NGUYỄN MẠNH HÀ : Đờn ca tài tử – nghệ thuật ngẫu hứng hàng đầu thế giới/phỏng vấn Bùi Trọng Hiền


07:19 | 24/01/2011
 

Đờn ca tài tử – nghệ thuật ngẫu hứng hàng đầu thế giới

 

TP – Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền tin ở khả năng nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ sẽ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại.

 

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền (phải) và danh cầm Bảy Bá, tức soạn giả Viễn Châu - tác giả của hơn 2.000 bài vọng cổ và trên 70 vở cải lương
Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền (phải) và danh cầm Bảy Bá, tức soạn giả Viễn Châu – tác giả của hơn 2.000 bài vọng cổ và trên 70 vở cải lương . Ảnh: Nhân vật cung cấp

 

Anh có thể giúp bạn đọc khoanh vùng đối tượng của hồ sơ đờn ca tài tử trình UNESCO? Nó có bao gồm cả (sân khấu) cải lương?

Vấn đề chia tách đờn ca tài tử và cải lương đã được giới nghề tranh cãi từ hàng chục năm trước. Nền ca nhạc tài tử vốn bắt nguồn từ nhạc lễ, nhạc tuồng và nhạc thính phòng Huế, lúc đầu người ta gọi là phong trào đàn cây, phổ biến ở Nam bộ từ cuối thế kỷ 19.

Đầu thế kỷ 20, từ phong trào này, bắt đầu hình thành những nhóm chơi nhạc định danh, lưu truyền và quảng bá nghệ thuật mang tính chuyên nghiệp cao. Từ nhu cầu ứng diễn thực tế với những nội dung dài hơi, hình thức ca ra bộ ra đời và rất nhanh sau đó, sân khấu cải lương hình thành, lấy kho tàng bài bản cổ nhạc vốn có của ca nhạc tài tử làm cơ sở.

Trên sân khấu, tính chuyên nghiệp là một yếu tố quan trọng, khiến dòng nhạc phát triển nhanh chóng, đến mức chi phối ngược lại nguồn cội của nó cả về cấp độ kỹ thuật cũng như hệ thống bài bản.

Nhạc tài tử lúc đầu dựa trên cơ sở 20 bản Tổ, về sau được bồi đắp, phát triển nở rộ theo thời gian. Thực tế, phong trào đờn ca tài tử là môi trường sinh hoạt dân gian song hành cùng sân khấu cải lương suốt một thế kỷ qua.

 

Hồ sơ Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam bộ được Viện Âm nhạc xây dựng từ tháng 8-2010, nếu kịp hoàn thành và trình UNESCO trong tháng 3-2011, chúng ta sẽ được biết kết quả vào giữa năm 2011. Hiện có khoảng 2.500 nhóm đờn ca tài tử đang sinh hoạt tại 21 tỉnh, thành phố thuộc Nam bộ.

Chính phong trào đó là cái nôi đào tạo, nuôi dưỡng những tay đàn, giọng ca xuất chúng để cung cấp nhạc công, diễn viên cho sân khấu cải lương. Bởi vậy, có thể coi tài tử và cải lương là hai môi trường diễn xướng của cùng một loại cổ nhạc. Đại thể, cùng một bản nhạc, nếu ngồi đờn ca chơi thì gọi là tài tử, còn dùng trong tình huống kịch của vở diễn thì gọi là cải lương.

 

Do tên gọi hồ sơ cố định từ đầu nên đối tượng sưu tầm nghiên cứu trước nhất phải là những nghệ sĩ nằm ngoài dân gian. Tuy nhiên, nếu không đề cập tới cải lương thì cũng có nghĩa chúng ta vô tình bỏ qua biết bao thế hệ danh ca, danh cầm lừng lẫy tên tuổi.

Rất may sự dung hòa là điều mà các nhà chuyên môn của Viện Âm nhạc đã làm được, những gì được coi là tinh chất đỉnh cao nghệ thuật âm nhạc đều được tiến hành khảo sát. Còn có nhắc đến những thành tựu sân khấu một thế kỷ hay không? Đó là chuyện mà người chấp bút cuối cùng sẽ phải quyết định.

Về mặt khối lượng, đây có lẽ là di sản phong phú nhất mà Việt Nam từng giới thiệu ra thế giới?

Có thể khẳng định nhạc tài tử- cải lương là di sản có hệ thống bài bản lớn nhất trong nền âm nhạc dân tộc với con số trên 300 bài bản lớn nhỏ. Đây cũng là thể loại mà kỹ thuật độc tấu, hòa tấu đàn dây người Việt phát triển ở mức độ cao nhất. Hơn thế, đây cũng là thể loại nhạc được phổ biến khắp ba miền Nam- Trung- Bắc chứ không khu biệt vùng miền như nhiều thể loại khác. Còn rất nhiều cái nhất khác mà không thể kể hết!

Anh có thể cho biết thêm vài đặc thù của tài tử- cải lương so với các di sản âm nhạc dân tộc khác?

Nhạc tài tử- cải lương đã thừa hưởng sức sống mạnh mẽ của dòng chảy nhạc Việt theo bước chân di cư về phương Nam. Điều đặc biệt hơn cả là so với các thể loại cổ hơn như chèo, tuồng, nhạc Lễ, nhạc Cung đình, thính phòng Huế…, tài tử- cải lương có cấu trúc bài bản rộng mở hơn nhiều.

Đó chính là tiền đề cho “mảnh đất” ngẫu hứng hết sức lớn của người diễn tấu. Điều kiện thi thố tài năng của mỗi cá thể cũng theo đó phát triển hết mức. Ở đây, phần lớn bài bản chỉ có nghĩa như một phác đồ cơ bản để các tài năng thể hiện dấu ấn cá nhân với cấp độ cao.

Về màu sắc âm nhạc, tài tử- cải lương cũng tỏ ra vượt trội hơn những thể loại đàn anh với 7 hơi nhạc: Bắc, Nhạc Lễ, Đảo, Quảng, Xuân, Ai, Oán. Bên cạnh sự kế thừa truyền thống dân tộc, sẽ thấy cả những yếu tố nhạc điệu mới du nhập từ bên ngoài, nhưng điều đặc biệt là tất cả đều được Việt Nam hóa tài tình với phương thức ngẫu hứng trên lòng bản.

