Trương Thiên Lý : BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG / Luận văn tốt nghiệp (2006) , phần 2


CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

I. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ”.
1. “Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo của Việt Nam và của ĐBSCL.
Đồng bằng sông Cửu Long, miền đất trù phú nằm ở phía Nam của đất nước Việt Nam mà người xưa gọi là “Đất chín rồng”, miền đất Tây Nam bộ được bù đắp nhiều phù sa bởi những nhánh sông và cũng là miền đất của một trong những chiếc nôi của dòng nhạc truyền thống ở Nam bộ đặc biệt là nhạc tài tử.
Trên vùng đất mới này, nhạc tài tử đã hình thành dựa trên nền tảng của nhạc Cung đình hoà vào cuộc sống dân dã. Nó hội nhập cùng các điệu lý, các câu hát đối đáp, các giọng hò sông nước để nói lên tiếng lòng của người dân châu thổ. Tiến trình âm nhạc này là thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân ĐBSCL.

1.1. Đôi nét về văn hoá ở ĐBSCL những năm đầu thế kỷ XX:
Đồng bằng sông Cửu Long với 4 dân tộc sinh sống, đó là Việt, Hoa, Khmer và Chăm. Nhưng phần đông là người Việt sinh sống khắp 13 tỉnh, thành phố miền Tây Nam bộ. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng được thể hiện qua các lễ hội dân gian. Tuy nhiên trong sinh hoạt hàng ngày họ sống rất hoà đồng với nhau trong các làng xã.
Sinh hoạt tinh thần của cộng đồng người Hoa tập trung ở chùa Ông Bổn. Đây là ngôi miếu thờ quan công, một biểu tượng tinh thần của người Hoa, được xây dựng rải rác ở khắp các tỉnh Nam bộ – nơi có dân cư người Hoa sinh sống. Lễ hội gia đình thì tập trung vào Tết nguyên đán, Thượng ngươn, Thanh minh, Tết đoan ngọ, Rằm tháng bảy (xá tội vong thân), Tết trung thu, Hạ ngươn, Tết táo quân. Các lễ tết này của người Hoa đã ảnh hưởng và hoà vào sinh hoạt lễ hội của cộng đồng người Việt, tạo thành một sắc thái riêng cho cả khu vực và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Người Khmer sinh hoạt lễ hội chủ yếu tập trung ở chùa. Hàng năm có 3 ngày lễ chính là Chol – chman – thmay, Đôn – ta, và Oc – om – bóc. Còn lại ngày rằm thì họ lên chùa lễ phật. Hoạt động văn nghệ của người Khmer cũng rất phong phú. Hầu như bất cứ người Khmer nào cũng biết múa Lam – thôn, hát à – day (đối đáp). Mỗi khi họ đi đến chùa thì đều tập trung múa hát bên cạnh một dàn nhạc ngũ âm. Tuy nhiên do cộng đồng người Khmer ít, nên dần dần các sinh hoạt tinh thần cũng thu hẹp khu trú ở một bộ phận nhỏ mà thôi.
Đối với người Việt thì cúng đình và lễ hội cúng đình là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu. Lễ hội cúng đình được tổ chức 3 ngày đêm với các lễ như: Thỉnh sắc thần, cúc yết, xây chầu, tế thần nông,… Hát bội là một hoạt động không thể thiếu được trong lễ hội cúng đình. Lúc bấy giờ ở Cần Thơ có nhiều gánh hát bội nổi tiếng khắp vùng: gánh của Ông bầu Bòn (quê ở LáiHiếu – Phụng Hiệp), gánh của cô Năm Nhỏ (cái Vồn), gánh của ông Mười Bếp (chợ Cần Thơ), . .tuồng “Kim thạch kỳ duyên” của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 – 1872) được nhiều người dân trong vùng yêu thích và thông thuộc.
Sinh hoạt văn hoá dân gian phổ biến ở ĐBSCL còn có nói thơ, hát đối đáp và các điệu hò, lý,.. và ĐBSCL cũng là nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ sôi nổi nhất lúc bấy giờ.

1.2. Bối cảnh sinh hoạt văn hoá – văn nghệ ở Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.
Trong thời gian này, ở các tỉnh Nam bộ các nhóm “Đờn ca tài tử” phát triển khắp nơi. Đây là loại hình nghệ thuật phổ biến nhất lúc bấy giờ và rất được công chúng yêu thích, say mê.
Ông Trương Duy Toản (1885 – 1957), quê ở Vũng Liêm – Vĩnh Long. Sau thời gian tham gia cách mạng, bị an trí về Phong Điền – Cần Thơ khoảng năm 1914 – 1915. Ở đây có ban tài tử Ai Nghĩa (ghép từ 2 làng Nhơn Ai, Nhơn Nghĩa huyện Châu Thành) hoạt động rất mạnh. Trong lúc thời gian rảnh rỗi ông Trương Duy Toản tham gia các hoạt động nghệ thuật. Ông sáng tác ra nhiều bài ca có ý nghĩa tiến bộ cho ban tài tử Ai Nghĩa ca hát trong các thôn xóm.
Ông Tống Hữu Định (còn gọi là phó Mười Hai) ở Vĩnh Long, thành lập ra nhóm “Đờn ca tài tử” biểu diễn trong các dịp lễ, tết… Năm 1915, lần đầu tiên ban tài tử củ ông tổ chức ca ra bộ có 3 người thủ vai: Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga, các diễn viên không biểu diễn trong thính phòng mà đứng diễn trên bộ ván gõ.
Ông Trần Quan Quờn (kinh lịch Quờn) làm thư ký cho Toà án tỉnh Vĩnh Long, sống cùng thời với Ong Tống Hữu Định, có sở trường sáng tác các bài Tứ Đại Oán. Ông cũng có công cải tiến cây đàn Nguyệt cổ điển thành cây đàn Kìm với tiếng kêu to hơn, nhanh hơn, phù hợp nhiều bài bản trong ca nhạc tài tử.
Ở Mỹ Tho, ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) cũng thành lập ban “Đờn ca tài tử” năm 1910. Ban tài tử Tư Triều thu hút nhiều danh cầm, danh ca như: Tư Triều (đàn kìm), Chín Quán (độc quyền), Bảy Võ (đàn cò), Hai Nhiều (đàn tranh), và cô Ba Đắc (diễn viên). Ban tài tử Tư Trièu đã đi lưu diễn ở Pháp và nhiều lần biểu diễn tại Sài Gòn. Ban tài tử Tư Triều khi đi Pháp về đã tiếp thu cách biểu diễn đàn ca trên sân khấu.
Các ban nhạc tài tử thường xuyên tổ chức sinh hoạt giao lưu với nhau để vừa thi thố tài năng, vừa trao đổi học tập kinh nghiệm bài bản và cách thể hiện mới. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật truyền thống, loại hình kịch nói được thực dân Pháp du nhập vào nước ta, nhưng các vỡ kịch này không thu hút khán giả và nhanh chóng đi vào quên lãng vì còn nhiều xa lạ với các loại hình nghệ thuật truyền thống của nước ta.
Tóm lại những năm đầu thế kỷ XX Nam bộ đã sớm phát triển truyền thống văn hoá – văn nghệ mà đặc biệt là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hoá Phú Xuân, thì ca nhạc tài tử biểu hiện cho văn hoá, văn minh Nam bộ. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm ngọt ngào dễ hoà vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa.
1.3.” Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo của Việt Nam và của ĐBSCL.
Vùng ĐBSCL không chỉ có văn hoá lễ hội dân gian mà văn hoá vùng đất này cũng mang tính văn nghệ rất cao, nhất là nghệ thuật cải lương – đờn ca tài tử, mang nỗi niềm những người lao động nhớ về cố quốc quê hương với ý thức thẩm mỹ sân khấu “phải có ca nhạc và điệu bộ”. Từ đây nảy nở nền văn hoá dân gian Nam bộ phong phú và đặc sắc của dân tộc.
Tìm hiểu khái quát về nguồn gốc , ý nghĩa và tính nghệ thuật của bộ môn “Đờn ca tài tử” thì rõ ràng ta thấy đây không chỉ là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo mà đây còn là một trong những giá trị văn hoá cần được phát huy nâng cao và giữ gìn nó theo tinh thần nghị quyết TW 5 khoá 8 “Người xưa sáng tạo ra đờn ca tài tử để làm món ăn tinh thần mà chóng chọi với thiên nhiên, chóng áp bức bóc lột trong xã hội đấu tranh đánh đuổi ngoại xâm. Còn ngày nay ta kế thừa và phát huy nó để làm món ăn tinh thần trong xây dựng quê hương đất nước”.
Để hiểu rõ hơn về điều này chúng ta hãy một lần nhìn lại hình ảnh những chiến sĩ văn công ngày xưa đã dùng lời ca tiếng hát của mình mà đánh đuổi giặc. 
Kim Chi – chiến sĩ văn công Cà Mau, người lừng danh cả thanh cả sắc, cô hát hay, hay tới mức địch yêu cầu hát, cứ áp sát hàng rào mà ca binh vận theo yêu cầu của binh sĩ.
Cùng thời với Kim Chi còn có ông Huỳnh Khánh, hiện là Giám đốc Sở văn hoá thông tin tỉnh Cà Mau, nghệ sĩ ưu tú Minh Đương là trưởng đoàn cải lương Hương Tràm – đã có lần cất tiếng hát lấy được đồn giặc. Hát trước đồn là một hoạt động tuyên truyền binh vận của văn công. Ong Huỳnh Thanh An, Giám đốc đài phát thanh truyền hình Sóc Trăng kể:” Các ông lấy tấm nilon căng rộng ra khoét lỗ ở giữa để khoét thanh tính cho tiếng phân tán ra để địch khỏi biết mình ở chỗ nào. Còn binh vận nghĩ lại thấy dũng cảm nhưng… khó an toàn. Ở Sóc Trăng, tuyên truyền phải dùng tiếng Việt, sau đó là tiếng Khmer, đã vậy lại ca hai bài 6 câu”.
Còn nghệ sĩ Minh Đương thì nói:”phải có chiến thuật ca binh vận, ca – ngưng 5 phút – nói chuyện – ca. Nói chuyện tuyên truyền đương nhiên, nghỉ 5 phút giặc chờ … nếu ta có rút đã đi được quãng đường xa an toàn. Huỳnh Khánh đờn, Minh Đương ca bao đồn Thứ Giải (Bình Phú), những bài Sóng tam giang,Xuân tình đêm ấy đã thay súng đạn gọi giặc ra hàng. Sức mạnh của văn nghệ không thể lường hết. (Trích “Đặc sắc đờn ca tài tử phương Nam” – Báo Nhân Dân bằng tháng số 75 tháng 7/2003)
Còn hiện nay tại các tỉnh ở ĐBSCL lấy “Đờn ca tài tử” làm một trong những tiêu chí trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Song song với đó “Đờn ca tài tử” cũng đang đuợc đưa vào hoạt động phục vụ du lịch tại các điểm du lịch ở ĐBSCL. Tuy cung cách hoạt động và hiệu quả chưa được đánh giá một cách thấu đáo nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ và khả năng đáp ứng nhu cầu của khán giả (du khách).
Từ những điều trên cho thấy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo không chỉ của ĐBSCL mà còn là của dân tộc Việt Nam.
2. Khai thác sử dụng “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch ĐBSCL.
2.1. Qui hoạch các điểm du lịch kết hợp với nghệ thuật “Đờn ca tài tử” tại các địa phương (Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang).
Sông Mekong là một trong những con sông lớn của thế giới. Châu thổ sông Cửu Long chủ yếu nằm trên địa bàn Nam bộ và trung tâm của nó là các tỉnh nằm ở đôi bờ hai nhánh của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu. Ở ĐBSCL, không có thành quách xưa cũ, không có núi non, ngút tầm mắt là đồng lúa, nhuộm xanh tầm mắt là vườn cây ăn trái, mở xa tầm mắt là dòng sông cuồn cuộn đổ ra biển Đông. Đặc thù sông ngòi chằn chịt, những con kênh do người đào đã vẽ lên ĐBSCL những nét ngang dọc hết sức riêng. ĐBSCL với hệ sinh thái của nó là một bộ phận của nền du lịch quốc gia. Đây là cái do chúng ta tạo ra và cái gì do chúng ta tạo ra thì sẽ có sức sống lâu dài, sẽ không ngừng thay đổi sắc diện.
2.1.1. QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI MIỆT VƯỜN (DU LỊCH NHÀ VƯỜN) KẾT HỢP VỚI NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH VĨNH LONG.
Vĩnh Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, hai nhánh sông Mekong dài 4.300km, là con sông dài nhất Đông Nam Á, và dài thứ 10 trên thế giới với lượng phù sa rất lớn bồi đắp cho cả ĐBSCL. Đến Vĩnh Long cũng nhằm khám phá vùng hạ lưu sông Mekong, đây là đề tài hấp dẫn du khách quốc tế và nội địa đến tham quan. 
Vĩnh Long có tương đối đầy đủ yếu tố du lịch sinh thái miệt vườn, sông nước hữu tình, nhiều loại cây trái nhiệt đới, các loại ca nhạc tài tử , hò vè, đối đáp Nam bộ… các di tích cách mạng, lịch sử, văn hoá, nhìn chung có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn.
– Mảng du lịch sông Tiền từ Mỹ Thuận đến tiếp giáp chợ nổi Cái Bè – Chợ Lách – Mang Thích là khu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái miệt vườn với hơn 30 sản phẩm tiềm năng có thể khai thác phục vụ du khách, từ khu vực này có thể nối tuyến xa hơn về phía Trà Vinh và về thượng nguồn có thể nối tuyến du lịch sang Campuchia.
– Mảng sông Hậu từ Bình Minh – Mỹ Hoà tiếp giáp Cần Thơ và nối tuyến chợ nổi Trà Ôn, Phụng Hiệp và các tỉnh cựu Nam, khu vực này có nhiều sản phẩm đặc trưng ấn tượng: Bưởi năm roi, vườn ươm cho các loại rau, củ, các làng nghề, . . .
“Đờn ca tài tử” tại nhà vườn – Cù lao An Bình – Vĩnh Long 
Cuộc sống, sinh hoạt văn hoá của người dân miệt vườn sông nước đã tạo ấn tượng cho du khách tham quan: các loại thuyền, chài, lưới, các loại hình đánh bắt thuỷ sản, đám cưới trên sông, chợ nổi, các hình thức canh tác truyền thống, lúa nước, làm rẫy, thưởng thức và tìm hiểu loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử tại các nhà vườn,… các lễ hội đình làng, các lễ hội của dân tộc Khmer, các di tích lịch sử, văn hoá, chiến tranh đều có thể giới thiệu và ngay cả phục chế, tái tạo một số lễ hội phục vụ du khách tại các khu, điểm du lịch vừa tạo tính hiếu kỳ, vừa giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ.
Một số sản phẩm tiêu biểu là nền văn minh lúa nước, qui trình sàn xuất, chế biến các sản phẩm từ gạo, nếp thành các loại bánh có chất lượng, chế biến các loại trái cây, các hình thức thưởng thức ẩm thực Nam bộ, các làng nghề thủ công truyền thống, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đều có thể quy hoạch phát triển hoặc phục chế phục vụ du khách. Các loại hình vui chơi giải trí dân gian cũng như thư giãn theo phong cách Nam bộ, tiếp xúc cởi mở với dân cư địa phương, ngắm trăng, thả diều, câu cá, bơi thuyền thưởng ngoạn, ca tài tử đều làm cho du khách gần gủi thiên nhiên và cảm nhận được sự bình yên của người dân đồng bằng sông Cửu Long.
2.1.2 PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở KHU DU LỊCH SINH THÁI CÙ LAO THỚI SƠN – TỈNH TIỀN GIANG
Tiền giang, một tỉnh thuộc hạ lưu sông Cửu Long với những nét đặc thù giống như các tỉnh khác trong khu vực. Loại hình du lịch sinh thái là tham quan nền văn minh miệt vườn, sông nước ĐBSCL.
Cù lao Thới Sơn, trên phương diện hành chính gọi là xã Thới Sơn thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang, nằm trên nhánh sông tiền trải dài từ phía trên rạch Xoài Mút đến thành phố Mỹ Tho. Cạnh cồn Phụng, cồn Tân Long và cách không xa cồn Qui (dân gian gọi đây là tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng mà Thới Sơn là Lân). Diện tích tự nhiên của cù lao Thới Sơn là 1.176ha (11,76km2), trong đó có 569ha là diện tích vườn cây ăn trái. Trên cù lao chằng chịt những sông rạch quanh co, hai bên là bần và dừa nước. Hằng năm cù lao được bồi đắp lượng phù sa rất lớn bình quân 1.000m3/năm nên đất đai rất màu mỡ. Do đó, người dân cù lao làm nghề kinh tế vườn là chính với nhiều loại cây ăn trái. Toàn bộ cù lao được phủ xanh, hiện trạng môi trường sinh thái trong lành, thoáng mát, chưa bị ô nhiễm. Bản sắc văn hoá miệt vườn Nam bộ lâu đời vẫn còn tồn tại.
Với 30 phút ngược dòng sông Tiền du khách sẽ đến được cù lao Thới Sơn. Đến đây du khách có thể hoà nhập vào nếp sống dân dã với nụ cười vui vẽ hiếu khách, với vườn kiểng, căn nhà xưa, thưởng thức trái cây đặc sản,… Từ đây đã dần trở thành một quần thể các điểm du lịch sinh thái và văn hoá trên cù lao Thới Sơn. Nét văn hoá dân gian, sinh thái miệt vườn, không khí trong lành yên tĩnh luôn được bảo tồn tạo niềm thích thú cho du khách. Năm 2002 khách quốc tế đến Tiền Giang là 258.773 lượt khách, trong đó khách đến khu du lịch Thới Sơn chiếm 84,95%, tăng bình quân 25,57%/năm. Khách du lịch nội địa đến Tiền Giang năm 2002 là 180.535 lượt khách, trong đó khách đến khu du lịch Thới Sơn chiếm 27,98%.

