Trương Thiên Lý : BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG / Luận văn tốt nghiệp (2006) , phần 1


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

GVHD: TS. Trần Văn Thông
SVTH: Trương Thiên Lý
MSSV: 03.042.006
KHÓA: 2002 – 2006

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội mức sống của người dân cũng được nâng cao, nhu cầu vật chất ngày càng hoàn thiện và con người muốn thỏa mãn về nhu cầu tinh thần cao hơn. Cho nên nhu cầu đi du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người, du lịch gắn liền với việc vui chơi giải trí, thư giãn nhằm phục hồi sức khỏe và tăng năng suất lao động.
Sản phẩm du lịch là sự sáng tạo được xây dựng bởi tiềm năng trí tuệ và sự năng động, nhạy bén của mỗi địa phương trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước mà phát hiện ra những lợi thế của địa phương mình. Từ đó tạo ra những sản phẩm hết sức độc đáo có giá trị kinh tế và nghệ thuật cao.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài việc khai thác các giá tri văn hoá lịch sử, giá trị văn hoá sông nước, sinh thái miệt vườn, giá trị văn hoá biển, văn hoá tín ngưỡng thì vùng này còn có một giá trị văn hoá hết sức đặc biệt cần được khai thác phục vụ cho du lịch đó chính là giá trị văn hoá sinh hoạt đời thường. Đối với chúng ta việc sinh hoạt sinh sống hàng ngày là chuyện hết sức bình thường, nhưng lại là sự khám phá của những người nước ngoài và cả những người trong nước ở các vùng khác nhau. Một ví dụ nhỏ để chứng minh điều này: Trước đây nguời dân vùng Bắc bộ khi chưa có phim ảnh và tivi không thể nào hình dung nổi quả dừa nước như thế nào! Đến khi được vào vùng sông nước của Nam bộ thì họ thực sự bị lôi cuốn bởi sản phẩm đó. Đối với người Việt Nam chúng ta mà còn cảm thấy ngạc nhiên đến thế huống chi là người nước ngoài. Một cái chợ trên thuyền, một con đò, những khung cảnh sông nước miệt vườn..v.v.. ta cứ tưởng là chuyện chẳng có gì phải bàn nhưng lại là những sản phẩm du lịch hấp dẫn. Đã từng có những người nước ngoài đi du lịch nghiên cứu chỉ để xem qui trình trồng cây lúa nước ở Việt Nam như thế nào từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch làm thành hạt gạo. Nếu biết khai thác những sinh hoạt đời thường ấy thì sản phẩm du lịch của chúng ta sẽ vô cùng phong phú.
Nói đến đây chúng ta không thể không nói đến một loại hình nghệ thuật có giá trị văn hoá rất đặc trưng cùa vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng hết sức dân dã và rất riêng của vùng đất Nam bộ này, đó chính là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Nó là món ăn tinh thần của người dân nơi đây, nhất là khu vực nông thôn. Nhạc tài tử Nam bộ dành để đàn hát cho nhau nghe, giải bày tâm tình, thư giãn tinh thần sau những giờ lao động mệt nhọc. Đồng thời nhạc tài tử còn vốn được coi là thú vui tao nhã dành cho những bạn tri âm tri kỹ, gặp gỡ nhau trong những lúc thư nhàn. Thế thì tại sao chúng ta không khai thác loại hình nghệ thuật này để tạo nó thành một sản phẩm du lịch mới, độc đáo và hấp dẫn của vùng. Chính vì lý do đó tôi đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát triển văn hoá nghệ thuật Đờn ca tài tử đối với hoạt động du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long” cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Bởi là một sinh viên ngành du lịch trường ĐHDL Cửu Long tôi muốn góp một chút ít gì đó cho ngành du lịch của địa phương mình cũng như góp phần giữ gìn và phát huy nghệ thuật độc đáo của quê hương mình. Tôi hy vọng với kiến thức tích lũy đã học hỏi ở nhà trường, thầy cô, bạn bè, và những kiến thức học tập trong thời gian thực tập tại Sở Du lịch TP. Cần Thơ và đi thực tế ở các Sở văn hóa thông tin, các đội Đờn ca tài tử của các khu du lịch và gặp gỡ trao đổi với một số nghệ nhân ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể giúp cho nghệ thuật “Đờn ca tài tử” được mọi người quan tâm đến để bảo tồn và phát triển nó nhằm phục vụ tốt hơn cho ngành du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long.
II. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU:
1. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ thực tế, “Đờn ca tài tử” ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang được áp dụng để phục vụ du lịch đặc biệt là kết hợp với du lịch sông nước miệt vườn rất được du khách quốc tế cũng như khách du lịch trong nước ưa thích. Từ đó nội dung đưa ra nghiên cứu là làm thế nào để bảo tồn được loại hình nghệ thuật này đồng thời áp dụng nó vào hoạt động du lịch rộng rãi hơn để du lịch Đông bằng sông Cửu Long phát triển và thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn. Chính vì thế việc đưa ra nghiên cứu của đề tài là nhằm mục đích:
– Bảo tồn và phát triển nét văn hoá độc đáo cho Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung.
– Tìm ra những giải pháp, định hướng để bảo tồn loại hình nghệ thuật này và ứng dụng nó vào du lịch nhằm phục vụ cho hoạt động du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long.
– Tạo sự đa dang về sản phẩm du lịch, tạo sự khác biệt của du lịch vùng để tăng sức hấp dẫn cho du khách khi đến với ĐBSCL.
