LÊ VĂN KHOA : Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc


Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc

le van khoa

Thursday, 26 December 2013 00:40 GS Lê Văn Khoa
Posted by: Cao Minh Hưng
E-mailPrint

Read 90 times.

 


Có thể các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam trước 1975 đã quên giá trị của trống trận Tây Sơn, hoặc đặt chưa đúng mức chỗ đứng của âm nhạc trong cuộc chiến Quốc-Cộng trên đất nước ta. Có thể phần lớn chúng ta vì quá tôn trọng sự tự do nên ít chú ý đến giá trị và sức mạnh của âm nhạc cần được ứng dụng trong thời chiến. Trong khi chiến cuộc gia tăng cường độ, các đài phát thanh, truyền hình của miền Nam, nhất là các phòng trà mãi rên rỉ về những cuộc tình tan vỡ. Ðến lúc sự ủy mị lan tràn quá mạnh, người có trách nhiệm tỉnh ngộ, ra lệnh cấm các cơ quan truyền thông phát thanh loại nhạc với nhịp điệu boléro, thường đi với ca khúc than khóc, dễ làm nản lòng chiến sĩ. Tôi còn nhớ khoảng năm 1972-1973 khi nộp một chương trình để thu hình cho ca đoàn Trùng Dương trình diễn trên Truyền Hình Việt Nam, trong đó có bài “Mùa Hoa Nở” của nhạc sĩ Cung Tiến. Kiểm duyệt viên của bộ Thông Tin hỏi tôi bài này theo nhịp gì? Tôi trả lời là nhịp boléro. Bài “Mùa Hoa Nở” bị xóa khỏi chương trình, không cho thu hình. Lý do: nhịp điệu boléro. Người ta không cần biết nội dung, không chú ý đến lời ca. Tôi nói với viên chức kiểm duyệt rằng: “Tôi sẽ thu hình bài này mà các ông không cấm được”. Ông ấy hỏi tôi: “Tại sao?” Tôi đáp: “Rồi các ông sẽ thấy”.

NS Kateryna Myronyuk su dung dan bandura

Tôi có lý do để trả lời cứng với người kiểm duyệt vì phần nhạc đệm không phải là ban nhạc loại phòng trà mà là ban Kim Mộc, ban nhạc diễn hành của Hải Quân Việt Nam. Bài nhạc có một đoạn ngắn được viết theo nhịp boléro, ngay sau đó tôi chuyển qua nhịp quân hành.
Vài tuần sau tôi xin kiểm duyệt lại bài “Mùa Hoa Nở”. Lần này tôi ghi bài sẽ được chơi theo nhịp quân hành, thì được cho phép thu hình. Thật ra boléro chơi với dàn hòa tấu Kim Mộc âm hưởng rất khác với ban nhạc loại phòng trà khiêu vũ.

Sau khi thu và phát hình bài “Mùa Hoa Nở” tôi bị khiển trách không phải vì nhịp điệu boléro (họ không chú ý đến boléro vì không thấy nét ủy mị) mà trách rằng: “Tại sao Tướng Kỳ chưa ra lệnh Bắc tiến mà các anh dám đi trước?” Tôi trả lời: “Cần chuẩn bị tinh thần quân dân sẵn sàng để Bắc tiến khi có lệnh! Nếu để xuất quân rồi mới chuẩn bị thì trễ mất rồi.” Lúc đó có dư luận nói quân đội miền Nam chuẩn bị Bắc tiến.

Việc này tôi tin tác giả Cung Tiến không hề biết.
Năm 2005 tôi qua Ukraine để thu thanh CD Symphony “Việt Nam 1975”. Có người trách tôi sao qua Nga để thu thanh. Họ không biết Ukraine đã bị Nga đô hộ suốt 70 năm và đã tách ra khỏi khối Liên Bang Sô Viết năm 1991, khi Nga Sô suy yếu sau vụ sụp đổ bức tường Bá Linh. Tuy hiện nay vẫn có những người thân Nga nhưng nói chung dân chúng Ukraine rất thù Nga. Dường như không có gia đình nào không có người bị Nga hành quyết.

Trong khi ở Ukraine, tôi chú ý đến nhạc cụ dân tộc của họ là cây đàn bandura và tôi có chuyển vài bài dân ca Việt như “Se Chỉ Luồn Kim” và “Trống Cơm” cho độc tấu bandura và dàn nhạc giao hưởng với ý muốn đem truyền bá dân nhạc Việt qua xứ người. Không ngờ việc làm này đã được Tiến Sĩ Nghệ Thuật chuyên về Bandura, bà Violetta Dutchak, thuộc Bộ Khoa Học Nhân Văn và Nghệ Thuật của Ukraine tuyên bố: “Lần đầu có người đưa hai nguồn văn hóa dân tộc (giai điệu dân ca Việt viết cho nhạc cụ quốc gia Ukraine) đến với nhau, qua âm nhạc.”
Khi nghiên cứu nhạc cụ mang tên là nhạc cụ dân tộc của Ukraine (họ không gọi là nhạc cụ cổ truyền), một lần nữa tôi được minh xác là từ trước người ta đã nhận thấy giá trị sâu xa của âm nhạc. Trong trường hợp này, người Đức, Ba Lan và Nga đối với nhạc dân tộc của người Ukraine đã thẳng tay truy diệt người phổ biến loại nhạc này. Ðàn bandura mang tên là “nhạc cụ dân tộc” quả nhiên đã trôi nổi và chịu khổ hạnh với dân tộc Ukraine trong nhiều thế kỷ.

Đàn bandura có thể trình diễn như nhạc cụ độc tấu, nhưng cũng có thể dùng đệm cho giọng ca. Trong thời Ukraine bị Ba Lan đô hộ ở phía Tây, đàn bandura được ưa chuộng trong triều đình Ba Lan cho đến khi cuộc nổi dậy chống Ba Lan năm 1648 thì Bandura bị cấm tuyệt và người chơi đàn này bị giết vì bị liệt kê là rất nguy hiểm. Bên phía Ðông của Ukraine, phần đất thuộc Nga cai trị, đàn bandura được phát triển mạnh cho đến năm 1876 thì đàn này bị cấm, tất cả những gì trình diễn có tính chất dân tộc và ngôn ngữ Ukraine cũng bị cấm luôn. Nhưng đáng sợ hơn hết là Stalin và cộng sản Nga trong thế kỷ 20. Người Nga muốn đồng hóa nguời Ukraine vào dân tộc Nga nên không chấp nhận có một nhạc cụ mang tên Nhạc Cụ Quốc Gia từ Ukraine.

Năm 1933 Nga đã ra tay giết 7 triệu người Ukraine (sau này có tài liệu nói số người chết có thể lên đến trên 10 triệu) trong một năm bằng cách bỏ đói họ. Nga cướp hết những gì có thể ăn được của người Ukraine, kể cả cải muối làm dưa. Họ không cho phép người Ukraine ra nước ngoài, không cho người vùng này qua vùng khác trong xứ để kiếm ăn. Họ muốn biến những người còn sống không còn tinh thần quốc gia mà trở thành người quy phục Nga tuyệt đối.

Nhưng tinh thần quốc gia dân tộc vẫn còn được cổ võ trong dân chúng do những người kobzari. Kobzar là tên đến từ đàn kobza mà kobza là tiền thân của đàn bandura. Người chơi kobza gọi là kobzar, số nhiều là kobzari. Từ xa xưa kobzari đi theo đoàn quân Cossack để ủy lạo chiến sĩ và cầu hồn cho các tử sĩ. Họ dùng bandura để đệm hát những thiên hùng ca dân tộc.