Một trong những điều lý thú nhất là trong khi ở hệ thống nhạc viện miền Bắc, người ta thi nhau cải tiến các nhạc cụ dân tộc theo xu hướng Tây hóa thì ở Nam bộ, các nhạc sĩ tài tử- cải lương làm ngược lại. Họ đã Việt hóa thành công 3 nhạc cụ phương Tây là guitar, violon và guitar hawaii để diễn tấu hiệu quả các bản cổ nhạc.

Còn thực trạng của đờn ca tài tử? Và các biện pháp cần thiết để bảo tồn và phát huy di sản này?

Nghệ nhân lừng danh đất Bắc- Kim Sinh từng nói: “Bao giờ Nam bộ hết cỏ thì mới hết danh cầm”. Nguy cơ mai một có lẽ chưa bao giờ là vấn đề đối với đờn ca tài tử. Thời nào cũng nổi lên những tài năng xuất chúng. Thế nên biện pháp bảo tồn và phát huy ở đây rõ ràng sẽ không giống với những thể loại cổ nhạc Việt Nam khác. Vấn đề đặt ra có lẽ chỉ là làm sao để hỗ trợ, nuôi dưỡng những tài năng mà thôi.

Anh nghĩ sao về khả năng được UNESCO công nhận của đờn ca tài tử?

Tôi hoàn toàn tin tưởng điều đó sẽ thành sự thật, nếu không thì vô lý quá! Với cá nhân tôi, trong suốt hơn 20 năm làm nghề, đờn ca tài tử thực sự là một thể loại nhạc có tiềm năng nghệ thuật ngẫu hứng thuộc vào loại hàng đầu trên thế giới.

N.M.Hà

http://www.tienphong.vn/van-nghe/526197/Don-ca-tai-tu—nghe-thuat-ngau-hung-hang-dau-the-gioi-tpp.html

PHẠM THỊ BÌNH : Kiểm kê di sản Đờn ca tài tử lần 2


 

Kiểm kê di sản Đờn ca tài tử lần 2

Việc kiểm kê lần này nhằm hoàn tất hồ sơ trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO).

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn với miệt vườn Nam Bộ. Ảnh: canthotv

Từ cuối tháng 10/2012 đến tháng 4/2013, tỉnh Vĩnh Long sẽ triển khai thực hiện việc kiểm kê di sản “Nghệ thuật đờn ca tài tử lần 2”, theo chỉ đạo của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch để Việt Nam sớm hoàn tất hồ sơ trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO), chính thức công nhận đờn ca tài tử của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 
Theo đó, các địa phương sẽ thống kê cụ thể, chính xác về số lượng các câu lạc bộ, đội, nhóm đờn ca tài tử; số lượng nghệ nhân; số lượng người có khả năng truyền dạy, khả năng thực hành về nghệ thuật đờn ca tài tử; các hoạt động liên quan đến nghệ thuật này tại địa phương; hiện trạng hoạt động của các câu lạc bộ, đội, nhóm đờn ca tài tử; các tư liệu, hiện vật, văn bản liên quan; kế hoạch hành động và biện pháp bảo vệ, bảo tồn nghệ thuật này trong thời gian tới. 
Về tài tử, việc kiểm kê đánh giá theo 2 bậc: nghệ nhân đờn ca tài tử (là nhạc sư, thầy đàn; nghệ sĩ điêu luyện, có giọng ca hay 15/20 bản tổ; có truyền bá dạy nghề cho lớp trẻ) và người biết chơi đờn ca tài tử (được các nghệ nhân truyền dạy, tham gia nhiều cuộc chơi, thi, liên hoan đờn ca tài tử; biết ca một trong các hơi Bắc, Hạ, Nam, Oán và Vọng cổ). Về câu lạc bộ (hoặc nhóm) đờn ca tài tử, chỉ kiểm kê các câu lạc bộ (hoặc nhóm) có số thành viên tối thiểu là 4 người và dàn nhạc có từ 2-3 cây đàn trở lên; có lịch sinh hoạt định kỳ; có quyết định cho phép hoạt động của cấp có thẩm quyền.
Cũng trong thời gian này, Vĩnh Long sẽ tổ chức làm phim tư liệu, ghi hình, ghi tiếng làm tư liệu cho hồ sơ đờn ca tài tử của tỉnh tại 2 huyện Bình Minh và Vũng Liêm./. 

Phạm Thị Bình/TTXVN

http://vov.vn/Van-hoa/Kiem-ke-di-san-Don-ca-tai-tu-lan-2/231982.vov

TRINH NGUYỄN : UNESCO “xiết” danh hiệu di sản


UNESCO “xiết” danh hiệu di sản

22/07/2013 03:15

Việt Nam sẽ phải tự lựa chọn để mỗi năm không có quá 1 hồ sơ ứng cử di sản văn hóa phi vật thể, không quá 2 hồ sơ vật thể, và nên đẩy mạnh bảo tồn “hậu danh hiệu”.

Hồ sơ đờn ca tài tử cơ bản đã xong từ năm 2011, nhưng phải chờ tới cuối năm nay mới “gửi lời chào ban giám khảo và bắt đầu phần thi của mình”. Theo thông tin từ Cục Di sản, hiện mỗi năm chúng ta sẽ chỉ trình một hồ sơ di sản văn hóa theo yêu cầu của UNESCO. Chính vì thế, kế hoạch dự kiến là cuối năm nay Việt Nam trình hồ sơ đờn ca tài tử, sang năm sẽ trình hồ sơ danh thắng Tràng An, Ninh Bình.

 

Hậu danh hiệu, Hội An luôn chú ý đến chính sách bảo tồn. Bài chòi cũng đã được tái hiện - d
Hậu danh hiệu, Hội An luôn chú ý đến chính sách bảo tồn. Bài chòi cũng đã được tái hiện
– Ảnh: Ngữ Thiên 

 

Về việc có phải UNESCO đang “xiết” các hồ sơ di sản của Việt Nam hay không, TS Dương Bích Hạnh, Văn phòng UNESCO Hà Nội, cho biết tổ chức này cũng yêu cầu các nước khác điều tương tự. “Mỗi năm một quốc gia không được nộp quá 2 hồ sơ di sản. Hằng năm, tổ chức chỉ xét 45 hồ sơ trên toàn thế giới. Vì thế, nếu Việt Nam nộp 2 hồ sơ, sẽ có khả năng UNESCO trả về 1”, bà Hạnh nói. Đây cũng chính là lý do đờn ca tài tử phải lùi lại để ưu tiên cho tín ngưỡng Hùng Vương.