– Ngoài việc làm thế nào để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này trong hoạt động du lịch, đề tài này còn nhằm mục đích tạo sự chú ý, quan tâm của các ban ngành hoạt động trong lĩnh vực văn hoá để loại hình nghệ thuật này được nâng lên một tầm cao mới (văn hoá phi vật thể).
2. Ý nghĩa nghiên cứu:
– Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn và phát triển nét văn hoá độc đáo của dân tộc.
– Tạo sự đa dang, phong phú cho hoạt động du lịch.- Có ý nghĩa kinh tế – xã hội: Góp phần làm tăng doanh thu cho ngành du lịch, tạo nhiều cơ hội việc làm.
– Tạo sự nhận thức cho thế hệ trẻ hiện nay trước sự du nhập của văn hoá phương Tây.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Cơ sở lý luận về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” và giá trị của nó đối với phát triển du lịch.
– Khái niệm về “Đờn ca tài tử”.
– Giá trị của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với phát triển du lịch.
– Bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
2. Đánh giá tiềm năng và thực trạng bảo tồn, phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với hoạt động du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long.
– Đánh giá tiềm năng loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
– Thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử cho hoạt động du lịch.
3. Định hướng và giải pháp bảo tồn, phát triển nghệ thuật :Đờn ca tài tử” cho họat động du lịch.
– Các định hướng chủ yếu.
– Các giải pháp.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
• Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu.
Đây là phương pháp thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn sách báo, tạp chí, bài giảng, mạng Internet, nhiều lĩnh vực khác nhau để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho tổ chức hoạt động du lịch.
• Phương pháp khảo sát thực địa.
Là phương pháp thun thập trực tiếp số liệu thông tin du lịch trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
• Phương pháp điều tra xã hội học.
Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích thị hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn hoặc phiếu điều tra. Phương pháp này giúp ta nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, nắm bắt được tâm tư nguyện vông của những người làm công tác phục vụ và điều hành trong ngành du lịch.
• Phương pháp bản đồ.
Phản ánh những đặc điểm không gian sự phân bố của nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
• Phương pháp phân tích xu thế. 
Dựa vào qui luật vận động trong quá khứ – hiện tại để suy ra xu hướng phát triển trong tương lai.

CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
I. KHÁI NIỆM VỀ ĐỜN CA TÀI TỬ:
1. Lịch sử hình thành:
1.1. Từ nhạc cung đình Huế đến ca ra bộ:
1.1.1. Từ nhạc cung đình Huế:
Từ thời xa xưa, con người đã sản sinh ra âm nhạc. Sau những buổi săn bắt, hái lượm, sau những vụ mùa mệt mỏi, con người lại quây quần bên nhau để múa, hát, chung vui, quên đi những lo âu, gian khổ. Không ai biết được âm nhạc có từ khi nào, chỉ có thể biết rằng âm nhạc có từ khi con người xuất hiện; âm nhạc là sản phẩm tinh thần của con người. Theo sự phát triển của xã hội loài người, âm nhạc cũng dần dần hoàn thiện hơn, rõ nét hơn.
Theo lý luận khoa học, âm nhạc là sự hệ thống âm thanh từ thấp đến cao, từ trầm đến bổng. Nó là một điệu thức tức là một hệ thống của các thang âm và sự định hình của nó là do con người (nghệ nhân) qui định. Mỗi thời gian, âm nhạc phát triển ở mức độ khác nhau, mang sắc thái khác nhau, nhưng chung qui là để phục vụ con người.
Ngược dòng lịch sử, triều đại nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế nên gọi là Cung đình Huế. Năm 1802, cơ bản nhà Nguyễn thống nhất được Sơn hà xã tắc và trị vì thiên hạ, nhưng chỉ cũng cố địa vị thống trị của chế độ phong kiến theo kiểu Quân Chủ. Cho nên trong nội triều được tổ chức Nhạc cung đình nhằm phục vụ cho Vua chúa, do đó mà hình thành dòng Nhạc lễ cung đình. Các nghệ nhân hồi ấy được tuyển chọn từ dân thường vào phục vụ cung đình, rồi từ cung đình ra thường dân những người có năng lực âm nhạc. Những nghệ nhân từ miền Trung cùng một số quan nhạc theo di dân vào Nam “khẩn hoang lập ấp”. Thêm vào đó là các sĩ tử trong Nam ra kinh đô học hành, thi cử cũng đem về ít nhiều vốn liếng của dòng âm nhạc này.
Vùng đất Nam bộ vốn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau. Người Hoa Minh Hương (Trung Quốc) ủng hộ nhà Minh chống nhà Thanh, chạy lánh nạn vào Nam. Những người Khmer chống vương quyền Nam Vang, người Chăm rời miền Trung vào Châu Đốc – Long Xuyên và các lính thú, tội đồ bị triều đình cưỡng bách vào Nam mở đất … Đời sống, tính cách của họ hòa vào ngoại cảnh thiên nhiên sản sinh ra những ca dao, hò, lý…, các nghệ nhân nhạc lễ ngoài việc phục vụ đình đám, lễ hội, hàng năm không bao nhiêu nên có rất nhiều thời gian nhàn rỗi. Từ đó họ lấy nhạc để làm vui, đờn chơi và truyền cho những ai có tâm hồn yêu nó. Từ lao động, phát minh ra sáng tạo, các nghệ nhân kết hợp với âm điệu ca dao, hò, lý,… trên cơ sở thang âm của nhạc lễ (Ngũ cung) và sáng chế ra dòng âm nhạc tài tư, rồi đặt lời ca. Dòng nhạc không có lời ca còn nhạc tài tử thì bất cứ bài bản, giai điệu nào cũng có lời ca.
