WIKIPEDIA : Nguyễn Vĩnh Bảo


Nguyễn Vĩnh Bảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Image
 
 

Nguyễn Vĩnh Bảo (sinh 1918) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnhtỉnh Sa Đéc trong một gia đình nho học rất yêu thích đờn ca tài tử. Ông là giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống vừa là nhạc sĩ trình tấu, lại kiêm cả nghệ nhân đóng đàn.[1] Ông cũng là người cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.[2]

Sự nghiệp

Từ lúc 5 tuổi ông đã biết chơi đờn kìmđờn cò, 10 tuổi biết chơi rất nhiều các loại nhạc cụ dân tộc.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy môn đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra ông cũng đã đi diễn thuyết giới thiệu và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới.

Năm 1972 ông cùng giáo sư Trần Văn Khê diễn tấu ghi âm đĩa Nhạc tài tử Nam bộ cho hãng Ocara và UNESCO tại Paris (Pháp) năm 1972.

Từ năm 1970-1972 ông là giáo sư đặc biệt thỉnh giảng về đàn tranh tại Đại học Illinois (Mỹ).

Năm 2005 nhạc sư Vĩnh Bảo và giáo sư Trần Văn Khê được phát giải thưởng Đào Tấn của Việt Nam tại TPHCM.

Đến năm 2008 nhạc sư Vĩnh Bảo cũng được chính phủ Pháp tặng huy chương nghệ thuật và văn học.[3]

Chú thích

THU TỨ : TRẦN VĂN KHÊ NGHĨ VỀ NHẠC


Bài viết của tác giả Thu Tứ (Đoàn Thế Phúc sn 1955) đăng trên web GOCNHIN.NET
 

Bài viết này đưa ra phổ biến trong năm 2012. Mới đây (đầu tháng 1-2014), chúng tôi có nhận được thư trao đổi của GS-TS Trần Văn Khê. Giáo sư cho biết:

“Tôi vừa đọc bài “Trần Văn Khê nghĩ về nhạc” của ông đã viết từ lâu đăng trên trang gocnhin.net, mà môn sinh của tôi vừa tìm thấy gửi cho tôi. Tôi vô cùng cảm động và có cảm giác là đờn Bá Nha đã gặp được lỗ tai Chung Tử Kỳ. Có lẽ chưa ai đọc những thiên hồi ký và các bài tiểu phẩm của tôi đã đăng mà rút ra được tất cả những gì tôi muốn gởi gấm cho thế hệ mai sau như một thông điệp. Cái hạnh phúc lớn nhất của một tác giả là được độc giả hiểu mình có thể ngang qua những dòng chữ, kể cả những điều mình chưa nói rõ ra bằng văn bản”.

Giáo sư cũng có nêu lên hai khuyết điểm trong bài viết, đều nằm trong lời tổng quan của bài. Một, là đôi chỗ nói về thái độ của Giáo sư đối với tân nhạc. Hai, là mấy chữ “lòng tự tôn dân tộc” khi kể lại lời GS khuyên nhạc viện quốc nội treo chân dung nhạc sĩ Việt Nam.

Về vấn đề thứ nhất, sau khi được Giáo sư cho biết tường tận về các hoạt động liên hệ đến âm nhạc của ông, chúng tôi thấy rằng nhận xét của mình quả thực không chính xác. Về vấn đề thứ hai, chúng tôi nhận ra ngay mình đã sơ ý: phải viết là “lòng tự hào dân tộc” thì mới đúng.

Chúng tôi xin trân trọng cám ơn Giáo sư Trần Văn Khê đã vui lòng chỉ cho hai khuyết điểm trên.

Sau đây là bài viết với lời tổng quan được sửa lại.

(Thu Tứ)

 

Trần Văn Khê nghĩ về nhạc

 

ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẠC VIỆT XƯA
– Êm ái và dịu dàng
– Phải đẻ, trái nuôi
– Mềm hơn nhạc Tàu
– Vừa biểu diễn vừa sáng tạo
– Nhịp hai, nhịp hai…
VIỆT GẶP TÂY: ĐIỀU CẦN NÓI
– Phát triển, tiến bộ
– Kỹ thuật và văn hóa
– Đâu phải mau là hay
VIỆT GẶP TÂY: CHUYỆN ĐAU LÒNG
– Tự ti thê thảm
– Say sưa hào nhoáng
– Mua nghe như điên
– Bỏ truyền thống!
– Quỳ lạy khách!
CẢM NGHĨ MIÊN MAN
– Tiếp xúc với nhạc
– Bản nhạc hóa món hàng
– Mất đất, mất luôn nhạc
– Mặc áo gi-lê đánh đàn bầu
– Cho lòng khỏi phiêu dạt

Nhắc Trần Văn Khê, nhớ ngay cái câu “Thân tuy tại ngoại, hồn tại quê hương”. 

Ai xa quê hương chẳng nhớ, nhưng chắc ít ai đêm ngày lo lắng có ngày mình thôi nhớ! Trần Văn Khê, để tự đảm bảo chính ông sẽ suốt đời “thở hơi thở chung của dân tộc”, đã chẳng hạn, cố ý thường xuyên ăn uống giống hệt như hồi còn ở trong nước. Người khác ăn cá kho tộ chỉ vì thèm, Trần Văn Khê ăn cũng vì thèm nhưng lại thêm vì muốn cái lưỡi của mình nó không bao giờ trở nên thờ ơ với cá kho tộ (mà đi quấn quýt với pa-tê, xúc-xích). Ăn món quê để khỏi quên quê, cái ý đơn giản mà cảm động.

Không phải chỉ những “thân tại ngoại” mới cần chăm bón tinh thần yêu nước. Trần Văn Khê từng ngỏ lời khuyên các nhạc viện quốc nội nên treo chân dung nhạc sĩ Việt Nam xuất sắc để trẻ đến học dễ nẩy nở lòng tự hào dân tộc. Thêm một ý đơn giản mà cảm động.

Hết sức thiết tha với nước, tất nhiên Trần Văn Khê cực kỳ sốt ruột trước tình trạng dân nhạc đang nhanh chóng biến mất khỏi đời sống thường ngày của người Việt Nam. Nhằm phục hưng dân nhạc, ông từng sôi nổi hô hào dạy người lớn hát ru, dạy trẻ em học nhạc ngũ cung, dạy nông dân hò đối đáp v.v. 

Nhiệt tình của ông thực đáng trân trọng, nhưng thiết tưởng mọi cố gắng thay đổi tình hình đều hoàn toàn vô ích! Nhạc truyền thống trong môi trường truyền thống như cá trong nước, vẫy vùng không cần ai dạy bơi nhắc lội, nhưng hễ môi trường “cạn” thì nó phải “ngáp”. Cả nước đang chạy như bay vào thời hiện đại, toàn thể cái Quê mấy ngàn năm tuổi đang ào ào hóa Phố, còn “nước” đâu nữa mà Trần Văn Khê bảo “cá” quan họ, “cá” chèo, “cá” ru, “cá” hò, “cá” lý v.v. tiếp tục thung thăng!(1) 

Nhắc thời hiện đại, nhớ tân nhạc. Vào buổi đầu của nhạc Việt Nam mới, cũng chính Trần Văn Khê đã rất hăng hái cổ động cho nó. Khi nhận lời chỉ huy dàn nhạc trường Đại học Hà Nội, ông đã “đặt điều kiện” với ban tổ chức rằng cứ mỗi lần ông “tập cho dàn nhạc đàn một bản phương Tây thì dàn nhạc phải biểu diễn cho tôi một sáng tác mới của Lưu Hữu Phước”! Trần Văn Khê còn tham gia sáng tác với bài “Đi chơi chùa Hương” (1946) và khi sang Pháp năm 1949 đã hát ghi dĩa trên 30 bản tân nhạc (của Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Lê Thương v.v.) dưới bí danh Hải Minh. Thực ra từ năm 1953 Trần Văn Khê mới bắt đầu chuyển trọng tâm qua cổ nhạc, sau khi “ngộ thấy rõ hai ngôn ngữ âm nhạc Tây và Đông khác nhau trong căn bản” và thấy phải có người đứng ra hết sức công phu tìm hiểu để biểu dương đích đáng âm nhạc truyền thống Việt Nam. Nhưng vừa làm việc ấy, ông vừa tiếp tục quan tâm theo dõi hành trình của tân nhạc.

Chắc chắn ông đã vui lòng. Vì tân nhạc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn hóa dân tộc. Nghe nhạc Tây, học lối ký âm và học dùng nhạc cụ Tây, rồi chẳng bao lâu ta dựng lên cả một nền thanh nhạc mới độc đáo, đa dạng, phong phú, với rất nhiều nhạc phẩm hay đến mức diệu kỳ! Tân nhạc đáp ứng hoàn toàn tốt đẹp nhu cầu của mọi người Việt Nam xuyên suốt một thời kỳ lịch sử tuy tương đối ngắn mà đầy xáo trộn thật lớn. Có thể nói tâm tình dân tộc thay đổi đến đâu, tân nhạc đã sáng tạo tài tình theo đến đấy! Từ lãng mạn tiền chiến chuyển qua cách mạng, kháng chiến, rồi nơi thì tiếp tục cách mạng, kháng chiến, nơi thì ra đời “mùi” và tình tự dân tộc và phản chiến và “trừu tượng” (chữ Phạm Duy về nhạc Trịnh)… Đủ thứ nội dung, mà từng bài lắm bài chẳng nhạc ở đâu hơn được, mà như đặt tất cả lại với nhau thì nếu đặt vấn đề liệu nền thanh nhạc mới của nước ta có phải là nhất thế giới hay không, thiết tưởng không phải là làm chuyện ngông cuồng!(2)

Trong văn hóa, không có chuyện tay trắng nên triệu phú. Sở dĩ tân nhạc Việt Nam đặc biệt ưu tú, ấy chắc chắn là do cổ nhạc Việt Nam vượt trội. Tuy chỉ trong một số ít trường hợp, mà sáng tác của Phạm Duy là ví dụ nổi bật, ảnh hưởng của nhạc Việt xưa mới thấy được rõ ràng, nhưng nhất định chính nhờ đứng trên cái nền cũ rất cao mà các nhạc sĩ Việt hiện đại mới siêu thành đạt. Thái Bá Vân từng nói: “… cái linh ứng nghệ thuật tài hoa của thế hệ trẻ chính cũng là từ truyền thống sâu xa (…) của nghệ thuật dân tộc”.(3) Lời ấy không chỉ đúng riêng cho hội họa, mà đúng cho tất cả các ngành nghệ thuật, trong đó có âm nhạc. Cứ hễ sáng tạo bằng tâm hồn, là người Việt ta sáng như gương!

Dĩ nhiên Trần Văn Khê vui về “tân” là một chuyện, còn ông buồn về “cổ” thì vẫn cứ là một chuyện…

Trần Văn Khê là một đứa con ưu tú và chung tình của Mẹ. Ngoài những chuyên khảo, cái biết sâu sắc của ông về âm nhạc nói chung, về âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng, còn được trình bày trong một tập ký nhan đề Tiểu phẩm và trong một bộ hồi ký dài năm tập. Ngoài đề tài chính, ký và ký chứa cả những nhận thức, nhận định về văn hóa, văn minh v.v. Sau đây là một tuyển trích đoạn có giá trị tiêu biểu cho tâm tư và trí tuệ của tác giả.

ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẠC VIỆT XƯA

Êm ái và dịu dàng

Lời ca tiếng nhạc cổ truyền êm ái và dịu dàng 

(Hồi ký Trần Văn Khê, nxb. Trẻ, VN, 2001, q. 3, tr. 110)

“Lời ca tiếng nhạc” là cái bóng của văn hóa trên tấm gương âm thanh.

Hình phải thế nào thì bóng mới “êm ái và dịu dàng” thế chứ.

Vẫn cái gương ấy, ở phương Tây bây giờ trông vào thấy… bắt rùng mình. Không nhìn gương nữa, quay nhìn cái để bóng trên gương, eo ôi!

Phải đẻ, trái nuôi

“Zheng” của Trung Quốc (…) đàn tranh của Việt Nam (…) đàn koto của Nhật Bổn cùng một loại nhạc khí (…) Đàn koto (…) bàn tay mặt có nhiều thủ pháp mà đàn tranh Việt Nam không có. Ngược lại cách nhấn của người Việt rất phong phú và tinh vi (…) Theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sinh ra âm thanh, bàn tay trái nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh. Sanh ra mà không nuôi dưỡng, thì không sanh làm gì (…) Tay mặt sanh ra cái xác, tay trái tạo ra cái hồn (Tiểu phẩm, nxb. Trẻ, VN, 1997, tr. 172-174)

Đờn tranh (…) Cách nhấn thì rất phong phú và tinh vi, có nhấn-vuốt, nhấn-rung, nhấn-mổ, nhấn mượn hơi. Mổ thì mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây, phối hợp tất cả để âm thanh trở nên sinh động hơn (…) Vừa nhấn vừa mổ, trong kỹ thuật đờn gu zheng (cổ tranh) không có (HKTVK, q. 2, tr. 140, q. 4, tr. 133)

Người Việt Nam khi đờn phải nhấn nhá, hát thì phải luyến láy (…) Bàn tay mặt đánh ra thanh có độ cao, độ dài, có tiếng to tiếng nhỏ, có cả màu âm, mà chưa có chất nhạc. Chỉ khi bàn tay trái nhấn vào biến thanh thành âm mới có chất nhạc: bàn tay mặt sanh ra xác còn tay trái tạo ra hồn (…) Nhấn nhá (…) có (…) rung lơi, rung nhặt (HKTVK, q. 5, tr. 78-79, 326)

Dĩ nhiên không phải đợi có đàn tranh (gốc Tàu) thì người Việt mới “phải đẻ, trái nuôi” khi đàn.

Nhạc cụ vừa lâu đời vừa độc đáo của dân tộc Việt Nam là đàn bầu. Cái âm thanh của nó quyến rũ tới nỗi cha mẹ phải dặn con: “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”! Sở dĩ tiếng đàn bầu đặc biệt “nguy hiểm”, ấy chính nhờ mấy ngón tay trái của người đàn: khi rung, khi vỗ, khi vuốt, khi luyến v.v. (4)

Trên bìa sau của bộ Hồi ký, Trần Văn Khê cho in hai câu thơ của Văn Tiến Lê ca ngợi đàn bầu:

“Một dây nũng nịu đủ lời
Nửa bầu chứa cả một trời âm giai.”

Vì trước đã quen “nuôi” bầu, nên sau gặp tranh mới nảy ý “nuôi” tranh mà Việt hóa được tranh!

Mềm hơn nhạc Tàu

DANH CẦM TRUNG QUỐC HỌC NHẠC VIỆT NAM (…) năm 2000 (…) môn sinh mới (…) danh cầm đờn tỳ bà tên Liu Fang (…) Lưu Phương (…) Tôi cho biết hai nền âm nhạc khác nhau ở điểm nhạc Trung Quốc chú ý nhiều đến kỹ thuật điêu luyện còn Việt Nam đặt trọng tâm về mặt nghệ thuật và tình cảm. Bài bản của Trung Quốc thường cố định trong khi bài bản Việt Nam biểu diễn theo cách học “chân phương” mà đờn “hoa lá” tức là có thêm thắt thay đổi (HKTVK, q. 5, tr. 321-323) 

Nghe kỹ thuật, nghĩ ngay đến máy móc. Nghe nghệ thuật, nghĩ đến tự nhiên. 

Máy móc thì cứng đơ, bất biến. Tự nhiên thì uyển chuyển, do đó biến hóa liên tục.

Không phải máy thì không thể đẹp, nhạc nhấn mạnh kỹ thuật thì không thể hay. Ai thích vẻ đẹp của máy, vẻ hay của nhạc điêu luyện thì cứ việc thích, chỉ xin đừng tưởng rằng cái đẹp ấy cái hay ấy là cao hơn cái đẹp của tự nhiên cái hay của nhạc mỗi lần biểu diễn một khác, mà BÉ CÁI NHẦM.

Đây Trần Văn Khê so nhạc Việt với nhạc Tàu. Nếu đem so Việt với Tây thì chỗ khác nhau còn dễ thấy hơn, vì nhạc Tây lại càng nhấn mạnh kỹ thuật.

Vừa biểu diễn vừa sáng tạo!

(Nhạc) ghi thành bản rồi nó sẽ (…) xơ cứng. Trong khi đó những điệu thức (…) thể hiện mỗi lần mỗi khác nhau (…) thiên hình vạn trạng (…) biến hóa vô tận (…) ngày hôm nay đờn nghe khác hẳn với ngày hôm qua. Do đó không thể lấy số lượng bài bản đưa ra so sánh với số lượng điệu thức (…) Liu Fang (…) nói (…) chưa bao giờ thấy thích thú như mấy hôm nay (…) nhạc Việt Nam (…) cho phép nhạc sĩ sáng tạo trong khi biểu diễn (HKTVK, q. 3, tr. 76, q. 5, tr. 324)

Người khác đàn một bài, người Việt Nam đàn một “điệu thức”.

Nghĩ đến nhân tạo và tự nhiên. Một trăm nghìn xe hơi xuất xưởng, xe nào cũng y hệt như xe nào. Một trăm nghìn khóm hồng nở hoa, chẳng khóm nào giống hệt khóm nào. Khi ta đàn, ấy là một điệu thức đang… nở thêm một lần nữa, không giống hệt bất cứ lần nở trước nào, trong vô số lần đã nở.

Lại nghĩ đến cứng và mềm. Bài cứng, điệu mềm… Dĩ nhiên, vì Hoa cứng, Việt mềm.(5) 

(Và Tây thì còn cứng hơn cả Hoa!)

Nhịp hai, nhịp hai…

Những bạn Á Rập (…) nhấn mạnh (…) tiết tấu âm nhạc của họ căn cứ trên bước đi của con lạc đà (…) Tiết tấu của dân tộc mình ở đâu mà ra, tại sao lại có nhịp hai mà lại không có nhịp ba (…) Theo tôi tiết tấu trong âm nhạc Việt Nam căn cứ vào con người và môi trường sống: con người sanh ra có trái tim đập, con mắt chớp, hơi thở ra vào, bước đi, tất cả đều là tiết tấu và là nhịp đôi. Trong môi trường sống, chiếc võng người mẹ nằm ru con, đưa qua đưa lại kẽo cà kẽo kẹt, cây tre đầu làng ngả nghiêng theo gió, thủy triều nước lớn nước ròng, tất cả đều là tiết tấu nhịp hai. (HKTVK, q. 3, tr. 286-287)

Nhịp hai với nhịp ba, tức nhịp chẵn với nhịp lẻ.

Không chỉ khi làm nhạc, mà cả khi làm thơ, người Việt vốn cũng thiên về nhịp chẵn. Thơ bốn chữ, thơ lục bát và cả thơ mới đều theo nhịp chẵn.

Tại sao ta thiên về chẵn?

TVK bảo ấy là căn cứ vào nhịp tim đập, nhịp mắt chớp, nhịp hít thở, nhịp võng đưa, nhịp tre ngả nghiêng, nhịp nước lớn ròng v.v. 

Nhưng nhân loại nơi nơi đều có tim, có mắt, có phổi, thủy triều nơi nơi đều lên xuống! 

Ngẫm, rồi nghĩ đến nếp sống. 

Dân tộc Việt Nam sống định canh đã từ lâu lắm. Ở nguyên một chỗ đời nọ qua đời kia, đời nào cũng cày cấy, gặt hái, cày cấy, gặt hái…, ta sống “chẵn” chứ còn gì nữa! Trong khi những dân tộc du mục thì nay đây mai đó, vừa chăn nuôi vừa buôn bán vừa thỉnh thoảng cướp bóc (!), họ sống “lẻ” rõ ràng!

Thiết tưởng nhịp nhạc xuất phát từ nhịp sống.

VIỆT GẶP TÂY: ĐIỀU CẦN NÓI

Phát triển, tiến bộ

Không ít người lầm tưởng rằng phát triển, tiến bộ luôn đi đôi với Âu hóa (6)

Tây phương tự xem mình “phát triển”, “tiến bộ”. 

Ấy, Tây chỉ developed với advanced về văn hóa vật chất mà thôi. Và thực ra chỉ hơn Đông về vật chất tương đối gần đây thôi. Mới hồi thế kỷ 15, Tây Trung cổ qua Tàu còn phải lác mắt vì điều kiện vật chất ở Tàu lúc bấy giờ hơn ở Tây xa lắm.

Từ nguyên thủy đến mức nào đấy, hễ văn hóa vật chất lên thì văn hóa tinh thần cũng lên. Nhưng trên mức ấy, thì không nhất thiết xảy ra đồng hành nữa.

Văn hóa vật chất Tây phương đã tiến bộ “vượt mức”. Từ khá lâu, ở Tây phương vật chất lên tinh thần xuống. 

Bây giờ Đông đang Tây hóa, tức đang nâng mình lên về vật chất, hạ mình xuống về tinh thần.

Hóa thành bất cứ ai khác đã buồn, nói chi thành kẻ thấp hơn mình!

Buồn thì buồn, không hóa Tây thì chết với Tây!

Kỹ thuật và văn hóa

Từ đó đi đến chỗ tin rằng, nếu kỹ thuật của họ cao, thì văn hóa họ cũng cao, chớ không nhớ rằng chỉ cần hai mươi lăm năm có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư, trong khi phải trải qua cả trăm, cả ngàn năm mới tạo được một nền văn hóa (TP, tr. 46)

Kỹ thuật cao là quả của một loài cây văn hóa. Cây ấy cũng phải mọc lâu lắm mới có quả. Kỹ thuật cao, nghĩa là văn hóa cao.

Nhưng văn hóa cao không nhất thiết nghĩa là kỹ thuật cao. Vì cây văn hóa có loài không ra quả kỹ thuật.

Vì cây nho có quả nho, cây chuối không có… quả nho, mà cho rằng nho “cao” hơn chuối, là ngốc.

Đâu phải mau là hay

Vừa trở về Pháp, tôi phải lên đường sang Liên Xô tham dự Diễn đàn Âm nhạc châu Á (…) tổ chức tại Alma Ata, thủ đô nước (…) Kazakhstan (…) (…) Ðặc biệt nhứt của vùng này là cây đờn dombra truyền thống, có thùng hình bầu dục, cần rất dài, phím không phải bằng tre hay kim loại mà bằng gân con trừu, có thể xê dịch được thành những quãng không cố định, hoặc thấp hơn hoặc cao hơn các quãng thông thường một chút, nhờ vậy màu sắc thang âm hết sức phong phú. Tôi đã được nghe tiếng đờn dombra trong một dĩa hát nên khi qua Kazakhstan tôi háo hức chờ nghe (…) Nhưng khi quan sát cây đờn tôi bất ngờ thấy nó đã bị chỉnh lại, phím gân trước kia xê dịch được (…) nay bị cột chặt lại. Tôi rất thất vọng bởi giờ đây khi đánh lên âm thanh nghe như tiếng đờn mandoline, với thang âm bình quân như đờn piano chứ không còn đầy màu sắc như ngày trước. Trong hội nghị này đoàn Kazakhstan giới thiệu chương trình đại qui mô với dàn nhạc dân tộc gồm hàng trăm cây đờndombra (…)

– Dàn nhạc có cả trăm cây đờn, nếu để như cũ thì mỗi đờn âm thanh mỗi khác sẽ không hòa được với nhau.

– Tại sao phải cần đến cả trăm cây (…) Các anh sửa (…) như vậy có hơn được cái cũ không?

– Có chớ, có điểm hay hơn là đờn hòa với nhau không lạc giọng, lại có cái lợi là khi đờn thiệt mau không bị lạc phím.

