Phúc khảo chương trình biểu diễn nghệ thuật tham dự âm nhạc truyền thống quốc tế lần thứ 42 tại Thượng Hải – Trung Quốc


Phúc khảo chương trình biểu diễn nghệ thuật tham dự âm nhạc truyền thống quốc tế lần thứ 42 tại hượng Hải – Trung Quốc

 

 
Ngày 05/7/2013, tại Trung tâm Văn hóa Thành phố – 97 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Đoàn nghệ thuật Thành phố (được thành lập theo Quyết định số 3598/QĐ – UBND ngày 03 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc cử đoàn nghệ thuật Thành phố tham dự biểu diễn, giới thiệu, quảng bá  nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ phục vụ Hội nghị của Hội đồng Âm nhạc  truyền thống thế giới lần thứ 42 tại Thượng Hải – Trung Quốc, từ ngày 10/7/2013 đến ngày 17/7/2013) đã tổ chức buổi diễn phúc khảo chương trình nghệ thuật gồm 10 tiết mục Đờn ca tài tử đặc sắc:
1. Hòa tấu Vũ khúc Đông Dương
2. Hoà tấu Liên Nam
3. Độc tấu đàn tranh Giang Nam
4. Song ca Bến Xuân (điệu Long ngâm)
5. Hòa tấu Phú Lục
6. Ta, tấu Ngũ đối hạ
7. Đơn ca nữ Dạ cổ hoài lang
8. Tứ tấu Văn thiên tường (lớp dựng)
9. Đơn ca nam Ông Thần lu (ca ra bộ)
10. Hòa tấu Vọng cổ
Với sự trình diễn điệu nghệ, ngọt ngào của các nghệ sĩ:
1. Ông Huỳnh Văn Khải – Trưởng khoa Âm nhạc dân tộc, Nhạc viện       Thành phố, Nghệ sĩ đờn tỳ bà;
2. Ông Phạm Công Tỵ (Nghệ nhân dân gian Út Tỵ) – Nghệ nhân đờn cò,      đờn gáo;
3. Bà Nguyễn Thị Hải Phượng (Nghệ sĩ Hải Phượng) – Giảng viên khoa     Âm nhạc dân tộc, Nhạc viện Thành phố, Nghệ sĩ đờn bầu, đờn tranh;
4. Ông Phạm Văn Môn (Nghệ sĩ ưu tú) – Giảng viên khoa Âm nhạc dân tộc, Nhạc viện Thành phố, Nghệ sĩ đờn kìm;
5. Ông Võ Trường Giang – Nghệ sĩ đờn ghi-ta phím lõm;
6. Ông Võ Văn Kim (Nghệ nhân Duy Kim) – Nghệ sĩ đờn tranh;
7. Ông Phan Minh Đức – Tài tử ca;
8. Bà Mai Thanh Mai – Tài tử ca.

 Trong 10 tiết mục biểu diễn lần này, tiết mục “Hòa tấu Vũ khúc              Đông Dương” được quan tâm chú ý hơn cả. Đây là bản hòa tấu đã được Ban nhạc tài tử Nguyễn Tống Triều trình diễn lần đầu tiên tại Pháp năm 1900 trên sân khấu Nhà hát Đông Dương trong Hội chợ thế giới Paris và tại Hội chợ thuộc địa Marseille, Pháp năm 1906 (nguồn: http//www.parisenimages.fr). Bản nhạc này được sưu tầm và giới thiệu đến Đoàn nghệ thuật Thành phố bởi GS. Nguyễn Lê Tuyên – Giảng viên Đại học Quốc gia Úc. 

 

 
CÁC TIN BÀI KHÁC >>:

   Thành phố Hồ Chí Minh sẽ cử đoàn Nghệ thuật Đờn ca tài tử dự “Hội nghị Âm nhạc truyền thống quốc tế lần thứ 42” tại Thượng Hải – Trung Quốc

     (9/7/2013)

   Hội nghị triển khai kế hoạch quảng bá, đưa Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ

     (7/6/2013)

   Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V – 2013

     (9/5/2013)

   Lễ kỷ niệm 2 năm ngày thành lập Hội Cổ vật TP. HCM

     (15/9/2011)

   Họp báo “Nhạc hội đờn ca tài tử Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011”

     (15/9/2011)

   Nhạc hội Đờn ca tài tử

     (6/9/2011)

   Vài nét về đờn ca tài tử Nam bộ

     (30/8/2011)

   Ngày hội Sử học lần thứ 5 của Hội Khoa học lịch sử

     (5/8/2011)

   Hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử

         (13/1/2011)

http://www.svhttdl.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/di-san-van-hoa-phi-vat-the?

Bảo tàng Cội nguồn – Mô hình Câu lạc bộ Đờn ca tài tử ở Phú Quốc


Bảo tàng Cội nguồn – Mô hình Câu lạc bộ Đờn ca tài tử ở Phú Quốc

PDF.InEmail

Thứ sáu, 16 Tháng 12 2011 08:55

Hơn 100 năm trước, từ cội nguồn nhạc lễ, nhạc cung đình Huế và văn học dân gian đã sinh ra nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ. Gia sản dòng nhạc tài tử Nam Bộ ngày càng đồ sộ, phong phú biểu đạt được tâm lý, tình cảm và đời sống của dân cư đồng bằng sông Cửu Long. Loại hình âm nhạc này thường trình diễn ở những gia đình yêu thích Đờn ca tài tử, đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, lễ hội các đình thần, sau khi thu hoạch mùa vụ … Nhìn chung, Đờn ca tài tử có thể trình diễn bất cứ ở đâu và bất kỳ thời điểm nào. Những người tham gia Đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau, họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về địa điểm hay trang phục. 
Từ lâu, Đờn ca tài tử đã là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ nói chung và Phú Quốc nói riêng. Sau những giờ làm việc vất vả, những người yêu thích bộ môn này họp nhau lại để thưởng thức những bài, bản, điệu, lý… thấm đậm tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người… Nghệ nhân, nghệ sĩ, tài tử cũng chính là những người mà trên tay, trên áo còn bám bụi đất. Tuy nhiên, do sinh hoạt thưa kỳ và lại gói gọn giữa các thành viên với nhau, mỗi người lại có một hoàn cảnh nên sinh hoạt còn đơn điệu và có người còn cho rằng chỉ đến cho vui, chứ không thể học hỏi được gì thêm, bởi không có ai hướng dẫn. Vài năm trở lại đây, công chúng yêu mến Đờn ca tài tử Phú Quốc ngày càng nhiều hơn, nói cách khác là họ biết thưởng thức Đờn ca tài tử. Nhiều giọng ca hay, tay đàn giỏi được phát hiện và chăm bồi.
Tuy nhiên, sàng lọc để chọn ra một mô hình đờn ca tài tử chuyên nghiệp cho huyện thì không dễ. Với họ, Đờn ca tài tử vẫn chỉ là một loại hình giải trí, chơi theo kiểu hợp tan. Trong khi đó, chuyện đầu tư, đãi ngộ làm sao để xây dựng được một đội ngũ chuyên nghiệp kế thừa thì vẫn còn khó khăn. Hiện nay, ở Phú Quốc một vài nhóm vẫn chơi theo kiểu cây nhà lá vườn, có gì chơi nấy. Huyện đảo cũng đã có một số câu lạc bộ được hình thành nhưng nhiều người không muốn vào câu lạc bộ vì ngại đóng phí sinh hoạt. Việc đầu tư phát triển loại hình này vẫn chưa được chú trọng về nguồn nhân lực, chỉ đầu tư về trang thiết bị, âm thanh thì chưa đủ. 
Tiếp đó là việc sưu tầm bài bản cổ, sáng tác bài mới và luyện tập nhuần nhuyễn chưa được thực hiện tốt. Số nghệ nhân chơi được bốn cây đờn của đờn ca tài tử là tranh – cò – kìm – ghi ta còn hạn chế. Hệ thống 20 bản tổ gồm: 3 bản Nam (Nam ai, Nam xuân, Đảo ngũ cung); 6 bản Bắc (Tây thi, Xuân tình, Lưu thủy, Phú lục, Cổ bản, Bình bán chấn); 4 bản oán (Phụng cầu, Phụng hoàng, Giang nam, Tứ đại); 7 bản lớn (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, Xàng xê) chưa được phổ biến rộng rãi đến anh chị em nghệ nhân, tài tử của địa phương.
Nhằm tiếp tục khẳng định sự tồn tại và phát triển ngày càng sâu rộng của loại hình Đờn ca tài tử Nam Bộ, từng bước tạo nên sự thống nhất về cơ sở lý luận và thực tiễn, bảo tồn và phát huy Đờn ca tài tử thành một loại hình văn hóa độc đáo phục vụ khách du lịch và cộng đồng trên đảo Phú Quốc. Bảo tàng Cội Nguồn đã gặp gỡ anh chị em nghệ nhân, nghệ sĩ, tài tử đờn ca tài tử của địa phương bàn bạc và thống nhất việc thành lập Câu lạc bộ Đờn ca tài tử mang tên Cội nguồn để tổ chức thử nghiệm mô hình hoạt động này tại địa phương. Đây cũng là cơ sở để các nghệ nhân, tài tử đờn ca tài tử đang sinh hoạt ở các xã, thị trấn có dịp gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, góp phần duy trì và phát triển loại hình nghệ thuật mang tính đặc trưng của Nam Bộ.

