lời ca, tiếng nhạc đều mang những tâm sự buồn có, vui có, những nhắn gửi của tác giả đến người đời. Báu vật “Dạ cổ hoài lang” không nằm ngoại quy luật đó. Nhưng mấy ai biết rằng, “Dạ cổ hoài lang” vẫn được yêu mến cho đến nay là do nó chất chứa những nỗi niềm chung – riêng khó tả của đời một con người lẫn đời sống xã hội một thời. Người viết đã cất công tìm truy tìm nguồn gốc, tìm hiểu những tư liệu của báu vật làng cải lương đất Nam bộ này.

Theo nhiều tư liệu quan trọng và lời kể của Cao Văn Lầu lúc sinh thời, thì vào một đêm tối trời cuối năm 1896, có 20 gia đình nông dân nghèo tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An, vì không chịu nổi cảnh sưu cao thuế nặng của bọn quan lại cường hào ác bá địa phương cai quản vùng này, nên đã xuống ghe xuôi theo dòng nước tìm về vùng đất Bạc Liêu trù phú để lập nghiệp. Trong số đó có gia đình ông Cao Văn Giỏi, là cha của người nghệ sĩ tài danh Cao Văn Lầu. Lúc ấy, Cao Văn Lầu chưa tròn 5 tuổi (SN 1892). 

Ông Cao Văn Giỏi là một người rất trọng đạo nho, ông “không sợ nghèo, chỉ sợ không giữ được đạo”. Nên khi đến vùng đất mới, ở tạm dưới mái chùa Vĩnh Phước An, ông liền gửi Cao Văn Lầu vào chùa để theo chữ nho. Học được hai năm thì lúc ấy phong trào chữ Quốc ngữ bắt đầu phát triển mạnh, ông Giỏi cho Cao Văn Lầu thôi học chữ nho chuyển sang học chữ Quốc ngữ. Nhờ sáng dạ nên rất được thầy yêu, bạn mến. Việc học đang  tấn tới, tương lai đang rộng mở phía trước nhưng đến lớp nhì (nay là lớp 4) thì ông Lầu đành chịu cảnh “xếp bút nghiên” vì hoàn cảnh gia đình quá túng quẫn, không có khả năng cho ông ăn học đến nơi đến chốn.

Cao Văn Lầu đã bỏ học về phụ giúp gia đình nhưng rốt cuộc gia đình chẳng vơi đi chút khó khăn nào. May thay lúc bấy giờ ở xóm Rạch Ông Bổn có ông thầy dạy đờn tên Lê Tài Khị, tục gọi là Nhạc Khị. Ông Giỏi nghe danh nên gửi con trai cho thầy Khị để dạy dỗ. Thầy Khị, nổi tiếng môn nhạc lễ và nhạc tài tử bởi ngón đờn điêu luyện. Nhờ siêng năng, sáng dạ bẩm sinh nên bốn năm bên thầy Khị, Cao Văn Lầu đã tiếp thu nhiều tinh tuý trong âm nhạc của thầy mà các bạn đồng môn không có khả năng được. Bởi Cao Văn Lầu luôn thấm thía lời thầy dạy: “Đờn lạc điệu như tín đồ lạc đạo. Còn đờn sai nhịp, sai câu giống như người chiến sĩ bị lỗi đường gươm nơi trận mạc”. Và “Trò nào có lòng tự trọng nghệ thuật, biết sáng kiến trong nghệ thuật thì thầy sẽ đem hết tâm huyết truyền dạy, các trò thành tài thầy rất quí trọng và biết ơn”.

d
Giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê, trong buổi họp bàn về hồ sơ đờn ca tài tử

Chính vì chuyên tâm học hỏi mà Cao Văn Lầu nhanh chóng sử dụng thành thạo các nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống… và trở thành nhạc sĩ nòng cốt trong ban nhạc của thầy Khị. Được biết ban nhạc của thầy Khị nổi tiếng khắp đất Nam Kỳ lục tỉnh lúc bấy giờ. Ban nhạc hoạt động theo hình thức nhạc lễ kết hợp với đờn ca tài tử. Trong các cuộc lễ tế đêm khuya, thầy tụng xả hơi thì ban nhạc bày ra đờn ca tài tử. Một hình thức mới rất ăn khách mà bấy lâu thầy Nhạc Khị chưa có dịp thực hiện. Nhờ có đờn ca tài tử mà khách đến dự đám ở lại với gia chủ suốt đêm, để thưởng thức tiếng đàn lời ca. 

Trong bối cảnh đó, chẳng bao lâu, danh tiếng của chàng trai trẻ Cao Văn Lầu nổi như cồn, mỗi lúc một vang xa ở vùng đất phương Nam. Sau đó soạn giả Mộng Vân – một người bạn đồng môn với nhạc sĩ Cao Văn Lầu, lập gánh hát mời ông về làm nhạc trưởng. Chia tay ban nhạc của Thầy Khị, Cao Văn Lầu như “chim ra ràng”, danh tiếng càng vang xa hơn, nhờ đó mà ông có tiền gửi về nuôi cha mẹ. Theo đoàn hát được vài năm, lúc này Cao Văn Lầu tuổi đã ngoài 20, cha mẹ ông muốn có người nối dõi tông đường nên bắt buộc ông về cưới vợ, sinh con. Vâng lệnh cha mẹ, Cao Văn Lầu chính thức lấy vợ, là cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na, chất phác ở miệt biển Bạc Liêu. 