Đội “Đờn ca tài tử” khu du lịch cù lao Thới Sơn – Tiền Giang
Hiện nay, nếu muốn phát triển du lịch bền vững thì còn phải phụ thuộc tính đa dạng sản phẩm du lịch bao hàm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình. Ngoài việc khai thác môi trường thiên nhiên đặc thù miền sông nước, cây trái bốn mùa, thì nét văn hoá con người bản địa cũng góp phần rất lớn trong hoạt động du lịch. Những điệu hò, điệu lý, đờn ca tài tử Nam bộ, bản chất của người dân miệt vườn từ ánh mắt đến nụ cười được giới thiệu đến du khách như một phần thiết yếu của chương trình tham quan thông qua việc tiếp xúc, trao đổi với người dân địa phương. Chính sự đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội đã tránh được hiện tượng nhàm chán do sự trùng lắp các chương trình tham quan và giúp cho du khách hài lòng với những gì mà họ muốn đạt được trong chuyến tham quan.
Tuy nhiên điều mà chúng ta không thể thiếu được trong quá trình khai thác du lịch là công tác quy hoạch. Để du lịch phát triển tràn lan, mang tính tự phát không theo một định hướng và qui hoạch chung thì kết quả tất yếu sẽ là huỷ hoại cả một không gian du lịch. Không nằm ngoài khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia. Tiền Giang đã lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tiền Giang thời kỳ 2001 -2010 được UBNN tỉnh Tiền Giang phê duyệt, trong đó có quy hoạch cù lao Thới Sơn thành một làng du lịch sinh thái mang đậm nét làng quê Nam bộ. Và vào năm 2002 Tổng Cục Du Lịch đã đầu tư 50 triệu đồng để mua sắm nhạc cụ,… nhằm nâng chất lượng cho 4 đội “ca nhạc tài tử” tại Thới Sơn phục vụ cho du lịch. Từ khi du lịch Thới Sơn phát triển đã trực tiếp và gián tiếp tạo công ăn việc làm cho dân cư tại xã tăng thêm thu nhập. Các hộ dân là điểm tham quan, dừng chân cho du khách đều thể hiện văn minh, hiếu khách, phục vụ tận tình,…
2.1.3. PHÁT TRIỂN DU LỊCH SÔNG NƯỚC MIỆT VƯỜN KẾT HỢP VỚI “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH CẦN THƠ.
Cần Thơ, vùng đất ven sông Hậu có vị trí trung tâm ĐBSCL, tự hào với tên gọi Tây Đô. Con người Tây Đô chân chất, hiền hoà, giàu lòng mến khách. Đây là vùng đất mới giàu tiềm năng phát triển du lịch. Nơi đây có thế mạnh về du lịch sông nước miệt vườn hết sức đa dạng, phong phú, văn hoá lễ hội, chùa chiền, di tích lịch sử của Tây Đô cũng là nét văn hoá đặc trưng cho vùng sông nước Nam bộ.
Cần Thơ, miền đất trù phú nằm bên nhánh sông mà người xưa có lúc đặt là Cầm Thi Giang, cái tên gợi lên giọng thơ, tiếng đàn vào những đêm trăng nước. Một trong những loại hình giải trí phổ biến nhất cho khách du lịch khi đến với Cần Thơ hiện nay là “Đờn ca tài tử”, du khách đến đây sẽ được phục vụ “Đờn ca tài tử” ở các điểm du lịch sinh thái như: vườn du lịch Mỹ Khánh, vườn du lịch Thuỷ Tiên, vườn du lịch Xuân Mai, du thuyền trên bến Ninh Kiều. 
Với tiềm lực sẳn có về cảnh quan thiên nhiên, vườn cây ăn trái, môi trường sinh thái đặc thù, các di tích, di sản văn hoá dân tộc và lễ hội đặc sắc của vùng sông nước Nam bộ, khai thác lợi thế vị trí địa lý khu vực, có các khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng, sân bay. Từ đó Cần Thơ có thể phát triển loại hình du lịch trọng điểm như: Du lịch sinh thái, du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch MICE. 
Trong các loại hình du lịch này thì du lịch phong cảnh miệt vườn vẫn là nét đặc trưng độc đáo của Cần Thơ. Với hơn 30.000 ha cây ăn trái nổi tiếng như: cam, quýt, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, măng cụt, mận, ổi, xoài, sapôchê. Trên diện tích trồng cây ăn trái trù phú này không chỉ đơn thuần là những vườn cây ăn trái xum xuê mà đa phần đã được người dân cải tạo săn sóc trở thành địa điểm du lịch phong cảnh miệt vườn hết sức hấp dẫn. Bên cạnh vườn cây ăn trái người dân còn thu hút khách du lịch bằng những vườn cảnh Bonsai mang tính nghệ thuật cao, với hàng trăm loại cây cảnh lớn nhỏ được tạo hình rất tinh vi. Xung quanh nhà vườn còn được thiết kế các ao thả cá với nhiều loại cá ngon và nổi tiếng. Hơn thế nửa, để tạo sự thoải mái vui tươi cho du khách các chủ nhà vườn còn kết hợp với các đội “đờn ca tài tử” để phục vụ cho du khách. Du khách vừa có thể vãn cảnh, vừa dùng bửa vừa thưởng thức ca nhạc tài tử tại vườn thật lý thú và ngon miệng.
2.1.4. QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KẾT HỢP NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH BẾN TRE.
Bến Tre là một trong 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có mạng lưới sông ngòi chằng chịt và 65 km tiếp giáp biển Đông, giao thông chính là đường bộ và đường thuỷ. Hệ thống giao thông đường bộ được nâng cấp và hoàn thiện từ trung tâm thị xã đến các thị trấn của huyện. Cầu Rạch Miễu đang thi công, dự kiến hoàn thành vào trong năm nay, không chỉ đơn thuần giải quyết việc đi lại dễ dàng nhanh chóng mà còn giúp phát triển tiềm năng kinh tế cũng như du lịch, dịch vụ – thương mại của tỉnh nhà, giúp Bến Tre hội nhập với Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh thành khác trong cả nước.
Bến Tre có hình rẽ quạt, đầu nhọn nằm về phía thượng nguồn, các nhánh sông lớn tựa những nan quạt xoè rộng phía Đông. Bến Tre được hợp thành bởi 3 cù lao (cù lao An Hoá, Bảo Minh) và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ qua nhiều thế kỷ. Phía Bắc giáp Tiền Giang, Tây giáp Vĩnh Long, Nam giáp Trà Vinh, Đông giáp với biển Đông. Bến Tre là một châu thổ nằm sát biển có địa hình bằng phẳng với những dòng cát xen kẻ ruộng vườn, được bao bọc bởi 4 bề sông nước, vì thế nơi đây có một hệ thống giao thông đường thuỷ chằng chịt tạo nên nét đặc thù riêng cho vùng đất phù sa.
Nói đến Bến Tre không chỉ được biết đến với quê hương của phong trào “Đồng khởi”, Bến Tre còn được mệnh danh là “quê hương của xứ dừa”. Vì vậy, đến với Bến Tre là du khách đến với những vườn dừa ngút ngàn trĩu quả, thưởng thức vị ngọt mát của những quả dừa mới hái. Đi giữa làng quê rợp bóng dừa, lắng nghe tiếng lá dừa xạc xào trong gió, hương hoa dừa nhè nhẹ bay, xa xa đàn bò nhờn nhơ gặm cỏ, thoảng đâu đó có tiếng hát câu vọng cổ vọng lại, du khách sẽ thấy tâm hồn thanh thản, rũ bỏ mọi lo toan, khó nhọc thường ngày. Cùng với vẽ đẹp nên thơ của xứ dừa, người Bến Tre cũng hiền hoà, hiếu khách, dễ gần gũi. Tất cả những điều đó sẽ khiến vùng đất cù lao này dễ dàng giữ chân du khách mỗi khi đến đây.
Không phải là nơi hội tụ những danh thắng, nhưng Bến Tre hấp dẫn du khách bởi nét đậm đà, mộc mạc của một làng quê Việt Nam với bạt ngàn vườn cây trái. Nói đến hoa trái Bến Tre, phải nói đến vườn cây trái Cái Mơn, một thị tứ sầm uất của huyện chợ Lách. Nơi đây còn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, người được tôn vinh là một trong 18 nhà bác học trên thế giới cuối thế kỷ XIX. Cái Mơn được biết đến như là cái nôi của vùng cây ăn trái Nam bộ. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Cái Mơn đất đai và khí hậu thích hợp cho nhiều loại trái cây nhiệt đới, mùa nào trái ấy. Đặc biệt vào mùa hè, đến Cái Mơn du khách sẽ tận mắt nhìn thấy những vườn chôm chôm đỏ mọng, vườn sầu riêng trĩu quả, hoặc len lỏi dưới những tán cây, thưởng thức tại chỗ từng chùm bòn bon, măng cụt ngọt lim. Màu xanh mướt của những vườn cam, quýt, bưởi,… sẽ làm dịu cơn khát của du khách giữa trưa hè nóng bức. Không chỉ chào đón du khách bằng hương vị ngọt ngào, hấp dẫn của cây trái, vùng đất này còn giữ chân du khách bởi không khí thanh bình, người dân hiền hoà mến khách. Đi giữa bạt ngàn cây trái, lắng nghe tiếng chim hót, vẳng đâu đó câu vọng cổ từ những ngôi nhà đơn sơ vọng lại, du khách sẽ thấy tâm hồn mình thanh thản lạ kỳ.
Ngoài điểm du lịch Cái Mơn, du khách cũng có thể thưởng thức “Đờn ca tài tử” tại khu du lịch cồn Phụng. Cồn Phụng nằm ở vị trí khá đẹp trên sông Tiền, nơi cửa ngõ đi vào bến tre, thuộc xã Tân Thạch huyện Châu Thành, cách trung tâm thị xã 12km, được hình thành bởi phù sa, cồn Phụng có những vườn cây ăn trái trĩu cành, những hàng dừa xanh mướt ven sông bao bọc xóm làng, khí hậu mát mẽ, môi trương sinh thái trong lành. Nơi đây còn được nhiều người biết đến vì trước kia từng là trụ sở của “đạo Dừa”. Du khách đặt chân đến cồn Phụng sẽ có dịp thăm nhiều di tích: sân Rồng, tháp,…, được nghe kể về “giáo chủ đạo Dừa – Nguyễn Thành Nam”. Khu du lịch rộng 2ha, có các cơ sở sản xuất kẹo dừa, các hàng thủ công mỹ nghệ bằng gỗ dừa, . . phục vụ đờn ca tài tử cho du khách.

