HOÀNG LAN CHI , NGUYỄN : Hà Thanh , tiếng hát của miền Thần Kinh đã vĩnh viễn ra đi ngày 2.1.2014


Hà Thanh Tiếng Hát của Miền Thần Kinh đã vĩnh viễn ra đi ngày 2-1-2014

Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông báo tin cho biết:
Tiếng hát của miền Thần kinh: 
Ca Sĩ Hà Thanh đã vĩnh viễn ra đi ngày 2-1-2014
 
Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh ở Liễu Cốc Hạ, huyện Hương TràThừa Thiên Huế. Bà là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có mười anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích bà khi nhận thấy cô em mình có biệt tài ca hát. Là một người theo đạo Phật, ngày nhỏ Lục Hà theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh trên Đài phát thanh Huế.
Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà khi đó mới 16 tuổi tham dự. Lục Hà đạt giải nhất với sáu nhạc phẩm rất khó, trong đó có bài Dòng sông xanh, và tên bài hát đó đã trở thành nghệ danh của cô: Hà Thanh. Hà Thanh tiếp tục học và có đi hát cho Đài phát thanh Huế.
Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Bà trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó. Vào giữa thập niên 1960, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Bà rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như Hàng hàng lớp lớpChiều mưa biên giới
Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, có nhiều người yêu thích Hà Thanh. Nhà thơ Bùi Giáng từng làm nhiều thơ và viết sách ca ngợi nhan sắc của bà. Nhà văn Mai Thảo là một người rất si mê Hà Thanh, ông đã từng từ Sài Gòn ra Huế để xin cưới Hà Thanh. Năm 1970, Hà Thanh kết hôn với Trung tá Bùi Thế Dung của Binh chủng Thiết Giáp. Năm 1972, hai người có một con gái là Kim Huyền.
Sau năm 1975, Bùi Thế Dung phải đi cải tạo. Năm 1984 Hà Thanh cùng con gái được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ. Năm 1990 vợ chồng Hà Thanh sum họp nhưng tan vỡ hai năm sau đó. Tại hải ngoại, Hà Thanh không trình diễn thường xuyên và có ghi âm một số CD.
Ca sĩ Hà Thanh mất ngày 2 tháng 1 năm 2014 tại BostonHoa Kỳ
 
 
HÀ THANH & HOA XUÂN CỦA PHẠM DUY
HÀ THANH & ĐÊM TÀN BẾN NGỰ CỦA DƯƠNG THIỆU TƯỚC
HÀ THANH & TÀ ÁO TÍM CỦA HOÀNG NGUYÊN
Chiều Mưa Biên Giới

Ca Sĩ Hà Thanh và Ns Nguyễn Văn Đông
Hoàng Lan Chi Biên Sọan

Hà Thanh, con chim hoạ mi đất thần kinh, người được xem như gắn liền với một số nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông, ông tâm sự
Lần đầu tiên, tôi được gập cô Hà Thanh là vào năm 1963 tại Đài Phát Thanh Sàigòn ở số 3 đường Phan Đình Phùng ngày xưa, bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiễu. Khi ấy, tôi là Trưởng Ban TIẾNG THỜI GIAN của Đài Sàigòn với các ca sĩ như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc v.v. Ngày đó cô Hà Thanh từ Huế vào Sàigòn thăm người chị gái lập gia đình với một vị Đại tá đang làm việc ở Sàigòn. Chính nhạc sĩ Mạnh Phát cho tôi biết về cô Hà Thanh nên tôi nhờ Mạnh Phát liên lạc mời cô Hà Thanh đến hát với Ban Tiếng Thời Gian. Đây là lần đầu tiên tôi được tận tai nghe tiếng hát Hà Thanh, hát nhạc sống và hát thật ngoài đời với ban nhạc của tôi, không nghe qua làn sóng phát thanh hay qua băng đĩa nhạc. Điều này giúp cho tôi có cơ sở nhận định chính xác về giọng hát Hà Thanh. Tôi hiễu ngay đây là giọng ca thiên phú, kỹ thuật tốt, làn hơi diễm cãm tuyệt đẹp, là một vì sao trong những vì sao hiếm hoi ở đĩnh cao nghệ thuật nhưng chưa có cơ hội phát tiết hết hào quang của mình. Ngay sau đó, tôi có mời Hà Thanh thâu thanh cho Hãng đĩa Continental. Nếu tôi nhớ không lầm thì bản nhạc đầu tiên tôi trao cho Hà Thanh là bài VỀ MÁI NHÀ XƯA do tôi sáng tác. Lần đó, cô Hà Thanh hát thật tốt, toàn ban nhạc và Ban Giám Đốc Hãng Continental rất hài lòng, khen ngợi. Sau ngày đó, cô Hà Thanh từ giã trở về lại Huế, trở về lại với Cố đô trầm mặc, tĩnh lặng, không sôi nổi như Thủ Đô Saigòn, là cái nôi của âm nhạc thời bấy giờ.

Ns Nguyễn Văn Đông, 1975
Sau khi Hà Thanh trở về Huế, tôi có nhiều suy tư về giọng hát đặc biệt này. Tôi ví von, cho đây là vì sao còn bị che khuất, chưa toả hết ánh hào quang, vì chưa có hoàn cảnh thuận lợi để đăng quang, nếu phó mặc cho thời gian, cho định mệnh, có thễ một ngày kia sẽ hối tiếc. Vì vậy tôi đem việc này ra bàn với Ban Giám Đốc Hãng đĩa Continental để mời cô Hà Thanh vào Sàigòn cộng tác. Chính tôi viết thư mời cô Hà Thanh vào Sàigòn với những lý lẽ rất thuyết phục, rất văn nghệ, rất chân tình. Và cô Hà Thanh đã vào Sàigòn sau khi đã tranh đấu gay go với gia đình bố mẹ, vốn giữ nề nếp cỗ xưa của con người xứ Huế. Ngày đó Hà Thanh vào Sàigòn, hoà nhập vào đời sống người Sàigòn, vào nhịp đập âm nhạc Sàigòn, vốn đứng đầu văn nghệ cả nước. Hà Thanh đi thâu thanh cho Đài Sàigòn, Đài Quân Đội và nhận được lời mời tới tấp của các Hãng đĩa băng nhạc như Sóng nhạc, Việt Nam, Tân Thanh, Tứ Hải và hầu hết các Trung Tâm ở Thủ Đô Sàigòn, chứ không phải chỉ riêng cho Hãng dĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Ngày đó, tiếng hót của con chim Sơn Ca đất Thần Kinh đã được vang thật xa, đi vào trái tim của hàng triệu người yêu mến tiếng hát Hà Thanh.
Cô Hà Thanh hát hầu hết các tác phẩm của tôi. Bài nào tôi cũng thích, cũng vừa ý, có lẽ vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện viết bài đặc biệt cho riêng cô. Tôi nhớ lại một chuỗi những sáng tác trong thời binh lửa chiến tranh như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính Chiến,Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt vân vân, đều rất hợp với tiếng hát Hà Thanh và cô hát rất thành công. Tôi cho rằng Hà Thanh không chỉ hát mà còn sáng tạo trong khi hát. Hà Thanh đã tạo thêm những nốt luyến láy rất truyền cảm, rất mỹ thuật làm cho bài hát của tôi thêm thăng hoa, trong giai điệu cũng như trong lời ca. Tôi cho rằng khi hát cô Hà Thanh đã sống và cùng đồng điệu sẻ chia với tác gỉa khi trình bày một bản nhạc có tầm vóc nghệ thuật.
Tôi cho rằng Hà Thanh có giọng hát thiên phú, cô hát rất thoải mái dễ dàng, không cầu kỳ, không cường điệu, không gò bó nhưng nó cuốn hút ta đi trong cái bềnh bồng không gò ép đó. Tôi cám ơn tiếng hát của Hà Thanh đã mang lại cho các bài hát của tôi thêm màu sắc, thêm thi vị, bay bổng. Trước khi đến với Hà Thanh, tôi cũng rất ngưởng mộ tiếng hát của cô Thái Thanh, Lệ Thanh, Khánh Ngọc và nhiều người khác đã gieo khắp phương trời tiếng lòng của tôi, cũng như về sau này có thêm các cô học trò như Thanh Tuyền, Giao Linh đã giúp cho ông Thầy truyền tải đến trái tim người yêu nhạc. Nhưng đặc biệt, tiếng hát Hà Thanh đã để lại trong tôi nhiều kỹ niệm tốt đẹp, bền bỉ tuy thời gian ngắn ngủi kể từ khi cô bỏ đi lấy chồng để tôi độc hành trên đường nghệ thuật. Sau biến cố 1975, tôi không còn dịp hợp tác với cô Hà Thanh như trước đây. Nhưng thỉnh thoảng tôi được nghe cô hát một sáng tác mới của tôi ở hải ngoại, tôi vẫn cảm thấy tiếng của cô vẫn đậm đà phong cách ngày xưa, vẫn một Hà Thanh diễn cảm, sang trọng, sáng tạo trong khi hát, mặc dù thời gian chia cách đã 40 năm qua.
==========================================
Type Vietnamese anywhere !http://www.angeltech.us/viet-anywhere/

Hoa Xuân – Hà Thanh

Dem Tan Ben Ngu performed by Ha Thanh

Ta Ao Tim performed by Ha Thanh

Hà Thanh – Giọt Mưa Thu — Nhạc: Đặng Thế Phong — PPS: Liên Như

TƯỞNG NIỆM DANH CA HÀ THANH – Biên soạn: Phan Anh Dũng, USA


TƯỞNG NIỆM DANH CA HÀ THANH – Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

              *** Trang đang được thực hiện và sẽ tiếp tục bổ túc với tài liệu nhận được ***

Con thứ của ông bà Trần kiêm Phổ
Sinh ngày 25 tháng 7, 1937 – Huế
Mất ngày 1 tháng 1, 2014 – lúc 7:30 tối, giờ Boston, MA – USA
Pháp danh: Tâm Tú ( do Đức tăng Thống Thích Tịnh Khiết đặt )
Sau này Thầy Nhất Hạnh gọi là Ka Lăng Tần Già

Lễ an táng : January 12, 2014
Chùa Việt Nam ( Vietnamese Pagoda)
68 Bradeen St
Roslinsdale, MA 02131
ĐT: 617-325-9521

Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho hương linh Bà Trần Thị Lục Hà, pháp danh Tâm Tú, sớm được siêu sinh tịnh độ.

Đến tuổi này không đau mới lạ,
Chuyện ốm đau là chuyện bình thường.
Chỉ cầu xin Phật Độ trời thương,
Đau nhè nhẹ tai ương đừng vướng.

Đến tuổi này không quên mới lạ,
Chuyện lãng quên là chuyện bình thường.
Chỉ cầu xin Phật Độ trời thương,
Quên ít ít đừng quên tất cả…

Hà Thanh hát Đến Tuổi Này” – Hoàng Lan Chi thu âm khoảng giữa tháng 12, 2013

Hà Thanh hát “Sám Hối”, Nhạc: Hà Thanh – Hòa âm: Quốc Toản :   MP3    Youtube

            Lời đoạn đầu: Thích Nhất Hạnh ; Lời đoạn sau: bài kệ “Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn”

Con đã gây ra bao lầm lỡ
Khi nói, khi làm, khi tư duy,
Đam mê, hờn giận và ngu si.
Nay con cúi đầu xin sám hối.

Một lòng con cầu Phật chứng tri.
Bắt đầu hôm nay nguyện làm mới.
Nguyện sống đêm ngày trong chánh niệm,
Nguyện không lặp lại lỗi lầm xưa.

Nam Mô Bồ Tát cầu sám hối.
Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm.

Tâm tịnh còn đâu giấu lỗi lầm.
Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhỏm.
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong.

( Phân Ưu từ website của Nhạc sĩ Lê Dinh )

‘Hoạ mi xứ Huế’ Hà Thanh qua đời ở tuổi 77
                                                Ðỗ Dzũng/Người Việt – January 02, 2014

BOSTON, Massachusetts (NV) – Ca sĩ Hà Thanh, từng được mệnh danh là “họa mi xứ Huế,” vừa qua đời ngày 1 Tháng Giêng tại Boston, Massachusetts, ca sĩ Hoàng Oanh, một trong những người bạn thân thiết và lâu năm của người quá cố, xác nhận với nhật báo Người Việt.

 

Ca sĩ Hà Thanh ở Washington, D.C., năm 1996. (Hình: Huy Phương/Người Việt)

“Tôi rất xúc động và hơi bàng hoàng, không tin là sự thật (ca sĩ Hà Thanh qua đời),” ca sĩ Hoàng Oanh nói. “Tôi phải hỏi người này người kia, lúc đó tôi mới biết chị đã ra đi.”

Ca sĩ Hoàng Oanh cho biết thêm: “Tôi với chị Hà Thanh là bạn nghệ sĩ thân tình, thường thăm hỏi lẫn nhau. Hôm Tết Tây, tôi gọi điện thoại sang Boston để hỏi thăm và chúc năm mới chị thì mới được gia đình cho hay chị mất vào lúc 7 giờ 27 phút tối.”
Ca sĩ Hoàng Oanh cho biết có nhiều kỷ niệm với cố ca sĩ Hà Thanh, nhưng nhớ nhất là chuyến đi lưu diễn ở Pháp năm 1969.

“Hoàng Oanh nhớ lúc đó gọi là Ðoàn Văn Nghệ, Bộ Thông Tin VNCH,” nữ ca sĩ Hoàng Oanh hồi tưởng. “Ðoàn có hai nhóm, cải lương và tân nhạc. Bên cải lương thì diễn trong rạp, và do cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. Nhóm chúng tôi là tân nhạc, gồm có nhạc sĩ Huỳnh Anh (guitar), nhạc sĩ Vĩnh Phan (đàn tranh), và nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa (sáo). Ca sĩ thì có chị Hà Thanh, cá nhân tôi, và ban nhạc AVT. Chúng tôi đi trình diễn ở tám tỉnh và thường hát cho kiều bào và sinh viên Việt Nam nghe.”

