TRẦN QUANG HẢI’s pictures on GOOGLE.COM


TRẦN QUANG HẢI’s pictures on GOOGLE.COM

 

T.Bình : GS Trần Văn Khê – Tình yêu vô hạn dành cho âm nhạc dân tộc


GS Trần Văn Khê – Tình yêu vô hạn dành cho âm nhạc dân tộc
Trong tháng 12-2004, Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê đã đem về TP. HCM 465 kiện hiện vật liên quan đến đời sống cá nhân và nghề nghiệp của ông, trong đó có nhiều, tài liệu, sách báo, bản thảo băng từ hình ảnh về âm nhạc học. Những hiện vật này là một sự nghiệp tinh thần của cả cuộc đời hoạt động âm nhạc của ông.

Cuộc đời và những kỷ niệm khó quên 

Sinh ra trong một gia đình cải lương tài tử, tại mảnh đất Tiền Giang địa linh nhân kiệt. Bên nội, bên ngoại có đến 4 đời là nhạc sĩ. Ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ Trần Văn Khê đã được nghe tiếng sáo véo von của người cậu thứ năm và sinh ra trong tiếng sáo chào mừng để rồi lớn lên trong bầu không khí thấm đẫm âm nhạc. Vừa biết nói đã biết nhịp điệu, tiết tấu. Lên 6 tuổi đã đánh đàn kìm, 7 tuổi đánh đàn cò, 12 tuổi đánh đàn tranh, 14 tuổi đã biết đánh trống nhạc lễ… Chính vì vậy nhạc dân tộc đã trở thành máu thịt, thấm vào xương vào tim ông. 

Sau khi lớn lên ông ra Hà Nội học, tại dây ông tham gia điều khiển giàn nhạc Tây ở Đại học Hà Nội. Ông rất có năng khiếu tranh luận và bảo vệ nhạc dân tộc. Một kỉ niệm đáng nhớ của ông đó là lần được chính phủ Campuchia mời sang thăm, trong chính phủ có 7 bộ trưởng, thì 4 người đòi bỏ nhạc Kh’mer thay bằng nhạc Tây. Họ lý luận, mất 7 năm học nhạc Kh’mer khi đàn chỉ có người Kh’mer nghe, nhưng với 7 năm học nhạc Tây khi đàn thì tất cả mọi người đều nghe được. 

Trước tình hình đó Trần Văn Khê liền đứng ra thuyết phục mọi người, ông nhắc đến việc tượng đá tại Đế Thiên ngày xưa bị bệnh đá cứ bị bể ra từng miếng thành bột, tại sao phải mời chuyên gia nước ngoài về chữa bệnh đó tốn không biết bao nhiêu tiền, sao mình không ủi cho cả vùng Đế Thiên sập đi cất vào đó những nhà chọc trời hiện đại hơn? Các bộ trưởng đều nói “Tượng đá ấy là di tích văn hóa của chúng tôi sao ông đề nghị lạ vậy?”. 

Lúc này Trần Văn Khê mới nói, nhạc Kh’mer là một tòa nhà văn hóa đồ sộ, mà chúng ta không thể rờ thấy được không thể nắm bắt được, nhưng nó là một di sản văn hóa quý giá, là tâm hồn của người dân Kh’mer, vậy mà các ông lại muốn xóa bỏ đi thay vào đó bằng nhạc Tây! Sau hai ngày tranh luận, ông đã thành công, giúp những người đang bác bỏ nhạc Kh’mer hiểu được giá trị đích thực của một dòng nhạc dân tộc, và đa số bộ trưởng trong chính phủ quyết định phục hồi nhạc dân tộc.

Năm 1941, lần đầu tiên ông đưa nhạc Lưu Hữu Phước đến với quần chúng. Năm 1942, ông có một kỷ niệm hết sức tốt đẹp và khó quên. Lần ấy, ông cùng Lưu Hữu Phước, Thế Lữ dựng vở ca kịch “Tục lụy” cho các cô nữ sinh Đồng Khánh ở Hà Nội đóng. 

Kịch này được Thế Lữ chuyển từ kịch của Khái Hưng ra kịch thơ. Nhưng Thế Lữ sợ người nghe đọc thơ mãi sẽ nhàm chán, do đó Thế Lữ khuyên các cô nữ sinh nên tìm Lưu Hữu Phước để nhờ ông phổ nhạc kịch thơ này. Thế là ba người trở thành người đầu tiên dựng vở ca kịch cho các nữ sinh trường Đồng Khánh theo phong cách mới: lời Việt, nhạc Việt. Lưu Hữu Phước viết nhạc rất hay, nhất là phổ thơ Thế Lữ, thơ Thế Lữ đã hay, đã đẹp rồi mà khi phổ nhạc lên càng hay, càng đẹp hơn nữa. Nhưng Lưu Hữu Phước sáng tác rất hay mà không chuyên dạy hát. Thế là Trần Văn Khê dạy hát, và phụ Thế Lữ làm đạo diễn. Trong khi thực hiện chương trình này ba ông được vào hẳn trường nội trú của Đồng Khánh để dạy, các bạn trai Hà Nội ganh tỵ vì thấy Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước là người Sài Gòn mà được vào trường nữ là một điều hết sức bất thường.