Điểm phục vụ “Đờn ca tài tử” tại khu du lịch Cái Mơn – Bến Tre
“Đờn ca tài tử” có mặt ở hầu hết các tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ kể cả Bến Tre, là một loại hình ca nhạc mang tính dân tộc sâu sắc. Đi thuyền trên sông, nhìn con nước lững lờ trôi, nghe những tiếng đàn thắm đượm tình quê là một điều thú vị dành cho du khách. “Đờn ca tài tử” tồn tại cùng năm tháng trên đất Bến Tre và ngày càng phát triển như một nét đặc biệt điểm tô thêm nét duyên dáng cho vùng sông nước. Bằng những ngón đàn truyền cảm, giọng ca mượt mà, các “nghệ sĩ” không chuyên vẫn luôn mang đến cho du khách những giây phút thoải mái, nhẹ nhàng khi đến du lịch tại Bến Tre.
2.2. Các tuyến du lịch có kết hợp với nghệ thuật “Đờn ca tài tử” (Mekong tour).
Để khai thác có chất lượng và hiệu quả các tuyến điểm du lịch tại ĐBSCL, cần dựa trên quan điểm sinh thái và văn hoá của từng khu vực. Điều này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương. Phát triển du lịch tại ĐBSCL cũng là phát triển các loại hình du lịch khác nhau để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Phong phú hoá các loại hình du lịch tại ĐBSCL, vừa khai thác hết tiềm năng du lịch, vừa thoả mãn những thị hiếu khác nhau của nhiều đối tượng du khách khác nhau. Hiện nay tại ĐBSCL, các chương trình du lịch chỉ mới tập trung vào các nội dung tham quan là chính, các nội dung khác chưa được khai thác đúng mức. Các chương trình du lịch chưa tạo điều kiện cho các hoạt động tiếp cận văn hoá của du khách, như nghỉ đêm tại nhà dân chỉ để ngủ, đi chợ nổi chỉ để nhìn, nghe ca nhạc tài tử để cho vui, ăn nhà dân không khác gì trong nhà hàng, . . Phụ thuộc vào các đối tượng du khách khác nhau, chương trình du lịch cần tạo điều kiện của những mức độ thâm nhập văn hoá khác nhau. Do đó các loại hình du lịch tại ĐBSCL cần được đầu tư thêm chẳng hạn như: khi ta đưa chương trình “ca nhạc tài tử” vào trong chương trình tham quan của chuyến du lịch thì ta phải đưa du khách đến ngủ nhà dân để du khách vừa được nghe “Đờn ca tài tử” vừa được tìm hiểu về bộ môn nghệ thuật này,…
Các tuyến du lịch có kết hợp nghệ thuật”Đờn ca tài tử”
Tuyến du lịch Các điểm tham quan du lịch Các điểm du lịch có “đờn ca tài tử”

Tuyến Tp.HCM – Cần Thơ – Châu Đốc – Phú Quốc – Chợ nổi Cái Răng, Làng du lịch Mỹ Khánh, Nhà cổ Bình Thuỷ.
– Miếu Bà Chúa Xứ, Làng cá bè, Làng Chăm Châu Giang.
– Xưởng sản xuất nước măm, vườn Tiêu, cơ sở nuôi cấy Ngọc Trai, khám phá biển và rừng Bắc Đảo,… – Bến Ninh Kiều, làng du lịch Mỹ Khánh (Cần Thơ)

Tuyến Tp.HCM – Mỹ Tho – Đồng Tháp – Các vườn trái cây, cơ sở sản xuất kẹo dừa, cù lao Thới Sơn, chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm,…
– Tràm chim Tam Nông, làng cây kiểng Tân Quy Đông, khu du lịch Gáo Giồng,… – Cù lao Thới Sơn.

Tuyến Tp. HCM – Vĩnh Long – Cần Thơ – Sóc Trăng – Cơ sở sản xuất gạch, gốm, nhà xưa ông Cai Cường, vườn cây ăn trái, Văn Thánh Miếu.
– Vườn cò Bằng Lăng, chợ nổi Phong Điền, làng du lịch Thuỷ Tiên, đình Bình Thuỷ, . . .
– Chùa Khleang, chùa Dơi, chùa Sà Lôn, hồ Nước Ngọt, . . – Nhà vườn ông Cai Cường (Vĩnh Long), làng du lịch Thuỷ Tiên (Cần Thơ).

Tuyến Tp. HCM – Châu Đốc – Hà Tiên – Cần Thơ – Chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam, đồi Tức Dụp, đền thờ Ba Chúc, . .
– Bãi biển Mũi Nai, hòn Chông, hòn Phụ Tử, đền thờ Nguyễn Trung Trực, . .
-Vườn cò Bằng Lăng, khu du lịch Xuân Mai, bến Ninh Kiều, chợ cổ Cần Thơ, . . – Bến Ninh Kiều, khu du lịch Xuân Mai (Cần thơ)

Tuyến Tp. HCM – Mỹ Tho – Bến Tre – Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm, cù lao Thới Sơn,..
– Vườn cây ăn trái Cái Mơn, cồn Phụng, khu di tích Đồng Khởi, cơ sở sản xuất kẹo dừa, làng nghề thủ công, . . – Cù lao Thới Sơn (Mỹ Tho), cồn Phụng, vườn cây ăn trái Cái Mơn (Bến Tre).

3. Thực trạng lực hấp dẫn của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với du khách (đặc biệt là khách quốc tế).
Đồng bằng sông Cửu Long (Miền Tây Nam Bộ) là vùng châu thổ với địa hình thấp có hệ thống kênh rạch chằng chịt đan xen những cù lao, miệt vườn cây trái 4 mùa. Quần cư gắn liền với vùng sinh thái này có đặc thù văn hoá “lúa nước” của một thời mở đất “khai khẩn đất Phương Nam”. Tại đây cũng là vựa lúa lớn nhất của cả nước. ĐBSCL có nền văn hoá đa dân tộc, nổi rõ là văn hoá Việt, Hoa, Khmer, được gìn giữ và phát triển trong quá trình sinh tồn của cộng đồng, vùng châu thổ với đặc trưng các lễ hội mang tính tín ngưỡng như hội Oc – Om – Bóc, hội Vía Bà (An Giang), Roya của người Chăm. Đồng thời với các di tích lịch sử như Ap Bắc (Tiền Giang), Đồng Khởi (Bến Tre), đồi Tức Dụp (An Giang),… cùng với nhiều chùa chiền mang dấu ấn tôn giáo đã tạo nên đời sống văn hoá tinh thần phong phú đa dạng của dân cư ĐBSCL. 
Đồng bằng sông Cửu Long với tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, song song với yếu tố sinh vật về cây, con thì cảnh quan ở ĐBSCL cũng không kém phần hấp dẫn; khi bình minh hoặc hoàng hôn tren mặt sông, mặt biển, với những kỳ thú huyền ảo thanh bình để con người thư giãn đắm mình trong thiên nhiên cùng với những cảnh quan đẹp như Rừng Dừa Bến Tre, núi Sam An Giang, Hà Tiên, Phú Quốc Kiên Giang,… tạo nên các tuyến điểm du lịch mang dấu ấn cảnh quan môi trường mà cuộc sống công nghiệp đang muốn tìm về cội nguồn thiên nhiên. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch nhân chủng với đặc trưng dân cư quần tụ gắn liền với việc khai thác vùng đất mới. Con người ở đây không những biết lợi dụng điều kiện tự nhiên mà còn biết chinh phục thiên nhiên. Hệ thống kênh rạch chằng chịt và các đê bao quanh các vườn cây trái cho thấy sự lao động cằn cù và thông minh của người dân ĐBSCL. Bên cạnh văn hoá lao động, văn hoá sinh hoạt dân cư với kiến trúc nhà ở, trang phục và phong cách ẩm thực tạo nên các nét riêng của cư dân của miền sông nước cùng với ca kịch cải lương, đờn ca tài tử, các điệu lý câu hò phản ánh cuộc sống dân dã, sâu đậm và phóng khoáng mà đây cũng chính là yếu tố hấp dẫn để khách du lịch tìm đến Đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng số 1: Số lượng du khách đến ĐBSCL. 
Năm Khách quốc tế
(ngàn khách) Khách nội địa 
(ngàn khách)
2000 356 3.125
2005 635 4.240
Dự báo 2010 820 5.410
Nguồn: Tổng cục du lịch.
Qua bảng số liệu cho thấy lượng khách du lịch đến ĐBSCL tăng cao, trong vòng 5 năm lượng khách quốc tế tăng 1,7 lần, khách nội địa tăng hơn 1,3 lần. Từ đó cho thấy sản phẩm du lịch ở ĐBSCL có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách mà đặc biệt là khách quốc tế, một trong những sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn đó thì có “Đờn ca tài tử”. Tuy cung cách hoạt động và hiệu quả chưa được đánh giá cao, nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ và khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách. 
Mặc dù hiện nay chưa có một số liệu thống kê cụ thể là hàng năm có bao nhiêu khách du lịch đến ĐBSCL để thưởng thức “Đờn ca tài tử”, nhưng từ số liệu trên và từ các chương trình du lịch thì ta thấy hầu như tất cả các tour du lịch đến ĐBSCL đều có chương trình thưởng thức “đờn ca tài tử”, và theo khảo sát thực tế thì du khách rất thích chương trình này. ”Khi đến hỏi một số khách du lịch quốc tế thì họ bảo rất thích loại hình nghệ thuật này mặc dù khi nghe hát thì họ không biết là lời hát nói gì nhưng qua cách diễn tả tâm trạng của người hát, rồi nghe tiếng đàn thì họ có thể hiểu bài hát đó muốn thể hiện tâm trạng vui hay buồn, yêu thương hay oán giận,…”. Từ đó cho thấy loại hình nghệ thuật này đã có sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, tuy chưa cao nhưng phần nào đã nói lên được giá trị của nó đối với hoạt động du lịch ở ĐBSCL.
II. THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.
1. Sự quan tâm của Sở văn hoá thông tin và Sở du lịch ở các tỉnh ĐBSCL.
* Đối với Sở văn hoá thông tin thì hiện nay đã có sự quan tâm rất sâu sắc với bộ môn nghệ thuật này, điều này được thể hiện cụ thể qua các hoạt động sau:
• Thường xuyên vận động từ xã, huyện cho đến khóm ấp mỗi đơn vị phải thành lập một đội đờn ca tài tử. Từ đó Sở văn hoá thông tin sẽ hỗ trợ kinh phí để mua sắm nhạc cụ cho mỗi đơn vị.
• Thường xuyên phát động phong trào thi văn nghệ ở khóm (ấp), rồi lên cấp xã, huyện. Từ đó sẽ chọn ra những đội có thành tích tốt để tham dự hội thi liên hoan “Đờn ca tài tử” cấp tỉnh – mỗi năm Sở văn hoá thông tin tổ chức một lần.
• Sở văn hoá thông tin các tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí cho các trường Văn hoá – nghệ thuật khi có mở các lớp dạy đờn ca tài tử (khi lớp có số lượng học viên tương đối – khoảng 30 học viên trở lên)
• Ngoài ra các Sở văn hoá thông tin các tỉnh còn liên kết tổ chức liên hoan “Đờn ca tài tử” khu vực Nam bộ (2 năm một lần) nhằm mục đích: tạo điều kiện giao lưu, nâng cao hiểu biết về đờn ca tài tử cũng như cách chơi tài tử ở những vùng miền khác nhau. Đồng thời, qua các cuộc liên hoan này không những nâng cao hiểu biết cho người chơi mà còn nâng thời lượng chương trình giải trí đáp ứng nhu cầu tốt hơn đời sống văn hoá tinh thần của bạn xem đài, nghe đài,..
* Đối với các Sở du lịch, thì hiện nay cũng đã có sự quan tâm rất đáng kể. Do hiện nay “Đờn ca tài tử” được đưa vào phục vụ du lịch ở ĐBSCL và cũng được rất nhiều du khách yêu thích và quan tâm nên các đội “Đờn ca tài tử” phục vụ cho du lịch đã được các Sở du lịch hỗ trợ rất nhiều. Theo tìm hiểu thực tế thì các năm vừa qua các Sở du lịch đã hỗ trợ một số kinh phí cho các đội “Đờn ca tài tử” để mua sắm nhạc cụ nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu du khách tại các điểm du lịch.
Ngoài ra, trong các lần tổ chức Mekong Festival Sở du lịch cũng đã đưa “Đờn ca tài tử” vào biểu biễn, thi thố tài năng. Với hoạt động này cũng nhằm giới thiệu cho du khách biết đây cũng chính là sản phẩm du lịch của ĐBSCL.
2. Sự phục hồi và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của các gia đình nghệ nhân.
Hàng trăm năm nay trên châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long tồn tại và phát triển dòng cổ nhạc hay còn gọi là “Đờn ca tài tử”. Trong kho tàng cổ nhạc của đờn ca tài tử đã hình thành nên nghệ thuật cải lương đặc sắc đã đi sâu vào lòng công chúng. Và để loại hình nghệ thuật này còn tồn tại đến ngày hôm nay thì không thể không nhớ đến công lao của những gia đình nghệ nhân, họ đã có công rất lớn trong việc giữ gìn và phát huy bộ môn nghệ thuật truyền thống này.
Tại phường Hưng Lợi, thành phố Cần Thơ có câu lạc bộ sân khấu cải lương mà trước đây là Ban đờn ca tài tử gia đình Sĩ Long. Nghệ nhân Sĩ Long có ông nội là người Hoa lấy vợ là người Khmer ở Tam Bình – Vĩnh Long. Cha của nghệ nhân Sĩ Long là ông Thạch Sô cùng vợ qua Cam-pu-chia làm ăn. Ông Thạch Sô nhập đoàn hát Dù kê là một tay đàn trong dàn nhạc Ngũ âm. Trước năm 1975 ông Thạch Sô cùng vợ chuyển về Cần Thơ mua đất, mở lò bún ở phường Hưng Lợi. Say ca hát, ông Thạch Sô học đờn sến, đờn gáo và chơi rất sành điệu. Sau Ông dạy đờn sến, đờn tranh, dạy tài tử vọng cổ cho hai con trai. Được cha dạy từ nhỏ nên có lòng say mê, lớn lên Thạch Sĩ Long theo học trường Sân khấu 2 và hiện đang giảng dạy tại trường Văn hoá – nghệ thuật Cần Thơ. Các con cháu của ông là Thạch Thị Vân Phượng, Thạch Thị Kim Liên còn học phổ thông cơ sở – nghĩa là còn tuổi thiếu niên, nhưng ông Sĩ Long đã dạy các em đờn ca tài tử. Bạn bè gần 30 em, thế là gia đình tài tử thành câu lạc bộ ca nhạc tài tử. Sau này, 30 thành viên người là sinh viên, người là công nhân, người buôn bán, làm thủ công kiếm sống. Mỗi tối tập họp luyện ca, luyện đàn, dàn dựng các tiết mục cho chương trình “chơi” đa dạng. Khi các gia đình mừng thọ, đăng khoa, khi các cơ quan, các đơn vị xa gần yêu cầu phục vụ, 30 thành viên họp thành “Ban tài tử” ba dân tộc Việt – Hoa – Khmer. Nếu được nói một câu về Câu lạc bộ tài tử này thì không thể không nhắc đến Ông bầu (nghệ nhân) Thạch Sĩ Long.
Rời gia đình nghệ nhân Sĩ Long đến Trung tâm Văn hoá quận Ô Môn gặp gỡ nghệ nhân Hai Lợi, sau khi trò truyện với ông giây phút tôi như bị cuốn vào câu chuyện của Ông kể: “gia đình Ông có 6 anh chị em thì cả 6 người đều được cha dạy đờn ca tài tử, trong đó 5 anh em trai thì được cha dạy đàn, còn người con gái thì được cha dạy hát, nhưng điều đáng trân trọng ở đây là cả 6 anh chị em đều say mê môn nghệ thuật này, và người nào cũng đàn, hát rất hay”. Ở lứa tuổi 60, nghệ nhân Hai Lợi là một trong những hậu duệ của dòng nhạc tài tử trên đất Cần Thơ còn nắm giữ được khá nhiều tinh tuý của nghề cầm ca. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cổ nhạc, làm quen với cây đàn từ thuở nhỏ, hơn 30 năm theo đoàn hát cải lương rồi trở về với quê hương Ô Môn, ông đã góp phần vào việc khôi phục và phát triển “Đờn ca tài tử” trên mảnh đất đã sản sinh ra nhiều tài năng âm nhạc như: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng. Gian phòng nhỏ ở Trung tâm văn hoá quận Ô Môn là nơi nghệ nhân Hai Lợi hàng ngày dành thời gian cho việc nghiên cứu, trau luyện các bài bản tổ truyền, để trao gởi lại cho thế hệ trẻ và những người mộ điệu cái hay, cái đẹp của dòng nhạc giàu tính bác học nhưng cũng đậm chất dân gian này.