Ai là kobzar? Kobzar là người chơi đàn kobza, nhưng không phải ai chơi đàn kobza cũng đều được gọi là kobzar. Muốn được vào thành phần kobzari, người nhạc sĩ phải bị mù, thường là từ nhỏ, phải có trình độ chơi nhạc rất cao, được trắc nghiệm và chứng nhận, phải có lòng yêu nước, có bổn phận đi loan truyền chân lý và tự do đặt trên căn bản công lý và nhân bản qua âm nhạc. Những trẻ em bị mù từ nhỏ, học đàn kobza không thành đạt thì không được vào hàng kobzari. Chúng chỉ được nhập vào đoàn hành khất có tổ chức và được phép đàn một số bài nhạc của kobzari.

Những người chơi bandura, một số là người trí thức, nhưng phần lớn là nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi. Họ nêu cao tính khí hào hùng của người Cossack, ca ngợi lịch sử của Ukraine, tôn vinh tinh thần dân tộc chống ngoại xâm. hát ca khúc ái quốc và tôn giáo.
Những người trí thức thường yêu cầu kobzar hát các bài dumy (hùng ca ái quốc). Người bình dân thường yêu cầu họ hát bài ca tôn giáo. Thông thường họ hát bài ca ăn xin zhebranka. Khi được mời vào nhà, họ hát những bài ca do chủ nhà yêu cầu. Lúc ra về họ hát bài ca cám ơn blahoda-rinnia. Những nghệ sĩ mù này thường thuê một đứa bé mồ côi dẫn đường cho họ.

Chính những nghệ sĩ mù này là những người tuyên truyền rất đắc lực. Những tin tức thu lượm được họ chuyển thành bài ca và đem phổ biến các nơi, giữ vững tinh thần yêu nước trong quần chúng và nuôi giấc mộng tự do trong lòng mọi người. Vì vậy cộng sản Nga quyết tâm diệt trừ nghệ sĩ mù.

Năm 1933 (có tài liệu ghi 1939) Stalin ra lệnh “mời” tất cả kobzari về thủ đô (cũ) là Kharkiv, Ukraine, dự đại hội âm nhạc toàn quốc để ghi chép lại tất cả các bài ca do họ sáng tác và trình diễn dùng lưu truyền cho hậu thế.

Ý tưởng quá đẹp này đã thu hút trên 300 nghệ sĩ mù về Kharkiv dự đại hội âm nhạc. Trên thực tế người Nga tập trung họ lại một chỗ để dễ thanh toán. Quả nhiên tất cả những người này đã bị tàn sát tập thể.

Stalin sợ ảnh hưởng các bài ca của những nhạc sĩ mù được truyền đi các nơi cách nhanh chóng và có hiệu quả lớn trong việc kích động quần chúng chống Nga, nên ra tay giết những kobzari càng nhiều càng tốt.

Stalin cũng đã giết rất nhiều nhạc sĩ chơi bandura khác và tuyên bố họ bị Ðức Quốc Xã hạ sát. Sau này lịch sử chứng minh không phải quân Ðức giết họ. Ðó là chưa kể vô số người bị đày đi Siberia không có ngày về. Nhiều người khác bị giết, nhưng gia đình được thông báo là họ bị lưu đày và gia đình không được phép liên lạc với tội nhân. Trong số họ có nhạc sĩ Sohohub Viktor bị xử bắn ngày 27-11-1937 với 3 đứa con trai, cũng chơi đàn bandura như cha. Nếu quý độc giả muốn có bản danh sách những người bị hành quyết, có thể vào đọc trong trang web http://en.wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists. Bảng danh sách nhiều trang giấy với ngày tháng mà người ta ghi nhận được. Danh sách còn đang được cập nhật. Thường thường khi bản án đã công bố thì “tội nhân” bị hành quyết trong vài giờ hoặc vài ngày, hay chậm lắm là vài tuần lễ sau.

Ivan Kuchuhura-Kucherenko
(1874-1937)

Án lệnh xử bắn nhạc sĩ mù Ivan Kuchuhura-Kucherenko (1937)

Trong thập niên 1930, nhất là năm 1937-38 rất nhiều toán nhạc sĩ bandura của Ukraine bị Nga hành quyết, mỗi toán đến nhiều chục người bị giết cùng lúc. Trong những người bị giết có một nhạc sĩ mù tên Ivan Kuchuhura-Kucherenko, khá đặc biệt. Ông chào đời ngày7-7-1874, bị mù từ ba tuổi, có năng khiếu nhạc rất cao, khi ông nghe người khác đàn là ông nắm được kỹ thuật ngay. Lớn lên rất có tài, đi trình diễn nhiều nơi. Ông được mời trình diễn 40 buổi ở St. Petersburg, năm 1913, hầu hết ở các cơ sở giáo dục và ở thủ đô Moscow nước Nga năm 1915. Ống là một trong vài người đầu tiên được cấp bằng tuyên dương “Nghệ Sĩ Nhân Dân”, năm 1919 và bằng “Nghệ Sĩ Nhân Dân Ukraine – Liên Sô”, năm 1926. Ông được xem như là người chơi đàn bandura xuất sắc nhất. Bộ tự điển Soviet Encyclopedia của Nga có viết về ông. Họ nói quân Ðức giết ông năm 1943 khi Đức chiếm Ukraine. Trên thực tế, tài liệu của Ủy Ban Nhân Dân Nội An Vụ của Nga Sô được tìm thấy sau này, có bản án ghi rằng ông Ivan Kuchuhura-Kucherenko bị Nga xử bắn ngày 24-11-1937, sau 8 tháng tra tấn, trên vùng đất của KGB ở ngoại ô Kharkiv, Ukraine. Ông bị chôn trong mồ tập thể, nơi 300 nhạc sĩ mù và vô số người khác bị hành quyết. Bên trên là bản sao lệnh xử tử ông, có ghi rõ ngày tháng.

Một trường hợp khác, nhạc sĩ bandura tên Oleksander Borodai có quốc tịch Hoa Kỳ, khi trở về Ukraine năm 1919, liền bị bắt và bị xử bắn.
Đến năm 1960 đảng cộng sản Ukraine hoàn toàn kiểm soát việc sử dụng đàn bandura. Nam sinh không được nhận vào phân khoa bandura trong nhạc viện mà chỉ dành cho nữ sinh.

Những bài hùng ca, ái quốc viết cho nhạc cụ này bị cấm, thay thế bằng những tình ca và nhạc cổ điển Tây phương được chuyển hóa cho nhạc cụ bandura.

Bang Tuong Niem Nguoi Ukraine bi Nga giet

Ðài tưởng niệm hằng nhiều triệu người Ukraine bị Nga giết, được dựng lên ở Edmonton, Canada

Xuyên qua những dữ kiện bên trên ta không ngạc nhiên khi thấy cộng sản Việt Nam ngày trước đã cấm dân chúng đàn và ca vọng cổ, loại nhạc ưa chuộng của người miền Nam.

Bên trên và trong bài “Âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật” chúng ta đã thấy âm nhạc được dùng trong nhiều khía cạnh của sinh hoạt nhân loại. Ở đây ta thấy một khía cạnh khác, người ta dùng âm nhạc để nhục mạ một người, một chế độ hay cả một dân tộc khác. Tuy nhạc không dùng ngôn từ nhưng ý nghĩa của nó rất mạnh. Một sự việc xảy ra gần đây làm ta phải suy nghĩ.