Sau này chính người nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu đã từng tâm sự về những quãng đời, chuyện tình nhiều bi kịch nhưng có cái hậu đẹp của vợ chồng mình. Khi ấy, để có tiền cưới vợ, ông phải đi vay 80 đồng của bà Sư Chơn với lãi suất cắt cổ, mỗi ngày đóng 1,6 đồng, mỗi tháng 48 đồng, tính ra tính lại lãi suất lên đến 60%/ tháng. Chính vì thế, sau khi nên vợ thành chồng, hai vợ chồng Cao Văn Lầu đã phải đi vào rừng lượm củi, xúc tép dưới lung về bán để trả nợ. 

Chính vì cái nghèo, cái cảnh chạy ăn từng bữa đó mà  sau khi cưới ba năm trời, người vợ gầy héo không thể sinh con. Theo tục lệ lễ giáo phong kiến thời xưa “Tam niên vô tử bất thành thê”, một quan niệm khắc nghiệt khiến cho nhiều đôi lứa chia lìa, ôm đau khổ. Vợ chồng Cao Văn Lầu không nằm ngoài quan niệm khắt khe đó, mẹ ông nói thẳng: “Con hãy liệu mà kiếm vợ khác để nối dõi tông đường. Đó là chữ Hiếu của con mà mẹ cũng trọn đạo với tổ tiên”. Nghe qua nghiêm lệnh của người mẹ, ông Lầu như thấy trời long đất lở. Hạnh phúc lứa đôi rồi đây sẽ sụp đổ. Thương cho người vợ hiền tần tảo, thủy chung nào hay tin dữ. Phận làm con phải lấy chữ Hiếu làm trọng, ông hiểu nhưng chữ Tình nào dám rẻ khinh, nhưng chữ Hiếu cũng chẳng dám coi khinh, đặc biệt là trong xã hội phong kiến thời bấy giờ.

Ông Lầu cứ chần chừ, còn mẹ ông thì chờ đợi cả thời gian dài nhưng không thấy con trai thi hành nghiêm lệnh. Một hôm bà mẹ chồng quyết định nói cho con dâu biết rõ sự tình.  

Như mọi ngày, vợ chồng Cao Văn Lầu vẫn vào rừng mò củi, xúc tép để mưu sinh. Đến trưa, củi đầy ghe mà tép cũng nhiều. Hai vợ chồng dọn cơm lên mũi ghe, bất chợt vợ ông nghẹn ngào: “Má không cho mình ở với nhau nữa. Thôi anh cưới vợ khác, em về với mẹ cha em”. Nói xong hai vợ chồng gục đầu vào nhau khóc nức nở.  

Cũng trong buổi chiều ngày hôm ấy, vợ chồng Cao Văn Lầu đưa nhau ra bìa ruộng, ôm nhau tiếp tục nức nở, đến chạng vạng buộc lòng phải chia tay. Cao Văn Lầu thấy vợ chỉ ôm theo gói quần áo cũ, ông liền lấy khăn rằn quấn cổ đội lên đầu cho vợ ra đi. Người vợ của ông, lòng đau đớn dâng trào, tay lau nước mắt, chân bước thất thểu ra đồng như đi về nơi vô định. Sau khi vợ đi rồi, Cao Văn Lầu như người mất hồn, ra vào như một bóng ma trong chính ngôi nhà của mình.

Một hôm ông sang nhà nhạc phụ tìm vợ, mới biết vợ ông không trở về nhà mà chính gia đình vợ cũng không biết con gái đã đi đâu. Lòng càng hoang mang, tìm khắp nơi nhưng hình bóng người vợ hiền vẫn bặt vô âm tín. Suốt một năm ròng chẳng biết vợ ở đâu, ông đành ôm sầu nuốt lệ. Cứ mỗi khi chiều xuống, nhớ vợ ông xách đờn ra bìa ruộng, nơi diễn ra cảnh vợ chồng ly biệt. Nhìn ra đồng mà hình dung bóng người vợ hiền thất thểu giữa trời đêm. Ông gảy đờn theo tâm trạng của vợ lúc ấy, hết “Xuân nữ” đến “Nam ai” rồi “Trường tương tư” mà lòng chẳng vơi chút sầu thương.  

Từng kể lại với người viết, ông Cao Kiến Thiết – con trai trưởng Cao Văn Lầu, xác nhận, có lần ông đã nghe cha mình tâm sự với bạn bè: “Lúc ấy tôi nghĩ, giờ này vợ mình ở đâu? Chắc chắn là vợ mình thương mình nhiều hơn mình thương vợ. Số phận vợ mình sao mà giống thân phận nàng Tô Huệ, quá thương chồng nên dệt bức “Chức cẩm hồn văn” dâng lên vua để tỏ lòng nhớ thương chồng. Hay nàng Tô Thị thương chồng đứng chờ cho đến khi hóa đá. Nên tôi viết bài “Hoài lang” (Nhớ chồng)”. Khi ấy người nhạc sĩ tài danh Cao Văn Lầu ở tuổi 28.

Bài ca… nhớ vợ!