Nghệ nhân Hai Lợi 
Cũng ở đây, người em ruột của nghệ nhân Hai Lợi là soạn giả Việt Ấn – hiện là Giám đốc Trung tâm văn hoá quận Ô Môn. Ngoài công tác quản lý, đã vận dụng hiểu biết về cả tân lẫn cổ nhạc để viết lời mới cho các bài ca tài tử, một lĩnh vực mà về cả lý luận lẫn thực tiễn đều có nhiều khó khăn thách thức, đòi hỏi phải vừa làm, vừa lắng nghe để trau dồi kinh nghiệm.
Không chỉ ở Cần Thơ (một chiếc nôi của “Đờn ca tài tử” Nam Bộ), mà ở các tỉnh ĐBSCL hầu như tỉnh nào cũng có các gia đình nghệ nhân đã bao đời theo nghệ thuật đờn ca tài tử và còn gìn giữ truyền thống văn hoá này cho đến ngày hôm nay.
Đến thị xã Trà Vinh, hỏi thăm nhà ông Tám Tảo hầu như ai cũng biết. Ông tên là Nguyễn Văn Tảo – người ta thường gọi ông là ông Tám Tảo. Ông năm nay đã 84 tuổi, đang sống tại thị xã Trà Vinh. Gia đình Ông tính đến nay đã có 5 đời theo nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Ông nội của ông Tám Tảo là ông Nguyễn Kim Phuông tham gia ban hát thuở người ta kiêng kỵ không cho đàn bà con gái lên sân khấu, ông Phuông thường đóng vai nữ hoá trang rất đẹp và ca giọng kim rất trong (ông Tám Tảo kể lại). Cha của ông Tám Tảo là ông nguyễn Văn Ca là nhạc trưởng Ban nhạc lễ phục vụ cả vùng. Ông Tám Tảo có 8 anh chị em, cha dạy cho 5 anh em trai mỗi người chơi giỏi một nhạc cụ. Ông Tám kể “ông có vợ cũng do đờn hay, lương duyên của ông là do ông chú vợ say mê đờn mai mối gả cô cháu ruột cho”. Các con ông Tám đều có mặt trong ban tài tử. Nay dù tuổi cao ông Tám vẫn say mê rèn luyện thế hệ sau và hiện nay thế hệ thứ năm của gia đình ông cũng đang được rèn luyện. Cháu ngoại Trần Kim Dung 22 tuổi luyện ca, cháu nội Nguyễn Văn Sinh hơn 10 tuổi luyện đờn. Và tôi tin rằng gia đình này sẽ còn nối dài dài các đời tài tử. 
3. Đào tạo nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các trường Cao đẳng, Đại học.
Thực trạng hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long thì chưa có trường Cao đẳng, Đại học nào đưa bộ môn nghệ thuật này vào giảng dạy, ngay cả các trường Văn hoá – nghệ thuật cũng không thường xuyên mở các lớp giảng dạy bộ môn này. Ơ một số trường văn hoá – nghệ thuật ở các tỉnh thì chỉ dạy sử dụng nhạc cụ như: đàn guirta, đàn kìm, đàn tranh, đàn organ,… Riêng trường văn hoá – nghệ thuật Vĩnh Long thì khoảng 2-3 năm có mở một lớp “đờn ca tài tử”, giáo viên giảng dạy được mời từ trường Sân khấu điện ảnh TP.HCM. Lớp học này có thời gian từ 3-6 tháng, chương trình được học rất bài bản mặc dù chỉ là lớp sơ cấp căn bản nhưng vì đa số những học viên này đã qua một thời gian chơi nhạc tài tử ở địa phương (do tự học). Nên sau khi được đào tạo thêm qua lớp học này thì các học viên nắm rất vững bộ môn nghệ thuật này.

4. Đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu:
4.1. Mặt mạnh:
– Giữ gìn và phát phát huy được bản sắc văn hoá của dân tộc.
– Tạo một lối sống sinh hoạt văn hoá lành mạnh cho xóm, ấp (xã, phường).
– Tạo được sân chơi bổ ích cho những người yêu nghệ thuật.
– Góp phần làm phong phú và đa dạng cho sản phẩm du lịch của vùng ĐBSCL.
– Tạo được sự hấp dẫn cho du khách, góp phần phát triển du lịch ĐBCL.
4.2. Mặt yếu:
– Các nghệ nhân biết chơi “Đờn ca tài tử” thường thông qua năng khiếu cha truyền, con nối, học hỏi bạn bè nên đờn ca còn nhiều mặt hạn chế.
– Các cơ quan ban ngành chưa có quan tâm sâu sắc đối với bộ môn nghệ thuật này nên nó chưa được đầu tư để phát triển.
– Hiện nay đã có sự liên kết là đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch. Tuy nhiên vẫn chưa mang lại hiệu quả cao vì còn quá sơ sài, chưa có chiến lược cụ thể.
– Việc phục vụ đờn ca tài tử tại các điểm du lịch chưa thực sự đúng nghĩa của nó. Thường thì chỉ hát các bài tân cổ chứ ít hát các bản vắn, các làn điệu trong đờn ca tài tử nên không nói nên được cái hay, cái độc đáo của đờn ca tài tử.
– Chưa mở được các lớp giảng dạy môn nghệ thuật đờn ca tài tử trong các trường Cao đẳng, Đại học