– Tuy hòa đờn không bị lạc phím nhưng lại thành đơn điệu. Thang âm của nhạc dân tộc Kazakh rất độc đáo, muốn đờn mau như thang âm bình quân của piano thì không còn bản sắc dân tộc nữa. Ðối với nghệ thuật không nên chú trọng tới chuyện nhanh hay chậm mà quan trọng là có đi vào lòng người hay không. Âm nhạc là tiếng nói. Ðâu phải nói mau là hay. (HKTVK, q. 2, tr. 226-232)

Nhạc diễn cảm xúc. Diễn thế nào là tùy cảm xúc thế nào. Cảm xúc vô số loại. Vậy nhạc cũng phải vô số loại.

Bảo nhạc mau hay hơn nhạc chậm, tức bảo cảm xúc cũng có hơn kém!

Mau không hay hơn chậm, mà đại hợp tấu hàng trăm thứ nhạc cụ cũng không hề hay hơn độc tấu đúng một nhạc cụ: những cảm xúc của người Việt xưa diễn lên bằng một cây đàn bầu hay đàn tranh thì chắc chắn hay hơn bằng một trăm cây đàn bầu hay đàn tranh! 

Ấy thế mà có những người Việt đang hì hục xây thứ dàn nhạc giao hưởng trăm bầu, trăm tranh. Có cả những người vất luôn bầu với tranh đi mà rước cả đống violon về để tấu bài Cò Lả! Rõ chán mớ đời.

VIỆT GẶP TÂY: CHUYỆN ĐAU LÒNG

Tự ti thê thảm

Những hoàn cảnh lịch sử, xã hội, những điều kiện vật chất, kinh tế đã làm cho thanh niên (…) không còn hiểu rõ được truyền thống dân tộc, không hiểu mới sinh ra “tự ti”, vì tự ti, mới sinh ra vọng ngoại (TP, tr. 51)

Những nguyên nhân làm mất đi bản sắc dân tộc (…) Lý do chánh trị, lịch sử: người dân các nước thuộc địa bị các đế quốc thống trị làm cho quên đi bản sắc dân tộc mà chấp nhận bản sắc của “mẫu quốc” (…) Lý do tâm lý (…) dân bị trị tự ti mặc cảm, thấy cái gì của mình cũng thua người ta (…) Lý do kinh tế: những gì dính dáng đến bản sắc dân tộc thường bị (…) trả tiền thù lao rất thấp (…) Lý do xã hội: nếp sống thay đổi (HKTVK, q. 3, tr. 297-298)

Bệnh tự ti mặc cảm (…) phải trị căn chớ không thể trị chứng. Phải đi từ đầu, khuyến khích các bà mẹ hát ru con; dạy những bài đồng dao cho trẻ thơ; khuyến khích người nông dân hát hò trong lúc làm việc ngoài đồng; đưa âm nhạc cổ truyền vào các trường; đài phát thanh, truyền hình, báo chí nên có những chương trình, bài báo về âm nhạc dân tộc (HKTVK, q. 3, tr. 299)

Trần Văn Khê chẩn bệnh chính xác. Bệnh ấy, chúng tôi có lần tóm tắt: “Thua vật chất, mất tinh thần, bỏ tinh thần.”(7)

Ông Trần đưa ra một cách chữa. Chúng tôi thì cho rằng bệnh nan y. Nghệ thuật phải hợp với nếp sống, người Việt bây giờ không sống như cha ông trước kia nữa, làm sao ta phục hồi nghệ thuật cũ được? Các bà mẹ trẻ Việt Nam thế kỷ 21 không chịu hát ru con đâu!

Cái “căn” của bệnh tự ti là tình trạng thua người về vật chất. Hễ hết thua sẽ hết bệnh, không cần chữa. Rắc rối là để bắt kịp Tây về vật chất, ta đang Tây hóa nếp sống của mình. Sống như Tây lâu ngày, ta sẽ cảm nghĩ giống Tây. Tức ngoài bệnh tự ti bắt đầu sớm, sinh mạng văn hóa ta đến lúc nào đó còn bị thêm một đe dọa nữa, – đe dọa tối hậu -, là diễn biến Tây hóa tự nhiên. Nó đã bắt đầu rồi!

Mới đây, tình cờ nghe thanh niên nọ tỉnh bơ phát biểu: “Quan họ làm sao hay bằng nhạc giao hưởng”! 

Một mặt, dĩ nhiên bạn trẻ ngây thơ về nghệ thuật. Quan họ và nhạc giao hưởng thuộc hai mô hình thẩm mỹ hoàn toàn khác nhau, so sánh sao được! Nếu xét quan họ theo tiêu chuẩn của nhạc giao hưởng, quan họ chắc chắn dở. Ngược lại, nếu xét nhạc giao hưởng theo tiêu chuẩn của quan họ, nhạc giao hưởng cũng chắc chắn dở. Không có tiêu chuẩn nghệ thuật có giá trị xuyên mô hình, xuyên văn hóa.(8) 

Mặt khác, ý kiến trên có chỗ đáng chú ý: bạn trẻ là người Việt mà lại đi đánh giá nhạc truyền thống Việt theo tiêu chuẩn của nhạc truyền thống Tây! Hiện nay bao nhiêu phần trăm thanh niên Việt giống bạn?

Con cháu bệnh biến, truyền thống giữ làm sao đây, tổ tiên ơi!

Say sưa hào nhoáng

Tuy được tiếp xúc với nhiều nền âm nhạc (…) khắp hoàn cầu nhưng tôi một lòng yêu quí nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, không bị quyến rũ bởi cái hào nhoáng bên ngoài mà quên cái tế nhị kín đáo bên trong. (HKTVK, q. 3, Lời nói đầu)

“Hào nhoáng” là cái nhà to đùng lộng lẫy, là cái đám người ăn mặc cầu kỳ sang trọng bước vào nhà, là cái ông đeo găng tay trắng cầm que đứng vung vẩy trên bục, là bao nhiêu nhạc công ngồi ôm bao nhiêu nhạc khí… 

Hào nhoáng là cái sân khấu đèn đuốc sáng choang, là một hai ba bốn năm sáu kẻ vận y phục “tự chế” nhảy nhót uốn éo vặn vẹo lắc ngoáy như đang lên đồng (đồng Tây!), là trùng trùng khán giả cũng đang “lên”!

Và thử ngẫm xem, dù quý tộc dù bình dân, dù truyền thống dù hiện đại, bản thân cái thứ âm thanh gọi là nhạc ở phương ấy bao giờ nó cũng “hào nhoáng”!

Nhoáng tai nhoáng mắt, thảo nào rất dễ “nhoáng” cả lòng, mà thấy… ôi hay!

Mua nghe như điên

Trên thị trường (…) tràn ngập đĩa hát, chương trình phát thanh, video, truyền hình, phim điện ảnh do các nước tiên tiến về kỹ thuật tung ra, bán khắp nơi (…) cuộc “tấn công văn hóa” (TP, tr. 49, 55)

Họ bán  mình chịu mua, bổ sấp bổ ngửa chạy đi mua, giành giật nhau mua. Cứ hễ Tây là hay, bất kể Tây truyền thống hào nhoáng trịnh trọng hay Tây hiện đại hào nhoáng bình dân.

Dĩ nhiên nhạc Tây có thể hay chứ, thậm chí có thể có những tác phẩm vượt được tường văn hóa mà vào lòng ta cách chính đáng chứ. Vấn đề ở đây là dù nhạc Tây dở, ta vẫn sẵn sàng rước vào tai.

“Vai mang bị bạc kè kè, nhạc quấy nhạc quá nẫu nghe ầm ầm”!

“Bạc” nó không chịu ở trong “bị” của ai lâu đâu. Tây có thể “bị gậy” đến nơi rồi. Thì ta tranh nhau lại “thờ” văn hóa Tàu, có sao đâu. Và khi đến phiên ta “kè kè bị bạc”, ta sẽ trở lại quý văn hóa ta, có sao đâu.

Ờ, có sao đâu. “Ð. mẹ nhân tình đã biết rồi…” (Thơ Nguyễn Công Trứ)

Bỏ truyền thống!

Bảo vệ truyền thống (…) giữ (…) nét đặc thù (…) Tiếp thu những cái hay của thế giới để làm giàu cho (…) văn hóa của mình (…) (nhưng) không bao giờ để cho truyền thống nước ngoài thay thế truyền thống dân tộc (TP, tr. 184)

Truyền thống nước ngoài mà hay hơn truyền thống dân tộc thì thay cũng được chứ sao!

Hóa Tây mà như hóa tiên, cũng đành. Nhưng Tây không phải tiên. Tây là một chủng tộc với văn hóa khi lên khi xuống, hiện giờ đang xuống như điên do quá say sưa cái truyền thống “Tôi” của mình! 

Quỳ lạy khách!

Tôi (…) không (…) chống lại sự hòa nhập của những tinh hoa văn hóa khác. Tôi chỉ kêu gọi phải thận trọng giữ đúng vị trí một bên là chủ, một bên là khách. Chúng ta hiếu khách, mở cửa đón mọi người vào nhà ở chơi vài bữa rồi về, chớ không phải giữ khách ở lại năm này tháng nọ rồi để người ta lấn chiếm lần lần cả bàn thờ ông bà. Ði đâu tôi cũng nói chuyện đó (…) (HKTVK, q. 3, tr. 339)

Người Việt Nam làm chủ đất nước (…) văn hóa Việt Nam (…) có địa vị văn hóa chủ (…) văn hóa nước ngoài là văn hóa khách. Chúng ta hiếu khách mời khách đến nhà, nhưng phải lưu ý không đưa vào ở trong từ đường hoặc dẹp bàn thờ ông bà để khách ngồi chễm chệ cho thanh niên quỳ lạy. Khách đến chơi rồi ra về chớ không thể ở luôn trong nhà chúng ta. (HKTVK, q. 4, tr. 383)

Nghe Trần Văn Khê nói chuyện con cháu chủ nhà quỳ lạy khách, sực nhớ cái Nhà hát Thành phố ở Sài Gòn. Mỗi lần thấy nó, buồn không để đâu cho hết. Sao kỳ vậy, là kiến trúc xây trên đất của nước Việt Nam độc lập mà sao nó lại giống y như mới được bứng bên Pháp đem về! Dòm la liệt tượng đầm ở trần ôm đờn Tây uốn éo chình ình giữa trán Nhà, bắt rụng rời.

Nó giống kiến trúc Pháp là để cho giống mấy cái “tòa” khác Pháp xây hồi xưa ở gần đó phải không? Bộ nước ta đang định phục hồi hình ảnh Sài Gòn thời Pháp thuộc hay sao?! Bộ quên núi xương sông máu của chiến sĩ rồi sao?

Dòm Nhà, nghĩ ngợi miên man, có lúc chợt nghĩ tới sức mạnh của đồng phật-lăng. Mấy ông mũi lõ đã chi nhiều nhiều cho việc sửa Nhà, phải không?

CẢM NGHĨ MIÊN MAN

Tiếp xúc với nhạc

Tôi (…) nghiên cứu (…) không áp dụng phương pháp của phương Tây một cách máy móc, đặc biệt đối với việc nghiên cứu âm nhạc phương Ðông (HKTVK, q. 5, tr. 105)

Nhạc là thứ âm thanh có chứa cảm xúc, như xác chứa hồn.

Âm thanh có thể nghiên cứu, nhưng cảm xúc chỉ có thể cảm thụ.

Vậy nghiên cứu nhạc là nghiên cứu cái “xác” âm thanh của nhạc mà thôi.

Chắc khi nói “nghiên cứu”, ý Trần Văn Khê là tiếp xúc với nhạc. Ông suốt đời say sưa tiếp xúc với nhạc Việt truyền thống, nghiên cứu xác, cảm thụ hồn, rồi vừa thuyết minh về xác, vừa tìm mọi cách giúp ta ngộ hồn…

Bản nhạc hóa món hàng

Âm nhạc ngày nay không còn là môn nghệ thuật (…) mà đã biến thành một món hàng (…) hàng nào ăn khách thì giá cao (HKTVK, q. 3, tr. 124-125)

Nhạc là hàng, thì bỏ tiền ra mua hàng là như bỏ phiếu chọn nhạc.

Bất cứ ai cũng được mua hàng, cũng được bỏ phiếu chọn nhạc.

Thế thì… bỏ mẹ nhạc, vì trình độ của số đông bao giờ cũng thấp.

Trước kia, bất cứ ở đâu, việc đánh giá nghệ phẩm không do số đông, nhờ đó nghệ thuật mới phát triển.

Đừng tưởng những bài dân ca hay ra đời là nhờ… dân chủ. Chắc chắn chúng đã được trau giồi, hoàn thiện bởi một thiểu số dân làng có năng khiếu nhạc mà thôi.

Mất đất, mất luôn nhạc

Đầu đời Ðường có mười bộ môn âm nhạc thì chỉ có hai là gốc Trung Quốc còn tám bộ môn kia là của nước ngoài. Nhưng mấy trăm năm sau, đến cuối đời Ðường (…) Hồ nhạc: nhạc của rợ Hồ (…) bị nhập vào (…) tục nhạc: nhạc dân gian (…) Những bộ môn nhạc của các nước khác (lần lượt) biến thành nhạc Trung Quốc. (HKTVK, q. 3, tr. 220)

Cướp đất của “rợ”, rồi rút cuộc cướp luôn cả nhạc!

Thì cũng như đang mang đồ đồng đào được ở Tam Tinh Ðôi (San Xing Dui, nay thuộc Tứ Xuyên) đi khoe khắp thế giới là tác phẩm của Trung Hoa cổ. Vào thời những món đồ đồng ấy được chế tạo, chủng Hoa Hạ đã biết tới cái đất mà về sau gọi là Tứ Xuyên đâu mà!

Tưởng tượng cuối thế kỷ 21 Trung Quốc nam tiến đến… mũi Cà Mau, lúc đầu gọi quan họ là nhạc Việt, rồi lần lần gọi là nhạc dân gian Tàu! Rồi đồ đá Phùng Nguyên, đồ đồng Ðông Sơn cũng lần lần biến thành đồ Tàu cổ!

Diễn biến lịch sử ở đây là: cướp đất, cướp của cải vật chất, rồi đến lúc nào đấy cướp luôn cả di sản tinh thần. Điển hình, khi bị cướp đến tinh thần thì nạn nhân mất đã lâu rồi, không còn có mặt để tức, để đòi!

Ai có cơ hội cũng cướp chứ không riêng gì người Tàu đâu. Ai có đất thì lo giữ.

Mặc áo gi-lê đánh đàn bầu

Nghệ thuật phải được giới thiệu một cách toàn diện (…) uống trà ngon (…) phải dùng chén nhỏ cỡ hột mít (…) Tiếc là nam diễn viên mặc áo sơ-mi trắng có gi-lê màu theo phong cách một nhạc sĩ Trung Âu, làm mất một phần phong cách và không khí Việt Nam trong lúc trình diễn (TP, tr. 41, 258)

Thử tưởng tượng một ban nhạc Tây mặc áo dài đội khăn đóng ngồi hòa tấu bài Dòng Sông Xanh!

Nhớ sân khấu Thúy Nga. Kể từ Ðức Thành trở đi, các nhạc sĩ đàn nhạc cụ dân tộc luôn mặc áo dài. Thế chứ. Trà ngon rót vào chén hạt mít, cụ Trần Văn Khê trông đã vui chưa?

Cho lòng khỏi phiêu dạt

Những vấn đề hồn của nước, thần của người, nét đẹp phải giữ gìn của truyền thống Văn hóa Việt Nam… vẫn là những chất vấn không nguôi, vẫn hoài hoài muốn được nhắc nhở để cho lòng khỏi phiêu dạt. (TP, tr. 160)

Ðối với đất nước, Trần Văn Khê thật sắt son. Bao nhiêu năm sống ở hải ngoại, bao nhiêu sự ưu đãi, trân trọng của ngoại bang không làm lòng yêu nước của ông dao động mảy may. “Tuy thân ở ngoài nước nhưng tâm tôi luôn ở trong nước…”, câu ông nói không ngoa chút nào.

Trần Văn Khê thể hiện lòng yêu nước bằng cách ra công bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống, kêu gọi chống xâm lăng văn hóa, chống nạn người Việt tự “ngoại hóa” mình. Có lần ông còn sáng kiến một cách uốn nắn thế hệ trẻ: “… trong các trường nhạc Á-rập treo toàn hình ảnh những nhạc sĩ danh tiếng phương Tây, về mặt tâm lý điều đó sẽ khiến học trò hướng về phương Tây mà coi nhẹ âm nhạc truyền thống (…) học sinh tới trường học như bước vô thánh đường, phải được chiêm ngưỡng những bậc tiền bối tiếng tăm của nước mình”.

Các em học sinh trong nước Việt Nam có thể ngày ngày trông lên hình ảnh những tiền bối Việt Nam tài giỏi để tránh lạc hướng, nhưng còn chính Trần Văn Khê, nơi hải ngoại ông thường dùng cách gì để giữ cho cái “đạo” yêu nước của mình khỏi bị “khô”?

Không phải chỉ bằng cách ngày đêm tự chất vấn về “hồn của nước”, “thần của người”, “nét đẹp phải giữ của (…) văn hóa Việt Nam” đâu. Trong Hồi ký, Trần Văn Khê cho biết vẫn luôn cố tự nấu lấy những món ăn dân tộc để dùng cho khỏi quên mùi vị quê hương. Hoài hoài nhắc nhở mình tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc là “để cho lòng khỏi phiêu dạt”, còn ngày ngày cơm cá rau là nhằm giữ cho miệng lưỡi khỏi lang thang!

Trong cái thánh đường của văn hóa Việt Nam, không thể thiếu chân dung Trần Văn Khê.


Ảnh này chụp tháng 11-2013

 

Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật Việt Nam xb., 1997, tr. 292.
(4) Xem bài Đàn Bầu (nhiều tác giả) trên trang 
gocnhin.net.
(5) Xem bài Mềm Như Nước của TT.
(6) Trần Văn Khê trả lời phỏng vấn của Nguyễn Thế Khoa, in trong 
Góc nhìn văn hiến Việt Nam, nhiều tác giả, nxb. Thông Tấn, VN, 2006, tr. 277.
(7) Mất tinh thần là sợ. Bỏ tinh thần là bỏ truyền thống tinh thần của mình. (Xem “Lời nói đầu”, 
Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005.)
(8) Trong tất cả những cuộc “thi đẹp” quốc tế, từ giải Nobel văn chương đến giải Hoa hậu Hoàn vũ, ai thắng ai thua tùy thuộc vào cân bằng thế lực giữa các nền văn hóa, phản ánh qua thành phần ban giám khảo. Cho tới bây giờ, điển hình, ban giám khảo hầu hết thuộc về văn hóa Tây phương. Tây chấm, dĩ nhiên Tây được. Thỉnh thoảng có người khác được, là do Tây cố ý “ưu ái”, vì lý do chính trị. Dĩ nhiên cân bằng thế lực không bất biến. Văn Tây gái Tây chắc chắn sẽ không chiếm ngai vàng mãi đâu. Khổ là đến lúc ta mạnh hơn Tây thì e rằng ta cơ bản đã hóa thành Tây rồi!

Trương Thiên Lý : BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG / Luận văn tốt nghiệp (2006) , phần 2


CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

I. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ”.
1. “Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo của Việt Nam và của ĐBSCL.
Đồng bằng sông Cửu Long, miền đất trù phú nằm ở phía Nam của đất nước Việt Nam mà người xưa gọi là “Đất chín rồng”, miền đất Tây Nam bộ được bù đắp nhiều phù sa bởi những nhánh sông và cũng là miền đất của một trong những chiếc nôi của dòng nhạc truyền thống ở Nam bộ đặc biệt là nhạc tài tử.
Trên vùng đất mới này, nhạc tài tử đã hình thành dựa trên nền tảng của nhạc Cung đình hoà vào cuộc sống dân dã. Nó hội nhập cùng các điệu lý, các câu hát đối đáp, các giọng hò sông nước để nói lên tiếng lòng của người dân châu thổ. Tiến trình âm nhạc này là thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân ĐBSCL.

1.1. Đôi nét về văn hoá ở ĐBSCL những năm đầu thế kỷ XX:
Đồng bằng sông Cửu Long với 4 dân tộc sinh sống, đó là Việt, Hoa, Khmer và Chăm. Nhưng phần đông là người Việt sinh sống khắp 13 tỉnh, thành phố miền Tây Nam bộ. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng được thể hiện qua các lễ hội dân gian. Tuy nhiên trong sinh hoạt hàng ngày họ sống rất hoà đồng với nhau trong các làng xã.
Sinh hoạt tinh thần của cộng đồng người Hoa tập trung ở chùa Ông Bổn. Đây là ngôi miếu thờ quan công, một biểu tượng tinh thần của người Hoa, được xây dựng rải rác ở khắp các tỉnh Nam bộ – nơi có dân cư người Hoa sinh sống. Lễ hội gia đình thì tập trung vào Tết nguyên đán, Thượng ngươn, Thanh minh, Tết đoan ngọ, Rằm tháng bảy (xá tội vong thân), Tết trung thu, Hạ ngươn, Tết táo quân. Các lễ tết này của người Hoa đã ảnh hưởng và hoà vào sinh hoạt lễ hội của cộng đồng người Việt, tạo thành một sắc thái riêng cho cả khu vực và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Người Khmer sinh hoạt lễ hội chủ yếu tập trung ở chùa. Hàng năm có 3 ngày lễ chính là Chol – chman – thmay, Đôn – ta, và Oc – om – bóc. Còn lại ngày rằm thì họ lên chùa lễ phật. Hoạt động văn nghệ của người Khmer cũng rất phong phú. Hầu như bất cứ người Khmer nào cũng biết múa Lam – thôn, hát à – day (đối đáp). Mỗi khi họ đi đến chùa thì đều tập trung múa hát bên cạnh một dàn nhạc ngũ âm. Tuy nhiên do cộng đồng người Khmer ít, nên dần dần các sinh hoạt tinh thần cũng thu hẹp khu trú ở một bộ phận nhỏ mà thôi.
Đối với người Việt thì cúng đình và lễ hội cúng đình là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu. Lễ hội cúng đình được tổ chức 3 ngày đêm với các lễ như: Thỉnh sắc thần, cúc yết, xây chầu, tế thần nông,… Hát bội là một hoạt động không thể thiếu được trong lễ hội cúng đình. Lúc bấy giờ ở Cần Thơ có nhiều gánh hát bội nổi tiếng khắp vùng: gánh của Ông bầu Bòn (quê ở LáiHiếu – Phụng Hiệp), gánh của cô Năm Nhỏ (cái Vồn), gánh của ông Mười Bếp (chợ Cần Thơ), . .tuồng “Kim thạch kỳ duyên” của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 – 1872) được nhiều người dân trong vùng yêu thích và thông thuộc.
Sinh hoạt văn hoá dân gian phổ biến ở ĐBSCL còn có nói thơ, hát đối đáp và các điệu hò, lý,.. và ĐBSCL cũng là nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ sôi nổi nhất lúc bấy giờ.