Nhạc dân tộc sống trong lòng người xa xứ

Khi sinh viên rộ lên phong trào xếp bút nghiên, và bắt đầu có nạn đói Trần Văn Khê lúc này đang học năm thứ ba, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Hồ Thông Minh về quê lập gánh hát sinh viên để thâu tiền mua gạo cứu đói. Năm 1949 ông sang Pháp học. Hồi đó ông rất nghèo, vừa đi học vừa đi đàn ở các hiệu ăn. Tuy trong thâm tâm ông còn tư tưởng sai lầm là nhạc phương Tây khoa học, nhưng khi mưu sống lại phải nhờ nhạc dân tộc. Ông đàn tranh trong hiệu ăn La Paillote của ông Từ Bá Hòa, giới thuệu đàn cò, đàn tranh tại hiệu ăn Bồng Lai của ông Bùi Văn Tuyền.. 

Từ năm 1951 ông bị bệnh nặng phải nằm nhà thương dài hạn (3 năm 2 tháng), trong thời gian này ông suy ngẫm và giựt mình khi nhìn lại những gì mình đã làm và những gì chưa làm, bỗng hiểu rằng đi vào âm nhạc phương Tây là sai, làm mất đi bản chất âm nhạc Việt, không làm nhạc dân tộc Việt Nam tiến bộ được. Từ đây, ông quyết định học trở lại và đi tìm nghiên cứu về dòng nhạc lịch sử Việt Nam, ông bắt đầu học lại nhạc Việt Nam, luyện tập nhạc Việt Nam. 

Năm 1951, ông bắt tay vào soạn luận án tiến sĩ “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” ở đại học Sorbonne, sau khi đậu bằng Tốt nghiệp Viện Khoa học Chính Trị Paris. Đến năm 1958, ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ âm nhạc ở Sorbonne. Nhạc Việt Nam từ đây được ông phổ biến ở nhiều nơi. Đi đến đâu ông cũng hãnh diện nói về dòng nhạc dân tộc này, nhiều học trò người nước ngoài được Trần Văn Khê dạy nhạc Việt Nam đã trở nên yêu tha thiết nhạc này, thậm chí hát rất rành, đàn rất hay những bản nhạc tài tử như Nam xuân, Tứ đại oán, của Việt Nam.

Suốt 55 năm sống ở Pháp, ông đã từng là Thành viên Ban chấp hành sau đến cuơng vị Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế âm nhạc thuộc UNESCO, là Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Nghiên cứu khoa học (CNRS) giảng viên và giáo sư trường đại học Sorbonne. Nhưng ông không lấy quốc tịch Pháp mà vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, ông được công nhận là một trong 50 công dân nước ngoài lập nghiệp và nổi tiếng ở Pháp được hưởng mọi chế độ bảo hiểm. Nhưng ông vẫn quyết định đem tất cả tài sản tri thức của mình về nước. 

Ông tâm sự: “Khi gom đồ đạc để về Việt Nam, nhìn ngôi nhà trống rỗng mình đã từng gắn bó mấy chục năm nay, tôi cũng cảm thấy, ray rứt. Nhưng khi nghĩ về quê hương, về lại quê cha đất tổ, nhận lại được sự đùm bọc yêu thương của dân tộc. Tôi cảm thấy mình như sống lại, như cá gặp nước, như rồng gặp mây”. Và đúng như những gì ông nói, về Việt Nam đi đến đâu ông cũng được đón nhận như người nhà, thí dụ như khi thấy mắt mình bị mờ, ông vừa ngỏ lời, Giám đốc Bệnh viện Mắt TP. HCM đã hẹn khám và sau 2 tiếng điều trị bằng laser mắt của ông đã sáng lại, nhìn rõ ràng. 

Khi về Việt Nam ông đã thử nghiệm phương pháp của ông đặt ra để giảng dạy âm nhạc dân tộc cho học sinh tiểu học, và đã thâu thập nhiều kết quả khả quan. Ông rất buồn khi thấy Nhạc viện Việt Nam dạy 70% là nhạc Tây, nhạc dân tộc chỉ chiếm 30% là một khoa, một hệ trong nhạc viện. Bên cạnh đó sách giáo khoa về âm nhạc dân tộc khan hiếm, lịch sử âm nhạc Việt Nam chưa được dạy đầy đủ như lịch sử nhạc phương Tây, khoa lý luận cũng nặng về âm nhạc học của phương Tây. Chính vì vậy ông muốn âm nhạc dân tộc đến với mọi người Việt Nam từ rất sớm, nhạc dân tộc phải thấm nhuần vào máu thịt của mỗi con người Việt Nam. 