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

I. CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHỦ YẾU:
1. Định hướng về bảo tồn, phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
Nhạc tài tử ra đời và lớn lên trong môi trường dân giả, gắn với cuộc sống của người chân quê ở nông thôn. Việc phát triển phong trào “Đờn ca tài tử” ở cơ sở cũng đặt ra nhiều vấn đề như: nên xã hội hoá hoạt động này theo hướng nào, có nên khuyến khích tài trợ cho sinh hoạt câu lạc bộ, có nên chuyên nghiệp hoá nghệ nhân để tổ chức biểu diễn có thu, có nên đề ra các qui định cụ thể về biên chế dàn nhạc và người ca? Ý kiến trả lời cho câu hỏi này còn đang rất khác nhau, và trông đợi vào một giải pháp thích hợp!
Song song với việc phát triển môn nghệ thuật “Đờn ca tài tử” như thế nào? thì việc bảo tồn môn nghệ thuật này hiện nay đang là vấn đề rất cần thiết và rất mong được sự quan tâm. Bởi vì việc bảo tồn môn nghệ thuật này không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hoá, các gia đình nghệ nhân,.. mà còn rất cần sự hợp tác tham gia của cả cộng đồng. Hy vọng rằng với nổ lực chung của những người nặng lòng với di sản nghệ thuật này sẽ mở ra bước khởi sắc cho nhạc tài tử được bảo tồn và phát triển đúng hướng, để không chỉ góp phần vào sự giàu đẹp của kho tàn âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch ĐBSCL nói riêng ngày một phát triển.
Có nhiều phương pháp bảo tồn mà hiện bay các ban, ngành văn hoá đang áp dụng. Tuy nhiên, chỉ với bao nhiêu đó thì quá ít làm sao bảo tồn được lâu dài, huống chi đây là nét văn hoá độc đáo không chỉ của Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là của cả dân tộc. Theo tôi để loại hình nghệ thuật này được bảo tồn lâu dài thì ngoài những cách thức bảo tồn trên ta cần có những cách để bảo tồn lâu dài và vững chắc hơn, cụ thể như sau:
– Tổ chức cuộc thi viết “Đề tài khoa học” về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cấp tỉnh sau nó nâng tầm lên cấp khu vực. Từ đó lựa chọn những đề tài hay viết thành sách lưu giữ cho thế hệ sau.
– Song song với việc lưu giữ bằng sách thì nên ghi lại hình ảnh qua các băng, đĩa để lưu giữ lại.
– Và một cách thức bảo tồn hết sức bền vững nửa đó chính là đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch. Xã hội phát triển, nhu cầu du lịch của mọi người ngày càng nâng cao. Du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói , ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế của các quốc gia. Người ta có thể kết hợp các ngành nghề với du lịch vì đây là ngành liên đới. Nghệ thuật là một trong những sức hút, sản phẩm vô giá của du lịch. Ngồi trong vườn cây ăn trái nghe “Đờn ca tài tử” thật tuyệt, một thú vui, một cảm giác không thể quên. Vậy tại sao chúng ta lại không đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch theo qui hoạch và định hướng phát triển cụ thể. Công việc này vừa bảo tồn mãi mãi truyền thống bản sắc văn hoá của một dân tộc, vừa giới thiệu với du khách trong và ngoài nước tâm hồn, con người Việt Nam.
2. Định hướng về khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho phát triển du lịch.
Hướng phát triển văn hoá Việt Nam hiện đại không phải chỉ có văn hoá nghệ thuật, những nét sinh hoạt ấy cũng chỉ là một mảng trong nền văn hoá của chúng ta. Và rõ ràng chúng ta có đi theo hướng hiện đại, phù hợp với nhịp điệu công nghiệp và có tính đến sự giao lưu giữa các nền văn hoá của nhân loại, vẫn cứ phải lấy nội dung văn hoá dân tộc làm định hướng chính, và phải chấp nhận sự tồn tại của nghệ thuật dân tộc như là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá Việt Nam. 
Dân tộc phải có yếu tố nhân loại. Chúng ta cần hát chèo, tuồng, cải lương, kịch nói, ca trù,… Nhưng vẫn cần nhạc Rock và nhiều loại hình nghệ thuật khác. Cũng như thế, các dân tộc, các quốc gia khác sẽ được loại hình nghệ thuật của chúng ta “đại náo”, nếu như chúng ta biết khai thác đúng hướng phát triển của trí tuệ.
2.1. Phương hướng phát triển:
– Phát triển du lịch phải căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của vùng.
– Không ngừng nâng cao chất lượng cho các đội “Đờn ca tài tử” phục vụ trong du lịch, nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch.
– Nhanh chóng xây dựng các tuyến, điểm du lịch mới, hấp dẫn. Trong mỗi tour, tuyến đó ta kết hợp đưa chương trình “Đờn ca tài tử” vào, tạo chương trình tour thêm phong phú.
– Tăng cường mở các lớp giảng dạy “Đờn ca tài tử” trong các trường nghiệp vụ du lịch nhằm đào tạo cho đội ngũ này có một phong cách phục vụ chuyên nghiệp hơn.
– Tăng cường vai trò quản lý của các Sở du lịch, Sở văn hoá thông tin, nhằm đảm bảo cho hoạt động du lịch lành mạnh và đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao.
– Xây dựng chiến lược mang tính chất đồng bộ trong việc khai thác phục vụ nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các tuyến điểm du lịch ở ĐBSCL.
2.2. Mục tiêu phát triển.
2.2.1. Mục tiêu kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế được thể hiện qua mục tiêu kinh tế: đảm bảo thu nhập cao nhất với chi phí sản phẩm du lịch thấp nhất.
Việc khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoạt động du lịch không chỉ tạo điều kiện cho những người hoạt động trong lĩnh vực đờn ca tài tử có mức thu nhập ổn định mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho ngành du lịch ĐBSCL. Bởi lẽ một khi đã tạo được sự chú ý cho du khách về sự độc đáo và hấp dẫn của bộ môn nghệ thuật này thì sẽ thu hút được rất nhiều du khách đến ĐBSCL, từ đó không chỉ giúp cho doanh thu của ngành du lịch ĐBSCL tăng mà còn giúp cho ngành du lịch Việt Nam ngày càng phát triển hơn. 
2.2.2. Mục tiêu văn hoá – xã hội.
Ngành du lịch có thể xem là một ngành mang tính tổng hợp. Ngoài chức năng là một ngành kinh tế, du lịch còn tạo cơ hội tìm hiểu giao lưu, học hỏi những nền văn hoá khác nhau ở những địa phương, đất nước khác nhau.
Khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch không những tạo sự đa dạng cho sản phẩm du lịch ở ĐBSCL mà còn mang lại lợi ích về văn hoá – xã hội rất lớn cho ĐBSCL nói riêng và cho Việt Nam nói chung.
– Tạo cơ hội việc làm cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật này.
– Tạo sự nhận thức cho người dân địa phương cũng như du khách đây là hoạt động giải trí hết sức lành mạnh. Giúp người dân quên đi một ngày lao động mệt nhọc, giúp du khách thoải mái sau một ngày dài ngồi tàu, xe mệt mỏi và cảm thấy thật thú vị cho chuyến du lịch của mình.
– Giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước đây là nét văn hoá đặc thù của người dân ĐBSCL.
Trong phạm vi khu vực cần nhận định rằng việc giữ gìn, phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc là công việc rất quan trọng, đồng thời phải biết tiếp thu chọn lọc cái hay của nền văn hoá khác. Đặc biệt việc phòng chống tệ nạn xã hội trong phát triển du lịch, đảm bảo mục tiêu phát triển văn hoá xã hội là hết sức cần thiết.
Việc áp dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch không những mang lại lợi ích kinh tế mà còn là một giải pháp hết sức tích cựu trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc.
II. CÁC GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự quan tâm và quản lí của Sở văn hoá thông tin, Sở du lịch ở các tỉnh, TP.
– Các Sở du lịch, chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nửa, nhất là cơ sở vật chất cho phong trào, phải xác định “Đờn ca tài tử” không phải là sinh hoạt vui chơi giải trí đơn thuần mà nó là bộ môn nghệ thuật cần được phát huy và gìn giữ, vì nó không chỉ là nét đặc thù của vùng ĐBSCL mà còn là một loại hình nghệ thuật độc đáo trong kho tàn văn hoá Việt Nam.
– Ngành văn hoá thông tin nên dành riêng chi phí thường xuyên mở các lớp ngắn, trung hạn, dài hạn để đào tạo cho các hạt nhân phong trào. Ngoài ra xu thế hiện nay giới trẻ đa số chỉ thích nhạc hiện đại, còn lại thiểu số cũng thích chơi nhạc tài tử nhưng không muốn học đờn kìm, đờn cò, đờn bầu,… vì cho rằng những thứ nhạc cụ đó dành riêng cho người lớn tuổi. Vì vậy cần có những giải pháp khuyến khích cho giới trẻ tham gia sinh hoạt bộ môn này
2. Đưa chương trình giảng dạy “Đờn ca tài tử” vào các trường học chuyên ngành và không chuyên ngành.
– Các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay hầu như mỗi tỉnh đều có trường Văn hoá – nghệ thuật thế nhưng không có trường nào đưa bộ môn “Đờn ca tài tử” vào giảng dạy mà chỉ có dạy một số nhạc cụ như: đàn tranh, guir – tar, đàn kìm,… mà hiện nay nhu cầu học “Đờn ca tài tử” rất nhiều vì hiện nay nhạc tài tử đã được khai thác để phục vụ trong hoạt động du lịch, mà muốn hoạt động này có hiệu quả thì những người chơi nhạc tài tử phải am hiểu sâu sắc và chơi có bài bản. Vì vậy các trường Văn hoá – nghệ thuật nên đưa bộ môn này vào giảng dạy một cách phổ biến.
– Ngoài việc đưa “Đờn ca tài tử” vào giảng dạy tài các trường chuyên ngành thì cần đưa bộ môn này vào giảng dạy tại các trường Cao đẳng, Đại học không chuyên ngành nhằm để giáo giục ý thức thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về bộ môn nghệ thuật này mà có ý thức giữ gìn và phát huy nó.
3. Động viên các nghệ nhân giữ gìn, phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
– Hiện nay các gia đình nghệ nhân còn gìn giữ và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là do lòng yêu nghề, say mê với môn nghệ thuật này. Tuy nhiên để môn nghệ thuật này còn được bảo tồn và phát triển cho mai sau thì Nhà nước, các cơ quan ban ngành có liên quan cần có chính sách cụ thể để khuyến khích các gia đình nghệ nhân phát huy môn nghệ thuật này. Bởi lẽ muốn bảo tồn được môn nghệ thuật này thì phải cần đến thế hệ trẻ mà hiện nay các con em của các gia đình nghệ nhân lại không muốn tiếp nối truyền thống của cha ông vì họ thấy nếu theo nghề thì mức thu nhập không cao, không đảm bảo cho gia đình có cuộc sống tốt, vì thế mà họ có xu hướng học ngành nghề khác để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện nay. Vì vậy, nếu muốn thế hệ này tiếp tục nghề của cha ông thì Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cho những ai hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật này, đây chính là sự động viên trước hết cho các gia đình nghệ nhân để họ có điều kiện mà tiếp tục tham gia vào việc bảo vệ loại hình nghệ thuật này.
4. Quảng bá, tiếp thị nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các chương trình du lịch nội địa và quốc tế.
– Để du khách trong và ngoài nước biết đến môn nghệ thuật này thì cần đưa nó vào chương trình cụ thể của các tour du lịch. Đồng thời chúng các công ty du lịch cũng cần phải giới thiệu sản phẩm du lịch này trong các Brochure, báo chí, website, của các tour du lịch ĐBSCL.
– Các hướng dẫn viên của tuyến du lịch ĐBSCL phải am hiểu thật sâu săc về loại hình nghệ thuật này để thuyết minh cho khách, bài thuyết minh phải được chuẩn bị chu đáo để khi thuyết minh khách sẽ thấy được đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo và thật sự rất muốn tìm hiểu về loại hình nghệ thuật này.
III. KIẾN NGHỊ
– Ngành văn hoá thông tin và các ngành hữu quan nên tổ chức Hội thảo nhạc tài tử Nam bộ trong đó đi sâu vào các vấn đề về biện pháp bảo tồn và phát triển nhạc tài tử Nam bộ cho phù hợp với xã hội đương đại mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo của nó.
– Bài bản tài tử vốn được biên soạn và trình diễn khác với bài bản cải lương. Thế những, ở ĐBSCL đến nay vẫn chưa có một khoá đào tạo nào dành cho sáng tác và dàn dựng loại nhạc này. Trong khi nghệ thuật ca trù, quan họ đã được giảng dạy chính quy ở một số nơi, thì nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vẫn còn theo lối truyền nghề là chính. Đây là vấn đề mà cả nghệ nhân lẫn công chúng rất quan tâm. Vì thế cần đưa bộ môn này vào giảng dạy tại các trường chuyên ngành.
– Sức sống của nhạc tài tử trong lòng người mộ điệu đã là chuyện hiển nhiên. Nhưng một nghệ thuật không chỉ cần sống, mà còn cần được phát triển, không chỉ được phổ cập mà còn cần nâng cao. Vì thế ngành văn hoá thông tin nên tạo điều kiện để các nghệ sĩ, nghệ nhân nuôi dưỡng tài năng, trau dồi ngón nghề để truyền nghề lại cho lớp trẻ.
– Cũng chính do hội nhập vào cải lương mà hiện nay nhạc tài tử thường bị lẫn lộn với các bài bản vốn dành cho sân khấu cải lương. Trong sinh hoạt văn nghệ ở xóm ấp, các tụ điểm văn hoá, các điểm du lịch, . . sự phân biệt giữ nhạc tài tử và nhạc cải lương hiện nay là vấn đề có tính lý luận, không những cần thiết cho công tác chỉ đạo quản lý, mà còn để bảo tồn và phát triển đúng hướng thể loại âm nhạc độc đáo này.
– Một số tỉnh hiện nay chưa có sự kết hợp giữ hoạt động nghệ thuật “Đờn ca tài tử” với hoạt động du lịch, hai lĩnh vực này còn hoạt động rời rạc, chưa có sự kết hợp nên chưa mang lại hiệu quả cao. Vì thế các cơ quan chức năng cần tạo mọi điều kiện cho việc đầu tư phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoat động du lịch.
– Ngành du lịch ĐBSCL cần có định hướng chung cho nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch. Cũng là đờn ca tài tử nhưng tại các điểm du lịch khác nhau thì cần có cách phục vụ khác nhau, phải có tính đặc thù riêng của từng điểm du lịch, tránh cho khách sự nhàm chán.
– Đối với các công ty du lịch khi thiết kế chương trình tuor thì cần chú ý kỷ các tuyến điểm tham quan để tránh sự trùng lắp, không nên thiết kế chương trình thưởng thức đờn ca tài tử nhiều lần trong một chuyến đi.
– Các tiết mục “Đờn ca tài tử” để phục vụ du khách tại các điểm du lịch phải được lựa chọn và chuẩn bị chu đáo nhằm tạo cho sản phẩm du lịch thật độc đáo và thật ấn tượng.
– Cần có những chương trình như dạy cho du khách đàn, hát một vài câu trong các bài bản tài tử để tạo sự hấp dẫn và thu hút du khách trong chuyến đi cũng như trong chương trình tuor.
PHẦN KẾT LUẬN
Thế giới thay đổi, nhân sinh quan, thị hiếu của con người cũng dần đổi thay. Trước đây châu Au, châu Mỹ là những nơi thu hút hầu như toàn bộ du khách quốc tế. Nhưng hiện nay, vào đầu thế kỷ 21, châu Á bắt đầu nổi lên như một điểm đến an toàn – thân thiện – và ngày càng trở nên hấp dẫn du khách các nơi nhờ vào các tiềm năng du lịch. Để cùng sánh vai với các nước trong khu vực, Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng phải chuyển mình, thích ứng với một thị trường du lịch luôn năng động và nhiều thử thách.
Ngành du lịch ĐBSCL đang trong quá trình phát triển nhưng còn non yếu so với các khu vực khác trong cả nước, điều này thể hiện qua kết quả thực hiện các vấn đề cơ sở vật chất, về lượng du khách, doanh thu,.. .Tuy nhiên, ngành du lịch ĐBSCL cũng đã có bước phát triển đáng kể , là một ngành quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực. Hoạt động của ngành giải quyết được một số lao động rất lớn có việc làm ổn định, tạo được sự giao lưu, giúp du khách trong và ngoài nước hiểu rõ hơn về mãnh đất và con người ĐBSCL hiền hoà, dễ mến nhưng cũng rất phóng khoáng, rất tài tử.
Khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoạt động du lịch không những tạo sự đa dạng về sản phẩm du lịch mà sẽ mở ra một cái nhìn mới, một triển vọng mới cho ngành du lịch ĐBSCL. Do đó, chúng ta cần tạo điều kiện để loại hình văn hoá này được phát triển, phục vụ tốt cho du lịch mà hiện nay chưa được con người khai thác đúng mức.
Bảo tồn và phát triển văn hoá nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với hoạt động du lịch ở ĐBSCL là việc làm rất cần thiết hiện nay, bởi lẽ nó không chỉ giúp cho ngành du lịch ĐBSCL phát triển mà còn bảo tồn được nét văn hoá độc đáo của ĐBSCL nói riêng và của Việt Nam nói chung. Nhưng để làm được điều này không chỉ đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực của ngành du lịch mà còn rất cần sự giúp đỡ của các ngành liên quan đặc biệt là ngành văn hoá thông tin. Từ đó nó góp phần to lơn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng, làm phong phú kho tàn văn hoá của quốc gia. 

GS.TS. Trần Văn Khê 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Giới thiệu các tuyến du lịch Nam Bộ – Trần Huy Hùng Cường – NXB trẻ -2006.
2/ Văn hoá Nam Bộ – vấn đề và phát triển – TS. Hồ Bá Thâm – NXB văn hoá thông tin – 2003.
3/ Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam – PGS.TS.Trần Ngọc Thêm – NXB TP.HCM – 1997.
4/ Qui hoạch du lịch – Những vấn đề lý luận và thực tiển – TS.Trần Văn Thông – NXB Đại học quốc gia Tp.HCM – 2005.
5/ Soạn giả Mộc Quán – Nguyễn Trọng Quyền “Cuộc đời và sự nghiệp” – Sở VHTT tỉnh Cần Thơ – 2001.
6/ Kỷ yếu “Hội thảo tiềm năng phát triển du lịch ĐBSCL và cơ hội đầu tư” – Sở du lịch TP. Cần Thơ – 1003.
7/ Tài liệu “Hội thảo phát triển du lịch sinh thái – văn hoá các tỉnh ĐBSCL -UBNN tỉnh An Giang – 2006.
8/ Từ Dạ Cổ Hoài Lang – Kỷ yếu hội thảo khoa học về Cao Văn Lầu – NXB Cà Mau – 1992.
9/ Nhạc tài tử, nhạc sân khấu cải lương – Trương Bỉnh Tòng – NXB sân khấu TP.HCM – 1997.
10/ Văn hoá với âm nhạc dân tộc – GS.TS.Trần Văn Khê – NXB Thanh Niên – 2000.