1.2. Bối cảnh sinh hoạt văn hoá – văn nghệ ở Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.
Trong thời gian này, ở các tỉnh Nam bộ các nhóm “Đờn ca tài tử” phát triển khắp nơi. Đây là loại hình nghệ thuật phổ biến nhất lúc bấy giờ và rất được công chúng yêu thích, say mê.
Ông Trương Duy Toản (1885 – 1957), quê ở Vũng Liêm – Vĩnh Long. Sau thời gian tham gia cách mạng, bị an trí về Phong Điền – Cần Thơ khoảng năm 1914 – 1915. Ở đây có ban tài tử Ai Nghĩa (ghép từ 2 làng Nhơn Ai, Nhơn Nghĩa huyện Châu Thành) hoạt động rất mạnh. Trong lúc thời gian rảnh rỗi ông Trương Duy Toản tham gia các hoạt động nghệ thuật. Ông sáng tác ra nhiều bài ca có ý nghĩa tiến bộ cho ban tài tử Ai Nghĩa ca hát trong các thôn xóm.
Ông Tống Hữu Định (còn gọi là phó Mười Hai) ở Vĩnh Long, thành lập ra nhóm “Đờn ca tài tử” biểu diễn trong các dịp lễ, tết… Năm 1915, lần đầu tiên ban tài tử củ ông tổ chức ca ra bộ có 3 người thủ vai: Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga, các diễn viên không biểu diễn trong thính phòng mà đứng diễn trên bộ ván gõ.
Ông Trần Quan Quờn (kinh lịch Quờn) làm thư ký cho Toà án tỉnh Vĩnh Long, sống cùng thời với Ong Tống Hữu Định, có sở trường sáng tác các bài Tứ Đại Oán. Ông cũng có công cải tiến cây đàn Nguyệt cổ điển thành cây đàn Kìm với tiếng kêu to hơn, nhanh hơn, phù hợp nhiều bài bản trong ca nhạc tài tử.
Ở Mỹ Tho, ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) cũng thành lập ban “Đờn ca tài tử” năm 1910. Ban tài tử Tư Triều thu hút nhiều danh cầm, danh ca như: Tư Triều (đàn kìm), Chín Quán (độc quyền), Bảy Võ (đàn cò), Hai Nhiều (đàn tranh), và cô Ba Đắc (diễn viên). Ban tài tử Tư Trièu đã đi lưu diễn ở Pháp và nhiều lần biểu diễn tại Sài Gòn. Ban tài tử Tư Triều khi đi Pháp về đã tiếp thu cách biểu diễn đàn ca trên sân khấu.
Các ban nhạc tài tử thường xuyên tổ chức sinh hoạt giao lưu với nhau để vừa thi thố tài năng, vừa trao đổi học tập kinh nghiệm bài bản và cách thể hiện mới. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật truyền thống, loại hình kịch nói được thực dân Pháp du nhập vào nước ta, nhưng các vỡ kịch này không thu hút khán giả và nhanh chóng đi vào quên lãng vì còn nhiều xa lạ với các loại hình nghệ thuật truyền thống của nước ta.
Tóm lại những năm đầu thế kỷ XX Nam bộ đã sớm phát triển truyền thống văn hoá – văn nghệ mà đặc biệt là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hoá Phú Xuân, thì ca nhạc tài tử biểu hiện cho văn hoá, văn minh Nam bộ. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm ngọt ngào dễ hoà vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa.
1.3.” Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo của Việt Nam và của ĐBSCL.
Vùng ĐBSCL không chỉ có văn hoá lễ hội dân gian mà văn hoá vùng đất này cũng mang tính văn nghệ rất cao, nhất là nghệ thuật cải lương – đờn ca tài tử, mang nỗi niềm những người lao động nhớ về cố quốc quê hương với ý thức thẩm mỹ sân khấu “phải có ca nhạc và điệu bộ”. Từ đây nảy nở nền văn hoá dân gian Nam bộ phong phú và đặc sắc của dân tộc.
Tìm hiểu khái quát về nguồn gốc , ý nghĩa và tính nghệ thuật của bộ môn “Đờn ca tài tử” thì rõ ràng ta thấy đây không chỉ là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo mà đây còn là một trong những giá trị văn hoá cần được phát huy nâng cao và giữ gìn nó theo tinh thần nghị quyết TW 5 khoá 8 “Người xưa sáng tạo ra đờn ca tài tử để làm món ăn tinh thần mà chóng chọi với thiên nhiên, chóng áp bức bóc lột trong xã hội đấu tranh đánh đuổi ngoại xâm. Còn ngày nay ta kế thừa và phát huy nó để làm món ăn tinh thần trong xây dựng quê hương đất nước”.
Để hiểu rõ hơn về điều này chúng ta hãy một lần nhìn lại hình ảnh những chiến sĩ văn công ngày xưa đã dùng lời ca tiếng hát của mình mà đánh đuổi giặc. 
Kim Chi – chiến sĩ văn công Cà Mau, người lừng danh cả thanh cả sắc, cô hát hay, hay tới mức địch yêu cầu hát, cứ áp sát hàng rào mà ca binh vận theo yêu cầu của binh sĩ.
Cùng thời với Kim Chi còn có ông Huỳnh Khánh, hiện là Giám đốc Sở văn hoá thông tin tỉnh Cà Mau, nghệ sĩ ưu tú Minh Đương là trưởng đoàn cải lương Hương Tràm – đã có lần cất tiếng hát lấy được đồn giặc. Hát trước đồn là một hoạt động tuyên truyền binh vận của văn công. Ong Huỳnh Thanh An, Giám đốc đài phát thanh truyền hình Sóc Trăng kể:” Các ông lấy tấm nilon căng rộng ra khoét lỗ ở giữa để khoét thanh tính cho tiếng phân tán ra để địch khỏi biết mình ở chỗ nào. Còn binh vận nghĩ lại thấy dũng cảm nhưng… khó an toàn. Ở Sóc Trăng, tuyên truyền phải dùng tiếng Việt, sau đó là tiếng Khmer, đã vậy lại ca hai bài 6 câu”.
Còn nghệ sĩ Minh Đương thì nói:”phải có chiến thuật ca binh vận, ca – ngưng 5 phút – nói chuyện – ca. Nói chuyện tuyên truyền đương nhiên, nghỉ 5 phút giặc chờ … nếu ta có rút đã đi được quãng đường xa an toàn. Huỳnh Khánh đờn, Minh Đương ca bao đồn Thứ Giải (Bình Phú), những bài Sóng tam giang,Xuân tình đêm ấy đã thay súng đạn gọi giặc ra hàng. Sức mạnh của văn nghệ không thể lường hết. (Trích “Đặc sắc đờn ca tài tử phương Nam” – Báo Nhân Dân bằng tháng số 75 tháng 7/2003)
Còn hiện nay tại các tỉnh ở ĐBSCL lấy “Đờn ca tài tử” làm một trong những tiêu chí trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Song song với đó “Đờn ca tài tử” cũng đang đuợc đưa vào hoạt động phục vụ du lịch tại các điểm du lịch ở ĐBSCL. Tuy cung cách hoạt động và hiệu quả chưa được đánh giá một cách thấu đáo nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ và khả năng đáp ứng nhu cầu của khán giả (du khách).
Từ những điều trên cho thấy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo không chỉ của ĐBSCL mà còn là của dân tộc Việt Nam.
2. Khai thác sử dụng “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch ĐBSCL.
2.1. Qui hoạch các điểm du lịch kết hợp với nghệ thuật “Đờn ca tài tử” tại các địa phương (Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang).
Sông Mekong là một trong những con sông lớn của thế giới. Châu thổ sông Cửu Long chủ yếu nằm trên địa bàn Nam bộ và trung tâm của nó là các tỉnh nằm ở đôi bờ hai nhánh của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu. Ở ĐBSCL, không có thành quách xưa cũ, không có núi non, ngút tầm mắt là đồng lúa, nhuộm xanh tầm mắt là vườn cây ăn trái, mở xa tầm mắt là dòng sông cuồn cuộn đổ ra biển Đông. Đặc thù sông ngòi chằn chịt, những con kênh do người đào đã vẽ lên ĐBSCL những nét ngang dọc hết sức riêng. ĐBSCL với hệ sinh thái của nó là một bộ phận của nền du lịch quốc gia. Đây là cái do chúng ta tạo ra và cái gì do chúng ta tạo ra thì sẽ có sức sống lâu dài, sẽ không ngừng thay đổi sắc diện.
2.1.1. QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI MIỆT VƯỜN (DU LỊCH NHÀ VƯỜN) KẾT HỢP VỚI NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH VĨNH LONG.
Vĩnh Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, hai nhánh sông Mekong dài 4.300km, là con sông dài nhất Đông Nam Á, và dài thứ 10 trên thế giới với lượng phù sa rất lớn bồi đắp cho cả ĐBSCL. Đến Vĩnh Long cũng nhằm khám phá vùng hạ lưu sông Mekong, đây là đề tài hấp dẫn du khách quốc tế và nội địa đến tham quan. 
Vĩnh Long có tương đối đầy đủ yếu tố du lịch sinh thái miệt vườn, sông nước hữu tình, nhiều loại cây trái nhiệt đới, các loại ca nhạc tài tử , hò vè, đối đáp Nam bộ… các di tích cách mạng, lịch sử, văn hoá, nhìn chung có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn.
– Mảng du lịch sông Tiền từ Mỹ Thuận đến tiếp giáp chợ nổi Cái Bè – Chợ Lách – Mang Thích là khu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái miệt vườn với hơn 30 sản phẩm tiềm năng có thể khai thác phục vụ du khách, từ khu vực này có thể nối tuyến xa hơn về phía Trà Vinh và về thượng nguồn có thể nối tuyến du lịch sang Campuchia.
– Mảng sông Hậu từ Bình Minh – Mỹ Hoà tiếp giáp Cần Thơ và nối tuyến chợ nổi Trà Ôn, Phụng Hiệp và các tỉnh cựu Nam, khu vực này có nhiều sản phẩm đặc trưng ấn tượng: Bưởi năm roi, vườn ươm cho các loại rau, củ, các làng nghề, . . .
“Đờn ca tài tử” tại nhà vườn – Cù lao An Bình – Vĩnh Long 
Cuộc sống, sinh hoạt văn hoá của người dân miệt vườn sông nước đã tạo ấn tượng cho du khách tham quan: các loại thuyền, chài, lưới, các loại hình đánh bắt thuỷ sản, đám cưới trên sông, chợ nổi, các hình thức canh tác truyền thống, lúa nước, làm rẫy, thưởng thức và tìm hiểu loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử tại các nhà vườn,… các lễ hội đình làng, các lễ hội của dân tộc Khmer, các di tích lịch sử, văn hoá, chiến tranh đều có thể giới thiệu và ngay cả phục chế, tái tạo một số lễ hội phục vụ du khách tại các khu, điểm du lịch vừa tạo tính hiếu kỳ, vừa giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ.
Một số sản phẩm tiêu biểu là nền văn minh lúa nước, qui trình sàn xuất, chế biến các sản phẩm từ gạo, nếp thành các loại bánh có chất lượng, chế biến các loại trái cây, các hình thức thưởng thức ẩm thực Nam bộ, các làng nghề thủ công truyền thống, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đều có thể quy hoạch phát triển hoặc phục chế phục vụ du khách. Các loại hình vui chơi giải trí dân gian cũng như thư giãn theo phong cách Nam bộ, tiếp xúc cởi mở với dân cư địa phương, ngắm trăng, thả diều, câu cá, bơi thuyền thưởng ngoạn, ca tài tử đều làm cho du khách gần gủi thiên nhiên và cảm nhận được sự bình yên của người dân đồng bằng sông Cửu Long.
2.1.2 PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở KHU DU LỊCH SINH THÁI CÙ LAO THỚI SƠN – TỈNH TIỀN GIANG
Tiền giang, một tỉnh thuộc hạ lưu sông Cửu Long với những nét đặc thù giống như các tỉnh khác trong khu vực. Loại hình du lịch sinh thái là tham quan nền văn minh miệt vườn, sông nước ĐBSCL.
Cù lao Thới Sơn, trên phương diện hành chính gọi là xã Thới Sơn thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang, nằm trên nhánh sông tiền trải dài từ phía trên rạch Xoài Mút đến thành phố Mỹ Tho. Cạnh cồn Phụng, cồn Tân Long và cách không xa cồn Qui (dân gian gọi đây là tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng mà Thới Sơn là Lân). Diện tích tự nhiên của cù lao Thới Sơn là 1.176ha (11,76km2), trong đó có 569ha là diện tích vườn cây ăn trái. Trên cù lao chằng chịt những sông rạch quanh co, hai bên là bần và dừa nước. Hằng năm cù lao được bồi đắp lượng phù sa rất lớn bình quân 1.000m3/năm nên đất đai rất màu mỡ. Do đó, người dân cù lao làm nghề kinh tế vườn là chính với nhiều loại cây ăn trái. Toàn bộ cù lao được phủ xanh, hiện trạng môi trường sinh thái trong lành, thoáng mát, chưa bị ô nhiễm. Bản sắc văn hoá miệt vườn Nam bộ lâu đời vẫn còn tồn tại.
Với 30 phút ngược dòng sông Tiền du khách sẽ đến được cù lao Thới Sơn. Đến đây du khách có thể hoà nhập vào nếp sống dân dã với nụ cười vui vẽ hiếu khách, với vườn kiểng, căn nhà xưa, thưởng thức trái cây đặc sản,… Từ đây đã dần trở thành một quần thể các điểm du lịch sinh thái và văn hoá trên cù lao Thới Sơn. Nét văn hoá dân gian, sinh thái miệt vườn, không khí trong lành yên tĩnh luôn được bảo tồn tạo niềm thích thú cho du khách. Năm 2002 khách quốc tế đến Tiền Giang là 258.773 lượt khách, trong đó khách đến khu du lịch Thới Sơn chiếm 84,95%, tăng bình quân 25,57%/năm. Khách du lịch nội địa đến Tiền Giang năm 2002 là 180.535 lượt khách, trong đó khách đến khu du lịch Thới Sơn chiếm 27,98%.

Đội “Đờn ca tài tử” khu du lịch cù lao Thới Sơn – Tiền Giang
Hiện nay, nếu muốn phát triển du lịch bền vững thì còn phải phụ thuộc tính đa dạng sản phẩm du lịch bao hàm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình. Ngoài việc khai thác môi trường thiên nhiên đặc thù miền sông nước, cây trái bốn mùa, thì nét văn hoá con người bản địa cũng góp phần rất lớn trong hoạt động du lịch. Những điệu hò, điệu lý, đờn ca tài tử Nam bộ, bản chất của người dân miệt vườn từ ánh mắt đến nụ cười được giới thiệu đến du khách như một phần thiết yếu của chương trình tham quan thông qua việc tiếp xúc, trao đổi với người dân địa phương. Chính sự đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội đã tránh được hiện tượng nhàm chán do sự trùng lắp các chương trình tham quan và giúp cho du khách hài lòng với những gì mà họ muốn đạt được trong chuyến tham quan.
Tuy nhiên điều mà chúng ta không thể thiếu được trong quá trình khai thác du lịch là công tác quy hoạch. Để du lịch phát triển tràn lan, mang tính tự phát không theo một định hướng và qui hoạch chung thì kết quả tất yếu sẽ là huỷ hoại cả một không gian du lịch. Không nằm ngoài khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia. Tiền Giang đã lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tiền Giang thời kỳ 2001 -2010 được UBNN tỉnh Tiền Giang phê duyệt, trong đó có quy hoạch cù lao Thới Sơn thành một làng du lịch sinh thái mang đậm nét làng quê Nam bộ. Và vào năm 2002 Tổng Cục Du Lịch đã đầu tư 50 triệu đồng để mua sắm nhạc cụ,… nhằm nâng chất lượng cho 4 đội “ca nhạc tài tử” tại Thới Sơn phục vụ cho du lịch. Từ khi du lịch Thới Sơn phát triển đã trực tiếp và gián tiếp tạo công ăn việc làm cho dân cư tại xã tăng thêm thu nhập. Các hộ dân là điểm tham quan, dừng chân cho du khách đều thể hiện văn minh, hiếu khách, phục vụ tận tình,…
2.1.3. PHÁT TRIỂN DU LỊCH SÔNG NƯỚC MIỆT VƯỜN KẾT HỢP VỚI “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH CẦN THƠ.
Cần Thơ, vùng đất ven sông Hậu có vị trí trung tâm ĐBSCL, tự hào với tên gọi Tây Đô. Con người Tây Đô chân chất, hiền hoà, giàu lòng mến khách. Đây là vùng đất mới giàu tiềm năng phát triển du lịch. Nơi đây có thế mạnh về du lịch sông nước miệt vườn hết sức đa dạng, phong phú, văn hoá lễ hội, chùa chiền, di tích lịch sử của Tây Đô cũng là nét văn hoá đặc trưng cho vùng sông nước Nam bộ.
Cần Thơ, miền đất trù phú nằm bên nhánh sông mà người xưa có lúc đặt là Cầm Thi Giang, cái tên gợi lên giọng thơ, tiếng đàn vào những đêm trăng nước. Một trong những loại hình giải trí phổ biến nhất cho khách du lịch khi đến với Cần Thơ hiện nay là “Đờn ca tài tử”, du khách đến đây sẽ được phục vụ “Đờn ca tài tử” ở các điểm du lịch sinh thái như: vườn du lịch Mỹ Khánh, vườn du lịch Thuỷ Tiên, vườn du lịch Xuân Mai, du thuyền trên bến Ninh Kiều. 
Với tiềm lực sẳn có về cảnh quan thiên nhiên, vườn cây ăn trái, môi trường sinh thái đặc thù, các di tích, di sản văn hoá dân tộc và lễ hội đặc sắc của vùng sông nước Nam bộ, khai thác lợi thế vị trí địa lý khu vực, có các khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng, sân bay. Từ đó Cần Thơ có thể phát triển loại hình du lịch trọng điểm như: Du lịch sinh thái, du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch MICE. 
Trong các loại hình du lịch này thì du lịch phong cảnh miệt vườn vẫn là nét đặc trưng độc đáo của Cần Thơ. Với hơn 30.000 ha cây ăn trái nổi tiếng như: cam, quýt, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, măng cụt, mận, ổi, xoài, sapôchê. Trên diện tích trồng cây ăn trái trù phú này không chỉ đơn thuần là những vườn cây ăn trái xum xuê mà đa phần đã được người dân cải tạo săn sóc trở thành địa điểm du lịch phong cảnh miệt vườn hết sức hấp dẫn. Bên cạnh vườn cây ăn trái người dân còn thu hút khách du lịch bằng những vườn cảnh Bonsai mang tính nghệ thuật cao, với hàng trăm loại cây cảnh lớn nhỏ được tạo hình rất tinh vi. Xung quanh nhà vườn còn được thiết kế các ao thả cá với nhiều loại cá ngon và nổi tiếng. Hơn thế nửa, để tạo sự thoải mái vui tươi cho du khách các chủ nhà vườn còn kết hợp với các đội “đờn ca tài tử” để phục vụ cho du khách. Du khách vừa có thể vãn cảnh, vừa dùng bửa vừa thưởng thức ca nhạc tài tử tại vườn thật lý thú và ngon miệng.
2.1.4. QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KẾT HỢP NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH BẾN TRE.
Bến Tre là một trong 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có mạng lưới sông ngòi chằng chịt và 65 km tiếp giáp biển Đông, giao thông chính là đường bộ và đường thuỷ. Hệ thống giao thông đường bộ được nâng cấp và hoàn thiện từ trung tâm thị xã đến các thị trấn của huyện. Cầu Rạch Miễu đang thi công, dự kiến hoàn thành vào trong năm nay, không chỉ đơn thuần giải quyết việc đi lại dễ dàng nhanh chóng mà còn giúp phát triển tiềm năng kinh tế cũng như du lịch, dịch vụ – thương mại của tỉnh nhà, giúp Bến Tre hội nhập với Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh thành khác trong cả nước.
Bến Tre có hình rẽ quạt, đầu nhọn nằm về phía thượng nguồn, các nhánh sông lớn tựa những nan quạt xoè rộng phía Đông. Bến Tre được hợp thành bởi 3 cù lao (cù lao An Hoá, Bảo Minh) và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ qua nhiều thế kỷ. Phía Bắc giáp Tiền Giang, Tây giáp Vĩnh Long, Nam giáp Trà Vinh, Đông giáp với biển Đông. Bến Tre là một châu thổ nằm sát biển có địa hình bằng phẳng với những dòng cát xen kẻ ruộng vườn, được bao bọc bởi 4 bề sông nước, vì thế nơi đây có một hệ thống giao thông đường thuỷ chằng chịt tạo nên nét đặc thù riêng cho vùng đất phù sa.
Nói đến Bến Tre không chỉ được biết đến với quê hương của phong trào “Đồng khởi”, Bến Tre còn được mệnh danh là “quê hương của xứ dừa”. Vì vậy, đến với Bến Tre là du khách đến với những vườn dừa ngút ngàn trĩu quả, thưởng thức vị ngọt mát của những quả dừa mới hái. Đi giữa làng quê rợp bóng dừa, lắng nghe tiếng lá dừa xạc xào trong gió, hương hoa dừa nhè nhẹ bay, xa xa đàn bò nhờn nhơ gặm cỏ, thoảng đâu đó có tiếng hát câu vọng cổ vọng lại, du khách sẽ thấy tâm hồn thanh thản, rũ bỏ mọi lo toan, khó nhọc thường ngày. Cùng với vẽ đẹp nên thơ của xứ dừa, người Bến Tre cũng hiền hoà, hiếu khách, dễ gần gũi. Tất cả những điều đó sẽ khiến vùng đất cù lao này dễ dàng giữ chân du khách mỗi khi đến đây.
Không phải là nơi hội tụ những danh thắng, nhưng Bến Tre hấp dẫn du khách bởi nét đậm đà, mộc mạc của một làng quê Việt Nam với bạt ngàn vườn cây trái. Nói đến hoa trái Bến Tre, phải nói đến vườn cây trái Cái Mơn, một thị tứ sầm uất của huyện chợ Lách. Nơi đây còn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, người được tôn vinh là một trong 18 nhà bác học trên thế giới cuối thế kỷ XIX. Cái Mơn được biết đến như là cái nôi của vùng cây ăn trái Nam bộ. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Cái Mơn đất đai và khí hậu thích hợp cho nhiều loại trái cây nhiệt đới, mùa nào trái ấy. Đặc biệt vào mùa hè, đến Cái Mơn du khách sẽ tận mắt nhìn thấy những vườn chôm chôm đỏ mọng, vườn sầu riêng trĩu quả, hoặc len lỏi dưới những tán cây, thưởng thức tại chỗ từng chùm bòn bon, măng cụt ngọt lim. Màu xanh mướt của những vườn cam, quýt, bưởi,… sẽ làm dịu cơn khát của du khách giữa trưa hè nóng bức. Không chỉ chào đón du khách bằng hương vị ngọt ngào, hấp dẫn của cây trái, vùng đất này còn giữ chân du khách bởi không khí thanh bình, người dân hiền hoà mến khách. Đi giữa bạt ngàn cây trái, lắng nghe tiếng chim hót, vẳng đâu đó câu vọng cổ từ những ngôi nhà đơn sơ vọng lại, du khách sẽ thấy tâm hồn mình thanh thản lạ kỳ.
Ngoài điểm du lịch Cái Mơn, du khách cũng có thể thưởng thức “Đờn ca tài tử” tại khu du lịch cồn Phụng. Cồn Phụng nằm ở vị trí khá đẹp trên sông Tiền, nơi cửa ngõ đi vào bến tre, thuộc xã Tân Thạch huyện Châu Thành, cách trung tâm thị xã 12km, được hình thành bởi phù sa, cồn Phụng có những vườn cây ăn trái trĩu cành, những hàng dừa xanh mướt ven sông bao bọc xóm làng, khí hậu mát mẽ, môi trương sinh thái trong lành. Nơi đây còn được nhiều người biết đến vì trước kia từng là trụ sở của “đạo Dừa”. Du khách đặt chân đến cồn Phụng sẽ có dịp thăm nhiều di tích: sân Rồng, tháp,…, được nghe kể về “giáo chủ đạo Dừa – Nguyễn Thành Nam”. Khu du lịch rộng 2ha, có các cơ sở sản xuất kẹo dừa, các hàng thủ công mỹ nghệ bằng gỗ dừa, . . phục vụ đờn ca tài tử cho du khách.