Hôm 19 tháng Giêng 2011, Tổng Thống Barak Obama của Hoa Kỳ mở quốc yến để khoản dải Hồ Cẩm Ðào, nhà lãnh đạo Trung Cộng tại tòa Nhà Trắng, bữa tiệc được gọi là tinh túy của Hoa Kỳ. Trong bữa đại yến, ngoài Hồ Cẩm Ðào còn có khách quý từ nhiều quốc gia, dĩ nhiên có một chương trình nhạc chọn lọc với sự đóng góp tinh hoa của nghệ sĩ từ hai quốc gia chính. Bên Trung Hoa đưa ra một diệu thủ piano tên tuổi là Lang Lang, mà phần lớn cuộc đời trưởng thành của ông là ở Hoa Kỳ,. Sau màn trình diễn chung với cầm thủ Hoa Kỳ Lang Lang tự giới thiệu và sau đó độc tấu bài piano “My Motherland”.

Ðọc tên bài nhạc “Ðất Mẹ” người ta tưởng nó chỉ là bài ca nhớ quê. Tại sao Lang Lang trình diễn trong quốc yến này? Vì nếu chỉ là một giai điệu hay thì Trung Hoa có nhiều bài nhạc rất hấp dẫn.
Thử tìm hiểu sâu hơn ta khám phá ra điều gì?

Ðây là ca khúc được dùng trong phim “Battle on Shangangling Mountain” do Trung Hoa cộng sản sản xuất năm 1956, chuyển trận chiến trên khu tam giác đồi núi Kimhwa, Bắc Triều Tiên năm 1952 thành phim ảnh. Quân Trung Cộng bị thiệt hại nặng, cố cầm chân quân đội Hoa Kỳ để chờ viện binh. Một nữ hộ lý Trung Hoa hát bài ca này để ủy lạo thương binh, trong đó có câu: “Khi bạn thân đến, ta có rượu ngon để mời. Khi sài lang (chó ghẻ Phi Châu) đến, ta có súng săn để giết chúng.” Sài lang ở đây ám chỉ lính Mỹ. Bài ca được dùng như là bài ca tuyên truyền chống Mỹ trong nhiều thập niên và được dạy trong tất cả trường học ở Trung Hoa. Khi trình diễn ở tòa Nhà Trắng, Tổng Thống Obama, phu nhân và mọi người vỗ tay tán thưởng. Truyền hình chiếu khắp thế giới. Người Trung Hoa cộng sản xem, cười hả dạ và nói là bọn Mỹ thật ngu, người ta mắng vào mặt mình không biết nhục mà còn khen hay. Thật đáng thương hại. Người chống cộng thì lắc đầu ngao ngán. Phát ngôn viên tòa Nhà Trắng là Tommy Victor thay vì nhận sự sơ hở của mình lại đi binh vực Lang Lang, nói: “Ý nghĩ cho việc trình diễn nhạc phẩm này để hạ nhục Hoa Kỳ thì rất sai. Nó chỉ là một giai điệu hay chứ không có ý nghĩa gì khác.”

Đối lại lập luận trên, tôi nhớ một nhạc sĩ thuộc nhạc viện Hà Nội đã nói: “Khi trình diển nhạc cổ điển không lời, đàn nhấn mạnh sai chỗ là đã biểu lộ tinh thần phản loạn rồi.”

Lang Lang không xin lỗi mà còn tuyên bố với truyền hình rằng đàn bài nhạc ấy trước những bậc lãnh đạo của thế giới là một hân hạnh và danh dự, làm cho người Trung Hoa kiêu hãnh về mình, cho thấy Trung Hoa là một quốc gia khiếp đảm và người dân Trung Hoa thật sự đoàn kết.

Nếu Tổng Thống Obama cũng như ban nghi lễ của tòa Bạch Ốc không biết bài nhạc này và ý nghĩa của nó, chắc chắn Hồ Cẩm Đào và đoàn tùy tùng biết. Họ để yên, không có ý chận Lang Lang. Cũng có thể họ gài cho Lang Lang chơi để nhục mạ Hoa Kỳ, xem Hoa Kỳ có dám làm gì không. Có thể đây là một đòn dọ dẫm để họ có những hành động táo bạo hơn ở Á Châu và thế giới trong tương lai gần. Thật ra sự việc này có thể đưa đến chiến tranh như chơi, nhưng Obama quá yếu, để cho chìm xuồng luôn mà không đòi hỏi Trung Hoa giải thích.
Khi câu chuyện này được đăng trên Sina Weibo blog, rất nhiều người đáp ứng. Họ chia ra hai phe rõ rệt. Một bên thì ca tụng Lang Lang như vị anh hùng, dám thẳng cánh đâm vào Hoa Kỳ bằng sứ điệp chí tử, ghi sâu hận thù. Một bên thì cho là chọn bài nhạc để dùng không đúng chỗ. Ngày 23 tháng Giêng năm 2011, The Epoch Times ghi thêm đề phụ: “Hoa Kỳ bị hạ nhục trước mắt người Trung Hoa bằng bài ca đã từng được dùng để kích động chống Mỹ.”

Việc này làm tôi nhớ lại câu nói đáng ghi nhớ của nhà danh họa Picasso: “Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth. – Pablo Picasso).

Phải chăng âm nhạc là đề tài đáng cho người nuôi mộng quang phục quê hương nghiên cứu, khai triển và thực hiện?

Tham khảo:
– wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists
– Kobzari
– Ukrainian-Bandurist-Chorus
– Phỏng vấn riêng
– NY Post
– Christian Science Monitor
– YouTube

http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1765

THU TỨ: Trần Văn Khê – Nghĩ về nhạc


Một bài viết phân tích rất hay về quan điểm của GS Trần Văn Khê
 
Trần Văn Khê – Nghĩ về nhạc

ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẠC VIỆT XƯA
– Êm ái và dịu dàng
– Phải đẻ, trái nuôi
– Mềm hơn nhạc Tàu
– Vừa biểu diễn vừa sáng tạo
– Nhịp hai, nhịp hai…
VIỆT GẶP TÂY: ĐIỀU CẦN NÓI
– Phát triển, tiến bộ
– Kỹ thuật và văn hóa
– Đâu phải mau là hay
VIỆT GẶP TÂY: CHUYỆN ĐAU LÒNG
– Tự ti thê thảm
– Say sưa hào nhoáng
– Mua nghe như điên
– Bỏ truyền thống!
– Quỳ lạy khách!
CẢM NGHĨ MIÊN MAN
– Tiếp xúc với nhạc
– Bản nhạc hóa món hàng
– Mất đất, mất luôn nhạc
– Mặc áo gi-lê đánh đàn bầu
– Cho lòng khỏi phiêu dạt

Nhắc Trần Văn Khê, nhớ ngay cái câu “Thân tuy tại ngoại, hồn tại quê hương”.

Ai xa quê hương chẳng nhớ, nhưng chắc ít ai đêm ngày lo lắng có ngày mình thôi nhớ! Trần Văn Khê, để tự đảm bảo chính ông sẽ suốt đời “thở hơi thở chung của dân tộc”, đã chẳng hạn, cố ý thường xuyên ăn uống giống hệt như hồi còn ở trong nước. Người khác ăn cá kho tộ chỉ vì thèm, Trần Văn Khê ăn cũng vì thèm nhưng lại thêm vì muốn cái lưỡi của mình nó không bao giờ trở nên thờ ơ với cá kho tộ (mà đi quấn quýt với pa-tê, xúc-xích). Ăn món quê để khỏi quên quê, cái ý đơn giản mà cảm động.

Không phải chỉ những “thân tại ngoại” mới cần chăm bón tinh thần yêu nước. Trần Văn Khê từng ngỏ lời khuyên các nhạc viện quốc nội nên treo chân dung nhạc sĩ Việt Nam xuất sắc để trẻ đến học dễ nẩy nở lòng tự tôn dân tộc. Thêm một ý đơn giản mà cảm động.

