NHẠC SƯ VĨNH BẢO : Phong các đàn trong đờn ca tài tử và kỹ thuật đờn với cách luyến láy đặc trưng tùy theo điệu


Image

PHONG CÁCH ĐÀN

Khoang thai, Tiên phong đạo cốt, tròn vành rõ chữ, chắc chiu từng nốt đàn. Người đàn lẫn người ca luôn luôn là ngồi nghiêm chỉnh, không ngoại hình như là ra bộ ra tịch, nghiêng qua ngã lại.

Chủ trương là hòa, dùng tiếng đàn trò chuyện với nhau, kẻ tung người hứng, tiếng đàn khi  lặn khi mọc. Tuy nhiên vẫn có cái màn trêu ghẹo thử lửa nhau bằng cách đột xuất tung ra những độc chiêu, quật ngã đồng đội để cùng cười vui với nhau.

            NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ gồm 4 ĐIỆU :

            Điệu BẮC :     6  bản

            Điệu NHẠC LỂ   7 bản

            Điệu NAM   3 bản

            Điệu OÁN    4 bản.

            Tổng công 20 bản, tục gọi là 20 bản Tổ.

             Nhạc sỉ đàn được đủ 20 bản nầy được xứng danh là Thầy.

ĐIỆU  (mode)

ĐIỆU chứa đựng những yếu tố như là :

cấu trúc (structure) tạm dịch là cách hành văn,

có thế ví như luật làm thơ : Thơ thượng lục hạ bátthơ song thất, thơ mới, thơ đường.

 

CÁCH LÊN DÂY ĐÀN.  

Điệu nào, Bản nào, dây nấy.

Lấy ví dụ cây đàn Cò (đàn Nhị)

Đàn bản Điệu Bắc, cách lên dây:

Dây to số 2 gọi là dây trong, âm Xàng tạm dịch là    Do,

Dây nhỏ số 1 gọi là dây ngoài , âm Liêu tạm dịch là Sol.

    Khi Rao (Dạo) đàn trước khi đàn Bản thuộc Điệu Bắc thì khởi đầu với âm Liêu là chủ âm (tonic), và chấm dứt Rao củng với âm Liêu (Sol).

 

Sang qua đàn Bản thuộc Điệu Nhạc Lễ thì chỉnh dây lại như sau :

Dây to số 2 gọi là dây trong, âm Xề tạm dịch là   Ré,

Dây nhỏ số 1 gọi là dây ngoài , âm Ú tạm dịch là La.

    Khi Rao (Dạo) đàn trước khi vào Bản thuộc Điệu Nhạc Lễ thì khởi đầu với âm Ú (La) là chủ âm (tonic), và chấm dứt Rao củng với chủ âm Ú (La).

 

Tốc độ (Tempo) gồm có:

Cấp điệu (đàn nhanh)

Trung điệu (đàn vừa vừa)oản điệu  (đàn chậm).

Tiết tấu (rhythm  :

Cách tô điểm nốt đàn : (ornamentations).

 

TÔ ĐIỂM (ornamentations)

Vấn đề  tô điểm nốt đàn là nét đặc thù của nhạc Việt nam mà trên thế giới không nhạc nào có. Vấn đề tô điểm nốt đàn rất là quan trọng. Nó nói lên cái cái Hơi của bản đàn. 

Một nốt đàn khéo tô điểm là một vì tinh tú, mang lại cho người nghe những cảm xúc khác nhau.

Điệu nào Hơi nấy. Có trường hợp đàn trúng Điệu sai Hơi và ngược lại trúng Hơi sai Điệu.

Trúng Điệu sai Hơi

Ví dụ như Bản Tây Thi (một trong 6 Bản của Điệu Bắc).

Cách trang trí nốt đàn như sau:

Các âm  (Sol), Xang (Do),  (Ré) trang trí với cái mỗ tạm dịch là tapping.

Các âm Xự (La) và Cống (Mi) trang trí với cái rung (vibrating).

Nếu làm ngược lại bằng cách các âm  (Sol), Xang (Do), Xê (Ré) trang trí với cái Rung(vibrating), còn các âm Xự (La) và Cống (Mi) với cái mỗ (tapping) là thành ra Hơi (giọng) Tàu Quãng Đông. Trường hợp nầy bị xem là đàn trúng Điệu sai Hơi,

Tương tợ như người Việt nói: « con  gà ăn gạo »

Người Trung quốc nói : « con ngà ăn ngạo ».