Sau nhiều tháng bầu bạn với cây đàn, chiều nào ông cũng ngồi bên bìa ruộng, hình dung bóng vợ gạt lệ ra đi. Từng bước biệt ly mà lòng đau quặn thắt. Ông vừa đờn vừa ca, mải mê trau chuốt bản đờn sao cho ngọt ngào, lột tả nỗi lòng khi “én nhạn lìa đôi”. Đến khi nghe tiếng trống điểm canh vọng lại ông mới giật mình, đêm đã khuya. Sinh thời ông Sáu Lầu (tức Cao Văn Lầu) có kể, khi ấy bất chợt ông nghĩ: Tiếng trống đêm đánh lên trong khi mình đờn bài “Hoài lang”. À, phải rồi. Âu là mình lấy hai chữ “Dạ cổ” (tiếng trống đêm) thêm vào tên bản nhạc “Hoài lang” thành “Dạ cổ hoài lang” (tức đêm nghe tiếng trống nhớ chồng) vậy là hay biết mấy. Thế là bản “Dạ cổ hoài lang” ra đời, với 20 câu làm não ruột người nghe. (Theo GS.TS. Trần Văn Khê, lời ca của bài “Dạ cổ hoài lang”, nhịp đôi có nhiều dị bản. Thông thường, nghệ sĩ cải lương ca bài ca trên được coi đó là lời ca chính thức.)

Theo nghệ sĩ Lâm Tường Vân, bài “Dạ cổ hoài lang” là tiếng nấc của nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu. Là bản nhạc lòng không phải để phô trương; chỉ để trao đổi cùng tri kỷ, tri âm. Bản “Dạ cổ hoài lang” là một “Bản Oán” đặt biệt, buồn biệt ly và có tâm trạng hy vọng đợi chờ. Cũng theo nghệ sĩ Lâm Tường Vân, bản nhạc có lời ca thật xuất sắc, song tên bản nhạc còn hẹp nghĩa, sau đó được thầy tuồng Trần Xuân Thơ góp ý: Đêm nghe tiếng trống nhớ chồng, vậy ban ngày nghe tiếng trống không nhớ chồng sao? Cao Văn Lầu cảm nhận được ý hay nên đổi “Dạ cổ hoài lang” thành “Vọng cổ hoài lang” (nghe tiếng trống từ xa vọng lại nhớ chồng). Để rồi vào một đêm rằm tháng 8/1919, tại làng Vĩnh Hương, tổng Hòa Thạnh (nay là phường 2, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu), người nghệ sỹ tài danh Cao Văn Lầu chính thức công bố bản nhạc bất hủ của đời mình và đến nay trở thành “báu vật”. 

f
Khách tham quan nhà trưng bày hiện vật của nhạc sĩ Cao Văn Lầu tại tỉnh Bạc Liêu

Thế nhưng niềm vui chưa trọn vẹn thì tai hoạ lại xảy ra. Đó là việc ông Cao Văn Lầu bị sở Mật thám tỉnh Bạc Liêu hai lần mời lên để thẩm vấn về sự ra đời của bản “Dạ cổ hoài lang”. Cụ thể, chính quyền thời bấy giờ kết tội ông Sáu Lầu sáng tác bài “Dạ cổ hoài lang” là bài ca quốc sự, nhằm kích động quần chúng chống bắt lính, chống chính quyền, với câu: Từ là từ phu tướng – Báu kiếm sắc phán lên đàng…”. Nhưng lúc này, ông phản bác một cách hết sức đơn giản nhưng đầy tính thuyết phục. Theo lời kể của chính Cao Văn Lầu thì lúc này ông nói: “Trong cảm hứng của tôi, lấy hình tượng nàng Tô Huệ trong “Chức cẩm hồn văn” để nói lên nỗi đau tột cùng cuộc chia ly của vợ chồng tôi mà không hề có câu chữ nào được coi là chống chính quyền, chống bắt lính cả”. Thế là chính quyền chẳng bắt tội được ông. 

Sau khi bản “Dạ cổ hoài lang” ra đời, người may mắn được ông dạy bản “Dạ cổ hoài lang” đầu tiên là nghệ sĩ Bảy Cao, kế đến là Lưu Hoài Nghĩa, rồi lần lượt đến các nghệ sĩ khác và người hâm mộ. Dần dà người dân khắp nơi ai cũng thuộc làu làu, ít nhất là đôi ba câu, và sau này có nhiều dị bản khác nhau. Nhưng ông vẫn không lúc nào vơi nỗi buồn thương, nhớ vợ một cách da diết. Không thể cam chịu cảnh chia ly, một mình khóc với bài ca. Ông Sáu Lầu quyết tâm đi tìm vợ! Ít lâu sau ông tìm gặp vợ ẩn sau mái chùa làm công quả. Cuộc trùng phùng như được tái sinh. Từ đó ông hay lui tới thăm vợ. 

Nỗi hạnh phúc trùng phùng vừa ập đến, vui khôn tả thì một thời gian ngắn sau, vợ chồng ông Sáu Lầu tiếp tục nhận được tim mừng như tràn ngập trên cõi đời này, là vợ ông đã mang thai. Tuy vậy ông cũng không khỏi lo âu, bởi nghiêm lệnh của mẹ ông vẫn còn đó. Nhưng ông vẫn nhất quyết về thưa với mẹ. Mẹ ông nghe qua, thay vì giận dữ, trái lại như bắt được vàng, hối thúc con trai chuẩn bị ghe rước con dâu trở về nhà. Từ đó vợ chồng nhạc sĩ Cao Văn Lầu đoàn tụ vui vầy, một chuyện bi kịch và có hồi kết có hậu. Vợ chồng ông sống với nhau, có tất cả 7 người con, gồm 5 trai và 2 gái. Các con ông sau này phần lớn thoát ly gia đình tham gia cách mạng từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Người con cả là Cao Kiến Thiết, nguyên là Tham tán, đại sứ Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam tại Liên Xô; người con thứ Cao Văn Cường, là y tá trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1946; Cao Văn Đàng làm công tác binh vận; Cao Văn Bỉnh, cán bộ chỉ huy hệ thống thông tin các đội tàu vận tải vũ khí đường Hồ Chí Minh trên biển… 

