Chính thức công nhận Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại


Chính thức công nhận Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại

Posted on 06/12 

Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã chính thức được UNESCO vinh danh tại Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

 

Vào hồi 15 giờ 47 phút (theo giờ Việt Nam) ngày 05/12/2013, Phiên họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan đã khẳng định, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí và chính thức công nhận Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đờn ca tài tử chính thức được công nhận là Di sản văn hóa nhân loại.

Cụ thể, Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam, Đờn ca tài tử liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hoà hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc; Việc ghi danh Đờn ca tài tử Nam Bộ vào Danh sách Đại diện có thể thúc đẩy việc trao đổi giữa các cộng đồng, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật trong phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế; Các biện pháp bảo vệ nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức sẽ được thực hiện với sự tham gia tích cực của các học viên, các chuyên gia, các tổ chức chuyên ngành và với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước; Hồ sơ đề cử được xây dựng với sự tham gia của các thành viên cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành và các chuyên gia, các thành viên cộng đồng tự nguyện đề cử và cùng cam kết bảo vệ; Di sản đã được Viện Âm nhạc Việt Nam kiểm kê từ năm 2010 với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng; năm 2012 được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Việc Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO công nhận đã cho thấy thế giới đánh giá rất cao loại hình âm nhạc “biến hoá lòng bản” ở miền Nam của Việt Nam và cũng chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới.

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, là nghệ thuật của đàn và ca, do thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm các loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm, cùng nhau chia sẻ thú vui tao nhã.

T.H (Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2013/12/06/chinh-th%E1%BB%A9c-cong-nh%E1%BA%ADn-d%E1%BB%9Dn-ca-tai-t%E1%BB%AD-nam-b%E1%BB%99-la-di-s%E1%BA%A3n-van-hoa-phi-v%E1%BA%ADt-th%E1%BB%83-d%E1%BA%A1i-di%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-nhan-lo%E1%BA%A1i/#sthash.8PzdmEEV.dpuf

http://www.tranvankhe.vn/2013/12/06/chinh-th%E1%BB%A9c-cong-nh%E1%BA%ADn-d%E1%BB%9Dn-ca-tai-t%E1%BB%AD-nam-b%E1%BB%99-la-di-s%E1%BA%A3n-van-hoa-phi-v%E1%BA%ADt-th%E1%BB%83-d%E1%BA%A1i-di%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-nhan-lo%E1%BA%A1i/

HIỀN HÒA : Đờn ca tài tử: được công nhận di sản rồi, thì sao?


Ngày 06.12.2013, 07:29 (GMT+7)
 

Đờn ca tài tử: được công nhận di sản rồi, thì sao?

SGTT.VN – Đúng như Sài Gòn Tiếp Thị dự đoán từ vài tháng trước, hồ sơ đờn ca tài tử đã được UNESCO công nhận di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại vào chiều ngày 5.12 (giờ Việt Nam). Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra ngay lúc nhiều niềm vui này lại là: được công nhận rồi, thì sao?

 

 

Khác với các di sản mà sức sống trong nhân dân đang bị thu hẹp nhanh chóng và nghiêm trọng, đờn ca tài tử (với tất cả biến tướng của nó) vẫn còn “sống khoẻ” tại miền Nam, đặc biệt Tây Nam bộ.

Năm 2011, để chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO, viện Âm nhạc khảo sát đờn ca tài tử tại 21 tỉnh/ thành Nam bộ, kết quả có 2.258 câu lạc bộ với khoảng 13.800 thành viên. Riêng TP.HCM vẫn còn đến 118 câu lạc bộ, với hơn 1.000 thành viên. So với điều tra của bộ Văn hoá – thể thao và du lịch năm 2010 với kết quả có 2.019 câu lạc bộ, 22.643 thành viên, thì số câu lạc bộ có tăng, mà thành viên thì giảm mạnh.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Bạch (từ thập niên 1980) thì: “Nhạc tài tử tách ra khỏi nhạc lễ và từ đấy hai dòng nhạc song song tồn tại: nhạc lễ chuyên về cúng tế nên ngày càng héo hon, già cỗi; nhạc tài tử đi vào quần chúng nhân dân nên không ngừng được sáng tạo và bồi bổ”. Thậm chí có vài nghiên cứu khác về lịch sử đờn ca tài tử cho thấy: “Trẻ con chưa học chữ đã học đờn, học ca gần như là chuyện… hiển nhiên”.