Theo Wikipedia.org, ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, Pháp Danh Tâm Từ, sinh ngày 25 Tháng Bảy, 1937 tại Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Bà là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có 10 anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích bà khi nhận thấy cô em mình có biệt tài ca hát.

Hồi còn nhỏ, bà theo học trường nữ trung học Ðồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học-Ðồng Khánh trên đài phát thanh Huế.

Năm 16 tuổi, Lục Hà tham dự cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Huế tổ chức, và đoạt giải nhất, qua sáu nhạc phẩm, trong đó có bài “Dòng Sông Xanh”. Nghệ danh Hà Thanh ra đời cũng từ đây, và bà tiếp tục vừa đi học vừa hát cho đài phát thanh.
Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, ca sĩ Hà Thanh được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm, và hai năm sau, chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Thành, và trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của thủ đô hồi đó.

Tiếng hát Hà Thanh thường xuyên được nghe trên các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội, Tự Do, trong các chương trình đại nhạc hội… và rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông.

Về biệt danh “họa mi xứ Huế,” trong một bài viết đăng trên nhật báo Người Việt hồi Tháng Sáu năm ngoái, ca sĩ Quỳnh Giao viết như sau: “Hà Thanh có được Huế cưng quý như vậy trước hết là nhờ giọng ca thiên phú, trong trẻo cao vút. Ðây là một trong vài giọng soprano hiếm có của Việt Nam. Hà Thanh hát dễ dàng như hơi thở. Khi lên cao, giọng lồng lộng, thoải mái cho chúng ta cảm tưởng chiếc diều phơi phới trên nền trời xanh ngắt.”

“Vì sao lại so sánh với cánh diều? Chính vì chất giọng trong trẻo nhẹ nhàng làm mình liên tưởng đến trời xanh và nắng ấm,” theo ca sĩ Quỳnh Giao.

Ca sĩ này viết tiếp: “Vì trình độ thưởng ngoạn, nhiều người cứ khen làn hơi rất mạnh. Không thiếu gì ca sĩ thời nay hay khoe làn hơi ‘mạnh’ vì thấy hát trổ giọng lại càng được vỗ tay và huýt sáo vang lừng! Trong nghệ thuật thì khác, hát nhẹ và êm mà vẫn rõ lời mới là điều khó. Khi hát nhẹ, ca sĩ phải ‘kìm’ làn hơi để phả từ từ, nhẹ nhàng mà vẫn đều đặn. Khó nhất là lúc ngân cho câu nhạc nhỏ dần, đến khi chỉ bằng sợi tơ mong manh mà không đứt, không tắt.”

Theo ca sĩ Quỳnh Giao, nhờ hát như vậy mà ca sĩ Hà Thanh được các nhạc sĩ sáng tác trân quý và yêu cầu bà hát những tác phẩm tim óc của họ.

Ca sĩ Quỳnh Giao cho biết tiếp, chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông để mắt xanh đến Hà Thanh ngay lần đầu được nghe bà từ Huế vào Sài Gòn thăm người em gái, đến phòng thu của hãng đĩa hát thử. Quả là nhạc của ông đã được giọng hát Hà Thanh chắp cánh bay cao.

Trịnh Công Sơn khi còn ở Huế đã đưa những ca khúc chưa ráo mực đến nhờ Hà Thanh hát, theo ca sĩ Quỳnh Giao, và “họa mi xứ Huế” đã đưa “Nắng Thủy Tinh,” “Lời Mẹ Ru,” hay “Nhìn Những Mùa Thu Ði” vang vọng đất Thần Kinh (Huế).

Theo tác giả bài viết, Dương Thiệu Tước cũng thích và Hoàng Trọng cũng mến Hà Thanh, Tuấn Khanh thì “mê” giọng hát này nhất, nhưng thính giả ở Huế quá ít, phải đợi khi vào Sài Gòn thì Hà Thanh mới có đất dụng võ.

NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG VÀ NHỮNG KỶ NIỆM VỚI HÀ THANH

               Hà Thanh trên bìa một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông – bên trái là tác giả thời trai trẻ

                                         Hà Thanh hát: ” Lời Giã Biệt

Thôi nhé ! Về đi em buồn chi
Lưu luyến càng thêm đau người đi
Một trời tang khó nhuốm đau thương
Người trai chốn sa trường hàn gắn tình mến thương.

Anh biết người em yêu sầu bi
Nhưng trách người trai kia làm chi
Một lời giao ước lúc xa nhau
Người em má hoa đào xin chớ phụ lòng nhau.

Hỡi ! Hỡi người em mến yêu ơi !
Mắt buồn lệ thắm rơi
Ôi ! Khối tình càng lắm tơ vương
Mối sầu thêm đắm đau thương

Hỡi ! Hỡi người em nữ sinh ơi !
Áo màu xanh ước mơ
Ôi ! Mối tình trong trắng trinh nguyên
Chưa lần đau xót tơ duyên.

Nơi ấy dù bôn ba đời lính,
Anh vẫn còn yêu thuở học sinh
Trời chiều biên giới hết mưa bay
Người đi chóng quay về
Em gắng chờ đợi nhau.

Lần đầu tiên, tôi được gặp cô Hà Thanh là vào năm 1963 tại Đài Phát Thanh Sàigòn ở số 3 đường Phan Đình Phùng ngày xưa, bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu. Khi ấy, tôi là Trưởng Ban Tiếng Thời Gian của Đài Sàigòn với các ca sĩ như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc v.v. Ngày đó, cô Hà Thanh từ Huế vào Sàigòn thăm người chị gái lập gia đình với một vị Đại tá đang làm việc ở Sàigòn. Chính nhạc sĩ Mạnh Phát cho tôi biết về cô Hà Thanh nên tôi nhờ Mạnh Phát liên lạc mời cô Hà Thanh đến hát với Ban Tiếng Thời Gian. Đây là lần đầu tiên tôi được tận tai nghe tiếng hát Hà Thanh, hát nhạc sống và hát thật ngoài đời với ban nhạc của tôi, không nghe qua làn sóng phát thanh hay qua băng đĩa nhạc. Điều này giúp cho tôi có cơ sở nhận định chính xác về giọng hát Hà Thanh. Tôi hiểu ngay đây là giọng ca thiên phú, kỹ thuật tốt, làn hơi diễn cảm tuyệt đẹp, là một vì sao trong những vì sao hiếm hoi ở đỉnh cao nghệ thuật nhưng chưa có cơ hội phát tiết hết hào quang của mình.

Ngay sau đó, tôi có mời Hà Thanh thâu thanh cho Hãng đĩa Continental. Nếu tôi nhớ không lầm thì bản nhạc đầu tiên tôi trao cho Hà Thanh là bài Về Mái Nhà Xưa do tôi sáng tác. Lần đó, cô Hà Thanh hát thật tốt, toàn ban nhạc và Ban Giám Đốc Hãng Continental rất hài lòng, khen ngợi. Sau ngày đó, cô Hà Thanh từ giã trở về lại Huế, trở về lại với Cố đô trầm mặc, tĩnh lặng, không sôi nổi như Thủ Đô Saigòn, là cái nôi của âm nhạc thời bấy giờ.

Sau khi Hà Thanh trở về Huế, tôi có nhiều suy tư về giọng hát đặc biệt này. Tôi ví von, cho đây là vì sao còn bị che khuất, chưa tỏa hết ánh hào quang, vì chưa có hoàn cảnh thuận lợi để đăng quang, nếu phó mặc cho thời gian, cho định mệnh, có thể một ngày kia sẽ hối tiếc. Vì vậy, tôi đem việc này ra bàn với Ban Giám Đốc Hãng đĩa Continental để mời cô Hà Thanh vào Sàigòn cộng tác. Chính tôi viết thư mời cô Hà Thanh vào Sàigòn với những lý lẽ rất thuyết phục, rất văn nghệ, rất chân tình. Và cô Hà Thanh đã vào Sàigòn sau khi đã tranh đấu gay go với gia đình bố mẹ, vốn giữ nề nếp cổ xưa của con người xứ Huế. Ngày đó Hà Thanh vào Sàigòn, hòa nhập vào đời sống người Sàigòn, vào nhịp đập âm nhạc Sàigòn, vốn đứng đầu văn nghệ cả nước. Hà Thanh đi thâu thanh cho Đài Sàigòn, Đài Quân Đội và nhận được lời mời tới tấp của các Hãng đĩa băng nhạc như Sóng Nhạc, Việt Nam, Tân Thanh, Tứ Hải và hầu hết các Trung Tâm ở Thủ Đô Sàigòn, chứ không phải chỉ riêng cho Hãng dĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Ngày đó, tiếng hót của con chim Sơn Ca đất Thần Kinh đã được vang thật xa, đi vào trái tim của hàng triệu người yêu mến tiếng hát Hà Thanh. Cô Hà Thanh hát hầu hết các tác phẩm của tôi. Bài nào tôi cũng thích, cũng vừa ý, có lẽ vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện viết bài đặc biệt cho riêng cô. Tôi nhớ lại một chuỗi những sáng tác trong thời binh lửa chiến tranh như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính Chiến,Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt vân vân, đều rất hợp với tiếng hát Hà Thanh và cô hát rất thành công. Tôi cho rằng Hà Thanh không chỉ hát mà còn sáng tạo trong khi hát. Hà Thanh đã tạo thêm những nốt luyến láy rất truyền cảm, rất mỹ thuật làm cho bài hát của tôi thêm thăng hoa, trong giai điệu cũng như trong lời ca. Tôi cho rằng khi hát cô Hà Thanh đã sống và cùng đồng điệu sẻ chia với tác giả khi trình bày một bản nhạc có tầm vóc nghệ thuật.

Tôi cho rằng Hà Thanh có giọng hát thiên phú, cô hát rất thoải mái dễ dàng, không cầu kỳ, không cường điệu, không gò bó nhưng nó cuốn hút ta đi trong cái bềnh bồng không gò ép đó. Tôi cám ơn tiếng hát của Hà Thanh đã mang lại cho các bài hát của tôi thêm màu sắc, thêm thi vị, bay bổng. Trước khi đến với Hà Thanh, tôi cũng rất ngưỡng mộ tiếng hát của cô Thái Thanh, Lệ Thanh, Khánh Ngọc và nhiều người khác đã gieo khắp phương trời tiếng lòng của tôi, cũng như về sau này có thêm các cô học trò như Thanh Tuyền, Giao Linh đã giúp cho ông Thầy truyền tải đến trái tim người yêu nhạc. Nhưng đặc biệt, tiếng hát Hà Thanh đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm tốt đẹp, bền bỉ tuy thời gian ngắn ngủi kể từ khi cô bỏ đi lấy chồng để tôi độc hành trên đường nghệ thuật. Sau biến cố 1975, tôi không còn dịp hợp tác với cô Hà Thanh như trước đây. Nhưng thỉnh thoảng tôi được nghe cô hát một sáng tác mới của tôi ở hải ngoại, tôi vẫn cảm thấy tiếng của cô vẫn đậm đà phong cách ngày xưa, vẫn một Hà Thanh diễn cảm, sang trọng, sáng tạo trong khi hát, mặc dù thời gian chia cách đã 40 năm qua…

(Nguồn: Câu Chuyện Âm Nhạc” – Hoàng Lan Chi phỏng vấn NS Nguyễn Văn Đông 2006)

                       Hà Thanh hát một số nhạc của Nguyễn Văn Đông

1. Chiều Mưa Biên Giới                 2. Về Mái Nhà Xưa
3. Nhớ Một Chiều Xuân                4. Mấy Dặm Sơn Khê
5. Hải Ngoại Thương Ca               6. Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp
7. Lời Giã Biệt                             8. Phiên Gác Đêm Xuân
9. Chiếc Bóng Công Viên            10. Thương Muộn
11. Đoạn Tuyệt                        12. Khi Đã Yêu

(Trích trong trang “Sắc Hoa Màu Nhớ và Dòng Nhạc của Nguyễn Văn Đông” )

Hà Thanh hát Lời Mẹ Ru (Trịnh Công Sơn):  youtube

Thúy Vi Trần Kiêm thực hiện với hình ảnh gia đình của Hà Thanh )

Hà Thanh, họa mi xứ Huế
Ca Sĩ Quỳnh Giao – 12.6.2013

Không hiểu vì sao từ khi có tân nhạc, đa số ca sĩ ưa phát âm theo giọng Bắc. Người viết đoán là vì giọng Bắc nhẹ nhàng lên bổng xuống trầm với năm dấu rõ ràng.

Phần lớn ca sĩ nổi tiếng của chúng ta là người miền Bắc. Từ Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà, Thúy Nga, Mai Hương, Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú, đến Khánh Ly, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Duy Quang…

Nhưng mình vẫn không quên tiếng hát của miền Nam.

Quỳnh Giao rời Huế vào Sài Gòn khi mới lên bảy. Lần đầu theo Mẹ đi xem hát thấy nghệ sĩ Trần Văn Trạch diễn bài “Tai nạn téléphone” mà cười sái hàm. Tài nghệ sáng tác và trình diễn hài hước làm ông được tôn là quái kiệt, chứ thật ra, Trần Văn Trạch là danh ca tân nhạc. Mấy bài ông trình bày rặt giọng Nam như “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca hay “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn Văn Ðông thì ít ai bằng. Ngoài Trần Văn Trạch, nam ca sĩ Trọng Nghĩa (thập niên 50), nữ ca sĩ Ngọc Hà hay Túy Phượng đều phát âm giọng Nam, nghe dễ thương và truyền cảm.

Mình không quên là cũng có ca sĩ người Nam khi hát thì phát âm giọng Bắc, như Hoàng Oanh, Phương Dung, Bạch Yến, Tuyết Hằng, như Elvis Phương, Trung Chỉnh…

Ngoài hai miền Nam Bắc, thành phần ca sĩ người Trung cũng rất đông.