“Hướng dẫn thực hiện công ước về di sản văn hóa vẫn có những danh sách ưu tiên được nộp nhiều hồ sơ hơn. Ví dụ nước chưa có di sản nào, nước mới gia nhập công ước trong 10 năm trở lại đây sẽ được ưu tiên như vậy. Việt Nam không thuộc tiêu chí ưu tiên nào nên sẽ chỉ được nộp 1 hồ sơ”, bà Hạnh phân tích.

Chuyên gia này cho biết thêm hiện trên diện toàn cầu thì tỷ lệ di sản văn hóa quá lớn so với di sản thiên nhiên và hỗn hợp. Với Việt Nam cũng có chuyện chênh lệch trên. “Việt Nam có làm hồ sơ thì cũng nên ưu tiên 2 loại di sản thiên nhiên hoặc di sản hỗn hợp. Chẳng hạn như năm nay, Tràng An làm hồ sơ cũng theo tiêu chí cảnh quan văn hóa, tức là hỗn hợp cả yếu tố thiên nhiên lẫn yếu tố văn hóa”, bà Hạnh nói.

Hậu danh hiệu

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, một chuyên gia (đề nghị giấu tên) cho rằng việc “xiết” số lượng hồ sơ nộp hằng năm cũng có điều hay. Nó khiến người ta phải nhìn lại, xem sau danh hiệu là điều gì khiến mình phải “chạy đua” để chiếm chỗ của hồ sơ duy nhất. Theo TS Nguyễn Thế Hùng, chúng ta đã 2 lần bị UNESCO “nhắc nhẹ” về việc quản lý di sản văn hóa tại các cuộc họp hội đồng di sản. Theo đó, Huế và Hạ Long đã được đưa vào danh sách có vấn đề về quản lý.

Tuy nhiên, ngoài Huế và Hạ Long, cũng còn có những di sản có vấn đề trong quản lý mà thông tin chưa lộ ra ngoài, hoặc chúng ta đang “đóng cửa bảo nhau” để chưa bị nhắc nhở. Chẳng hạn, thực hành quan họ kiểu đám đông “đồng ca” quan họ cho thấy chính nhà quản lý văn hóa ở Bắc Ninh cũng chưa nhận thức đúng về giá trị di sản này. Xẩm hiện đang héo mòn vì những buổi diễn mà nghệ sĩ đeo kính đen giả mù rất xúc phạm người xẩm. Bởi đôi mắt hỏng không phải là đặc trưng của nghệ thuật này… Chúng ta đang còn có quá nhiều thực hành văn hóa xấu.

Nhưng ngay cả chuyện “đóng cửa bảo nhau” cũng sẽ khó bưng bít được hết thông tin. Bởi UNESCO sẽ cử chuyên gia sang tìm hiểu việc thực hiện các cam kết của Chính phủ trong hồ sơ ứng cử. Họ sẽ sang cả bằng con đường chính thức với các đoàn kiểm tra, hoặc không chính thức như một khách du lịch. Khi đó, không ai dám chắc danh hiệu di sản có ở lại với Việt Nam hay không, nếu các cam kết không được thực hiện. Và, từng xảy ra chuyện UNESCO rút danh hiệu di sản đã trao. Việc xiết hậu kiểm của tổ chức này là có thật.

Một TS của Viện Nghiên cứu văn hóa cho biết: “UNESCO có một loại hồ sơ những nơi thực hành tốt trong bảo tồn di sản. Việt Nam lại chưa chú ý đến hồ sơ này. Chúng ta đang trong tình trạng cứ công nhận xong là đi làm hồ sơ cái mới. Kèm theo danh hiệu, UNESCO cũng sẽ có khoản tiền hỗ trợ cũng như chuyên gia hỗ trợ. Khoản tiền đó đáng kể hơn nhiều nếu so với tiền đi kèm danh hiệu di sản đại diện nhân loại.  Cứu di sản cần bảo vệ khẩn cấp là điều UNESCO ưu tiên hơn”.

 

Ý kiến:

Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền: Sống trong cộng đồng hơn là tổ chức liên hoan

Tôi nhận được thông tin cuối năm nay sẽ không tổ chức liên hoan đờn ca tài tử Nam bộ để tiết kiệm chi tiêu. Điều này cũng không ảnh hưởng tới sự tồn tại của đờn ca tài tử, bởi lối chơi này trong dân phát triển rất mạnh. Sự linh hoạt của lối chơi đã khiến đờn ca tài tử len lỏi được trong cuộc sống. Vì thế, sức sống của nó rất mạnh và bớt đi một liên hoan không làm ảnh hưởng gì đến sức sống đó. 

GS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia: Tránh bỏ lửng, tránh chi tiêu không hiệu quả

Có hai xu hướng hiện đã xuất hiện và chúng ta nên tránh trong việc bảo tồn các di sản được UNESCO công nhận.

Đầu tiên là việc bỏ lửng. Có những di sản sau khi vinh danh các nghệ nhân không được tôn vinh, chăm sóc. Việc phát triển di sản đó trong dân cũng làm cầm chừng.

Thứ hai, có trường hợp di sản trở thành lý do để thu hút đầu tư ngân sách, và việc chi tiêu cho nó cũng chưa hợp lý. Chẳng hạn có di sản lập dự toán kinh phí chương trình bảo tồn đến vài trăm tỉ đồng, sau đó được góp ý lại giảm đi một nửa dự toán. Chúng ta không thể chi quá nhiều cho chỉ một di sản, để rồi ảnh hưởng tới tổng kinh phí cho những việc khác. 