Hết sức thiết tha với nước, tất nhiên Trần Văn Khê cực kỳ sốt ruột trước tình trạng dân nhạc đang nhanh chóng biến mất khỏi đời sống thường ngày của người Việt Nam. Nhằm phục hưng dân nhạc, ông từng sôi nổi hô hào dạy người lớn hát ru, dạy trẻ em học nhạc ngũ cung, dạy nông dân hò đối đáp v.v.

Nhiệt tình của ông thực đáng trân trọng, nhưng thiết tưởng mọi cố gắng thay đổi tình hình đều hoàn toàn vô ích! Nhạc truyền thống trong môi trường truyền thống như cá trong nước, vẫy vùng không cần ai dạy bơi nhắc lội, nhưng hễ môi trường “cạn” thì nó phải “ngáp”. Cả nước đang chạy như bay vào thời hiện đại, toàn thể cái Quê mấy ngàn năm tuổi đang ào ào hóa Phố, còn “nước” đâu nữa mà Trần Văn Khê bảo “cá” quan họ, “cá” chèo, “cá” ru, “cá” hò, “cá” lý v.v. tiếp tục thung thăng!(1)

Hình như Trần Văn Khê hiếm khi nhắc đến tân nhạc. Trong khi tân nhạc chính là một thành tựu hết sức xuất sắc của dân tộc. Nghe nhạc Tây, học lối ký âm và học dùng nhạc cụ Tây, rồi chỉ trong mấy chục năm ta dựng lên cả một nền thanh nhạc mới cực kỳ độc đáo, đa dạng, phong phú, với rất nhiều nhạc phẩm hay đến mức diệu kỳ! Tân nhạc Việt Nam đáp ứng hoàn toàn tốt đẹp nhu cầu của cả tầng lớp trí thức lẫn đa số bình dân. Trí thức như những sáng tác của Văn Cao, Phạm Duy, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn v.v., bình dân như vô số ca khúc “mùi”, nhạc mà như thế từng bài lắm bài chẳng nhạc ở đâu hơn được, mà như đặt cả lại với nhau thì thiết tưởng nếu đặt vấn đề liệu nền thanh nhạc mới của nước ta có phải là nhất thế giới hay không, không phải là làm chuyện ngông cuồng!(2)

Trong văn hóa, không có chuyện tay trắng nên triệu phú. Sở dĩ tân nhạc Việt Nam ưu tú, ấy chắc chắn là do cổ nhạc Việt Nam vượt trội. Tuy chỉ trong một số ít trường hợp, mà sáng tác của Phạm Duy là ví dụ nổi bật, ảnh hưởng của nhạc Việt xưa mới thấy được rõ ràng, nhưng nhất định chính nhờ đứng trên cái nền cũ rất cao mà các nhạc sĩ Việt hiện đại mới siêu thành đạt. Thái Bá Vân từng nói: “… cái linh ứng nghệ thuật tài hoa của thế hệ trẻ chính cũng là từ truyền thống sâu xa (…) của nghệ thuật dân tộc”.(3) Lời ấy không chỉ đúng riêng cho hội họa, mà đúng cho tất cả các ngành nghệ thuật, trong đó có âm nhạc. Cứ hễ sáng tạo bằng tâm hồn, là người Việt ta sáng như gương!

Nếu Trần Văn Khê bớt chăm chú vào nông nỗi của cổ nhạc mà bỏ chút thì giờ ngắm nghía thành tích rực rỡ của tân nhạc, hẳn ông đỡ đau lòng…

Dù sao, đó hiển nhiên là một đứa con ưu tú và chung tình của Mẹ. Ngoài những chuyên khảo, cái biết sâu sắc của Trần Văn Khê về dân nhạc Việt Nam còn được trình bày trong một tập ký nhan đề Tiểu phẩm và trong một bộ hồi ký dài năm tập. Ngoài đề tài chính, ký và ký chứa cả những nhận thức, nhận định về văn hóa, văn minh v.v. Sau đây là một tuyển trích đoạn có giá trị tiêu biểu cho tâm tư và trí tuệ của tác giả.

ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẠC VIỆT XƯA

Êm ái và dịu dàng

Lời ca tiếng nhạc cổ truyền êm ái và dịu dàng 

(Hồi ký Trần Văn Khê, nxb. Trẻ, VN, 2001, q. 3, tr. 110)

“Lời ca tiếng nhạc” là cái bóng của văn hóa trên tấm gương âm thanh.

Hình phải thế nào thì bóng mới “êm ái và dịu dàng” thế chứ.

Vẫn cái gương ấy, ở phương Tây bây giờ trông vào thấy… bắt rùng mình. Không nhìn gương nữa, quay nhìn cái để bóng trên gương, eo ôi!

Phải đẻ, trái nuôi

“Zheng” của Trung Quốc (…) đàn tranh của Việt Nam (…) đàn koto của Nhật Bổn cùng một loại nhạc khí (…) Đàn koto (…) bàn tay mặt có nhiều thủ pháp mà đàn tranh Việt Nam không có. Ngược lại cách nhấn của người Việt rất phong phú và tinh vi (…) Theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sinh ra âm thanh, bàn tay trái nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh. Sanh ra mà không nuôi dưỡng, thì không sanh làm gì (…) Tay mặt sanh ra cái xác, tay trái tạo ra cái hồn (Tiểu phẩm, nxb. Trẻ, VN, 1997, tr. 172-174)

Đờn tranh (…) Cách nhấn thì rất phong phú và tinh vi, có nhấn-vuốt, nhấn-rung, nhấn-mổ, nhấn mượn hơi. Mổ thì mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây, phối hợp tất cả để âm thanh trở nên sinh động hơn (…) Vừa nhấn vừa mổ, trong kỹ thuật đờn gu zheng (cổ tranh) không có (HKTVK, q. 2, tr. 140, q. 4, tr. 133)

Người Việt Nam khi đờn phải nhấn nhá, hát thì phải luyến láy (…) Bàn tay mặt đánh ra thanh có độ cao, độ dài, có tiếng to tiếng nhỏ, có cả màu âm, mà chưa có chất nhạc. Chỉ khi bàn tay trái nhấn vào biến thanh thành âm mới có chất nhạc: bàn tay mặt sanh ra xác còn tay trái tạo ra hồn (…) Nhấn nhá (…) có (…) rung lơi, rung nhặt (HKTVK, q. 5, tr. 78-79, 326)

Dĩ nhiên không phải đợi có đàn tranh (gốc Tàu) thì người Việt mới “phải đẻ, trái nuôi” khi đàn.

Nhạc cụ vừa lâu đời vừa độc đáo của dân tộc Việt Nam là đàn bầu. Cái âm thanh của nó quyến rũ tới nỗi cha mẹ phải dặn con: “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”! Sở dĩ tiếng đàn bầu đặc biệt “nguy hiểm”, ấy chính nhờ mấy ngón tay trái của người đàn: khi rung, khi vỗ, khi vuốt, khi luyến v.v. (4)

Trên bìa sau của bộ Hồi ký, Trần Văn Khê cho in hai câu thơ của Văn Tiến Lê ca ngợi đàn bầu:

“Một dây nũng nịu đủ lời
Nửa bầu chứa cả một trời âm giai.”

Vì trước đã quen “nuôi” bầu, nên sau gặp tranh mới nảy ý “nuôi” tranh mà Việt hóa được tranh!