Trong địa hạt cải lương, điều thích thú cho người viết là khi biết danh ca Ngọc Giầu là “đồng hương.” Không chỉ là người Huế mà còn thuộc hoàng phái với tên thật là Tôn Nữ Ngọc Giầu. Vậy mà bà hát vọng cổ mùi tận mạng nên ít ai ngờ bà là thuộc diện “Huế mình” như người ở cố đô vẫn nói với nhau.

Làng tân nhạc từ phôi thai đã có người miền Trung như Minh Trang, Châu Kỳ, Tôn Thất Niệm, Hương Thủy, Thanh Nhạn. Ðợt trẻ hơn thì có Thanh Thúy, Duy Khánh (người Quảng Trị), Nhật Trường (người Phan Thiết), cặp Lê Uyên Phương (người Huế sống ở Ðà Lạt), Hồng Vân trong ban tam ca Ðông Phương, sau này còn Phương Nga, Anh Dũng, Trần Thái Hòa… Con số rất đông mà người viết không ghi hết được.

                          

Hà Thanh hát nhạc Trịnh Công Sơn ngay từ đầu, tại Huế.

Vậy mà chỉ có một người được xứ Huế coi như chim họa mi của mình. Ðó là Hà Thanh. Nổi tiếng như Thanh Thúy cũng không được Huế dành lấy cho riêng mình.

Trong ba miền, người Huế quả là nặng tính địa phương hơn cả. Các trường học trung học của ba miền đều có hội hè hàng năm, như Chu Văn An, Petrus Ký, Trưng Vương, Gia Long, Nguyễn Bá Tòng, Quốc Học, Ðồng Khánh, v.v… Chỉ Huế là có “Ngày Nhớ Huế” hay “Ngày Hoàng Tộc.”

Hai miền kia không có “Ngày Sài Gòn” hay là “Ngày Nhớ Hà Nội”…

Mà Hà Thanh có được Huế cưng quý như vậy cũng có lý! Trước hết là giọng ca thiên phú, trong trẻo cao vút. Ðây là một trong vài giọng soprano hiếm có của Việt Nam. Hà Thanh hát dễ dàng như hơi thở. Khi lên cao, giọng lồng lộng, thoải mái cho ta cảm tưởng chiếc diều phơi phới trên nền trời xanh ngắt.

Vì sao lại sánh với cánh diều? Chính vì chất giọng trong trẻo nhẹ nhàng làm mình liên tưởng đến trời xanh và nắng ấm.

Vì trình độ thưởng ngoạn, nhiều người cứ khen làn hơi rất mạnh. Không thiếu gì ca sĩ thời nay hay khoe làn hơi “mạnh” vì thấy hát trổ giọng lại càng được vỗ tay và huýt sáo vang lừng! Trong nghệ thuật thì khác, hát nhẹ và êm mà vẫn rõ lời mới là điều khó. Khi hát nhẹ, ca sĩ phải “kìm” làn hơi để phả từ từ, nhẹ nhàng mà vẫn đều đặn. Khó nhất là lúc ngân cho câu nhạc nhỏ dần, đến khi chỉ bằng sợi tơ mong manh mà không đứt, không tắt…

Hà Thanh hát như vậy, từng được các nhạc sĩ sáng tác trân quý và yêu cầu chị hát những tác phẩm tim óc của họ.
Nguyễn Văn Ðông để mắt xanh đến Hà Thanh ngay lần đầu được nghe chị từ Huế vào Sài Gòn thăm người em gái, đến phòng thu của hãng đĩa hát thử. Quả là nhạc của ông đã được giọng hát Hà Thanh chắp cánh bay cao. Trịnh Công Sơn khi còn ở Huế đã đưa những ca khúc chưa ráo mực đến nhờ chị hát, và Hà Thanh đưa “Nắng Thủy Tinh”, “Lời Mẹ Ru” hay “Nhìn Những Mùa Thu Ði” vang vọng đất Thần Kinh. Dương Thiệu Tước cũng thích và Hoàng Trọng cũng mến Hà Thanh, Tuấn Khanh thì “mê” giọng hát này nhất.

Nhưng thính giả ở Huế quá ít, phải đợi khi vào Sài Gòn thì Hà Thanh mới có đất dụng võ…

Ngoài cái nết, người viết rất ái mộ giọng của Hà Thanh, nên hơi tiếc là tiếng hát tuyệt vời này bị hãm trong cõi Huế như họa mi ở trong lồng. Ít người biết là khi ở Huế, Hà Thanh hát “Dòng Sông Xanh” còn tuyệt hơn Thái Thanh. Ca khúc được trình bày với “ton” nguyên thủy viết cho giọng soprano là Ré Trưởng. Lên nốt cao nhất là nốt La ngoài dòng kẻ.

Trong nghệ thuật hát nhạc cổ điển, nốt “high C” (nốt Do trên hai dòng kẻ) được coi là cao nhất, khó nhất. Pavarotti có lần than là trong một vở opéra, ông phải hát nốt high C đến năm lần mệt nghỉ. Nốt La chỉ thấp hơn High C hai bậc mà thôi.

Vì thính giả chỉ thích những bài đậm sắc địa phương, tiếng hát Hà Thanh không có cơ hội bay xa hơn, vươn rộng hơn nữa…

Ca Sĩ Quỳnh Giao

Hà Thanh Tiếng Hát Thướt Tha Cành Lệ Liễu
Tác giả: Hồ Trường An (France)

Đi hát từ những năm đầu của thập niên 50 trên Đài Phát Thanh Huế. Bài hát được nhiều người yêu mến nhất thời đó là bài “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục. Bài này có nhiều chữ cuối câu chị uốn láy thật uyển chuyển và mềm mại nghe truyền cảm vô cùng. Người Huế gọi chị là “Chim Họa Mi xứ Huế” ngay từ giữa thập niên 50. Đậu thủ khoa cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài Phát Thanh Huế tổ chức.
Vào Nam năm 1962 (63?), được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nâng đỡ và chẳng bao lâu được các hãng dĩa mời thu thanh và hát trên Đài Phát Thanh Saigòn. Chị được thính giả khắp nơi ái mộ nồng nhiệt qua hình ảnh một cô gái Huế mảnh mai, dịu hiền, kín đáo, thâm trầm và duyên dáng. Ca sĩ Hà Thanh rất ăn ảnh trên TV.

Tiếng hát Hà Thanh yểu điệu như cành liễu buông tơ tha thướt . Lệ liễu soi bóng bên ao đầm , xõa tóc trong đêm trăng , rũ bóng trong khu vườn được đóng cổng vây rào. Lệ liễu hong tóc dưới ánh nắng mai , bên trong bức tường vẽ hoa gấm của khuôn viên một nàng cô phụ thuộc hàng quý tộc thuở xa xưa. Khung cảnh nào có lệ liễu mà chẳng trữ tình như thơ , diễm ảo như mộng ?

Bài “Hẹn một ngày về” có nhiều tiếng cuối câu để Thanh Hà uốn láy. Nét láy mới uyển chuyển và mềm mại làm sao ? Chúng ta có thể liên tưởng đến một giòng tiểu khê trong vắt chảy uốn éo giữa vùng cỏ mượt nhung. Chúng ta cũng có thể nghĩ đến dải lụa đào bay trong gió dịu nắng hiền . Chúng ta cũng có thể mường tượng đến đuôi cánh diều vẽ nét lược duyên dáng trên lưng gió , in trên nền trời xanh bát ngát trong buổi đẹp trời.

Tiếng hát Hà Thanh dồi nữ tính nhất. Đây là một giọng soprano thanh và mỏng mà mỗi tiếng hát như một vì sao sáng lấp lánh , kết thành một dải ngân hà cho câu hát. Cái điệu đà trong giọng hát chị là cái điệu bẩm sinh của một cô thiên kim tiểu thư sống trong tú các hương khuê , chứ không phải cái điệu của các cô danh kỹ dùng để để nịnh ái đàn ông. Điệu mà không lẳng , điệu mà vẫn giữ nét cao sang quý phái. Điệu phơn phớt phấn mỏng , điệu ngan ngát hương trinh.

Muốn đến ca trường giới nhạc , Hà Thanh phải qua một cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Huế tổ chức. Ở phần chung kết , chị hát bài “Dòng Sông Xanh ” của Johann Strauss ( do Phạm Duy phổ lời Việt ) và chị đỗ khôi nguyên một cách vinh quang.

Vào Sài Gòn , Hà Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nâng đỡ ngay. Chị được các hãng dĩa mời thu thanh , chị hát trên đài Sài Gòn , được thính giả khắp nơi ái mộ nồng nhiệt . Lúc đầu , Hà Thanh nghĩ rằng Lệ Thanh là giọng hát ăn khách , nhưng sớm bỏ nghề , tuy vậy vẫn còn gây nhiều lưu luyến mến yêu trong lòng khách mộ điệu. Cho nên chị bắt chước Lệ Thanh láy táo bạo ở mỗi tiếng cuối của câu hát , chơi fantaisie một cách bừa bãi. Nhưng sau đó nhận thấy mình có chổ đứng vững chãi trong giới tân nhạc rồi nên chị không thèm bắt chước hát theo Lệ Thanh nữa , chị hát theo lối chân truyền tức là hát theo cái bản sắc của chị. Chị hát những bài của Nguyễn Văn Đông như “Nhớ Một Chiều Xuân “, ” Hải Ngoại Thương Ca “, ” Mấy Dặm Sơn Khê “. Chị hát những ca khúc của Hoàng Nguyên như ” Ai Lên Xứ Hoa Đào “, ” Anh Đi Về Đâu “, ” Tôi Sẽ Về Thăm Em Chiều Nay “. Tất cả nhừng bài kể trên chị trình bày rất đạt tình , rất truyền cảm.

Và theo tôi , bên giới nữ chẳng có ai hát những bài âm hưởng dân ca Huế như ” Tiếng Xưa “, ” Đêm Tàn Bến Ngự ” của Dương Thiệu Tước bằng Minh Trang và Hà Thanh. Vì là dân gốc Huế , tâm tình và ngôn ngữ Huế đã có sẵn ở họ nên họ phát âm tiếng Huế rất thoải mái không cần gồng mình bắt chước giọng Huế khác hẳn các ca sĩ gốc Bắc hay các ca sĩ gốc Nam để hát hai ca khúc vừa kể .

Theo tôi , tôi chưa thấy ai hát bài ” Dứt Đường Tơ ” của Văn Thủy (lời của Dzoãn Cảnh ) và bài ” Hẹn Một Ngày Về ” của Lê Hữu Mục hay hơn Hà Thanh. Khi diễn tả hai bài kể trên , giọng chị ngọt ngào uyển chuyển để âu yếm với tiết điệu , để mơn trớn tiếng nhạc . Giọng có vẻ lả lướt mềm mại như cỏ bồng phớt phơ trong cơn gió hiu hiu , nhưng thật dẻo như lụa bạch , lụa cẩm châu. Chúng ta có thể liên tưởng tới nhánh dương liễu của đức Quán Thế Âm Bồ Tát nhúng vào tịnh bình đựng cam lộ để rải vào tâm hồn và trái tim người nghe từng đợt mát rượi , từng giọt ngọt lịm.

Ở bài ” Hải Ngoại Thương Ca ” khi hát đến câu ” Oai dũng muôn đời rạng danh thế giới ” Hà Thanh rướn giọng ở tiếng ” giới “, rồi uốn lượn một cách tài tình trước khi bắn vọt lên cao , giọng sao mà lồng lộng , âm hưởng căng phồng những ngân vang lảnh lót. Lúc đó ngươi nghe có cảm tưởng đó như ngọn pháo bông vút lên cao rồi tỏa một chùm tia sáng muôn màu.

Ở bài ” Mấy Dặm Sơn Khê “, tới chỗ lên cao nhất , tiếng hát của Hà Thanh hơi mỏng một chút , nhưng vẫn dẻo vẫn ngọt , reo phơi phới như cơn gió xuân mỏng dịu thổi về. Chuỗi ngân của chị lúc đó cũng dài dằng dặc, gợn từng làn sóng lăn tăn và đều đặn.

Vào mùa xuân 1972 , tôi qua thành phố bên Hannover (Đức) để hành hương trong dịp lễ Phật Đản tại chùa Viên Giác. Tại đây tôi gặp ba nữ ca sĩ Kim Anh , Lệ thu , và Hà Thanh. Cả ba đến hát cho buổi trình diển văn nghệ do chùa tổ chức . Giọng hát chị vẫn óng ả mượt mà như tơ , làn hoi chị vẫn phong phú , khoẻ khoắn. Lại nữa chị xử dụng máy vi âm rất nghề nên tiếng chị ăn máy kinh khủng . Chị hát một lèo ba bài ” Ai Lên Xứ Hoa Đào ” của Hoàng Nguyên , ” Đêm Tàn Bến Ngự ” của Dương Thiệu Tước , và “Tiếng Sông Hương ” của Phạm Đình Chương.
Sau đó tôi có hỏi :
– Sao chị không hát hai bản “Hẹn Một Ngày Về ” và ” Dứt Đường Tơ “?
Hà Thanh cười buồn :
– Tôi không nhớ lời hai bản ấy. Tiếc quá !

Hồ Trường An (France)

        VĨNH BIỆT TIẾNG HÁT HÀ THANH – LOÀI HOA VỠ BÊN TRỜI
   (trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Việt Tide phát hành ngày thứ sáu 3 tháng 1 năm 2014)

Ảnh trên là ca sĩ Hà Thanh. Ảnh dưới, từ trái sang phải là các ca sĩ Anh Ngọc, Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao và Hà Thanh chụp năm 1992

“Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời, đợi mùa Xuân sang tô màu nhớ. Dừng chân trông hoa xuân hồng thắm, buồn tìm về tình ai đằm thắm, giờ vun vút trời mây..”
(
Nhớ Một Chiều Xuân – Nguyễn Văn Đông)

Cứ mỗi lần nghe ca khúc này và Sắc Hoa Mầu Nhớ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tôi lại bâng khuâng nhớ về giọng hát Hà Thanh. Tiếng hát của những hoài niệm. Tiếng hát của những giọt nắng chiều tiếc nhớ. Mỗi khi chị hát đoạn “loài hoa vỡ bên trời”, trái tim tôi như ai bóp mạnh hơn, nhói hơn khi nhớ về những mùa Xuân xưa quê nhà nay đã không còn nữa..