1.1.2. Đến ca ra bộ:
Vậy là Nhạc tài tử được xuất hiện trên nền tảng Nhạc lễ, và loại hình này tiến triển thêm một bước là có lời ca, từ đó hình thức “ca nhạc tài tử” bắt đầu khởi xướng. Nhạc tài tử và ca nhạc tài tử là hai hình thức tuy một mà hai: ca nhạc tài tử là có người ca và người đờn, nhạc tài tử là dòng âm nhạc truyền thống của Nam bộ. Nói cách khác nhạc tài từ là có “giai nhân tài tử” thực hiện dòng âm nhạc này. Đỉnh cao của phong trào ca nhạc tài tử là “ca ra bộ”, “giai nhân tài tử” không đơn thuần là hát theo lời nhạc và dòng nhạc, mà nghệ thuật được nâng cao hơn một bật là vừa ca vừa ra động tác để biểu diễn, chuyển tải ý nghĩa của các bài, bản. Các động tác này là tay, chân, ánh mắt, nụ cười. . .
Khi hình thức ca ra bộ chín muồi cũng là lúc khai sinh ra Cải lương, một loại hình ca kịch có kịch và nhạc. Trãi qua hơn 80 năm với nhiều thăng trầm biến đổi, nhiều gian khó mà cũng lắm vinh quang. Nói đến Cải lương, là người ta nói đến một loại hình ca kịch truyền thống của Nam bộ, một loại hình nghệ thuật dân tộc.
1.2. Tiền thân bài Vọng cổ:
Bài vọng cổ được sản sinh ra ở vùng đất Nam bộ, tiền thân là bài “Dạ cổ hoài lang” có nghĩa “Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”, đây là một loại hình âm nhạc mở đầu cho dòng nhạc dân tộc đã tồn tại gần 100 năm nay trong nền văn hóa của Việt Nam và được phát triển thành cổ nhạc hay “đờn ca tài tử”. Từ bài cổ nhạc đã được phát triển và hình thành bộ môn nghệ thuật Cải lương, đã một thời từng có sức hấp dẫn công chúng cả nước. Bất kỳ một tiết mục hay tác phẩm cải lương đều được kết thành từ giai điệu vọng cổ.
Tác giả của bài Dạ cổ hoài lang nổi tiếng là cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Ông sinh ngày 22/12/1892 (04/11 năm Nhâm Thìn), tại Long An, lớn lên Ông theo gia đình đến định cư ở Bạc Liêu. Tại vùng đất này, tài năng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu được hình thành và thăng hoa.
Tác phẩm “Dạ cổ hoài lang” ra đời năm 1919. Qua tác phẩm, tác giả muốn gởi gắm tâm sự của người phụ nữ nhớ chồng, để nói lên những bất công, những định kiến hẹp hòi của xã hội đương thời. Đó cũng là nỗi niềm của những con người nơi vùng đất mới được khai phá, với biết bao những bất công của xã hội và những đau khổ do chiến tranh gây ra.
Toàn bài dạ cổ có 20 câu, nhịp tư, như sau:
1. Hò là – xang xê cống,
2. Ú liu cống liu cống xê xang.
3. Hò xê líu cống xê xang là hò,
4. Xề xang xê xang là hò,
5. Liu xáng u liu xang,
6. Liu xáng xàng xề liu ú liu,
7. Hò là xang xê cống,
8. Xê líu xứ cống xê líu xừ xang,
9. Hò xê cống xê xang xự, 
10. Xê líu xừ cống xê xừ xang,
11. Xừ – xang xừ cống xê xang là hò,
12. Xề xang xế là hò xề là hò,
13. Cống xê xang hò – xang cống xê,
14. Xê líu xừ cống xê líu xừ xang,
15. Ú liu cộng liu – cộng xê xàng,
16. Liu xáng xàng xế phạn liu ú liu,
17. Là xự cống xê xang là hò,
18. Xê líu xự cống xê líu xự xang,
19. Ú liu cộng liu cộng xê xàng,
20. Liu xáng xàng xề phạn liu ú liu.
Lời ca:
Từ là – từ phu tướng
Báu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Và năm canh – mơ màng,
Em luống trông tin chàng,
Ôi! gan vàng thêm đau.
Đường dầu xa ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang,
Còn đêm luống trông tin bạn, 
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu,
Vọng – phu vọng luống trông tin chàng,
Lòng xin chớ phụ phàng,
Chàng là chàng có hay,
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây,
Biết bao thuở đó đây sum vầy?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai –
Là nguyện – cho chàng,
Hai chữ bình an – bình an,
Trở lại – gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.
+ Từ năm 1919 – 1923: Bài Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 phát triển lên nhịp 4 và ngày càng trở thành bài ca chủ chốt trong các nhóm đàn ca tài tử bên cạnh bài Tứ đại Oán và một số bài khác.
+ Từ 1923 – 1935: Bài vọng cổ mở rộng từ nhịp 4 lên nhịp 8, bắt đầu lên sân khấu và thay dần cho bài Tứ Đại Oán. Sau đó tiếp tục phát triển lên nhịp 16, nhịp 32 và nhịp 64 cho tới ngày nay.