 

Trinh Nguyễn

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130722/unesco-xiet-danh-hieu-di-san.aspx

>> Lâm Đồng công bố 17 di sản văn hóa phi vật thể
>> Hội ngộ các di sản văn hóa phi vật thể
>> Quảng bá di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận
>> Quảng bá các di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
>> UNESCO trao bằng công nhận Hội Gióng là Di sản văn hóa phi vật thể
>> Lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể cho đờn ca tài tử

MINH NGUYỆT : Vài nét về đờn ca tài tử Nam bộ


Vài nét về đờn ca tài tử Nam bộ
Qua các tài liệu ghi chép lại thì “Đờn ca tài tử” là loại hình nghệ thuật xuất xứ từ nhạc cung đình Huế, chữ “tài tử” có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc, chứ không có nghĩa là nghiệp dư.Đờn ca tài tử được du nhập vào miền Nam từ cuối thể kỷ XIX do ba nhạc sư gốc Trung Bộ: Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi – Nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), Trần Quang Quờn (thầy ký Quờn) và Lê Tài Khị (biệt danh Nhạc Khị) sáng tạo nên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong một hoàn cảnh nhất định. Dần dà thu hút thêm những đối tượng khác cùng tham gia và không gian cũng mở rộng hơn.

Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện hình thức ca bên cạnh hình thức đờn, nên gọi nôm na là đờn ca.

* Bài bản dựa trên các bài có sẵn của ca nhạc Huế rồi cải biên, sáng tác ra nhiều loại bài bản mang âm hưởng quê hương, hoặc dựa theo các tác phẩm, tích truyện phổ thông thời bấy giờ. Vì vậy đây là loại nhạc “tâm tấu” (tâm tình của người xa xứ), mang tính ngẫu hứng sáng tạo.

Giới chơi nhạc lựa chọn ra được 20 bài bản tiêu biểu cho 4 hơi điệu, gồm: 06 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi, phóng khoáng), 07 bài Hạ (dùng trong tế lễ, có tính trang nghiêm), 03 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanh thoát) và 04 bài Oán (diễn tả những cảnh sầu não, đau buồn, chia ly). Tất cả được gọi chung là “20 bài bản tổ”.

* Nhạc cụ dùng trong đờn ca tài tử gồm: đờn kìm, đờn tranh, đờn cò, đờn tỳ bà, đờn tam (hoặc đờn sến, đờn độc huyền). Vào khoảng năm 1930 có thêm cây đờn guitare phím lõm, violon, guitare hawaii được cải biên đưa vào trong nhạc tài tử.

Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Đôi khi có ống sáo ngang hay ống tiêu thổi dọc kèm song lang.

Dàn nhạc thường cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng, dựa trên cái khung bài bản cố định gọi là “lòng bản”. Với cách chơi đó họ đích thực là những “tài tử” – những người có tài năng và phong cách điệu nghệ.

Sang thập kỷ 10 của thế kỷ XX, nhạc tài tử rẽ nhánh thành một dòng nhạc mới với dấu mốc ban đầu là hình thức ca ra bộ và sau đó là cải lương. Đến nay, Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã lan tỏa ra nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

Vào tháng 8 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Âm nhạc Việt Nam và 21 tỉnh, thành phố khu vực Nam và Trung bộ tiến hành công tác kiểm kê lập hồ sơ “Đờn ca tài tử Nam bộ, Việt Nam” trình UNESCO trong tháng 3 năm 2011 để xem xét công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Qua kiểm kê, 21 tỉnh, thành phố hiện có 2.258 Câu lạc bộ với 13.800 người tham gia sinh hoạt Đờn ca tài tử, người trẻ nhất 6 tuổi, già nhất 99 tuổi. Ở Thành phố Hồ Chí Minh có 97 câu lạc bộ Đờn ca tài tử với tổng số thành viên là 1.133 người, chiếm tỷ lệ cao nhất là độ tuổi từ 36-50 tuổi. Cuộc kiểm kê cũng thu thập được nhiều tư liệu, hiện vật, nhạc cụ về đờn ca tài tử qua các thời kỳ.

Các tỉnh, thành đã tổ chức nhiều sinh hoạt hoạt động giới thiệu Nghệ thuật Đờn ca tài tử trong cộng đồng; Viện Âm nhạc và Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo cấp quốc gia, quốc tế để lấy ý kiến của nghệ nhân, nhà nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy nghệ thuật  đờn ca tài tử trong thời gian tới.

Tất cả nghệ nhân và cộng đồng đều đồng thuận, tích cực tham gia sinh hoạt, bảo tồn,và đều mong muốn phát huy giá trị nghệ thuật Đờn ca tài tử bền vững, rộng khắp./.

Minh Nguyệt

CÁC TIN BÀI KHÁC >>:

   Họp báo “Nhạc hội đờn ca tài tử Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011” (15/9/2011)

   Nhạc hội Đờn ca tài tử (6/9/2011)

   Vài nét về đờn ca tài tử Nam bộ (30/8/2011)

   Ngày hội Sử học lần thứ 5 của Hội Khoa học lịch sử (5/8/2011)

   Hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử (13/1/2011)

   Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật đờn ca tài tử (22/12/2010)

   Tập huấn kiểm kê và điều tra nghệ thuật Đờn ca tài tử (23/8/2010)

CÔNG HẬU – NGỌC THẠNH: Bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ diễn viên, nhạc công ca kịch Huế


Bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ diễn viên, nhạc công ca kịch Huế
 
Chủ nhật, 24/11/2013 – 02:11 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
 
 
Một tiết mục về ca kịch Huế do các học viên biểu diễn.
 
 
Một tiết mục về ca kịch Huế do các học viên biểu diễn.
 

NDĐT- Ngày 24-11, tại TP Huế, Cục Nghệ thuật biểu diễn phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế, Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế tổ chức bế giảng lớp đào tạo, bồi dưỡng các diễn viên và nhạc công ca kịch Huế.

 

Đây là lớp đào tạo nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 – 2015 về đầu tư và phát triển nghệ thuật truyền thống, Cục Nghệ thuật biểu diễn tiến hành trên phạm vi toàn quốc.