Điểm phục vụ “Đờn ca tài tử” tại khu du lịch Cái Mơn – Bến Tre
“Đờn ca tài tử” có mặt ở hầu hết các tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ kể cả Bến Tre, là một loại hình ca nhạc mang tính dân tộc sâu sắc. Đi thuyền trên sông, nhìn con nước lững lờ trôi, nghe những tiếng đàn thắm đượm tình quê là một điều thú vị dành cho du khách. “Đờn ca tài tử” tồn tại cùng năm tháng trên đất Bến Tre và ngày càng phát triển như một nét đặc biệt điểm tô thêm nét duyên dáng cho vùng sông nước. Bằng những ngón đàn truyền cảm, giọng ca mượt mà, các “nghệ sĩ” không chuyên vẫn luôn mang đến cho du khách những giây phút thoải mái, nhẹ nhàng khi đến du lịch tại Bến Tre.
2.2. Các tuyến du lịch có kết hợp với nghệ thuật “Đờn ca tài tử” (Mekong tour).
Để khai thác có chất lượng và hiệu quả các tuyến điểm du lịch tại ĐBSCL, cần dựa trên quan điểm sinh thái và văn hoá của từng khu vực. Điều này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương. Phát triển du lịch tại ĐBSCL cũng là phát triển các loại hình du lịch khác nhau để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Phong phú hoá các loại hình du lịch tại ĐBSCL, vừa khai thác hết tiềm năng du lịch, vừa thoả mãn những thị hiếu khác nhau của nhiều đối tượng du khách khác nhau. Hiện nay tại ĐBSCL, các chương trình du lịch chỉ mới tập trung vào các nội dung tham quan là chính, các nội dung khác chưa được khai thác đúng mức. Các chương trình du lịch chưa tạo điều kiện cho các hoạt động tiếp cận văn hoá của du khách, như nghỉ đêm tại nhà dân chỉ để ngủ, đi chợ nổi chỉ để nhìn, nghe ca nhạc tài tử để cho vui, ăn nhà dân không khác gì trong nhà hàng, . . Phụ thuộc vào các đối tượng du khách khác nhau, chương trình du lịch cần tạo điều kiện của những mức độ thâm nhập văn hoá khác nhau. Do đó các loại hình du lịch tại ĐBSCL cần được đầu tư thêm chẳng hạn như: khi ta đưa chương trình “ca nhạc tài tử” vào trong chương trình tham quan của chuyến du lịch thì ta phải đưa du khách đến ngủ nhà dân để du khách vừa được nghe “Đờn ca tài tử” vừa được tìm hiểu về bộ môn nghệ thuật này,…
Các tuyến du lịch có kết hợp nghệ thuật”Đờn ca tài tử”
Tuyến du lịch Các điểm tham quan du lịch Các điểm du lịch có “đờn ca tài tử”

Tuyến Tp.HCM – Cần Thơ – Châu Đốc – Phú Quốc – Chợ nổi Cái Răng, Làng du lịch Mỹ Khánh, Nhà cổ Bình Thuỷ.
– Miếu Bà Chúa Xứ, Làng cá bè, Làng Chăm Châu Giang.
– Xưởng sản xuất nước măm, vườn Tiêu, cơ sở nuôi cấy Ngọc Trai, khám phá biển và rừng Bắc Đảo,… – Bến Ninh Kiều, làng du lịch Mỹ Khánh (Cần Thơ)

Tuyến Tp.HCM – Mỹ Tho – Đồng Tháp – Các vườn trái cây, cơ sở sản xuất kẹo dừa, cù lao Thới Sơn, chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm,…
– Tràm chim Tam Nông, làng cây kiểng Tân Quy Đông, khu du lịch Gáo Giồng,… – Cù lao Thới Sơn.

Tuyến Tp. HCM – Vĩnh Long – Cần Thơ – Sóc Trăng – Cơ sở sản xuất gạch, gốm, nhà xưa ông Cai Cường, vườn cây ăn trái, Văn Thánh Miếu.
– Vườn cò Bằng Lăng, chợ nổi Phong Điền, làng du lịch Thuỷ Tiên, đình Bình Thuỷ, . . .
– Chùa Khleang, chùa Dơi, chùa Sà Lôn, hồ Nước Ngọt, . . – Nhà vườn ông Cai Cường (Vĩnh Long), làng du lịch Thuỷ Tiên (Cần Thơ).

Tuyến Tp. HCM – Châu Đốc – Hà Tiên – Cần Thơ – Chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam, đồi Tức Dụp, đền thờ Ba Chúc, . .
– Bãi biển Mũi Nai, hòn Chông, hòn Phụ Tử, đền thờ Nguyễn Trung Trực, . .
-Vườn cò Bằng Lăng, khu du lịch Xuân Mai, bến Ninh Kiều, chợ cổ Cần Thơ, . . – Bến Ninh Kiều, khu du lịch Xuân Mai (Cần thơ)

Tuyến Tp. HCM – Mỹ Tho – Bến Tre – Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm, cù lao Thới Sơn,..
– Vườn cây ăn trái Cái Mơn, cồn Phụng, khu di tích Đồng Khởi, cơ sở sản xuất kẹo dừa, làng nghề thủ công, . . – Cù lao Thới Sơn (Mỹ Tho), cồn Phụng, vườn cây ăn trái Cái Mơn (Bến Tre).

3. Thực trạng lực hấp dẫn của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với du khách (đặc biệt là khách quốc tế).
Đồng bằng sông Cửu Long (Miền Tây Nam Bộ) là vùng châu thổ với địa hình thấp có hệ thống kênh rạch chằng chịt đan xen những cù lao, miệt vườn cây trái 4 mùa. Quần cư gắn liền với vùng sinh thái này có đặc thù văn hoá “lúa nước” của một thời mở đất “khai khẩn đất Phương Nam”. Tại đây cũng là vựa lúa lớn nhất của cả nước. ĐBSCL có nền văn hoá đa dân tộc, nổi rõ là văn hoá Việt, Hoa, Khmer, được gìn giữ và phát triển trong quá trình sinh tồn của cộng đồng, vùng châu thổ với đặc trưng các lễ hội mang tính tín ngưỡng như hội Oc – Om – Bóc, hội Vía Bà (An Giang), Roya của người Chăm. Đồng thời với các di tích lịch sử như Ap Bắc (Tiền Giang), Đồng Khởi (Bến Tre), đồi Tức Dụp (An Giang),… cùng với nhiều chùa chiền mang dấu ấn tôn giáo đã tạo nên đời sống văn hoá tinh thần phong phú đa dạng của dân cư ĐBSCL. 
Đồng bằng sông Cửu Long với tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, song song với yếu tố sinh vật về cây, con thì cảnh quan ở ĐBSCL cũng không kém phần hấp dẫn; khi bình minh hoặc hoàng hôn tren mặt sông, mặt biển, với những kỳ thú huyền ảo thanh bình để con người thư giãn đắm mình trong thiên nhiên cùng với những cảnh quan đẹp như Rừng Dừa Bến Tre, núi Sam An Giang, Hà Tiên, Phú Quốc Kiên Giang,… tạo nên các tuyến điểm du lịch mang dấu ấn cảnh quan môi trường mà cuộc sống công nghiệp đang muốn tìm về cội nguồn thiên nhiên. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch nhân chủng với đặc trưng dân cư quần tụ gắn liền với việc khai thác vùng đất mới. Con người ở đây không những biết lợi dụng điều kiện tự nhiên mà còn biết chinh phục thiên nhiên. Hệ thống kênh rạch chằng chịt và các đê bao quanh các vườn cây trái cho thấy sự lao động cằn cù và thông minh của người dân ĐBSCL. Bên cạnh văn hoá lao động, văn hoá sinh hoạt dân cư với kiến trúc nhà ở, trang phục và phong cách ẩm thực tạo nên các nét riêng của cư dân của miền sông nước cùng với ca kịch cải lương, đờn ca tài tử, các điệu lý câu hò phản ánh cuộc sống dân dã, sâu đậm và phóng khoáng mà đây cũng chính là yếu tố hấp dẫn để khách du lịch tìm đến Đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng số 1: Số lượng du khách đến ĐBSCL. 
Năm Khách quốc tế
(ngàn khách) Khách nội địa 
(ngàn khách)
2000 356 3.125
2005 635 4.240
Dự báo 2010 820 5.410
Nguồn: Tổng cục du lịch.
Qua bảng số liệu cho thấy lượng khách du lịch đến ĐBSCL tăng cao, trong vòng 5 năm lượng khách quốc tế tăng 1,7 lần, khách nội địa tăng hơn 1,3 lần. Từ đó cho thấy sản phẩm du lịch ở ĐBSCL có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách mà đặc biệt là khách quốc tế, một trong những sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn đó thì có “Đờn ca tài tử”. Tuy cung cách hoạt động và hiệu quả chưa được đánh giá cao, nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ và khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách. 
Mặc dù hiện nay chưa có một số liệu thống kê cụ thể là hàng năm có bao nhiêu khách du lịch đến ĐBSCL để thưởng thức “Đờn ca tài tử”, nhưng từ số liệu trên và từ các chương trình du lịch thì ta thấy hầu như tất cả các tour du lịch đến ĐBSCL đều có chương trình thưởng thức “đờn ca tài tử”, và theo khảo sát thực tế thì du khách rất thích chương trình này. ”Khi đến hỏi một số khách du lịch quốc tế thì họ bảo rất thích loại hình nghệ thuật này mặc dù khi nghe hát thì họ không biết là lời hát nói gì nhưng qua cách diễn tả tâm trạng của người hát, rồi nghe tiếng đàn thì họ có thể hiểu bài hát đó muốn thể hiện tâm trạng vui hay buồn, yêu thương hay oán giận,…”. Từ đó cho thấy loại hình nghệ thuật này đã có sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, tuy chưa cao nhưng phần nào đã nói lên được giá trị của nó đối với hoạt động du lịch ở ĐBSCL.
II. THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.
1. Sự quan tâm của Sở văn hoá thông tin và Sở du lịch ở các tỉnh ĐBSCL.
* Đối với Sở văn hoá thông tin thì hiện nay đã có sự quan tâm rất sâu sắc với bộ môn nghệ thuật này, điều này được thể hiện cụ thể qua các hoạt động sau:
• Thường xuyên vận động từ xã, huyện cho đến khóm ấp mỗi đơn vị phải thành lập một đội đờn ca tài tử. Từ đó Sở văn hoá thông tin sẽ hỗ trợ kinh phí để mua sắm nhạc cụ cho mỗi đơn vị.
• Thường xuyên phát động phong trào thi văn nghệ ở khóm (ấp), rồi lên cấp xã, huyện. Từ đó sẽ chọn ra những đội có thành tích tốt để tham dự hội thi liên hoan “Đờn ca tài tử” cấp tỉnh – mỗi năm Sở văn hoá thông tin tổ chức một lần.
• Sở văn hoá thông tin các tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí cho các trường Văn hoá – nghệ thuật khi có mở các lớp dạy đờn ca tài tử (khi lớp có số lượng học viên tương đối – khoảng 30 học viên trở lên)
• Ngoài ra các Sở văn hoá thông tin các tỉnh còn liên kết tổ chức liên hoan “Đờn ca tài tử” khu vực Nam bộ (2 năm một lần) nhằm mục đích: tạo điều kiện giao lưu, nâng cao hiểu biết về đờn ca tài tử cũng như cách chơi tài tử ở những vùng miền khác nhau. Đồng thời, qua các cuộc liên hoan này không những nâng cao hiểu biết cho người chơi mà còn nâng thời lượng chương trình giải trí đáp ứng nhu cầu tốt hơn đời sống văn hoá tinh thần của bạn xem đài, nghe đài,..
* Đối với các Sở du lịch, thì hiện nay cũng đã có sự quan tâm rất đáng kể. Do hiện nay “Đờn ca tài tử” được đưa vào phục vụ du lịch ở ĐBSCL và cũng được rất nhiều du khách yêu thích và quan tâm nên các đội “Đờn ca tài tử” phục vụ cho du lịch đã được các Sở du lịch hỗ trợ rất nhiều. Theo tìm hiểu thực tế thì các năm vừa qua các Sở du lịch đã hỗ trợ một số kinh phí cho các đội “Đờn ca tài tử” để mua sắm nhạc cụ nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu du khách tại các điểm du lịch.
Ngoài ra, trong các lần tổ chức Mekong Festival Sở du lịch cũng đã đưa “Đờn ca tài tử” vào biểu biễn, thi thố tài năng. Với hoạt động này cũng nhằm giới thiệu cho du khách biết đây cũng chính là sản phẩm du lịch của ĐBSCL.
2. Sự phục hồi và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của các gia đình nghệ nhân.
Hàng trăm năm nay trên châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long tồn tại và phát triển dòng cổ nhạc hay còn gọi là “Đờn ca tài tử”. Trong kho tàng cổ nhạc của đờn ca tài tử đã hình thành nên nghệ thuật cải lương đặc sắc đã đi sâu vào lòng công chúng. Và để loại hình nghệ thuật này còn tồn tại đến ngày hôm nay thì không thể không nhớ đến công lao của những gia đình nghệ nhân, họ đã có công rất lớn trong việc giữ gìn và phát huy bộ môn nghệ thuật truyền thống này.
Tại phường Hưng Lợi, thành phố Cần Thơ có câu lạc bộ sân khấu cải lương mà trước đây là Ban đờn ca tài tử gia đình Sĩ Long. Nghệ nhân Sĩ Long có ông nội là người Hoa lấy vợ là người Khmer ở Tam Bình – Vĩnh Long. Cha của nghệ nhân Sĩ Long là ông Thạch Sô cùng vợ qua Cam-pu-chia làm ăn. Ông Thạch Sô nhập đoàn hát Dù kê là một tay đàn trong dàn nhạc Ngũ âm. Trước năm 1975 ông Thạch Sô cùng vợ chuyển về Cần Thơ mua đất, mở lò bún ở phường Hưng Lợi. Say ca hát, ông Thạch Sô học đờn sến, đờn gáo và chơi rất sành điệu. Sau Ông dạy đờn sến, đờn tranh, dạy tài tử vọng cổ cho hai con trai. Được cha dạy từ nhỏ nên có lòng say mê, lớn lên Thạch Sĩ Long theo học trường Sân khấu 2 và hiện đang giảng dạy tại trường Văn hoá – nghệ thuật Cần Thơ. Các con cháu của ông là Thạch Thị Vân Phượng, Thạch Thị Kim Liên còn học phổ thông cơ sở – nghĩa là còn tuổi thiếu niên, nhưng ông Sĩ Long đã dạy các em đờn ca tài tử. Bạn bè gần 30 em, thế là gia đình tài tử thành câu lạc bộ ca nhạc tài tử. Sau này, 30 thành viên người là sinh viên, người là công nhân, người buôn bán, làm thủ công kiếm sống. Mỗi tối tập họp luyện ca, luyện đàn, dàn dựng các tiết mục cho chương trình “chơi” đa dạng. Khi các gia đình mừng thọ, đăng khoa, khi các cơ quan, các đơn vị xa gần yêu cầu phục vụ, 30 thành viên họp thành “Ban tài tử” ba dân tộc Việt – Hoa – Khmer. Nếu được nói một câu về Câu lạc bộ tài tử này thì không thể không nhắc đến Ông bầu (nghệ nhân) Thạch Sĩ Long.
Rời gia đình nghệ nhân Sĩ Long đến Trung tâm Văn hoá quận Ô Môn gặp gỡ nghệ nhân Hai Lợi, sau khi trò truyện với ông giây phút tôi như bị cuốn vào câu chuyện của Ông kể: “gia đình Ông có 6 anh chị em thì cả 6 người đều được cha dạy đờn ca tài tử, trong đó 5 anh em trai thì được cha dạy đàn, còn người con gái thì được cha dạy hát, nhưng điều đáng trân trọng ở đây là cả 6 anh chị em đều say mê môn nghệ thuật này, và người nào cũng đàn, hát rất hay”. Ở lứa tuổi 60, nghệ nhân Hai Lợi là một trong những hậu duệ của dòng nhạc tài tử trên đất Cần Thơ còn nắm giữ được khá nhiều tinh tuý của nghề cầm ca. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cổ nhạc, làm quen với cây đàn từ thuở nhỏ, hơn 30 năm theo đoàn hát cải lương rồi trở về với quê hương Ô Môn, ông đã góp phần vào việc khôi phục và phát triển “Đờn ca tài tử” trên mảnh đất đã sản sinh ra nhiều tài năng âm nhạc như: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng. Gian phòng nhỏ ở Trung tâm văn hoá quận Ô Môn là nơi nghệ nhân Hai Lợi hàng ngày dành thời gian cho việc nghiên cứu, trau luyện các bài bản tổ truyền, để trao gởi lại cho thế hệ trẻ và những người mộ điệu cái hay, cái đẹp của dòng nhạc giàu tính bác học nhưng cũng đậm chất dân gian này.

Nghệ nhân Hai Lợi 
Cũng ở đây, người em ruột của nghệ nhân Hai Lợi là soạn giả Việt Ấn – hiện là Giám đốc Trung tâm văn hoá quận Ô Môn. Ngoài công tác quản lý, đã vận dụng hiểu biết về cả tân lẫn cổ nhạc để viết lời mới cho các bài ca tài tử, một lĩnh vực mà về cả lý luận lẫn thực tiễn đều có nhiều khó khăn thách thức, đòi hỏi phải vừa làm, vừa lắng nghe để trau dồi kinh nghiệm.
Không chỉ ở Cần Thơ (một chiếc nôi của “Đờn ca tài tử” Nam Bộ), mà ở các tỉnh ĐBSCL hầu như tỉnh nào cũng có các gia đình nghệ nhân đã bao đời theo nghệ thuật đờn ca tài tử và còn gìn giữ truyền thống văn hoá này cho đến ngày hôm nay.
Đến thị xã Trà Vinh, hỏi thăm nhà ông Tám Tảo hầu như ai cũng biết. Ông tên là Nguyễn Văn Tảo – người ta thường gọi ông là ông Tám Tảo. Ông năm nay đã 84 tuổi, đang sống tại thị xã Trà Vinh. Gia đình Ông tính đến nay đã có 5 đời theo nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Ông nội của ông Tám Tảo là ông Nguyễn Kim Phuông tham gia ban hát thuở người ta kiêng kỵ không cho đàn bà con gái lên sân khấu, ông Phuông thường đóng vai nữ hoá trang rất đẹp và ca giọng kim rất trong (ông Tám Tảo kể lại). Cha của ông Tám Tảo là ông nguyễn Văn Ca là nhạc trưởng Ban nhạc lễ phục vụ cả vùng. Ông Tám Tảo có 8 anh chị em, cha dạy cho 5 anh em trai mỗi người chơi giỏi một nhạc cụ. Ông Tám kể “ông có vợ cũng do đờn hay, lương duyên của ông là do ông chú vợ say mê đờn mai mối gả cô cháu ruột cho”. Các con ông Tám đều có mặt trong ban tài tử. Nay dù tuổi cao ông Tám vẫn say mê rèn luyện thế hệ sau và hiện nay thế hệ thứ năm của gia đình ông cũng đang được rèn luyện. Cháu ngoại Trần Kim Dung 22 tuổi luyện ca, cháu nội Nguyễn Văn Sinh hơn 10 tuổi luyện đờn. Và tôi tin rằng gia đình này sẽ còn nối dài dài các đời tài tử. 
3. Đào tạo nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các trường Cao đẳng, Đại học.
Thực trạng hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long thì chưa có trường Cao đẳng, Đại học nào đưa bộ môn nghệ thuật này vào giảng dạy, ngay cả các trường Văn hoá – nghệ thuật cũng không thường xuyên mở các lớp giảng dạy bộ môn này. Ơ một số trường văn hoá – nghệ thuật ở các tỉnh thì chỉ dạy sử dụng nhạc cụ như: đàn guirta, đàn kìm, đàn tranh, đàn organ,… Riêng trường văn hoá – nghệ thuật Vĩnh Long thì khoảng 2-3 năm có mở một lớp “đờn ca tài tử”, giáo viên giảng dạy được mời từ trường Sân khấu điện ảnh TP.HCM. Lớp học này có thời gian từ 3-6 tháng, chương trình được học rất bài bản mặc dù chỉ là lớp sơ cấp căn bản nhưng vì đa số những học viên này đã qua một thời gian chơi nhạc tài tử ở địa phương (do tự học). Nên sau khi được đào tạo thêm qua lớp học này thì các học viên nắm rất vững bộ môn nghệ thuật này.

4. Đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu:
4.1. Mặt mạnh:
– Giữ gìn và phát phát huy được bản sắc văn hoá của dân tộc.
– Tạo một lối sống sinh hoạt văn hoá lành mạnh cho xóm, ấp (xã, phường).
– Tạo được sân chơi bổ ích cho những người yêu nghệ thuật.
– Góp phần làm phong phú và đa dạng cho sản phẩm du lịch của vùng ĐBSCL.
– Tạo được sự hấp dẫn cho du khách, góp phần phát triển du lịch ĐBCL.
4.2. Mặt yếu:
– Các nghệ nhân biết chơi “Đờn ca tài tử” thường thông qua năng khiếu cha truyền, con nối, học hỏi bạn bè nên đờn ca còn nhiều mặt hạn chế.
– Các cơ quan ban ngành chưa có quan tâm sâu sắc đối với bộ môn nghệ thuật này nên nó chưa được đầu tư để phát triển.
– Hiện nay đã có sự liên kết là đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch. Tuy nhiên vẫn chưa mang lại hiệu quả cao vì còn quá sơ sài, chưa có chiến lược cụ thể.
– Việc phục vụ đờn ca tài tử tại các điểm du lịch chưa thực sự đúng nghĩa của nó. Thường thì chỉ hát các bài tân cổ chứ ít hát các bản vắn, các làn điệu trong đờn ca tài tử nên không nói nên được cái hay, cái độc đáo của đờn ca tài tử.
– Chưa mở được các lớp giảng dạy môn nghệ thuật đờn ca tài tử trong các trường Cao đẳng, Đại học

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

I. CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHỦ YẾU:
1. Định hướng về bảo tồn, phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
Nhạc tài tử ra đời và lớn lên trong môi trường dân giả, gắn với cuộc sống của người chân quê ở nông thôn. Việc phát triển phong trào “Đờn ca tài tử” ở cơ sở cũng đặt ra nhiều vấn đề như: nên xã hội hoá hoạt động này theo hướng nào, có nên khuyến khích tài trợ cho sinh hoạt câu lạc bộ, có nên chuyên nghiệp hoá nghệ nhân để tổ chức biểu diễn có thu, có nên đề ra các qui định cụ thể về biên chế dàn nhạc và người ca? Ý kiến trả lời cho câu hỏi này còn đang rất khác nhau, và trông đợi vào một giải pháp thích hợp!
Song song với việc phát triển môn nghệ thuật “Đờn ca tài tử” như thế nào? thì việc bảo tồn môn nghệ thuật này hiện nay đang là vấn đề rất cần thiết và rất mong được sự quan tâm. Bởi vì việc bảo tồn môn nghệ thuật này không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hoá, các gia đình nghệ nhân,.. mà còn rất cần sự hợp tác tham gia của cả cộng đồng. Hy vọng rằng với nổ lực chung của những người nặng lòng với di sản nghệ thuật này sẽ mở ra bước khởi sắc cho nhạc tài tử được bảo tồn và phát triển đúng hướng, để không chỉ góp phần vào sự giàu đẹp của kho tàn âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch ĐBSCL nói riêng ngày một phát triển.
Có nhiều phương pháp bảo tồn mà hiện bay các ban, ngành văn hoá đang áp dụng. Tuy nhiên, chỉ với bao nhiêu đó thì quá ít làm sao bảo tồn được lâu dài, huống chi đây là nét văn hoá độc đáo không chỉ của Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là của cả dân tộc. Theo tôi để loại hình nghệ thuật này được bảo tồn lâu dài thì ngoài những cách thức bảo tồn trên ta cần có những cách để bảo tồn lâu dài và vững chắc hơn, cụ thể như sau:
– Tổ chức cuộc thi viết “Đề tài khoa học” về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cấp tỉnh sau nó nâng tầm lên cấp khu vực. Từ đó lựa chọn những đề tài hay viết thành sách lưu giữ cho thế hệ sau.
– Song song với việc lưu giữ bằng sách thì nên ghi lại hình ảnh qua các băng, đĩa để lưu giữ lại.
– Và một cách thức bảo tồn hết sức bền vững nửa đó chính là đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch. Xã hội phát triển, nhu cầu du lịch của mọi người ngày càng nâng cao. Du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói , ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế của các quốc gia. Người ta có thể kết hợp các ngành nghề với du lịch vì đây là ngành liên đới. Nghệ thuật là một trong những sức hút, sản phẩm vô giá của du lịch. Ngồi trong vườn cây ăn trái nghe “Đờn ca tài tử” thật tuyệt, một thú vui, một cảm giác không thể quên. Vậy tại sao chúng ta lại không đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch theo qui hoạch và định hướng phát triển cụ thể. Công việc này vừa bảo tồn mãi mãi truyền thống bản sắc văn hoá của một dân tộc, vừa giới thiệu với du khách trong và ngoài nước tâm hồn, con người Việt Nam.
2. Định hướng về khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho phát triển du lịch.
Hướng phát triển văn hoá Việt Nam hiện đại không phải chỉ có văn hoá nghệ thuật, những nét sinh hoạt ấy cũng chỉ là một mảng trong nền văn hoá của chúng ta. Và rõ ràng chúng ta có đi theo hướng hiện đại, phù hợp với nhịp điệu công nghiệp và có tính đến sự giao lưu giữa các nền văn hoá của nhân loại, vẫn cứ phải lấy nội dung văn hoá dân tộc làm định hướng chính, và phải chấp nhận sự tồn tại của nghệ thuật dân tộc như là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá Việt Nam. 
Dân tộc phải có yếu tố nhân loại. Chúng ta cần hát chèo, tuồng, cải lương, kịch nói, ca trù,… Nhưng vẫn cần nhạc Rock và nhiều loại hình nghệ thuật khác. Cũng như thế, các dân tộc, các quốc gia khác sẽ được loại hình nghệ thuật của chúng ta “đại náo”, nếu như chúng ta biết khai thác đúng hướng phát triển của trí tuệ.
2.1. Phương hướng phát triển:
– Phát triển du lịch phải căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của vùng.
– Không ngừng nâng cao chất lượng cho các đội “Đờn ca tài tử” phục vụ trong du lịch, nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch.
– Nhanh chóng xây dựng các tuyến, điểm du lịch mới, hấp dẫn. Trong mỗi tour, tuyến đó ta kết hợp đưa chương trình “Đờn ca tài tử” vào, tạo chương trình tour thêm phong phú.
– Tăng cường mở các lớp giảng dạy “Đờn ca tài tử” trong các trường nghiệp vụ du lịch nhằm đào tạo cho đội ngũ này có một phong cách phục vụ chuyên nghiệp hơn.
– Tăng cường vai trò quản lý của các Sở du lịch, Sở văn hoá thông tin, nhằm đảm bảo cho hoạt động du lịch lành mạnh và đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao.
– Xây dựng chiến lược mang tính chất đồng bộ trong việc khai thác phục vụ nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các tuyến điểm du lịch ở ĐBSCL.
2.2. Mục tiêu phát triển.
2.2.1. Mục tiêu kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế được thể hiện qua mục tiêu kinh tế: đảm bảo thu nhập cao nhất với chi phí sản phẩm du lịch thấp nhất.
Việc khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoạt động du lịch không chỉ tạo điều kiện cho những người hoạt động trong lĩnh vực đờn ca tài tử có mức thu nhập ổn định mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho ngành du lịch ĐBSCL. Bởi lẽ một khi đã tạo được sự chú ý cho du khách về sự độc đáo và hấp dẫn của bộ môn nghệ thuật này thì sẽ thu hút được rất nhiều du khách đến ĐBSCL, từ đó không chỉ giúp cho doanh thu của ngành du lịch ĐBSCL tăng mà còn giúp cho ngành du lịch Việt Nam ngày càng phát triển hơn. 
2.2.2. Mục tiêu văn hoá – xã hội.
Ngành du lịch có thể xem là một ngành mang tính tổng hợp. Ngoài chức năng là một ngành kinh tế, du lịch còn tạo cơ hội tìm hiểu giao lưu, học hỏi những nền văn hoá khác nhau ở những địa phương, đất nước khác nhau.
Khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch không những tạo sự đa dạng cho sản phẩm du lịch ở ĐBSCL mà còn mang lại lợi ích về văn hoá – xã hội rất lớn cho ĐBSCL nói riêng và cho Việt Nam nói chung.
– Tạo cơ hội việc làm cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật này.
– Tạo sự nhận thức cho người dân địa phương cũng như du khách đây là hoạt động giải trí hết sức lành mạnh. Giúp người dân quên đi một ngày lao động mệt nhọc, giúp du khách thoải mái sau một ngày dài ngồi tàu, xe mệt mỏi và cảm thấy thật thú vị cho chuyến du lịch của mình.
– Giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước đây là nét văn hoá đặc thù của người dân ĐBSCL.
Trong phạm vi khu vực cần nhận định rằng việc giữ gìn, phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc là công việc rất quan trọng, đồng thời phải biết tiếp thu chọn lọc cái hay của nền văn hoá khác. Đặc biệt việc phòng chống tệ nạn xã hội trong phát triển du lịch, đảm bảo mục tiêu phát triển văn hoá xã hội là hết sức cần thiết.
Việc áp dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch không những mang lại lợi ích kinh tế mà còn là một giải pháp hết sức tích cựu trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc.
II. CÁC GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự quan tâm và quản lí của Sở văn hoá thông tin, Sở du lịch ở các tỉnh, TP.
– Các Sở du lịch, chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nửa, nhất là cơ sở vật chất cho phong trào, phải xác định “Đờn ca tài tử” không phải là sinh hoạt vui chơi giải trí đơn thuần mà nó là bộ môn nghệ thuật cần được phát huy và gìn giữ, vì nó không chỉ là nét đặc thù của vùng ĐBSCL mà còn là một loại hình nghệ thuật độc đáo trong kho tàn văn hoá Việt Nam.
– Ngành văn hoá thông tin nên dành riêng chi phí thường xuyên mở các lớp ngắn, trung hạn, dài hạn để đào tạo cho các hạt nhân phong trào. Ngoài ra xu thế hiện nay giới trẻ đa số chỉ thích nhạc hiện đại, còn lại thiểu số cũng thích chơi nhạc tài tử nhưng không muốn học đờn kìm, đờn cò, đờn bầu,… vì cho rằng những thứ nhạc cụ đó dành riêng cho người lớn tuổi. Vì vậy cần có những giải pháp khuyến khích cho giới trẻ tham gia sinh hoạt bộ môn này
2. Đưa chương trình giảng dạy “Đờn ca tài tử” vào các trường học chuyên ngành và không chuyên ngành.
– Các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay hầu như mỗi tỉnh đều có trường Văn hoá – nghệ thuật thế nhưng không có trường nào đưa bộ môn “Đờn ca tài tử” vào giảng dạy mà chỉ có dạy một số nhạc cụ như: đàn tranh, guir – tar, đàn kìm,… mà hiện nay nhu cầu học “Đờn ca tài tử” rất nhiều vì hiện nay nhạc tài tử đã được khai thác để phục vụ trong hoạt động du lịch, mà muốn hoạt động này có hiệu quả thì những người chơi nhạc tài tử phải am hiểu sâu sắc và chơi có bài bản. Vì vậy các trường Văn hoá – nghệ thuật nên đưa bộ môn này vào giảng dạy một cách phổ biến.
– Ngoài việc đưa “Đờn ca tài tử” vào giảng dạy tài các trường chuyên ngành thì cần đưa bộ môn này vào giảng dạy tại các trường Cao đẳng, Đại học không chuyên ngành nhằm để giáo giục ý thức thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về bộ môn nghệ thuật này mà có ý thức giữ gìn và phát huy nó.
3. Động viên các nghệ nhân giữ gìn, phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
– Hiện nay các gia đình nghệ nhân còn gìn giữ và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là do lòng yêu nghề, say mê với môn nghệ thuật này. Tuy nhiên để môn nghệ thuật này còn được bảo tồn và phát triển cho mai sau thì Nhà nước, các cơ quan ban ngành có liên quan cần có chính sách cụ thể để khuyến khích các gia đình nghệ nhân phát huy môn nghệ thuật này. Bởi lẽ muốn bảo tồn được môn nghệ thuật này thì phải cần đến thế hệ trẻ mà hiện nay các con em của các gia đình nghệ nhân lại không muốn tiếp nối truyền thống của cha ông vì họ thấy nếu theo nghề thì mức thu nhập không cao, không đảm bảo cho gia đình có cuộc sống tốt, vì thế mà họ có xu hướng học ngành nghề khác để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện nay. Vì vậy, nếu muốn thế hệ này tiếp tục nghề của cha ông thì Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cho những ai hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật này, đây chính là sự động viên trước hết cho các gia đình nghệ nhân để họ có điều kiện mà tiếp tục tham gia vào việc bảo vệ loại hình nghệ thuật này.
4. Quảng bá, tiếp thị nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các chương trình du lịch nội địa và quốc tế.
– Để du khách trong và ngoài nước biết đến môn nghệ thuật này thì cần đưa nó vào chương trình cụ thể của các tour du lịch. Đồng thời chúng các công ty du lịch cũng cần phải giới thiệu sản phẩm du lịch này trong các Brochure, báo chí, website, của các tour du lịch ĐBSCL.
– Các hướng dẫn viên của tuyến du lịch ĐBSCL phải am hiểu thật sâu săc về loại hình nghệ thuật này để thuyết minh cho khách, bài thuyết minh phải được chuẩn bị chu đáo để khi thuyết minh khách sẽ thấy được đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo và thật sự rất muốn tìm hiểu về loại hình nghệ thuật này.
III. KIẾN NGHỊ
– Ngành văn hoá thông tin và các ngành hữu quan nên tổ chức Hội thảo nhạc tài tử Nam bộ trong đó đi sâu vào các vấn đề về biện pháp bảo tồn và phát triển nhạc tài tử Nam bộ cho phù hợp với xã hội đương đại mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo của nó.
– Bài bản tài tử vốn được biên soạn và trình diễn khác với bài bản cải lương. Thế những, ở ĐBSCL đến nay vẫn chưa có một khoá đào tạo nào dành cho sáng tác và dàn dựng loại nhạc này. Trong khi nghệ thuật ca trù, quan họ đã được giảng dạy chính quy ở một số nơi, thì nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vẫn còn theo lối truyền nghề là chính. Đây là vấn đề mà cả nghệ nhân lẫn công chúng rất quan tâm. Vì thế cần đưa bộ môn này vào giảng dạy tại các trường chuyên ngành.
– Sức sống của nhạc tài tử trong lòng người mộ điệu đã là chuyện hiển nhiên. Nhưng một nghệ thuật không chỉ cần sống, mà còn cần được phát triển, không chỉ được phổ cập mà còn cần nâng cao. Vì thế ngành văn hoá thông tin nên tạo điều kiện để các nghệ sĩ, nghệ nhân nuôi dưỡng tài năng, trau dồi ngón nghề để truyền nghề lại cho lớp trẻ.
– Cũng chính do hội nhập vào cải lương mà hiện nay nhạc tài tử thường bị lẫn lộn với các bài bản vốn dành cho sân khấu cải lương. Trong sinh hoạt văn nghệ ở xóm ấp, các tụ điểm văn hoá, các điểm du lịch, . . sự phân biệt giữ nhạc tài tử và nhạc cải lương hiện nay là vấn đề có tính lý luận, không những cần thiết cho công tác chỉ đạo quản lý, mà còn để bảo tồn và phát triển đúng hướng thể loại âm nhạc độc đáo này.
– Một số tỉnh hiện nay chưa có sự kết hợp giữ hoạt động nghệ thuật “Đờn ca tài tử” với hoạt động du lịch, hai lĩnh vực này còn hoạt động rời rạc, chưa có sự kết hợp nên chưa mang lại hiệu quả cao. Vì thế các cơ quan chức năng cần tạo mọi điều kiện cho việc đầu tư phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoat động du lịch.
– Ngành du lịch ĐBSCL cần có định hướng chung cho nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch. Cũng là đờn ca tài tử nhưng tại các điểm du lịch khác nhau thì cần có cách phục vụ khác nhau, phải có tính đặc thù riêng của từng điểm du lịch, tránh cho khách sự nhàm chán.
– Đối với các công ty du lịch khi thiết kế chương trình tuor thì cần chú ý kỷ các tuyến điểm tham quan để tránh sự trùng lắp, không nên thiết kế chương trình thưởng thức đờn ca tài tử nhiều lần trong một chuyến đi.
– Các tiết mục “Đờn ca tài tử” để phục vụ du khách tại các điểm du lịch phải được lựa chọn và chuẩn bị chu đáo nhằm tạo cho sản phẩm du lịch thật độc đáo và thật ấn tượng.
– Cần có những chương trình như dạy cho du khách đàn, hát một vài câu trong các bài bản tài tử để tạo sự hấp dẫn và thu hút du khách trong chuyến đi cũng như trong chương trình tuor.
PHẦN KẾT LUẬN
Thế giới thay đổi, nhân sinh quan, thị hiếu của con người cũng dần đổi thay. Trước đây châu Au, châu Mỹ là những nơi thu hút hầu như toàn bộ du khách quốc tế. Nhưng hiện nay, vào đầu thế kỷ 21, châu Á bắt đầu nổi lên như một điểm đến an toàn – thân thiện – và ngày càng trở nên hấp dẫn du khách các nơi nhờ vào các tiềm năng du lịch. Để cùng sánh vai với các nước trong khu vực, Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng phải chuyển mình, thích ứng với một thị trường du lịch luôn năng động và nhiều thử thách.
Ngành du lịch ĐBSCL đang trong quá trình phát triển nhưng còn non yếu so với các khu vực khác trong cả nước, điều này thể hiện qua kết quả thực hiện các vấn đề cơ sở vật chất, về lượng du khách, doanh thu,.. .Tuy nhiên, ngành du lịch ĐBSCL cũng đã có bước phát triển đáng kể , là một ngành quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực. Hoạt động của ngành giải quyết được một số lao động rất lớn có việc làm ổn định, tạo được sự giao lưu, giúp du khách trong và ngoài nước hiểu rõ hơn về mãnh đất và con người ĐBSCL hiền hoà, dễ mến nhưng cũng rất phóng khoáng, rất tài tử.
Khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoạt động du lịch không những tạo sự đa dạng về sản phẩm du lịch mà sẽ mở ra một cái nhìn mới, một triển vọng mới cho ngành du lịch ĐBSCL. Do đó, chúng ta cần tạo điều kiện để loại hình văn hoá này được phát triển, phục vụ tốt cho du lịch mà hiện nay chưa được con người khai thác đúng mức.
Bảo tồn và phát triển văn hoá nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với hoạt động du lịch ở ĐBSCL là việc làm rất cần thiết hiện nay, bởi lẽ nó không chỉ giúp cho ngành du lịch ĐBSCL phát triển mà còn bảo tồn được nét văn hoá độc đáo của ĐBSCL nói riêng và của Việt Nam nói chung. Nhưng để làm được điều này không chỉ đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực của ngành du lịch mà còn rất cần sự giúp đỡ của các ngành liên quan đặc biệt là ngành văn hoá thông tin. Từ đó nó góp phần to lơn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng, làm phong phú kho tàn văn hoá của quốc gia. 

GS.TS. Trần Văn Khê 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Giới thiệu các tuyến du lịch Nam Bộ – Trần Huy Hùng Cường – NXB trẻ -2006.
2/ Văn hoá Nam Bộ – vấn đề và phát triển – TS. Hồ Bá Thâm – NXB văn hoá thông tin – 2003.
3/ Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam – PGS.TS.Trần Ngọc Thêm – NXB TP.HCM – 1997.
4/ Qui hoạch du lịch – Những vấn đề lý luận và thực tiển – TS.Trần Văn Thông – NXB Đại học quốc gia Tp.HCM – 2005.
5/ Soạn giả Mộc Quán – Nguyễn Trọng Quyền “Cuộc đời và sự nghiệp” – Sở VHTT tỉnh Cần Thơ – 2001.
6/ Kỷ yếu “Hội thảo tiềm năng phát triển du lịch ĐBSCL và cơ hội đầu tư” – Sở du lịch TP. Cần Thơ – 1003.
7/ Tài liệu “Hội thảo phát triển du lịch sinh thái – văn hoá các tỉnh ĐBSCL -UBNN tỉnh An Giang – 2006.
8/ Từ Dạ Cổ Hoài Lang – Kỷ yếu hội thảo khoa học về Cao Văn Lầu – NXB Cà Mau – 1992.
9/ Nhạc tài tử, nhạc sân khấu cải lương – Trương Bỉnh Tòng – NXB sân khấu TP.HCM – 1997.
10/ Văn hoá với âm nhạc dân tộc – GS.TS.Trần Văn Khê – NXB Thanh Niên – 2000.

 

Trương Thiên Lý : BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG / Luận văn tốt nghiệp (2006) , phần 1


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

GVHD: TS. Trần Văn Thông
SVTH: Trương Thiên Lý
MSSV: 03.042.006
KHÓA: 2002 – 2006

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội mức sống của người dân cũng được nâng cao, nhu cầu vật chất ngày càng hoàn thiện và con người muốn thỏa mãn về nhu cầu tinh thần cao hơn. Cho nên nhu cầu đi du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người, du lịch gắn liền với việc vui chơi giải trí, thư giãn nhằm phục hồi sức khỏe và tăng năng suất lao động.
Sản phẩm du lịch là sự sáng tạo được xây dựng bởi tiềm năng trí tuệ và sự năng động, nhạy bén của mỗi địa phương trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước mà phát hiện ra những lợi thế của địa phương mình. Từ đó tạo ra những sản phẩm hết sức độc đáo có giá trị kinh tế và nghệ thuật cao.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài việc khai thác các giá tri văn hoá lịch sử, giá trị văn hoá sông nước, sinh thái miệt vườn, giá trị văn hoá biển, văn hoá tín ngưỡng thì vùng này còn có một giá trị văn hoá hết sức đặc biệt cần được khai thác phục vụ cho du lịch đó chính là giá trị văn hoá sinh hoạt đời thường. Đối với chúng ta việc sinh hoạt sinh sống hàng ngày là chuyện hết sức bình thường, nhưng lại là sự khám phá của những người nước ngoài và cả những người trong nước ở các vùng khác nhau. Một ví dụ nhỏ để chứng minh điều này: Trước đây nguời dân vùng Bắc bộ khi chưa có phim ảnh và tivi không thể nào hình dung nổi quả dừa nước như thế nào! Đến khi được vào vùng sông nước của Nam bộ thì họ thực sự bị lôi cuốn bởi sản phẩm đó. Đối với người Việt Nam chúng ta mà còn cảm thấy ngạc nhiên đến thế huống chi là người nước ngoài. Một cái chợ trên thuyền, một con đò, những khung cảnh sông nước miệt vườn..v.v.. ta cứ tưởng là chuyện chẳng có gì phải bàn nhưng lại là những sản phẩm du lịch hấp dẫn. Đã từng có những người nước ngoài đi du lịch nghiên cứu chỉ để xem qui trình trồng cây lúa nước ở Việt Nam như thế nào từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch làm thành hạt gạo. Nếu biết khai thác những sinh hoạt đời thường ấy thì sản phẩm du lịch của chúng ta sẽ vô cùng phong phú.
Nói đến đây chúng ta không thể không nói đến một loại hình nghệ thuật có giá trị văn hoá rất đặc trưng cùa vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng hết sức dân dã và rất riêng của vùng đất Nam bộ này, đó chính là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Nó là món ăn tinh thần của người dân nơi đây, nhất là khu vực nông thôn. Nhạc tài tử Nam bộ dành để đàn hát cho nhau nghe, giải bày tâm tình, thư giãn tinh thần sau những giờ lao động mệt nhọc. Đồng thời nhạc tài tử còn vốn được coi là thú vui tao nhã dành cho những bạn tri âm tri kỹ, gặp gỡ nhau trong những lúc thư nhàn. Thế thì tại sao chúng ta không khai thác loại hình nghệ thuật này để tạo nó thành một sản phẩm du lịch mới, độc đáo và hấp dẫn của vùng. Chính vì lý do đó tôi đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát triển văn hoá nghệ thuật Đờn ca tài tử đối với hoạt động du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long” cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Bởi là một sinh viên ngành du lịch trường ĐHDL Cửu Long tôi muốn góp một chút ít gì đó cho ngành du lịch của địa phương mình cũng như góp phần giữ gìn và phát huy nghệ thuật độc đáo của quê hương mình. Tôi hy vọng với kiến thức tích lũy đã học hỏi ở nhà trường, thầy cô, bạn bè, và những kiến thức học tập trong thời gian thực tập tại Sở Du lịch TP. Cần Thơ và đi thực tế ở các Sở văn hóa thông tin, các đội Đờn ca tài tử của các khu du lịch và gặp gỡ trao đổi với một số nghệ nhân ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể giúp cho nghệ thuật “Đờn ca tài tử” được mọi người quan tâm đến để bảo tồn và phát triển nó nhằm phục vụ tốt hơn cho ngành du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long.
II. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU:
1. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ thực tế, “Đờn ca tài tử” ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang được áp dụng để phục vụ du lịch đặc biệt là kết hợp với du lịch sông nước miệt vườn rất được du khách quốc tế cũng như khách du lịch trong nước ưa thích. Từ đó nội dung đưa ra nghiên cứu là làm thế nào để bảo tồn được loại hình nghệ thuật này đồng thời áp dụng nó vào hoạt động du lịch rộng rãi hơn để du lịch Đông bằng sông Cửu Long phát triển và thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn. Chính vì thế việc đưa ra nghiên cứu của đề tài là nhằm mục đích:
– Bảo tồn và phát triển nét văn hoá độc đáo cho Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung.
– Tìm ra những giải pháp, định hướng để bảo tồn loại hình nghệ thuật này và ứng dụng nó vào du lịch nhằm phục vụ cho hoạt động du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long.
– Tạo sự đa dang về sản phẩm du lịch, tạo sự khác biệt của du lịch vùng để tăng sức hấp dẫn cho du khách khi đến với ĐBSCL.
– Ngoài việc làm thế nào để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này trong hoạt động du lịch, đề tài này còn nhằm mục đích tạo sự chú ý, quan tâm của các ban ngành hoạt động trong lĩnh vực văn hoá để loại hình nghệ thuật này được nâng lên một tầm cao mới (văn hoá phi vật thể).
2. Ý nghĩa nghiên cứu:
– Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn và phát triển nét văn hoá độc đáo của dân tộc.
– Tạo sự đa dang, phong phú cho hoạt động du lịch.- Có ý nghĩa kinh tế – xã hội: Góp phần làm tăng doanh thu cho ngành du lịch, tạo nhiều cơ hội việc làm.
– Tạo sự nhận thức cho thế hệ trẻ hiện nay trước sự du nhập của văn hoá phương Tây.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Cơ sở lý luận về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” và giá trị của nó đối với phát triển du lịch.
– Khái niệm về “Đờn ca tài tử”.
– Giá trị của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với phát triển du lịch.
– Bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
2. Đánh giá tiềm năng và thực trạng bảo tồn, phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với hoạt động du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long.
– Đánh giá tiềm năng loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
– Thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử cho hoạt động du lịch.
3. Định hướng và giải pháp bảo tồn, phát triển nghệ thuật :Đờn ca tài tử” cho họat động du lịch.
– Các định hướng chủ yếu.
– Các giải pháp.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
• Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu.
Đây là phương pháp thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn sách báo, tạp chí, bài giảng, mạng Internet, nhiều lĩnh vực khác nhau để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho tổ chức hoạt động du lịch.
• Phương pháp khảo sát thực địa.
Là phương pháp thun thập trực tiếp số liệu thông tin du lịch trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
• Phương pháp điều tra xã hội học.
Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích thị hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn hoặc phiếu điều tra. Phương pháp này giúp ta nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, nắm bắt được tâm tư nguyện vông của những người làm công tác phục vụ và điều hành trong ngành du lịch.
• Phương pháp bản đồ.
Phản ánh những đặc điểm không gian sự phân bố của nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
• Phương pháp phân tích xu thế. 
Dựa vào qui luật vận động trong quá khứ – hiện tại để suy ra xu hướng phát triển trong tương lai.

CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
I. KHÁI NIỆM VỀ ĐỜN CA TÀI TỬ:
1. Lịch sử hình thành:
1.1. Từ nhạc cung đình Huế đến ca ra bộ:
1.1.1. Từ nhạc cung đình Huế:
Từ thời xa xưa, con người đã sản sinh ra âm nhạc. Sau những buổi săn bắt, hái lượm, sau những vụ mùa mệt mỏi, con người lại quây quần bên nhau để múa, hát, chung vui, quên đi những lo âu, gian khổ. Không ai biết được âm nhạc có từ khi nào, chỉ có thể biết rằng âm nhạc có từ khi con người xuất hiện; âm nhạc là sản phẩm tinh thần của con người. Theo sự phát triển của xã hội loài người, âm nhạc cũng dần dần hoàn thiện hơn, rõ nét hơn.
Theo lý luận khoa học, âm nhạc là sự hệ thống âm thanh từ thấp đến cao, từ trầm đến bổng. Nó là một điệu thức tức là một hệ thống của các thang âm và sự định hình của nó là do con người (nghệ nhân) qui định. Mỗi thời gian, âm nhạc phát triển ở mức độ khác nhau, mang sắc thái khác nhau, nhưng chung qui là để phục vụ con người.
Ngược dòng lịch sử, triều đại nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế nên gọi là Cung đình Huế. Năm 1802, cơ bản nhà Nguyễn thống nhất được Sơn hà xã tắc và trị vì thiên hạ, nhưng chỉ cũng cố địa vị thống trị của chế độ phong kiến theo kiểu Quân Chủ. Cho nên trong nội triều được tổ chức Nhạc cung đình nhằm phục vụ cho Vua chúa, do đó mà hình thành dòng Nhạc lễ cung đình. Các nghệ nhân hồi ấy được tuyển chọn từ dân thường vào phục vụ cung đình, rồi từ cung đình ra thường dân những người có năng lực âm nhạc. Những nghệ nhân từ miền Trung cùng một số quan nhạc theo di dân vào Nam “khẩn hoang lập ấp”. Thêm vào đó là các sĩ tử trong Nam ra kinh đô học hành, thi cử cũng đem về ít nhiều vốn liếng của dòng âm nhạc này.
Vùng đất Nam bộ vốn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau. Người Hoa Minh Hương (Trung Quốc) ủng hộ nhà Minh chống nhà Thanh, chạy lánh nạn vào Nam. Những người Khmer chống vương quyền Nam Vang, người Chăm rời miền Trung vào Châu Đốc – Long Xuyên và các lính thú, tội đồ bị triều đình cưỡng bách vào Nam mở đất … Đời sống, tính cách của họ hòa vào ngoại cảnh thiên nhiên sản sinh ra những ca dao, hò, lý…, các nghệ nhân nhạc lễ ngoài việc phục vụ đình đám, lễ hội, hàng năm không bao nhiêu nên có rất nhiều thời gian nhàn rỗi. Từ đó họ lấy nhạc để làm vui, đờn chơi và truyền cho những ai có tâm hồn yêu nó. Từ lao động, phát minh ra sáng tạo, các nghệ nhân kết hợp với âm điệu ca dao, hò, lý,… trên cơ sở thang âm của nhạc lễ (Ngũ cung) và sáng chế ra dòng âm nhạc tài tư, rồi đặt lời ca. Dòng nhạc không có lời ca còn nhạc tài tử thì bất cứ bài bản, giai điệu nào cũng có lời ca.
1.1.2. Đến ca ra bộ:
Vậy là Nhạc tài tử được xuất hiện trên nền tảng Nhạc lễ, và loại hình này tiến triển thêm một bước là có lời ca, từ đó hình thức “ca nhạc tài tử” bắt đầu khởi xướng. Nhạc tài tử và ca nhạc tài tử là hai hình thức tuy một mà hai: ca nhạc tài tử là có người ca và người đờn, nhạc tài tử là dòng âm nhạc truyền thống của Nam bộ. Nói cách khác nhạc tài từ là có “giai nhân tài tử” thực hiện dòng âm nhạc này. Đỉnh cao của phong trào ca nhạc tài tử là “ca ra bộ”, “giai nhân tài tử” không đơn thuần là hát theo lời nhạc và dòng nhạc, mà nghệ thuật được nâng cao hơn một bật là vừa ca vừa ra động tác để biểu diễn, chuyển tải ý nghĩa của các bài, bản. Các động tác này là tay, chân, ánh mắt, nụ cười. . .
Khi hình thức ca ra bộ chín muồi cũng là lúc khai sinh ra Cải lương, một loại hình ca kịch có kịch và nhạc. Trãi qua hơn 80 năm với nhiều thăng trầm biến đổi, nhiều gian khó mà cũng lắm vinh quang. Nói đến Cải lương, là người ta nói đến một loại hình ca kịch truyền thống của Nam bộ, một loại hình nghệ thuật dân tộc.
1.2. Tiền thân bài Vọng cổ:
Bài vọng cổ được sản sinh ra ở vùng đất Nam bộ, tiền thân là bài “Dạ cổ hoài lang” có nghĩa “Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”, đây là một loại hình âm nhạc mở đầu cho dòng nhạc dân tộc đã tồn tại gần 100 năm nay trong nền văn hóa của Việt Nam và được phát triển thành cổ nhạc hay “đờn ca tài tử”. Từ bài cổ nhạc đã được phát triển và hình thành bộ môn nghệ thuật Cải lương, đã một thời từng có sức hấp dẫn công chúng cả nước. Bất kỳ một tiết mục hay tác phẩm cải lương đều được kết thành từ giai điệu vọng cổ.
Tác giả của bài Dạ cổ hoài lang nổi tiếng là cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Ông sinh ngày 22/12/1892 (04/11 năm Nhâm Thìn), tại Long An, lớn lên Ông theo gia đình đến định cư ở Bạc Liêu. Tại vùng đất này, tài năng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu được hình thành và thăng hoa.
Tác phẩm “Dạ cổ hoài lang” ra đời năm 1919. Qua tác phẩm, tác giả muốn gởi gắm tâm sự của người phụ nữ nhớ chồng, để nói lên những bất công, những định kiến hẹp hòi của xã hội đương thời. Đó cũng là nỗi niềm của những con người nơi vùng đất mới được khai phá, với biết bao những bất công của xã hội và những đau khổ do chiến tranh gây ra.
Toàn bài dạ cổ có 20 câu, nhịp tư, như sau:
1. Hò là – xang xê cống,
2. Ú liu cống liu cống xê xang.
3. Hò xê líu cống xê xang là hò,
4. Xề xang xê xang là hò,
5. Liu xáng u liu xang,
6. Liu xáng xàng xề liu ú liu,
7. Hò là xang xê cống,
8. Xê líu xứ cống xê líu xừ xang,
9. Hò xê cống xê xang xự, 
10. Xê líu xừ cống xê xừ xang,
11. Xừ – xang xừ cống xê xang là hò,
12. Xề xang xế là hò xề là hò,
13. Cống xê xang hò – xang cống xê,
14. Xê líu xừ cống xê líu xừ xang,
15. Ú liu cộng liu – cộng xê xàng,
16. Liu xáng xàng xế phạn liu ú liu,
17. Là xự cống xê xang là hò,
18. Xê líu xự cống xê líu xự xang,
19. Ú liu cộng liu cộng xê xàng,
20. Liu xáng xàng xề phạn liu ú liu.
Lời ca:
Từ là – từ phu tướng
Báu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Và năm canh – mơ màng,
Em luống trông tin chàng,
Ôi! gan vàng thêm đau.
Đường dầu xa ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang,
Còn đêm luống trông tin bạn, 
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu,
Vọng – phu vọng luống trông tin chàng,
Lòng xin chớ phụ phàng,
Chàng là chàng có hay,
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây,
Biết bao thuở đó đây sum vầy?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai –
Là nguyện – cho chàng,
Hai chữ bình an – bình an,
Trở lại – gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.
+ Từ năm 1919 – 1923: Bài Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 phát triển lên nhịp 4 và ngày càng trở thành bài ca chủ chốt trong các nhóm đàn ca tài tử bên cạnh bài Tứ đại Oán và một số bài khác.
+ Từ 1923 – 1935: Bài vọng cổ mở rộng từ nhịp 4 lên nhịp 8, bắt đầu lên sân khấu và thay dần cho bài Tứ Đại Oán. Sau đó tiếp tục phát triển lên nhịp 16, nhịp 32 và nhịp 64 cho tới ngày nay.
Sau khi bài Dạ cổ hoài lang được phổ biến rộng khắp và lan nhanh cả vùng Nam bộ vào đầu thế kỷ 20, có 2 nhóm tài tử được hình thành ở miền Đông và miền Tây. Họ luôn ra sức nghiên cứu, cải tiến hoặc cải biên, sáng tác nhiều bài mới bổ sung. Trong đó có ông Ba Đợi, tên thật là Nguyễn Quang Đại, xuất thân là một quan nhạc lễ của triều đình Huế. Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, Ông vào miền Nam sống ở khu vực Đa Kao – Sài Gòn. Ông cùng các học trò của mình ra sức nghiên cứu, trao dồi, cải biên các bài bản gốc của nhạc cung đình Huế có một nhịp điệu hoà hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam bộ, dễ đi vào lòng công chúng, bằng cách giản dị hoá lối ấn nhịp (nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp lơi). Ông có quan điểm thường nhắc nhở học trò: “Lễ phải có Nghi, Nhạc phải có Hoà. Tiếng đàn phải đủ trầm bổng, nhặt khoan”, góp phần phát triển loại hình âm nhạc dân tộc này một cách tích cực. Tuy nhiên có tài liệu và nhiều nhà nghiên cứu cho biết bài Dạ cổ hoài lang, đờn ca tài tử và vọng cổ có ảnh hưởng và xuất phát từ nền tảng của nhạc lễ cung đình Huế.
Ca nhạc tài tử một loại hình âm nhạc đặc trưng cho văn hoá nghệ thuật Nam bộ. Theo các nhà nghiên cứu Nam bộ học cho rằng: Nhạc tài tử Nam bộ dựa theo học thuyết âm – dương ngũ hành và ngũ cung, dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông, với mục đích xây dựng cách sống của con người. Thuở mới định cư ở vùng đất mới, bài vọng cổ là tiếng lòng hoà vào tâm hồn của những người xa quê mà lòng không nguôi nhớ về quê cũ làng xưa.
Thực tế, bài vọng cổ hay nhạc tài tử rất đa dạng, đáp ứng được nhiều khía cạnh tình cảm, hoàn cảnh của con người. Vọng cổ thể hiện nỗi nhớ của người Việt từ biệt nơi chôn nhau cắt rún để cư ngụ ở vùng đất mới. Vọng cổ phản ánh tinh thần văn hoá truyền thống của người Việt trong quá trình thích ứng với tự nhiên Nam bộ. Do vậy, vọng cổ là một sản phẩm văn hoá dân tộc, là món ăn tinh thần của người Việt Nam phổ biến là dân cư Nam bộ.
Tác phẩm Dạ cổ hoài lang là một đóng góp to lớn, có nhiều ảnh hưởng đối với nền âm nhạc và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Một tác phẩm gắn liền với sự ra đời và phát triển của nghệ thuật Sân khấu cải lương mang đậm bản sắc dân tộc.
Tóm lại: Nền tảng của “Đờn ca tài tử” chính là nhạc lễ, một loại nhạc được phát triển vào đầu thế kỷ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Đầu thế kỷ 20, đờn ca tài tử trở thành phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, .v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và phụ cận), và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền Đông là Ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cùng với các nghệ sĩ như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng nhóm tài tử khối miền Tây có Ông Trần Quang Quờn tức ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong,.. Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình, các ấn bản nhạc tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909.

2. Nét văn hoá độc đáo của nghệ thuật “Đờn ca tài tử”:
Khi nhắc đến “Đờn ca tài tử” Nam bộ, người ta không chỉ nghĩ đến cái hay, cái chất giản dị, mùi mẫn, chất phát mà gần gủi của nó mà nó còn tạo được ấn tượng trong lòng mọi người bởi nét độc đáo của nó.
Trước đó ca nhạc tài tử mang tính chất “thính phòng” các ban tài tử và những người tham dự chỉ ngồi trong một không gian tương đối hẹp, đàn ca và thưởng thức lẫn nhau. Sau đó, phát triển hơn họ vừa ca vừa ra điệu bộ (ca ra bộ).
Nói đến “Đờn ca tài tử” là nói đến sự độc đáo của loại hình nghệ thuật này được kết hợp giữa tiếng đàn và điệu hát. Trước hết nó được thể hiện qua bộ nhạc khí, qua thang âm điệu thức, đến ngón đàn, nó tạo nên nét độc đáo đặc thù mang bản sắc của dân tộc, phù hợp với quan điểm, thẩm mỹ của người Việt Nam đặc biệt là dân Nam bộ. Nhạc khí của dân tộc Việt Nam thì rất nhiều nhưng trong loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” thì có 4 loại nhạc khí chính kết hợp với nhau gọi là “tứ tuyệt”.
Tình cảm của con người biểu lộ qua cung đàn, nhưng mỗi ngón đàn lại nói lên tâm hồn của người chơi cũng như diễn tả một tính tình khác nhau, có tiếng đàn khảy lên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên điệu mùi mẫn, nhẹ nhàng, bi ai. 
Sau đây là 4 loại nhạc khí tiêu biểu của “Đờn ca tài tử”:
– Đàn bầu hay còn gọi là độc huyền: cây đàn được chế hoá một cách hết sức giãn dị, chỉ có một dây, dây đàn căng thẳng trên trống đàn; một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm thanh khi nhạc sĩ gảy đàn. Đàn không ngựa, không phím và trên mặt trống đàn chỉ có 3 vạch trắng chia làm 4 cung, các nhạc sĩ thành thạo không cần đến các vạch trắng vì họ đã hiểu cung đàn ở chỗ nào. Trống đàn làm bằng một thứ gỗ đục rỗng thường cỡ 1,2 x 0,12 x 0,16. Tuy đàn bầu chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm khác nhau. Tiếng đàn nghe tha thiết, buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người. Chính vì vậy, người xưa cho rằng những bản nhạc của đàn bầu là “tục nhạc” là “dâm thanh” nên không được đưa vào dàn nhạc Cung đình. Ca dao cũng có câu: 
“Đàn bầu ai gãy nấy nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”
Điều đó phần nào nói lên sức quyến rũ mãnh liệt của cây đàn bầu Việt Nam.

Đàn bầu

Đàn tranh hay còn gọi là thập lục, làm bằng gỗ đục rỗng, có 16 dây, tuỳ theo nhu cầu của âm thanh mà sự căng trùng dài ngắn khác nhau. Những dây này máng trên những ngựa gắn vào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đấu ngón tay phải có móc những móng sắt, móng đồi mồi hoặc bằng nhựa …. Đễ gảy đàn, tay trái ấn trên các sợi dây để lựa âm thanh.

Đàn Tranh
– Đàn cò hay còn gọi là Nhị cũng là một nhạc khí của Việt Nam góp phần cho nhạc tài tử phong phú hơn, hay hơn. Gọi là đàn nhưng khi chơi không phải gảy vào dây như các loại đàn khác mà dùng mã vĩ cọ xát vào 2 dây nhị để tại ra âm thanh. Những nghệ sĩ tài hoa khi kéo nhị tiếng nhị nghe rất êm ái.
Nhị còn có tên là hồ cầm, Nhị có 4 phần: thùng, cần, ngựa và dây. Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt. Cần nhị dài khoảng chừng 0,5m và cấm chặt vào thùng, hai dây nhị được buộc vào đầu cần xuống tới ngựa. Những dây này ăn vào hai trục để lên dây và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần (khuyết là một vòng đồng). 

Đàn Kìm Đàn Cò

– Đàn kìm hay còn gọi là nguyệt cầm, cây đàn này có hình mặt trăng, được ông Trần Quan Quờn cải tiến từ cây đàn nguyệt cổ điển để tiếng kêu được to hơn, nhanh hơn phù hợp với bài bản trong ca nhạc tài tử. Thùng đàn rộng 0,85m (thực tế có khi nhỏ hơn), dái 0,15m, hoàn toàn kín (không giống thùng đàn guitar), cần dài 1,7m, 8 phím, 4 dây. Người sử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 thanh âm tuỳ theo tay vung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.
Ngoài ra, nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ như: đàn gáo, violon, song lang, đàn guitar phím lõm,… Trước đây trong dàn nhạc cải lương hoặc đờn ca tài tử cây đàn kìm giữ vai trò chủ đạo, nhưng sau này thì cây đàn guitar phím lõm được sử dụng nhiều hơn, cây đàn này có gốc từ Tây Ban Nha khi vào Việt Nam được các nghệ nhân chỉnh sửa để phù hợp với đờn ca tài tử, cải lương,… Bên cạnh đó, ở thời đại công nghệ điện tử phát triển như hiện nay thì cây guitar điện phím lõm được xem là nhạc cụ giữ nhiệm vụ chính trong ban nhạc. 