Về bài bản, cũng theo Nguyễn Ngọc Bạch, đờn ca tài tử có mấy khía cạnh đặc trưng: luật sáng tác đã theo các cấu trúc tương đối hoàn chỉnh về giai điệu và khúc thức; ký âm và hoà thanh, đã có bản nhạc riêng cho từng nhạc cụ, tuy sự ghi chép không khoa học lắm; nội dung thể hiện được nhiều sắc thái tình cảm đời thường; lời ca là điểm mới so với nhạc lễ. Đem thanh nhạc vào khí nhạc là một bước phát triển quan trọng của nhạc tài tử.

Nhiều nhà nghiên cứu uy tín khác đã kết luận về tính bài bản của đờn ca tài tử, nó không hề là thứ ngẫu hứng, chơi vui thuần tuý như nhiều suy luận. Ngoài 20 bản tổ có từ cuối thế kỷ 19, nhạc sư Nguyễn Văn Thịnh (ông giáo Thịnh) còn kết tập thêm 72 bài cổ nhạc Nam bộ vào giữa thế kỷ 20. Từ hơn 90 bài này mà kết hợp để phân ra thì rất linh hoạt, đa dạng.

Từ các lý do trên cho thấy tự thân đờn ca tài tử đã có sức sống trong dân và tính bài bản, vậy thì sau khi được công nhận, liệu diện mạo của nó có thay đổi? Hay hỏi cụ thể hơn, nó có giúp gia tăng thành viên tài tử và chuẩn hoá hơn về bài bản, học thuật? Chứ chỉ đơn thuần tìm kiếm một danh hiệu quốc tế, mà thực tế không có nhiều thay đổi, thì cũng như bao di sản khác, đường đi vào bảo tàng hoặc “nghĩa địa” văn hoá chỉ là gần hoặc xa mà thôi.

Bởi nói như nghệ nhân dân gian Bạch Huệ lúc sinh thời thì dù ngày càng có nhiều liên hoan hay festival về đờn ca tài tử (cuối năm 2011 có đến bốn liên hoan lớn) cũng khó thay đổi thực tế: “Việc đưa đờn ca tài tử thành di sản phi vật thể để mọi người quan tâm hơn và có phương hướng bảo vệ là rất tốt. Tuy nhiên cần phải lựa chọn cho kỹ đâu mới là đúng gốc tài tử. Hiện nay các câu lạc bộ đờn ca tài tử rất nhiều nhưng chỉ toàn chơi bài bản cải lương, nghệ nhân cũng không ít nhưng mấy ai thuộc được 20 bài tổ, phong cách chơi cũng đã biến tướng nhiều, không còn giữ được đúng chất tài tử nữa”.

HIỀN HOÀ

http://sgtt.vn/Van-hoa/185773/Don-ca-tai-tu-duoc-cong-nhan-di-san-roi-thi-sao.html

 

 
Đờn ca tài tử Nam bộ xưa. Ảnh: tư liệu

Bạc Liêu với niềm vui Đờn ca tài tử trở thành di sản văn hóa thế giới


Bạc Liêu với niềm vui Đờn ca tài tử trở thành di sản văn hóa thế giới 
21:59 | 08/12/2013
 
Vào hồi 12 giờ 47 phút, giờ địa phương (tức 15 giờ 47 phút ngày 5/12, giờ Việt Nam), tại phiên họp Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hòa Azerbaijan, nghệ thuật Đờn ca tài tử (ĐCTT) Nam bộ của Việt Nam đã chính thức được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
 

 Đờn ca tài tử tại khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu.