Lớp bồi dưỡng các diễn viên và nhạc công ca kịch Huế được tổ chức trong 18 ngày (từ ngày 6 đến ngày 24-11) dưới sự chỉ đạo của Cục Nghệ thuật biểu diễn và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế; đã thu hút 25 học viên là các nhạc công và diễn viên Nhà hát Nghệ thuật ca kịch Huế tham gia. Trong thời gian học tập, các học viên được cung cấp những kiến thức khái quát về thể loại ca kịch Huế; về tính chất âm nhạc cổ truyền Huế; đồng thời, nâng cao kỹ năng ca hát một số bài về ca Huế và các làn điệu dân ca Huế, như các bài bản thuộc điệu thức Nam, điệu thức Bắc, các làn điệu Lý, và dân ca Thừa Thiên – Huế; dàn dựng các trích đoạn truyền thống và hiện đại.


Cục Nghệ thuật biểu diễn trao giấy chứng nhận cho 25 học viên tham dự khóa học.

Thông qua lớp bồi dưỡng, các diễn viên và nhạc công đã nắm bắt và củng cố thêm những kiến thức về quá trình hình thành và phát triển của bộ môn ca kịch Huế; những yếu tố cơ bản để cấu thành nên ca kịch Huế; sự kết hợp hài hòa của ca Huế vào trong ca kịch Huế; sự tương đồng và khác biệt của ca Huế khi được chuyển tải vào ca kịch Huế; sự cải biên về cấu trúc bài bản, làn điệu… Đặc biệt, đội ngũ diễn viên, nhạc công được bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ thuật biểu diễn, kỹ năng ca hát các làn điệu tiêu biểu của các loại hình ca kịch Huế.

Kết thúc lớp học, 25 học viên của Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế được Cục Nghệ thuật biểu diễn trao giấy chứng nhận.

 
CÔNG HẬU – NGỌC THẠNH

H.KIM: Đạo diễn Việt Linh lần đầu dựng kịch


Đạo diễn Việt Linh lần đầu dựng kịch

28/11/2013 03:05

Thiên Thiên là vở kịch đầu tay do đạo diễn Việt Linh viết kịch bản phối hợp cùng đạo diễn Phạm Hoàng Nam dàn dựng, sẽ ra mắt tại Nhà hát TP.HCM vào ngày 14, 15, 16.2.2014.

 

Đạo diễn Việt Linh lần đầu dựng kịch
Nghệ sĩ Minh Trang và đạo diễn Việt Linh – Ảnh: H.K

 

Đây cũng là vở đánh dấu sự trở lại của nghệ sĩ nổi tiếng Minh Trang sau 20 năm xa sân khấu định cư tại nước ngoài. Bên cạnh đó là sự góp mặt của những nghệ sĩ tên tuổi như Hồng Ánh, Thanh Thủy, Vân Trang, Lê Bình, Cát Tường, Khánh Hoàng, Đại Nghĩa, Quý Bình…

Đạo diễn Việt Linh cảm tác từ 2 truyện ngắn của Tăng Song Nam và Vũ Hồi Nguyên để dựng vở. Lần đầu tiên bước vào làng kịch, nữ đạo diễn cho biết rất cảm động bởi chị nhận được sự tài trợ của các nhà thiết kế thời trang, Nhà hát TP.HCM… và sự đồng cam cộng khổ của các anh em nghệ sĩ, lấy cát sê rất khiêm tốn vì biết chính Việt Linh bỏ tiền túi ra đầu tư.

 H.Kim

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131128/dao-dien-viet-linh-lan-dau-dung-kich.aspx

>> Việt Linh đã thấy hoa vàng trên cỏ xanh
>> Việt Linh – chuyện và truyện
>> Việt Linh không thể là nhà báo…
>> Trò chuyện với đạo diễn Việt Linh: Nghệ thuật không có chỗ cho sự chập chờn 

Chương trình ra mắt CLB Âm nhạc Dân tộc “Hương Sắc Ba Miền”, 24 tháng 11, 2013 tại TP HCM, VIETNAM


Chương trình ra mắt CLB Âm nhạc Dân tộc “Hương Sắc Ba Miền”,
CLB Âm nhạc dân tộc “Hương Sắc Ba miền” do TS Nguyễn Nhã sáng lập và khai trương với chương trình này vào ngày 24 tháng 11 , 2013 tại TP HCM , Việt Nam

THU THẢO : Biểu diễn cải lương phục vụ khán giả Long An, VIETNAM


Biểu diễn cải lương phục vụ khán giả Long An

Thứ hai, 25/11/2013, 01:09 (GMT+7)

(SGGP).– Tối 24-11, tại UBND xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Đoàn 1 – Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang (TPHCM) đã tổ chức biểu diễn vở cải lương Tiếng vạc sành (tác giả Trung Dân, chuyển thể cải lương Hoàng Song Việt, đạo diễn Phan Quốc Kiệt) – vở diễn từng đoạt huy chương bạc tại Hội diễn sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2012, phục vụ đông đảo khán giả mộ điệu cải lương. Đây là một trong những hoạt động “Giao lưu văn hóa nghệ thuật” giữa Sở VH-TT-DL TPHCM và tỉnh Long An. Vở diễn có sự góp mặt của các nghệ sĩ: Dương Thanh, Quỳnh Hương, Tô Tấn Loan, Lý Thu, Hoàng Hải, Điền Trung, Lê Thanh Thảo, Hoàng Minh Vương…

Tiếng vạc sành (ảnh) là vở diễn về đề tài nông thôn mới, nơi có lũy tre, dòng sông, bến nước, con đò và tiếng côn trùng kêu lảnh lót mỗi khi đêm về. Vở diễn khắc họa những gam màu sáng tối trong cuộc sống gia đình của một người mẹ miền sông nước Việt Nam. Đồng thời, qua vở diễn này ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng của những người mẹ dành cho con…

 

THU THẢO

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/11/333238/

 

THÀNH SƠN : Ngọt ngào điệu hát chầu văn,


Ngọt ngào điệu hát chầu văn

Thứ hai, 25/11/2013, 02:50 (GMT+7)

Hát văn (hát chầu văn, hát hầu bóng) luôn được biết đến như một thể loại âm nhạc nghi lễ tín ngưỡng. Đây là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam mang đậm tính tâm linh trong cả lời ca và giai điệu, là hình thức lễ nhạc trong nghi thức hầu đồng. Thời kỳ thịnh vượng nhất của loại hình diễn xướng dân gian này là cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mà trung tâm của làn điệu này là Nam Định và một số vùng quanh Hà Nội.