Cho đến nay, tại Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu vẫn còn lưu giữ bút tích của nhạc sĩ tài danh Cao Văn Lầu trong một cuốn sổ tay, trong đó có dặn dò con cháu về lẽ sống ở đời và đặc biệt có nhắn gửi “khi ba mất nhớ để ba nằm gần má tụi con ở phía mặt trời mọc….” Hay như lời dạy con của cố nhạc sĩ trở thành lời dạy lưu danh “nghe đờn ca tài tử phải đợi lúc khuya mới mùi, phải có tình yêu đằm thắm với nó mới hay. Bản vọng cổ cũng giống như cục nhân bánh miền Nam. Nếu móc cái nhân ăn trước thì không còn ngon nữa…” Không quên lời dặn dò của ông, khi qua đời vợ chồng Cao Văn Lầu – bà Trần Thị Tấn đã được nằm cạnh nhau, trong một khu di tích rộng lớn tại thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Mới đây nhất vào tháng 3/2011, chính quyền địa phương và một doanh nghiệp bất động sản tại TP.HCM đã bỏ ra hơn 5 tỷ đồng để trùng tu khu di tích này. Ngoài ra tại Bạc Liêu nay cũng đã có con đường mang tên Cao Văn Lầu dẫn từ trung tâm thị xã ra biển như sự lưu danh của người nghệ sĩ tài danh vì những đóng góp vô giá của ông đối với vùng đất này.

Bài ca vua của sân khấu cải lương

Từ khi bản “Dạ cổ hoài lang” ra đời, nhanh chóng đi sâu vào lòng người mộ điệu, trở thành bài ca chính thống, bài ca vua trên sân khấu cải lương Nam bộ. Qua mỗi giai đoạn phát triển trở nên hay hơn và chuyển dần thành nhiều nhịp. 

Cụ thể năm 1924, tăng lên 4 nhịp. Năm 1934 – 1944, tăng lên 8 nhịp. Năm 1945 – 1954, tăng lên 16 nhịp. Năm 1955 – 1964, tăng lên 32 nhịp và từ 1965 đến nay tăng lên 64 nhịp. Và cứ mỗi lần phát triển, bài “Dạ cổ hoài lang” không dừng lại ở nguyên bản như các bài nhạc cổ khác, mà dần biến đổi hình thức, làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương. Rõ nét nhất là từ thập niên 1960, soạn giả Viễn Châu, đã tạo nên mối lương duyên kỳ lạ, kết hợp Tân nhạc vào Vọng cổ cho ra đời bản “Tân cổ giao duyên”, thu hút được khán thính giả tân và cổ nhạc. Điều này chỉ có ở vọng cổ, bởi lẽ tiếng nhạc du dương và lời ca bình dị hợp với tấm lòng người Nam bộ. Lúc buồn, vọng cổ giúp giãi bày tâm sự, vơi đi buồn tủi; lúc vui tươi, vọng cổ góp phần cho sự kiện hân hoan. Cũng chính bản vọng cổ đã góp phần mang lại ánh hào quang cho nhiều thế hệ nghệ sĩ, danh ca, danh cầm, soạn giả sân khấu cải lương vùng đất Nam bộ. 

Điều này đã được nghệ sĩ sân khấu Huỳnh Khánh thừa nhận: “Bài Dạ cổ của bác Sáu Lầu đã đưa tôi lên địa vị vua vọng cổ một thời”. Còn nghệ sĩ Bảy Cao thì: “Tôi cho bài “Dạ cổ hoài lang” – bây giờ là bản vọng cổ từ nhạc sĩ Cao Văn Lầu tạo ra là bài ca vô địch. Nó có thể nói lên hết tâm tư nguyện vọng và bộc lộ hết tình cảm của con người, tuỳ theo thời gian và hoàn cảnh”. Được biết trong tháng 10/2009, chính quyền tỉnh Bạc Liêu đã long trọng tổ chức lễ hội “Dạ cổ hoài lang” nhân kỉ niệm 90 năm ngày tác phẩm này ra đời. Cũng trong dịp này một giải thưởng Nhà nước cấp tỉnh – giải thưởng Cao Văn Lầu – được ra mắt, nhằm khen thưởng, động viên các những hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, những đóng góp của văn nghệ sĩ, nghệ nhân trong lĩnh vực này cho Bạc Liêu.

GS-TS. Trần Văn Khê, khẳng định: “Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như “Dạ cổ hoài lang” biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng, và sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể”. Điều này đã được khẳng định vào cuối tháng 3 vừa qua, Hội đồng Di sản văn hoá quốc gia đã trình hồ sơ “Nghệ thuật đờn ca tài tử” lên UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc) để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. 

GS-TS Trần Văn Khê – Cố vấn hồ sơ đờn ca tài tử, cho biết gần như chắc chắn “Nghệ thuật đờn ca tài tử” sẽ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, vì ông đã dọn đường cho bộ môn nghệ thuật này đến với UNESCO từ thế kỷ trước. Ông đề nghị những người có trách nhiệm nhắc cho UNESCO biết không phải đến bây giờ, đờn ca tài tử mới được trình lên UNESCO mà từ năm 1963, đờn ca tài tử đã được đưa vào một đĩa hát của UNESCO và chính GS-TS Trần Văn Khê là người viết lời giới thiệu tại Paris (nước Pháp). 