     Những năm gần đây, Trung Trần, một cậu em tuổi đời mới 25, sống ở Cần Thơ, nhưng lại chỉ thích nghe giọng hát của các cô chú Thanh Thúy, Bạch Yến, Minh Hiếu, Hoàng Oanh, Phương Hồng Quế, Giáng Thu, Mạnh Quỳnh (Gõ Cửa), Giang Tử, Phương Dung, Mai Lệ Huyền… và những ca khúc trữ tình trước 75. Mỗi tháng, Trung thỉnh thoảng dành thì giờ nhắn tin, điện thoại thăm hỏi các cô chú, và chỉ khi nào Trung không liên lạc được, em mới ngỏ ý nhờ người viết giúp tìm. Trong số những người Trung nhờ mà tôi chịu thua suốt 3 năm qua, đó là ca sĩ Hà Thanh. Có lúc, tôi phải tìm đến các nghệ sĩ Thanh Thúy, Như Hảo, Phương Hồng Quế… những người từng một thời thân thiết với chị, nhưng chẳng ai có câu trả lời. Sau này tôi mới biết, khi thu Video cho Trung Tâm Thúy Nga bài Hoa Xuân , sau đó với Trung Tâm Asia nhạc phẩm Nha Trang , chị khám phá mình vướng vào căn bịnh ung thư máu. Từ đó, chị tránh né và gần như cắt đứt mọi liên lạc với những tình thân.

(Hà Thanh hát Hoa Xuân của Phạm Duy)

(Hà Thanh hát Nha Trang của Minh Kỳ)

      Chiều thứ tư ngày 1 tháng 1 năm 2014, mới khoảng 5g00 chiều hơn, ca sĩ Mai Hương, giọng hốt hoảng báo tin: “Có tin chị Hà Thanh vừa mất, B. biết chưa?”. Tôi đang ngầy ngật vì mất ngủ nguyên đêm và nhất là vừa bước vào nhà sau một chuyến bay từ Houston trở về, chợt thót tim trước hung tin đưa tới. Chị Mai Hương chỉ biết có thế và hai chị em chỉ biết lặng im bùi ngùi qua điện thoại. Tôi gọi đến chị Hoàng Oanh, và chị cũng cho biết, đó là tin cô Bạch Lan, em gái ca sĩ Hà Thanh đã xác nhận là sự thật. Ôi, vậy là thật rồi, tháng 12 năm nay, tháng của giỗ một năm Duy Quang khuất bóng, rồi những tin buồn tới tấp của các ca nhạc sĩ Huỳnh Anh, Việt Dzũng ra đi và bây giờ vừa bước vào ngày đầu tiên của một năm mới, ngày 1 tháng 1 năm 2014, tiếng hát của những “khúc tình ca xứ Huế”, tiếng hát của những dòng nhạc Nguyễn Văn Đông, giờ đã về bên kia thế giới. Và những cú điện thoại sau đó, là những bàng hoàng, là những nấc nghẹn của Thanh Thúy, Như Hảo, Phương Hồng Quế… khi nhắc lại những kỷ niệm của những ngày còn bên cạnh Hà Thanh. 

    HÀ THANH theo tuổi ghi trên các mạng điện tử thì cô sinh năm 1939, nhưng theo các ca sĩ Thanh Thúy, Mai Hương, Hoàng Oanh, mỗi lần từ Boston bay đến Quận Cam, tiếng hát Sắc Hoa Mầu Nhớ luôn tạm trú ở chùa TQ do ni sư Chơn Đạo trụ trì, và theo lời của vị ni sư này, tuổi thật Hà Thanh là năm 1937. Khi nói về tuổi thật và tuổi trên giấy tờ, ca sĩ Thanh Thúy nói theo cảm nghĩ riêng của mình: “Chị nghĩ rằng, ghi lại đúng tuổi thật của một người đã mất, đó là điều quan trọng”.

      Dưới đây là một số tư liệu được góp nhặt từ nhiều nơi, viết về cuộc đời ca sĩ Hà Thanh.

    Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh ở Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Bà là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có mười anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích bà khi nhận thấy cô em mình có biệt tài ca hát. Là một người theo đạo Phật, ngày nhỏ Lục Hà theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh trên Đài phát thanh Huế. Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà khi đó mới 16 tuổi tham dự. Lục Hà đạt giải nhất với sáu nhạc phẩm rất khó, trong đó có bài Dòng sông xanh, và tên bài hát đó đã trở thành nghệ danh của cô: Hà Thanh. Hà Thanh tiếp tục học và có đi hát cho Đài phát thanh Huế.

    Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Bà trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó. Vào giữa thập niên 1960, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Bà rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như Hàng hàng lớp lớp, Chiều mưa biên giới… Trong khoảng thời gian từ 1965 tới 1975 ở Sài Gòn, Hà Thanh thâu âm rất nhiều cho các hãng đĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Shotguns, Trường Sơn, Premier, Continental, Sơn Ca… Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, có nhiều người yêu thích Hà Thanh. Nhà thơ Bùi Giáng từng làm nhiều thơ và viết sách ca ngợi nhan sắc của bà. Nhà văn Mai Thảo là một người rất si mê Hà Thanh, ông đã từng từ Sài Gòn ra Huế để xin cưới Hà Thanh. Năm 1970, Hà Thanh kết hôn với Trung tá Bùi Thế Dung của Binh chủng Thiết Giáp. Năm 1972, hai người có một con gái là Kim Huyền.

    Sau năm 1975, TT Bùi Thế Dung phải đi cải tạo. Năm 1984 Hà Thanh cùng con gái được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ. Năm 1990 vợ chồng Hà Thanh sum họp nhưng tan vỡ hai năm sau đó. Tại hải ngoại, Hà Thanh không trình diễn thường xuyên và có ghi âm một số CD như Hải ngoại thương ca – Giáng Ngọc thực hiện (1985), Chiều mưa biên giới – Giáng Ngọc thực hiện (1995), Sầu mộng – Phạm Vũ thực hiện (1995), Ngát hương đàm – Phật Ca (1999), Chinh phụ ca – Giáng Ngọc thực hiện (2000), Nhành dương cứu khổ – Phật Ca (2003).

   

 

Tuyển Tập Những Ca Khúc Chọn Lọc của Hà Thanh  youtube playlist

Trần Liên Như thực hiện )

Hà Thanh, Chim Hoàng Oanh Đất Thần Kinh
Tác giả: Vương Trùng Dương

Có một loài chim khi cất tiếng hót thánh thót vang vọng giữa trời mây sông nước, không gian như lắng đọng để hoà nhập trong âm điệu du dương: Hoàng Oanh. Mang âm hưởng đó, có tiếng ca ngọt ngào, truyền cảm như làn gió nhẹ, như tiếng reo của thuỳ dương, như tơ vương giăng mắc, như sương khói lững lờ, như lời tình tự giữa trăng thanh, như ru ta vào cõi mộng mơ, dìu ta lạc bước vào đất thần kinh với hoàng thành cung điện, với đền đài lăng tẩm, với sông nước hữu tình, với nhạc điệu trầm bỗng, thướt tha: Hà Thanh.

Sinh trưởng ở Liễu Cốc Hạ, Hương Trà, lớn lên bên dòng Bến Ngự đường Huyền Trân Công Chúa, Trần Thị Lục Hà sinh ra trong gia đình gia giáo có mười anh chị em, theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh. Là một Phật tử thuần thành, thuở nhỏ đã được quy y với Đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết.

Lục Hà thích hát từ thuở mới cắp sách đến trường, dần dà năng khiếu về ca hát được thể hiện qua chương trình “Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh” trên Đài phát thanh Huế.

Bước Đường Nghệ Thuật

Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, cô nữ sinh Lục Hà của Trường Đồng Khánh mới 16 tuổi tham dự với danh xưng Hà Thanh. Qua 6 nhạc phẩm rất khó hát được Hà Thanh trình diễn như Dòng Sông Xanh (Le Beau Danube Bleu) của J.Strauss, lời Việt của Phạm Duy, Nhạc Buồn (Tristesse) của Chopin, lời Việt của Anh Ngọc, Đêm Tàn Bến Ngự & Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước, Được Mùa của Phạm Đình Chương, Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay của Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Hà Thanh được Ban Giám Khảo chấm giải nhất với số điểm 19/20.

Tên tuổi Hà Thanh đã được giới yêu thích âm nhạc ái mộ với làn hơi trong sáng, êm ái, ngọt ngào, cao sang, mượt mà, bóng bẩy, tình tự quê hương, có nét độc đáo trong âm điệu đất Thần Kinh. Tuy yêu nghề nhưng chưa dấn thân vào nghiệp, Hà Thanh vẫn tiếp tục con đường học vấn, chỉ hát ở Huế nhưng những ca khúc được trình bày đã vang xa khắp bốn phương trời qua lán sóng phát thanh của Đài phát thanh Huế, đánh dấu sự chờ đợi, hẹn hò của các trung tâm phát hành đĩa nhạc ở Thủ đô Sài Gòn.

Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm chọn lọc.

Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập trong môi sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Từ đó, góp mặt với những tiếng hát hàng đầu như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Mai Hương, Lệ Thu, Minh Hiếu, Thanh Thuý… Vào giữa thập niên 60, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Thời gian kế tiếp, xuất hiện trên Đài Truyền hình, một giọng ca rất Huế, một hình ảnh rất thân quen đã tạo dựng cho tên tuổi Hà Thanh với sắc thái đặc biệt gắn liền với nhiều bản tình ca in sâu vào tâm tư tình cảm tha nhân.

Vào cuối thập niên 50, Nguyễn Văn Đông cho ra mắt vài nhạc phẩm đầu tay như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Mầu Nhớ… Quái kiệt Trần Văn Trạch đã đưa ca khúc Chiều Mưa Biên Giới lên đỉnh trăng sao trong khung trời ca nhạc. Thập niên 1960, Nguyễn Văn Đông làm Giám đốc nghệ thuật trung tâm đĩa nhạc Continental, ca khúc Chiều Mưa Biên Giới qua tiếng hát Hà Thanh đã đưa người nghe lâng lâng tâm hồn, bay bỗng “theo áng mây trôi chiều hoang, bầu trời xanh xanh, vầng trăng, cờ về chiều tung bay phất phới…”. Và, hình ảnh biên giới với người đi khu chiến được khơi dậy trong lòng mọi người.

Từ đó, nhiều ca khúc của Nguyễn Văn Đông được Hà Thanh trình bày, qua gần 4 thập niên, vẫn là tiếng hoàng oanh ngân vang đầu núi. Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Hải Ngoại Thương Ca, Nhớ Một Chiều Xuân… của Nguyễn Văn Đông, qua tiếng hát, vô hình chung trở nên bản quyền của Hà Thanh. Ở đó, có khi như định mệnh, thời gian ở hải ngoại, Hà Thanh gắn liền với Hải Ngoại Thương Ca. Với ca khúc Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự của Dương Thiệu Tước, với Tà Áo Tím, Thuở Ấy Yêu Em, Anh Đi Về Đâu của Hoàng Nguyên, với Chùa Hương của Hoàng Quý, Dứt Đường Tơ của Văn Thuỷ và Dzoãn Mẫn với Mối Tình Trương Chi của Phạm Duy, và nhất là Hẹn Một Ngày Về của Lê Hữu Mục… được Hà Thanh trình bày, qua bao thập niên, vẫn là giọt sương long lanh, tiếng hót của loài chim quý trên đỉnh núi, lời tình tự ngát hương.

Nổi Trôi Theo Dòng Đời

Trong văn giới, Mai Thảo đã một thời mê bóng dáng Hà Thanh. Vào thập niên 60, Mai Thảo trông coi tạp chí Kịch Ảnh nên có nhiều “quan hệ” trong giới ca nhạc. Lê Hà Nam trong bài viết về Mai Thảo đã đề cập:… “Vào cuối thập niên 50, đã từ Sài Gòn, một mình bay ra cố đô Huế; lừng lững tới tận nhà người ca sĩ họ Lục (sau nầy trở thành danh ca dưới tên H.T). Đó là Mai Thảo, ông hoàng của Đêm Sài Gòn. Không chỉ đa số các khán giả không biết mà, ngay cả song thân của người ca sĩ họ Lục cũng kinh ngạc, ngỡ ngàng khi nghe Mai Thảo nói:  “Tôi là Mai Thảo, từ Sài Gòn ra, chúng tôi thật sự muốn lấy L.H làm vợ…”Và, cũng ngay sau đó, song thân của người con gái họ Lục tự thấy rằng sẽ khó khăn cho họ biết là chừng nào, nếu có một chàng rể như… Mai Thảo”.

Hình như ca sĩ thường lập gia đình rất sớm, nhưng Hà Thanh lập gia đình vào tuổi tam thập nhi lập. Năm 1970 kết duyên với người hùng trong Binh chủng Thiết Giáp, Trung tá tá Bùi Thế Dung, Thiết đoàn trưởng. Năm 1972, Kim Huyên ra đời. Hiện nay, Kim Huyên nối nghiệp cầm ca theo thân mẫu.

Hà Thanh cùng chồng sống bên nhau được bốn năm, biến cố tang thương, cách xa mười lăm năm, mang tiếng hát “bi thương” trang trải nơi hải ngoại.