Đàn guitar phím lõm Song lang

Song song với các nhạc cụ là những làn điệu hát căn bản, ba nam sáu bắc đã làm cho bộ môn ca nhạc tài tử trở nên phong phú, đa dạng và thật độc đáo. Hiện nay trong ca nhạc tài tử thì các Nghệ nhân chỉ giữ lại 20 bài tổ bao gồm: ba nam, sáu bắc, tứ oán, bảy bài.
Ba nam gồm: Nam ai, Nam xuân và Đảo ngũ cung, mỗi bài có tính chất âm nhạc khác nhau. Nam xuân thì âm nhạc nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thoát. Nam ai thì ray rứt giàu chất trữ tình. Nam đảo thì có hơi Bắc nên hùng mạnh. Sáu bắc gồm: Tây thi, cổ bản, Bình bán chấn, Xuân tình, Lưu thuỷ, Phú lục, các bài Bắc thì hùng tráng mạnh mẽ hơn. Tứ oán gồm: Phụng cầu, Phụng hoàng, Giang nam, Tứ đại, các điệu thức Oán thì nói lên sự than thở, hận, hờn, những nhớ thương da diết, lắm sự thế nhân tình với bao nghiệt ngã của thiên nhiên, của xã hội lúc bấy giờ. Bảy bài gồm: Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Dạng giá, Tiểu khúc, Xàng xê. Trong bảy bài này thì mỗi bài có mang một hàm ý riêng, bài “xàng xê” theo thuyết ngũ hành thì “xàng là thuỷ”, “xê là hoả” tương khắc nên bản xàng xê có đoạn đứt bằng cung xê hoặc cung xàng. Bài “Ngũ đối thượng” là 5 điều xử thế nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, mà cố nhân quan tâm đề cập cho người trên đối với kẻ dưới. Bài “Ngũ đối hạ” là 5 cái lễ của kẻ dưới đối với người trên nằm trong ngũ thường nho giáo. Bài “Long đăng” là đèn rồng. Bài “Long ngâm” là rồng tịn. . . Khi phát triển thành bộ môn Cải lương, các tác giả đã đưa thêm vào những làn điệu để diễn tả tâm tư tình cảm của mỗi nhân vật trong tác phẩm thêm rõ nét như: Trường tương tư, Văn thiên tường, Phi vân điệp khúc, Vọng kim lang, Đoản khúc lam giang, . . .
Để thể hiện được những bài bản này thì người hát phải tập luyện rất lâu. Bởi vì người hát không chỉ có giọng hát hay, truyền cảm, ấm áp mà phải biết nhịp nhàng, điệu thức của bài hát, phải hát đúng nhịp với đàn thì mới thể hiện được cái hay của bài bản… 
Khi biểu diễn nhạc tài tư, các nghệ sĩ thường trú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử là lối đàn ngẫu hứng. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hoà hợp với nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng một bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hoà. Nhưng có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao – hoặc người ca dùng nói lối – để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho người diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe. 
II. GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1. Góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hoá:
1.1. Định nghĩa du lịch văn hoá:
“Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm nhận bề dày văn hoá của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hoá, những phong tục tập quán còn hiện diện”.
Cũng có nhiều cách biểu đạt khác nhau của định nghĩa văn hoá du lịch, tiêu biểu có 4 cách sau:
* Du lịch văn hoá là tổng hợp của cải vật chất và của cải tinh thần có liên quan đến du lịch.
* Du lịch văn hoá là kết quả tác động lẫn nhau giữa chủ thể du lịch (du khách), và khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) với môi giới du lịch (ngành du lịch).
* Du lịch văn hoá là một loại hình thái văn hoá của đời sống du lịch.
* Du lịch văn hoá là một hình thái đặc thù, lấy nhân tố giá trị nội tại của văn hoá chung làm chỗ dựa, lấy các yếu tố du lịch làm căn cứ, tác dụng với quá trình hoạt động du lịch.
Du lịch văn hoá tức là nội dung văn hoá do du lịch – hiện tượng xã hội độc đáo này thể hiên ra, là văn hoá do du khách và người làm công tác du lịch tích luỹ và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch.
1.2. Nghệ thuật “Đờn ca tài tử” góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hoá:
Khi nói đến nghệ thuật “Đờn ca tài tử” Nam bộ chắc hẳn không ít người biết rằng đây là loại hình văn hoá phi vật thể, mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo của người dân Nam bộ đặc biệt là người dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Trên vùng đất mới này, nhạc tài tử đã thoát thai từ cái gốc nghiêm cẩn bác học của Cung đình Huế, cái chất tế tự đình đám của nhạc lễ mà hoà vào cuộc sống dân dã. Nó hội nhập cùng các điệu lý, các câu hát đối đáp, các giọng hò sông nước để nói lên tiếng lòng của người dân châu thổ qua các làn điệu mới, như bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sỹ Cao Văn Lầu, như các bản vắn của nhạc Tiều, nhạc Quảng, để hình thành một thứ âm nhạc mà ngày nay chúng ta gọi là “ca nhạc cải lương”. Tiến trình âm nhạc này là thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. 
Nếu như miền Bắc có “ca trù”, miền Trung có “nhạc cung đình Huế”, Tây nguyên có “văn hoá cồng chiêng”, thì ở Nam bộ vùng ĐBSCL của chúng ta lại có “đờn ca tài tử”. Tuy chúng ta chưa biết khai thác đúng hướng để tạo thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn nhưng “đờn ca tài tử” Nam bộ đã góp thêm phần phong phú và có giá trị trong kho tàn văn hoá Việt Nam.
Chính vì điều này mà chúng ta cần phải phát triển nghệ thuật “đờn ca tài tử”, trước hết là để bảo tồn nó, sau đó là đưa nó vào hoạt động du lịch để góp thêm sự phong phú, đa dạng cho loại hình du lịch văn hoá của khu vực ĐBSCL, tạo nên các tour du lịch văn hoá hấp dẫn. 
Ngày nay, nhu cầu đi du lịch của du khách phần lớn là muốn được thẩm nhận bề dày văn hoá của một nước, một vùng. Vì vậy, phát triển “đờn ca tài tử” cũng chính là phát triển du lịch mà đặc biệt là loại hình du lịch văn hoá, bởi đây chính là loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo đã được sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam bộ này và được lưu giữ cho đến ngày hôm nay.
2. Tạo sự giao lưu nhận thức của du khách về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của vùng ĐBSCL:
Xu hướmg đi du lịch hiện nay của đa số du khách là không phải chỉ để nghỉ ngơi, vui chơi giải trí mà họ còn muốn được giao lưu học hỏi, tìm hiểu những nét văn hoá mới của những vùng khác, những quốc gia khác. Chính vì thế, việc đưa “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch không chỉ đơn thuần là để phục vụ giải trí mà còn là để tạo sự giao lưu, nhận thức cho du khách về loại hình nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam bộ này.
Việt Nam với 3 khu vực chính đó là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Mỗi vùng có một nét văn hoá đặc thù khác nhau và đây cũng chính là sự hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Nói tới vùng Bắc Bộ của Việt Nam không ai không biết đến nghệ thuật hát chèo, hát ả đào (ca trù). Đây là lối hát múa nhạc đệm do một tốp nữ trình bày. Nó là một thứ nhạc thính phòng cao quí và tồn tại suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta. Hát Ả đào, tất nhiên phải có đào hát với giọng hát khoẻ, trầm và sang, giọng hát phải được rèn luyện công phu từ nhỏ mới giữ được “hơi trong” và buông được hơi “ngoài” trong nghệ thuật ém, nhấn nhã, mà ta nghe thấp thoáng như gần như xa, như cao như tháp, như trong như đục . . . , phát ra từ nơi cuốn họng người hát. Mỗi bài nhạc thường có khúc dạo đầu. Hát Ả đào cũng vậy, trước khi giọng hát cất lên, năm khổ phách cùng trống với đàn quyện vào nhau như tiếng tơ, tiếng trúc và tiếng châu nẩy trên mâm ngọc, vừa tha thiết, vừa sang quí, và nó được tái tạo nhiều lần trong toàn bài.
Khác với Bắc Bộ, tuy cách nhau không xa nhưng vùng Trung Bộ lại có nét loại hình nghệ thuật độc đáo riêng và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế Giới (văn hoá phi vật thể) đó chính là “Nhạc cung đình Huế”. Là loại âm nhạc chỉ để biểu diễn trong cung đình cho Vua chúa và quan lại thưởng thức. Với những nhạc cụ tiêu biểu được chọn lựa kỹ càng cùng những thang âm và điệu thức đặc sắc. Âm nhạc cung đình là sự tập trung những tinh hoa nghệ thuật đặc sắc của nền âm nhạc dân gian truyền thống với nhiều thể loại và bài bản trong âm nhạc cung đình nhưng chủ yếu là phục vụ cho lễ nghi, cúng tế, nhạc cung đình có 7 loại chủ yếu: Giao nhạc, Miếu nhạc, Tế ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung nhạc. Mỗi thể loại nhạc đều có những bài bản riêng biệt được sắp xếp theo thứ tự qui định của bộ lễ lúc bấy giờ. Trãi qua thời gian cùng với những biến đổi thăng trầm của lịch sử, âm nhạc cung đình Triều Nguyễn bị thất lạc cũng khá nhiều nhưng đó cũng là một kho tàn âm nhạc vô giá trong nền âm nhạc Việt Nam. Ở miền Trung còn có một vùng nửa mà văn hoá nơi đây cũng hết sức độc đáo đó là Tây Nguyên. Một vùng đất tuy nhỏ, chỉ có một vài tỉnh nhưng nơi đây có rất nhiều dân tộc sinh sống. Ở vùng đất này chủ yếu là đồi núi, người dân nơi đây sống quanh những ngọn đồi, con suối, buông làng, con người nơi đây đã hoà nhập vào cuộc sống thiên nhiên nên đã sản sinh ra một loại hình văn hoá rất phù hợp với cảnh núi rừng đó là “văn hoá cồng chiêng”. Đây là một loại hình sinh hoạt rất phổ biến và cũng đã đưa vào phục vụ du lịch và cũng được rất nhiều sự quan tâm của du khách. Vừa qua loại hình văn hoá này cũng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế Giới. Khách du lịch rất thích đến đây để được giao lưu, sinh hoạt với những người dân tộc nơi đây để được tìm hiểu nét văn hoá độc đáo này.
Thế thì vùng Nam Bộ (đặc biệt là vùng ĐBSCL) có nét văn hoá gì độc đáo? Và làm thế nào để mọi người từ các vùng miền khác nhau của đất nước biết đến để họ được giao lưu, học hỏi và tìm hiểu về nó? Vì thế , đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch chính là con đường đưa nó đến với mọi người một cách nhanh nhất và tốt nhất.
Nói đến vùng ĐBSCL, ai ai cũng nghỉ đến nơi đây có rất nhiều những con sông lớn nhỏ chằng chịt nhau, với những cánh đồng lúa mênh mông bát ngát, những vườn cây trái trĩu quả, và cũng từ đó đã tạo nên người dân nơi đây một cách sống dân dã, thật thà, bình dị nhưng cũng rất phóng khoáng. Và cũng chính vì thế mà nơi đây đã sản sinh ra một lối sống văn hoá sinh hoạt đời thường hết sức tài tử. Và cũng từ đây đã hình thành nên một loại hình văn hoá nghệ thuật thật độc đáo, nó mang đậm tính cách của người dân nơi đây, đó là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. 
Thật vậy, với bản sắc là một loại nhạc thính phòng, dành để đàn hát cho nhau nghe, bày giải tâm tình, thư giãn tinh thần sau những giờ phút lao động, nhạc tài tử quà là có thế mạnh riêng của nó. Chỉ cần vài cây đàn dây khảy, vài người biết hát thế là gầy được một cuộc chơi lành mạnh, bổ ích, góp vui với làng xóm. Trong những dịp giỗ chạp, hiếu hỉ tại gia đình “Đờn ca tài tử” cũng rất được hâm mộ. Trong các điểm du lịch, các quán ăn dân dã thì “Đờn ca tài tử” rất được du khách yêu thích bởi tính chất thanh nhã, mang hơi hướng dân tộc, không chỉ giải trí đơn thuần mà còn ít nhiều có nội dung giáo huấn, thích nghi với truyền thống “văn dĩ tải đạo” đến nay dẫn còn nhiều giá trị trong xã hội ta.
III. BẢO TỒN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ”:
1. Cách thức bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử”: 
Hiện nay, việc đưa “Đờn ca tài tử” Nam bộ về đúng vị trí đỉnh cao của âm nhạc truyền thống dân tộc để bảo tồn và phát huy vai trò của nó trong đời sống hiện nay đang là nổi trăn trở không chỉ của Nghệ nhân hay giới mộ điệu mà còn ở góc độ quản lý văn hoá tại một chiếc nôi của dòng nhạc này trên đất Phương Nam. Tuy nhiên hiện nay các cơ quan quản lý cũng đã và đang thực hiện một số cách thức để bảo tồn loại hình nghệ thuật này. 
Một số cách thức bảo tồn nghệ thuật “Đờn ca tài tử” hiện nay:
– Tại một số tỉnh hiện nay đưa “Đờn ca tài từ” làm một trong những tiêu chí trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.
– Tổ chức các cuộc hội thi, liên hoan “Đờn ca tài tử” các cấp huyện (thị), tỉnh (TP) kể cả cấp khu vực. Qua đó, kiểm tra tay nghề của Nghệ nhân, để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Đối với các nhà quản lý thì đây là dịp để phát hiện nhân tố mới cho phong trào văn nghệ địa phương, đồng thời nhằm đạt đến sự thống nhất chuẩn mực để đánh giá tác phẩm của nghệ thuật biểu diễn. 
– Hàng năm vào ngày giỗ của nghệ nhân Nguyễn Quang Đại – Cần Thơ vào dịp tết Nguyên tiêu được coi là ngày hội ngộ của giới “Đờn ca tài tử” Nam bộ, đây là nơi gặp gỡ tri ân, là sân chơi dành để ấn chứng tài năng. Đây cũng là một cách để bảo tồn bộ môn nghệ thuật này.
Trong những năm gần đây chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam cũng đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử. Đồng thời xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc tài tử trong nền âm nhạc truyền thống của dân tộc nên hiện nay cũng đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hoá các bài bàn của nhạc tài tử, nghiên cứu thanh âm điệu thức, phương pháp ký âm..v..v.. một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản để loại hình này đa dạng, phong phú hơn.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là nâng cao ý thức cộng đồng, tạo điều kiện để người dân tham gia bảo tồn loại hình nghệ thuậ này. Bởi một khi cộng đồng địa phương đã thấu hiểu vấn đề cần thiết phải bảo tồn, họ sẽ tích cực tham gia cùng với các cơ quan quản lý.
2. Giáo dục ý thức bảo tồn:
Đất nước thời mở cửa, để giao lưu hợp tác với các nước bạn không thể tránh việc du nhập và giao lưu với các nền văn hoá, đối tượng dễ bị lai căng là giới trẻ ngày nay, họ không còn thích những loại nhạc du dương mang tính trữ tình lãng mạn, càng không thích nghe những điệu lý, câu hò, những bài vọng cổ,… mà họ lại thích các loại nhạc rock, ráp,..sôi nổi. Vả lại trong thời buổi kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường, muốn theo kịp thời đại thì người ta phải tất bật với công việc để có mức thu nhập ổn định, đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng cao, vì thế làm cho họ ngày càng xa rời với nghệ thuật truyền thống. Bởi lẽ, trong thời buổi như hiện nay người dân không còn ngày chỉ 2 buổi ra ruộng mà họ phải luôn bận rộn với công việc nên không còn nhiều thời gian rảnh rổi để ngồi lại đàn hát cho nhau nghe. Từ đó cho thấy việc đưa “nhạc tài tử” Nam bộ về đúng vị trí đỉnh cao của âm nhạc truyền thống dân tộc để bảo tồn và phát huy vai trò của nó trong đời sống văn hoá hiện nay đang là nổi trăn trở không chỉ của nghệ nhân hay giới mộ điệu mà còn ở góc độ quản lý văn hoá.
Từ khi Việt Nam xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và ra sức kêu gọi đầu tư phát triển cho ngành du lịch thì văn hoá Việt Nam ngày càng được lan rộng ra các nước, tạo thế đứng ngày càng vững chắc cho ngành du lịch Việt Nam. Vì thế, ngành du lịch Đồng bằng sông Cửu Long nếu muốn phát triển theo hướng bền vững thì cần phải giáo dục ý thức cộng đồng một cách sâu sắc về bảo tồn và phát triển văn hoá của vùng.
Xác định được giá trị của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là một trong những kho tàn nghệ thuật của văn hoá Việt Nam và là nét nghệ thuật điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc đặt ra trước mắt là làm thế nào để giáo dục ý thức bảo tồn của cộng đồng để loại hình nghệ thuật này được lưu giữ và không bị thất truyền.
Thứ nhất: Giáo dục cho cộng đồng biết rằng trong cuộc sống hiện đại rõ ràng chúng ta có đi theo hướng hiện đại, phù hợp với nhịp điệu công nghiệp và có giao lưu giữa các nền văn hoá của nhân loại nhưng phải tiếp thu có chọn lọc và vẫn cứ phải lấy nội dung văn hoá dân tộc làm định hướng chính và phải chấp nhận sự tồn tại của nghệ thuật dân tộc như là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá Việt Nam.
Thứ hai: Đối tượng mà chúng ta muốn giáo dục trước tiên là giới trẻ, ông bà ta thường có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Vì vậy, đối tượng học sinh, sinh viên là mục tiêu giáo dục hàng đầu vì đây là lực lượng kế thừa nghệ thuật cho tương lai. Vì vậy cần đưa bộ môn nghệ thuật này vào tất cả các trường chứ không chỉ gói gọn trong trường sân khấu nghệ thuật, để tất cả giới trẻ có thể hiểu về môn nghệ thuật này, từ đó có định hướng cho mình. 
Thứ ba: Đối với những người trong nghề, chúng ta nên khuyến khích họ giữ gìn và phát huy môn nghệ thuật này. Mặc dù chúng ta đến với nó thì không tạo được mức thu nhập cao như những ngành nghề khác, nhưng chúng ta đến với đờn ca tài tử vì sự yêu thích, say mê, nặng tình với nghệ thuật này.
Thứ tư: Chúng ta nên tuyên truyền rộng rải trên các phương tiện thông tin đại chúng để cộng đồng hiểu được nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của vùng mình là một nét văn hoá độc đáo của dân tộc, chẳng hạn như chúng ta làm các chương trình “văn hoá đồng bằng, ngày hội văn hoá của khu vực đồng bằng sông Cửu Long,… trong đó đi sâu vào vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật “đờn ca tài tử” thường xuyên trình chiếu trên đài truyền hình.

http://www.conhacvietnam.com/diendan/viewtopic.php?f=348&p=62398#p62398

 

TRẦN QUANG HẢI : Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 65 năm với đàn tranh


Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 65 năm với đàn tranh

 Image

 

Nói tới nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo, cõ thể những người trẻ không biết là ai, nhưng đối với người yêu nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc Đàn Tài tử , và nhứt là Đàn Tranh, ai cũng biết và khâm phục ngón đờn có một không hai của Việt Nam và tài sáng chế đàn tranh theo kích thước và số dây thêm vô (từ 16 lên tới 21 dây ) . Ông là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi còn lại ở Việt Nam có lối đờn ứng tấu ứng tác . Ở Việt Nam ông là người duy nhứt vừa là nhạc sĩ trình tấu, vừa là giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống , lại vừa là người đóng đàn sáng tạo . Tôi được may mắn có hai cây đờn do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đóng , một cây do cô Tư Ngọc Sương ( em gái của Ba tôi, GS Trần Văn Khê) mua tặng năm 1974, và một cây với ba chữ ký phía sau lưng cây đàn – Nguyễn Vĩnh Bảo, Trần Văn Khê và Phạm Văn Nhu do bạn tôi Cao An Lộc tặng )

Viết cuộc đời của một nhạc sĩ tài danh đã có nhiều ảnh hưởng đến việc phổ biến tiếng đàn tranh của tôi trên thế giới ( dùng đàn tranh của ông để thâu dĩa, và trình diễn suốt gần 40 năm qua), tôi đã liên lạc thơ từ với nhạc sư Vĩnh Bảo nhiều lần, hỏi thăm về quá trình của ông . Tôi mong rằng bài viết của tôi sẽ giúp cho những ai thích đàn tranh, thích nhạc cổ miền Nam biết rõ một danh tài của đất nước mà hiện nay chỉ thích sống ẩn dật tại một nhà nhỏ ở Saigon, vui thú điền viên, tìm sự thanh thản qua tiếng đàn, qua sự truyền dạy những ai muốn tìm đến, và khảo cứu nhạc truyền thống Việt Nam và đặc biệt là làm thơ bằng ba thứ tiếng Pháp, Anh, và Việt (thêm một khía cạnh dấu kín khác của nhạc sư Vĩnh Bảo) .

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là ai ?

Ông tên thật là NGUYỄN VĨNH BẢO, nhưng trong giới nghệ sĩ quen gọi là VĨNH BẢO, cho nên có một số người tưởng ông thuộc dòng dõi hoàng tộc .

Sinh năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là con thứ sáu trong một gia đình trung lưu nho học gồm 4 trai, 3 gái, cả thảy đều chơi đàn dân tộc . Cụ thân sinh ông , tên là Nguyễn Hàm Ninh, một đông y sĩ rất sành các cây tranh, kìm, cò và gáo, luôn cả hát bội . Người anh cả và người anh kế đều đờn kìm và tranh khá giỏi. Đặc biệt là anh Ba có ngón đờn kìm và xến rất tươi và ngọt , lại độc đáo nữa đến nỗi nhạc sư Sáu Tửng nghe phải tấm tắc khen và phục . Tất cả con cái trong nhà lớn lên trong bầu không khí nhạc cổ truyền và dùng tiếng đờn làm nguồn giải trí .Riêng ông Vĩnh Bảo, lúc lên 6 tuổi, cũng như các anh của ông, rất đam mê âm nhạc. Lúc đầu ông chỉ mò mẩm các cây đàn đoản, đàn nhị và đàn gáo . Dần dần ông học qua các cây đờn tranh, kìm, đàn độc huyền, măng cầm (mandoline), Tây ban cầm ( guitare espagnole), vĩ cầm (violon), và dương cầm (piano). Nói tóm lại ông đã đờn được tất cả nhạc khí của đàn tài tử miền Nam ngoại trừ sáo và tiêu . Với óc thích sáng chế, ông đã khởi sự đóng đàn cò từ lúc 10 tuổi vì lúc đó trong nhà có thợ mộc giúp việc .

Năm 12 tuổi, ông được may mắn gặp những nhạc sư nổi tiếng trong xứ tân tình hướng dẫn đàn tranh và các nhạc khí khác ngoại trừ ống tiêu và sáo . Ông đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn), vv… . Cả gia đình đều thích nhạc nhưng ông thân của nhạc sư Vĩnh Bảo cho các con có quyền yêu nhạc nhưng không được xao lãng việc học hành .Tính ra ông đã học với gần 200 « thầy » (theo nghĩa nhất tự vi sư, bán tự vi sư) ở khắp ba miền Nam Trung Bắc trên xứ Việt .

Năm 1935, khi ông học ở đất Chùa Tháp (Cao Miên), ông đã sáng chế ra dây Tỳ (Hò Liêu – Sol -Sol) và dây Xề Liêu (Re – Sol) trong lúc đi thăm viếng một ngôi chùa trong một đêm trăng sáng , có tiếng ếch kêu . Ông cố tạo âm thanh của tiếng ếch trên cây đàn gáo

Nhà ông ở Cao Lãnh là nơi hội tụ các nghệ sĩ các gánh hát cải lương hay hát bội ghé diễn tại Cao Lãnh. Mỗi khi các nghệ sĩ diễn xong là thường tới nhà thân phụ ông để ăn cháo gà và hàn huyên cho tới 2 giờ sáng . Ngoài ra còn có các đông y sĩ, nhà thơ , nhà văn hay các nhạc sư đều ghé ngang mỗi khi tới Cao Lành . Quý cụ Lý Tòng Ba, Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Quang Đại, và luôn cả ông cố tôi là Trần Quang Diệm nổi tiếng về tiếng đàn tỳ bà ở Vình Kim. Nhờ vây, nhạc sư Vĩnh Bảo có dịp gặp rất nhiều nghệ sĩ và làm quen với cổ nhạc từ lúc ấu thơ và là độâng cơ thúc đẩy ông đi vào con đường âm nhạc . Cụ Nguyễn Hàm Ninh, thân phụ nhạc sư Vĩnh Bảo, và người anh thứ hai , Nguyễn Văn Phát, thường hay nhắc đến ngón đờn kìm tươi mướt ngọt ngào của ông nội tôi , Trần Văn Triều, tự Bảy Triều. Ông nội tôi đã chế ra dây Tố Lan (Xừ liêu / La Sol) với chủ âm phải bấm dây Tiếu phím 1. Ông rất hiếm đờn cho người ta nghe , phải chờ khi ông ngẫu hứng thì ông mới lấy đờn ra đờn . Dịp may cho nhạc sư Vĩnh Bảo là năm 1932, ông nội tôi có tới nhà của cụ thân phụ nhạc sư Vĩnh Bảo thăm và có đàn kìm dây Tố Lan cho mọi người nghe . Nhờ đó nhạc sư Vĩnh Bảo mới nghe và thích cách lên đây Tố Lan . Dây Tố Lan có thể nghe trong CD « Vietnam : tradition du Sud » một bản rao dây buồn trên đàn kìm do hãng OCORA sản xuất vào năm 1973.

65 năm trong nghề nghiệp âm nhạc

Ngoài đàn tranh là sở trường của ông, các cây đàn kìm, đàn cò, đàn gáo ông đều sử dụng một cách thành thạo .

Hơn 10 năm học hỏi với cha, với anh tại nhà, thêm vào đó với sự dẫn dắt tận tình của các vị thầy giỏi ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, ông đã có một vốn liếng âm nhạc khá vững vàng từ lúc 20 tuổi. Vào cuối thập niên 30, ông đã tạo một chỗ đứng quan trọng trong hàng ngũ nhạc sĩ trẻ miền sông Cữu Long .

Năm 1938 đánh dấu bước đầu của sự nghiệp nhạc sĩ của ông. Ông được hãng dĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Năm Cần Thơ) ca . Nhạc sư Năm Nghĩa ở Trà Ôn đờn tranh, Ba Cần đờn kìm, và Vĩnh Bảo đờn gáo . Và cũng bắt đầu từ đó, ông tạo uy tín vang dậy cho sự nghiệp của ông .

Lúc còn trẻ ông thường đờn trình diễn ở khắp miền Nam . Ông còn đi qua Nam Vang đờn cho khán giả Việt Nam . Có một lần ông gặp một anh đạp xích lô rất mê nhạc . Sau khi nghe ông đờn, anh ta chạy lại xe xích lô , lôi ra cây đờn cò và xin được song tấu với ông vài bản và anh ta đờn khá hay . Đó là một kỷ niệm khó quên của ông tại Cao Miên .

Năm 1947, ông dạy tiếng Pháp ở trường tư thục Ngô Quang Vinh . Lúc đó thân phụ tôi, GS Trần Văn Khê, dạy Anh văn cũng ở cùng trường đó . Ông đã biết cha tôi đàn tranh, cò, kìm nhưng vì tánh khiêm nhượng , ông không có thổ lộ với cha tôi . Năm 1949, trước ngày cha tôi đi sang Pháp, ban giám đốc trường cùng các giáo sư chụp chung hình kỷ niệm . Tình cờ nhạc sư Vĩnh Bảo đứng cạnh phĩa tay trái của cha tôi. Mãi tới năm 1967, nhờ bác sĩ Phạm Kim Tương trong một dịp thu thanh nhạc gởi qua cho cha tôi mà nhạc sư Vĩnh Bảo và cha tôi bắt đầu bắt liên lạc trở lại và trở thành đôi bạn thân trên 30 năm .

Năm 1955, trường quốc gia âm nhạc Saigon được thành lập. Lúc ban đầu, trường được đặt trụ sở tại trường kỹ thuật ở đường Phạm Đăng Hưng (nay là Mai thị Lựu, Dakao). Năm sau mới dời về 72 đường Nguyễn Du. Ông Vĩnh Bảo được trường mời dạy môn đàn tranh, cùng lúc với các nhạc sư , nhạc sĩ Chín Kỳ (Nguyễn Văn Kỳ), Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm . Sau đó, ông được trường cử làm trưởng ban cổ nhạc miền Nam .