Trúng Hơi sai Điệu.

Đàn tùy hứng một đoạn nhạc nào đó với cách trang trí theo kiểu

các âm  (Sol), Xang (Do),  (Ré) rung (vibrating), các âm Xự (La) và Cống (Mi) mỗ (tapping) thì gọi là đàn trúng Hơi sai Điệu.

Tương tợ như người Viết dịch câu nói : « Tao đánh mầy chết » ra tiếng Quảng đông là « Ngộ tạ nị xẩy »,  trong khi người Quảng đông nói :  « Tao đánh chết mầy » « Ngộ tả xẩy nị ».

Ngừoi Việt nói : Vinh quang, Đơn giản, vợ  ông chủ,

Ngưới Quảng đông nói Quang vinh, Giản đơn, ông chủ vợ (xí thẩu lụ phò).

                 Nhạc Truyến thống Việt nam thuộc nhạc Đơn Điệu.

Cấu trúc hoàn toàn khác với nhiều nghệ thuật âm nhạc khác.

     Vietnamese traditional music is MONOPHONIC in texture.

     Its structure is completely different from that in many

     other  art music.

Y hệt như màu sắc trong hội họa, vấn đề trang trí tô điểm nốt đàn là nét đặc thù.

Analogous to color in painting, ornamentation is the predominant features. 

Nốt đàn trang trí tô điểm gieo vào lòng người cảm xúc mà  không ngôn từ nào diển tả được. 

     Each embellished  note gets an emotional feeling for which there exists no adequate word in any language.

Tiếng Việt thuộc có 6 Giọng như sau:

Không Dấu,  dấu Sắc,  dấu Huyền,  dấu  Hỏi,  dấu Ngã,  dấu Nặng. 

     Vietnamese has 6 tones as follows:

     Level,  High rising,  Low falling, Dipping-rising,  High rising

     glottalized,  Low glottalized.

Những Trang trí tô điểm nhu:  Rung,  Mỗ,  Nhấn ví như 6 dấu nêu trên. 

Vietnamese music  ornaments such as:  Vibrating, Tapping, Bending  are  comparable to 6 Tones above.

Nghe tiếng Việt là căn cứ vào Giọng.

Vietnamese language spoken depends on Tones for   understanding.

Trang trí tô điểm nốt đàn,  nói lên cái ĐIỆU và HƠI. của bản.

Giọng,  nói lên cái Nghĩa của chữ.

Ornaments determine the MODE and TIMBRE. Tone the intended Meaning of the   word.

 

 

 

HUY THÔNG : Người ‘tài tử’ mê nhạc tài tử… / nhạc sư VĨNH BẢO


Người 'tài tử' mê nhạc tài tử...

 

Người ‘tài tử’ mê nhạc tài tử…

 

17/01/2014 14:24
(Thethaovanhoa.vn) – Ở cái tuổi bách niên giai lão rồi, nhưng hằng ngày, trong căn phòng chật chội của mình, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn một tay búng thuốc lá, một tay di chuột lướt mạng, kiểm tra thư điện tử hàng tiếng đồng hồ không nghỉ để truyền dạy âm nhạc dân tộc, nhạc tài tử qua internet. Học trò của ông ở khắp năm châu và đa quốc tịch. Ông vui với việc “truyền lửa” của mình, vui khi đờn ca tài tử Nam bộ được vinh danh là di sản thế giới…

Nhưng chính ông cũng thấy bất lực trong việc bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này trong đời sống đương đại, khi mà giới trẻ thờ ơ và đặc biệt là chưa tìm được cách ký âm phù hợp cho đờn ca tài tử…

Theo ông, nếu dùng đồ, rê, mi, fa, sol, la, si… để ký âm cho nhạc tài tử Nam bộ sẽ làm hỏng đi “điệu hồn dân tộc” của loại nhạc này…

Những “mốc son tài tử”