Năm 1975, phu quân Hà Thanh vào chốn lao tù và trải qua 13 năm, Hà Thanh đã chay tịnh cầu an, thề nguyện. Năm 1984 Hà Thanh và đứa con duy nhất được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ. Năm 1990, vợ chồng được sum họp với nhau. Thế nhưng, theo dòng thời gian với bao nỗi trớ trêu của hệ luỵ, bóng tối cuộc tình đổ xuống trong tuổi bóng xế của cuộc đời sau 2 năm gần gủi bên nhau.

Tuy là ca sĩ chuyên nghiệp nhưng hoàn cảnh đời sống hải ngoại đưa đẩy công việc không liên quan đến nghề nghiệp trong sinh hoạt văn nghệ. Nói như thi hào Nguyễn Du “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, làm sao rời bỏ tiếng ca, giọng hát khi lòng còn tha thiết, vẫn còn trong sáng, ngọt ngào, nét độc đáo trong tiếng hát. Trong suốt thời gian vợ chồng xa cách, Hà Thanh rất ít xuất hiện trên sân khấu, con chim hoàng oanh ngậm ngùi im tiếng. Đã một thời nơi đất Thần Kinh, Hà Thanh được mệnh danh con chim hoạ mi trong vòm trời ca nhạc.

Bước vào thập niên 90, thỉnh thoảng về thăm Little Saigon, Hà Thanh xuất hiện, trình làng tiếng ca trong vài cuốn CD. Ngoài những ca khúc được hát chung với vài ca sĩ thành danh, tiếng hát Hà Thanh với CD khởi đầu Hải Ngoại Thương Ca, và CD kế tiếp Chiều Mưa Biên Giới, gồm hai mươi ca khúc quen thuộc, vang danh. Những ca khúc nầy đã một thời tạo dựng tên tuổi Hà Thanh nổi tiếng trong kiếp cầm ca. Và, ngược lại, đôi khi còn là của riêng bởi giọng ca đặc biệt ngọt ngào, thướt tha, mềm mại như lụa đào, như dáng liễu nhẹ nhàng tung bay trong làn gió nhẹ.

Ở đây, gặp lại những tình khúc một thời luyến nhớ từ Chiều Mưa Biên Giới. Mấy Dặm Sơn Khê, Nhớ Một Chiều Xuân, Hải Ngoại Thương Ca, Khúc Tình Ca hàng Hàng Lớp Lớp của Nguyễn Văn Đông đến Thiên Thai của Văn Cao, Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh, Nỗi Niềm của Tuấn Khanh, Tiếng Xưa của Dương Thiệu Tước, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn của Văn Phụng.

CD Sầu Mộng gồm mười nhạc phẩm được chọn lọc của Phạm Vũ như Hương Bay, Sầu Mộng, Mây Mùa Thu… tuy không được ái mộ nhiều nhưng cũng là món quà đóng góp trong vườn hoa nghệ thuật hải ngoại.

CD Ngát Hương Đàm gồm 12 ca khúc mang mầu sắc Phật Giáo, ngợi ca đức tin, lòng yêu thương, huyền nhiệm cao cả giữa đạo và đời. Là Phật Tử, Hà Thanh thường đi trình diễn trong dịp lễ của Phật Giáo như công quả thệ nguyện. CD Nhành Dương Cưu Khổ được tiếp nối sau CD về đạo ca mà Hà Thanh ôm ấp trong tâm tưởng.

Kết

Hà Thanh được hầu hết mọi người ái mộ từ nhân cách của người ca sĩ đến giọng ca được trải dài trong gần nửa thế kỷ. Bước vào thiên niên kỷ mới, Hà Thanh bước sang tuổi lục tuần. Hà Thanh còn giữ được giọng ca truyền cảm, điêu luyện để đóng góp vào dòng sinh hoạt ca nhạc hải ngoại, Hà Thanh thực hiện tiếng ca của con chim hoàng oanh để được lưu truyền, nếu không, phôi phai theo thời gian, mỗi chuỗi giây đưa ta về miền cát bụi… rồi một ngày nào đó, không còn tác phẩm cho đời, ngậm ngùi tiếc nuối. Trước kia, Hà Thanh không xuất hiện ở vũ trường, vào đầu thập niên 70 Hà Thanh xuất hiện với lý do đặc biệt vì không nhận thù lao.

Hà Thanh, một giọng ca bay bổng, lẫy lừng, tiếng hát đã chinh phục hàng triệu trái tim trên làn sóng điện, và, một cuộc sống trầm lặng, mộ đạo, hiếu thảo bên thân mẫu vào tuổi cửu tuần. Tiếng hát Hà Thanh cao vút, luyến láy rất nhuần nhuyễn khơi dậy nhựng mạch nguồn của nhớ nhung, của một thời yêu thương với khung trời vấn vương bao kỷ niệm, của hương xưa, của thuở chiến chinh, của trời mây non nước… tất cả mang theo hình ảnh thân thương của bóng dáng quê hương. Tiếng hát Hà Thanh như cuốn hút người nghe thả hồn về quá khứ, thả mình trong tĩnh lặng, trong nỗi xa xăm bị đánh mất, mịt mù thức mây… được vỗ về, bầy tỏ, an ủi cho nhau bởi âm điệu ngọt ngào du dương.

Vương Trùng Dương

HÀ THANH TIẾNG HÁT CỦA DÒNG SÔNG XANH
                                                  tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Gọi tên hoa súng: LỤC HÀ
Gọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sông
Gọi TRẦN KIÊM: họ sắc… không
Gọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang

Có hai gã Trần Kiêm lang bạt xa quê gặp nhau bên trời Tây cùng nói về một nhân vật. Thi sĩ Kiêm Thêm nói về “mụ O” và tôi nói về “bà Chị” nghệ sĩ của mình là ca sĩ Hà Thanh bằng một mẫu “sơ yếu lý lịch” hợp soạn hòa âm rất chơn chất và… nên thơ như thế đó.

Thuở nhỏ ở làng Liễu Hạ, tôi thường lên mặt hãnh diện khi cuối tuần ngồi quanh cái “Ra-dô” ở làng với bọn nhóc tì trong xóm nghe chương trình ca nhạc của ban Việt Thanh [1] ở đài phát thanh Huế, mà trong đó, Hà Thanh, bà chị họ của tôi, là ca sĩ… hát hay nhất. Nhóm bình luận gia âm nhạc chân đất làng tôi từ sáp nhỏ cho đến người lớn chẳng biết có mang hội chứng “trái ấu” [2] hay không nhưng ai cũng xuýt xoa khen giọng hát Hà Thanh thuở đó là “hay nhứt xứ.”

Làng Liễu Hạ và họ Trần nhà tôi – có lẽ luôn cả Huế – hầu hết là những rặng thông già kẻ sĩ không lớn kịp với mùa Xuân nghệ sĩ đang lên. Đó là hiện tượng nghịch lý rằng, ai cũng mến mộ giọng hát của Hà Thanh, nhưng lại ái ngại khi một cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế, ái nữ của một gia đình nho phong “êm đềm trướng rủ màn che” trở thành ca sĩ. Nhất là dòng họ Trần Kiêm chúng tôi có bác Trần Kiêm Phổ làm trưởng tộc thì lại càng quan tâm nhiều hơn. Bác “Trợ Phổ”, thân phụ của chị Hà Thanh, với dung mạo uy nghi, thường cầm cân nẩy mực cho cả dòng họ, nay lại cho phép chị Hà đi hát công khai trên đài phát thanh, thì quả là một cuộc “đại cách mạng” trong quan niệm truyền thống còn mang nhiều định kiến của đất lề quê thói rất Huế đương thời.

Ngày đó, khu nhà vườn cổ kính ở mé này nhánh sông Hương nối liền với sông An Cựu nắng đục mưa trong; ngó qua mé bên tê sông là trường Pellerin vẫn thường được giới nam nhi Huế ròng và Huế “bậu” — bắt chước Lan Đình gọi là “Vườn Thúy Hạnh”[2*] — vì một nhà mà có nhiều hơn cả “ngũ long công chúa”, đều mang tên chữ có bộ thảo và rất chi là… tường Đông ong bướm đi về mặc ai: Tố Cần, Hà Thanh, Phương Thảo, Liên Như, Thúy Vy, Bạch Lan, Hoàng Mai.

Hình 6 chị em. Từ trái sang phải : Hà Thanh, Tố Cần, Thanh Nga, Lệ Quỳ, Tử Chi, Phương Thảo

Đời nghệ sĩ của Hà Thanh bắt đầu từ năm 1953, lần đầu đài Phát Thanh Huế mở một cuộc tuyển lựa ca sĩ với quy mô lớn. Anh Trần Kiêm Tịnh biết cô em gái mình có giọng hát hay quá nên đã dắt em đi thi. Điều kiện ghi danh dự thi là phải từ 15 tuổi trở lên. Ngày đó, Lục Hà, cô nữ sinh áo trắng nón bài thơ Huế mới 14 tuổi, nên phải “kiếm thêm một tuổi trời cho” nữa mới đủ tuổi dự thi và kết quả đứng đầu cuộc thi. Tuy ông cụ thân sinh chị Hà Thanh là người theo Tây học với tinh thần cởi mở phương Tây, nhưng “phương Tây Huế” thuở đó cũng vẫn còn trong mẫu mực nho phong. Nhạc sĩ Ngô Ganh là giám đốc đài phát thanh Huế đương thời, phải dùng uy tín của mình đến nhà năn nỉ, rằng: “Học hành thì đứa nào học chẳng được, nhưng còn cái tài của cháu Hà Thanh là một tài năng độc đáo, có giá trị trong cả nước Việt Nam. Nếu không cho đi hát thì tài năng sẽ bị mai một đi, uổng lắm.” Ông cụ nghe lời minh giải hợp lý nên cho đi hát ở đài phát thanh mà thôi, không hát ở phòng trà hay sân khấu. Từ đó, tiếng hát Hà Thanh đã vọng ra xa hơn bên ngoài rào dậu Vườn Thúy Hạnh.

Người ta vừa thưởng thức giọng hát thanh thoát, mượt mà (uyển thanh) như tiếng sông Hương đang lên của Hà Thanh; nhưng đồng thời cũng vừa quan sát nàng ca sĩ xứ Huế đó như một hiện tượng.

Nói về giọng hát thiên phú của Hà Thanh đã có rất nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ… nhiệt thành khen tặng. Một vị thầy âm nhạc của tôi ở trường Hàm Nghi Huế là nhạc sĩ Văn Giảng (cũng ký tên là Thông Đạt, tác giả Ai Về Sông Tương…) đã cho rằng, Hà Thanh là một ca sĩ tiêu biểu của Huế. Chị có một giọng hát thanh tao, quý phái với mức thể hiện cường độ và trường độ âm thanh vừa vặn, diễn cảm tuyệt vời. Đặc biệt là những luyến láy mềm mại rất có hồn và gợi cảm trong tiếng ca.

Luyến láy mà không làm điệu tới mức uốn lượn quanh co thành ra làm dáng trình diễn là nét độc đáo nhất trong tiếng ca Hà Thanh.

Nhân dáng, điệu bộ trình diễn và phong cách sinh hoạt đời thường cũng như trong hội diễn vẫn bị xem là một “đại nghiệp dĩ” của người ca sĩ. Nếu như nói theo Đào Uyển Minh, nhà phê bình nghệ thuật Đài Loan khi nhận định về Quỳnh Dao, thì phong thái của một nghệ sĩ là “sự biểu hiện cụ thể của một chuỗi phản ứng tâm lý có điều kiện khi tài năng thiên phú đối mặt và tương tác với trình độ giáo dục, hoàn cảnh xã hội và xu hướng nghệ thuật của thời đại” [3] thì quan niệm nầy có vẻ sát hợp với Hà Thanh. Chị sinh ra và lớn lên ở Huế. Huế được người đời nhớ nhung và yêu thương không chỉ vì Huế đẹp, Huế thơ mà còn vì Huế là vùng đất của nhiều tai trời ách nước; chịu nhiều oan khiên và đổ vỡ tan tác từ thuở công chúa Huyền Trân đổi mình cho Huế, áo xiêm phiêu bạt về Chiêm quốc. Cho nên, hầu như tất cả nghệ sĩ xứ Huế đều không có sự biểu hiện táo bạo, vỡ bờ, chinh phục để cuốn hút khách thưởng ngoạn qua dáng vẻ bên ngoài. Đấy cũng là cảm nhận của Thu Bồn, một nhà thơ xứ Quảng: “… sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.”

Nhà thơ Nhất Tuấn, tác giả “Chuyện Chúng Mình” vang tiếng một thời, nói về Hà Thanh như sau: “Tôi có dịp gặp Hà Thanh khi làm quản đốc đài Phát Thanh Quân Đội (1968) tại Sài Gòn. Hà Thanh lúc đó hát rất hay và xuất hiện thường xuyên trên các đài VOF, Mẹ Việt Nam, đài Sài Gòn, đài Quân Đội. Hà Thanh càng ngày càng nổi tiếng. So với những ngày còn ở Huế, sự giao thiệp của Hà Thanh có phần bạo dạn hơn đôi chút, nhưng vẫn còn dè dặt và giới hạn lắm. Thời này Hà Thanh hát nhiều bài của Nhất Tuấn do Phạm Duy, Đan Thọ, Hoàng Lan phổ nhạc. Đặc biệt là Hà Thanh hát rất nổi tiếng những nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông và nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn, Từ Linh. Bài nào Hà Thanh hát lên cũng làm người nghe rung động vì khi hát nàng để hết tâm hồn vào lời thơ, ý nhạc của tác giả muốn gởi gắm trong bài. Hà Thanh như ‘nhập’ vào bài hát để diễn tả, để làm toát lên giọng Huế rất dễ thương.” [4]
Tác giả Chuyện Chúng Mình mô tả Hà Thanh: “Dáng người thanh tú, cao cao, nụ cười vui tươi luôn nở trên môi với nét mặt rạng rỡ. Tính nết Hà Thanh nhu mì, hiền dịu, khác biệt trong giới nghệ sĩ.” [5]
Và nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã “phong Huế” cho Hà Thanh, rằng: “Dáng nhỏ nhắn, thanh thoát, dịu hiền, khiêm tốn; tuy tươi mát, thân tình nhưng cũng rất e dè và chừng mực của Hà Thanh là nét tiêu biểu cho con người và phong thái của ‘vùng đất khó’… Huế.” [6]

Những góc nhìn và cách nhìn có thể khác nhau về một Hà Thanh ca sĩ, nhưng hình ảnh và nhận định về một Hà Thanh hiện thực vẫn là chung nhất. Đó là một Hà Thanh mà về hình tướng cũng như về phong cách sinh hoạt và trình diễn văn nghệ rất tiêu biểu cho “tính Huế” đã ăn sâu trong từng nỗi niềm nhớ Huế: Sâu lắng, nồng nàn, trang trọng, tài hoa.