Trước mắt, ông đem âm nhạc dân tộc tới trường học từ cấp tiểu học để trẻ em trang bị cho mình một nền tảng văn hóa dân tộc. Và chương trình dạy thể nghiệm đã được thực hiện vào 5-2004 tại trường tiểu học Trần Hưng Đạo, quận 1 đã gặt hái được kết quả rất tốt. Giáo sư hướng dẫn các em học sinh chỉ trong 15 ngày, ngay từ những ngày đầu ông hướng dẫn các em nắm tiết tấu, thanh điệu… Các em nhập tâm ngay những điều giáo sư dạy và thể hiện xuất sắc trong buổi lễ tổng kết. Chứng tỏ, âm nhạc dân tộc Việt Nam dễ dàng đi vào lòng người và tạo nên sự say mê ngay với những người thuộc lớp trẻ khi có phương pháp giảng dạy thích hợp. Đây là một quá trình nghiền ngẫm, chắt lọc công phu trong nghiên cứu giảng dạy âm nhạc của Giáo sư Trần Văn Khê. Bên cạnh, ông còn đi khắp nơi để nói chuyện về nhạc dân tộc, đặc biệt là nói với lớp trẻ để họ hiểu, cảm nhận và yêu âm nhạc dân tộc, nhận thức được giá trị đích thực mà nó đem lại. Chính vì nghĩ đến lớp trẻ Việt Nam và trăn trở với dòng nhạc dân tộc bao nhiêu năm nay cho nên sự nghiệp mà ông đã bỏ công xây dựng cả một cuộc đời, ông mong muốn truyền, gửi gắm vào lớp trẻ Việt Nam để tạo một sức sống mới, sinh lực mới cho nhạc dân tộc, lúc ấy nhạc dân tộc sẽ được hồi sinh. 

Ông cho biết: “Tôi rất vui vì đã đem được về nước toàn bộ tư liệu của tôi thâu thập về âm nhạc dân tộc Việt Nam và vài nước châu Á Hiện Sở Văn hóa Thông tin TPHCM (nay là Sở VHTT&DL) đang tìm cho tôi một căn nhà để có thể lưu giữ những hiện vật đó”. Là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc có tiếng, một nhà sư phạm đã đi giảng bài, nói chuyện ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, Giáo sư Trần Văn Khê trở thành người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nước ngoài lâu năm nhất. 

T.Bình

http://kyluc.vn/su-kien/221.gs-tran-van-khe-tinh-yeu-vo-han-danh-cho-am-nhac-dan-toc.html

NHƯ HOA : Giáo sư Trần Văn Khê và kho tư liệu quý


Giáo sư Trần Văn Khê và kho tư liệu quý

Thứ năm, 18/07/2013, 08:10 (GMT+7)

Ra nước ngoài sinh sống từ năm 27 tuổi và đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 55 năm sinh sống tại nước ngoài, Giáo sư Trần Văn Khê quyết định về nước, mang theo 450 kiện hàng chất đầy 1 container, gồm: sách báo, tạp chí, băng đĩa, máy móc, nhạc cụ… mà phần nhiều là những tư liệu quý giá về âm nhạc dân tộc Việt Nam và thế giới.

        Tình yêu quê hương

Có một tình yêu rất lớn dành cho âm nhạc dân tộc, đã nhiều lần GS Trần Văn Khê mong muốn về định cư hẳn tại Việt Nam, nhưng ông không thực hiện được chỉ vì một nguyên nhân – ông về nước mà không được mang theo kho tư liệu khổng lồ của mình mà ông đã sưu tầm, lưu giữ suốt mấy chục năm qua. Với ông, đó là cả một gia tài lớn mà ông muốn hiến tặng đất nước, cho những người có chung tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc giống như ông. Mãi đến năm 2004, khi được Sở VH-TT-DL TPHCM đồng ý tiếp nhận số tư liệu này, GS Trần Văn Khê mới chính thức về định cư tại quê nhà và mang theo 450 kiện hàng ra khỏi nước Pháp để lên tàu về Việt Nam và ông cũng đã tự bỏ ra 10.000USD lo chi phí vận chuyển số tư liệu này. 450 kiện hàng ấy đã 4 năm nằm im trong một căn phòng tại Bảo tàng TPHCM, trong quá trình thành phố tìm kiếm nhà cho giáo sư có nơi định cư ổn định. Giờ đây, với căn nhà rộng 200m2 nằm trên một con đường yên tĩnh tại quận Bình Thạnh, GS Trần Văn Khê đã có thể yên lòng khi toàn bộ số tài liệu, tư liệu mà ông công phu mang từ nước ngoài về đã có nơi chốn riêng biệt để bảo quản và được nhân viên Thư viện TPHCM hàng ngày đến phân loại, sắp xếp theo đúng quy chuẩn của một thư viện về sách, báo, tạp chí, tài liệu dành cho việc nghiên cứu, tham khảo.