96 tuổi, biết 5 ngoại ngữ, được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất đàn tranh”, những tưởng cuộc sống của nhạc sư Vĩnh Bảo phải vương giả lắm. Nhưng lục lại “lý lịch trích ngang” của ông thì chẳng có nhiều mốc son nào đáng nhớ ngoài mấy chi tiết: 10 tuổi đã chơi thành thạo các loại đàn dân tộc như đàn tranh, gáo, kìm, cò… Bị quan lại Pháp phạt đánh 30 roi và đuổi học vì tham gia rải truyền đơn. Sau đó được cha mẹ gửi sang Campuchia để thi tú tài nhưng ông bỏ thi vì quan niệm cũng rất “tài tử”: học không phải để lấy bằng. Học nhạc ông cũng không học trong trường mà học với hai loại thầy trong thiên hạ, một là học với những nhạc sư nổi tiếng thời bấy giờ như Hai Lòng, Sáu Tý, Năm Nghĩa và hai là học với những “tài tử” biết đờn ca vốn là những người lao động nghèo đạp xích lô, chèo ghe, bán báo dạo… 

 

Năm 20 tuổi, Vĩnh Bảo từng liên tục “chạy sô” ở Campuchia. Tiếng lành đồn xa, ông được quan Nhật mời qua Nhật sinh sống và… chơi đàn. Chính trong những năm “rày đây mai đó” qua một số nước, tiếp cận với nhiều loại nhạc cụ khác nhau, ông đã cải tiến cây đàn tranh từ 16 dây thành 17, 19, rồi 21 dây.

Năm 1955, sau khi nhận lời làm Trưởng ban Giáo sư âm nhạc miền Nam (Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn), ông dạy nhạc cho học viên cũng “tài tử” như rong chơi chốn nhân gian, không theo bất kỳ một phương pháp sư phạm nào. Cách dạy này của ông sau đó bị học viên cho là vô lối và “tẩy chay” ông.

“Chúng nó chụm lại kháo nhau rằng, không thể hiểu nổi ông này, có mỗi một bản nhạc mà lúc này ông ấy gảy kiểu này, lúc khác thì ông ấy lại chơi kiểu khác. Một bản nhạc chỉ chơi được một kiểu chứ mấy” – nhạc sư Vĩnh Bảo kể.

Đến năm 1964, do bất đồng quan điểm với Ban Giám đốc trường về phương pháp giảng dạy, ông rời Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ rồi tiếp tục phiêu bạt cùng âm nhạc dân tộc khắp Nam kỳ Lục tỉnh và nhiều quốc gia khác trên thế giới.

“Tài tử” dạy nhạc và dạy nhạc tài tử

 

Tài tử cũng cần “tiến hóa” “Phải nắm vững truyền thống để biết hướng đi và chỗ đứng của nó. Nếu nhìn nhạc truyền thống nó hay thì nó đứng được một chỗ, còn cho nó là dở thì nó chết. Thành ra phải nhìn thấy nó hay ở chỗ nào, khiếm khuyết chỗ nào để mà bổ khuyết cho nó. Nhưng tôi tiếc là hiện nay còn có người không dám bổ khuyết, vì họ quan niệm rằng ông cha mình đã làm ra vậy thì giữ y như vậy, nếu sửa sẽ là trọng tội. Quan niệm như vậy là không đúng. Mình mang ơn ông cha đã để lại cho hậu thế di

Hiện nay, không gian sinh hoạt âm nhạc của nhạc sư Vĩnh Bảo chỉ gói gọn trong căn phòng chưa đầy 10m2. Trừ khi ngủ, còn khi đã tỉnh giấc, thì căn phòng chật hẹp của ông luôn ngập tràn âm nhạc, một thứ nhạc duy nhất – nhạc tài tử Nam bộ.

Điều đặc biệt là ông không nghe băng đĩa của các nghệ sĩ mà nghe chính tiếng đàn, tiếng ca của mình hoặc của học trò của ông ở khắp năm châu gửi về qua E-mail. Nghe có vẻ lạ, nhưng đó lại là sự thật vì ông dạy nhạc dân tộc, nhạc tài tử qua internet, một phương pháp dạy cũng rất “tài tử”.