Mềm hơn nhạc Tàu

DANH CẦM TRUNG QUỐC HỌC NHẠC VIỆT NAM (…) năm 2000 (…) môn sinh mới (…) danh cầm đờn tỳ bà tên Liu Fang (…) Lưu Phương (…) Tôi cho biết hai nền âm nhạc khác nhau ở điểm nhạc Trung Quốc chú ý nhiều đến kỹ thuật điêu luyện còn Việt Nam đặt trọng tâm về mặt nghệ thuật và tình cảm. Bài bản của Trung Quốc thường cố định trong khi bài bản Việt Nam biểu diễn theo cách học “chân phương” mà đờn “hoa lá” tức là có thêm thắt thay đổi (HKTVK, q. 5, tr. 321-323)

Nghe kỹ thuật, nghĩ ngay đến máy móc. Nghe nghệ thuật, nghĩ đến tự nhiên.

Máy móc thì cứng đơ, bất biến. Tự nhiên thì uyển chuyển, do đó biến hóa liên tục.

Không phải máy thì không thể đẹp, nhạc nhấn mạnh kỹ thuật thì không thể hay. Ai thích vẻ đẹp của máy, vẻ hay của nhạc điêu luyện thì cứ việc thích, chỉ xin đừng tưởng rằng cái đẹp ấy cái hay ấy là cao hơn cái đẹp của tự nhiên cái hay của nhạc mỗi lần biểu diễn một khác, mà BÉ CÁI NHẦM.

Đây Trần Văn Khê so nhạc Việt với nhạc Tàu. Nếu đem so Việt với Tây thì chỗ khác nhau còn dễ thấy hơn, vì nhạc Tây lại càng nhấn mạnh kỹ thuật.

Vừa biểu diễn vừa sáng tạo!

(Nhạc) ghi thành bản rồi nó sẽ (…) xơ cứng. Trong khi đó những điệu thức (…) thể hiện mỗi lần mỗi khác nhau (…) thiên hình vạn trạng (…) biến hóa vô tận (…) ngày hôm nay đờn nghe khác hẳn với ngày hôm qua. Do đó không thể lấy số lượng bài bản đưa ra so sánh với số lượng điệu thức (…) Liu Fang (…) nói (…) chưa bao giờ thấy thích thú như mấy hôm nay (…) nhạc Việt Nam (…) cho phép nhạc sĩ sáng tạo trong khi biểu diễn (HKTVK, q. 3, tr. 76, q. 5, tr. 324)

Người khác đàn một bài, người Việt Nam đàn một “điệu thức”.

Nghĩ đến nhân tạo và tự nhiên. Một trăm nghìn xe hơi xuất xưởng, xe nào cũng y hệt như xe nào. Một trăm nghìn khóm hồng nở hoa, chẳng khóm nào giống hệt khóm nào. Khi ta đàn, ấy là một điệu thức đang… nở thêm một lần nữa, không giống hệt bất cứ lần nở trước nào, trong vô số lần đã nở.

Lại nghĩ đến cứng và mềm. Bài cứng, điệu mềm… Dĩ nhiên, vì Hoa cứng, Việt mềm.(5)

(Và Tây thì còn cứng hơn cả Hoa!)

Nhịp hai, nhịp hai…

Những bạn Á Rập (…) nhấn mạnh (…) tiết tấu âm nhạc của họ căn cứ trên bước đi của con lạc đà (…) Tiết tấu của dân tộc mình ở đâu mà ra, tại sao lại có nhịp hai mà lại không có nhịp ba (…) Theo tôi tiết tấu trong âm nhạc Việt Nam căn cứ vào con người và môi trường sống: con người sanh ra có trái tim đập, con mắt chớp, hơi thở ra vào, bước đi, tất cả đều là tiết tấu và là nhịp đôi. Trong môi trường sống, chiếc võng người mẹ nằm ru con, đưa qua đưa lại kẽo cà kẽo kẹt, cây tre đầu làng ngả nghiêng theo gió, thủy triều nước lớn nước ròng, tất cả đều là tiết tấu nhịp hai. (HKTVK, q. 3, tr. 286-287)

Nhịp hai với nhịp ba, tức nhịp chẵn với nhịp lẻ.

Không chỉ khi làm nhạc, mà cả khi làm thơ, người Việt vốn cũng thiên về nhịp chẵn. Thơ bốn chữ, thơ lục bát và cả thơ mới đều theo nhịp chẵn.

Tại sao ta thiên về chẵn?

TVK bảo ấy là căn cứ vào nhịp tim đập, nhịp mắt chớp, nhịp hít thở, nhịp võng đưa, nhịp tre ngả nghiêng, nhịp nước lớn ròng v.v.

Nhưng nhân loại nơi nơi đều có tim, có mắt, có phổi, thủy triều nơi nơi đều lên xuống!

Ngẫm, rồi nghĩ đến nếp sống.

Dân tộc Việt Nam sống định canh đã từ lâu lắm. Ở nguyên một chỗ đời nọ qua đời kia, đời nào cũng cày cấy, gặt hái, cày cấy, gặt hái…, ta sống “chẵn” chứ còn gì nữa! Trong khi những dân tộc du mục thì nay đây mai đó, vừa chăn nuôi vừa buôn bán vừa thỉnh thoảng cướp bóc (!), họ sống “lẻ” rõ ràng!

Thiết tưởng nhịp nhạc xuất phát từ nhịp sống.

VIỆT GẶP TÂY: ĐIỀU CẦN NÓI

Phát triển, tiến bộ

Không ít người lầm tưởng rằng phát triển, tiến bộ luôn đi đôi với Âu hóa (6)

Tây phương tự xem mình “phát triển”, “tiến bộ”.

Ấy, Tây chỉ developed với advanced về văn hóa vật chất mà thôi. Và thực ra chỉ hơn Đông về vật chất tương đối gần đây thôi. Mới hồi thế kỷ 15, Tây Trung cổ qua Tàu còn phải lác mắt vì điều kiện vật chất ở Tàu lúc bấy giờ hơn ở Tây xa lắm.

Từ nguyên thủy đến mức nào đấy, hễ văn hóa vật chất lên thì văn hóa tinh thần cũng lên. Nhưng trên mức ấy, thì không nhất thiết xảy ra đồng hành nữa.

Văn hóa vật chất Tây phương đã tiến bộ “vượt mức”. Từ khá lâu, ở Tây phương vật chất lên tinh thần xuống.

Bây giờ Đông đang Tây hóa, tức đang nâng mình lên về vật chất, hạ mình xuống về tinh thần.

Hóa thành bất cứ ai khác đã buồn, nói chi thành kẻ thấp hơn mình!

Buồn thì buồn, không hóa Tây thì chết với Tây!

Kỹ thuật và văn hóa

Từ đó đi đến chỗ tin rằng, nếu kỹ thuật của họ cao, thì văn hóa họ cũng cao, chớ không nhớ rằng chỉ cần hai mươi lăm năm có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư, trong khi phải trải qua cả trăm, cả ngàn năm mới tạo được một nền văn hóa (TP, tr. 46)

Kỹ thuật cao là quả của một loài cây văn hóa. Cây ấy cũng phải mọc lâu lắm mới có quả. Kỹ thuật cao, nghĩa là văn hóa cao.

Nhưng văn hóa cao không nhất thiết nghĩa là kỹ thuật cao. Vì cây văn hóa có loài không ra quả kỹ thuật.

Vì cây nho có quả nho, cây chuối không có… quả nho, mà cho rằng nho “cao” hơn chuối, là ngốc.