Dan-ca-tai-tu

Ra mắt Câu lạc bộ Đờn ca tài tử Cội nguồn
Sau thời gian chuẩn bị về nhân sự và điều kiện hoạt động, được sự hỗ trợ của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phú Quốc, ngày 29/11/2010 Bảo tàng  Cội nguồn đã trang trọng tổ chức Lễ ra mắt “Câu lạc bộ đờn ca tài tử Cội Nguồn”. Dưới sự bảo trợ của Bảo tàng Cội nguồn Phú Quốc, Câu lạc bộ trở thành cầu nối cho hoạt động nghệ thuật đờn ca tài tử của huyện nhà. 
Sau một năm hoạt động, Câu lạc bộ đã phát huy, duy trì mỗi tháng sinh hoạt từ 2-3 lần vào thứ hai hàng tuần và khởi điểm từ Câu lạc bộ đờn ca tài tử Cội Nguồn, phong trào đàn ca tài tử của huyện Phú Quốc đã dần khởi sắc, một số câu lạc bộ mới được hình thành như Câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Gành Dầu, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hàm Ninh, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử Trung tâm Văn hóa huyện…và trong kế hoạch thực hiện tổng điều tra, xây dựng hồ sơ nghệ thuật Đờn ca tài tử trình UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Thế giới, Viện Âm nhạc Việt Nam đã tổ chức khảo sát, ghi hình, thu âm và khen thưởng các cá nhân đã có thành tích trong việc sưu tầm, bảo tồn loại hình Đờn ca tài tử trên huyện đảo Phú Quốc.
Hy vọng trong thời gian tới, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử Cội Nguồn sẽ phát huy hơn nữa khả năng của mình, duy trì tập luyện và tổ chức các chương trình hay, hấp dẫn tạo ra một sản phẩm văn hóa phục vụ du khách và cộng đồng, nhằm giới thiệu đến công chúng và giới trẻ hiểu thêm về nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của đảo Phú Quốc.
Huỳnh  Phước Huệ
Ủy viên BCH Hội DSVH Việt Nam
Giám đốc  Bảo tàng Cội nguồn Phú Quốc

Đờn ca tài tử trước cơ hội được UNESCO vinh danh


Đờn ca tài tử trước cơ hội được UNESCO vinh danh

23/09/2013 11:04:09

 

Hồ sơ quốc gia Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã qua nhiều bước đệ trình, thẩm định và sắp sửa được UNESCO xem xét vinh danh. Từ một sinh hoạt văn hóa bình dân, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đang đứng trước cơ hội trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Từ một sinh hoạt văn hóa bình dân

 

 

Nói đến Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, nhiều người nghĩ ngay tới những buổi sinh hoạt văn hóa độc đáo, đầy chất tài tử của người Nam Bộ nơi miệt vườn, sông nước. Nhưng hơn thế, không gian trình diễn của Đờn ca tài tử rộng lớn hơn thế nhiều khi có thể trình diễn ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào.

Trong những đêm trăng thanh gió mát, những người Nam Bộ vẫn cất lời ca tiếng hát trên những con thuyền trôi lững lờ trên sông hay những dịp cúng tế mang tính lễ nghi, cả những sự kiện như đám cưới, đám hỏi và sau những cuộc trà dư tửu hậu… Đờn ca tài tử vẫn luôn là loại hình văn hóa tiêu biểu, phổ cập của người dân miền Nam Bộ.

Hiện nay, trong sinh hoạt Đờn ca tài tử bên cạnh những nhạc khí truyền thống như đàn Nguyệt, Thập lục hay những nhạc cụ truyền thống của dân tộc như Sáo, Bầu, Tỳ bà… còn có nhiều nhạc cụ của phương Tây cũng đã du nhập, hòa quyện trong những buổi trình diễn Đờn ca tài tử như Violin, Guitar phím lõm…

 

Đờn ca tài tử nơi miệt vườn

Theo GS Trần Văn Khê, điểm nổi bật của Nghệ thuật Đờn ca tài tử chính là sự hòa hợp, gần gũi giữa người trình diễn với khán giả và chính sự hòa hợp này tạo nên sự gần gũi và sức sống bền vững cho nghệ thuật trình diễn độc đáo này của người dân Nam Bộ.

Quả thực, khi những nốt nhạc dạo của người tài tử cất lên, đa số người dân Nam Bộ đều có thể vang ngân những bài hát đã nằm lòng trong tiềm thức đã in sâu như một làn điệu dân ca. “Câu rao” được hiểu như một khúc nhạc dạo của người nhạc công chơi Nghệ thuật Đờn ca tài tử dù có phóng túng, phiêu linh đến mấy thì ít nhiều cũng có thể dễ dàng dẫn dắt người nghe đi vào làn điệu chính của bản nhạc…

Vì thế, theo đánh giá của nhiều chuyên gia âm nhạc, Nghệ thuật Đờn ca tài tử hấp dẫn khán giả VN lẫn các chuyên gia nước ngoài bởi tính bình dân nhưng lại mang tính hàn lâm trong trình diễn.

Trên bước đường đệ trình UNESCO vinh danh

Thực tế, từ khá sớm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được bạn bè thế giới biết đến ít nhiều. Khoảng đầu những năm 1960, một đĩa thu âm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được GS Trần Văn Khê giới thiệu với UNESCO. Sau đó, đĩa thu âm của nghệ nhân dân gian Bạch Huệ gồm 11 bài theo thể loại đờn ca tài tử có tiêu đề Viet Nam traditions of the South cũng được phát hành dưới thương hiệu Tuyển tập UNESCO…

Trong nhiều năm trở lại đây Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được quan tâm, đầu tư để bảo tồn và phát triển. Chỉ tính từ năm 2006 đến nay, nguồn kinh phí nhà nước cho chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa đã đầu tư hơn 1 tỷ đồng cho các dự án kiểm kê và bảo tồn Nghệ thuật Đờn ca tài tử. Tại Lễ hội đời sống dân gian Smithsonian lần thứ 41 được tổ chức tại Hoa Kỳ năm 2007, với sự trình diễn của 39 nghệ nhân VN, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao…

Với những giá trị độc đáo của Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, năm 2010 – 2011, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho xây dựng Hồ sơ Quốc gia Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ trình UNESCO đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong quá trình xây dựng hồ sơ, công tác kiểm kê di sản này đã được tiến hành khắp 21 tỉnh, thành trong cả nước có di sản Đờn ca tài tử. Theo đó, không chỉ đã và đang là một sinh hoạt tinh thần quan trọng của người dân Nam Bộ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ còn lan tỏa ra cả miền Trung và miền Bắc nước ta.

Trong hội thảo quốc tế Nghệ thuật Đờn ca tài tử và những lối hòa đàn ngẫu hứng” được tổ chức tại TP HCM năm 2011, với sự tham gia của 150 đại biểu, trong đó có 7 tham luận đến từ các nước Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore và Cộng hòa Síp, nhìn chung các chuyên gia âm nhạc, các nhà nghiên cứu văn hóa thế giới đã đánh giá cao giá trị của Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ.