 

 

Người muốn học nhạc tài tử qua internet với nhạc sư Vĩnh Bảo chỉ cần có những tố chất như ông yêu cầu: Nắm vững truyền thống dân tộc, biết ký âm rõ ràng, biết về âm nhạc quốc tế và phải biết tiếng Việt hoặc 1 trong 5 thứ tiếng mà ông biết (Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Campuchia). Ai chưa biết truyền thống Việt mà vẫn muốn học nhạc truyền thống Việt, môn đầu tiên ông sẽ dạy chính là “văn hóa Việt Nam” theo vốn hiểu biết của ông.

Vô tình, phương pháp dạy chẳng giống ai này của lão nhạc sư đã nhiều năm qua và còn nhiều năm nữa đang truyền đi khắp thế giới không chỉ nhạc tài tử Nam bộ mà còn là truyền thống văn hóa Việt. Đáng quý hơn, nó được truyền đi một cách vô tư và phi vụ lợi!

Nhiều người nhìn vào công việc này của nhạc sư Vĩnh Bảo, già non cho rằng, hàng tháng chắc nhận được nhiều đô la từ nước ngoài gửi về lắm. Nhưng sự thật là không học trò nào của ông phải đóng học phí. Thế nên mới có chuyện, mỗi sáng mai thức dậy, ông đều vịn tay vào lan can cầu thang nói vọng xuống lầu dưới với người con gái của mình: “Mua ba ly cà phê, một bao thuốc lá Jet nha con”, rồi lẫm chẫm trở vào thư phòng, đánh phệt mông xuống sàn nhà dán mắt vào máy tính, bật loa lên và di chuột kiểm tra thư điện tử để “chấm bài” thu âm cho học trò. Chấm đến bài nào, nếu thấy học trò online, ông “buzz” ngay và bật webcam để trao đổi. Nếu xong sớm, ông lại quay sang làm đàn tranh, đàn kìm để bán lấy tiền… Ngoài ra, thi thoảng có người bán đất, bán nhà mà giấy tờ hoặc văn tự bằng tiếng Pháp, tiếng Anh hay tiếng Hoa đều tìm đến ông và “thuê” dịch ra tiếng Việt. 

 

Tài tử mắc kẹt

Vừa gối một cây đàn tranh lên đùi, phẩy đôi bàn tay già nua trên những sợi dây đàn, ông bảo: “Đời tôi gối đầu lên những cái này gần hết rồi. Ôm mãi cũng không được, muốn giữ lắm nhưng kẹt nhiều chuyện lắm…”.

Cái “kẹt” trong việc gìn giữ nhạc tài tử Nam bộ theo lão nhạc sư là chúng ta chưa tìm được lối ký âm cho nó. Thông thường, bây giờ sử dụng đô, rê, mi, fa, sol… để ký âm. Đó là lối ký âm khoa học và chính xác, nhưng theo nhạc sư Vĩnh Bảo, đối với loại hình âm nhạc truyền thống (của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng) thì lối ký âm này chưa đạt, chỉ làm nên được phần xác chứ chưa thể lột hết được phần hồn, tinh thần dân tộc, tính truyền thống của bản nhạc. Có lẽ vì thế nên khi dạy học trò qua internet, lão nhạc sư “tài tử” vẫn dùng những nốt cổ nhạc Nam bộ hò, xự, xang, xê, cống… để hy vọng không làm mất bản sắc dân tộc trong từng bản cổ nhạc.

“Ở phương Tây, một bản nhạc viết ra như thế nào thì nghệ sĩ chơi như thế ấy vì xem đó như là một thực thể bất biến. Nhưng người nghệ sĩ Việt Nam không chỉ là người diễn tấu đơn thuần mà có thể ứng tấu trong từng ngón đàn tùy theo tình cảm, tâm tư của họ. Nghệ sĩ Việt Nam có thể tô điểm, thêm thắt hoa lá cho bản nhạc thêm sức sống mới. Chính những di sản đó được chơi đi chơi lại khác nhau thì đó mới là… tài tử, tài năng thực sự”.

Phần lớn những nghệ sĩ đờn ca tài tử hiện nay theo nhạc sư Vĩnh Bảo không biết gì về đô, rê, mi, fa, sol. Vì vậy, nếu các trường nhạc mời các tài tử về dạy nhạc tài tử Nam bộ cho học sinh theo lối ký âm này thì các “thầy” chịu. Ngược lại, học sinh nếu thấy nhạc tài tử Nam bộ hay, muốn tìm đến thầy học nhưng lại không hiểu, không biết gì về hò, xự, xang, xê, cống… thì nói như nhạc sư, kể như… huề.