Hát văn biểu diễn phục vụ du khách.

Tìm về sử xưa

Ngược dòng thời gian về những năm 50 – 80 của thế kỷ trước, hát chầu văn khá trầm lắng vì chủ yếu hát văn gắn với nghi lễ hầu đồng, hầu bóng có những biểu hiện mê tín, dị đoan… thì giờ đây hát chầu văn đã phát triển mạnh và được tổ chức biểu diễn ở trong và ngoài nước. Hát văn bắt nguồn từ việc các con nhang đệ tử, thủ nhang đồng, đền và đặc biệt là các thầy cúng chuyên khấn những bài khấn tứ phủ. Để cho dễ nhớ, họ đã khấn bằng những bài văn lục bát và sau này thành những lời ca trong điệu chầu văn. Và một số nhà nghiên cứu cho rằng hát văn ra đời từ việc thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Nam Định là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi phát tích của vương triều Trần – triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Lối hát văn nơi đây ảnh hưởng sâu đậm nghệ thuật chèo với các kiểu xuyên tâm, lơi nhịp, đảo phách, bẻ làn, nắn điệu. Nếu cái hay của nghệ thuật hát chèo là cái độ vang, rền, nền, nẩy của từng người hát thì nghệ thuật nẩy, rung, nhấn trong lối hát văn theo tài năng riêng của mỗi nghệ nhân hát văn đã tạo được lối diễn xướng tinh tế, thanh tao mà sôi động là dễ nhận ra.

Diện mạo mới

Theo những bước đường trôi chảy của thời gian, hát chầu văn cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình bảo tồn và phát triển. Nhưng với sự nỗ lực sáng tạo biến tấu hát văn theo nhiều lối mới đã tạo được sinh khí cho các làn điệu hát truyền thống này, những bài hát văn mới ca ngợi quê hương đất nước, cổ vũ tinh thần chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Chính vì lẽ đó mà năm 1962, đoàn văn công Nam Định trong lần hội diễn ca múa nhạc toàn quốc tại Hà Nội đã đạt được 3 huy chương vàng cho tiết mục hát văn Nam Định quê tôi.

Ngày nay hát văn không chỉ bó hẹp trong nghi lễ lên đồng, mà còn được coi như một loại hình ca múa nhạc dân gian như một số người đã cho rằng hát văn đã từ chốn thiêng bước ra cõi tục. Nhiều nhà hát trong cả nước đã dựng những giá đồng có tốp múa phụ họa để biểu diễn trên sân khấu hiện đại, dưới ánh đèn màu lung linh, huyền ảo ở cả trong và ngoài nước. Ở nhiều làng quê, với chương trình văn nghệ “cây nhà lá vườn” cũng thường có hát văn.

Nghệ sĩ Kim Liên, đoàn chèo Nam Định, cho biết: Vào những năm 90 của thế kỷ trước, những nghệ sĩ tâm huyết với nghệ thuật hát văn như chị, nghệ sĩ Bích Thục, nghệ sĩ Đăng Khoa cùng với anh chị em trong Đoàn chèo Nam Định đã tâm huyết xây dựng và biểu diễn 3 giá đồng. Vốn có chất giọng ngũ cung, những nghệ sĩ thành Nam đã đến các đền, phủ để tìm hiểu về đặc điểm cũng như không gian diễn xướng cùng các động tác múa của hát văn dân gian để từ đó đưa lên sân khấu chuyên nghiệp. Nếu như hát văn trong dân gian thiên về diễn xướng tâm linh và chỉ 1 người có thể biểu diễn múa trong suốt 32 giá đồng thì khi lên sân khấu các nghệ sĩ đã thay đổi khá cơ bản trong hình thức biểu diễn. Vẫn là múa hát hầu Thánh nhưng mỗi nghệ sĩ đảm trách một giá rồi quần áo đạo cụ cũng phong phú và chuyên nghiệp hơn mang đậm tính nghệ thuật.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, những đổi thay về đời sống xã hội cũng khiến nhu cầu thưởng thức nghệ thuật hát văn có nhiều thay đổi. Bên cạnh những làn điệu hát văn mới, những làn điệu hát văn cổ nói về truyền thuyết những vị thánh hay công ơn của họ đối với dân với nước cũng đang được phục dựng trên sân khấu chuyên nghiệp để đưa hát văn gần gũi với công chúng hơn nữa. Các bài hát văn được soạn lời mới có giai điệu âm nhạc vui tươi, trong sáng, được chắt lọc từ nghệ thuật hát văn truyền thống mang hơi thở và nhịp sống đương đại, có nội dung ca ngợi quê hương đất nước.

Đến Nam Định, có thể dễ dàng nghe làn điệu hát văn. Có thể diễn bởi các nghệ sĩ nông dân quanh năm chân lấm tay bùn, chỉ dành những lúc nông nhàn để hát hầu thánh, hay những nghệ sĩ chuyên nghiệp đã mang văn hóa Việt sang các nước bạn mà cụ thể là năm 1971, tiếng hát của NSƯT Kim Liên và NSƯT Thế Tuyền đã đưa chầu văn sang Pháp và năm 1999, tiết mục diễn xướng chầu văn Hội làng do NSƯT Hồng Vân thể hiện đã tham dự Liên hoan Đàn và hát dân ca quốc tế tại Trung Quốc, đoạt giải Lá Trầu Vàng… hoặc thậm chí nó còn được chính người dân Nam Định lồng vào câu hát ru con, ru cháu. Nghệ thuật hay văn hóa truyền thống rất tự nhiên mà ngấm dần vào từng thế hệ dẫu cho văn hóa hiện đại vẫn đang xâm chiếm một cách mạnh mẽ.

 
 

Nam Định được Bộ VH-TT-DL chọn là địa phương đại diện cho các tỉnh, TP trong cả nước lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bộ VH-TT-DL cũng đã đưa chầu văn vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

 
 

THÀNH SƠN

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/11/333277/

 

TƯỜNG VY – NHƯ HOA : Đi tìm tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị cao, TP HCM , VIETNAM


Đi tìm tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị cao

Thứ năm, 28/11/2013, 04:42 (GMT+7)

Sáng 27-11, tại hội trường T78, TPHCM đã khai mạc Hội thảo khoa học “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao – Thực trạng và giải pháp” do Hội đồng Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức.