Sau khi bài Dạ cổ hoài lang được phổ biến rộng khắp và lan nhanh cả vùng Nam bộ vào đầu thế kỷ 20, có 2 nhóm tài tử được hình thành ở miền Đông và miền Tây. Họ luôn ra sức nghiên cứu, cải tiến hoặc cải biên, sáng tác nhiều bài mới bổ sung. Trong đó có ông Ba Đợi, tên thật là Nguyễn Quang Đại, xuất thân là một quan nhạc lễ của triều đình Huế. Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, Ông vào miền Nam sống ở khu vực Đa Kao – Sài Gòn. Ông cùng các học trò của mình ra sức nghiên cứu, trao dồi, cải biên các bài bản gốc của nhạc cung đình Huế có một nhịp điệu hoà hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam bộ, dễ đi vào lòng công chúng, bằng cách giản dị hoá lối ấn nhịp (nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp lơi). Ông có quan điểm thường nhắc nhở học trò: “Lễ phải có Nghi, Nhạc phải có Hoà. Tiếng đàn phải đủ trầm bổng, nhặt khoan”, góp phần phát triển loại hình âm nhạc dân tộc này một cách tích cực. Tuy nhiên có tài liệu và nhiều nhà nghiên cứu cho biết bài Dạ cổ hoài lang, đờn ca tài tử và vọng cổ có ảnh hưởng và xuất phát từ nền tảng của nhạc lễ cung đình Huế.
Ca nhạc tài tử một loại hình âm nhạc đặc trưng cho văn hoá nghệ thuật Nam bộ. Theo các nhà nghiên cứu Nam bộ học cho rằng: Nhạc tài tử Nam bộ dựa theo học thuyết âm – dương ngũ hành và ngũ cung, dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông, với mục đích xây dựng cách sống của con người. Thuở mới định cư ở vùng đất mới, bài vọng cổ là tiếng lòng hoà vào tâm hồn của những người xa quê mà lòng không nguôi nhớ về quê cũ làng xưa.
Thực tế, bài vọng cổ hay nhạc tài tử rất đa dạng, đáp ứng được nhiều khía cạnh tình cảm, hoàn cảnh của con người. Vọng cổ thể hiện nỗi nhớ của người Việt từ biệt nơi chôn nhau cắt rún để cư ngụ ở vùng đất mới. Vọng cổ phản ánh tinh thần văn hoá truyền thống của người Việt trong quá trình thích ứng với tự nhiên Nam bộ. Do vậy, vọng cổ là một sản phẩm văn hoá dân tộc, là món ăn tinh thần của người Việt Nam phổ biến là dân cư Nam bộ.
Tác phẩm Dạ cổ hoài lang là một đóng góp to lớn, có nhiều ảnh hưởng đối với nền âm nhạc và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Một tác phẩm gắn liền với sự ra đời và phát triển của nghệ thuật Sân khấu cải lương mang đậm bản sắc dân tộc.
Tóm lại: Nền tảng của “Đờn ca tài tử” chính là nhạc lễ, một loại nhạc được phát triển vào đầu thế kỷ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Đầu thế kỷ 20, đờn ca tài tử trở thành phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, .v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và phụ cận), và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền Đông là Ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cùng với các nghệ sĩ như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng nhóm tài tử khối miền Tây có Ông Trần Quang Quờn tức ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong,.. Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình, các ấn bản nhạc tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909.

2. Nét văn hoá độc đáo của nghệ thuật “Đờn ca tài tử”:
Khi nhắc đến “Đờn ca tài tử” Nam bộ, người ta không chỉ nghĩ đến cái hay, cái chất giản dị, mùi mẫn, chất phát mà gần gủi của nó mà nó còn tạo được ấn tượng trong lòng mọi người bởi nét độc đáo của nó.
Trước đó ca nhạc tài tử mang tính chất “thính phòng” các ban tài tử và những người tham dự chỉ ngồi trong một không gian tương đối hẹp, đàn ca và thưởng thức lẫn nhau. Sau đó, phát triển hơn họ vừa ca vừa ra điệu bộ (ca ra bộ).
Nói đến “Đờn ca tài tử” là nói đến sự độc đáo của loại hình nghệ thuật này được kết hợp giữa tiếng đàn và điệu hát. Trước hết nó được thể hiện qua bộ nhạc khí, qua thang âm điệu thức, đến ngón đàn, nó tạo nên nét độc đáo đặc thù mang bản sắc của dân tộc, phù hợp với quan điểm, thẩm mỹ của người Việt Nam đặc biệt là dân Nam bộ. Nhạc khí của dân tộc Việt Nam thì rất nhiều nhưng trong loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” thì có 4 loại nhạc khí chính kết hợp với nhau gọi là “tứ tuyệt”.
Tình cảm của con người biểu lộ qua cung đàn, nhưng mỗi ngón đàn lại nói lên tâm hồn của người chơi cũng như diễn tả một tính tình khác nhau, có tiếng đàn khảy lên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên điệu mùi mẫn, nhẹ nhàng, bi ai. 
Sau đây là 4 loại nhạc khí tiêu biểu của “Đờn ca tài tử”:
– Đàn bầu hay còn gọi là độc huyền: cây đàn được chế hoá một cách hết sức giãn dị, chỉ có một dây, dây đàn căng thẳng trên trống đàn; một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm thanh khi nhạc sĩ gảy đàn. Đàn không ngựa, không phím và trên mặt trống đàn chỉ có 3 vạch trắng chia làm 4 cung, các nhạc sĩ thành thạo không cần đến các vạch trắng vì họ đã hiểu cung đàn ở chỗ nào. Trống đàn làm bằng một thứ gỗ đục rỗng thường cỡ 1,2 x 0,12 x 0,16. Tuy đàn bầu chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm khác nhau. Tiếng đàn nghe tha thiết, buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người. Chính vì vậy, người xưa cho rằng những bản nhạc của đàn bầu là “tục nhạc” là “dâm thanh” nên không được đưa vào dàn nhạc Cung đình. Ca dao cũng có câu: 
“Đàn bầu ai gãy nấy nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”
Điều đó phần nào nói lên sức quyến rũ mãnh liệt của cây đàn bầu Việt Nam.