Dự kiến trong tháng 10, Liên hoan giao lưu trình diễn Nghệ thuật Đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ I sẽ được tổ chức như một trong những hoạt động quan trọng quảng bá cho Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ.

PGS.TS Lê Văn Toàn, Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia, Viện trưởng Viện Âm nhạc cho biết: “Hồ sơ Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được hoàn thiện và gửi tới UNESCO đúng hạn để được Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể xem xét, ghi danh vào kỳ họp của Ủy ban lần thứ 8 sẽ diễn ra ở Baku, Cộng hòa Azecbaizan ngày 2 – 8.12”. Như vậy, từ một sinh hoạt văn hóa bình dân, Nghệ thuật Đờn ca tài tử đang đứng trước ngưỡng cửa được UNESCO vinh danh là di sản thế giới.

Nguồn: (baovanhoa.vn)

http://kiengiangvn.vn/portal/index.php?pageid=3955&topicid=48&pagenum=1

Đờn ca Tài tử có thể lọt vào danh sách xét duyệt Di sản năm 2013 ?


Đờn ca Tài tử có thể lọt vào danh sách xét duyệt Di sản năm 2013 ?

08:55, 02 Tháng Mười Hai 2013

(Cinet) – Phiên họp của Ủy ban Di sản Unesco chính thức khai mạc hôm nay, ngày 02 tháng 12 tại Azerbaijan. Tại phiên họp này nhiều vấn đề về di sản sẽ được bàn bạc, thảo luận trong đó có việc quyết định Đờn ca tài tử của Việt Nam có thể được xếp vào danh sách xét duyệt Di sản năm 2013.

 

 

Theo quy định của Unesco một quốc gia trong một năm chỉ được gửi 1 hồ sơ đề nghị công nhận Di sản Văn hóa Phi vật thể. Theo kế hoạch ban đầu, hồ sơ Đờn ca tài tử Việt Nam dự định đăng ký vào danh sách xét duyệt năm 2011 tuy nhiên do ưu tiên hồ sơ về “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” nên hồ sơ về Đờn ca tài tử phải lùi lại một năm nghĩa là năm 2012. Theo đúng lộ trình thì hồ sơ đăng ký vào danh sách xét duyệt sẽ được quyết định và nhận kết quả 1 năm sau đó, có nghĩa là năm nay 2013, hồ sơ Đờn ca tài tử sẽ được quyết định có được xét duyệt hay không.

Sau ngày khai mạc hôm nay 02 tháng 12, dự kiến các thành viên Ủy ban Di sản sẽ quyết định những hồ sơ nào đủ tiêu chuẩn vào danh sách xét duyệt Di sản Văn hóa phi vật thể năm 2013 vào khoảng giữa tuần này. 

 

Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Nam Bộ. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống ca Huế vào vùng Nam Bộ. Trên đường đi, các nhạc sĩ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn cùng với giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi tiếp tục, một số bài bản tuy cùng tên nhưng nét nhạc đã khác xa so với ban đầu.Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không y khuôn bản gốc. Người đàn, người ca cũng không muốn giữ nguyên như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, khiến những bài bản đậm đà thấm thía hơn.

 

 

http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=74365&sitepageid=73

PHẠM MỸ : Diễn viên Tuấn Dương qua đời: Năm mất mát của làng văn nghệ Việt Nam và những nghệ sĩ mất trong năm 2013


Diễn viên Tuấn Dương qua đời: Năm mất mát của làng văn nghệ Việt Nam

Thứ Hai, 02/12/2013 15:35 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Nhạc sĩ Hoàng Hiệp, “báu vật nhân văn” Hà Thị Cầu, NSƯT Hồ Kiểng, “trưởng thôn” Văn Hiệp, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú, nhà thơ Tạ Hữu Yên, ca sĩ Wanbi Tuấn Anh, diễn viên – biên kịch Thế Sơn, đạo diễn Bạch Diệp, GS- TS NSND Quang Hải, diễn viên hài Tuấn Dương… những nghệ sĩ đóng góp nhiều dấu ấn cho nền văn nghệ nước nhà đã lần lượt ra đi trong năm 2013 để lại sự thương tiếc khôn nguôi của công chúng cả nước.

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp qua đời ngày 9/1/2013

Cố nhạc sĩ Hoàng Hiệp

Nhạc sĩ tài hoa trút hơi thở cuối cùng vào 12h45 phút ngày 9/1 tại nhà riêng ở TP HCM, hưởng thọ 82 tuổi.

Ở tuổi 82, sự ra đi của ông để lại nhiều tiếc thương trong lòng khán giả cả nước. Vài ngày trước, do tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ rơi vào hôn mê sâu. Bác sĩ cũng như gia đình đều nỗ lực cứu chữa mong ông hồi phục.

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp – tên thật là Lưu Trần Nghiệp, bút danh là Lưu Nguyễn – sinh ngày 1/10/1931 ở xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, An Giang. Ông tham gia cách mạng vào năm 1945, tham gia vào đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà.

Trong vòng 20 năm sống ở Hà Nội (khoảng 1955 đến 1975), ông đã viết hơn 100 ca khúc, nhiều bài trong đó tiêu biểu cho dòng nhạc cách mạng thời kỳ chống Mỹ như Lá đỏ, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Cô gái vót chông hay Ngọn đèn đứng gác.

Những ca khúc của ông thường mang âm hưởng dân ca, trữ tình, dễ nhớ, dễ truyền xúc động. Bài hát Nhớ về Hà Nội của Hoàng Hiệp là một tác phẩm đặc sắc của dòng nhạc đương đại những năm cuối thế kỷ 20 về tình yêu thành phố bên bờ sông Hồng. Đây cũng là một trong những ca khúc nổi tiếng nhất viết về Hà Nội.

Năm 2000, nhạc sĩ Hoàng Hiệp được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm:Câu hò bên Bến Hiền Lương, Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Trường Sơn đông – Trường Sơn Tây, Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội.

Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời 27 /1 /2013

Nhạc sĩ Phạm Duy đã trút hơi thở cuối cùng vào trưa nay 27/1 ở tuổi 92. Gia đình nhạc sĩ Phạm Duy đã xác nhận thông tin trên.

 

 

Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời ở tuổi 92

Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5/10/1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Ông là một nhạc sĩ, ca sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam với lượng sáng tác đồ sộ, nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam.

Sau năm 1975, Phạm Duy sang sinh sống tại Hoa Kỳ. Đến tháng 5/2005 ông chính thức trở về Việt Nam định cư. Nhiều ca khúc của ông cũng dần được cấp phép phổ biến trở lại như Mùa thu chết, Giọt mưa trên lá, Tạ ơn đời, Tiễn em, Đi đâu cho thiếp theo cùng…

Vĩnh biệt “báu vật nhân văn” Hà Thị Cầu

Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu sinh năm 1928, qua đời vào 12h35 phút trưa ngày 3 tháng 3 thọ 86 tuổi.

Tên thật của bà là Hà Thị Năm (Cầu là cách gọi theo tên con trai cả ở vùng Yên Mô, Ninh Bình). Năm 1977, sau ngày Việt Nam thống nhất, bà viết bài Theo Đảng trọn đời. Sau đó, bà được tham dự nhiều hội diễn văn nghệ quần chúng toàn quốc, đoạt được nhiều huy chương vàng và giải thưởng đặc biệt. Năm 1981-1982, bà được Nhạc viện Hà Nội mời tham gia phụ trách chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.

 

 

“Báu vật nhân văn” Hà Thị Cầu

Bà đã nhận được bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói Việt Nam và giải đặc biệt “Nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình” trong Liên hoan Trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc.

Năm 2008, Nghệ nhân Hà Thị Cầu đã nhận được giải thưởng Đào Tấn, giải thưởng dành cho những đóng góp trong việc gìn giữ vốn quý nghệ thuật dân tộc

Bước vào tuổi 80, bà kết thúc công việc hát rong của mình. Hoàn cảnh khó khăn của gia đình bà đã được đề cập nhiều trên các phương tiện truyền thông và đã nhận được nhiều sự ủng hộ tích cực của nhiều người hảo tâm.

Những làn điệu xẩm cùng giọng hát của bà là những di sản quý giá còn lại của nghệ thuật xẩm. Bà đã được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian vào ngày 25 tháng 12 năm 2004 và đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.