 

Một góc kho băng – đĩa của GS Trần Văn Khê.

Đến thăm kho tư liệu, cảm giác thật ngỡ ngàng, xúc động khi được nhìn thấy quá nhiều tài liệu có giá trị và mang đậm tính thời gian. Những cuốn sách về âm nhạc, nhạc cụ dân tộc Việt Nam; những đĩa hát gốc từ những thập kỷ và thế kỷ trước; những băng nhạc cùng vô số máy chụp hình, máy ghi âm và máy nghe nhạc… mà ông đã từng sử dụng trong thời gian 2 năm ông làm báo và thật cảm động khi nhìn thấy gần 100 cuốn sổ tay lớn nhỏ được ông ghi chép trong những lần đi công tác, giảng dạy hoặc được mời tham gia những buổi hòa nhạc, xem phim, thậm chí là những buổi gặp gỡ bạn bè thân tình, những chuyện trao đổi thật riêng tư… Ngoài ra còn có những tấm thiệp nhỏ, hộp diêm bé xíu, mảnh giấy có thủ bút của những người nổi tiếng, như: Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy…

        100 cuốn du ký

Nói về kho tư liệu này, GS Trần Văn Khê chia sẻ: “Gần 100 cuốn sổ tay tôi gọi là cuốn du ký và tôi quý lắm. Đi đến đâu tôi đều ghi lại đầy đủ và giữ từ tấm thiệp mời, thư từ của bạn bè, trong đó có cả thực đơn khi đi ăn cùng bạn bè, tôi giữ lại và đưa họ ký vào để làm kỷ niệm. Số sách báo có cái sưu tầm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; có cái tôi mua để xem chơi, nhưng là tài liệu rất tốt cho những ai muốn tìm hiểu về âm nhạc của thế giới. Mỗi cây đàn ở đây đều có “lịch sử” riêng…”. Kho tài liệu của GS Trần Văn Khê được sắp xếp theo ngôn ngữ, bộ môn… và gắn mã số để tiện việc tra cứu, tìm kiếm. Tuy nhiên, vì còn rất nhiều băng từ trong giai đoạn phân định, sang chép sang dạng DVD, CD, nên kho tư liệu này vẫn chưa thể mở rộng cho nhiều đối tượng tham khảo, tiếp cận. 

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (chi nhánh phía Nam) cũng đã tìm đến GS Trần Văn Khê để thực hiện việc xây dựng phông lưu trữ cá nhân cho ông. Có thời gian theo sát quá trình sắp xếp, phân loại kho tư liệu của GS Trần Văn Khê, bà Võ Thị Xuân Mai, Phó Trưởng phòng Thu thập Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cho biết: “Kho tư liệu của thầy quá phong phú và giá trị, chúng tôi không dám “đụng” tới. Trung tâm chỉ tập trung vào những khen thưởng quốc tế của thầy, quá trình cống hiến, giảng dạy và những kiến thức về âm nhạc dân tộc của thầy đã là một “kho” tư liệu đầy đặn lắm”.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 93, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm: “Muốn sống, muốn mua cái gì cũng được, cũng có. Thi thoảng, vẫn được nơi này nơi kia mời nói chuyện về âm nhạc và được trả thù lao đàng hoàng. 93 tuổi vẫn được như vậy, còn muốn gì nữa”. Tất cả những việc ông làm, đều chỉ với mong muốn làm sao cho thế giới biết và yêu mến âm nhạc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Với cảm nhận của cá nhân người viết, tự bản thân ông, đã cho bạn bè thế giới cảm mến về cốt cách, tài năng của một người Việt Nam đích thực.

NHƯ HOA

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/7/323607/

VŨ ĐỨC TÂM : Hầu chuyện giáo sư Trần Văn Khê


Thứ bảy, 29 Tháng năm 2004, 11:06 GMT+7

Hầu chuyện giáo sư Trần Văn Khê

 

Hau chuyen giao su Tran Van Khe
GS Trần Văn Khê và đại sứ Vũ Đức Tâm

TTCN – Tôi đã mê say nghe giáo sư Trần Văn Khê nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh về đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Từ lâu, khi còn ở trong nước, tôi đã nghe nói đến giáo sư tiên sĩ Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc có tiếng, một nhà sư phạm đã từng đi giảng bài, nói chuyện ở hầu khắp các nước.

Khi sang công tác tại Paris, tôi định bụng phải tìm mọi cách để tiếp xúc với giáo sư. Và cơ may đã đến: nhân dịp nhã nhạc Huế được UNESCO công bố là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, Đoàn nhã nhạc Huế đã sang biểu diễn tại châu Âu vào đầu năm nay, giáo sư đã không quản tuổi cao, sức yếu nhận lời mời đến dự các buổi trình diễn và đã giới thiệu về nhã nhạc một cách sinh động, đầy sức cuốn hút, góp phần đáng kể vào thành công của các buổi diễn.