Được chính phủ Pháp tặng Huy chương

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, sinh năm 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), là người có ngón đờn tranh có một không hai của Việt Nam và tài chế tác đàn tranh cải tiến vô (17 đến 21 dây). Từng giữ chức danh Trưởng ban Giáo sư Âm nhạc miền Nam của Trường Quốc gia Âm nhạc – Kịch nghệ Sài Gòn (1955 – 1964), năm 1960, ông lập ban nhạc Tinh Hoa, chuyên trình diễn nhạc tài tử Nam Bộ trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Năm 2002, hãng dĩa Ocora của Pháp đã phát hành một CD với nhạc sư Vĩnh Bảo và ban nhạc tài tử gồm Sáu Tý và Hoàng Cơ Thụy, tạo được tiếng vang lớn ở hải ngoại và được bán khắp nơi trên thế giới. 

Năm 2005, ông được Nhà nước trao Giải thưởng Đào Tấn. Năm 2008, ông được Chính phủ Pháp tặng Huy chương Nghệ thuật và Văn học (Médaille des Arts et des Lettres), cấp bậc Officier (ở Việt Nam chỉ có hai người có cấp bực này là GS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo. Một số nghệ sĩ được huy chương này nhưng ở cấp bực thấp hơn là Chevalier). 

 

Huy Thông
Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nguoi-tai-tu-me-nhac-tai-tu-n20140117084413224.htm

HUY THÔNG : Lão danh cầm Vĩnh Bảo: Người đầu tiên ‘trình’ nhạc tài tử đến UNESCO


  Lão danh cầm Vĩnh Bảo: Người đầu tiên 'trình' nhạc tài tử đến UNESCO

Lão danh cầm Vĩnh Bảo: Người đầu tiên ‘trình’ nhạc tài tử đến UNESCO

16/01/2014 13:19
Image

(Thethaovanhoa.vn) – Ở tuổi 96, lão danh cầm Vĩnh Bảo lẫy lừng khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa và Nam Bộ ngày nay bởi ngón đàn tranh điêu luyện vẫn còn mẫn tiệp, nhanh nhẹn. Ông từng từ chối tham gia quân đội của chính quyền Ngô Đình Diệm, không muốn định cư ở nước ngoài, nhưng lại hay “xuất ngoại” để làm duy nhất một việc mà ông đã và đang làm trong hơn 70 năm qua: truyền bá âm nhạc dân tộc Việt Nam ở khắp năm châu. Đặc biệt là nhạc tài tử Nam Bộ…

Hơn 40 năm trước, chính tay danh cầm nom vẻ bề ngoài như thi sĩ Bùi Giáng đã cùng GS Trần Văn Khê thu âm nhạc tài tử Nam Bộ theo lời mời của UNESCO tại Pháp. Ngoài ra, đôi bạn “tài tử” Bảo – Khê còn tổ chức nhiều buổi nói chuyện, hội thảo và cùng “song tấu” nhạc tài tử Nam Bộ trên sóng phát thanh tại Pháp thời bấy giờ…

Thu âm một lần được 5.000 quan Pháp

Những năm 1946-1947 nhạc sư Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê dạy chung trường. Nhưng tuyệt nhiên GS Khê không biết nhạc sư Vĩnh Bảo có thể chơi thông thạo nhiều loại nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, đàn gáo, đàn bầu, đàn cò… lẫn nhạc cụ Tây phương như piano, violin, mandoline…

Đến năm 1949, GS Trần Văn Khê qua Pháp, tình cờ 6 năm sau, trong một lần gặp gỡ với bác sĩ Kim Tương – là học trò của nhạc sư Vĩnh Bảo – cho nghe cuốn băng nhạc sư chơi đàn, GS Khê hỏi ra mới biết người chơi đàn là ông bạn dạy tiếng Pháp cùng trường ở Sài Gòn năm nào. Từ đó, ông bắt đầu liên lạc với nhạc sư Vĩnh Bảo và “lôi kéo” danh cầm người Sa Đéc này vào con đường truyền bá âm nhạc dân tộc đến với thế giới.