Như vậy, sớm hơn dự định ban đầu, ĐCTT đã chính thức được công bố là di sản văn hóa thế giới trong niềm vui vỡ òa, không chỉ đối với người Việt Nam trực tiếp tham dự phiên họp mà của triệu triệu dân Việt Nam. Chúng ta có thêm một di sản văn hóa tầm thế giới, ĐCTT đứng vị trí thứ 8 sau 7 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận trước đó (gồm: nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên, dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh, ca trù, hội Gióng, hát xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương). 

Từ dân dã bước ra… thế giới 

ĐCTT ra đời muộn so với một số thể loại âm nhạc cổ truyền khác của Việt Nam, nhưng sức sống, sự lan tỏa và tầm ảnh hưởng đối với công chúng rất mạnh mẽ! Trong hồ sơ trình UNESCO, ĐCTT được xác định là loại hình âm nhạc vừa bình dân, vừa bác học, được ra đời ở miền Nam Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ 19, sáng tạo trên cơ sở nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung và miền Nam. Đối với người dân Việt Nam, đặc biệt là địa bàn Nam bộ, ĐCTT có nguồn gốc từ đâu và có tự khi nào, có thể nhiều người chưa biết nhưng trong tâm thức của họ, ĐCTT đã trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu. Không cần sân khấu, micro; chơi ĐCTT cũng bình dân như chính bản chất của nó. Lấy chiếc chiếu trải dưới tán cây, bày sòng ca đờn giữa nhà, chỉ cần cây đờn kìm, chiếc song lang, điệu nghệ hơn thì đờn cò, đờn tranh… thế là có một buổi tiệc đờn ca ngọt ngào! Người lớn chơi rồi thì con cháu trong nhà cũng mê… lây, cho nên người biết đờn ca không có giới, tuổi cụ thể. Anh nông dân làm lụng trên đồng mượn lời ca, điệu đờn để quên đi vất vả, thì anh cán bộ công tác ở cơ quan Nhà nước cũng biết đờn ca thư giãn tinh thần, cho nên ĐCTT không kén người chơi. Từ những cuộc giao lưu mang tính chất “cây nhà lá vườn”, ĐCTT giờ hiên ngang bước lên sân khấu trong các cuộc so tài, tiếng lành đồn xa, rồi ĐCTT bước vào không gian phục vụ ở các địa chỉ du lịch, đặc biệt là ở miền Tây. Du khách quốc tế nghe ĐCTT không rành câu chữ, nhưng bị mê hoặc bởi điệu đờn và giọng ca ngọt ngào hòa lẫn với thiên nhiên hữu tình! Cho nên một lễ hội văn hóa dân gian quốc tế tổ chức tại Mỹ (năm 2007), ĐCTT đã được mời trình diễn trên sân khấu này. Vinh dự là giới tài tử Bạc Liêu đã đại diện Việt Nam “đem chuông đi đánh xứ người”…

Phải chăng đó là con đường để ĐCTT thẳng tiến, từ trong dân dã bước ra thế giới một cách tự hào. ĐCTT là một di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Nam bộ vinh dự trở thành di sản văn hóa tầm thế giới!

Bạc Liêu… hơn cả niềm vui 

Hòa cùng niềm vui chung của Việt Nam, đặc biệt là 21 tỉnh thành Nam bộ tham gia hoàn thiện hồ sơ khoa học về ĐCTT trình UNESCO, Bạc Liêu còn có một niềm vui riêng, có thể nói hơn cả niềm vui khi đang sửa soạn chào Festival ĐCTT quốc gia lần I – Bạc Liêu 2014 sắp cận kề!