Đâu phải mau là hay

Vừa trở về Pháp, tôi phải lên đường sang Liên Xô tham dự Diễn đàn Âm nhạc châu Á (…) tổ chức tại Alma Ata, thủ đô nước (…) Kazakhstan (…) (…) Ðặc biệt nhứt của vùng này là cây đờn dombra truyền thống, có thùng hình bầu dục, cần rất dài, phím không phải bằng tre hay kim loại mà bằng gân con trừu, có thể xê dịch được thành những quãng không cố định, hoặc thấp hơn hoặc cao hơn các quãng thông thường một chút, nhờ vậy màu sắc thang âm hết sức phong phú. Tôi đã được nghe tiếng đờn dombra trong một dĩa hát nên khi qua Kazakhstan tôi háo hức chờ nghe (…) Nhưng khi quan sát cây đờn tôi bất ngờ thấy nó đã bị chỉnh lại, phím gân trước kia xê dịch được (…) nay bị cột chặt lại. Tôi rất thất vọng bởi giờ đây khi đánh lên âm thanh nghe như tiếng đờn mandoline, với thang âm bình quân như đờn piano chứ không còn đầy màu sắc như ngày trước. Trong hội nghị này đoàn Kazakhstan giới thiệu chương trình đại qui mô với dàn nhạc dân tộc gồm hàng trăm cây đờndombra (…)

– Dàn nhạc có cả trăm cây đờn, nếu để như cũ thì mỗi đờn âm thanh mỗi khác sẽ không hòa được với nhau.

– Tại sao phải cần đến cả trăm cây (…) Các anh sửa (…) như vậy có hơn được cái cũ không?

– Có chớ, có điểm hay hơn là đờn hòa với nhau không lạc giọng, lại có cái lợi là khi đờn thiệt mau không bị lạc phím.

– Tuy hòa đờn không bị lạc phím nhưng lại thành đơn điệu. Thang âm của nhạc dân tộc Kazakh rất độc đáo, muốn đờn mau như thang âm bình quân của piano thì không còn bản sắc dân tộc nữa. Ðối với nghệ thuật không nên chú trọng tới chuyện nhanh hay chậm mà quan trọng là có đi vào lòng người hay không. Âm nhạc là tiếng nói. Ðâu phải nói mau là hay. (HKTVK, q. 2, tr. 226-232)

Nhạc diễn cảm xúc. Diễn thế nào là tùy cảm xúc thế nào. Cảm xúc vô số loại. Vậy nhạc cũng phải vô số loại.

Bảo nhạc mau hay hơn nhạc chậm, tức bảo cảm xúc cũng có hơn kém!

Mau không hay hơn chậm, mà đại hợp tấu hàng trăm thứ nhạc cụ cũng không hề hay hơn độc tấu đúng một nhạc cụ: những cảm xúc của người Việt xưa diễn lên bằng một cây đàn bầu hay đàn tranh thì chắc chắn hay hơn bằng một trăm cây đàn bầu hay đàn tranh!

Ấy thế mà có những người Việt đang hì hục xây thứ dàn nhạc giao hưởng trăm bầu, trăm tranh. Có cả những người vất luôn bầu với tranh đi mà rước cả đống violonvề để tấu bài Cò Lả! Rõ chán mớ đời.

VIỆT GẶP TÂY: CHUYỆN ĐAU LÒNG

Tự ti thê thảm

Những hoàn cảnh lịch sử, xã hội, những điều kiện vật chất, kinh tế đã làm cho thanh niên (…) không còn hiểu rõ được truyền thống dân tộc, không hiểu mới sinh ra “tự ti”, vì tự ti, mới sinh ra vọng ngoại (TP, tr. 51)

Những nguyên nhân làm mất đi bản sắc dân tộc (…) Lý do chánh trị, lịch sử: người dân các nước thuộc địa bị các đế quốc thống trị làm cho quên đi bản sắc dân tộc mà chấp nhận bản sắc của “mẫu quốc” (…) Lý do tâm lý (…) dân bị trị tự ti mặc cảm, thấy cái gì của mình cũng thua người ta (…) Lý do kinh tế: những gì dính dáng đến bản sắc dân tộc thường bị (…) trả tiền thù lao rất thấp (…) Lý do xã hội: nếp sống thay đổi (HKTVK, q. 3, tr. 297-298)

Bệnh tự ti mặc cảm (…) phải trị căn chớ không thể trị chứng. Phải đi từ đầu, khuyến khích các bà mẹ hát ru con; dạy những bài đồng dao cho trẻ thơ; khuyến khích người nông dân hát hò trong lúc làm việc ngoài đồng; đưa âm nhạc cổ truyền vào các trường; đài phát thanh, truyền hình, báo chí nên có những chương trình, bài báo về âm nhạc dân tộc (HKTVK, q. 3, tr. 299)

Trần Văn Khê chẩn bệnh chính xác. Bệnh ấy, chúng tôi có lần tóm tắt: “Thua vật chất, mất tinh thần, bỏ tinh thần.”(7)

Ông Trần đưa ra một cách chữa. Chúng tôi thì cho rằng bệnh nan y. Nghệ thuật phải hợp với nếp sống, người Việt bây giờ không sống như cha ông trước kia nữa, làm sao ta phục hồi nghệ thuật cũ được? Các bà mẹ trẻ Việt Nam thế kỷ 21 không chịu hát ru con đâu!

Cái “căn” của bệnh tự ti là tình trạng thua người về vật chất. Hễ hết thua sẽ hết bệnh, không cần chữa. Rắc rối là để bắt kịp Tây về vật chất, ta đang Tây hóa nếp sống của mình. Sống như Tây lâu ngày, ta sẽ cảm nghĩ giống Tây. Tức ngoài bệnh tự ti bắt đầu sớm, sinh mạng văn hóa ta đến lúc nào đó còn bị thêm một đe dọa nữa, – đe dọa tối hậu -, là diễn biến Tây hóa tự nhiên. Nó đã bắt đầu rồi!

Mới đây, tình cờ nghe thanh niên nọ tỉnh bơ phát biểu: “Quan họ làm sao hay bằng nhạc giao hưởng”!

Một mặt, dĩ nhiên bạn trẻ ngây thơ về nghệ thuật. Quan họ và nhạc giao hưởng thuộc hai mô hình thẩm mỹ hoàn toàn khác nhau, so sánh sao được! Nếu xét quan họ theo tiêu chuẩn của nhạc giao hưởng, quan họ chắc chắn dở. Ngược lại, nếu xét nhạc giao hưởng theo tiêu chuẩn của quan họ, nhạc giao hưởng cũng chắc chắn dở. Không có tiêu chuẩn nghệ thuật có giá trị xuyên mô hình, xuyên văn hóa.(8)

Mặt khác, ý kiến trên có chỗ đáng chú ý: bạn trẻ là người Việt mà lại đi đánh giá nhạc truyền thống Việt theo tiêu chuẩn của nhạc truyền thống Tây! Hiện nay bao nhiêu phần trăm thanh niên Việt giống bạn?

Con cháu bệnh biến, truyền thống giữ làm sao đây, tổ tiên ơi!

Say sưa hào nhoáng

Tuy được tiếp xúc với nhiều nền âm nhạc (…) khắp hoàn cầu nhưng tôi một lòng yêu quí nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, không bị quyến rũ bởi cái hào nhoáng bên ngoài mà quên cái tế nhị kín đáo bên trong. (HKTVK, q. 3, Lời nói đầu)

“Hào nhoáng” là cái nhà to đùng lộng lẫy, là cái đám người ăn mặc cầu kỳ sang trọng bước vào nhà, là cái ông đeo găng tay trắng cầm que đứng vung vẩy trên bục, là bao nhiêu nhạc công ngồi ôm bao nhiêu nhạc khí…

Hào nhoáng là cái sân khấu đèn đuốc sáng choang, là một hai ba bốn năm sáu kẻ vận y phục “tự chế” nhảy nhót uốn éo vặn vẹo lắc ngoáy như đang lên đồng (đồng Tây!), là trùng trùng khán giả cũng đang “lên”!