Đàn bầu

Đàn tranh hay còn gọi là thập lục, làm bằng gỗ đục rỗng, có 16 dây, tuỳ theo nhu cầu của âm thanh mà sự căng trùng dài ngắn khác nhau. Những dây này máng trên những ngựa gắn vào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đấu ngón tay phải có móc những móng sắt, móng đồi mồi hoặc bằng nhựa …. Đễ gảy đàn, tay trái ấn trên các sợi dây để lựa âm thanh.

Đàn Tranh
– Đàn cò hay còn gọi là Nhị cũng là một nhạc khí của Việt Nam góp phần cho nhạc tài tử phong phú hơn, hay hơn. Gọi là đàn nhưng khi chơi không phải gảy vào dây như các loại đàn khác mà dùng mã vĩ cọ xát vào 2 dây nhị để tại ra âm thanh. Những nghệ sĩ tài hoa khi kéo nhị tiếng nhị nghe rất êm ái.
Nhị còn có tên là hồ cầm, Nhị có 4 phần: thùng, cần, ngựa và dây. Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt. Cần nhị dài khoảng chừng 0,5m và cấm chặt vào thùng, hai dây nhị được buộc vào đầu cần xuống tới ngựa. Những dây này ăn vào hai trục để lên dây và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần (khuyết là một vòng đồng). 

Đàn Kìm Đàn Cò

– Đàn kìm hay còn gọi là nguyệt cầm, cây đàn này có hình mặt trăng, được ông Trần Quan Quờn cải tiến từ cây đàn nguyệt cổ điển để tiếng kêu được to hơn, nhanh hơn phù hợp với bài bản trong ca nhạc tài tử. Thùng đàn rộng 0,85m (thực tế có khi nhỏ hơn), dái 0,15m, hoàn toàn kín (không giống thùng đàn guitar), cần dài 1,7m, 8 phím, 4 dây. Người sử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 thanh âm tuỳ theo tay vung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.
Ngoài ra, nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ như: đàn gáo, violon, song lang, đàn guitar phím lõm,… Trước đây trong dàn nhạc cải lương hoặc đờn ca tài tử cây đàn kìm giữ vai trò chủ đạo, nhưng sau này thì cây đàn guitar phím lõm được sử dụng nhiều hơn, cây đàn này có gốc từ Tây Ban Nha khi vào Việt Nam được các nghệ nhân chỉnh sửa để phù hợp với đờn ca tài tử, cải lương,… Bên cạnh đó, ở thời đại công nghệ điện tử phát triển như hiện nay thì cây guitar điện phím lõm được xem là nhạc cụ giữ nhiệm vụ chính trong ban nhạc. 

Đàn guitar phím lõm Song lang

Song song với các nhạc cụ là những làn điệu hát căn bản, ba nam sáu bắc đã làm cho bộ môn ca nhạc tài tử trở nên phong phú, đa dạng và thật độc đáo. Hiện nay trong ca nhạc tài tử thì các Nghệ nhân chỉ giữ lại 20 bài tổ bao gồm: ba nam, sáu bắc, tứ oán, bảy bài.
Ba nam gồm: Nam ai, Nam xuân và Đảo ngũ cung, mỗi bài có tính chất âm nhạc khác nhau. Nam xuân thì âm nhạc nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thoát. Nam ai thì ray rứt giàu chất trữ tình. Nam đảo thì có hơi Bắc nên hùng mạnh. Sáu bắc gồm: Tây thi, cổ bản, Bình bán chấn, Xuân tình, Lưu thuỷ, Phú lục, các bài Bắc thì hùng tráng mạnh mẽ hơn. Tứ oán gồm: Phụng cầu, Phụng hoàng, Giang nam, Tứ đại, các điệu thức Oán thì nói lên sự than thở, hận, hờn, những nhớ thương da diết, lắm sự thế nhân tình với bao nghiệt ngã của thiên nhiên, của xã hội lúc bấy giờ. Bảy bài gồm: Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Dạng giá, Tiểu khúc, Xàng xê. Trong bảy bài này thì mỗi bài có mang một hàm ý riêng, bài “xàng xê” theo thuyết ngũ hành thì “xàng là thuỷ”, “xê là hoả” tương khắc nên bản xàng xê có đoạn đứt bằng cung xê hoặc cung xàng. Bài “Ngũ đối thượng” là 5 điều xử thế nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, mà cố nhân quan tâm đề cập cho người trên đối với kẻ dưới. Bài “Ngũ đối hạ” là 5 cái lễ của kẻ dưới đối với người trên nằm trong ngũ thường nho giáo. Bài “Long đăng” là đèn rồng. Bài “Long ngâm” là rồng tịn. . . Khi phát triển thành bộ môn Cải lương, các tác giả đã đưa thêm vào những làn điệu để diễn tả tâm tư tình cảm của mỗi nhân vật trong tác phẩm thêm rõ nét như: Trường tương tư, Văn thiên tường, Phi vân điệp khúc, Vọng kim lang, Đoản khúc lam giang, . . .