Chị Hà Thanh sang Mỹ năm 1984. Có những cây cầu đã gãy trong chiến tranh và những mối tình gãy đổ sau cuộc chiến. Trong cảnh “trải qua một cuộc bể dâu”, Hà Thanh tìm về với thiền học, thiền định và thiền ca. Những bản nhạc Thiền do Hà Thanh hát hoặc vừa phổ nhạc thơ thiền, vừa ca mang âm hưởng thâm trầm, gợi cảm mà gần gũi của nước “sông An Cựu nắng đục mưa trong” và sự lắng đọng thấm vào lòng người của hồi chuông Thiên Mụ. Những khi buồn nhất và lắng lòng chiêm nghiệm từng vọng âm suy tưởng từ tâm mình, tôi lại thích nghe thiền ca do Hà Thanh hát. Giọng hát đậm đà còn mang cái gốc thanh âm giọng Huế của chị làm cho người nghe có cảm tưởng như đang nghe những lời tự tình của Huế. Nghe Hà Thanh hát thiền ca, người ta bỗng quên đi sự hiện hữu của thời gian đã làm cho đời phôi pha và quên luôn khoảng cách thời gian làm nên tuổi tác của chị. Một cảm giác thanh tân, tươi mát và lắng đọng đầy ắp lòng người chợt đến, chợt đi hay thấm đượm vào trong cảm xúc.

Khán giả ái mộ Hà Thanh liên tưởng đến nguồn Thiền đang tưới tẩm bản chất nghệ sĩ của chị khi chị xuất hiện gần đây trong các cuộc trình diễn và thu băng gây quỹ từ thiện, cũng như trong các chương trình nhạc hội Asia, Paris by Night với dáng vẻ trẻ trung, tươi mát như cả mấy mươi năm về trước. Trong thế giới ca sĩ trẻ đang lên, Hà Thanh không bị chiếc cầu thế hệ ngăn cách; trái lại, chị đã làm cho khán giả ái mộ cảm động và thưởng thức giọng hát vẫn trong ngần, quý phái của chị trên nẻo về gần “thất thập cổ lai hy.”
Hà Thanh có một chỗ đứng riêng trong lịch sử tân nhạc Việt Nam và một vị trí độc sáng trong lòng người yêu nhạc xứ Huế.

Nửa thế kỷ, những dòng sông xanh vẫn luân lưu chảy. Tiếng hát vượt thời gian của Hà Thanh vẫn còn xanh mát như tên chị, như những dòng sông xanh mà muôn đời con nước vẫn đang về, đang tới. Và, nói thêm bằng những nét chấm phá thi vị như một nhà thơ nào đó, “…có một chút gì rất Huế, rất thương… Có một chút gì rất Huế trang đài…” trong tiếng hát Hà Thanh.

Trần Kiêm Đoàn

[1] Ban Việt Thanh do nhạc sĩ Văn Giảng – cũng là Thông Đạt tác giả Ai Về Sông Tương – thành lập và điều khiển; chuyên trình diễn tân nhạc tại đài phát thanh Huế.
[2]” Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”. Tục ngữ dân gian [2*] Lan Đình. Uyển Thanh. Văn Mới; 3 -1958:
“Soi bóng bên tê Vườn Thúy Hạnh
Tương tư rêu phủ mái Bình Linh”
[3] Quỳnh Dao Vấn Lục. Đào Uyển Minh. Trung Văn; Taiwan, 2001
[4] Nhattuan-TCM [5] Tdd – Footnote # 4
[6] Tôn Nữ Hỷ Khương. VN, 2006

“Tiếng Hát Hoa Đào” Vừa Rụng – Hoàng Lan Chi

“Tiếng hát hoa đào” là mỹ từ mà Hoàng Lan Chi tặng cho ca sĩ Hà Thanh. Hoa đào tượng trưng cho mùa xuân với vẻ đẹp nồng ấm, ngọt ngào, thanh thoát. Tiếng hát Hà là như thế. Không cao quá mà vẫn có cái lồng lộng của một cánh đào trước gió. Không quá nồng nàn quyến rũ mà có cái dịu dàng đằm thắm của một cánh hoa phớt hồng. 

Năm 2006, tôi thực hiện chương trình Hà Thanh-Nguyễn Văn Đông. Trong ấy, tôi nói về Hà Thanh, người được coi như hát những bản nhạc tiêu biểu của Nguyễn Văn Đông thành công nhất như Mấy Dặm Sơn Khê, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Hải Ngoại Thương Ca. Tôi chỉ nói về giòng nhạc lính ấy và tôi để Nguyễn Văn Đông trải tâm tình. Tôi không hề phỏng vấn Hà. 

Ngày ấy là một mùa đông của Virginia. Tuyết phủ trắng xoá trên những con đường dốc quanh co, tôi nghe Nguyễn Văn Đông kể về ngày tháng cũ với một giọng Nam trầm buồn. Giọng kể ấy nhuốm buồn hơn vì nhạc sĩ đang ở cách tôi cả nửa vòng trái đất. Ông vẫn đang ở tại quê nhà, nơi từng là thủ đô của một miền Nam tự do. Còn tôi thì đang trú ngụ cũng thủ đô nhưng lại là thủ đô của một cương quốc thế giới, một quốc gia đã song hành cùng vận mạng với Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử hai mươi năm. Nhạc sĩ kể về Hà Thanh với mối duyên văn nghệ. Ông biết Hà Thanh qua nhạc sĩ Mạnh Phát. Ông khen tặng Hà có những nốt luyến láy mà theo ông “rất truyền cảm, rất mỹ thuật làm nhạc phẩm của ông thăng hoa cả về giai điệu lẫn lời ca”.  Điều mà Nguyễn Văn Đông chia sẻ ấy thì hẳn là giới thưởng ngoạn của thập niên 60-70 đều tỏ. Về Mái Nhà Xưa và Hải Ngoại Thương Ca là hai nhạc phẩm đã được Hà Thanh luyến láy những nốt không ai trình bầy được như thế và như vậy giai điệu của nhạc phẩm đã trở thành độc đáo. 

Chương trình được nhiều khen tặng và nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vui bát ngát khi tôi chuyển cho ông những lời ấy. Những người của một Sài Gòn thuở nào, từng khoác chiến y hay chỉ dính líu một phần nhỏ nhoi, cũng không thể nào quên những nốt nhạc của Chiều Mưa Biên Giới, của Mấy Dặm Sơn Khê, của Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp. Một tầng lớp khác thì không thể nào quên Nhớ Một Chiều Xuân, Phiên Gác Đêm Xuân, Thầm Kín…

Tôi không nhắc gì đến ca sĩ. Tôi yêu tiếng hát Hà nhưng lúc ấy tôi chưa nghĩ đến Hà. 

Rồi tình cờ ai đó viết mail “Chương trình nay hay quá mà không cho Hà Thanh biết thiệt là uổng”.  Một chút xao động trong tôi. Ừ nhỉ, người đã chắp cánh cho những nhạc phẩm lính mênh mông ấy, lẽ nào không được biết? 

Thế là tôi đi tìm Hà. 

Tôi gọi cho chị vào năm 2007, hơn một năm sau của chương trình. Hà Thanh bất ngờ nhưng rồi mừng rỡ. Chị ríu rít như chim “Trời ơi, Hoàng Lan Chi, chị đi tìm em hoài. Chị về Cali và nghe mấy người có cả Nhất Tuấn hỏi chị là nghe chương trình phát thanh của em chưa!”. Sau đó tôi mail cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông báo tin hai chị em chúng tôi “tám” cả hơn một giờ. Nguyễn Văn Đông trả lời “Nghe cô đã liên lạc được cô Hà Thanh, nói chuyện vui vẻ, tôi mừng lắm. Nhưng hai bên nói chuyện lâu một tiếng rưỡi đồng hồ thì tôi lo ngại lắm. Tôi lo cô Hà Thanh xúi cô xuống tóc vào chùa thì còn gì Hoàng Lan Chi nữa. Tôi có bằng chứng là cô Hà Thanh đã gởi tặng tôi nhiều CD Kinh Phật, khuyến khích đi tu. Nhưng tôi đức mỏng, phận bạc nên Phật chưa đồng ý”. Sau đó khi  tôi “mét” Hà là anh Đông lo lắng chị dụ dỗ Hoàng Lan Chi đi tu, Hà Thanh chỉ bật cười. Một năm sau tôi thực hiện một chương trình phát thanh khác. Hà Thanh chia sẻ tâm tình của chị khi hát lại Mấy Dặm Sơn Khê ở hải ngoại: 

https://dl.dropboxusercontent.com/u/89792831/Music/Single/HaThanhNoiVeMDSKhe.mp3

Tôi thích trò chuyện với Hà Thanh dù rằng giọng Huế hơi khó nghe với tôi. Điều thích đó là chị rất hồn nhiên, đùa nghịch líu lo như trẻ thơ. Có lần tôi trêu chị “Trên Asia, thấy chị đoan trang nghiêm chỉnh quá vậy? Bên ngoài chị đâu có thế?” Hà bật cười. Chị kể cho tôi nghe thuở xưa chị chơi với Trịnh Công Sơn thế nào. Chị bảo ngày đó có “tam Ba” chơi với nhau rất thân là Ba Hà, Ba Hải, Ba Sơn cùng nhau nghịch ngợm viết giấy thề không ai lập gia đình cả! Tờ giấy  đó Ba Sơn tức Trịnh Công Sơn giữ! Chị còn kể một điều làm tôi cười ngặt nghẽo. Đó là có một nhạc phẩm ngộ nghĩnh lắm lắm, một tác phẩm học trò từ thuở xa xưa của nhạc sĩ Lê Vân Tú. Chị còn nhớ lõm bõm lời và tôi cười thú vị khi nghe chị hát. Mấy hôm sau tôi nghịch ngợm gọi sang Úc cho nhạc sĩ Lê Vân Tú và nối “three calling” với Hà Thanh. Chị cứ một điều Tú hai điều chị làm tôi buồn cười. Lý do, trong đầu tôi là một Hà Thanh trẻ trung, mặt kia là một giáo sư đại học Lê Vân Tú già dặn. Vì thế tôi không thể nào vẽ trong đầu một Hà Thanh như vai vế chị của GS Tú. 

Một lần khác, chị vừa nói chuyện với tôi vừa chuẩn bị ăn chiều. Tôi hỏi hôm nay ăn gì. Hà Thanh cười rất hồn nhiên “Ăn mì nì ngon lắm. Hoàng Lan Chi há miệng  ra, chị Hà đút cho một miếng, hỉ”. ‘Rồi há miệng ra chưa!”. 

Có lần tôi la lên là tại sao làm mất số phone của tôi hoài, Hà Thanh rất ngoan “Thôi bây giờ để chị Hà ghi số của Hoàng Lan Chi lên cánh cửa hỉ. Vậy là không mất”. Quả là lần sau đó thấy chị gọi được cho tôi.  Hà Thanh bịnh đã khá lâu nhưng chị không cho tôi biết. Một lần qua Lê Hữu, tôi được tin chị mới vào bệnh viện. Tôi gọi cho chị, lúc đó là cuối năm 2012 thì phải. Lúc đó chị mới cho hay chị bị ung thư máu và bác sĩ không thay tuỷ vì đã ngoài sáu mươi. Hà Thanh vẫn lạc quan. Có vẻ chị sùng đạo Phật, ăn chay trường đã lâu nên sinh tử là chuyện không ảnh hưởng nặng nề với chị. Tôi báo tin cho anh Nguyễn Văn Đông thôi vì Hà không muốn ai biết. Anh chỉ lặng lẽ cầu nguyện cho chị. 

Tháng Ba năm 2013, sau khi nói chuyện với Hà, tôi viết  “Hà Thanh, tiếng hát hoa đào”. Tôi không cho ai biết đó là chương trình tôi viết riêng để tặng Hà Thanh vì tôi biết rồi chị sẽ ra đi. Vương Trùng Dương xin phép đăng trên Báo Sài Gòn Nhỏ. Rồi Hà Thanh kể “Chị đi chùa, có mấy người gọi chị nói là thấy có báo viết về chị”. Tôi mail cho Vương Trùng Dương, nhờ anh nói toà soạn Sài Gòn Nhỏ gửi báo cho Hà. Hai tuần sau gọi lại, Hà bảo không nhận được. Tôi trách Vương Trùng Dương thì anh trả lời rằng anh đã nhờ toà soạn gửi chứ cá nhân anh không lo chuyện đó. Đến giờ này tôi cũng quên không hỏi VTD nữa nhưng chắc chị Hà không nhận được rồi. 

Tháng Mười Một 2013, tôi linh cảm và tôi gửi bài Tiếng Hát Hoa Đào cho Bút Tre. Sau khi báo đăng, tôi nhắn chủ nhiệm Mộng Tuyền gửi cho Hà. Mộng Tuyền là một chủ báo dễ thương nhất trên đời. Mọi yêu cầu của cô Hoàng Lan Chi bao giờ cũng được Mộng Tuyền chu đáo. Chu đáo hơn cả yêu cầu. Hà Thanh nói với tôi “Chị nhận hai báo Bút Tre rồi. Có cả thiệp và một cái áo thun nữa. Báo đẹp lắm. Mà họ lấy đâu được mấy bức hình cũ đẹp hỉ”. Tôi nói “Em chỉ gửi cho Bút Tre một tấm thôi, còn họ tự tìm đấy”. “Nói dùm là chị Hà cảm ơn nhiều, tốt quá hỉ. Chị cho em gái chị một cuốn, còn chị giữ một cuốn”. 