Và thử ngẫm xem, dù quý tộc dù bình dân, dù truyền thống dù hiện đại, bản thân cái thứ âm thanh gọi là nhạc ở phương ấy bao giờ nó cũng “hào nhoáng”!

Nhoáng tai nhoáng mắt, thảo nào rất dễ “nhoáng” cả lòng, mà thấy… ôi hay!

Mua nghe như điên

Trên thị trường (…) tràn ngập đĩa hát, chương trình phát thanh, video, truyền hình, phim điện ảnh do các nước tiên tiến về kỹ thuật tung ra, bán khắp nơi (…) cuộc “tấn công văn hóa” (TP, tr. 49, 55)

Họ bán  mình chịu mua, bổ sấp bổ ngửa chạy đi mua, giành giật nhau mua. Cứ hễ Tây là hay, bất kể Tây truyền thống hào nhoáng trịnh trọng hay Tây hiện đại hào nhoáng bình dân.

Dĩ nhiên nhạc Tây có thể hay chứ, thậm chí có thể có những tác phẩm vượt được tường văn hóa mà vào lòng ta cách chính đáng chứ. Vấn đề ở đây là dù nhạc Tây dở, ta vẫn sẵn sàng rước vào tai.

“Vai mang bị bạc kè kè, nhạc quấy nhạc quá nẫu nghe ầm ầm”!

“Bạc” nó không chịu ở trong “bị” của ai lâu đâu. Tây có thể “bị gậy” đến nơi rồi. Thì ta tranh nhau lại “thờ” văn hóa Tàu, có sao đâu. Và khi đến phiên ta “kè kè bị bạc”, ta sẽ trở lại quý văn hóa ta, có sao đâu.

Ờ, có sao đâu. “Ð. mẹ nhân tình đã biết rồi…” (Thơ Nguyễn Công Trứ)

Bỏ truyền thống!

Bảo vệ truyền thống (…) giữ (…) nét đặc thù (…) Tiếp thu những cái hay của thế giới để làm giàu cho (…) văn hóa của mình (…) (nhưng) không bao giờ để cho truyền thống nước ngoài thay thế truyền thống dân tộc (TP, tr. 184)

Truyền thống nước ngoài mà hay hơn truyền thống dân tộc thì thay cũng được chứ sao!

Hóa Tây mà như hóa tiên, cũng đành. Nhưng Tây không phải tiên. Tây là một chủng tộc với văn hóa khi lên khi xuống, hiện giờ đang xuống như điên do quá say sưa cái truyền thống “Tôi” của mình!

Quỳ lạy khách!

Tôi (…) không (…) chống lại sự hòa nhập của những tinh hoa văn hóa khác. Tôi chỉ kêu gọi phải thận trọng giữ đúng vị trí một bên là chủ, một bên là khách. Chúng ta hiếu khách, mở cửa đón mọi người vào nhà ở chơi vài bữa rồi về, chớ không phải giữ khách ở lại năm này tháng nọ rồi để người ta lấn chiếm lần lần cả bàn thờ ông bà. Ði đâu tôi cũng nói chuyện đó (…) (HKTVK, q. 3, tr. 339)

Người Việt Nam làm chủ đất nước (…) văn hóa Việt Nam (…) có địa vị văn hóa chủ (…) văn hóa nước ngoài là văn hóa khách. Chúng ta hiếu khách mời khách đến nhà, nhưng phải lưu ý không đưa vào ở trong từ đường hoặc dẹp bàn thờ ông bà để khách ngồi chễm chệ cho thanh niên quỳ lạy. Khách đến chơi rồi ra về chớ không thể ở luôn trong nhà chúng ta. (HKTVK, q. 4, tr. 383)

Nghe Trần Văn Khê nói chuyện con cháu chủ nhà quỳ lạy khách, sực nhớ cái Nhà hát Thành phố ở Sài Gòn. Mỗi lần thấy nó, buồn không để đâu cho hết. Sao kỳ vậy, là kiến trúc xây trên đất của nước Việt Nam độc lập mà sao nó lại giống y như mới được bứng bên Pháp đem về! Dòm la liệt tượng đầm ở trần ôm đờn Tây uốn éo chình ình giữa trán Nhà, bắt rụng rời.

Nó giống kiến trúc Pháp là để cho giống mấy cái “tòa” khác Pháp xây hồi xưa ở gần đó phải không? Bộ nước ta đang định phục hồi hình ảnh Sài Gòn thời Pháp thuộc hay sao?! Bộ quên núi xương sông máu của chiến sĩ rồi sao?

Dòm Nhà, nghĩ ngợi miên man, có lúc chợt nghĩ tới sức mạnh của đồng phật-lăng. Mấy ông mũi lõ đã chi nhiều nhiều cho việc sửa Nhà, phải không?

CẢM NGHĨ MIÊN MAN

Tiếp xúc với nhạc

Tôi (…) nghiên cứu (…) không áp dụng phương pháp của phương Tây một cách máy móc, đặc biệt đối với việc nghiên cứu âm nhạc phương Ðông (HKTVK, q. 5, tr. 105)

Nhạc là thứ âm thanh có chứa cảm xúc, như xác chứa hồn.

Âm thanh có thể nghiên cứu, nhưng cảm xúc chỉ có thể cảm thụ.

Vậy nghiên cứu nhạc là nghiên cứu cái “xác” âm thanh của nhạc mà thôi.

Chắc khi nói “nghiên cứu”, ý Trần Văn Khê là tiếp xúc với nhạc. Ông suốt đời say sưa tiếp xúc với nhạc Việt truyền thống, nghiên cứu xác, cảm thụ hồn, rồi vừa thuyết minh về xác, vừa tìm mọi cách giúp ta ngộ hồn…

Bản nhạc hóa món hàng

Âm nhạc ngày nay không còn là môn nghệ thuật (…) mà đã biến thành một món hàng (…) hàng nào ăn khách thì giá cao (HKTVK, q. 3, tr. 124-125)

Nhạc là hàng, thì bỏ tiền ra mua hàng là như bỏ phiếu chọn nhạc.

Bất cứ ai cũng được mua hàng, cũng được bỏ phiếu chọn nhạc.

Thế thì… bỏ mẹ nhạc, vì trình độ của số đông bao giờ cũng thấp.

Trước kia, bất cứ ở đâu, việc đánh giá nghệ phẩm không do số đông, nhờ đó nghệ thuật mới phát triển.

Đừng tưởng những bài dân ca hay ra đời là nhờ… dân chủ. Chắc chắn chúng đã được trau giồi, hoàn thiện bởi một thiểu số dân làng có năng khiếu nhạc mà thôi.

Mất đất, mất luôn nhạc

Đầu đời Ðường có mười bộ môn âm nhạc thì chỉ có hai là gốc Trung Quốc còn tám bộ môn kia là của nước ngoài. Nhưng mấy trăm năm sau, đến cuối đời Ðường (…) Hồ nhạc: nhạc của rợ Hồ (…) bị nhập vào (…) tục nhạc: nhạc dân gian (…) Những bộ môn nhạc của các nước khác (lần lượt) biến thành nhạc Trung Quốc. (HKTVK, q. 3, tr. 220)

Cướp đất của “rợ”, rồi rút cuộc cướp luôn cả nhạc!