        Thực trạng và nguyên nhân

 
 
Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đưa ra một số liệu: Có đến hơn 98% nhà văn của ta hiện đang sống và làm việc tại các đô thị lớn, chỉ có chưa đến 2% sống ở nông thôn, vùng công nghiệp… Như vậy làm sao có đủ vốn sống để viết về đất nước vốn vẫn dựa vào nền nông nghiệp hay những chuyển mình của công nghiệp hóa.

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) cách đây 15 năm đã chỉ rõ những yếu tố chính ảnh hưởng đến sáng tác các tác phẩm có giá trị cao. Đó là vấn đề chất lượng đội ngũ văn nghệ sĩ như vốn sống, năng lực sáng tạo, tài năng, tâm huyết… Nghị quyết đã đề ra những mục tiêu nhằm xây dựng và phát triển việc sáng tác nên các tác phẩm văn học, nghệ thuật (VHNT) có giá trị cao.

15 năm qua, hoạt động VHNT trong nước đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhà phê bình Vũ Quần Phương tóm tắt các thành tựu đó như sau: “Đã có một sự bùng nổ về số lượng tác giả, tác phẩm. Bước đầu xóa bỏ tình trạng phiến diện trong cách nhìn hiện thực, tệ đơn điệu nghèo nàn về hình thức biểu hiện. Bước tiến tự giác ấy chưa từng có trong tiến trình văn học nước nhà, mở ra nhiều khả năng cho phát triển, cho trưởng thành”.

Thế nhưng, bên cạnh những thành tựu đạt được, VHNT cũng đã bộc lộ những vấn đề nghiêm trọng của nó. Nhà báo, nhà phê bình Dương Trọng Dật nêu lên một thực trạng: “Sau không khí sôi động của những năm đầu đổi mới, VHNT đã rơi vào cuộc khủng hoảng chưa từng có… VHNT gần như đứng bên ngoài cuộc sống xây dựng và phát triển của đất nước, không gắn mình vào số phận của nhân dân. Số lượng tác phẩm sáng tác tỷ lệ nghịch với chất lượng. Tác phẩm nhiều nhưng tác phẩm có chất lượng cao quá hiếm hoi”.

Đi sâu hơn, nhà văn Chu Lai nêu ra một thực trạng trong sáng tác hiện nay. Theo ông, sáng tác có một đặc thù là cuộc sống càng phức tạp, càng ngổn ngang, nhiều gam màu lại càng là chất liệu tuyệt vời cho các tác giả. Ấy thế mà ở Việt Nam lúc này chất liệu, quặng cho nghệ thuật rất nhiều nhưng lại vắng bóng hẳn những tác phẩm xứng tầm.

Có thể nói, nguyên nhân dẫn đến những vấn đề của VHNT trong nước hiện nay nằm ở tất cả yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác được nêu ở trên. Về năng lực của đội ngũ sáng tác thì như khẳng định của PGS-TS Đào Duy Quát: “Chúng ta mới chỉ có đội ngũ văn nghệ sĩ có tài năng, năng khiếu chứ chưa có tài năng lớn, thiên tài”. 

Công tác lý luận phê bình cũng là một vấn đề được quan tâm, nhà văn Võ Thị Xuân Hà cho biết, suốt quá trình sáng tác của chị từ trước đến nay hầu như chẳng thấy bóng dáng nhà lý luận phê bình nào quan tâm góp ý. Điều này không chỉ gây nản lòng người sáng tác mà còn dẫn đến tình trạng lộn xộn như PGS-TS Đào Duy Quát nêu ra: “…Hiện tượng mất dân chủ hoặc can thiệp thô bạo đối với hoạt động VHNT cũng như xu hướng thả nổi không phê phán những tác giả, tác phẩm đi ngược lại các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị tốt đẹp của dân tộc và cách mạng”.

Chính sách đãi ngộ đối với các tác giả cũng được coi là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng lệch lạc trong phát triển VHNT. Nhà văn Đỗ Kim Cuông, thành viên Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương, cho biết: “15 năm trước, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã chỉ rõ sự bất cập trong hệ thống lương bổng của người nghệ sĩ biểu diễn, nhuận bút của người sáng tác quá bèo bọt, không đủ nuôi sống ngòi bút, đời sống, nơi ăn chốn ở, môi trường hành nghề của nghệ sĩ quá khổ… Thế nhưng đến nay tình trạng trên vẫn chưa được giải quyết”.

 

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua: TPHCM chú trọng quảng bá tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật

 

Trong cơ chế thị trường, việc không tránh khỏi là sự chi phối của thị trường đối với sản phẩm VHNT thể hiện rất rõ. Điều nghịch lý là tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật thì khó có cơ hội đến với công chúng. Ngược lại tác phẩm chiều theo thị hiếu thấp, nặng tính giải trí thì dễ được đón nhận, đem lại doanh thu cao. Do đó, việc các tác giả sáng tác tác phẩm một cách dễ dãi nhằm đạt được yếu tố thị trường, hoặc để gây tiếng vang, tạo ấn tượng một cách nhanh chóng bất chấp những tác động tiêu cực lên đời sống xã hội ngày càng có biểu hiện gia tăng, làm lấn át những tác phẩm tốt, làm nhiễu sự lựa chọn của công chúng… Để kéo giảm nghịch lý trên và cũng là để góp phần điều chỉnh sáng tác, điều chỉnh thị hiếu, khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tác nhiều tác phẩm tốt, thành phố cũng rất chú trọng đến hoạt động quảng bá tác phẩm. Thông qua nhiều kênh như truyền hình, phát thanh đẩy mạnh việc phát sóng giới thiệu các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, sân khấu có tính xây dựng và có giá trị tư tưởng – nghệ thuật cao; đẩy mạnh đầu tư cho các đơn vị nghệ thuật công lập để các nhà hát tổ chức hoạt động xây dựng chương trình, từ đó nhiều tác phẩm nghệ thuật bậc cao như giao hưởng, vũ kịch hoặc những vở diễn sân khấu hát bội, cải lương, kịch nói quy mô được dàn dựng biểu diễn phục vụ công chúng; hỗ trợ các đơn vị ngoài công lập có tác phẩm tốt; tài trợ đột xuất cho những công trình, tác phẩm có giá trị cao… Tất cả những nỗ lực đó, mặc dù một số mặt còn chưa đạt được như mong muốn, nhưng cũng đã góp phần tích cực vào việc xây dựng công chúng VHNT, góp phần điều chỉnh thị hiếu thẩm mỹ và động viên các văn nghệ sĩ chân chính, tâm huyết.