Tôi hài lòng. Ít ra, tiếng hát hoa đào ấy, người hát lồng lộng trời cao, không điệu đà, không điều tiếng gì, người mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã ngậm ngùi “Con chim hoạ mi quý đã bỏ mình tôi cô đơn trên con đường nghệ thuật kể từ khi cô đi lấy chồng” , cũng xem được một bài viết về chị từ một người phụ nữ khác; một người phụ nữ yêu mến tiếng hát Hà với tất cả chân tình, viết về Hà với tất cả dấu yêu. 

Sau đó, thỉnh thoảng tôi gọi coi tình hình sức khoẻ Hà Thanh ra sao. Có khi Hà báo tin lên ký chút đỉnh vì không ăn chay nữa do bác sĩ yêu cầu. Cách đây khoảng hơn hai tuần, tôi gọi. Hà Thanh mới từ bệnh viện về. Tuy mệt nhưng giọng chị vẫn reo vui. Chị nói có vẻ y học đầu hàng gì đó. Tôi im lặng không biết nói gì. Hà Thanh cười “Không sao. Sống chết là chuyện bình thường”. Tôi cũng không thích an ủi lẽ thường tình vì Hà Thanh là người ngoan đạo lắm. Tôi bảo “Hà hát mấy câu gì Đến Tuổi Này đi, em thích cái đó lắm”. Hà Thanh, có lẽ giống như nhiều ca sĩ khác, nghe đến hát là không biết mệt hay đau là gì. Hà líu lo hát ngay. Hát xong, Hà nói “Hoàng Lan Chi hát đi. Hát đi mới thuộc được”. Tôi chiều chị và hát đại. Nghe dở ẹt vì vốn dĩ hát dở mà lại chưa thuộc melody nên cứ ngang phè phè. Tôi bật cười khi nghe chính giọng mình “Thôi em hát không được đâu!” Hà dỗ dành “Thì cứ hát đi”. Lúc ấy, tôi không hiểu vì sao Hà có vẻ dỗ dành tôi thế. Hà có vẻ như muốn tôi phải thuộc giai điệu mấy câu thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương mà Hà “chế” thành nhạc! Sau vài lần thất bại, tôi nói “Để em thu âm Hà cho rồi. Em sẽ nghe đi nghe lại thì sẽ thuộc điệu nhạc.” Hà ngoan ngoãn cúp điện thọai để tôi gọi lại sau khi mở Cool Edit. Laptop với win7 không fix với Cool Edit cũ này nên tôi không chỉnh được audio như trước kia. Đành thu đại bằng cách mở speaker của cell phone.  Đó là những âm thanh cuối cùng của Hà Thanh. Đó là những giai điệu nhạc do Hà chế ra từ thơ Tôn Nữ Hỷ Khương. Đó là lần cuối tôi nghe Hà nói.  

https://dl.dropboxusercontent.com/u/89792831/Music/Single/HaThanh-DenTuoiNay.mp3 

Tối mùng Một của tết tây 2014, tôi nhận mail từ Ns Nguyễn Văn Đông “Anh vừa nhận được Phone của TQB ở Cali, báo tin cô Hà Thanh vừa qua đời vì bệnh ung thư máu cách đây 2 tiếng đồng hồ. TQB đề nghị anh viết về Hà Thanh. Anh viết gì nổi bây giờ nên anh vào Blog HLC, chép bài viết năm xưa “Hà Thanh với nhạc sĩ NVĐ”gởi cho TQB rồi. Ở Việt Nam bây giờ là 11 giờ sáng ngày 2/1/2014. Anh Đông”.

Tôi không bất ngờ vì biết trước nhưng lòng vẫn trĩu nặng. Trước đó, ngày 7 tháng 12/ 2013, tôi viết “Hai người tôi muốn gặp bây giờ”. Trong đó tôi ám chỉ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và ca sĩ Hà Thanh.  Hà Thanh đã không bao giờ gặp mặt tôi. Hai chị em như hai người tình net.  Tuần trước một ông anh rể mất và một ông anh viết “Nước mắt nào cho đủ để tiễn nhau đây”.  Dường như với Hà, tôi cũng vậy. Cũng dường như khi người ta yêu quá thì nước mắt không hề chảy. Từ hôm qua đến giờ, tôi chưa hề nhỏ lệ cho Hà Thanh.  Tiếng hát hoa đào của tôi vừa rụng. Cánh hoa tung trong gió ngàn và có lẽ vì thế không cần đến giọt lệ Hoàng Lan Chi.

Hoàng Lan Chi – Cali ngày 2 tháng 1, 2014

Hà Thanh, Đoá Hương Ca Xanh Ngát
                                               Tác giả: Trịnh Thanh Thủy – January 4, 2014

Tin cô từ trần lan ra ngày một xa. Ngày đầu năm mới, sự ra đi của nữ danh ca Hà Thanh như một làn gió thoảng với thế hệ những người không biết đến giọng hát cô.  Tuy nhiên với các thính giả mến mộ, nó như một cơn mưa tuyết, bông nõn, rơi nhẹ, nhưng thấm lạnh từ từ.

Báo chí và giới truyền thông trong và ngoài nước đều nhắc nhở tới cô như một mất mát lớn của làng ca nhạc. Những người đã từng tiếp xúc, làm việc và sinh hoạt chung với cô đều chia sẻ những cảm xúc chân thật vừa thương yêu vừa mến phục lại có phần kính ngưỡng. Tiếng hát của cô từng được khen tặng như tiếng hót một con oanh ca hàng đầu xứ Huế hay tiếng hát vượt thời gian trong một CD của Paris By Night mấy năm gần đây.

Với tôi, chỉ qua một lần tiếp xúc, tôi thấy cô như một đóa hoa xanh ngát hương thơm.

Tôi gặp cô trong một lần cô bay về Cali để hát thiện nguyện cho một buổi lễ Phật Đản được tổ chức rất lớn ở Orange County cách đây vài năm. Cô đến nhà chúng tôi trò chuyện và đàn hát rất tương đắc. Nhìn cô ôm đàn say sưa hát, tôi thấy âm nhạc hình như trổ nốt đen, trắng trong máu, trong tim cô. Cô hát tự nhiên, nhẹ nhàng và thanh thoát hệt như dáng dấp và con người. Tôi rất thích lối luyến láy của cô và phải thú nhận một điều, tôi học và cũng bắt chước lối luyến láy của cô khi hát. Cô và chúng tôi hát Đạo Ca. Chúng tôi tập bài “Chân Nguyên”, một bài hát mà cô hát rất đạt và hay của Trực Tâm. (Vài ngày sau tôi có gặp tác giả và cùng cô trò chuyện ở chùa TQ do ni sư Chơn Đạo trụ trì). Cô dạy tôi hát hai ba bài Đạo Ca do cô sáng tác. Những ca từ trong sáng, âm điệu nhẹ nhàng, lưu chảy, nói về Phật Đạo và hình ảnh ngoan hiền của người con gái đi lễ chùa.

Ngày hôm sau chúng tôi cùng cô dự lễ Phật Đản và cô lên sân khấu hát. (Tôi cũng gặp ca sĩ Phương Dung ở đây).  Cô mặc một chiếc áo dài có vẽ hoa sen. Cô dịu dàng, thanh thoát, trang nhã và trẻ hơn bao giờ. Cô hát Đạo ca đẹp và cao quý như cô sinh ra để hát Đạo ca vậy. Ca từ phát huy lễ nghĩa của con người để tu thân, âm nhạc phả vào không gian cái khí thiêng của cỏ cây vạn vật. Giọng hát từ đáy lòng của cô như gió chuyên chở làn hương ca vô tận của đạo đức đến khắp phương trời.

Những năm sau 1984, cô bắt đầu bước vào Đạo Ca như một lẽ tự nhiên của người con Phật.  Tôi không ngạc nhiên khi sự nghiệp ca hát của cô nghiêng về khúc rẽ đó vì tôi cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc khi mình hát Phật ca. Kinh Phật rất khó học và hiểu. Nó khó với tôi không những vì ý nghĩa thâm sâu mà còn gây trắc trở lớn vì ngôn từ Việt pha Hán, Phạn, thành ra rất khó nhớ. Tuy nhiên âm nhạc mang âm điệu, ca từ lập đi lập lại, sự sắp xếp cung bậc cao thấp,  luyến láy, khiến óc con người dễ cảm nhận và nhớ nhanh hơn.  Giọng hát Hà Thanh rất riêng, không lẫn vào đâu được, trong và cao nên cô có thể bay bổng ở những nốt cao và đáp xuống dễ dàng ở những nốt thấp trong âm vực một bài hát.  Do đó cô hát Đạo Ca thật hợp và tuyệt. Một người bạn bảo tôi, giọng cô “sang, quí phái”, tôi không ngờ cái chất “noble” nó cũng đọng được trong giọng hát. Phải chăng giọng hát và con người thường đi đôi với nhau? Hay là nét thanh tân, khuê các của đất thành nội cổ kính đã ấp ủ, nuôi nấng người nữ sinh Đồng Khánh để hun đúc, làm nên một giọng ca vương giả đất Thần Kinh.

Trong lần tiếp xúc với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ở Việt Nam, tôi có đàm đạo với chú về âm vực và ca từ của những sáng tác chú đã viết trong những thập niên trước 1975. Chú nói Thái Thanh có âm vực tốt, hát được những bài có nốt cao như “Mấy dặm sơn khê” của chú rất tuyệt vời.  Hà Thanh cũng vậy, Cô hát dễ dàng những bài hát có âm vực rộng của chú viết. Nhìn chú trân trọng lấy chiếc máy hát cũ mở cho tôi nghe những ca khúc Hà Thanh hát nhạc xưa của chú, tôi biết chú trân quí Hà Thanh biết dường nào. Tuy không còn gặp lại cô sau ngày cô qua Mỹ, nhưng chú vẫn dõi theo âm ba tiếng hát ngọt ngào của con hoạ mi xứ Huế.

Nhìn lại những bông hoa tinh thần tuyệt sắc là những bài Phật ca mà Hà Thanh đã hát, tôi thấy được cô hát Thiền Ca rất nhiều. Ngoài những CD như : Ngát hương đàm – Phật Ca, Duy Cường hòa âm (1999) và Nhành dương cứu khổ – Phật Ca, Trầm Tử Thiêng hòa âm(2003) còn rất nhiều bài hát được lưu hành trên các website Phật giáo, you tube, hay những trang nhà cá nhân . Tôi thích nhất là bài “Chân Nguyên”, còn những bài rất xuấc sắc khác mà khi cô hát tôi cảm được chất thiền lưu chảy trong người cô như “Thích Ca Mâu Ni Phật”, “Lạy Phật chứng tri lòng con”, “Kết hoa dâng cúng Phật đài”…v..v..

Hôm nay cô đã thanh thản đi về nơi tít tắp Chân Nguyên nào đó không còn những phiền muộn, đau đớn của kiếp người nhưng tiếng hát cô vẫn hoài vang vọng.  Tôi có nghe về một thứ hương hoa thơm ngược gió của những người đức hạnh. Tôi không dám xét đoán hay đưa đến một kết luận vội vã nào về cô. Nhưng tôi biết chắc đoá hoa hương sắc Hà Thanh mãi thơm, mãi xanh ngát trong lòng những người mến mộ.

Trịnh Thanh Thủy

Nhạc Phẩm “Chân Nguyên”, tác giả Trực Tâm, Hà Thanh trình bày: www.youtube.com/watch?v=o1P8BQ0_oMc

Xin vui lòng gởi thêm tài liệu và ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng: dathphan1@gmail.com

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NỮ CA SĨ HÀ THANH , từ trần ngày 1 tháng 1, 2014, USA


VO CUNG THUONG TIEC NU CA SI HA THANH,
Trần thị Lục Hà, Pháp Danh Tâm Từ, Sanh Ngày 25/7/1937, Mất ngày 1/1/2014.
 
***SUPER HD YOUTUBE 

Sám Hối -Hà Thanh Sáng Tác và Trình Bày -LienNhu

***HD YOUTUBE PLAYLIST “Ca Si Ha Thanh”
Xin qui than huu hop loi cau nguyen .
TRAN NANG PHUNG & MINH NGOC
Phung Nang Tran has shared a video playlist with you on YouTube
30
videos
Ca Si Ha Thanh -2 : Tuyen Tap Nhung Ca Khuc Hay Nhat
PLAYLIST  by Phung Nang Tran

TRẦN QUỐC BẢO : VĨNH BIỆT TIẾNG HÁT HÀ THANH – LOÀI HOA VỠ BÊN TRỜI


VĨNH BIỆT TIẾNG HÁT HÀ THANH – LOÀI HOA VỠ BÊN TRỜI

2 janvier 2014, 10:22

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Việt Tide phát hành ngày thứ sáu 3 tháng 1 năm 2014)

Ảnh trên là ca sĩ Hà Thanh. Ảnh dưới, từ trái sang phải là các ca sĩ Anh Ngọc, Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao và Hà Thanh chụp năm 1992

Ảnh trên là ca sĩ Hà Thanh. Ảnh dưới, từ trái sang phải là các ca sĩ Anh Ngọc, Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao và Hà Thanh chụp năm 1992

Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời Đợi mùa Xuân sang tô màu nhớ, Dừng chân trông hoa xuân hồng thắm, Buồn tìm về tình ai đằm thắm. Giờ vun vút trời mây..