NSƯT Hồ Kiểng từ giã cõi tạm

NSƯT Hồ Kiểng từ trần lúc 16h ngày 3/4 do tuổi cao sức yếu. Sinh năm 1926 tại Bến Tre, Hồ Kiểng đã đóng hơn 200 bộ phim, gần 50 vở kịch nói, hơn 300 kịch truyền thanh, 12 vở cải lương. 

NSƯT Hồ Kiểng lúc sinh thời

Theo nghiệp điện ảnh sau khi tập kết ra Bắc năm 1954, Hồ Kiểng suýt chết ít ba lần theo nghĩa đen của từ này trong khi đóng phim.

Lần thứ nhất suýt chết khi Hồ Kiểng vào vai đồn trưởng trong phim Rừng xà nu quay ở Cao Bằng thời chiến tranh chống Mỹ. Ông cưỡi ngựa bị ngựa quăng gãy xương sống nằm điều trị từ bệnh viện Cao Bằng đến Bạch Mai – Hà Nội hơn một năm mới khỏi, tưởng đã thành người tàn phế. Lần thứ hai ông bị rắn cắn khi vào vai bắt rắn độc trong phim Đêm săn tiền quay ở Biên Hòa.

Nọc độc của rắn đã khiến Hồ Kiểng chết lâm sàn 3 ngày trong Bệnh viện Sài Gòn. Gia đình ông lúc đó đã xin bác sĩ mang ông về lo hậu sự. Cũng may, bác sĩ của Bệnh viện Sài Gòn cứu sống ông vào giờ phút thân xác ông đã kề huyệt mộ. Lần thứ ba đóng phim Cảnh sát hình sự, ông bị bạn diễn trong khi diễn “say vai” xô mạnh tay khiến ông già Hồ Kiểng ốm nhách đập đầu tụ máu ở hộp sọ phải mổ.

Cả đời theo nghiệp diễn với ngần ấy vai, nhưng Hồ Kiểng vẫn sống đời tạm bợ trong một ngôi nhà nguyên là nơi chứa máy phát điện ở đường Cao Thắng, Q.3, TP.HCM. Dù sống trong nơi tồi tàn như thế nhưng Hồ Kiểng vẫn luôn yêu đời. Ông yêu đời làm thơ, đóng phim đến độ ít người biết lão nghệ sĩ này có hơn 60 năm tuổi Đảng. Ông từng đi bộ đội tại miền Nam thời kháng Pháp trước khi tập kết ra Bắc năm 1954 và gần 30 tuổi mới học nghề đóng phim.

‘Trưởng thôn’ Văn Hiệp

Nghệ sĩ Văn Hiệp – người được nhiều người yêu mến với những vai diễn trưởng thôn, những vai diễn hài mộc mạc trên sân khấu đã qua đời lúc 5h ngày 9 tháng 4 tại nhà riêng.

Nghệ sĩ Văn Hiệp tên đầy đủ Nguyễn Văn Hiệp, sinh năm 1942 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông là thế hệ đầu tiên học tại trường Sân khấu điện ảnh lớp diễn viên cùng khoá Doãn Hoàng Giang, Trọng Khôi, Doãn Châu… 

Văn Hiệp được đồng nghiệp biết đến với những vai “nghiêm túc” trên sân khấu kịch Nhà hát Kịch Việt Nam như: vai Vinh trong vở Bài ca Điện Biên; vai Ốc trong vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến…

Thời gian về sau, nghệ sĩ Văn Hiệp chuyển sang lãnh địa truyền hình và thành công với kịch bản Trưởng họ chán cơm, đặc biệt, show truyền hình về Trưởng thôn Văn Hiệp cùng hai danh hài Quang Tèo và Giang Còi đã làm nên một hình tượng nhân vật “trưởng thôn” đặc sắc không hề trộn lẫn.

 

Cố NSƯT Văn Hiệp

 

Trên phim ảnh, Văn Hiệp thường “đóng đinh” với những dạng vai nông dân chất phác, hiền lành, thật thà và tốt bụng… Và dù đóng bất kỳ vai nào, cái duyên hài hước trong ông cũng khiến cho vai diễn bừng lên sự sinh động và dí dỏm. Trong sự nghiệp diễn viên 40 năm của mình, ông tham gia tới 1000 tác phẩm kịch, phim truyện. Mặc dù có nhiều đóng góp nhưng đáng tiếc là Văn Hiệp chưa một lần được phong danh hiệu cao quý.

Nhà văn Võ Hồng, người của “Tiểu thuyết thứ 7”

 

 

Nhà văn Võ Hồng, người của “Tiểu thuyết thứ 7” đã qua đời trong năm 2013

Nhà văn Võ Hồng xuất hiện trên văn đàn khi mới 18 tuổi với truyện ngắn đầu tay Mùa gặt đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy năm 1939 cùng thời với những tài danh Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài… Thế nhưng sau đó ông lặng lẽ dạy học cho mãi đến sau này mới xuất hiện trở lại.

Võ Hồng sinh ngày 5/5/1921 tại xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Từ năm 2006, ông bị bệnh nằm một chỗ. Và lúc 14h ngày 31 tháng 3, do tuổi cao sức yếu, ông đã qua đời tại 53 Hồng Bàng, Nha Trang, Khánh Hòa.

Văn chương của ông để lại trong lòng người đọc nhiều thế hệ những dư vị về một thời tưởng đã lãng quên. Đến trước khi mất, Võ Hồng đã in 30 cuốn sách thuộc nhiều thể loại: truyện dài, truyện ngắn, đoản văn, tùy bút, thơ… Tác phẩm Tiếng chuông chiêu mộ in năm 2005 được xem như cuốn sách cuối cùng của Võ Hồng. Năm 2009, Tủ sách Hoa hướng dương của nhà sách CADASA và NXB Văn học đã tái bản cùng lúc 6 tác phẩm: Một bông hồng cho cha, Nhánh rong phiêu dạt, Vẫy tay ngậm ngùi, Hoài cố nhân, Hoa bươm bướm, Thiên đường ở trên cao trong số 30 tác phẩm của ông. Trong số đó, Một bông hồng cho cha đã được tái bản nhiều lần.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú từ trần ngày 20 /5 /2013

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú vừa từ trần ngày 20/5/2013 tại Hà Nội. Bà sinh ngày 25 tháng 12 năm 1940, quê quán ngõ chợ Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú nguyên là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; Nguyên Ủy viên Ban thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn.

Bà tham gia cách mạng từ năm 1958. Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú là tác giả những tác phẩm nổi tiếng: Huệ, Đất làng, Buổi sáng, Hạt mùa sau, Chỉ còn anh và em, Hai người và những con sóng, Khoảng trời phía sau nhà cùng nhiều tác phẩm khác.

Bà từng giành giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Hạt mùa sau và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 năm 2001 cùng nhiều giải thưởng văn học khác.

Nhà thơ Tạ Hữu Yên – Tác giả ‘Anh về cùng mùa hoa’

Nhà thơ Tạ Hữu Yên đã tạ thế vào sáng 30/5/2013 tại Hà Nội. Ông sinh năm 1927 tại thôn Ðông Hội, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1977). 

Nhà thơ Tạ Hữu Yên từng kinh qua các công việc như: Làm các công tác tuyên truyền, địch vận, cán bộ, dân quân trong quân đội; Thư ký tòa soạn báo Quân khu Hữu Ngạn; Trưởng phòng phát thanh địch vận Cục Nghiên cứu; cán bộ biên tập sách văn học NXB Quân đội Nhân dân. Trước khi nghỉ hưu, ông mang quân hàm Đại tá.

Nhà thơ Tạ Hữu Yên là tác giả của nhiều tập thơ nổi tiếng: Bài thơ chính nghĩa (1951), Tiếng ca xanh (1978), Bức chân dung (1985), Nỗi nhớ ngày thường (1987), Ngọn súng biên phòng (trường ca, 1983), Sấm dậy trưa hè (trường ca, 1984), Thung lũng lửa và hoa (trường ca, 1988),  Bốn cánh hoa đồng (1996) và nhiều tác phẩm khác.