Để thể hiện được những bài bản này thì người hát phải tập luyện rất lâu. Bởi vì người hát không chỉ có giọng hát hay, truyền cảm, ấm áp mà phải biết nhịp nhàng, điệu thức của bài hát, phải hát đúng nhịp với đàn thì mới thể hiện được cái hay của bài bản… 
Khi biểu diễn nhạc tài tư, các nghệ sĩ thường trú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử là lối đàn ngẫu hứng. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hoà hợp với nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng một bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hoà. Nhưng có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao – hoặc người ca dùng nói lối – để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho người diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe. 
II. GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1. Góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hoá:
1.1. Định nghĩa du lịch văn hoá:
“Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm nhận bề dày văn hoá của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hoá, những phong tục tập quán còn hiện diện”.
Cũng có nhiều cách biểu đạt khác nhau của định nghĩa văn hoá du lịch, tiêu biểu có 4 cách sau:
* Du lịch văn hoá là tổng hợp của cải vật chất và của cải tinh thần có liên quan đến du lịch.
* Du lịch văn hoá là kết quả tác động lẫn nhau giữa chủ thể du lịch (du khách), và khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) với môi giới du lịch (ngành du lịch).
* Du lịch văn hoá là một loại hình thái văn hoá của đời sống du lịch.
* Du lịch văn hoá là một hình thái đặc thù, lấy nhân tố giá trị nội tại của văn hoá chung làm chỗ dựa, lấy các yếu tố du lịch làm căn cứ, tác dụng với quá trình hoạt động du lịch.
Du lịch văn hoá tức là nội dung văn hoá do du lịch – hiện tượng xã hội độc đáo này thể hiên ra, là văn hoá do du khách và người làm công tác du lịch tích luỹ và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch.
1.2. Nghệ thuật “Đờn ca tài tử” góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hoá:
Khi nói đến nghệ thuật “Đờn ca tài tử” Nam bộ chắc hẳn không ít người biết rằng đây là loại hình văn hoá phi vật thể, mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo của người dân Nam bộ đặc biệt là người dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Trên vùng đất mới này, nhạc tài tử đã thoát thai từ cái gốc nghiêm cẩn bác học của Cung đình Huế, cái chất tế tự đình đám của nhạc lễ mà hoà vào cuộc sống dân dã. Nó hội nhập cùng các điệu lý, các câu hát đối đáp, các giọng hò sông nước để nói lên tiếng lòng của người dân châu thổ qua các làn điệu mới, như bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sỹ Cao Văn Lầu, như các bản vắn của nhạc Tiều, nhạc Quảng, để hình thành một thứ âm nhạc mà ngày nay chúng ta gọi là “ca nhạc cải lương”. Tiến trình âm nhạc này là thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. 
Nếu như miền Bắc có “ca trù”, miền Trung có “nhạc cung đình Huế”, Tây nguyên có “văn hoá cồng chiêng”, thì ở Nam bộ vùng ĐBSCL của chúng ta lại có “đờn ca tài tử”. Tuy chúng ta chưa biết khai thác đúng hướng để tạo thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn nhưng “đờn ca tài tử” Nam bộ đã góp thêm phần phong phú và có giá trị trong kho tàn văn hoá Việt Nam.
Chính vì điều này mà chúng ta cần phải phát triển nghệ thuật “đờn ca tài tử”, trước hết là để bảo tồn nó, sau đó là đưa nó vào hoạt động du lịch để góp thêm sự phong phú, đa dạng cho loại hình du lịch văn hoá của khu vực ĐBSCL, tạo nên các tour du lịch văn hoá hấp dẫn. 
Ngày nay, nhu cầu đi du lịch của du khách phần lớn là muốn được thẩm nhận bề dày văn hoá của một nước, một vùng. Vì vậy, phát triển “đờn ca tài tử” cũng chính là phát triển du lịch mà đặc biệt là loại hình du lịch văn hoá, bởi đây chính là loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo đã được sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam bộ này và được lưu giữ cho đến ngày hôm nay.
2. Tạo sự giao lưu nhận thức của du khách về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của vùng ĐBSCL:
Xu hướmg đi du lịch hiện nay của đa số du khách là không phải chỉ để nghỉ ngơi, vui chơi giải trí mà họ còn muốn được giao lưu học hỏi, tìm hiểu những nét văn hoá mới của những vùng khác, những quốc gia khác. Chính vì thế, việc đưa “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch không chỉ đơn thuần là để phục vụ giải trí mà còn là để tạo sự giao lưu, nhận thức cho du khách về loại hình nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam bộ này.
Việt Nam với 3 khu vực chính đó là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Mỗi vùng có một nét văn hoá đặc thù khác nhau và đây cũng chính là sự hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Nói tới vùng Bắc Bộ của Việt Nam không ai không biết đến nghệ thuật hát chèo, hát ả đào (ca trù). Đây là lối hát múa nhạc đệm do một tốp nữ trình bày. Nó là một thứ nhạc thính phòng cao quí và tồn tại suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta. Hát Ả đào, tất nhiên phải có đào hát với giọng hát khoẻ, trầm và sang, giọng hát phải được rèn luyện công phu từ nhỏ mới giữ được “hơi trong” và buông được hơi “ngoài” trong nghệ thuật ém, nhấn nhã, mà ta nghe thấp thoáng như gần như xa, như cao như tháp, như trong như đục . . . , phát ra từ nơi cuốn họng người hát. Mỗi bài nhạc thường có khúc dạo đầu. Hát Ả đào cũng vậy, trước khi giọng hát cất lên, năm khổ phách cùng trống với đàn quyện vào nhau như tiếng tơ, tiếng trúc và tiếng châu nẩy trên mâm ngọc, vừa tha thiết, vừa sang quí, và nó được tái tạo nhiều lần trong toàn bài.