Có thể không ngoa khi nói rằng, “Dạ cổ hoài lang” dường như đã trở thành một trong những “báu vật” trong đời sống tinh thần của người Việt. Cao Văn Lầu là một nghệ nhân trứ danh, khi đã biến được tiếng khóc riêng của mình trở thành tiếng lòng chung. Chúng tôi tin rằng khi ấy “Nghệ thuật đờn ca tài tử” – trong đó có bài “tổ” “Dạ cổ hoài lang” sẽ không còn là di sản văn hóa của riêng người dân Nam bộ phóng khoáng, người Việt nghĩa tình, mà nó sẽ trở thành di sản của cả nhân loại. Tin tưởng rằng điều đó sẽ trở thành hiện thực trong một ngày không xa.

Nguyên tác bài “Dạ cổ hoài lang”

1. Từ là từ phu tướng
2. Báu kiếm sắc phán lên đàng
3. Vào ra luống trông tin nhạn
4. Năm canh mơ màng
5. Em luống trông tin chàng
6. Ôi! Gan vàng thêm đau
7. Đường dầu xa ong bướm
8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
9. Còn đêm luống trông tin bạn
10. Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu
11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng
12. Lòng xin chớ phụ phàng
13. Chàng là chàng có hay
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
15. Biết bao thuở đó đây sum vầy
16. Duyên sắc cầm đừng lợt phai
17. Là nguyện – cho chàng
18. Hai chữ an – bình an
19. Trở lại – gia đàng
20. Cho én nhạn hiệp đôi.

Đan Thuỳ – Hoạ Mi

QUỲNH PHẠM : Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh


DÂN CA, VÍ GIẶM 
  Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe…

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) làm các thủ tục cần thiết gửi hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc

Theo quyết định mới của UNESCO, mỗi năm một nước chỉ được trình 1 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Năm 2012, Việt Nam có hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); năm 2013 là hồ sơ Đờn ca tài tử và đang chờ kết quả từ UNESCO trong cuối năm nay. Vì thế, hồ sơ Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh sẽ trình UNESCO xét duyệt là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2014.

Cần phải nhắc lại, cuối tháng 6/2012, để góp phần gìn giữ, bảo tồn, tôn vinh và phát triển những giá trị bền vững của loại hình nghệ thuật dân ca ví, giặm, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã từng phối hợp tổ chức “Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ lần thứ nhất năm 2012” với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”. Đây là bước quan trọng và là tiền đề để các cơ quan chức năng, hội nghề nghiệp có thêm niềm tin, căn cứ để lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Bởi thế, dân ca, ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của 2 tỉnh miền Trung này.

Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Những năm gần đây, ví giặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước. Hát ví chỉ giới hạn trong đối đáp, giao duyên. Trai thanh, gái lịch hát đối đáp với nhau, hát vọng từ ngoài đường vào nhà, từ trong nhà với ra, hay cũng có thể là từ trên sông vọng lên bờ…

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải…

Theo điều tra, kiểm kê của UBND tỉnh Nghệ An thì hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát dân ca ví, giặm với khoảng hơn 2.000 thành viên, trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức:

Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam).

Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Cùng là một câu thơ lục bát nhưng ví đò đưa hát khác mà ví phường vải hát khác.

Ví phường vải là lối hát bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa. Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước. Người hát thường là những trai bạn chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón… Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Tuy nhiên, giọng ví phường vải không chỉ hát trên cạn, trên làng và giọng đò đưa không chỉ hát dưới sông, dưới thuyền mà trong hát phường vải có giọng đò đưa, trong ví đò đưa có giọng phường vải.

Như vậy, việc trình hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được xem là hành động kịp thời và cần thiết để vinh danh loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh Quỳnh Phạm

http://ngheantourism.gov.vn/index.asp?options=items&code=1886

 

VŨ MINH : Đờn ca tài tử – Bản giao hưởng đồng quê


06:31 | 20/11/2013

Đờn ca tài tử – Bản giao hưởng đồng quê

(LV) – Các nhà nghiên cứu xem Đờn ca tài tử là loại hình âm nhạc bác học mà dân dã, bởi nó có gốc gác từ nhạc lễ cung đình được người Nam Bộ thổi bầu không khí, tình cảm, dư vị ngọt ngào của miền sông nước, phóng khoáng, rồi bén rễ, trở nên gần gũi, mộc mạc như chính người dân lao động thuần chất nơi đây.

Đặc trưng độc đáo của Đờn ca tài tử

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật được xem là “sinh sau đẻ muộn” nhất vào cuối thế kỷ XIX đầu XX. Dù trên nền của nhạc cung đình Huế, qua Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam mang chút âm hưởng miền Trung, tới miền Nam mảnh đất màu mỡ với những con người tháo vát, đầy sáng tạo, Đờn ca tài tử phát triển và trở thành một nét văn hóa đặc sắc của vùng Nam Bộ.

Nếu ở miền Trung, Đờn ca tài tử các điệu có phong cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng, bay bướm, nhạc điệu có tiết tấu thay đổi tùy thuộc vào cảm xúc của từng người và từng lúc. Tuy nhiên, vẫn mang một hơi hướng buồn man mác như để nhớ về cội nguồn. Đờn ca tài tử nói lên được đúng tính cách của người Nam Bộ, hễ vui thì chơi, chơi hết mình, còn không có hứng thì có “các vàng” cũng khó có thể mua được tiếng tđàn của những “tài tử, giai nhân”. Muốn trở thành người hát và đàn Đờn ca tài tử đúng nghĩa thật không phải dễ, không phải ai cũng có những ngón đàn, lời ca mùi mẫn đi vào lòng người. Những người được coi là nghệ nhân cũng đều phải qua quá trình tập luyện công phu, khổ luyện và có phong cách riêng.