Trong các hoạt động diễn ra tại Festival, lễ đón bằng công nhận ĐCTT là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại của UNESCO trong đêm khai mạc là phần long trọng nhất. Tuy nhiên, qua 9 lần dự thảo kế hoạch, phần long trọng này vẫn chỉ là… dự kiến (và chắc chắn là nó đặt Ban chỉ đạo, Ban tổ chức vào một tâm trạng hồi hộp chờ đợi kết quả bình chọn của UNESCO). Giờ đây, với tin vui chung này, chắc hẳn không còn là dự kiến: Bạc Liêu sẽ đại diện cho Việt Nam nhận niềm vinh dự ấy tại một Festival tầm cỡ quốc gia lần đầu tiên tổ chức tại địa phương!

Giới nghệ nhân tài tử Bạc Liêu đón nhận tin vui này trong niềm vui và xúc động. Anh Tư Loan, một nghệ nhân đờn “độc” của Bạc Liêu, người từng tham gia đoàn nghệ nhân ĐCTT Việt Nam biểu diễn ở Hoa Kỳ năm 2007, thổ lộ: “Vui và tự hào lắm! Một bộ môn nghệ thuật từ dân dã trở thành di sản của thế giới, giới nghệ nhân chúng tôi mừng vui, xúc động và nhận thức rằng từ bây giờ mình sẽ đóng vai trò sứ giả trong việc gìn giữ và quảng bá ĐCTT nhiều hơn, rộng hơn”. Nghệ sĩ Trần Khánh, người tâm huyết với nghệ thuật ĐCTT đã bỏ nhiều công sức, thời gian soạn giáo án và in thành sách về âm nhạc truyền thống Nam bộ – ĐCTT cũng xúc động bày tỏ: “Đó là niềm vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm của chúng ta trước việc gìn giữ và phát huy giá trị của dòng nhạc truyền thống đã trở thành di sản của thế giới!”.

ĐCTT Việt Nam trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tin vui này không phải trong mơ, trong niềm khát khao chờ đợi của giới mộ điệu nữa mà đã trở thành hiện thực! Nam bộ đã sở hữu một di sản văn hóa thế giới đầu tiên. Và Bạc Liêu không chỉ vui mà còn nôn nao hơn, hồ hởi hơn, tự đề cao trách nhiệm mình hơn trước một festival tôn vinh “người em” mới trong danh sách di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được thế giới công nhận!

 

 Theo VTVNews, tại phiên họp lần này, UNESCO đã công nhận tổng cộng 26 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 2 di sản văn hóa cần được bảo vệ khẩn cấp. 24/24 thành viên Hội đồng di sản thế giới đã bỏ phiếu đồng ý hồ sơ của Việt Nam. Theo đánh giá của UNESCO, nghệ thuật ĐCTT Nam bộ đã đáp ứng được các tiêu chí đặt ra (được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam, ĐCTT liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc), khẳng định sức sống của văn hóa truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hóa thế giới.

Các từ khóa theo tin:
(Theo Báo Bạc Liêu)

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340682&cn_id=624771

Đờn ca tài tử – nhạc “thính phòng” của Nam Bộ


08:18-09/12/2013 
Đờn ca tài tử – nhạc “thính phòng” của Nam Bộ
 

Biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ.
(Ảnh: Duy Khương/TTXVN)
Chiều 5/12, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đờn ca tài tử Nam Bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam, đã hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian.

Đây là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, là nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động.

Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia trình diễn. Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới mặc các trang phục biểu diễn.

Những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ Đờn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu.

Đối với hình thức âm nhạc, vai trò của các ca sỹ và nhạc sỹ đều bình đẳng. Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sỹ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.

Đờn ca tài tử là thể loại nhạc thính phòng đặc thù của miền Nam, cũng giống như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung.