 

Trương Thiên Lý : BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG / Luận văn tốt nghiệp (2006) , phần 1


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

GVHD: TS. Trần Văn Thông
SVTH: Trương Thiên Lý
MSSV: 03.042.006
KHÓA: 2002 – 2006

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội mức sống của người dân cũng được nâng cao, nhu cầu vật chất ngày càng hoàn thiện và con người muốn thỏa mãn về nhu cầu tinh thần cao hơn. Cho nên nhu cầu đi du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người, du lịch gắn liền với việc vui chơi giải trí, thư giãn nhằm phục hồi sức khỏe và tăng năng suất lao động.
Sản phẩm du lịch là sự sáng tạo được xây dựng bởi tiềm năng trí tuệ và sự năng động, nhạy bén của mỗi địa phương trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước mà phát hiện ra những lợi thế của địa phương mình. Từ đó tạo ra những sản phẩm hết sức độc đáo có giá trị kinh tế và nghệ thuật cao.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài việc khai thác các giá tri văn hoá lịch sử, giá trị văn hoá sông nước, sinh thái miệt vườn, giá trị văn hoá biển, văn hoá tín ngưỡng thì vùng này còn có một giá trị văn hoá hết sức đặc biệt cần được khai thác phục vụ cho du lịch đó chính là giá trị văn hoá sinh hoạt đời thường. Đối với chúng ta việc sinh hoạt sinh sống hàng ngày là chuyện hết sức bình thường, nhưng lại là sự khám phá của những người nước ngoài và cả những người trong nước ở các vùng khác nhau. Một ví dụ nhỏ để chứng minh điều này: Trước đây nguời dân vùng Bắc bộ khi chưa có phim ảnh và tivi không thể nào hình dung nổi quả dừa nước như thế nào! Đến khi được vào vùng sông nước của Nam bộ thì họ thực sự bị lôi cuốn bởi sản phẩm đó. Đối với người Việt Nam chúng ta mà còn cảm thấy ngạc nhiên đến thế huống chi là người nước ngoài. Một cái chợ trên thuyền, một con đò, những khung cảnh sông nước miệt vườn..v.v.. ta cứ tưởng là chuyện chẳng có gì phải bàn nhưng lại là những sản phẩm du lịch hấp dẫn. Đã từng có những người nước ngoài đi du lịch nghiên cứu chỉ để xem qui trình trồng cây lúa nước ở Việt Nam như thế nào từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch làm thành hạt gạo. Nếu biết khai thác những sinh hoạt đời thường ấy thì sản phẩm du lịch của chúng ta sẽ vô cùng phong phú.
Nói đến đây chúng ta không thể không nói đến một loại hình nghệ thuật có giá trị văn hoá rất đặc trưng cùa vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng hết sức dân dã và rất riêng của vùng đất Nam bộ này, đó chính là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Nó là món ăn tinh thần của người dân nơi đây, nhất là khu vực nông thôn. Nhạc tài tử Nam bộ dành để đàn hát cho nhau nghe, giải bày tâm tình, thư giãn tinh thần sau những giờ lao động mệt nhọc. Đồng thời nhạc tài tử còn vốn được coi là thú vui tao nhã dành cho những bạn tri âm tri kỹ, gặp gỡ nhau trong những lúc thư nhàn. Thế thì tại sao chúng ta không khai thác loại hình nghệ thuật này để tạo nó thành một sản phẩm du lịch mới, độc đáo và hấp dẫn của vùng. Chính vì lý do đó tôi đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát triển văn hoá nghệ thuật Đờn ca tài tử đối với hoạt động du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long” cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Bởi là một sinh viên ngành du lịch trường ĐHDL Cửu Long tôi muốn góp một chút ít gì đó cho ngành du lịch của địa phương mình cũng như góp phần giữ gìn và phát huy nghệ thuật độc đáo của quê hương mình. Tôi hy vọng với kiến thức tích lũy đã học hỏi ở nhà trường, thầy cô, bạn bè, và những kiến thức học tập trong thời gian thực tập tại Sở Du lịch TP. Cần Thơ và đi thực tế ở các Sở văn hóa thông tin, các đội Đờn ca tài tử của các khu du lịch và gặp gỡ trao đổi với một số nghệ nhân ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể giúp cho nghệ thuật “Đờn ca tài tử” được mọi người quan tâm đến để bảo tồn và phát triển nó nhằm phục vụ tốt hơn cho ngành du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long.
II. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU:
1. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ thực tế, “Đờn ca tài tử” ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang được áp dụng để phục vụ du lịch đặc biệt là kết hợp với du lịch sông nước miệt vườn rất được du khách quốc tế cũng như khách du lịch trong nước ưa thích. Từ đó nội dung đưa ra nghiên cứu là làm thế nào để bảo tồn được loại hình nghệ thuật này đồng thời áp dụng nó vào hoạt động du lịch rộng rãi hơn để du lịch Đông bằng sông Cửu Long phát triển và thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn. Chính vì thế việc đưa ra nghiên cứu của đề tài là nhằm mục đích:
– Bảo tồn và phát triển nét văn hoá độc đáo cho Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung.
– Tìm ra những giải pháp, định hướng để bảo tồn loại hình nghệ thuật này và ứng dụng nó vào du lịch nhằm phục vụ cho hoạt động du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long.
– Tạo sự đa dang về sản phẩm du lịch, tạo sự khác biệt của du lịch vùng để tăng sức hấp dẫn cho du khách khi đến với ĐBSCL.
– Ngoài việc làm thế nào để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này trong hoạt động du lịch, đề tài này còn nhằm mục đích tạo sự chú ý, quan tâm của các ban ngành hoạt động trong lĩnh vực văn hoá để loại hình nghệ thuật này được nâng lên một tầm cao mới (văn hoá phi vật thể).
2. Ý nghĩa nghiên cứu:
– Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn và phát triển nét văn hoá độc đáo của dân tộc.
– Tạo sự đa dang, phong phú cho hoạt động du lịch.- Có ý nghĩa kinh tế – xã hội: Góp phần làm tăng doanh thu cho ngành du lịch, tạo nhiều cơ hội việc làm.
– Tạo sự nhận thức cho thế hệ trẻ hiện nay trước sự du nhập của văn hoá phương Tây.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Cơ sở lý luận về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” và giá trị của nó đối với phát triển du lịch.
– Khái niệm về “Đờn ca tài tử”.
– Giá trị của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với phát triển du lịch.
– Bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
2. Đánh giá tiềm năng và thực trạng bảo tồn, phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với hoạt động du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long.
– Đánh giá tiềm năng loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
– Thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử cho hoạt động du lịch.
3. Định hướng và giải pháp bảo tồn, phát triển nghệ thuật :Đờn ca tài tử” cho họat động du lịch.
– Các định hướng chủ yếu.
– Các giải pháp.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
• Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu.
Đây là phương pháp thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn sách báo, tạp chí, bài giảng, mạng Internet, nhiều lĩnh vực khác nhau để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho tổ chức hoạt động du lịch.
• Phương pháp khảo sát thực địa.
Là phương pháp thun thập trực tiếp số liệu thông tin du lịch trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
• Phương pháp điều tra xã hội học.
Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích thị hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn hoặc phiếu điều tra. Phương pháp này giúp ta nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, nắm bắt được tâm tư nguyện vông của những người làm công tác phục vụ và điều hành trong ngành du lịch.
• Phương pháp bản đồ.
Phản ánh những đặc điểm không gian sự phân bố của nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
• Phương pháp phân tích xu thế. 
Dựa vào qui luật vận động trong quá khứ – hiện tại để suy ra xu hướng phát triển trong tương lai.

CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
I. KHÁI NIỆM VỀ ĐỜN CA TÀI TỬ:
1. Lịch sử hình thành:
1.1. Từ nhạc cung đình Huế đến ca ra bộ:
1.1.1. Từ nhạc cung đình Huế:
Từ thời xa xưa, con người đã sản sinh ra âm nhạc. Sau những buổi săn bắt, hái lượm, sau những vụ mùa mệt mỏi, con người lại quây quần bên nhau để múa, hát, chung vui, quên đi những lo âu, gian khổ. Không ai biết được âm nhạc có từ khi nào, chỉ có thể biết rằng âm nhạc có từ khi con người xuất hiện; âm nhạc là sản phẩm tinh thần của con người. Theo sự phát triển của xã hội loài người, âm nhạc cũng dần dần hoàn thiện hơn, rõ nét hơn.
Theo lý luận khoa học, âm nhạc là sự hệ thống âm thanh từ thấp đến cao, từ trầm đến bổng. Nó là một điệu thức tức là một hệ thống của các thang âm và sự định hình của nó là do con người (nghệ nhân) qui định. Mỗi thời gian, âm nhạc phát triển ở mức độ khác nhau, mang sắc thái khác nhau, nhưng chung qui là để phục vụ con người.
Ngược dòng lịch sử, triều đại nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế nên gọi là Cung đình Huế. Năm 1802, cơ bản nhà Nguyễn thống nhất được Sơn hà xã tắc và trị vì thiên hạ, nhưng chỉ cũng cố địa vị thống trị của chế độ phong kiến theo kiểu Quân Chủ. Cho nên trong nội triều được tổ chức Nhạc cung đình nhằm phục vụ cho Vua chúa, do đó mà hình thành dòng Nhạc lễ cung đình. Các nghệ nhân hồi ấy được tuyển chọn từ dân thường vào phục vụ cung đình, rồi từ cung đình ra thường dân những người có năng lực âm nhạc. Những nghệ nhân từ miền Trung cùng một số quan nhạc theo di dân vào Nam “khẩn hoang lập ấp”. Thêm vào đó là các sĩ tử trong Nam ra kinh đô học hành, thi cử cũng đem về ít nhiều vốn liếng của dòng âm nhạc này.
Vùng đất Nam bộ vốn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau. Người Hoa Minh Hương (Trung Quốc) ủng hộ nhà Minh chống nhà Thanh, chạy lánh nạn vào Nam. Những người Khmer chống vương quyền Nam Vang, người Chăm rời miền Trung vào Châu Đốc – Long Xuyên và các lính thú, tội đồ bị triều đình cưỡng bách vào Nam mở đất … Đời sống, tính cách của họ hòa vào ngoại cảnh thiên nhiên sản sinh ra những ca dao, hò, lý…, các nghệ nhân nhạc lễ ngoài việc phục vụ đình đám, lễ hội, hàng năm không bao nhiêu nên có rất nhiều thời gian nhàn rỗi. Từ đó họ lấy nhạc để làm vui, đờn chơi và truyền cho những ai có tâm hồn yêu nó. Từ lao động, phát minh ra sáng tạo, các nghệ nhân kết hợp với âm điệu ca dao, hò, lý,… trên cơ sở thang âm của nhạc lễ (Ngũ cung) và sáng chế ra dòng âm nhạc tài tư, rồi đặt lời ca. Dòng nhạc không có lời ca còn nhạc tài tử thì bất cứ bài bản, giai điệu nào cũng có lời ca.
1.1.2. Đến ca ra bộ:
Vậy là Nhạc tài tử được xuất hiện trên nền tảng Nhạc lễ, và loại hình này tiến triển thêm một bước là có lời ca, từ đó hình thức “ca nhạc tài tử” bắt đầu khởi xướng. Nhạc tài tử và ca nhạc tài tử là hai hình thức tuy một mà hai: ca nhạc tài tử là có người ca và người đờn, nhạc tài tử là dòng âm nhạc truyền thống của Nam bộ. Nói cách khác nhạc tài từ là có “giai nhân tài tử” thực hiện dòng âm nhạc này. Đỉnh cao của phong trào ca nhạc tài tử là “ca ra bộ”, “giai nhân tài tử” không đơn thuần là hát theo lời nhạc và dòng nhạc, mà nghệ thuật được nâng cao hơn một bật là vừa ca vừa ra động tác để biểu diễn, chuyển tải ý nghĩa của các bài, bản. Các động tác này là tay, chân, ánh mắt, nụ cười. . .
Khi hình thức ca ra bộ chín muồi cũng là lúc khai sinh ra Cải lương, một loại hình ca kịch có kịch và nhạc. Trãi qua hơn 80 năm với nhiều thăng trầm biến đổi, nhiều gian khó mà cũng lắm vinh quang. Nói đến Cải lương, là người ta nói đến một loại hình ca kịch truyền thống của Nam bộ, một loại hình nghệ thuật dân tộc.
1.2. Tiền thân bài Vọng cổ:
Bài vọng cổ được sản sinh ra ở vùng đất Nam bộ, tiền thân là bài “Dạ cổ hoài lang” có nghĩa “Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”, đây là một loại hình âm nhạc mở đầu cho dòng nhạc dân tộc đã tồn tại gần 100 năm nay trong nền văn hóa của Việt Nam và được phát triển thành cổ nhạc hay “đờn ca tài tử”. Từ bài cổ nhạc đã được phát triển và hình thành bộ môn nghệ thuật Cải lương, đã một thời từng có sức hấp dẫn công chúng cả nước. Bất kỳ một tiết mục hay tác phẩm cải lương đều được kết thành từ giai điệu vọng cổ.
Tác giả của bài Dạ cổ hoài lang nổi tiếng là cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Ông sinh ngày 22/12/1892 (04/11 năm Nhâm Thìn), tại Long An, lớn lên Ông theo gia đình đến định cư ở Bạc Liêu. Tại vùng đất này, tài năng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu được hình thành và thăng hoa.
Tác phẩm “Dạ cổ hoài lang” ra đời năm 1919. Qua tác phẩm, tác giả muốn gởi gắm tâm sự của người phụ nữ nhớ chồng, để nói lên những bất công, những định kiến hẹp hòi của xã hội đương thời. Đó cũng là nỗi niềm của những con người nơi vùng đất mới được khai phá, với biết bao những bất công của xã hội và những đau khổ do chiến tranh gây ra.
Toàn bài dạ cổ có 20 câu, nhịp tư, như sau:
1. Hò là – xang xê cống,
2. Ú liu cống liu cống xê xang.
3. Hò xê líu cống xê xang là hò,
4. Xề xang xê xang là hò,
5. Liu xáng u liu xang,
6. Liu xáng xàng xề liu ú liu,
7. Hò là xang xê cống,
8. Xê líu xứ cống xê líu xừ xang,
9. Hò xê cống xê xang xự, 
10. Xê líu xừ cống xê xừ xang,
11. Xừ – xang xừ cống xê xang là hò,
12. Xề xang xế là hò xề là hò,
13. Cống xê xang hò – xang cống xê,
14. Xê líu xừ cống xê líu xừ xang,
15. Ú liu cộng liu – cộng xê xàng,
16. Liu xáng xàng xế phạn liu ú liu,
17. Là xự cống xê xang là hò,
18. Xê líu xự cống xê líu xự xang,
19. Ú liu cộng liu cộng xê xàng,
20. Liu xáng xàng xề phạn liu ú liu.
Lời ca:
Từ là – từ phu tướng
Báu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Và năm canh – mơ màng,
Em luống trông tin chàng,
Ôi! gan vàng thêm đau.
Đường dầu xa ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang,
Còn đêm luống trông tin bạn, 
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu,
Vọng – phu vọng luống trông tin chàng,
Lòng xin chớ phụ phàng,
Chàng là chàng có hay,
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây,
Biết bao thuở đó đây sum vầy?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai –
Là nguyện – cho chàng,
Hai chữ bình an – bình an,
Trở lại – gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.
+ Từ năm 1919 – 1923: Bài Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 phát triển lên nhịp 4 và ngày càng trở thành bài ca chủ chốt trong các nhóm đàn ca tài tử bên cạnh bài Tứ đại Oán và một số bài khác.
+ Từ 1923 – 1935: Bài vọng cổ mở rộng từ nhịp 4 lên nhịp 8, bắt đầu lên sân khấu và thay dần cho bài Tứ Đại Oán. Sau đó tiếp tục phát triển lên nhịp 16, nhịp 32 và nhịp 64 cho tới ngày nay.
Sau khi bài Dạ cổ hoài lang được phổ biến rộng khắp và lan nhanh cả vùng Nam bộ vào đầu thế kỷ 20, có 2 nhóm tài tử được hình thành ở miền Đông và miền Tây. Họ luôn ra sức nghiên cứu, cải tiến hoặc cải biên, sáng tác nhiều bài mới bổ sung. Trong đó có ông Ba Đợi, tên thật là Nguyễn Quang Đại, xuất thân là một quan nhạc lễ của triều đình Huế. Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, Ông vào miền Nam sống ở khu vực Đa Kao – Sài Gòn. Ông cùng các học trò của mình ra sức nghiên cứu, trao dồi, cải biên các bài bản gốc của nhạc cung đình Huế có một nhịp điệu hoà hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam bộ, dễ đi vào lòng công chúng, bằng cách giản dị hoá lối ấn nhịp (nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp lơi). Ông có quan điểm thường nhắc nhở học trò: “Lễ phải có Nghi, Nhạc phải có Hoà. Tiếng đàn phải đủ trầm bổng, nhặt khoan”, góp phần phát triển loại hình âm nhạc dân tộc này một cách tích cực. Tuy nhiên có tài liệu và nhiều nhà nghiên cứu cho biết bài Dạ cổ hoài lang, đờn ca tài tử và vọng cổ có ảnh hưởng và xuất phát từ nền tảng của nhạc lễ cung đình Huế.
Ca nhạc tài tử một loại hình âm nhạc đặc trưng cho văn hoá nghệ thuật Nam bộ. Theo các nhà nghiên cứu Nam bộ học cho rằng: Nhạc tài tử Nam bộ dựa theo học thuyết âm – dương ngũ hành và ngũ cung, dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông, với mục đích xây dựng cách sống của con người. Thuở mới định cư ở vùng đất mới, bài vọng cổ là tiếng lòng hoà vào tâm hồn của những người xa quê mà lòng không nguôi nhớ về quê cũ làng xưa.
Thực tế, bài vọng cổ hay nhạc tài tử rất đa dạng, đáp ứng được nhiều khía cạnh tình cảm, hoàn cảnh của con người. Vọng cổ thể hiện nỗi nhớ của người Việt từ biệt nơi chôn nhau cắt rún để cư ngụ ở vùng đất mới. Vọng cổ phản ánh tinh thần văn hoá truyền thống của người Việt trong quá trình thích ứng với tự nhiên Nam bộ. Do vậy, vọng cổ là một sản phẩm văn hoá dân tộc, là món ăn tinh thần của người Việt Nam phổ biến là dân cư Nam bộ.
Tác phẩm Dạ cổ hoài lang là một đóng góp to lớn, có nhiều ảnh hưởng đối với nền âm nhạc và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Một tác phẩm gắn liền với sự ra đời và phát triển của nghệ thuật Sân khấu cải lương mang đậm bản sắc dân tộc.
Tóm lại: Nền tảng của “Đờn ca tài tử” chính là nhạc lễ, một loại nhạc được phát triển vào đầu thế kỷ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Đầu thế kỷ 20, đờn ca tài tử trở thành phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, .v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và phụ cận), và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền Đông là Ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cùng với các nghệ sĩ như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng nhóm tài tử khối miền Tây có Ông Trần Quang Quờn tức ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong,.. Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình, các ấn bản nhạc tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909.