Sau đó, tôi đã quen «thân» với giáo sư và vào một ngày đầu xuân, chúng tôi đã đến thăm giáo sư tại nhà riêng ở thành phố Vitry sur Seine, ngoại ô Paris.

Khác với sự tưởng tượng của tôi, giáo sư sống trong một căn hộ khiêm tốn nằm tận trên tầng chín của một khu nhà với giá thuê rẻ. Thay vào những tiện nghi của cuộc sống hiện đại là ngổn ngang những sách, tài liệu, băng, đĩa nhạc, các loại nhạc cụ cổ truyền xếp đầy các giá sách, tủ sách, trên bàn, trên ghế và cả dưới sàn. Khắp căn hộ, phòng nào cũng vậy, sách, tài liệu, băng đĩa nhạc… lấn hết chỗ, chỉ còn một chỗ nằm của giáo sư trong phòng ngủ.

Sự giản dị trong sinh hoạt đến mức khó tưởng tượng nổi của vị giáo sư nổi tiếng sống trên đất Paris hoa lệ khiến tôi chợt nhớ lại cách đây khoảng hơn 20 năm, tôi có dịp cùng một nhà báo Pháp đến gặp nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện tại nhà riêng ở Hà Nội. Ông bà Nguyễn Khắc Viện sống trong một căn phòng vừa là phòng khách vừa là phòng ngủ. Đồ đạc không có gì mà cũng chỉ thấy toàn sách, báo.

Trước mặt tôi là một người mảnh khảnh, mặc chiếc quần kaki với cái áo sơmi cộc tay đã bạc màu. Ông niềm nở mời chúng tôi ngồi xuống mấy cái ghế gỗ cũ kỹ đã tróc gần hết vécni và mời chúng tôi uống nước bằng bộ ấm chén cũng thật đặc biệt, ấm thì sứt vòi, còn chén thì mỗi cái một kiểu… Nhưng ông đã lôi cuốn khách suốt từ đầu đến cuối với sự uyên bác, cách nói say sưa đầy thuyết phục, bằng một thứ tiếng Pháp “còn hay hơn cả người Pháp” như lời ông nhà báo đã nói với tôi sau cuộc gặp ấy. Sự giản dị trong cách sống tỉ lệ nghịch với vốn kiến thức sâu rộng, phong cách lịch lãm và sự tinh tế trong ứng xử của ông đã gây ấn tượng mạnh cho tôi và ông nhà báo Pháp.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng cho tôi cảm tưởng như vậy. Tôi đã mê say nghe giáo sư nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh, đến mức không để ý gì đến thời gian trôi qua. Câu chuyện xoay quanh đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

 

Hau chuyen giao su Tran Van Khe
Ảnh: Huỳnh Ngọc Dân

+ Thưa giáo sư, nhân duyên nào hoặc duyên nợ đặc biệt nào đã khiến giáo sư gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống VN và nhã nhạc?

– Tôi gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống do một “thiên duyên”.
Nhờ trời tôi được sinh ra trong một gia đình, hai bên nội ngoại đến tôi bốn đời đều là nhạc sĩ. Lúc tôi còn ở trong bụng mẹ đã được cậu Năm tôi thổi sáo cho nghe mỗi ngày. Vừa mở mắt chào đời đã được nghe tiếng sáo của cậu Năm tôi. Từ nhỏ đến lớn, khi biết nói là biết ca. Từ 6 tuổi đã biết đờn cò (đàn nhị), đờn kìm (đàn nguyệt), 12 tuổi đờn tranh, 7 tuổi đã theo gánh hát cải lương của cô Ba tôi là bà Trần Ngọc Viện lập ra. Do đó, việc tôi gắn bó với âm nhạc truyền thống đúng là nhờ “duyên trời” vậy.

Tôi đến với nhã nhạc Huế như tôi đã đến với ca trù, chầu văn miền Bắc, hát bội miền Nam, nhạc Phật giáo ba miền – những bộ môn đó gặp khó khăn do những thay đổi về mặt chính trị, kinh tế, xã hội tại VN và có thể bị chìm vào quên lãng. Khi đã thấy các bộ môn ấy thật sự có những giá trị nghệ thuật nhưng chưa được đông đảo quần chúng và các cơ quan hữu trách nhận thức, tôi đã kiên trì phân tích, đúc kết và nêu ra những ưu điểm của các bộ môn ấy bằng những bài viết và những buổi nói chuyện.

Tôi cũng tìm đủ cơ hội để giới thiệu những bộ môn ấy với người nước ngoài bằng đĩa hát, băng từ, băng video để họ có dịp thưởng thức, phê bình, đánh giá. Lần lần những bộ môn ấy đã được hồi sinh.