Trong SGK lớp 4 (bộ cũ), nhà thơ Tạ Hữu Yên còn được nhiều thế hệ học sinh nhớ đến bởi những câu thơ đẹp, giàu cảm xúc trong bài thơ “Anh về cùng mùa hoa”: “Trang thơ tôi đằm lại/Giữa nhà tù Sơn La/ Tô Hiệu ơi có phải/Anh về cùng mùa hoa?”. Bài thơ đã góp phần làm cho hình tượng cây đào Tô Hiệu trong nhà tù Sơn La trở thành bất tử.

Tính đến nay, nhà thơ Tạ Hữu Yên đã có gần 200 bài thơ phổ nhạc, một kỷ lục trong văn giới đối với mối lương duyên giữa thơ – nhạc. 

Ông đã nhận nhiều giải thưởng của Trung ương Đoàn, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ LĐ,TB&XH… cho các bài thơ được phổ nhạc thành bài hát được nhiều người yêu thích: Đôi dép Bác Hồ, Nói với khơi xa, Gió sông Hồng gọi nắng sông Hương (nhạc Văn An), Cảm xúc tháng Mười (nhạc Nguyễn Thành), Bài ca Thanh niên(nhạc Thanh Phúc), Bàn tay mẹ (nhạc Bùi Đình Thảo), Nhớ giọng hát Bác Hồ (nhạc Thành An), Người chiến sĩ trung kiên (nhạc Huy Du), Đất nước (nhạc Phạm Minh Tuấn)…

Ca sĩ Wanbi Tuấn Anh qua đời ở tuổi 26

 

 

Ca sĩ Wanbi Tuấn Anh đã qua đời ở tuổi 26 để lại nhiều tiếc thương cho công chúng

Sau một thời gian dài đấu tranh với căn bệnh u não hiểm nghèo, vào lúc 16h25 phút ngày 21 tháng 7, ca sĩ Wanbi Tuấn Anh đã qua đời tại nhà riêng ở hẻm 18B Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1 – TP.HCM trong vòng tay của gia đình và người thân.

Căn bệnh của Wanbi Tuấn Anh bắt đầu vào giữa năm 2009, sau khi cha anh đột ngột qua đời. Từ đó, chàng ca sĩ này cũng phát hiện ra thị lực của mình càng ngày càng suy kém. Và sau nhiều lần nỗ lực triều trị, qua Singapore chữa bệnh, Wanbi Tuấn Anh đã trở về Việt Nam, tiếp tục chống chọi với bệnh tật trước khi qua đời.

Mặc dù bị bệnh hiểm nghèo, nhưng đến mãi cuối năm 2012, Wanbi Tuấn Anh mới chia sẻ về căn bệnh của mình. Nam ca sĩ mắc bệnh u tuyến yên trong não “mà theo lời của bác sĩ là trên thế giới, 1 triệu người mới có 1 người mắc”.

Trong những tháng cuối của năm 2012, nhiều hoạt động, chương trình đã được tổ chức nhằm gây quỹ giúp đỡ Wanbi Tuấn Anh chống chọi lại căn bệnh với sự chung tay góp sức của đông đảo nghệ sĩ và người hâm mộ.

Wanbi Tuấn Anh tên thật là Nguyễn Tuấn Anh (sinh ngày 9/1/1987). Trước khi làm ca sĩ, Wanbi được biết đến với vai trò là một người mẫu ảnh của rất nhiều tờ báo teen như Hoa học trò hay Thế giới học đường… Anh cũng đã lấn sân sang điện ảnh với các bộ phim như: Áo cưới thiên đường và Hồn ma siêu quậy.

Trong sự nghiệp ca hát, anh cũng đã có nhiều bài hit như: Đôi mắt, Cho em, Vụt mất…, và anh cũng đã tự sáng tác những ca khúc hoặc viết lời Việt đang là hit trên nhiều diễn đàn như Cho em, Từng ngày qua, Dạ khúc…

Năm 2008, Wanbi phát hành album đầu tay Wanbi 0901, trong đó bài hit Đôi mắt đã tạo được thành công tốt đẹp. Ca khúc này đã đứng đầu  bảng xếp hạng Làn sóng xanh, và thành công đã đến với Wanbi khi anh cùng ca sĩ Thu Thủy vinh dự nhận được giải thưởng Nghệ sĩ triển vọng trong năm 2009 của Làn sóng xanh. Đầu năm 2009, Wanbi kết hợp với Tóc Tiên cho ra album Chuyện tình vượt thời gian. Năm 2010, anh phát hành album mang tên Thăng (#)…

Diễn viên, biên kịch Thế Sơn qua đời 6/ 8 /2013

Thế Sơn (tên đầy đủ Trần Thế Sơn) sinh ngày 2/1/1985, qua đời lúc 2h ngày 6/8/2013, do bạo bệnh. Anh tốt nghiệp Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh TP.HCM năm 2005, là diễn viên, biên kịch được đồng nghiệp đánh giá nghiêm túc, có nét riêng.

Thế Sơn kết hôn cùng nghệ sĩ Lương Duyên, lấy bút danh chung là Trần Khiết, đã viết vài kịch bản đáng nhớ như Tình nhân đến với tình nhân (ĐD: Lương Duyên), Chú kiến lạc loài, Một ngàn lẻ hai đêm…; anh cũng viết, dựng và diễn trong nhiều vở kịch trên truyền hình.

Là diễn viên, Thế Sơn có nhiều vai diễn đáng nhớ trên sân khấu như quan Nghè Trạch (vở Bàn tay của trời), Thế Hiệp (Tình nhân đến với tình nhân), Bảy Dom (Người điên trong ngôi nhà cổ), Liệt (Trần gian phải có tình yêu)…  Thế Sơn cũng là tên tuổi được khán giả yêu thích tại Kịch Bệt, nơi anh cùng vợ mình, rồi Tuyết Mai, Quốc Thịnh…  và cô chủ Thiên Kim đang gây dựng một hướng đi hiệu quả cho sân khấu kịch rất nhỏ trong quán cà phê.

Nữ đạo diễn đầu tiên của Việt Nam – NSND Bạch Diệp 

Nghệ sĩ Nhân dân Bạch Diệp, nữ đạo diễn đầu tiên của Điện ảnh Việt Nam, qua đời ở tuổi 85 sau thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư.

Nghệ sĩ nhân dân Bạch Diệp sinh năm 1929 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống nhiếp ảnh. Từ năm 6 tuổi, bà đã được đưa theo học ở trường tu viện Saint Dominique ở Hải Phòng.

 

 

 

 

Năm 1959, bà theo học lớp đạo diễn điện ảnh do Bộ Văn hóa Thông tin mở dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô. Bà tốt nghiệp năm 1963, sau đó về làm việc tại Hãng phim truyện Việt Nam.

Tác phẩm đầu tay của bà là bộ phim Trần Quốc Toản ra quân, chuyển thể từ chèo, sau được trao giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai. Những bộ phim tiếp theo của bà ra đời sau đó là Người về đồng cói (1973), Ngày lễ thánh (1976), Câu chuyện làng Dừa (1977), Người chưa biết nói (1979), Ai giận ai thương (1982), Mảnh trời riêng (1983), Trừng phạt (1984), Y Hơ Nua (1985), Cuộc chia tay không hẹn trước (1986), Huyền thoại về người mẹ (1987), Ngõ hẹp (1988), Hoa ban đỏ (1994)…

Nổi bật trong số các tác phẩm của bà là hai bộ phim Ngày lễ thánh (dựa theo cuốn tiểu thuyết Bão biển của Chu Văn) và Huyền thoại mẹ, đều do nghệ sĩ nhân dân Trà Giang đóng vai chính, đều giành được giải thưởng Bông sen bạc.

Bà về hưu năm 1992. Bà vẫn được mời làm phim truyền hình cho Đài truyền hình Việt Nam. Bà còn làm phim cho các chuyên mục Điện ảnh chiều thứ 7 và Văn nghệ Chủ nhật.

Năm 1997, bà được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Năm 2007, bà được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm Ngày lễ thánh, Huyền thoại mẹ. Bà là một trong số các nghệ sĩ Việt Nam có tên trong Bách khoa toàn thư điện ảnh Liên Xô. Năm 2008, bà là một trong 11 nghệ sĩ đương đại được tôn vinh trong ngày kỉ niêm 55 năm thành lập ngành Điện ảnh cách mạng Việt Nam.

Bà qua đời năm 2013 ở tuổi 85 tại Hà Nội, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư.