        Gỡ bỏ sự gò bó của đề tài văn học

Một điều đáng chú ý là cuộc hội thảo lần này đã góp phần gỡ bỏ nhiều vấn đề trong sáng tác văn học hiện nay như sự gò bó của đề tài. Nhà văn Chu Lai cho rằng có một thời gian người viết quá lụy vào các thứ học thuật như hiện thực, hiện thực phê phán, huyền ảo, hiện đại, hậu hiện đại… trong khi bản chất của sáng tác là ở chỗ sự lay động mãnh liệt của nó. Một tác phẩm có độ lay động thì tự thân nó chứa tất cả phương pháp. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, cũng nêu ra một vấn đề là chủ thể trong tác phẩm. Suốt một thời gian dài người ta quá khiên cưỡng vào vấn đề này, cho rằng để thu hút bạn đọc thuộc thành phần nào thì bắt buộc tác phẩm phải có thành phần đó. Theo ông: “Vậy Truyện Kiều có viết gì về người nông dân đâu mà bao năm qua người nông dân lại say mê tác phẩm đến như vậy”.

Vấn đề quản lý của đảng và nhà nước đối với sáng tác cũng được đề cập đến. Tuy nhiên, các đại biểu đã nhấn mạnh việc quản lý cần sự linh hoạt, phù hợp với tình hình mới. Nhà lý luận phê bình Mai Quốc Liên cho rằng đảng và nhà nước thay vì “cầm tay chỉ việc” thì nên quan tâm đến việc đề ra cảm hứng chủ đạo cho sáng tác. Các tác giả hiện nay, nhiều người sống cuộc sống thị thành chật hẹp, ẩm mốc, sống mòn trong kinh tế thị trường… Việc đưa ra cảm hứng chủ đạo trong sáng tác, hỗ trợ tác giả theo cảm hứng đó sẽ góp phần không nhỏ tạo nên những tác phẩm tốt. Điều này thực tế đã được thực hiện và rất thành công với các chuyến sáng tác Về nguồn, Trường Sa…

Biểu diễn đàn K’ní phục vụ du khách trong và ngoài nước tại TPHCM. Ảnh: ĐỖ HẠNH

        Sân khấu, điện ảnh – Dấu ấn cá nhân

Trong lĩnh vực điện ảnh, nhà biên kịch Hồng Ngát thẳng thắn: “Khó có tác phẩm điện ảnh thật sự có chất lượng nghệ thuật và tư tưởng cao, vì Luật Điện ảnh ra đời lâu rồi mà đến nay vẫn chưa có thông tư hướng dẫn thi hành việc đấu thầu sản xuất phim. Ba bộ phim điện ảnh được nhà nước duyệt từ năm 2011, được Bộ VH-TT-DL chỉ định thầu (Nhà tiên tri – kịch bản: Hoàng Nhuận Cầm, Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất; Mỹ nhân – kịch bản: Văn Lê, Hãng phim Giải Phóng; Những đứa con của làng – kịch bản: Phạm Dũng, Hồng Ngát Phim), nhưng đến nay vẫn ách tắc không thể đưa vào sản xuất vì không được Bộ Tài chính cấp tiền. Chỉ vì chưa có thông tư hướng dẫn việc đấu thầu sản xuất phim, mà theo tôi được biết, năm 2012 còn 48 tỷ đồng cho sản xuất phim, năm 2013 có 45 tỷ đồng cho sản xuất phim, vậy mà không giải ngân được! Các hãng phim nhà nước không có phim dự thi, không có phim cho khán giả xem”.

Cũng theo nhà biên kịch Hồng Ngát: “Xao lãng đề tài đương đại, không dành cho nó sự quan tâm thích đáng cũng là góp phần khó tạo ra được tác phẩm hay. Không quan tâm, đầu tư, khuyến khích các tác phẩm bám sát hiện thực cuộc sống, làm tấm gương phản chiếu cuộc sống; dự báo, cảnh tỉnh trước các vấn đề của cuộc sống thì vô hình trung lâu nay chúng ta đi bằng một chân, tránh sao khỏi khập khiễng”. Ở lĩnh vực sân khấu, NSƯT Trần Minh Ngọc cho rằng: “Người làm sân khấu lúc này đang ở trong trạng thái phân vân giữa mới và cũ”. 

Ở lĩnh vực mỹ thuật, PGS-TS Nguyễn Đỗ Bảo lại bày tỏ sự băn khoăn về “Nghệ thuật mới, nghệ thuật đương đại hiện nay”. Theo ông, họa sĩ trẻ, thậm chí là sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường đua nhau khám phá, thử nghiệm “nghệ thuật mới, nghệ thuật đương đại” như một cơn lốc; tuy nhiên tính chuyên nghiệp và tính hoàn thiện chưa cao. Do vậy, nhà nước cần đầu tư sâu bằng cách đặt hàng với các đề tài thiết thực để phục vụ các cuộc vận động chính trị như: Môi trường và xã hội, lối sống gia đình… NSND Ứng Duy Thịnh khi nói về thực trạng ngành múa cho rằng: “Trên thực tế, tài năng múa đang bị thui chột dần, vì đa phần các đơn vị nghệ thuật công lập không đủ điều kiện để nuôi dưỡng, phát huy tài năng của nghệ sĩ”.

Chia sẻ tại hội thảo, NSƯT Vương Duy Biên, Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL, cho rằng: “Người sáng tạo nghệ thuật nói chung phải có bản lĩnh, sự tự trọng để khẳng định tài năng thật sự của mình. Về cơ chế chính sách, cơ bản, đến năm 2014 sẽ hoàn thiện”.

Hội thảo còn tiếp tục diễn ra vào hôm nay 28-11.

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/11/333507/

TƯỜNG VY – NHƯ HOA