+ Trong cuốn sách Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam sắp ra mắt bạn đọc của giáo sư, “du ngoạn” có thể hiểu như thế nào?

– Từ khi tôi có dịp nói chuyện âm nhạc truyền thống VN cho đồng bào trong nước, tôi thường được nghe thính giả hỏi: «Chẳng biết âm nhạc truyền thống VN có những gì và tại sao giáo sư có thể dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu, giới thiệu và giảng dạy nó ở nhiều nơi?”.

Quyển sách sắp xuất bản trong mùa hè tới đây là câu trả lời của tôi, và tôi viết cho quảng đại quần chúng. Không đi sâu vào lý thuyết, không phân tích về thang âm điệu thức, tôi chỉ muốn làm một hướng dẫn viên cho đa số người Việt đi dạo chơi, ngao du trong vườn nhạc của dân tộc Việt, để thưởng ngoạn, nhìn qua một số hoa thơm cỏ lạ.

Tôi chỉ gợi ý cho các bạn thấy trong vườn hoa âm nhạc truyền thống của VN có trăm hương ngàn sắc, mỗi loại có vẻ đẹp độc đáo đặc thù, một nét duyên dáng riêng để các bạn làm quen với những loại chưa quen, tìm hiểu những điểm chưa hiểu, và sau đó sẽ quí yêu thêm những gì cha ông chúng ta truyền từ đời này qua đời nọ, và để lại cho chúng ta một di sản văn hóa rất lớn, rồi… bỏ bớt lòng tự ti mặc cảm và thêm chút ít tự hào dân tộc.

Du ngoạn là như vậy đó. Lúc nào khỏe đi lâu, lúc nào mệt thì dừng chân. Không ai bắt buộc các bạn phải vào cửa này, ra ngõ kia. Các bạn tự do du ngoạn. Cuộc du ngoạn trong âm nhạc truyền thống VN sẽ theo con đường đời của một con người trong xã hội VN từ lúc sơ sinh đến lúc trở về cõi vĩnh hằng.

Trong sách, chúng tôi có nhấn mạnh rằng tiếng hát ru là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên người mẹ truyền sang đứa con. Lớn lên, dù không học trong các trường nhạc hay nhạc viện, nhưng nhờ dựa vào cấu trúc câu hát ru được ghi vào tiềm thức của mình lúc còn là đứa bé nằm trong cánh tay êm ấm của bà mẹ mà chàng thanh niên hay cô thiếu nữ đã tạo ra những câu hò điệu lý rất hay.

Trong quyển sách này, chúng tôi chỉ đưa các bạn đi du ngoạn trong truyền thống âm nhạc của người Kinh để nhận diện và biết qua những gì cha ông chúng ta đã để lại, và hẹn có những chuyến khác, không phải chỉ dạo qua mà dừng chân lâu hơn để có đủ thì giờ nhận thức được những cái hay, những nét đẹp kín đáo của mỗi bộ môn, và sẽ nhờ những hướng dẫn viên khác đưa các bạn đi xem những bông hoa còn ẩn núp trong chôn núi rừng ở các miền cao.

+ Trước tác động của nền kinh tế thị trường và nguy cơ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, theo giáo sư, chúng ta phải làm gì để gìn giữ được bản sắc âm nhạc truyền thống nói chung và hát ru nói riêng, không phải chỉ để biểu diễn trên sân khấu bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp mà còn trả lại nó vào cuộc sống thường ngày, như có ai đó đã từng mơ ước: Bao giờ xóm ngõ đổi đời/Để tôi nghe tiếng ru hời ngày xưa?

– Từ hơn 20 năm nay, tôi đã nhắc đi nhắc lại không nên để tiếng ru tắt trên môi các bà mẹ. Cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã tổ chức liên hoan hát ru đầu tiên năm 1989, sáu tháng trước khi từ giã cõi đời và bài ca cuối cùng của nhạc sĩ mang tên Lời ru chim Lạc.

Giữ gìn tiếng hát ru cũng là bước đầu giữ gìn bản sắc dân tộc. Đã nhiều lần tôi nhận thấy rằng bản sắc dân tộc bị lu mờ, thanh niên thích nghe nhạc nước ngoài hơn nhạc dân tộc là một căn bệnh mãn tính. Muốn trị bệnh ấy phải trị căn chứ không trị chứng. Và những phương thuốc tôi đề nghị là:

+ Làm sống lại tiếng hát ru;
+ Tập trẻ em hát lại đồng dao hoặc những bài hát sáng tác theo truyền thống dân tộc với nội dung phù hợp với trẻ;
+ Khuyến khích nông dân hò trong khi làm việc, hát trong lúc nghỉ ngơi;
+ Khuyến khích thanh niên hát những bài loại đối ca nam nữ;
+ Tổ chức những liên hoan dân ca cổ nhạc, những cuộc thi nhạc khí và tiếng ca dân tộc;
+ Đem âm nhạc vào học đường, từ lớp mẫu giáo, tiểu học lên đến đại học;
+ Báo chí và các phương tiện truyền thông nên có nhiều bài viết, nhiều chương trình phát thanh, phát hình giới thiệu và giảng giải về âm nhạc dân tộc;
+ Tôn vinh những nghệ nhân cả đời phụng sự âm nhạc dân tộc.