Thì cũng như đang mang đồ đồng đào được ở Tam Tinh Ðôi (San Xing Dui, nay thuộc Tứ Xuyên) đi khoe khắp thế giới là tác phẩm của Trung Hoa cổ. Vào thời những món đồ đồng ấy được chế tạo, chủng Hoa Hạ đã biết tới cái đất mà về sau gọi là Tứ Xuyên đâu mà!

Tưởng tượng cuối thế kỷ 21 Trung Quốc nam tiến đến… mũi Cà Mau, lúc đầu gọi quan họ là nhạc Việt, rồi lần lần gọi là nhạc dân gian Tàu! Rồi đồ đá Phùng Nguyên, đồ đồng Ðông Sơn cũng lần lần biến thành đồ Tàu cổ!

Diễn biến lịch sử ở đây là: cướp đất, cướp của cải vật chất, rồi đến lúc nào đấy cướp luôn cả di sản tinh thần. Điển hình, khi bị cướp đến tinh thần thì nạn nhân mất đã lâu rồi, không còn có mặt để tức, để đòi!

Ai có cơ hội cũng cướp chứ không riêng gì người Tàu đâu. Ai có đất thì lo giữ.

Mặc áo gi-lê đánh đàn bầu

Nghệ thuật phải được giới thiệu một cách toàn diện (…) uống trà ngon (…) phải dùng chén nhỏ cỡ hột mít (…) Tiếc là nam diễn viên mặc áo sơ-mi trắng có gi-lê màu theo phong cách một nhạc sĩ Trung Âu, làm mất một phần phong cách và không khí Việt Nam trong lúc trình diễn (TP, tr. 41, 258)

Thử tưởng tượng một ban nhạc Tây mặc áo dài đội khăn đóng ngồi hòa tấu bài Dòng Sông Xanh!

Nhớ sân khấu Thúy Nga. Kể từ Ðức Thành trở đi, các nhạc sĩ đàn nhạc cụ dân tộc luôn mặc áo dài. Thế chứ. Trà ngon rót vào chén hạt mít, cụ Trần Văn Khê trông đã vui chưa?

Cho lòng khỏi phiêu dạt

Những vấn đề hồn của nước, thần của người, nét đẹp phải giữ gìn của truyền thống Văn hóa Việt Nam… vẫn là những chất vấn không nguôi, vẫn hoài hoài muốn được nhắc nhở để cho lòng khỏi phiêu dạt. (TP, tr. 160)

Ðối với đất nước, Trần Văn Khê thật sắt son. Bao nhiêu năm sống ở hải ngoại, bao nhiêu sự ưu đãi, trân trọng của ngoại bang không làm lòng yêu nước của ông dao động mảy may. “Tuy thân ở ngoài nước nhưng tâm tôi luôn ở trong nước…”, câu ông nói không ngoa chút nào.

Trần Văn Khê thể hiện lòng yêu nước bằng cách ra công bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống, kêu gọi chống xâm lăng văn hóa, chống nạn người Việt tự “ngoại hóa” mình. Có lần ông còn sáng kiến một cách uốn nắn thế hệ trẻ: “… trong các trường nhạc Á-rập treo toàn hình ảnh những nhạc sĩ danh tiếng phương Tây, về mặt tâm lý điều đó sẽ khiến học trò hướng về phương Tây mà coi nhẹ âm nhạc truyền thống (…) học sinh tới trường học như bước vô thánh đường, phải được chiêm ngưỡng những bậc tiền bối tiếng tăm của nước mình”.

Các em học sinh trong nước Việt Nam có thể ngày ngày trông lên hình ảnh những tiền bối Việt Nam tài giỏi để tránh lạc hướng, nhưng còn chính Trần Văn Khê, nơi hải ngoại ông thường dùng cách gì để giữ cho cái “đạo” yêu nước của mình khỏi bị “khô”?

Không phải chỉ bằng cách ngày đêm tự chất vấn về “hồn của nước”, “thần của người”, “nét đẹp phải giữ của (…) văn hóa Việt Nam” đâu. Trong Hồi ký, Trần Văn Khê cho biết vẫn luôn cố tự nấu lấy những món ăn dân tộc để dùng cho khỏi quên mùi vị quê hương. Hoài hoài nhắc nhở mình tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc là “để cho lòng khỏi phiêu dạt”, còn ngày ngày cơm cá rau là nhằm giữ cho miệng lưỡi khỏi lang thang!

Trong cái thánh đường của văn hóa Việt Nam, không thể thiếu chân dung Trần Văn Khê.

_____________
(1)Xem bài Đâu Rồi Quán Dốc… của TT.
(2) Tân nhạc Việt Nam rực rỡ đại khái từ thời tiền chiến tới khoảng giữa thập kỷ 1970. Sau đó nó bắt đầu điêu tàn, sáng tác giá trị nói chung hiếm hẳn đi, đến khi kinh tế khởi sự đi lên nhờ đổi mới thì nó xuống dốc ào ào! Lý do là xã hội Việt Nam gấp rút tự Tây hóa đại qui mô, người Việt Nam vô tình tự cắt mình lìa gốc về văn hóa, nên không còn nội lực hùng hậu để sáng tạo nghệ thuật cho thực nổi trội nữa.
(3) Thái Bá Vân, Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật Việt Nam xb., 1997, tr. 292.
(4) Xem bài Đàn Bầu (nhiều tác giả) trên trang 
gocnhin.net.
(5) Xem bài Mềm Như Nước của TT.
(6) Trần Văn Khê trả lời phỏng vấn của Nguyễn Thế Khoa, in trong 
Góc nhìn văn hiến Việt Nam, nhiều tác giả, nxb. Thông Tấn, VN, 2006, tr. 277.
(7) Mất tinh thần là sợ. Bỏ tinh thần là bỏ truyền thống tinh thần của mình. (Xem “Lời nói đầu”, 
Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005.)
(8) Trong tất cả những cuộc “thi đẹp” quốc tế, từ giải Nobel văn chương đến giải Hoa hậu Hoàn vũ, ai thắng ai thua tùy thuộc vào cân bằng thế lực giữa các nền văn hóa, phản ánh qua thành phần ban giám khảo. Cho tới bây giờ, điển hình, ban giám khảo hầu hết thuộc về văn hóa Tây phương. Tây chấm, dĩ nhiên Tây được. Thỉnh thoảng có người khác được, là do Tây cố ý “ưu ái”, vì lý do chính trị. Dĩ nhiên cân bằng thế lực không bất biến. Văn Tây gái Tây chắc chắn sẽ không chiếm ngai vàng mãi đâu. Khổ là đến lúc ta mạnh hơn Tây thì e rằng ta cơ bản đã hóa thành Tây rồi!

http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?4375

 

THU TỨ – Tiểu sử

 

Tên thật Ðoàn Thế Phúc, sinh 1955 tại Qui Nhơn, lớn lên ở Sài Gòn, du học 1973, tốt nghiệp khoa hàng không ở Caltech (Mỹ) 1981, làm việc chuyên môn đến 1991 thì thôi vì thấy không hợp. Từ 1991 đến nay:

– Viết để trình bày cảm nghĩ về nhiều vấn đề khác nhau

– Viết tùy bút, sáng tác thơ, dịch thơ Đường (2007), “làm bài (thơ) khác” (từ 2012)

– Tham gia nhiếp ảnh nghệ thuật.

Đã in: Tìm tòi và suy nghĩ (2005), Thơ văn (2005), Tùy bút (2008).

Sẽ in: Tất cả những tác phẩm đã đăng trên trang gocnhin.net và một số trang khác.

http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?4375