Khác với Bắc Bộ, tuy cách nhau không xa nhưng vùng Trung Bộ lại có nét loại hình nghệ thuật độc đáo riêng và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế Giới (văn hoá phi vật thể) đó chính là “Nhạc cung đình Huế”. Là loại âm nhạc chỉ để biểu diễn trong cung đình cho Vua chúa và quan lại thưởng thức. Với những nhạc cụ tiêu biểu được chọn lựa kỹ càng cùng những thang âm và điệu thức đặc sắc. Âm nhạc cung đình là sự tập trung những tinh hoa nghệ thuật đặc sắc của nền âm nhạc dân gian truyền thống với nhiều thể loại và bài bản trong âm nhạc cung đình nhưng chủ yếu là phục vụ cho lễ nghi, cúng tế, nhạc cung đình có 7 loại chủ yếu: Giao nhạc, Miếu nhạc, Tế ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung nhạc. Mỗi thể loại nhạc đều có những bài bản riêng biệt được sắp xếp theo thứ tự qui định của bộ lễ lúc bấy giờ. Trãi qua thời gian cùng với những biến đổi thăng trầm của lịch sử, âm nhạc cung đình Triều Nguyễn bị thất lạc cũng khá nhiều nhưng đó cũng là một kho tàn âm nhạc vô giá trong nền âm nhạc Việt Nam. Ở miền Trung còn có một vùng nửa mà văn hoá nơi đây cũng hết sức độc đáo đó là Tây Nguyên. Một vùng đất tuy nhỏ, chỉ có một vài tỉnh nhưng nơi đây có rất nhiều dân tộc sinh sống. Ở vùng đất này chủ yếu là đồi núi, người dân nơi đây sống quanh những ngọn đồi, con suối, buông làng, con người nơi đây đã hoà nhập vào cuộc sống thiên nhiên nên đã sản sinh ra một loại hình văn hoá rất phù hợp với cảnh núi rừng đó là “văn hoá cồng chiêng”. Đây là một loại hình sinh hoạt rất phổ biến và cũng đã đưa vào phục vụ du lịch và cũng được rất nhiều sự quan tâm của du khách. Vừa qua loại hình văn hoá này cũng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế Giới. Khách du lịch rất thích đến đây để được giao lưu, sinh hoạt với những người dân tộc nơi đây để được tìm hiểu nét văn hoá độc đáo này.
Thế thì vùng Nam Bộ (đặc biệt là vùng ĐBSCL) có nét văn hoá gì độc đáo? Và làm thế nào để mọi người từ các vùng miền khác nhau của đất nước biết đến để họ được giao lưu, học hỏi và tìm hiểu về nó? Vì thế , đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch chính là con đường đưa nó đến với mọi người một cách nhanh nhất và tốt nhất.
Nói đến vùng ĐBSCL, ai ai cũng nghỉ đến nơi đây có rất nhiều những con sông lớn nhỏ chằng chịt nhau, với những cánh đồng lúa mênh mông bát ngát, những vườn cây trái trĩu quả, và cũng từ đó đã tạo nên người dân nơi đây một cách sống dân dã, thật thà, bình dị nhưng cũng rất phóng khoáng. Và cũng chính vì thế mà nơi đây đã sản sinh ra một lối sống văn hoá sinh hoạt đời thường hết sức tài tử. Và cũng từ đây đã hình thành nên một loại hình văn hoá nghệ thuật thật độc đáo, nó mang đậm tính cách của người dân nơi đây, đó là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. 
Thật vậy, với bản sắc là một loại nhạc thính phòng, dành để đàn hát cho nhau nghe, bày giải tâm tình, thư giãn tinh thần sau những giờ phút lao động, nhạc tài tử quà là có thế mạnh riêng của nó. Chỉ cần vài cây đàn dây khảy, vài người biết hát thế là gầy được một cuộc chơi lành mạnh, bổ ích, góp vui với làng xóm. Trong những dịp giỗ chạp, hiếu hỉ tại gia đình “Đờn ca tài tử” cũng rất được hâm mộ. Trong các điểm du lịch, các quán ăn dân dã thì “Đờn ca tài tử” rất được du khách yêu thích bởi tính chất thanh nhã, mang hơi hướng dân tộc, không chỉ giải trí đơn thuần mà còn ít nhiều có nội dung giáo huấn, thích nghi với truyền thống “văn dĩ tải đạo” đến nay dẫn còn nhiều giá trị trong xã hội ta.
III. BẢO TỒN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ”:
1. Cách thức bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử”: 
Hiện nay, việc đưa “Đờn ca tài tử” Nam bộ về đúng vị trí đỉnh cao của âm nhạc truyền thống dân tộc để bảo tồn và phát huy vai trò của nó trong đời sống hiện nay đang là nổi trăn trở không chỉ của Nghệ nhân hay giới mộ điệu mà còn ở góc độ quản lý văn hoá tại một chiếc nôi của dòng nhạc này trên đất Phương Nam. Tuy nhiên hiện nay các cơ quan quản lý cũng đã và đang thực hiện một số cách thức để bảo tồn loại hình nghệ thuật này. 
Một số cách thức bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử” hiện nay:
– Tại một số tỉnh hiện nay đưa “Đờn ca tài từ” làm một trong những tiêu chí trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.
– Tổ chức các cuộc hội thi, liên hoan “Đờn ca tài tử” các cấp huyện (thị), tỉnh (TP) kể cả cấp khu vực. Qua đó, kiểm tra tay nghề của Nghệ nhân, để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Đối với các nhà quản lý thì đây là dịp để phát hiện nhân tố mới cho phong trào văn nghệ địa phương, đồng thời nhằm đạt đến sự thống nhất chuẩn mực để đánh giá tác phẩm của nghệ thuật biểu diễn. 