 

 

Nhạc khí chú ý hơn lời ca

Nhạc khí trong Đờn ca tài tử là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh, ít khi có độc tấu, thường là song tấu giữa đàn kìm và đàn tranh, tiếng thổ pha kim hoặc có khi là tam tấu đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, thi thoảng có thêm tiếng sáo, tiếng tiêu. Đặc biệt là song lang (hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp. Ngoài ra, còn có các nhạc khí khác như đờn sến, đờn gáo, đờn độc huyền, đờn tỳ bà nhưng ít thông dụng.

Nếu như Ca trù miền Bắc và Ca Huế của miền Trung rất coi trọng lời ca hơn tiếng đàn, thì trong Đờn ca tài tử lại gần như ngược lại. Tiếng đàn có nhấn nhá, có sắp chữ, sắp câu sao cho duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề… phải sao cho ngọt ngào uyển chuyển mới gọi là ngón đàn hay; cách đàn câu thòng, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng. Âm thanh nhạc tài tử nhẹ nhàng, xen lẫn buồn, vui, ai oán. So với nhạc Huế, nhạc tài tử Nam Bộ theo ngôn ngữ bình dân và “mùi” hơn, khi trình diễn tự do, phóng túng hơn. Người hòa đàn chỉ cần ăn nhịp đầu và nhịp cuối, đoạn giữa có thể tùy hứng. Tuy nhiên, lối chơi phóng túng của Đờn ca tài tử cũng phải có nguyên tắc, còn lời ca của tài tử thì có thể dung nạp mọi đề tài, có thể từ các tích xưa, lịch sử, đạo lý truyền thống của dân tộc, cho đến các đề tài đương đại, thậm chí có thể sử dụng bài bản tài tử để viết lời mới phục vụ công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị… Ca từ giản dị, mộc mạc, giàu chất văn học dân gian, đầy ắp hơi thở cuộc sống. Vì thế, nhiều bài đã được công chúng thuộc lòng, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Sức sống mạnh mẽ

Giáo sư Trần Văn Khê, nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống cho rằng: Chính sự hòa hợp, gần gũi giữa người trình diễn Đờn ca tài tử với khán giả đã tạo nên sức sống bền vững cho nghệ thuật trình diễn độc đáo này. Đờn ca tài tử không chỉ gắn bó với người dân lao động miền sông nước mà đã ngược dòng về nơi phố thị, lan tỏa khắp lục tỉnh đến Sài Gòn. Việc thưởng thức Đờn ca tài tử ở thành phố được mọi lứa tuổi yêu thích. Không những vậy, học trò theo học Đờn ca tài tử ngày càng đông. Nghệ nhân dân gian Lê Khắc Tùng (huyện Hóc Môn, TP. HCM) “chiêu nạp” đào tạo học trò lớn tuổi nhất là 60, nhỏ nhất là 9 tuổi. Ngoài việc truyền dạy cho hàng trăm học trò khắp cả nước, ông còn dạy cho nhiều người Việt sống ở nước ngoài như Pháp, Mỹ, Canada…

Nhiều câu lạc bộ, nhóm Đờn ca tài tử hoạt động sôi nổi ở khắp các tỉnh thành phía Nam, không chỉ có những nghệ nhân mà xu hướng người trẻ mê Đờn ca tài tử cũng ngày càng đông, lan tỏa, rộng khắp từ Nam chí Bắc. Hình ảnh những nghệ nhân gẩy ngón đàn thật “mùi”, xuống vọng cổ ngọt ngào đã nhận được những tràng pháo tay cổ vũ của khán giả ngồi trật kín khán phòng không còn hiếm thấy.

Rồi từ các câu lạc bộ, các nhóm đờn ca, những người nghệ sỹ của đồng quê được bước lên sân khấu thực thụ tại các cuộc liên hoan, nhạc hội, giao lưu được tổ chức thường xuyên, liên tục cấp tỉnh và Trung ương… Đờn ca tài tử được nhiều người xem là “nghề thời thượng” mang lại thu nhập khá cho nghệ nhân, nghệ sỹ. Giống như loại hình nghệ thuật truyền thống khác, Đờn ca tài tử có nhiều biến đổi theo năm tháng, thậm chí nhiều người lo sợ bị “cải lương hóa” trong cuộc mưu sinh và những chuyển biến ngày càng lệch lạc so với giá trị gốc khiến không ít người nhầm lẫn giữa Đờn ca tài tử với các trích đoạn ca vọng cổ, cải lương…

Có lẽ, đó cũng là lực cản lớn nhất trong hành trình của những nhà nghiên cứu, nhà quản lý đưa Đờn ca tài tử đến với UNESCO. Những nỗ lực cố gắng, qua nhiều bước đệ trình, thẩm định, hồ sơ Đờn ca tài tử đã đến được với UNESCO, cuối năm nay chúng ta hy vọng có cơ hội mang về danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại dành cho Đờn ca tài tử.