Chuyến “xuất ngoại” đáng nhớ để truyền bá âm nhạc dân tộc, trong đó có nhạc tài tử Nam Bộ đến với thế giới của nhạc sư Vĩnh Bảo là vào năm 1970. Theo như lời ông kể, khi đó, Trường Đại học Illinois (Mỹ) đã cử một số giáo sư đầu ngành sang thuyết phục nghệ sĩ Vĩnh Bảo qua xứ sở cờ hoa với tư cách giáo sư biệt thỉnh về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Thù lao mà Đại học Illinois trả cho nhạc sư Vĩnh Bảo là 2.500 USD/ngày, mặc dù ông chỉ đề nghị trả 200 USD/ngày.

Sau chuyến biệt thỉnh ở Mỹ, nhạc sư Vĩnh Bảo tiếp tục bay qua Paris (Pháp) theo lời “rủ rê” của GS Trần Văn Khê. Tại Pháp, ngoài những buổi nói chuyện về âm nhạc truyền thống Việt cho công chúng và học sinh Pháp nghe, nhạc sư Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê đã nhận lời mời của hãng ghi âm Ocara của Pháp thu âm đĩa nhạc tài tử Nam Bộ.

Ông kể, khi đến phòng thu, thấy căn phòng bày biện rất nhiều nhạc cụ phương Tây ngay lập tức ông bị cụt hứng, không muốn đàn nữa.

“Tôi nói với anh Khê. Tôi hết hứng đàn rồi. Thôi bỏ. Ta đi cà phê đi. Tôi và anh Khê xuống đường uống cà phê được 15 phút thì ông phó giám đốc xuống, trả tiền cà phê cho tụi tôi rồi mời chúng tôi quay lên phòng thu. Lên đến nơi, tôi thấy họ dẹp hết nhạc cụ phương Tây. Tôi có tìm hiểu thì được biết lúc tôi tỏ thái độ “phản cảm” với nhạc cụ phương Tây và bỏ đi, ông ấy có nhìn thấy và trong lúc chúng tôi ngồi cà phê bên dưới ông ấy đã cho người dẹp hết. Rồi tôi ngồi vào đàn. Đàn hơn một giờ đồng hồ, đàn cả chục bài nhưng không hư bài nào. Lần đó họ trả cát-sê cho tôi là 4.000 quan Pháp. Đàn xong ông giám đốc còn viết séc, bồi dưỡng thêm cho tôi 1.000 quan nữa. Tôi thấy cảm kích trước tấm lòng của họ. Không phải dành cho tôi mà dành cho thứ nhạc của dân tộc mình mà tôi chơi cho họ nghe và phổ biến đến công chúng Pháp”.

UNESCO đề nghị mua bản quyền nhạc tài tử

Sau khi thu âm nhạc tài tử Nam Bộ và trình tấu nhạc tài tử Nam Bộ tại một số đài phát thanh ở Pháp, nhạc sư Vĩnh Bảo còn thu âm tiếp một đĩa nhạc đàn tranh nhạc tài tử Nam Bộ theo đề nghị của tổ chức UNESCO.

“Tôi không biết lý do nào UNESCO khi đó đã quan tâm đến nhạc tài tử Nam Bộ. Tôi chỉ nhớ mình tôi đã chơi đàn tranh gần như tất cả các bài tài tử Nam Bộ “nguyên gốc” trong cái đĩa đó và in ra 12 bản gửi cho họ” – nhạc sư Vĩnh Bảo hồi tưởng.

8 tháng sau, ông nhận được thư của GS Trần Văn Khê. Trong thư, GS Khê cho biết, UNESCO đề nghị mua bản quyền những tác phẩm mà nhạc sư đã thu âm chỉ với một lý do là họ thích nhạc tài tử Nam Bộ Việt Nam.

“Anh Khê nói với tôi, ta làm đĩa tặng UNESCO để nhờ họ phổ biến ra với thế giới thôi. Nhưng bây giờ họ liên lạc với tôi bảo mua. Họ bảo tôi là các anh thích lấy tiền đô la, tiền quan của Pháp hay tiền Việt? Anh Khê hỏi tôi: Anh thích tiền gì? Bao nhiêu? Tôi bảo tôi không biết đâu. Họ muốn trả bao nhiêu, bằng tiền gì cũng được. Với lại lúc đó thú thực tôi không quan tâm lắm…

(Còn tiếp)

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : VAI TRÒ CỦA SONG LANG TRONG GIÀN ĐỜN CA TÀI TỬ NAMBỘ.