GS.TS – NSND Quang Hải, “cây đại thụ” của âm nhạc hàn lâm

GS.TS – NSND Quang Hải sau thời gian khá dài điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất (TP HCM), ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 22h45 ngày 3/11. Linh cữu quàn tại Nhà tang lễ TP HCM (25 Lê Quý Đôn, Q.3), lễ viếng từ 18h ngày 4/11, lễ động quan 14h ngày 6/11, an táng tại nghĩa trang Hội tương tế tỉnh Bến Tre (số 196 Tỉnh lộ 43, phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương).

12 năm liên tục học tập nghiên cứu nhạc giao hưởng, nhạc kịch ở Nhạc viện Leningrad ông đã tốt nghiệp chỉ huy giao hưởng nhạc kịch, tốt nghiệp nghiên cứu sinh chỉ huy dàn nhạc và lấy bằng tiến sĩ lý luận âm nhạc.

Trở về nước ông làm Giám đốc Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc vũ kịch Việt Nam tại Hà Nội (1970-1975) rồi sau đó làm Giám đốc Nhạc viện TP.HCM cho đến ngày nghỉ hưu (1975-1997).

 

 

Ông đã góp phần rất lớn vào việc đào tạo nhiều thế hệ chỉ huy dàn nhạc của Việt Nam và là người “đầu tàu” trong việc đào tạo cán bộ âm nhạc chuyên nghiệp của khu vực miền Nam và Tây Nguyên trong thời gian dài hơn 20 năm làm Giám đốc Nhạc viện TP HCM.

Bên cạnh lĩnh vực đào tạo, ông là một trong những nhà soạn nhạc đã viết nhiều tác phẩm giao hưởng ở các thể loại khác nhau.

Ông đã để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ gồm: 3 tổ khúc giao hưởng, 2 concerto cho đàn tranh và dàn nhạc giao hưởng (DNGH), 2 concerto cho piano và DNGH, Fantasie cho piano biến tấu trên chủ đề Lý tầm quân, Concerto cho đàn kìm và DNGH, Concerto viết cho sáo trúc và DNGH Thanh niên làm theo lời Bác, Song tấu cho đàn tranh & harp và DNGH, Biến tấu trên chủ đề Hoa thơm bướm lượn cho đàm kìm và DNGH, Biến tấu trên chủ đề Tam pháp nhập môn, Hòa tấu cho dàn nhạc dân tộc Ngày hội, Giao hưởng – đại hợp xướng Chuỗi ngọc biển Đông, Giao hưởng – thanh xướng kịch Ký ức Hồ Chí Minh, Concerto cho đàn t’rưng và DNGH Dốc sương mù.

Ngoài ra ông còn viết nhạc cho 36 vở kịch nói, cải lương, kịch truyền hình, phim và múa, gần 60 công trình khoa học, tiểu luận, tham luận. Ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương và đặc biệt là Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001) với 5 tác phẩm: 2 concerto cho đàn tranh và dàn nhạc giao hưởng Đất và hoa và Quê tôi giải phóng; Concerto piano số 1 cho đàn piano và dàn nhạc giao hưởng; Concerto cho đàn kìm và dàn nhạc giao hưởng Bình minh và Fantasia số 1 cho piano trên chủ đề Lý tầm xuân.

Sự ra đi của GS.TS-NSND Quang Hải là một mất mát lớn cho làng âm nhạc hàn lâm Việt Nam.

Diễn viên Tuấn Dương

Nam diễn viên mang quân hàm trung tá ghi dấu ấn với những vai hài hước qua đời rạng sáng nay 2/12, ở tuổi 61.

Lễ viếng sẽ diễn ra sáng 4/12 tại Nhà tang lễ Bệnh viện 19/8 Bộ Công An. Gia đình Tuấn Dương rất neo người, ông kết hôn muộn vào năm 2009 và không có con. Vì vậy, đoàn kịch Công an Nhân dân đang bàn bạc với gia đình để tỏ chức tang lễ chu toàn.

 

Diễn viên Tuấn Dương vừa qua đời sáng nay 2/12

 

Tuấn Dương vốn là diễn viên của Đoàn kịch Công an nhân dân, nhưng ông xuất hiện dày đặc trên sóng truyền hình với những tiểu phẩm hài và thường xuyên được các đạo diễn chọn vào các vai diễn mang chất nông dân, hoặc gã chồng… sợ vợ trong các bộ phim nổi tiếng đã phát sóng như: Đất và người, Làng ven đô, Chuyện đã qua, Lều chõng, Lập trình trái tim…

Phạm Mỹ (Tổng hợp)

CHIÊU MINH : Đờn ca tài tử Việt Nam vào ‘chặng nước rút’


Đờn ca tài tử Việt Nam vào ‘chặng nước rút’

Thứ Hai, 02/12/2013 08:04 | In trang nàyIn bài viết

 

(Thethaovanhoa.vn) – Khai mạc vào hôm nay (2/12), phiên họp của UNESCO tại Azerbaijan về các vấn đề Di sản Văn hóa Phi vật thể sẽ chính thức quyết định số phận của Đờn ca tài tử Việt Nam trong lộ trình trở thành Di sản Thế giới. Dự kiến, kết quả cuộc họp xét duyệt danh sách các di sản cần bảo vệ khẩn cấp và di sản phi vật thể có tính tiêu biểu của nhân loại, trong đó có Đờn ca tài tử, sẽ được đưa ra vào giữa tuần này.

Đờn ca tài tử được trình diễn rộng rãi tại các tỉnh phía Nam. Ảnh: TTXVN

Trong các năm 2010-2011, Viện âm nhạc VN cùng gần 20 tỉnh, thành phía Nam đã khảo sát, nghiên cứu và lập hồ sơ hoàn chỉnh để đệ trình di sản này lên UNESCO. Theo kế hoạch ban đầu, hồ sơ Đờn ca tài tử VN dự định đăng kí “ứng thí” vào năm 2011 (và nhận kết quả chính thức trong năm 2012). Tuy nhiên, vì ưu tiên cho bộ hồ sơ về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (đã được UNESCO vinh danh trong năm 2012), lộ trình xin danh hiệu Di sản Thế giới của Đờn ca tài tử lùi lại 1 năm.

 

Xuất hiện từ hơn 100 năm trước tại khu vực Nam Bộ, Đờn ca tài tử là nghệ thuật phối hợp giữa đàn và ca, thường được cư dân tại đây trình diễn một cách tự nhiên sau những giờ lao động. Từ 20 “bản tổ” ban đầu, hiện đờn ca tài tử đã có hàng trăm bản nhạc khác nhau và vẫn được sử dụng một cách cực kì rộng rãi tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống niêm luật chặt chẽ và đồ sộ, cũng như những sáng tạo rất phong phú của loại hình âm nhạc này là lý do khiến hầu hết các chuyên gia đều tin chắc vào khả năng Đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh lần này.

Chiêu Minh
Thể thao & Văn hóa

NGÂN HÀ : Nhạc sư Vĩnh Bảo Tiếng đờn đắng ngọt như đời


Nhạc sư Vĩnh Bảo

Tiếng đờn đắng ngọt như đời

Nhả chút tơ tằm lên phím nhạc
Gởi vào cung bậc ít tâm tư
Nắn dây, giọng oán từng hơi thở
Gởi với đường tơ muôn mảnh lòng
(thơ Vĩnh Bảo)

Ông ở trong một căn nhà rất nhỏ ở quận Bình Thạnh, TP.HCM, nằm lẩn khuất sau nhiều ngã rẽ. Ngôi nhà 30m2 chứa đến sáu nhân khẩu: ông bà, gia đình con trai và cháu nội. Phía trên có một cái gác, và chính cái gác nhỏ có bancông chìa ra mặt tiền hẻm đón chút nắng gió này là nơi ông sống với ký ức và những giấc mơ âm nhạc.

Đó là nơi cây đại thụ của nền âm nhạc cổ truyền dân tộc, cũng là người gần như duy nhất đang gìn giữ bí quyết làm ra những cây đàn hay nhất cho âm nhạc truyền thống Việt Nam, ở tuổi 92, vật lộn từng ngày với cái nóng và sự thiếu thốn, chật chội để một lòng nghĩ đến việc truyền bá âm nhạc dân tộc cho các học trò trên khắp thế giới.