Loại hình âm nhạc này không chỉ được trình diễn ở các lễ hội mà còn được trình diễn sau khi thu hoạch mùa màng. Người ta có thể biểu diễn chơi dưới bóng mát của cây, trên con thuyền trên sông hoặc trong đêm trăng sáng.

Theo các bậc thầy trong nghề, Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất phát từ những nhạc sỹ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế.

Trên đường đi, họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó Ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng.

Có người nói, khi vào đến miền Nam, Đờn ca tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới.

Những con người tháo vát, đầy sáng tạo tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của Đờn ca tài tử thường thích những điệu có phảng phất nỗi u buồn.

Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu thay đổi tùy lúc, tùy người.

Thật ra “tài tử” có nghĩa là người có tài (“dập dìu tài tử giai nhân,” “Tài tử giai nhân tế ngộ nan”). Chữ “tài tử” còn để chỉ việc không dùng nghệ thuật của mình làm kế sinh nhai. Người Đờn ca tài tử khi nào thích thì cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hoà đàn để vui chơi và để cho người mộ điệu thưởng thức.

Trước đây cũng như bây giờ, người đàn tài tử “chính thống” hễ vui thì đàn chơi còn không hứng thì thôi, khó ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ.

Tuy nhiên, không phải vì vậy mà trình độ nghệ thuật của đàn tài tử lại thấp. Muốn trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu, học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và luôn tạo cho mình một phong cách riêng.

Nhạc khí dùng trong đờn ca tài tử là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh. Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng thổ pha tiếng kim, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò). Đôi khi có ống sáo ngang hay ống tiêu thổi dọc. Và đặc biệt là song lang (nghĩa là hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp.

Ngoài ra còn có các nhạc khí khác như đờn sến, đờn gáo, đờn độc huyền, đờn tỳ bà nhưng ít thông dụng. Từ khoảng năm 1930, có thêm những nhạc khí phương Tây như violon, mandoline khoét phím, guitare Tây Ban Nha được chỉnh lại, thường gọi là guitare phím lõm.

Khác với Ca trù miền Bắc hay Ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đàn, trong Đờn ca tài tử dàn nhạc lại được chú ý hơn tiếng ca.

Người nghe chú trọng vào chữ đàn nhấn có gân, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề… ngọt ngào uyển chuyển; cách đàn câu thòng, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng.

Tiếng ca của Đờn ca tài tử cũng không kém phần quan trọng.

Nghệ thuật trong Đờn ca tài tử là khi “rao” khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung luôn có nét nhạc cố định, câu “rao” theo truyền thống miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu người học đàn theo cách của thầy, nhưng khi đạt đến mức nghệ thuật khá cao thì được phép sáng tạo những câu rao của riêng mình.

Đặc biệt cách phát triển và vận hành giai điệu trong Đờn ca tài tử tuân theo những nguyên tắc của dịch lý, một triết lý sống trong xã hội người Việt nói riêng và người vùng Đông Á nói chung.

Trong đàn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tuỳ trường phái hay người đàn, nhưng lòng bản không thể thay đổi, do vậy dù cho người đàn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại thì người nghe vẫn nhận ra bản đàn.

Đờn ca tài tử có 20 bài tổ, tuy không phải người Đờn ca tài tử nào cũng thuộc đầy đủ hay khi hoà đàn cũng không bắt buộc phải chơi hết 20 bài, nhưng các nghệ sỹ đều phải biết tên các bài đó, bao gồm 6 bài Bắc, 3 bài Nam, 4 bài Oán và 7 bài lớn (có khi gọi là 7 bài hơi nhạc hoặc 7 bài cò).

Ngoài ra còn có rất nhiều bài bản khác được dùng, trong đó Vọng cổ 32 nhịp là thông dụng nhất. Trong một chương trình hòa nhạc Đờn ca tài tử lúc nào cũng có bài Vọng cổ.

Nhắc đến Đờn ca tài tử người ta nghĩ ngay đến xứ miệt vườn, đến vùng đất phương Nam. Đây là thể loại “thính phòng” đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung.