Phải nghe thường mới thấm, phải học mới hiểu, có hiểu mới thích, có thích mới thương, có thương mới muốn giữ gìn, mới sẵn sàng luyện tập biểu diễn và phổ biến. Như thế âm nhạc truyền thống mới thêm được sinh lực và bản sắc dân tộc mới được giữ gìn.

+ Là người sống lâu năm ở nước ngoài, giáo sư đánh giá thế nào về tình hình truyền bá văn hóa VN nói chung, âm nhạc cổ truyền VN nói riêng đối với cộng đồng quốc tế thời gian qua? Chúng ta cần làm gì để làm tốt hơn công tác này?

– Đến nay, theo tôi, chúng ta chưa làm thật tốt công việc đó.
Chúng ta có thể truyền bá âm nhạc cổ truyền dưới nhiều dạng: đĩa hát, băng từ, băng video, sách báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, chương trình trên mạng lưới Internet. Nhưng sống động và hiệu quả nhất là cho những đoàn nghệ thuật dân tộc ra trình diễn tại nước ngoài, với những chương trình âm nhạc dân tộc có chất lượng nghệ thuật, có lời giới thiệu khoa học, ngắn gọn mà đầy đủ.

Chúng ta cần tạo điều kiện hơn nữa cho nghệ sĩ đi dự liên hoan quốc tế, cho các nhà nghiên cứu đi dự hội nghị quốc tế về âm nhạc, kịch nghệ. Văn hóa và âm nhạc của chúng ta được giới thiệu và thảo luận trong các hội nghị quốc tế sẽ được có khi đến cả trăm nước tham dự hội nghị quan tâm và thưởng thức.

+ Xin cảm ơn giáo sư, chúc giáo sư luôn mạnh khỏe để tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho việc gìn giữ và phát huy âm nhạc truyền thống của dân tộc.

VŨ ĐỨC TÂM (Đại sứ – đại diện thường trực VN tại UNESCO)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

VILI : Niềm vui của GS-TS Trần Văn Khê


Niềm vui của GS-TS Trần Văn Khê

Thứ Bảy, 22/06/2013 07:35 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – GS-TS dân tộc nhạc học Trần Văn Khê, sinh năm 1921 (Tân Dậu) tại Mỹ Tho, hiện định cư ở TP.HCM, vừa nhận tin vui đặc biệt. UBND TP.HCM có quyết định và trao ngày 19/6, tặng Huy hiệu TP.HCM kèm tiền thưởng 30 triệu cho GS Khê đồng thời tặng Bằng khen kèm tiền thưởng 20 triệu đồng cho GS-TS Trần Quang Hải – con trai cả của GS Khê – vì những đóng góp tích cực, quan trọng của họ trong việc quảng bá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ ra quốc tế. 

Đang có mặt tại Việt Nam, GS-TS Trần Quang Hải vừa tham gia thẩm định hồ sơ Ví giặm trình UNESCO, và trưa 21/6, GS đến Hội An để dự hội thảo quốc tế Công ước UNESCO và tương lai di sản Việt Nam (22, 23/6). Bà Kim Anh, cán bộ UBND TP.HCM đã ra Hội An, trao bằng khen và tiền thưởng cho GS tại khách sạn Victoria (nơi diễn ra hội thảo) vào chiều 21/6.

GS Trần Văn Khê sinh ra trong dòng họ Trần Quang ở Huế và có truyền thống nhiều đời gắn bó với âm nhạc dân tộc.

GS Trần Văn Khê (trái) và GS Trần Quang Hải

Cha ông là Trần Quang Triều (Bảy Triều, 1897 – 1931), nghệ nhân đàn kìm giỏi, chơi nhạc cải lương, ông tìm ra cách lên dây (đặt là Tố Lan) độc đáo để đàn những bài buồn ai oán và truyền cho con trai.

 

Ông nội là Trần Quang Diệm (1853 – 1925), học nhạc cung đình, chuyên về tỳ bà, sáng chế, viết bài bản cho tỳ bà.

GS Trần Văn Khê có 4 người con, nhưng duy nhất Trần Quang Hải (con cả) là nối nghiệp cha. GS Trần Văn Khê có công truyền bá nhạc cổ truyền VN khắp thế giới và rạng danh trong hai lĩnh vực trình diễn lẫn nghiên cứu. GS Trần Quang Hải theo cha, thành chuyên gia hàng đầu lĩnh vực nhạc dân tộc. Trần Quang Hải, sau khi tốt nghiệp violin  Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Đại học Sorbonne học nhạc học. Ông là một trong các sáng lập viên của Hội Đàn môi quốc tế (tháng 6/2002 tại Rauland, Na Uy). Hiện ông sinh sống tại Pháp.