Thưa nhạc sư, ông có sinh sống được bằng nghề dạy và chơi đàn, nhất là trong thời buổi mà nhạc dân tộc cổ truyền đang “thất thế”?

Tôi giờ vừa dạy nhạc trên internet, vừa làm nhiều thứ, kể cả dịch văn bản, tài liệu tiếng Pháp cho bạn bè, bà con cô bác cần nhờ… Giờ tôi sống đơn giản, học trò thương gửi tiền nuôi. Học trò của tôi có cả nước ngoài và trong nước, đa số là học trên mạng. Còn những ai đến đây phải là thân lắm hay học trò cũ ngày xưa, tôi mới nhận lời dạy. Vì tôi có những tâm tư riêng, về người Việt mình bây giờ không phải như ngày xưa.

Tôi chơi với ai cũng thiệt tình nên không thích gặp những người gian dối. Vì sao bây giờ tôi không nhận học trò nữa ư? Ai thích học thì tôi dạy, không phân biệt, không giấu nghề… nhưng có một học trò giỏi khó lắm. Học nhạc giống như đi tu, không phải đi đúng đường hay trật đường. Là do cái tâm mình. Chẳng hạn như cô học văn trong trường với cô giáo, nhưng khi cô ra trường có thể viết hay hơn cô giáo, đó là do tâm hồn cô đẹp, văn cô đẹp làm cho ngôn ngữ của cô đẹp, đi vào lòng người êm ái.

Giống như tiếng đờn, gần nhiều người xấu, tâm xấu, tiếng đờn xấu xa… Tất nhiên, tài năng họ có, nhưng còn kinh nghiệm với đời thì có thể không bằng tôi, với gần cả đời trải qua, tuy không thể truyền kinh nghiệm nhưng có thể khuyên bảo họ… Chịu khó nghe người đi trước, tiếp thu được là cũng có tiếng đờn đắng ngọt như đời.

Điều gì khiến ông không bao giờ từ bỏ nhạc dân tộc dù có phải trả giá bằng cả cuộc đời nhọc nhằn?

Từ lúc xa gia đình, tha hương khắp chốn, lang thang ở Sài Gòn, tôi chưa bao giờ có nhà. Lấy vợ, có nhiều bạn thương tình cho ở đậu vài ba năm… mãi đến năm 2000, hơn 80 tuổi, mới mua được căn nhà này, mấy chục cây vàng đó. Ngày trước, có thời gian tôi dạy trường nhạc, lãnh lương hàng tháng, không phải lo lắng gì, chỉ chuyên tâm vào âm nhạc. Sau đó tôi có đoạn đời thèm được sống cái kiếp cơ cực của người ta. Tại tính tôi thích lăn xả vô cuộc đời, mà chơi với thượng lưu trí thức làm sao biết giới khác họ sống thế nào. Gia đình tôi rất giàu có, nhưng tôi vẫn nghèo. Vợ tôi vô nhà bảo sanh, phải đóng 20 đồng, tôi chạy đi kiếm tiền, mượn bạn, bạn đưa luôn 25 đồng…

Hồi đó bạn bè thương mình lắm. Tôi không muốn lợi dụng ai, nên sống nghèo. Rồi tôi bỏ trường nhạc ra lái taxi, mục đích là được gia nhập thế giới của những số phận bạc phước, hẩm hiu. Trên những chuyến xe đó, tôi gặp được ngàn ngàn mảnh đời, không ai giống ai, nhưng ai cũng có ước mơ được sống yên ổn, không chiến tranh. Đó cũng là một trong những thứ người nhất, nhân văn nhất của dân tộc mình. Những mảnh đời đó đi vào âm nhạc của tôi, như những lời tự tình. Vì thế, dù cơ khổ, tôi cũng vẫn chỉ thấy mình thật sự sống với tiếng đờn, mỗi ngày.

Tôi là nhạc sĩ, sống với nội tâm nhiều hơn ngoại cảnh. Đối với tôi không có chuyện lớn, chuyện nhỏ, không có kỳ quan, chỉ có tình thương. Những huân chương với tôi chỉ là hão huyền, mộng, giả… nhưng trong đời không có khen chê, thưởng phạt thì không tiến bộ. Và chỉ có âm nhạc mới làm dịu lòng người. Những nhạc sĩ được gọi đúng với tên gọi có nhiệm vụ hâm nóng lại, làm thăng hoa cho cuộc sống của chính mình và những người chung quanh. Có khi âm thầm lau nước mắt trong lúc mọi người cười. Cũng có lúc chỉ mình mình thưởng thức được vẻ lộng lẫy của thế gian.

Tôi có khả năng nghe tiếng đờn biết tính tình người, biết cả họ sẽ có cuộc đời thế nào. Nhạc ảnh hưởng đến cuộc sống rất mạnh, nhất là sức khoẻ. Bản nhạc nghe êm dịu, trái tim ta đập đều, nhưng nếu nhịp điệu mạnh thì chân tay muốn giựt rồi. Nhạc dân tộc đưa tôi gần với thiền. Được ở trong trạng thái thiền nghĩa là thắng được chính mình, bằng lòng với cái tối thiểu mình đang có, không đòi hỏi. Vì tôi hiểu, cuộc sống chỉ đãi ngộ những người ít đòi hỏi, biết phục tùng, ngoan ngoãn, còn hồi trẻ tôi toàn làm ngược lại nên khổ.

 

Những người nhạc sĩ được gọi đúng với tên gọi có nhiệm vụ hâm nóng lại, làm thăng hoa cho cuộc sống của chính mình và những người chung quanh. Có khi âm thầm lau nước mắt trong lúc mọi người cười. Cũng có lúc chỉ mình mình thưởng thức được vẻ lộng lẫy của thế gian.

 

Ngày nay, có phải do chúng ta đã bớt đau khổ vì thảm hoạ chiến tranh, nên những Tứ đại oán, Nam ai… không còn làm nhức nhối tâm thức người Việt?

Đừng đổ thừa chiến tranh mà nhạc dân tộc bị mai một. Đâu riêng gì mình, Nhật Bổn bị chiến tranh, nhưng sau chiến tranh họ vẫn phục hồi được. Tôi nhìn thời thế bây giờ, nghĩ quẩn: một dân tộc vọng ngoại, thích nhạc Mỹ, nhạc Âu… rồi bỏ nhạc mình là tự giết chết cội rễ. Nước họ nuôi dưỡng nhân tài, tìm nhân tài, còn mình thì sợ nhân tài… Mất lần hồi là tại mình, mình chê mình, mình cho mình là dở rồi lấy của người ta đem về cho là hay. Nhạc dân tộc ngày xưa gần như là độc tôn. Hồi đó, nghe nhạc Tây như vịt nghe sấm, bà con mê nhạc dân tộc, nghe thấm thía lắm. Lần lần tụi trẻ lớn lên rồi chê, thích nhạc Tây vì nghĩ nếu biết nó thì thấy mình sang trọng, có oai… Nhỏ đã cho ăn cơm Tây, lớn biểu nó ăn cơm mắm kho, ăn sao được…

Tinh thần vọng ngoại lớn quá mà. Nhạc dân tộc dần bị lai căng, mất gốc. Những người biết chuyện muốn nói thì không ai mời họ nói, còn những người nói tầm bậy tầm bạ thì được mời lung tung, thành ra cái giả lộng hành. Thời điểm huy hoàng của nhạc dân tộc là từ năm 1930 đến 1970. Tất cả đều là tự phát, người này dạy người kia, học lẫn nhau.

Năm 1956, tôi đi dạy, cũng chỉ một nhóm người, cho nên vấn đề giáo dục âm nhạc khác nhau. Nhưng việc học nhạc dân tộc ngày xưa là truyền khẩu, truyền nối, không thành văn. Ông thầy nói, người học ghi nhớ trong đầu, rồi nhiều người nói với nhiều ngả khác nhau. Thậm chí nhiều bản nhạc cũng không nhớ do ai sáng tác. Vậy tìm hệ thống thế nào được. Có người học sao đờn vậy. Có người cũng sáng tạo… không ai phục ai, ai cũng chơi theo cách của mình, không bằng cấp… Giờ dạy kiểu đó đâu có được, phải có giáo trình, muốn vậy phải có trình độ mới soạn được. Do vậy khi tôi dạy, tôi mới sáng chế ra ký âm, nhưng một con én không thể làm nên mùa xuân, cũng vì vậy mình không có trường chính quy… Lần hồi, mai một đi thôi.