Vũ Minh

http://langvietonline.vn/Van-Hoa-Nghe-Thuat/131087/Don-ca-tai-tu—Ban-giao-huong-dong-que.html

VĂN CƯỜNG: Đờn ca tài tử sẽ là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào đầu 2014


Đờn ca tài tử sẽ là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào đầu 2014

(15:18 | 18-10-2013)

Cục công tác phía Nam Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch (VHTTDL) vừa phối hợp với Sở VHTTDL Bến Tre tổ chức hội thảo về “Đờn ca tài tử với việc nâng cao đời sống văn hóa cộng đồng”.

 

Tham dự hội thảo có khoảng 170 đại biểu là lãnh đạo của 21 sở VHTTDL tỉnh, thành phía Nam cùng các nhà nghiên cứu, phê bình lý luận, soạn giả cải lương, tài tử đờn, tài tử ca…

 

Hội thảo nhằm bổ sung cho hồ sơ Đờn ca tài tử để trình lên UNESCO và nếu không có gì thay đổi, Đờn ca tài tử sẽ được UNESCO xem xét công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào đầu năm 2014.

 

Nghệ thuật Đờn ca tài tử ra đời và phát triển mạnh mẽ trên đất Nam bộ, nhưng giờ đây nó đã lan tỏa đến nhiều vùng trên cả nước. Bộ VHTTDL đã xây dựng hồ sơ khoa học, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại.

 

 

(Văn Cường)

http://www.dnrtv.org.vn/news/tin-trong-nuoc/xa-hoi/26987/don-ca-tai-tu-se-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-nhan-loai-vao-dau-2014

KIM ỬNG : Ký ức đờn ca tài tử


 

Ký ức đờn ca tài tử

KIM ỬNG

Hình ảnh của Ký ức đờn ca tài tử

Hiện nay, theo yêu cầu của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Viện Âm nhạc Việt Nam và Sở VH-TT-DL TP.HCM cùng một số tỉnh thành phía Nam đang chuẩn bị tiến hành việc lập hồ sơ Đờn ca tài tử đệ trình UNESCO công nhận văn hóa phi vật thể thế giới. Sự chuẩn bị này là niềm vui và có ý nghĩa văn hóa lớn của dân tộc, tuy còn nhiều ý kiến trái ngược: hoặc dè dặt; hoặc quá thận trọng vì “tuổi đời” Đờn ca tài tử còn quá trẻ, chưa đầy 200 năm!

 

1. Theo ý kiến nhiều nhạc sĩ và các nhà nghiên cứu lý giải đều cho rằng, nhạc thính phòng gồm các bản đàn hoặc bài hát được trình diễn tại nhà riêng hay không gian phòng nhỏ của các nhạc sĩ, ca sĩ. Với đặc thù này, người ta có thể ngầm hiểu kiểu cách đàn ca, múa hát biểu diễn nơi cung đình, đền miếu, tư thất của quan tướng, tư gia của các bậc văn nhân, mặc khách trong các triều đại Việt Nam xa xưa, đã hình thành “nhạc thính phòng”.

Đờn (đàn) ca tài tử tuy ra đời muộn hơn nhưng nó cũng là một kiểu loại nhạc thính phòng ở Việt Nam như ca trù, ca Huế. Bài bản đờn ca tài tử khá phong phú, cho nên, đến với đờn ca tài tử, người đàn hay người hát đều phải học và am hiểu 20 bản tổ và các bản này được tương truyền do nhạc sư Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) ở Cần Đước – Long An đúc kết. Đó là 6 bản Bắc (Tây Thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chẩn, Bình bán chẩn, Xuân tình), 7 bản Nhạc (Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn dá, Tiểu khúc), 3 bản Nam (Nam ai, Nam xuân, Đảo ngũ cung), 4 bản Oán (Tứ đại oán, Phụng hoàng, Phụng cầu, Giang Nam)…


Ban nhạc Đờn ca tài tử biểu diễn ở Bạc Liêu. Ảnh: K.Ư.

Phát triển mạnh mẽ ở mảnh đất phương Nam vào thế kỷ XX, đờn ca tài tử gắn liền với đặc thù vùng đất mới trên cơ sở truyền thống âm nhạc lâu đời của dân tộc. Nhạc sư Vĩnh Bảo (93 tuổi), người đã dành cả cuộc đời cho âm nhạc truyền thống dân tộc và sống “thấm đẫm” trong không gian văn hóa đờn ca tài tử ngay từ thời thơ ấu, đã nhận định đờn ca tài tử ở cả hai mặt lý thuyết và thực tiễn âm nhạc qua nhiều cuộc trò chuyện với bạn bè, đồng nghiệp, học trò.

Trao đổi điều này, GS.TS – Nhạc sĩ Nguyễn Thuyết Phong cho biết: với một trí nhớ khá minh mẫn, nhận xét thật sắc sảo, tinh tế, tinh tường, nhạc sư Vĩnh Bảo như một “nhân chứng sống” về một thế hệ nhạc sư, nhạc sĩ tài danh của đờn ca tài tử như: Chín Kỳ, Giáo Thinh, Năm An, Tư Nghi, Bảy Triều, Hai Phát, Sáu Tửng, Mười Tiễng, Năm Vĩnh, Hai Thơm, Mười Còn, Tư Huyện, Chín Trích, Năm Cơ, Văn Vĩ, Bảy Bá…

Nhạc sư Vĩnh Bảo mô tả phong cách đàn và phong cách ca đờn ca tài tử cũng có đặc điểm riêng, “người đàn cũng như người ca đều có phong thái nghiêm chỉnh, không múa may quay cuồng hay ra bộ ra tịch nhái theo sân khấu cải lương”. Những người đờn và ca tài tử biểu diễn bên cạnh bộ ván ngựa hay sa-lon trong phòng khách. Nhạc cụ được chơi “đúng chuẩn” là đàn tranh, kìm, cò, tỳ bà, gáo, độc huyền, sáo, tiêu.