GS Trần Văn Khê hiện sinh sống tại TP.HCM, trong căn nhà khá rộng rãi do UBND TP.HCM cấp tại 32 Huỳnh Đình Hai, Q.Bình Thạnh. Nhà có phòng khách lớn, phòng triển lãm nhạc cụ, thư viện, vườn cây.

Có nhiều thế hệ cống hiến và thành danh như gia đình GS-TS Trần Văn Khê, là hạnh phúc và tự hào cho chính ông và cho nền âm nhạc VN. Niềm vui của cha con ông, còn là thành quả truyền đời của một dòng tộc. Với GS Hải, cha con ông đã nhận nhiều giải thưởng, huân huy chương cao quý của Pháp và quốc tế, nhưng những phần thưởng của Việt Nam trao tặng luôn có vị trí đặc biệt, khiến họ xúc động nao lòng.

ViLi
Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/niem-vui-cua-gsts-tran-van-khe-n20130622005711878.htm

THANH HIỆP : GS.TS-NSND Quang Hải qua đời (1935-2013)


GS.TS-NSND Quang Hải qua đời

 
Cập nhật: 05/11/2013 – 06:55

Thanh Hiệp

GS.TS-NSND Quang Hải sinh năm 1935, từ trần lúc 22 giờ 45 phút ngày 3-11 tại bệnh viện Thống Nhất TP HCM do tuổi cao sức yếu. Ông hưởng thọ 79 tuổi.


GS.TS-NSND Quang Hải. Ảnh: gia đình cung cấp

GS.TS-NSND Quang Hải tên thật là Huỳnh Tấn Sỹ, tham gia cách mạng từ năm 1945. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc sau được cử đi học tại Liên Xô (Nga) từ năm 1956. Đến năm 1963 ông tốt nghiệp khoa Chỉ huy giao hưởng và nhạc kịch tại Nhạc viện Léningrad (St. Peterburg CHLB Nga). Năm 1968, ông tốt nghiệp nghiên cứu sinh Chỉ huy dàn nhạc và nhận bằng tiến sĩ Lý luận âm nhạc tại Nhạc viện Léningrad.

Ông được bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc vũ kịch Việt Nam tại Hà Nội (từ năm 1970 – 1975). Sau đó, ông về làm Giám đốc Nhạc viện TP HCM (từ năm 1975 – 1997). Năm 1981, ông được phong hàm Phó giáo sư, năm 1991 được phong Giáo sư. Năm 1993, ông được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân Dân.

Từ 1982 đến năm 1999 ông giữ các vị trí: Ủy viên Hội đồng âm nhạc quốc gia (Hội đồng này là thành viên của Hội đồng âm nhạc quốc tế); Ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa III (1983 – 1989); Ủy viên Hội đồng Học hàm ngành văn hóa nghệ thuật (1981 – 1999). Từ khi về hưu, ông vẫn được Nhạc Viện TP HCM mời tham gia Hội đồng Khoa học Nhạc viện TP HCM.


Ảnh: gia đình cung cấp

GS.TS-NSND Quang Hải đã biểu diễn hàng trăm chương trình hòa nhạc giao hưởng và nhạc kịch (9 vở nước ngoài) trong thời gian 10 năm ở Nga. Ông là người Việt Nam duy nhất cho tới nay chỉ huy dàn nhạc Nghệ sĩ công huân tập thể của Nga (là một trong những dàn nhạc nổi tiếng nhất thế giới), dàn dựng 2 vở nhạc kịch Việt Nam, 1 vở ballet, hàng chục chương trình giao hưởng và biểu diễn hàng ngàn buổi tại Việt Nam.

Ngoài ra, ông cũng khởi xướng và tổ chức đào tạo tiến sĩ âm nhạc đầu tiên tại Việt nam, trực tiếp đào tạo trên 50 nghiên cứu sinh, cao học và đại học. Trong số này đã có người trưởng thành với học hàm Phó Giáo sư, danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nhà giáo Ưu tú.

Tang lễ của GS.TS-NSND Quang Hải được tiến hành tại Nhà tang lễ TP (số 25 Lê Quí Đôn, quận 3, TP HCM), lễ viếng từ 18 giờ ngày 4-11, lễ truy điệu lúc 14 giờ ngày 6-11, sau đó đưa đi an táng tại Nghĩa trang Hội tương tế Bến Tre (số 196 tỉnh lộ 43, phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương).

(Nguồn: http://nld.com.vn)

http://hoinhacsi.org/?q=taxonomy/term/6/1049