Với người dân Nam bộ, Đờn ca tài tử đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu đời.

Đờn ca tài tử thực sự là một hiện tượng lớn của âm nhạc Việt Nam trong thời cận-hiện đại. Ở đó không chỉ có sự kế thừa, gìn giữ trong tinh thần tự tin, tự hào với di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền của dân tộc, mà còn có sự tiếp nối và phát triển với sức năng động lớn lao – không ngừng đổi mới, tiếp thu và dân tộc hóa những yếu tố mới để thích ứng với thời đại.

Đó không chỉ là một sản phẩm của văn hóa và con người Việt Nam, mà còn là một mẫu mực điển hình của sức sống Việt Nam trong thời cận-hiện đại, một tấm gương sáng cho muôn đời sau, không chỉ với nhạc cổ truyền mà cả giới nhạc mới, trong việc kế thừa, bảo tồn và phát triển để thích ứng với thời đại mới.

Đờn ca tài tử Nam Bộ được vinh danh là nhờ công sức bền bỉ của nhạc sư Trần Văn Khê, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, cố nghệ nhân dân gian Bạch Huệ, ông Trần Quang Hải… và lực lượng nghệ nhân, tài tử đờn ca của 19 tỉnh thành Nam Bộ liên quan…

Nguồn:
http://www.vietnamplus.vn/don-ca-tai-tu-the-loai-thinh-phong-dac-thu-cua-nam-bo/233718.vnp

 

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=7035&CategoryID=41

Đài BBC , UK : Đờn ca tài tử trở thành di sản nhân loại


Đờn ca tài tử trở thành di sản nhân loại

Cập nhật: 11:26 GMT – thứ bảy, 7 tháng 12, 2013
‘Tứ tuyệt’ trong đờn ca tài tử: Đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu

 

Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vừa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Quyết định trên được đưa ra tại phiên họp ngày 5/12 của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra ở Baku, Azerbaijan, từ ngày 2/12-7/12, Thông tấn xã Việt Nam đưa tin.

Đại diện của UNESCO được các báo Việt Nam dẫn lời sau lễ vinh danh nói tổ chức này “hy vọng Việt Nam sẽ có các biện pháp bảo vệ nhằm hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức”.

Đờn ca tài tử của Việt Nam là một trong số 14 nét văn hóa từ các nước trên thế giới vừa được UNESCO bổ sung vào danh sách di sản phi vật thể của nhân loại.

Hồ sơ đờn ca tài tử Nam Bộ đã được phía Việt Nam tổng hợp hồi tháng 8 năm 2010 và sau đó trình lên UNESCO vào tháng 5 năm 2011.

Năm ngoái, đờn ca tài tử cũng được Bộ Văn hóa Việt Nam đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia.

Đờn ca tài tử có tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 19

 

Di sản thứ 8

Xuất nguồn từ miền Nam Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, loại hình nghệ thuật này là di sản phi vật thể thứ 8 của Việt Nam được UNESCO vinh danh.

Những loại nhạc cụ thường sử dụng trong đờn ca tài tử thường bao gồm đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu, hay còn gọi là tử tuyệt.

Bảy di sản khác của Việt Nam cũng đã được công nhận:

  • Nhã nhạc cung đình Huế – 2003
  • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên – 2005
  • Dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh – 2009
  • Ca trù – 2009
  • Lễ hội Thánh Gióng – 2010
  • Hát xoan – 2011
  • Lễ hội Hùng Vương – 2012

Bên cạnh đó, Việt Nam hiện cũng có bảy di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới:

  • Vịnh Hạ Long- 1994
  • Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – 2003
  • Quần thể di tích Cố đô Huế – 1993
  • Phố Cổ Hội An – 1999
  • Thánh địa Mỹ Sơn – 1999
  • Khu di tích Hoành thành Thăng Long – 2010
  • Thành nhà Hồ – 2011