– Hàng năm vào ngày giỗ của nghệ nhân Nguyễn Quang Đại – Cần Thơ vào dịp tết Nguyên tiêu được coi là ngày hội ngộ của giới “Đờn ca tài tử” Nam bộ, đây là nơi gặp gỡ tri ân, là sân chơi dành để ấn chứng tài năng. Đây cũng là một cách để bảo tồn bộ môn nghệ thuật này.
Trong những năm gần đây chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam cũng đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử. Đồng thời xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc tài tử trong nền âm nhạc truyền thống của dân tộc nên hiện nay cũng đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hoá các bài bàn của nhạc tài tử, nghiên cứu thanh âm điệu thức, phương pháp ký âm..v..v.. một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản để loại hình này đa dạng, phong phú hơn.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là nâng cao ý thức cộng đồng, tạo điều kiện để người dân tham gia bảo tồn loại hình nghệ thuậ này. Bởi một khi cộng đồng địa phương đã thấu hiểu vấn đề cần thiết phải bảo tồn, họ sẽ tích cực tham gia cùng với các cơ quan quản lý.
2. Giáo dục ý thức bảo tồn:
Đất nước thời mở cửa, để giao lưu hợp tác với các nước bạn không thể tránh việc du nhập và giao lưu với các nền văn hoá, đối tượng dễ bị lai căng là giới trẻ ngày nay, họ không còn thích những loại nhạc du dương mang tính trữ tình lãng mạn, càng không thích nghe những điệu lý, câu hò, những bài vọng cổ,… mà họ lại thích các loại nhạc rock, ráp,..sôi nổi. Vả lại trong thời buổi kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường, muốn theo kịp thời đại thì người ta phải tất bật với công việc để có mức thu nhập ổn định, đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng cao, vì thế làm cho họ ngày càng xa rời với nghệ thuật truyền thống. Bởi lẽ, trong thời buổi như hiện nay người dân không còn ngày chỉ 2 buổi ra ruộng mà họ phải luôn bận rộn với công việc nên không còn nhiều thời gian rảnh rổi để ngồi lại đàn hát cho nhau nghe. Từ đó cho thấy việc đưa “nhạc tài tử” Nam bộ về đúng vị trí đỉnh cao của âm nhạc truyền thống dân tộc để bảo tồn và phát huy vai trò của nó trong đời sống văn hoá hiện nay đang là nổi trăn trở không chỉ của nghệ nhân hay giới mộ điệu mà còn ở góc độ quản lý văn hoá.
Từ khi Việt Nam xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và ra sức kêu gọi đầu tư phát triển cho ngành du lịch thì văn hoá Việt Nam ngày càng được lan rộng ra các nước, tạo thế đứng ngày càng vững chắc cho ngành du lịch Việt Nam. Vì thế, ngành du lịch Đồng bằng sông Cửu Long nếu muốn phát triển theo hướng bền vững thì cần phải giáo dục ý thức cộng đồng một cách sâu sắc về bảo tồn và phát triển văn hoá của vùng.
Xác định được giá trị của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là một trong những kho tàn nghệ thuật của văn hoá Việt Nam và là nét nghệ thuật điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc đặt ra trước mắt là làm thế nào để giáo dục ý thức bảo tồn của cộng đồng để loại hình nghệ thuật này được lưu giữ và không bị thất truyền.
Thứ nhất: Giáo dục cho cộng đồng biết rằng trong cuộc sống hiện đại rõ ràng chúng ta có đi theo hướng hiện đại, phù hợp với nhịp điệu công nghiệp và có giao lưu giữa các nền văn hoá của nhân loại nhưng phải tiếp thu có chọn lọc và vẫn cứ phải lấy nội dung văn hoá dân tộc làm định hướng chính và phải chấp nhận sự tồn tại của nghệ thuật dân tộc như là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá Việt Nam.
Thứ hai: Đối tượng mà chúng ta muốn giáo dục trước tiên là giới trẻ, ông bà ta thường có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Vì vậy, đối tượng học sinh, sinh viên là mục tiêu giáo dục hàng đầu vì đây là lực lượng kế thừa nghệ thuật cho tương lai. Vì vậy cần đưa bộ môn nghệ thuật này vào tất cả các trường chứ không chỉ gói gọn trong trường sân khấu nghệ thuật, để tất cả giới trẻ có thể hiểu về môn nghệ thuật này, từ đó có định hướng cho mình. 
Thứ ba: Đối với những người trong nghề, chúng ta nên khuyến khích họ giữ gìn và phát huy môn nghệ thuật này. Mặc dù chúng ta đến với nó thì không tạo được mức thu nhập cao như những ngành nghề khác, nhưng chúng ta đến với đờn ca tài tử vì sự yêu thích, say mê, nặng tình với nghệ thuật này.
Thứ tư: Chúng ta nên tuyên truyền rộng rải trên các phương tiện thông tin đại chúng để cộng đồng hiểu được nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của vùng mình là một nét văn hoá độc đáo của dân tộc, chẳng hạn như chúng ta làm các chương trình “văn hoá đồng bằng, ngày hội văn hoá của khu vực đồng bằng sông Cửu Long,… trong đó đi sâu vào vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật “đờn ca tài tử” thường xuyên trình chiếu trên đài truyền hình.

http://www.conhacvietnam.com/diendan/viewtopic.php?f=348&p=62398#p62398

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s