Image

VAI TRÒ CỦA SONG LANG TRONG GIÀN ĐỜN CA TÀI TỬ NAMBỘ.

Tiếng mộc của Song lang làm nổi bật câu đàn, nếu không thì câu đàn nghe khôkhan.

Trước khi đàn, luôn luôn là có Rao (miền Bắc và Trung gọi là Dạo)

Rao cùa Nhạc Huế gọi là bài Rao, bỡi đã soạn ra để nhạc sĩ học thuộc lòng, do đó nhạc sĩ đàn Kìm (Nguyệt), đàn Tranh (Thập lục), đàn Cò (Nhị) câu Rao của họ na ná như nhau.

Rao của Nhạc Tài Tử Nam Bộ là khi nắm vững Điệu và Hơi của bản sắp đàn thì nhạc sĩ theo tâm tư tình cảm, tự biên tự diễn ngay lúc đàn.

Người sành nhạc nghe Rao có thể đoán biết trước người nhạc sĩ sẽ đàn Bản thuộc Điệu nào.

Cái Rao giúp cho nhạc sĩ kiểm tra lại sự chính xác của cao độ các dây trên cây đàn của mình.

Tìm cho riêng mình nguồn cảm hứng.

Tạo hào hứng cho người nghe.

Phần đông người nghe thích nghe Rao hơn nghe đàn bản, bỡi cái Rao nó nói lên cá tính, sức sáng tạo, diệu tài của nhạc sĩ.   

Trong giàn nhạc, ví dụ như tam tấu :  đàn Kìm, đàn Tranh, đàn Cò thì thường khi Song lang giao cho nhạc sĩ đàn Kìm.

(Trường hợp nhạc sĩ đàn Kìm yếu nhịp, bản đàn thiếu cơ bản thì Song lang mới giao cho nhạc sĩ đàn Tranh).

Tại sao Song lang giao cho đàn Kìm ?

Bản đàn Kìm ít chữ, nhấn nhá nhiều, dễ cho những cây đàn khác dựa vào khi quên câu đàn hay nhịp không vững.

Ra hiệu bắt đầu vào bản.

Khi các cây đàn trong giàn đờn chấm dứt cái Rao, thì nhạc sỉ đàn Kìm cho một tiếng cóc của Song lang tức là ra dấu hiệu bắt đâu vào đàn.

Ra dấu hiệu vào đàn là nhạc sĩ đàn Đàn Kìm, nhưng nhạc sĩ đàn Tranh do có chứ Á gài đầu vô trước, các cây đàn khác bắt theo

(danh từ Á có thể hiểu là ARPEGGIO), nó là  một tràng nốt đi từ cao xuống thấp)..

Chấm dứt bản:

Bản đàn thuộc Điệu Bắc (bản vui). Điệu Nhạc lễ, Điệu Nam, Điệu Oán, mỗi cẩu chỉ có 2 gõ Song lang.  .  

NGUYÊN TẮC GÕ SONG LANG

Điệu Bắc, Nhạc lễ.

Bản nhịp tư: song lang gõ ngay nhịp 3 gọi là song lang nhứt,

và 4 gọi là song lang nhì.  

Bản nhịp tám: song lang gõ ngay nhịp 7 và 8.

Điệu Oán.

Bản nhịp tư: song lang gõ ngay nhịp    3 và 4.

Bản nhịp tám: song lang gõ ngay nhịp 6 và 8.

Báo hiệu sắp chấm dứt bàn đàn:

Lấy ví dụ bản Điệu Bắc gồm 16 câu nhịp tư (mổi câu 4 nhịp).

Khi đàn tới câu 16 (tức câu cuối cùng của bản), ngay nhịp thứ 3 câu 16, song lang gõ 1 gõ ngay nhịp thứ 3 và nhồi thêm 1 gõ phụ.

—————————————————-

 dịp sẽ bàn qua: ĐIỆU là gì, HƠI là gì trong nhạc truyền thống nhạc miền Nam

doncataitu