2. Nét văn hoá độc đáo của nghệ thuật “Đờn ca tài tử”:
Khi nhắc đến “Đờn ca tài tử” Nam bộ, người ta không chỉ nghĩ đến cái hay, cái chất giản dị, mùi mẫn, chất phát mà gần gủi của nó mà nó còn tạo được ấn tượng trong lòng mọi người bởi nét độc đáo của nó.
Trước đó ca nhạc tài tử mang tính chất “thính phòng” các ban tài tử và những người tham dự chỉ ngồi trong một không gian tương đối hẹp, đàn ca và thưởng thức lẫn nhau. Sau đó, phát triển hơn họ vừa ca vừa ra điệu bộ (ca ra bộ).
Nói đến “Đờn ca tài tử” là nói đến sự độc đáo của loại hình nghệ thuật này được kết hợp giữa tiếng đàn và điệu hát. Trước hết nó được thể hiện qua bộ nhạc khí, qua thang âm điệu thức, đến ngón đàn, nó tạo nên nét độc đáo đặc thù mang bản sắc của dân tộc, phù hợp với quan điểm, thẩm mỹ của người Việt Nam đặc biệt là dân Nam bộ. Nhạc khí của dân tộc Việt Nam thì rất nhiều nhưng trong loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” thì có 4 loại nhạc khí chính kết hợp với nhau gọi là “tứ tuyệt”.
Tình cảm của con người biểu lộ qua cung đàn, nhưng mỗi ngón đàn lại nói lên tâm hồn của người chơi cũng như diễn tả một tính tình khác nhau, có tiếng đàn khảy lên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên điệu mùi mẫn, nhẹ nhàng, bi ai. 
Sau đây là 4 loại nhạc khí tiêu biểu của “Đờn ca tài tử”:
– Đàn bầu hay còn gọi là độc huyền: cây đàn được chế hoá một cách hết sức giãn dị, chỉ có một dây, dây đàn căng thẳng trên trống đàn; một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm thanh khi nhạc sĩ gảy đàn. Đàn không ngựa, không phím và trên mặt trống đàn chỉ có 3 vạch trắng chia làm 4 cung, các nhạc sĩ thành thạo không cần đến các vạch trắng vì họ đã hiểu cung đàn ở chỗ nào. Trống đàn làm bằng một thứ gỗ đục rỗng thường cỡ 1,2 x 0,12 x 0,16. Tuy đàn bầu chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm khác nhau. Tiếng đàn nghe tha thiết, buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người. Chính vì vậy, người xưa cho rằng những bản nhạc của đàn bầu là “tục nhạc” là “dâm thanh” nên không được đưa vào dàn nhạc Cung đình. Ca dao cũng có câu: 
“Đàn bầu ai gãy nấy nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”
Điều đó phần nào nói lên sức quyến rũ mãnh liệt của cây đàn bầu Việt Nam.

Đàn bầu

Đàn tranh hay còn gọi là thập lục, làm bằng gỗ đục rỗng, có 16 dây, tuỳ theo nhu cầu của âm thanh mà sự căng trùng dài ngắn khác nhau. Những dây này máng trên những ngựa gắn vào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đấu ngón tay phải có móc những móng sắt, móng đồi mồi hoặc bằng nhựa …. Đễ gảy đàn, tay trái ấn trên các sợi dây để lựa âm thanh.

Đàn Tranh
– Đàn cò hay còn gọi là Nhị cũng là một nhạc khí của Việt Nam góp phần cho nhạc tài tử phong phú hơn, hay hơn. Gọi là đàn nhưng khi chơi không phải gảy vào dây như các loại đàn khác mà dùng mã vĩ cọ xát vào 2 dây nhị để tại ra âm thanh. Những nghệ sĩ tài hoa khi kéo nhị tiếng nhị nghe rất êm ái.
Nhị còn có tên là hồ cầm, Nhị có 4 phần: thùng, cần, ngựa và dây. Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt. Cần nhị dài khoảng chừng 0,5m và cấm chặt vào thùng, hai dây nhị được buộc vào đầu cần xuống tới ngựa. Những dây này ăn vào hai trục để lên dây và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần (khuyết là một vòng đồng). 

Đàn Kìm Đàn Cò

– Đàn kìm hay còn gọi là nguyệt cầm, cây đàn này có hình mặt trăng, được ông Trần Quan Quờn cải tiến từ cây đàn nguyệt cổ điển để tiếng kêu được to hơn, nhanh hơn phù hợp với bài bản trong ca nhạc tài tử. Thùng đàn rộng 0,85m (thực tế có khi nhỏ hơn), dái 0,15m, hoàn toàn kín (không giống thùng đàn guitar), cần dài 1,7m, 8 phím, 4 dây. Người sử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 thanh âm tuỳ theo tay vung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.
Ngoài ra, nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ như: đàn gáo, violon, song lang, đàn guitar phím lõm,… Trước đây trong dàn nhạc cải lương hoặc đờn ca tài tử cây đàn kìm giữ vai trò chủ đạo, nhưng sau này thì cây đàn guitar phím lõm được sử dụng nhiều hơn, cây đàn này có gốc từ Tây Ban Nha khi vào Việt Nam được các nghệ nhân chỉnh sửa để phù hợp với đờn ca tài tử, cải lương,… Bên cạnh đó, ở thời đại công nghệ điện tử phát triển như hiện nay thì cây guitar điện phím lõm được xem là nhạc cụ giữ nhiệm vụ chính trong ban nhạc. 