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/12/131207_unesco_folk_music_vietnam.shtml

THANH HIỆP : Nghệ sĩ vui vì “Đờn ca tài tử Nam Bộ” thành di sản văn hóa của thế giới


Nghệ sĩ vui vì “Đờn ca tài tử Nam Bộ” thành di sản văn hóa của thế giới

Thứ Sáu, 06/12/2013 11:11

(NLĐO) – Thông tin “Đờn ca tài tử Nam Bộ” của Việt Nam đã chính thức được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể” đại diện của nhân loại vào 12 giờ 47 phút (giờ địa phương) ngày 5-12 đã đem lại niềm vui cho đông đảo nghệ sĩ trong và ngoài nước.

 

 

Lê Tứ (bìa trái) và đoàn cán bộ, nghệ sĩ có mặt tại TP Baku

Nhạc sĩ Kiều Tấn – Trưởng Ban Văn nghệ HTV có mặt trong chuyến đi của đoàn nghệ sĩ VN tham dự Ủy ban Liên chính phủ về Bảo vệ Di sản Văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan cho biết: “Nghe chủ tọa xướng tên nghệ thuật Đờn ca tài tử của Việt Nam được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tôi vô cùng xúc động! Đây là một tin vui cho những người yêu mến văn hoá Việt Nam nói chung và Đờn ca tài tử Nam Bộ nói riêng”. 

 

 

Nhạc sĩ Kiều Tấn (giữa) tại cuộc họp được tổ chức tại Baku

Nghệ sĩ Lê Tứ (Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang) có mặt trong chuyến đi này đã tâm sự: “Tôi nhớ đến cô Nghệ nhân nhân dân Bạch Huệ, người khao khát tin vui này biêt mấy nhưng cô đã ra đi cách đây không lâu. Giữa cái giá lạnh của TP Baku, tôi khấn nguyện vong linh cô, cùng về chung vui với niềm hạnh phúc của những nghệ sĩ cả đời gắn liền với đờn ca tài tử”.
 
Ở trong nước, GS-TS Trần Văn Khê khi biết được tin vui, ông đã chia sẻ: “Tôi cho rằng tất nhiên Đờn ca tài tử phải đạt được danh hiệu cao quý này. Bởi, tôi đã nghiên cứu thể loại này từ khi lúc trẻ, niềm đam mê được hun đúc từ thời các cậu, các cô của tôi trong gia tộc. Chính niềm tự hào của nhiều thế hệ mà tôi hiểu rằng Đờn ca tài tử Nam Bộ là một loại nhạc vừa bình dân, nhưng vừa mang tính bác học. Đây còn là nghệ thuật đỉnh cao trong các loại nhạc cụ thuộc họ đàn dây của người Việt…”.

 

 

NSND Ngọc Giàu và các thành viên của CLB sân khấu cải lương – đờn ca tài tử Trẻ quận 10 – TPHCM

Theo kế hoạch ban đầu, hồ sơ Đờn ca tài tử Việt Nam dự định đăng ký vào danh sách xét duyệt năm 2012. Tuy nhiên, do ưu tiên hồ sơ về “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” nên hồ sơ về Đờn ca tài tử phải lùi lại đến bây giờ.

NSND Ngọc Giàu phấn khởi nói: “Về các tỉnh ĐBSCL mới thấy, bộ môn này đã lan tỏa rộng, nhà nhà đều biết chơi, hễ có đám giỗ, đám cưới, đám hỏi… phải có đờn ca tài tử. Có những đêm trăng sau mùa gặt, trên chiếc chiếu trước sân nhà, bà con vui mừng vụ mùa bội thu đã thể hiện qua những bản đờn ca tài tử. Có thể nói, hiện nay, bộ môn này có sức sống mạnh mẽ, có số lượng khán giả đông nhất, có số lượng người thực hành nhiều nhất trong tất cả các thể loại cổ nhạc Việt Nam. Tôi đi chấm thi các mùa giải, mỗi năm mỗi phát hiện thêm nhiều giọng ca, ngón đờn trẻ, lòng hạnh phúc biết bao! Bản thân tôi cũng từ đờn ca tài tử mà ra, từ khi còn là cô bé Ngọc Giàu ở làng quê Thủ Thiêm, mỗi lần nhà láng giềng có đám tiệc, ba tôi dẫn tôi đến ca, để rồi được các ông bà bầu chú ý, mời theo nghề hát cho đến ngày nay”.