(Nhớ Một Chiều Xuân – Nguyễn Văn Đông)

Cứ mỗi lần nghe ca khúc này và Sắc Hoa Mầu Nhớ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tôi lại bâng khuâng nhớ về giọng hát Hà Thanh. Tiếng hát của những hoài niệm. Tiếng hát của những giọt nắng chiều tiếc nhớ. Mỗi khi chị hát đoạn “loài hoa vỡ bên trời”, trái tim tôi như ai bóp mạnh hơn, nhói hơn khi nhớ về những mùa Xuân xưa quê nhà nay đã không còn nữa..

     Những năm gần đây, Trung Trần, một cậu em tuổi đời mới 25, sống ở Cần Thơ, nhưng lại chỉ thích nghe giọng hát của các cô chú Thanh Thúy, Bạch Yến, Minh Hiếu, Hoàng Oanh, Phương Hồng Quế, Giáng Thu, Mạnh Quỳnh (Gõ Cửa), Giang Tử, Phương Dung, Mai Lệ Huyền.. và những ca khúc trữ tình trước 75. Mỗi tháng, Trung thỉnh thoảng dành thì giờ nhắn tin, điện thoại thăm hỏi các cô chú, và chỉ khi nào Trung không liên lạc được, em mới ngõ ý nhờ người viết giúp tìm. Trong số những người Trung nhờ mà tôi chịu thua suốt 3 năm qua, đó là ca sĩ Hà Thanh. Có lúc, tôi phải tìm đến các nghệ sĩ Thanh Thúy, Như Hảo, Phương Hồng Quế.. những người từng một thời thân thiết với chị.. nhưng chẳng ai có câu trả lời. Sau này tôi mới biết, khi cô thu Video cho TT Thúy Nga bài Hoa Xuân, sau đó với TT Asia nhạc phẩm Nha Trang, chị khám phá mình vướng vào căn bịnh ung thư máu. Từ đó, chị tránh né và gần như cắt đứt mọi liên lạc với những tình thân.

      Chiều thứ tư ngày 1 tháng 1 năm 2014, mới khoảng 5g00 chiều hơn, ca sĩ Mai Hương, giọng hốt hoảng báo tin: “Có tin chị Hà Thanh vừa mất, B. biết chưa?”. Tôi đang ngầy ngật vì mất ngủ nguyên đêm và nhất là vừa bước vào nhà sau một chuyến bay từ Houston trở về, chợt thót tim trước hung tin đưa tới. Chị Mai Hương chỉ biết có thế và hai chị em chỉ biết lặng im bùi ngùi qua điện thoại. Tôi gọi đến chị Hoàng Oanh, và chị cũng cho biết, đó là tin cô Bạch Lan, em gái ca sĩ Hà Thanh đã xác nhận là sự thật. Ôi, vậy là thật rồi, tháng 12 năm nay, tháng của giỗ một năm Duy Quang khuất bóng, rồi những tin buồn tới tấp của các ca nhạc sĩ Huỳnh Anh, Việt Dzũng ra đi và bây giờ vừa bước vào ngày đầu tiên của một năm mới, ngày 1 tháng 1 năm 2014, tiếng hát của những “khúc tình ca xứ Huế”, tiếng hát của những giòng nhạc Nguyễn Văn Đông, giờ đã về bên kia thế giới. Và những cú điện thoại sau đó, là những bàng hoàng, là những nấc nghẹn của Thanh Thúy, Như Hảo, Phương Hồng Quế.. khi nhắc lại những kỷ niệm của những ngày còn bên cạnh Hà Thanh.  HÀ THANH theo tuổi ghi trên các mạng điện tử thì cô sinh năm 1939, nhưng theo các ca sĩ Thanh Thúy, Mai Hương, Hoàng Oanh, mỗi lần từ Boston bay đến Quận Cam, tiếng hát Sắc Hoa Mầu Nhớ luôn tạm trú ở chùa TQ do ni sư Chơn Đạo trụ trì, và theo lời của vị ni sư này, tuổi thật Hà Thanh là năm 1937. Khi nói về tuổi thật và tuổi trên giấy tờ, ca sĩ Thanh Thúy nói theo cảm nghĩ riêng của mình: “Chị nghĩ rằng, ghi lại đúng tuổi thật của một người đã mất, đó là điều quan trọng.

      Dưới đây là một số tư liệu được góp nhặt từ nhiều nơi, viết về cuộc đời ca sĩ Hà Thanh.

    Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh ở Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Bà là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có mười anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích bà khi nhận thấy cô em mình có biệt tài ca hát. Là một người theo đạo Phật, ngày nhỏ Lục Hà theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh trên Đài phát thanh Huế. Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà khi đó mới 16 tuổi tham dự. Lục Hà đạt giải nhất với sáu nhạc phẩm rất khó, trong đó có bài Dòng sông xanh, và tên bài hát đó đã trở thành nghệ danh của cô: Hà Thanh. Hà Thanh tiếp tục học và có đi hát cho Đài phát thanh Huế.

    Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Bà trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó. Vào giữa thập niên 1960, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Bà rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như Hàng hàng lớp lớpChiều mưa biên giới… Trong khoảng thời gian từ 1965 tới 1975 ở Sài Gòn, Hà Thanh thâu âm rất nhiều cho các hãng đĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Shotguns, Trường Sơn, Premier, Continental, Sơn Ca… Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, có nhiều người yêu thích Hà Thanh. Nhà thơ Bùi Giáng từng làm nhiều thơ và viết sách ca ngợi nhan sắc của bà. Nhà văn Mai Thảo là một người rất si mê Hà Thanh, ông đã từng từ Sài Gòn ra Huế để xin cưới Hà Thanh. Năm 1970, Hà Thanh kết hôn với Trung tá Bùi Thế Dung của Binh chủng Thiết Giáp. Năm 1972, hai người có một con gái là Kim Huyền.

    Sau năm 1975, TT Bùi Thế Dung phải đi cải tạo. Năm 1984 Hà Thanh cùng con gái được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ. Năm 1990 vợ chồng Hà Thanh sum họp nhưng tan vỡ hai năm sau đó. Tại hải ngoại, Hà Thanh không trình diễn thường xuyên và có ghi âm một số CD như Hải ngoại thương ca – Giáng Ngọc thực hiện (1985), Chiều mưa biên giới – Giáng Ngọc thực hiện (1995), Sầu mộng – Phạm Vũ thực hiện (1995), Ngát hương đàm – Phật Ca (1999), Chinh phụ ca – Giáng Ngọc thực hiện (2000), Nhành dương cứu khổ – Phật Ca (2003).

 

NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG VÀ NHỮNG KỶ NIỆM VỚI HÀ THANH

Ảnh Hà Thanh trên bìa một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và ảnh trái là hình NS Nguyễn Văn Đông thời trai trẻ

Ảnh Hà Thanh trên bìa một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và ảnh trái là hình NS Nguyễn Văn Đông thời trai trẻ

         Khi nhận được tin ca sĩ Hà Thanh vừa mất, người tôi gọi đầu tiên để báo không ai khác, chính là nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, hiện vẫn cư ngụ tại Sàigòn. Tôi không nghĩ giọng nói mình đã lạc hẳn, ngay cả chính cô Thu, vợ chú Đông, cứ hỏi mấy lần cháu là B. nào, vì “giọng cháu sao lạ quá”. Khi nhận hung tin, Ông lặng người đến nhiều giây. Tôi tôn trọng những phút giây xé lòng đó, của những thân tình sâu đậm giữa người hát và người sáng tác tròn 50 năm trước. Ông hứa sẽ gửi một bài viết nhắc nhớ những kỷ niệm với ca sĩ Hà Thanh mà Ông từng trả lời phỏng vấn nhà báo Hoàng Lan Chi từ năm 2008. Và chỉ 20 phút sau, bài viết này, đã được gửi đến những trang văn nghệ Việt Tide. Mời bạn đọc bước chân vào vùng kỷ niệm:

    “Lần đầu tiên, tôi được gặp cô Hà Thanh là vào năm 1963 tại Đài Phát Thanh Sàigòn ở số 3 đường Phan Đình Phùng ngày xưa, bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiễu. Khi ấy, tôi là Trưởng Ban Tiếng Thời Gian của Đài Sàigòn với các ca sĩ như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc v.v. Ngày đó cô Hà Thanh từ Huế vào Sàigòn thăm người chị gái lập gia đình với một vị Đại tá đang làm việc ở Sàigòn. Chính nhạc sĩ Mạnh Phát cho tôi biết về cô Hà Thanh nên tôi nhờ Mạnh Phát liên lạc mời cô Hà Thanh đến hát với Ban Tiếng Thời Gian. Đây là lần đầu tiên tôi được tận tai nghe tiếng hát Hà Thanh, hát nhạc sống và hát thật ngoài đời với ban nhạc của tôi, không nghe qua làn sóng phát thanh hay qua băng đĩa nhạc. Điều này giúp cho tôi có cơ sở nhận định chính xác về giọng hát Hà Thanh. Tôi hiểu ngay đây là giọng ca thiên phú, kỹ thuật tốt, làn hơi diễn cảm tuyệt đẹp, là một vì sao trong những vì sao hiếm hoi ở đỉnh cao nghệ thuật nhưng chưa có cơ hội phát tiết hết hào quang của mình.

   Ngay sau đó, tôi có mời Hà Thanh thâu thanh cho Hãng đĩa Continental. Nếu tôi nhớ không lầm thì bản nhạc đầu tiên tôi trao cho Hà Thanh là bài Về Mái Nhà Xưa do tôi sáng tác. Lần đó, cô Hà Thanh hát thật tốt, toàn ban nhạc và Ban Giám Đốc Hãng Continental rất hài lòng, khen ngợi. Sau ngày đó, cô Hà Thanh từ giã trở về lại Huế, trở về lại với Cố đô trầm mặc, tĩnh lặng, không sôi nổi như Thủ Đô Saigòn, là cái nôi của âm nhạc thời bấy giờ.    

     Sau khi Hà Thanh trở về Huế, tôi có nhiều suy tư về giọng hát đặc biệt này. Tôi ví von, cho đây là vì sao còn bị che khuất, chưa tỏa hết ánh hào quang, vì chưa có hoàn cảnh thuận lợi để đăng quang, nếu phó mặc cho thời gian, cho định mệnh, có thể một ngày kia sẽ hối tiếc. Vì vậy tôi đem việc này ra bàn với Ban Giám Đốc Hãng đĩa Continental để mời cô Hà Thanh vào Sàigòn cộng tác. Chính tôi viết thư mời cô Hà Thanh vào Sàigòn với những lý lẽ rất thuyết phục, rất văn nghệ, rất chân tình. Và cô Hà Thanh đã vào Sàigòn sau khi đã tranh đấu gay go với gia đình bố mẹ, vốn giữ nề nếp cổ xưa của con người xứ Huế. Ngày đó Hà Thanh vào Sàigòn, hòa nhập vào đời sống người Sàigòn, vào nhịp đập âm nhạc Sàigòn, vốn đứng đầu văn nghệ cả nước. Hà Thanh đi thâu thanh cho Đài Sàigòn, Đài Quân Đội và nhận được lời mời tới tấp của các Hãng đĩa băng nhạc như Sóng nhạc, Việt Nam, Tân Thanh, Tứ Hải và hầu hết các Trung Tâm ở Thủ Đô Sàigòn, chứ không phải chỉ riêng cho Hãng dĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Ngày đó, tiếng hót của con chim Sơn Ca đất Thần Kinh đã được vang thật xa, đi vào trái tim của hàng triệu người yêu mến tiếng hát Hà Thanh. Cô Hà Thanh hát hầu hết các tác phẩm của tôi. Bài nào tôi cũng thích, cũng vừa ý, có lẽ vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện viết bài đặc biệt cho riêng cô. Tôi nhớ lại một chuỗi những sáng tác trong thời binh lửa chiến tranh như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính Chiến,Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt vân vân, đều rất hợp với tiếng hát Hà Thanh và cô hát rất thành công. Tôi cho rằng Hà Thanh không chỉ hát mà còn sáng tạo trong khi hát. Hà Thanh đã tạo thêm những nốt luyến láy rất truyền cảm, rất mỹ thuật làm cho bài hát của tôi thêm thăng hoa, trong giai điệu cũng như trong lời ca. Tôi cho rằng khi hát cô Hà Thanh đã sống và cùng đồng điệu sẻ chia với tác giả khi trình bày một bản nhạc có tầm vóc nghệ thuật.     

     Tôi cho rằng Hà Thanh có giọng hát thiên phú, cô hát rất thoải mái dễ dàng, không cầu kỳ, không cường điệu, không gò bó nhưng nó cuốn hút ta đi trong cái bềnh bồng không gò ép đó. Tôi cám ơn tiếng hát của Hà Thanh đã mang lại cho các bài hát của tôi thêm màu sắc, thêm thi vị, bay bổng. Trước khi đến với Hà Thanh, tôi cũng rất ngưỡng mộ tiếng hát của cô Thái Thanh, Lệ Thanh, Khánh Ngọc và nhiều người khác đã gieo khắp phương trời tiếng lòng của tôi, cũng như về sau này có thêm các cô học trò như Thanh Tuyền, Giao Linh đã giúp cho ông Thầy truyền tải đến trái tim người yêu nhạc. Nhưng đặc biệt, tiếng hát Hà Thanh đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm tốt đẹp, bền bỉ tuy thời gian ngắn ngủi kể từ khi cô bỏ đi lấy chồng để tôi độc hành trên đường nghệ thuật. Sau biến cố 1975, tôi không còn dịp hợp tác với cô Hà Thanh như trước đây. Nhưng thỉnh thoảng tôi được nghe cô hát một sáng tác mới của tôi ở hải ngoại, tôi vẫn cảm thấy tiếng của cô vẫn đậm đà phong cách ngày xưa, vẫn một Hà Thanh diễn cảm, sang trọng, sáng tạo trong khi hát, mặc dù thời gian chia cách đã 40 năm qua.