Đàn guitar phím lõm Song lang

Song song với các nhạc cụ là những làn điệu hát căn bản, ba nam sáu bắc đã làm cho bộ môn ca nhạc tài tử trở nên phong phú, đa dạng và thật độc đáo. Hiện nay trong ca nhạc tài tử thì các Nghệ nhân chỉ giữ lại 20 bài tổ bao gồm: ba nam, sáu bắc, tứ oán, bảy bài.
Ba nam gồm: Nam ai, Nam xuân và Đảo ngũ cung, mỗi bài có tính chất âm nhạc khác nhau. Nam xuân thì âm nhạc nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thoát. Nam ai thì ray rứt giàu chất trữ tình. Nam đảo thì có hơi Bắc nên hùng mạnh. Sáu bắc gồm: Tây thi, cổ bản, Bình bán chấn, Xuân tình, Lưu thuỷ, Phú lục, các bài Bắc thì hùng tráng mạnh mẽ hơn. Tứ oán gồm: Phụng cầu, Phụng hoàng, Giang nam, Tứ đại, các điệu thức Oán thì nói lên sự than thở, hận, hờn, những nhớ thương da diết, lắm sự thế nhân tình với bao nghiệt ngã của thiên nhiên, của xã hội lúc bấy giờ. Bảy bài gồm: Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Dạng giá, Tiểu khúc, Xàng xê. Trong bảy bài này thì mỗi bài có mang một hàm ý riêng, bài “xàng xê” theo thuyết ngũ hành thì “xàng là thuỷ”, “xê là hoả” tương khắc nên bản xàng xê có đoạn đứt bằng cung xê hoặc cung xàng. Bài “Ngũ đối thượng” là 5 điều xử thế nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, mà cố nhân quan tâm đề cập cho người trên đối với kẻ dưới. Bài “Ngũ đối hạ” là 5 cái lễ của kẻ dưới đối với người trên nằm trong ngũ thường nho giáo. Bài “Long đăng” là đèn rồng. Bài “Long ngâm” là rồng tịn. . . Khi phát triển thành bộ môn Cải lương, các tác giả đã đưa thêm vào những làn điệu để diễn tả tâm tư tình cảm của mỗi nhân vật trong tác phẩm thêm rõ nét như: Trường tương tư, Văn thiên tường, Phi vân điệp khúc, Vọng kim lang, Đoản khúc lam giang, . . .
Để thể hiện được những bài bản này thì người hát phải tập luyện rất lâu. Bởi vì người hát không chỉ có giọng hát hay, truyền cảm, ấm áp mà phải biết nhịp nhàng, điệu thức của bài hát, phải hát đúng nhịp với đàn thì mới thể hiện được cái hay của bài bản… 
Khi biểu diễn nhạc tài tư, các nghệ sĩ thường trú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử là lối đàn ngẫu hứng. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hoà hợp với nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng một bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hoà. Nhưng có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao – hoặc người ca dùng nói lối – để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho người diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe. 
II. GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1. Góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hoá:
1.1. Định nghĩa du lịch văn hoá:
“Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm nhận bề dày văn hoá của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hoá, những phong tục tập quán còn hiện diện”.
Cũng có nhiều cách biểu đạt khác nhau của định nghĩa văn hoá du lịch, tiêu biểu có 4 cách sau:
* Du lịch văn hoá là tổng hợp của cải vật chất và của cải tinh thần có liên quan đến du lịch.
* Du lịch văn hoá là kết quả tác động lẫn nhau giữa chủ thể du lịch (du khách), và khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) với môi giới du lịch (ngành du lịch).
* Du lịch văn hoá là một loại hình thái văn hoá của đời sống du lịch.
* Du lịch văn hoá là một hình thái đặc thù, lấy nhân tố giá trị nội tại của văn hoá chung làm chỗ dựa, lấy các yếu tố du lịch làm căn cứ, tác dụng với quá trình hoạt động du lịch.
Du lịch văn hoá tức là nội dung văn hoá do du lịch – hiện tượng xã hội độc đáo này thể hiên ra, là văn hoá do du khách và người làm công tác du lịch tích luỹ và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch.
1.2. Nghệ thuật “Đờn ca tài tử” góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hoá:
Khi nói đến nghệ thuật “Đờn ca tài tử” Nam bộ chắc hẳn không ít người biết rằng đây là loại hình văn hoá phi vật thể, mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo của người dân Nam bộ đặc biệt là người dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Trên vùng đất mới này, nhạc tài tử đã thoát thai từ cái gốc nghiêm cẩn bác học của Cung đình Huế, cái chất tế tự đình đám của nhạc lễ mà hoà vào cuộc sống dân dã. Nó hội nhập cùng các điệu lý, các câu hát đối đáp, các giọng hò sông nước để nói lên tiếng lòng của người dân châu thổ qua các làn điệu mới, như bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sỹ Cao Văn Lầu, như các bản vắn của nhạc Tiều, nhạc Quảng, để hình thành một thứ âm nhạc mà ngày nay chúng ta gọi là “ca nhạc cải lương”. Tiến trình âm nhạc này là thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. 
Nếu như miền Bắc có “ca trù”, miền Trung có “nhạc cung đình Huế”, Tây nguyên có “văn hoá cồng chiêng”, thì ở Nam bộ vùng ĐBSCL của chúng ta lại có “đờn ca tài tử”. Tuy chúng ta chưa biết khai thác đúng hướng để tạo thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn nhưng “đờn ca tài tử” Nam bộ đã góp thêm phần phong phú và có giá trị trong kho tàn văn hoá Việt Nam.
Chính vì điều này mà chúng ta cần phải phát triển nghệ thuật “đờn ca tài tử”, trước hết là để bảo tồn nó, sau đó là đưa nó vào hoạt động du lịch để góp thêm sự phong phú, đa dạng cho loại hình du lịch văn hoá của khu vực ĐBSCL, tạo nên các tour du lịch văn hoá hấp dẫn. 
Ngày nay, nhu cầu đi du lịch của du khách phần lớn là muốn được thẩm nhận bề dày văn hoá của một nước, một vùng. Vì vậy, phát triển “đờn ca tài tử” cũng chính là phát triển du lịch mà đặc biệt là loại hình du lịch văn hoá, bởi đây chính là loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo đã được sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam bộ này và được lưu giữ cho đến ngày hôm nay.
2. Tạo sự giao lưu nhận thức của du khách về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của vùng ĐBSCL:
Xu hướmg đi du lịch hiện nay của đa số du khách là không phải chỉ để nghỉ ngơi, vui chơi giải trí mà họ còn muốn được giao lưu học hỏi, tìm hiểu những nét văn hoá mới của những vùng khác, những quốc gia khác. Chính vì thế, việc đưa “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch không chỉ đơn thuần là để phục vụ giải trí mà còn là để tạo sự giao lưu, nhận thức cho du khách về loại hình nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam bộ này.
Việt Nam với 3 khu vực chính đó là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Mỗi vùng có một nét văn hoá đặc thù khác nhau và đây cũng chính là sự hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Nói tới vùng Bắc Bộ của Việt Nam không ai không biết đến nghệ thuật hát chèo, hát ả đào (ca trù). Đây là lối hát múa nhạc đệm do một tốp nữ trình bày. Nó là một thứ nhạc thính phòng cao quí và tồn tại suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta. Hát Ả đào, tất nhiên phải có đào hát với giọng hát khoẻ, trầm và sang, giọng hát phải được rèn luyện công phu từ nhỏ mới giữ được “hơi trong” và buông được hơi “ngoài” trong nghệ thuật ém, nhấn nhã, mà ta nghe thấp thoáng như gần như xa, như cao như tháp, như trong như đục . . . , phát ra từ nơi cuốn họng người hát. Mỗi bài nhạc thường có khúc dạo đầu. Hát Ả đào cũng vậy, trước khi giọng hát cất lên, năm khổ phách cùng trống với đàn quyện vào nhau như tiếng tơ, tiếng trúc và tiếng châu nẩy trên mâm ngọc, vừa tha thiết, vừa sang quí, và nó được tái tạo nhiều lần trong toàn bài.
Khác với Bắc Bộ, tuy cách nhau không xa nhưng vùng Trung Bộ lại có nét loại hình nghệ thuật độc đáo riêng và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế Giới (văn hoá phi vật thể) đó chính là “Nhạc cung đình Huế”. Là loại âm nhạc chỉ để biểu diễn trong cung đình cho Vua chúa và quan lại thưởng thức. Với những nhạc cụ tiêu biểu được chọn lựa kỹ càng cùng những thang âm và điệu thức đặc sắc. Âm nhạc cung đình là sự tập trung những tinh hoa nghệ thuật đặc sắc của nền âm nhạc dân gian truyền thống với nhiều thể loại và bài bản trong âm nhạc cung đình nhưng chủ yếu là phục vụ cho lễ nghi, cúng tế, nhạc cung đình có 7 loại chủ yếu: Giao nhạc, Miếu nhạc, Tế ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung nhạc. Mỗi thể loại nhạc đều có những bài bản riêng biệt được sắp xếp theo thứ tự qui định của bộ lễ lúc bấy giờ. Trãi qua thời gian cùng với những biến đổi thăng trầm của lịch sử, âm nhạc cung đình Triều Nguyễn bị thất lạc cũng khá nhiều nhưng đó cũng là một kho tàn âm nhạc vô giá trong nền âm nhạc Việt Nam. Ở miền Trung còn có một vùng nửa mà văn hoá nơi đây cũng hết sức độc đáo đó là Tây Nguyên. Một vùng đất tuy nhỏ, chỉ có một vài tỉnh nhưng nơi đây có rất nhiều dân tộc sinh sống. Ở vùng đất này chủ yếu là đồi núi, người dân nơi đây sống quanh những ngọn đồi, con suối, buông làng, con người nơi đây đã hoà nhập vào cuộc sống thiên nhiên nên đã sản sinh ra một loại hình văn hoá rất phù hợp với cảnh núi rừng đó là “văn hoá cồng chiêng”. Đây là một loại hình sinh hoạt rất phổ biến và cũng đã đưa vào phục vụ du lịch và cũng được rất nhiều sự quan tâm của du khách. Vừa qua loại hình văn hoá này cũng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế Giới. Khách du lịch rất thích đến đây để được giao lưu, sinh hoạt với những người dân tộc nơi đây để được tìm hiểu nét văn hoá độc đáo này.
Thế thì vùng Nam Bộ (đặc biệt là vùng ĐBSCL) có nét văn hoá gì độc đáo? Và làm thế nào để mọi người từ các vùng miền khác nhau của đất nước biết đến để họ được giao lưu, học hỏi và tìm hiểu về nó? Vì thế , đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch chính là con đường đưa nó đến với mọi người một cách nhanh nhất và tốt nhất.
Nói đến vùng ĐBSCL, ai ai cũng nghỉ đến nơi đây có rất nhiều những con sông lớn nhỏ chằng chịt nhau, với những cánh đồng lúa mênh mông bát ngát, những vườn cây trái trĩu quả, và cũng từ đó đã tạo nên người dân nơi đây một cách sống dân dã, thật thà, bình dị nhưng cũng rất phóng khoáng. Và cũng chính vì thế mà nơi đây đã sản sinh ra một lối sống văn hoá sinh hoạt đời thường hết sức tài tử. Và cũng từ đây đã hình thành nên một loại hình văn hoá nghệ thuật thật độc đáo, nó mang đậm tính cách của người dân nơi đây, đó là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. 
Thật vậy, với bản sắc là một loại nhạc thính phòng, dành để đàn hát cho nhau nghe, bày giải tâm tình, thư giãn tinh thần sau những giờ phút lao động, nhạc tài tử quà là có thế mạnh riêng của nó. Chỉ cần vài cây đàn dây khảy, vài người biết hát thế là gầy được một cuộc chơi lành mạnh, bổ ích, góp vui với làng xóm. Trong những dịp giỗ chạp, hiếu hỉ tại gia đình “Đờn ca tài tử” cũng rất được hâm mộ. Trong các điểm du lịch, các quán ăn dân dã thì “Đờn ca tài tử” rất được du khách yêu thích bởi tính chất thanh nhã, mang hơi hướng dân tộc, không chỉ giải trí đơn thuần mà còn ít nhiều có nội dung giáo huấn, thích nghi với truyền thống “văn dĩ tải đạo” đến nay dẫn còn nhiều giá trị trong xã hội ta.
III. BẢO TỒN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ”:
1. Cách thức bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử”: 
Hiện nay, việc đưa “Đờn ca tài tử” Nam bộ về đúng vị trí đỉnh cao của âm nhạc truyền thống dân tộc để bảo tồn và phát huy vai trò của nó trong đời sống hiện nay đang là nổi trăn trở không chỉ của Nghệ nhân hay giới mộ điệu mà còn ở góc độ quản lý văn hoá tại một chiếc nôi của dòng nhạc này trên đất Phương Nam. Tuy nhiên hiện nay các cơ quan quản lý cũng đã và đang thực hiện một số cách thức để bảo tồn loại hình nghệ thuật này. 
Một số cách thức bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử” hiện nay:
– Tại một số tỉnh hiện nay đưa “Đờn ca tài từ” làm một trong những tiêu chí trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.
– Tổ chức các cuộc hội thi, liên hoan “Đờn ca tài tử” các cấp huyện (thị), tỉnh (TP) kể cả cấp khu vực. Qua đó, kiểm tra tay nghề của Nghệ nhân, để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Đối với các nhà quản lý thì đây là dịp để phát hiện nhân tố mới cho phong trào văn nghệ địa phương, đồng thời nhằm đạt đến sự thống nhất chuẩn mực để đánh giá tác phẩm của nghệ thuật biểu diễn. 
– Hàng năm vào ngày giỗ của nghệ nhân Nguyễn Quang Đại – Cần Thơ vào dịp tết Nguyên tiêu được coi là ngày hội ngộ của giới “Đờn ca tài tử” Nam bộ, đây là nơi gặp gỡ tri ân, là sân chơi dành để ấn chứng tài năng. Đây cũng là một cách để bảo tồn bộ môn nghệ thuật này.
Trong những năm gần đây chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam cũng đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử. Đồng thời xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc tài tử trong nền âm nhạc truyền thống của dân tộc nên hiện nay cũng đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hoá các bài bàn của nhạc tài tử, nghiên cứu thanh âm điệu thức, phương pháp ký âm..v..v.. một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản để loại hình này đa dạng, phong phú hơn.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là nâng cao ý thức cộng đồng, tạo điều kiện để người dân tham gia bảo tồn loại hình nghệ thuậ này. Bởi một khi cộng đồng địa phương đã thấu hiểu vấn đề cần thiết phải bảo tồn, họ sẽ tích cực tham gia cùng với các cơ quan quản lý.
2. Giáo dục ý thức bảo tồn:
Đất nước thời mở cửa, để giao lưu hợp tác với các nước bạn không thể tránh việc du nhập và giao lưu với các nền văn hoá, đối tượng dễ bị lai căng là giới trẻ ngày nay, họ không còn thích những loại nhạc du dương mang tính trữ tình lãng mạn, càng không thích nghe những điệu lý, câu hò, những bài vọng cổ,… mà họ lại thích các loại nhạc rock, ráp,..sôi nổi. Vả lại trong thời buổi kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường, muốn theo kịp thời đại thì người ta phải tất bật với công việc để có mức thu nhập ổn định, đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng cao, vì thế làm cho họ ngày càng xa rời với nghệ thuật truyền thống. Bởi lẽ, trong thời buổi như hiện nay người dân không còn ngày chỉ 2 buổi ra ruộng mà họ phải luôn bận rộn với công việc nên không còn nhiều thời gian rảnh rổi để ngồi lại đàn hát cho nhau nghe. Từ đó cho thấy việc đưa “nhạc tài tử” Nam bộ về đúng vị trí đỉnh cao của âm nhạc truyền thống dân tộc để bảo tồn và phát huy vai trò của nó trong đời sống văn hoá hiện nay đang là nổi trăn trở không chỉ của nghệ nhân hay giới mộ điệu mà còn ở góc độ quản lý văn hoá.
Từ khi Việt Nam xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và ra sức kêu gọi đầu tư phát triển cho ngành du lịch thì văn hoá Việt Nam ngày càng được lan rộng ra các nước, tạo thế đứng ngày càng vững chắc cho ngành du lịch Việt Nam. Vì thế, ngành du lịch Đồng bằng sông Cửu Long nếu muốn phát triển theo hướng bền vững thì cần phải giáo dục ý thức cộng đồng một cách sâu sắc về bảo tồn và phát triển văn hoá của vùng.
Xác định được giá trị của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là một trong những kho tàn nghệ thuật của văn hoá Việt Nam và là nét nghệ thuật điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc đặt ra trước mắt là làm thế nào để giáo dục ý thức bảo tồn của cộng đồng để loại hình nghệ thuật này được lưu giữ và không bị thất truyền.
Thứ nhất: Giáo dục cho cộng đồng biết rằng trong cuộc sống hiện đại rõ ràng chúng ta có đi theo hướng hiện đại, phù hợp với nhịp điệu công nghiệp và có giao lưu giữa các nền văn hoá của nhân loại nhưng phải tiếp thu có chọn lọc và vẫn cứ phải lấy nội dung văn hoá dân tộc làm định hướng chính và phải chấp nhận sự tồn tại của nghệ thuật dân tộc như là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá Việt Nam.
Thứ hai: Đối tượng mà chúng ta muốn giáo dục trước tiên là giới trẻ, ông bà ta thường có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Vì vậy, đối tượng học sinh, sinh viên là mục tiêu giáo dục hàng đầu vì đây là lực lượng kế thừa nghệ thuật cho tương lai. Vì vậy cần đưa bộ môn nghệ thuật này vào tất cả các trường chứ không chỉ gói gọn trong trường sân khấu nghệ thuật, để tất cả giới trẻ có thể hiểu về môn nghệ thuật này, từ đó có định hướng cho mình. 
Thứ ba: Đối với những người trong nghề, chúng ta nên khuyến khích họ giữ gìn và phát huy môn nghệ thuật này. Mặc dù chúng ta đến với nó thì không tạo được mức thu nhập cao như những ngành nghề khác, nhưng chúng ta đến với đờn ca tài tử vì sự yêu thích, say mê, nặng tình với nghệ thuật này.
Thứ tư: Chúng ta nên tuyên truyền rộng rải trên các phương tiện thông tin đại chúng để cộng đồng hiểu được nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của vùng mình là một nét văn hoá độc đáo của dân tộc, chẳng hạn như chúng ta làm các chương trình “văn hoá đồng bằng, ngày hội văn hoá của khu vực đồng bằng sông Cửu Long,… trong đó đi sâu vào vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật “đờn ca tài tử” thường xuyên trình chiếu trên đài truyền hình.

http://www.conhacvietnam.com/diendan/viewtopic.php?f=348&p=62398#p62398