 

 

NSƯT Diệu Hiền và soạn giả NSND Viễn Châu

NSND soạn giả Viễn Châu nói vui nhưng vẫn còn mang một nỗi lo, đó là giữ được truyền thống thưởng thức và biểu diễn loại nhạc này, không để nó bị biến tướng. Ông cha ta đã duy trì bộ môn này trong một không gian rất văn hóa, nó bền vững cả trăm năm nay. Hơn thế nữa, Đờn ca tài tử còn là cơ sở hình thành một loại hình sân khấu cuối cùng của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, đó là sân khấu cải lương, do vậy không thể để nó bị mai một. Nói cách khác, Đờn ca tài tử là cái nôi đào tạo ra những “anh tài” trên sân khấu cải lương. Những loại hình khác có thể bị mai một, biến mất hoặc nguy cơ thất truyền, riêng đờn ca tài tử thì không bởi số lượng người tham gia học đờn, học ca ở Nam Bộ rất lớn.
                                                                                          
Nghệ sĩ Phượng Liên từ Mỹ bày tỏ niềm vui: “Tôi xuất thân cũng từ đờn ca tài tử ở Cần Thơ, khi còn bé đã được học ca theo đờn, do các chú, các bác ở trong làng quê dạy. Chính vì tính ngẫu hứng củaĐờn ca tài tử mà bản thân mỗi nghệ sĩ khi tham gia đã chịu nhiều áp lực và thử thách. Điều ấy khiến cho mỗi nghệ sĩ khi đi theo con đường chuyên nghiệp phải cố gắng tìm hiểu và nắm bắt được qui luật âm điệu của nó. Tức là cùng một bản nhạc người ta có thể chơi hàng nghìn lần mà chằng lần nào giống lần nào. Đó là điều rất đặc biệt mà tôi đã học từ cố nhạc sĩ Văn Vĩ, Năm Cơ, Chín Trích…

 

 

NSƯT Thanh Thanh Tâm và Linh Tâm

NSƯT Thanh Thanh Tâm cho biết thêm: “Gắn bó với sàn diễn cải lương, tôi hiểu thêm về nguyên tắc tạo nên thành tựu của bộ môn này, chính là đề cao tính ngẫu hứng trên cơ sở của đờn ca tài tử. Đối với loại nhạc này, người ta chỉ cần nghe qua là biết nghệ sĩ đó thuộc lò đào tạo của danh cầm nào. Do vậy, trong thế hệ nghệ sĩ vàng của sân khấu cải lương, chỉ cần nghe ca đã dễ dàng nhận biết làn hơi của nghệ sĩ nào, những danh ca một thời: Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Sáu Thoàng, Cô Ba Trà Vinh, Cô Năm Cần Thơ…cho đến các tài danh có số đông công chúng yêu thích nhờ vào làn hơi độc đáo mà họ được đào luyện từ đờn ca tài tử như: Thanh Hương, Tấn Tài, Minh Vương, Lệ Thủy, Minh Phụng, Diệu Hiền, Thanh Thanh Hoa, Kiều Hoa, Phượng Liên, Ngọc Hương, Thanh Nguyệt…”.

Những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ đờn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu. Để trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thực hành trong một thời gian dài.
                                                      

 

Thanh Hiệp (ảnh do NS cung cấp)