Người Việt cần có niềm tin nào vào những bí ẩn của thanh âm tự tình dân tộc? Để duy trì nó cho các thế hệ con cháu, chúng ta phải làm gì đây?

 

– Ông tên đầy đủ là Nguyễn Vĩnh Bảo, sinh năm 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, 
tỉnh Sa Đéc. 
– Từ năm 12 tuổi, ông được may mắn gặp những nhạc sư nổi tiếng và đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa 
(Trà Ôn)… tính ra với gần 200 “thầy” ở khắp ba miền Nam – Trung – Bắc. Ngoài đàn tranh là 
sở trường, ông còn sử dụng thành thạo đàn kìm, đàn cò, đàn gáo.
– Năm 1935, ông sáng chế ra dây tỳ và dây xề liêu. 
– Năm 1947, ông dạy tiếng Pháp ở trường 
tư thục Ngô Quang Vinh.
– Năm 1955, trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn được thành lập. Ông được trường mời dạy môn đàn tranh, cùng với các nhạc sư, nhạc sĩ Chín Kỳ (Nguyễn Văn Kỳ), Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm. Sau đó, ông được trường cử làm trưởng ban cổ nhạc miền Nam. 
Trong thời gian dạy tại đây, ông Vĩnh Bảo có sáng chế phương pháp ký âm bài bản nhạc truyền thống. 
– Ông là người đầu tiên cải tiến đàn tranh 
từ 16 dây ra loại có kích thước lớn với 17, 19 và 21 dây.
– Ông được trao giải thưởng Đào Tấn năm 2005, năm 2008 nhận giải Văn học nghệ thuật của bộ Văn hoá Pháp.

(THEO NHẠC SƯ VĨNH BẢO VỚI 65 NĂM ĐÀN TRANH, TRẦN QUANG HẢI)

 

Tiếng nhạc là sản phẩm của xã hội, là tiếng nói của xã hội đó, cô có ở trong cộng đồng đó, nghe mới thấy thấm thía. Nhạc dân tộc hồi đó thuần khiết. Đến khi tiếp xúc với các loại nhạc khác của thế giới, tôi biết vẫn có thể giữ nó thuần khiết, nhưng vì xu hướng thời thượng, muốn nhạc dân tộc vẫn từ từ lậm vào người nghe qua những giai điệu mới theo sự phát triển của xã hội đang ào ạt, tôi muốn làm cái gì mới hơn một chút, nhưng nghe qua, vẫn biết đó là nhạc dân tộc vì nó thật sự được viết trên nền nhạc dân tộc.

Có cách giữ không ư? Những người giữ đã chết hoặc sắp chết. Tôi đã ở đây ba mươi mấy năm, tôi cũng chẳng làm gì được cho nước nhà hết vì đâu có ai dùng mình… giờ thì hết hơi rồi. Nhưng mấy năm gần đây được bầu bạn cùng ông Trần Văn Khê hoà nhịp đờn cũng thú. Hay ngồi nhìn mấy cháu Hải, Phượng… tay nhịp nhàng, lòng êm ái, thấy cũng có tương lai. Chỉ mong các cháu ấy tiếp tục đào tạo thêm học trò, và mong bà con thuyết phục con cháu mình chịu nghe đờn tranh, tiếng sáo, các bà các cô chịu ru con bằng điệu hò, rủ nhau đi coi vọng cổ. Cứ từ từ vậy, biết đâu…

Ông đã tiếp nhận không gian âm nhạc từ môi trường gia đình, trong đó, vẻ như chính người cha – một thầy thuốc đông y mê nhạc dân tộc đã ảnh hưởng đến đam mê và sự lựa chọn của ông từ thuở thiếu thời?

Gia đình tôi có bốn anh em trai, ba gái. Ông cụ nhà tôi là địa chủ, có đất, học chữ nho, làm thơ, thuốc đông y, học võ, nuôi gà, cây kiểng và đờn rất hay: kìm, tranh, cò và hát bội mà kép hát cũng phục. Ảnh hưởng của cha nên tôi cũng mê, và mò mẫm học. Có thầy đến dạy, ông già không bằng lòng vì sợ con cái bỏ học mê đờn. Mẹ tôi thì khuyến khích. Mẹ tôi là một người đàn bà tuyệt diệu, tôi chưa thấy người mẹ nào thương con, hiền đức, ăn ở nhân hậu, rộng rãi đến vậy. Mẹ tôi còn khuyến khích, phê bình tiếng đờn của tôi. Lúc tôi lên sáu, thấy tôi ôm cây đờn dài quá với không tới, bà lẳng lặng đi tìm mua cho tôi cây đờn nhỏ, tôi mê lắm. Kể ra thì cuối cùng anh em tôi cũng bỏ, không ai làm nghề này vì không sống nổi, chỉ nghĩ đó là thú chơi. Chỉ riêng mình tôi sống vì nghề này.

Trong khi tôi đờn, tôi nghĩ nhiều chuyện lắm. Nào là chiến tranh, nhân tình thế thái, người thương, người ghét, những buồn vui đi ngang qua tiếng đờn… nhưng đờn mà cái tâm không yên thì đờn không hay được… Phải như người đứng bên dòng sông, thấy dòng đời trôi mà nhận ra phận người. Người đờn giỏi, nghĩ sao đờn vậy, càng đờn càng hưng phấn, não hoạt động, tim đập, máu chảy lưu loát như tiếng đàn… Cái gì mình biết thật sâu thì mình nói như không.

THỰC HIỆN: NGÂN HÀ
TRANH MINH HOẠ: HOÀNG TƯỜNG

 

Giáo sư Hoàng Chương:

Cách đây năm năm, giáo sư Nguyễn Thuyết Phong có trao cho tôi hồ sơ tài năng âm nhạc đề tên nhạc sư Vĩnh Bảo để giúp tôi tìm được người xứng đáng được trao giải Đào Tấn, tôi đọc một mạch. Giải thưởng được trao cho ông, tôi có dịp trò chuyện, nhận thấy ông không chỉ là một nhạc sư uyên bác, khiêm nhường mà còn có ngón đàn thần sầu.

Mỗi lần nghe ông chơi, tôi như được sống với thế giới thiêng liêng của mình. Tôi chỉ thật sự được ông tin tưởng khi vừa cách đây vài tháng, cũng chính giáo sư Phong gọi điện báo ông cụ bị xuất huyết não, đang nằm bệnh viện Chợ Rẫy, nhưng gia đình không đủ tiền để mổ. Ngay lập tức tôi gọi điện thoại khắp nơi và cuối cùng ông cụ được cứu sống nhờ bác sĩ Tuyết Nga, giám đốc bệnh viện Vũ Anh nhận lời chạy chữa cho cụ hoàn toàn miễn phí. Giờ thì mỗi lần nghĩ đến cụ, tôi lại thấy cụ như người thầy thân thương, người cha đáng kính của mình.

Nghệ sĩ Hải Phượng:

Tôi được diễn với thầy nhiều lần, mỗi lần như vậy là một lần được sống với âm nhạc dân tộc lên đến mức tuyệt đỉnh. Vì thầy là người có khả năng đi vào tiếng đàn của người khác, nương nhẹ và nâng người chơi cùng mình lên đến mức thăng hoa. Đối với người chơi đàn tài tử, đó là bản lĩnh của tài năng.

Ngoài đời thầy là người dí dỏm, thông minh. Có nhiều hôm nói chuyện với thầy mà quên cả tuổi tác của thầy. Những câu chuyện của thầy phần lớn đều mang ý nghĩa sâu sắc mà được thầy kể rất hài hước. Còn điều này nữa: thầy còn là một nghệ nhân đóng đàn tuyệt vời. Bất kỳ một người chơi nhạc dân tộc nào cũng cố gắng có cây đàn “made by Vĩnh Bảo”. Cây đàn do thầy làm ra được xem như một trong những chuẩn mực đóng dấu cho sự chuyên nghiệp của nghệ sĩ chơi đàn dân tộc.

http://sgtt.vn/Loi-song/122926/Tieng-don-dang-ngot-nhu-doi.html