Thế nhưng, qua lịch sử, đờn ca tài tử đã bị phôi pha, biến đổi và có thể bị mai một!

2. Những năm 80, 90, gần hai thập niên cuối thế kỷ XX, đờn ca tài tử Nam Bộ gần như được phục hồi một cách tự phát từ những nhóm CLB Đờn ca tài tử, phong trào ca hát ở nông thôn hay phường, khóm, quận, huyện ở thành phố. Về một xã nhỏ ở huyện Chợ Lách (Bến Tre) hay ghé thăm gian phòng nhỏ của CLB Đờn ca tài tử tại Trung tâm văn hóa huyện Hóc Môn năm 1998, chúng tôi luôn chứng kiến tinh thần say mê âm nhạc và lòng nhiệt thành của các nghệ sĩ, nghệ nhân.

Nhạc sĩ Lê Văn Tùng, nhạc sĩ Út Tỵ cùng một số nhạc sĩ khác lúc ấy từ Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương… đến chơi đàn đều có tâm nguyện khôi phục thể loại âm nhạc truyền thống này. Những ngày đó, các nhóm đờn ca tài tử tự nguyện đóng góp gạo, tiền, đường, sữa, cà-phê, bánh trái… để “nuôi dưỡng” phong trào hơn là chú ý đến không gian văn hóa đúng nghĩa của đờn ca tài tử.

Trong số các nghệ sĩ, nghệ nhân này, có người đã nhắc đến các thế hệ nhạc sĩ cha, anh của những thập niên 50, 60, 70. Phần lớn nhạc sĩ đờn ca tài tử đều là “con nhà nòi” của các nhạc sĩ nhạc lễ, tìm đến với đờn ca tài tử. Không ít người sau thời gian gắn bó với đờn ca tài tử lại bị cuốn hút vào thế giới sân khấu cải lương. Để rồi, khi lớn tuổi, họ từ cải lương quay trở về, “hoài niệm” đờn ca tài tử…

Qua những câu chuyện kể của các nhạc sĩ, người nghe dễ băn khoăn tự hỏi vì sao đờn ca tài tử thường được biểu diễn trong không gian phòng khách sa-lon, trường kỷ sang trọng của nhiều tư gia trí thức Tây học vào những năm 40, 50…, có lúc đã chuyển sang “không gian thính phòng bình dân” khá thú vị ở một số tiệm hớt tóc vào những năm 60, 70 ở Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Bến Tre, Cao Lãnh…


Nhạc sư Vĩnh Bảo (93 tuổi) với nhạc cụ dân tộc.

Xu hướng “bứt khỏi”, mở rộng không gian âm nhạc thính phòng này, có người lý giải, cho rằng xuất phát: 1) từ hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong chiến tranh làm biến đổi không gian văn hóa; 2) từ sự ra đời và phát triển của một số loại hình nghệ thuật cải lương, kịch nói, điện ảnh… ảnh hưởng mạnh mẽ và tạo nên quá trình tương tác qua lại, làm chi phối thị hiếu nghệ thuật nhiều lớp công chúng trong xã hội… Ngày nay, việc khôi phục âm nhạc dân tộc truyền thống; tập hợp, mở rộng “sân chơi” cho đờn ca tài tử qua các liên hoan hội thi, hội diễn sân khấu hoành tráng; hoặc phát triển kết hợp đờn ca tài tử trong không gian lễ hội du lịch đều mang ý nghĩa mới, tốt đẹp nhưng phải thể hiện đúng phong cách, đúng chất lượng!

Tuy nhiên, theo GS.TS Nguyễn Thuyết Phong, chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy Dân tộc nhạc học thế giới (Ethnomusicology) nhận định: điều này đang là một thách thức lớn trong việc khôi phục phong cách đờn, phong cách ca đúng như tính chất nhạc thính phòng nguyên thủy của đờn ca tài tử. Hiện tại, có thể người thưởng thức (và cả hiếu kỳ) nhạc tài tử có số lượng đông hơn xưa, nhưng cũng không nên đưa đờn ca tài tử biểu diễn trên sân khấu lớn. Vẫn phải khôi phục đúng tính chất không gian âm nhạc “thính phòng nguyên thủy”!

Từ kinh nghiệm và so sánh với nhiều thể loại âm nhạc truyền thống quốc tế như ở Ấn Độ, Hàn Quốc, GS.TS Nguyễn Thuyết Phong cho rằng chất lượng và hệ thống âm nhạc đờn ca tài tử Nam Bộ rất đặc biệt. Mặc dù ra đời chỉ hơn 100 năm qua nhưng nó là sự tích tụ, là trải nghiệm âm nhạc cổ truyền Việt Nam ở ba miền Bắc, Trung, Nam của cả 1.000 năm. Nó có sức mạnh rất lạ lùng, lý thuyết truyền khẩu chặt chẽ, cô đọng nhiều truyền thống trong quá khứ.

Vấn đề đáng quan tâm của chúng ta sau khi lên tiếng khôi phục, giữ gìn di sản văn hóa quý giá, tránh được tình trạng bị mai một, là cố gắng cam kết tiếp tục bảo tồn đờn ca tài tử một cách xứng đáng.


Bài liên quan:

http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/2281-ky-uc-don-ca-tai-tu.aspx