Nhạc sư Chín Kỳ, tên thật là Nguyễn Văn Kỳ, có vợ là bà Hai Hoa, một danh ca thời thập niên 30-40. Ông chuyên về đàn tranh, thuộc rất nhiều bài. Học trò của ông đa số là những người thượng lưu khoa bảng như cố bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, cố bác sĩ Nguyễn văn Bửu (người đã in tập bài bản lớn của đàn tranh với ký âm của ông Chín Kỳ, nhưng chỉ quảng bá trong phạm vi nhỏ), những ái nữ của cố bàc sĩ Phan Văn Đệ Năm 1956, ông Chín Kỳ được mời dạy đàn tranh ở trường quốc gia âm nhạc Saigon với tư cách là giáo sư dạy giờ Ông dạy theo lối truyền khẩu mặc dù có bài bản viết ra đàng hoàng . Sau bốn tháng , ông bi. cảm nặng . Bác sĩ Phan Văn Đệ đưa ông về nhà riêng để trị bịnh , nhưng ông qua đời tại Hòa Hưng sau đó . Ông có một con gái được ông bà Phan Văn Nghi, giáo sư trường quốc gia âm nhạc đem về nuôi dưỡng và dạy ca hát múa .

Ông Nguyễn Văn Thinh (thầy giáo Thinh), từng làm giám học ngành quốc nhạc của trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1958 . Ông biết đờn Kìm và Tranh . Ngoài ra cũng có biết qua đàn Tỳ Bà . Lúc nhỏ ông học đờn với ông Sáu Thới . Ông từng đoạt giải nhứt sáng tác nhạc truyền thống Hoàng Mai Lưu. Ông mất năm 1989, thọ 86 tuổi .

Ông Phạm Văn Nghi là công chức tại quận Gò Vấp, có vợ là danh ca Hồ thị Bửu . Ông Nghi biết đờn nhiều cây như Tranh , Kìm, Cò, Gáo. Bài bản ông thuộc khá nhiều. Hai ông bà nuôi nhiều con trẻ vì không có con . Trong số các trẻ em được ông nuôi có nữ nhạc sĩ đàn tranh Ngọc Dung, cựu giáo sư đàn tranh của nhóm Hoa Sim . Sau 1975, cô sang định cư tại thành phố San Jose và thường tổ chức những buổi đàn tài tử tại nhà hay trình diễn ở Hoa kỳ. Hai ông bà Nghi từng dạy tại trường quốc gia âm nhạc Saigon trong vòng 10 năm, ông dạy đàn tranh, bà dạy hát cổ nhạc. Hai người qua đời vào đầu thập niên 80 tại Định Quán

Ông Võ Văn Tiểng, tự Mười Tiểng sinh trưởng ở Gò Công, hành nghề chánh là kế toán, và nghề tay trái là đàn kìm .Trong giới cổ nhạc miền Nam chỉ biết ông qua tiếng đàn Kìm gân guốc, sâu sắc . Ông đàn tranh và cò cũng sành lắm . Ông đàn chậm rãi, khoan thai chứ không chạy chữ như các nhạc sĩ đàn kìm hiện nay . Nếu ai có dịp nghe cuốn băng Nam Bình 1 được phát hành tại Saigon vào đầu thập niên 70, các bản Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán với tiếng đàn kìm của ông Mười Tiểng và tiếng đàn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo thì mới thấy tiếng đờn của ông có một sắc thái riêng biệt , hiếm có trong làng chơi nhạc đàn tài tử miền Nam .

Nhạc sĩ Năm Vĩnh, chuyên về đàn kìm và đàn hạ uy cầm (guitare hawaienne). Ông đờn tay trái và chế ra dây hò Năm cho đàn kìm .Trong băng Nam Bình 2, ông sử dụng Đàn Kìm chung với nhạc sĩ Hai Thơm đờn vĩ cầm (violon / violin) và nhạc sư Vĩnh Bảo đờn tranh qua bài « Đảo Ngũ Cung ». Ông hòa đờn Kìm trên dây Hò Năm với ông Hai Thơm đờn vĩ cầm trong bài Vọng cổ 6 câu. Ông Hai Thơm với tiếng đàn vĩ cầm vuốt lã lướt , mượt mà cùng với tiếng đàn kìm tuyệt diệu của ông Năm Vĩnh tạo cho người nghe những giây phút thần tiên

Ông Mười Còn , sinh quán ở Cần Đước, là nhạc sĩ đàn cò nổi tiếng ở miền Nam . Ông có dịp nghe nhạc sĩ Jean Tịnh khoảng năm 1936 biểu diễn đàn vĩ cầm bản Vọng cổ nhịp 8. Lối đờn của ông Mười Còn hay, nhưng nặng về cơ bản, trong khi ông Tư Huyện thì vừa cơ bản vừa lả lướt linh động . Ông Mười Còn thấy đàn vĩ cầm là cây đờn phối hợp cả hai cây cò và gáo nên ông liền học vĩ cầm . Năm 1938, nhạc sư Vĩnh Bảo có dịp nghe tiếng đờn vĩ cầm của ông Mười Còn ướt át hơn tiếng đờn vĩ cầm của ông Jean Tịnh .

Ông Nguyễn Thế Huyện , tức Tư Huyện ,sinh trong gia đình chuyên về nhạc lễ có tiếng ở Cần Đước . Ông chuyên về đàn cò và dàn gõ nhạc lễ nhưng rất thạo vĩ cầm, Tranh, Kìm và thổi ống Tiêu rất điêu luyện . Em trai của ông Tư Huyện là ông Sáu Quí, chuyên về đàn tranh . Nếu ai có dịp nghe bài vọng cổ nhịp 16 thu trong dĩa « Sao hôm lốm đốm điểm thưa rồi », ông Sáu Quí đệm đàn tranh cho ca sĩ Ba Tuất Sa Đéc ca thì sẽ thấy hồn lâng lâng tận chốn thiên đình . Ông qua đời lúc tuổi chưa đầy 40 sau một cuộc sống giang hồ trác táng bịnh hoạn .

Ông Hà Văn Tân , tự Chín Trích , là thân phụ của nữ nghệ sĩ Tú Trinh. Ai cũng biết tên Chín Trích hơn là tên Hà Văn Tân. Thầy của ông là ông Cò Quốc. Người ta thấy ông thường đi theo ông Cò Quốc nên gọi ông là Trích . Quốc và Trích là hai loại chim ở đồng ruộng . Ông là con thứ chín trong gia đình nên từ đó mang biệt hiệu Chín Trích luôn . Ông chuyên về đàn cò, có cách đàn kéo cung ngắn , khác với cách kéo của ông Tư Huyện (kéo cung dài). Ông chuyên đờn cho gánh hát , đài phát thanh và thâu băng dĩa .

Ông Năm Cơ , chuyên về đàn kìm và xến. Ngoài ra ông cũng có đàn ghi-ta lõm. Năm 1950, ông cùng ông Sáu Lắc đờn quảng cáo cho nhà thuốc cao đơn hoàn tán Đại Từ Bi ở đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu bây giờ). Có một dạo ông đờn tại quán ăn của cô Ba Trà Vinh, một nữ ca sĩ cổ nhạc tại đường Douaumont (Cô Giang bây giờ). Tiếng đờn của ông trên Đàn Kìm và Đàn Xến rất xôm tụ, rộn ràng, hạp với tiếng đờn ghi-ta lõm của cố nhạc sĩ mù Văn Vĩ . Trong băng Nam Bình 2, bài vọng cổ « Thư về quê mẹ » do ca sĩ Thành Được hát và bản « Lan và Điệp » qua tiếng hát của Út Bạch Lanvới tiếng đờn xến thần sầu của Năm Cơ, tiếng đàn tranh óng chuốt của Bảy Bá và tiếng đờn ghi ta lõm huyền ảo của Văn Vĩ . Ông đã ra đi, mang theo tiếng đờn khó kiếm và để lại trong lòng giới mộ điệu một sự tiếc thương

Năm 1960, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo lập ban « Tinh Hoa » gồm một số ca sĩ, nhạc sĩ chuyên về loại nhạc tài tử miền Nam để trình diễn trên đài phát thanh Saigon. Tri kỷ mộ điệu thưởng thức được 4 chương trình thì nhạc sư Vĩnh Bảo, trưởng ban « Tinh Hoa » tự ý khai tử ban nhạc này . Lý do là đài phát thanh Saigon ra chỉ thị cho ông trưởng ban phải soạn lời ca mang nội dung « xuy tôn Ngô Tổng thống ».

Trong thời gian dạy tại trường quốc gia âm nhạc Saigon, ông Vĩnh Bảo có sáng chế phương pháp ký âm bài bản nhạc truyền thống .

Về việc sáng chế loại đàn tranh cải tiến, ai cũng đều nhìn nhận rằng ông là người đầu tiên đã cải tiến đàn tranh từ 16 dây ra loại đàn tranh có kích thước lớn với 17 , 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại « hơi, điệu » mà khi đờn không cần sửa dây, kéo nhạn .

Ông đã bị một số nhạc sư, nhạc sĩ nhạc cổ truyền thời bấy giờ lên tiếng chỉ trích việc cải tiến đàn tranh của ông. Từ cuối thập niên 50 cho tới nay , nhiều nhà sản xuất đàn tranh bắt chước làm những cây đàn tranh theo kiểu ông sáng chế. Vì vậy sau này ít thấy đàn tranh 16 dây, và cũng không còn nghe ai chỉ trích về việc cải tiến đàn tranh .

Nhạc sư Vĩnh Bảo dạy đàn tranh ở trường Quốc gia âm nhạc Saigon từ 1955 tới 1964. Trong giai đoạn này , ông thường có mặt tại những buổi thuyết trình về nhạc truyền thống bằng tiếng Anh, Pháp, Việt, và cũng có lúc trình diễn nhạc cổ truyền tại Trung tâm văn hóa Pháp, Đức, hội Việt Mỹ tại Saigon . Năm 1963 ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Tân gia ba .

Vào năm 1967, bác sĩ Phạm Kim Tương là một nhà mạnh thường quân đối với nhạc sĩ cổ nhạc . Chính bác sĩ Phạm Kim Tương là người đúng ra mời các nhạc sĩ nổi tiếng hàng đầu của nhạc đàn tài tử miền Nam thời đó như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, các nhạc sĩ Năm Cơ đàn cò, Chín Trích đàn cò, Tư Huyện thổi sáo, Văn Vĩ đàn ghi ta phím lõm để thâu vô băng nhựa gởi làm quà cho GS Trần Văn Khê . Tôi được may mắn nghe cuốn băng đó vào năm 1967 và lần đầu tiên « khám phá » tiếng đàn tranh huyền bí của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo . Cuốn băng này được tàng trữ tại âm thanh viện của Viện Bảo Tàng Con Người (Archives sonores du Musée de l’Homme / Sound Archives of the Museum of Mankind) ở Paris quận 16 (là nơi tôi làm việc từ năm 1968 tới nay một cách liên tục). Vào đầu thập niên, hai cuốn băng Nam Bình 1 và 2 được phát hành giới thiệu những bài bản căn bản của truyền thống đàn tài tử qua các tiếng đàn bất hủ của các nhạc sư nhạc sĩ tài ba nhứt của làng cổ nhạc miền Nam mà cho tới nơi khó kiếm người thay thế .

Năm 1970, ông được đài truyền hình NHK của Nhật Bổn mời sang Đông Kinh để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh .

Đến giữa năm 1970, trường đại học Illinois (Hoa kỳ)mời ông sang giảng dạy nhạc cổ truyền Việt Nam với tư cách giáo sư biệt thính. Trong thời gian này , GS TS Trần Văn Khê có sang dạy và cùng với nhạc sư Vĩnh Bảo góp mặt trong nhiều buổi hội thảo về âm nhạc học với các nhà dân tộc nhạc học Mỹ

Năm 1972, Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies for Oriental Music) tại Paris mời ông sang Pháp để cùng vơí GS Trần Văn Khê bàn bạc nhiều chủ đề về âm nhạc dân tộc . Trong chuyến đi này, trung tâm âm thanh nhạc học (Laboratoire d’Acoustique Musicale) do cố GS Emile Leipp, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về âm thanh học đã mời ông tới nói chuyện một buổi về nghệ thuật đóng đờn . GS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo có thực hiện một dĩa 33 vòng về Nhạc tài tử miền Nam ( « Vietnam : tradition du Sud ») do hãng dĩa OCORA thực hiện và một dĩa 33 vòng cho UNESCO, collection Sources Musicales / Musical Sources. Trong thời gian này , tôi có nhiều dịp gặp nhạc sư Vĩnh Bảo hoặc tại tư gia hoặc tại các buổi hòa nhạc cho công chúng Pháp, Việt, và được giải thích cách nhấn, vuốt, làm sao cho tiếng đàn tranh thêm trong sáng, tươi mát với điệu Bắc, hay buồn thảm, sầu bi, não ruột với điệu Ai , Oán . Ngón đàn tranh nhẹ nhàng , sang trọng của nhạc sư Vĩnh Bảo rất dễ đưa người nghe vào thế giới âm thanh thơ thới, lâng lâng .Tôi biết đàn tranh, học với GS Trần Văn Khê là thân phục của tôi, có dịp nghe nhiều nhạc sư khác đàn (Hai Biểu, Ba Dư, Chín Kỳ, hay nhữøng nhạc sĩ thế hệ trẻ hơn như Thúy Hoan, Phương Bảo, Quỳnh Hạnh, Phương Oanh, Ngọc Dung của nhóm HOA SIM, Hoàng Cơ Thụy , hay trẻ hơn nữa như Minh Thành, Đặng Kim Hiền, Ngọc Thanh, hay thuộc thế hệ đương đại như Hải Phượng, Thanh Thủy. Nhưng cho tới ngày nay , tôi chưa nghe ai có ngón đàn sang trọng, đài các như ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo .

Từ 1975 đến nay, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn tại gia và đóng đờn . Công việc của ông là dạy trực tiếp hay hàm thụ qua băng cho một số người Việt Nam hay ngoại quốc đến Việt Nam, hay cho một số nhạc sinh ở Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Hoa kỳ . Ông cũng thường tiếp những nhà âm nhạc học, nhạc sĩ của nhiều quốc gia khác nhau để trao đổi văn hóa .

Vào tháng 4, 1993, GS Trần Văn Khê, trong một buổi thuyết trình về nhạc Việt Nam tại Hòa Lan, đã nói là chưa nghe được ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vừa «bay bướm », « sâu sắc » (ghi lại từ cuồn K7) .

Đêm 14 tháng 3, 1994, nhạc sư Vĩnh Bảo thuyết trình về nhạc Việt , đã nói : « Bản sắc nhạc Việt nằm ở chỗ « nhấn nhá ». Rao của bản đờn cổ truyền là đặc hữu Việt Nam ». Ông không nói suông, mà lại dẫn chứng cụ thể với tiếng đàn tranh qua bài « Đảo ngũ cung û, qua cách rao Bắc, rao Nam, hơi nhạc lễ, hơi Quảng. Với những ngón tay khẳng khiu đầy gân xanh, ông đã để hồn vào tiếng đờn lã lướt, nhẹ nhàng , thanh thoát, nhưng nghe rất « nhức xương », ai nghe cũng bị thu hút bởi tiếng đờn sang trọng khi đờn các bài Nam Xuân, Lưu Thủy, hay não ruột khi đờn bài Tứ đại oán, Nam Ai , Vọng cổ . Tiếng đờn của nhạc sư Vĩnh Bảo là một liều thuốc làm tan đi ưu phiền, làm dịu lòng người, .

Năm 1997, Jean Christophe Maillard, phó giáo sư nhạc học cũa trường đại học tỉnh Toulouse, đến Saigon để học hỏi nhạc Việt . Anh chuyên về đàn musette thuộc nhạc thời Phục Sinh (Renaissance) nhưng đã có nhiều dịp nghe GS Trần Văn Khê và tôi trình diễn ở Pháp nên cũng hiểu chút đỉnh về nhạc Việt và Á châu . Anh đã gặp nhạc sư Vĩnh Bảo vài lần , được nghe ông giải thích sữ khác biệt giữa nhạc Đông và Tây, và hòa đàn những bản Lưu Thủy, Kim Tiền, Tứ Đại và Vọng cổ với người học trò cưng của ông là Hoàng Cơ Thụy (tuổi trạc ngũ tuần), một nhạc sĩ có thể nối nghiệp nhạc sư Vĩnh Bảo về đàn tranh .

Những năm 1998-1999, nhạc sư Vĩnh Bảo được ban giám đốc trường Colette mời dạy nhạc cổ truyền Việt Nam cho các học sinh người Pháp .

Năm 2002, hãng dĩa OCORA của Pháp đã phát hành một CD với nhạc sư Vĩnh Bảo và ban nhạc đàn tài tử gồm Sáu Tý và Hoàng Cơ Thụy đã tạo một tiếng vang lớn ở hải ngoại và được bán khắp nơi trên thế giới ( tìm trên mạng lưới internet , gõ http://www.google.com , sau đó gõ « nguyen vinh bao » thì sẽ thấy hiện ra trên 150 trang nhà có nói về Nguyễn Vĩnh Bảo hay những nơi có bán CD

Vào cuối năm 2003 ,Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Long An đã ấn hành quyển sách « Thử tự học đàn tranh » do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo biên soạn giúp cho những ai muốn tự học đàn tranh với một số bài bản căn bản . Đây là một công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị sư phạm và nghệ thuật âm nhạc dân tộc mà nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã dày công nghiêu cứu sưu tầm . Sách dày 229 trang , khổ lớn (20cm/ 28cm) vừa hướng dẫn lý thuyết và thực tập tự học đàn tranh , có dĩa hình CD minh họa nên rất dễ học, dễ hiểu. Với hai phương pháp ký âm quốc tế (do , ré, mi, fa sol, vv…) và ký hiệu riêng do tác giả sáng tạo rất chính xác và khoa học . Phần lý thuyết không quan trọng vì đây là loại sách chú trọng về thực tập đằn tranh Có khoảng 100 bài bản giai điệu từ các bài đàn tài tử, cải lương từ dễ tới khó. Rất tiếc là sách này chỉ ấn hành trong phạm vi của tỉnh và dành tặng khách phương xa , không có phổ biến rộng rãi trên toàn quốc.

Năm 2004, một số học trò của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo ở Hoa Kỳ có thực hiện 3 DVD về phương pháp học đàn tranh bằng tiếng Anh và 4 DVD học đàn tranh bằng tiếng Việt với những bài tập từ dễ tới khó và một số bài bản căn bản của truyền thống Đàn Tài Tử miền Nam .

Trong căn phòng đầy những sách vở, những cây đờn, ông tiếp tục nghiên cứu , viết sách, làm thơ . Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo có con và cháu đờn rất khá nhưng lại không có ai tiếp tục con đường nhạc dân tộc mà nhạc sư đã vạch sẵn . Ngay cả người học trò giỏi nhứt là Hoàng Cơ Thụy (tuổi khoảng 50), chịu nhiều ảnh hưởng cách luyến lái và cách đàn tranh khoan thai của nhạc sư , nhưng không hành nghề nhạc sĩ cổ truyền .Và ông bàn đến Thiền trong tiếng đờn , trong âm nhạc . Lòng ông muốn thanh thản mượn qua tiếng đờn. Ông đã đi nhiều, chu du thế giới, sống nhiều , qua bao nỗi gian truân biểu dâu thời cuộc. Tiếng đàn tranh của nhạc sư phản ảnh tâm trạng của ông . Ông đã gởi nỗi lòng của mình qua tiếng đờn, khi vui khi buồn tùy theo lúc và tùy theo tình cảm của ông lúc đờn . Âm nhạc là muôn thuở . Âm nhạc là trường cữu .Âm nhạc là bất diệt .

Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

Những dĩa hát ông đã thu ở Pháp :

Dĩa 30cm/33 vòng

1. « Vietnam/ Tradition du Sud » với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê, OCORA OCR 68, Paris, 1973

2. « South Vietnam : Entertainment Music » với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê, Philips 6586028, collection UNESCO Musical Sources, Amsterdam, Hòa Lan, 1973

Dĩa CD

3. « Vietnam/Tradition du Sud » par Nguyễn Vĩnh Bảo et Trần Văn Khê, CD, OCORA C580043, Paris, 1993.

4. « Vietnam / Tradition of the South », by Nguyễn Vĩnh Bảo and Trần Văn Khê, AUVIDIS D 8049, UNESCO Collection, Paris, 1993

5. « Musique du Vietnam / Ensemble Nguyen Vinh Bao », OCORA C 560 160, Paris, 2002

Sách về đàn tranh

Nguyễn Vĩnh Bảo, 2003 : « Thử tự học đàn tranh », Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh Long An, 229 trang, CD minh họa, 100 giai điệu bài bản cơ bản, tài tử cải lương .

Địa chỉ của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo

282/B21 Bùi Hữu Nghĩa

Ph 2, Q. Bình Thạnh

TP Hồ Chí Minh

Việt Nam

Điện thoại : 84-8-8430 454

Điện thư (email) : vb1908@gmail.com

hình trích từ trang nhà http://vinhbao.theonly1.net

 

GS TRẦN VĂN KHÊ : Không có tỉnh nào có thể được xem là cái nôi của ĐCTT


Không có tỉnh nào có thể được xem là cái nôi của ĐCTT

Tin bài liên quan:

Cải lương là loại hình nghệ thuật cần được bảo tồn và phát huy

Tiền Giang có những đóng góp to lớn nghệ thuật đờn ca tài tử

Tiền Giang có phong trào đờn ca tài tử phát triển rất sớm

Gần đây, khi UNESCO vinh danh đờn ca tài tử là một di sản phi vật thể đại diện nhân loại thì có nhiều nơi cho rằng tỉnh của mình là cái nôi của đờn ca tài tử. Theo tôi, không có tỉnh nào có thể được xem là cái nôi của đờn ca tài tử vì bộ môn này đã được nhân dân khắp nơi trong toàn cõi miền Nam nước Việt ưa thích và tham gia những cuộc “chơi” đờn ca tài tử. Phóng viên Báo Ấp Bắc mở đầu bài phỏng vấn “Tiền Giang có những đóng góp to lớn nghệ thuật đờn ca tài tử” (ngày 11-1-2014) có câu “Tiền Giang là cái nôi của nhạc tài tử”.

Tôi rất đồng ý vì sự đóng góp của Tiền Giang rất quan trọng, chỉ tại tỉnh Tiền Giang đã có nhiều danh cầm như Nguyễn Tống Triều (Tư Triều), ngoài việc có 1 dàn đờn ca tài tử rất phong phú, ông đờn kìm thuộc về bực nhứt đến đỗi có một chánh khách ưa nhạc là Diệp Văn Cương nói rằng khi tôi nghe Tư Triều đờn kìm, ông Năm Diệm đờn tỳ bà thì tôi không còn muốn nghe ai đờn nữa hết.

Ông có người con gái là cô Hai Nhiễu ca rất hay, và trong dàn đờn của ông có những tay đờn nổi danh thời bấy giờ như Chín Quán đờn độc huyền, Mười Lý thổi tiêu, ông Bảy Vô đờn cò. Dàn nhạc của ông lại được mời sang Pháp tham dự cuộc đấu xảo thuộc địa vào đầu thế kỷ 20 và đã để lại một ấn tượng rất tốt.

Tại Tiền Giang, còn có 2 nhóm đờn ca tài tử cũng nổi danh như làng Đông Hòa có ông ngoại tôi là Nguyễn Tri Túc biết đờn kìm và đờn tỳ bà, nhưng ông là người nuôi những thầy tài tử trong nhà để cho 2 người con Nguyễn Tri Lạc, Nguyễn Tri Khương học đờn và nhờ vậy mà giới đờn ca tài tử ở Cần Đước thường đến Vĩnh Kim để hòa đờn.

Làng Vĩnh Kim có ông cố tôi Trần Quang Thọ trong ban nhã nhạc cung đình Huế di cư vào Nam và sanh ra ông nội tôi là Trần Quang Diệm – một danh cầm nổi tiếng về đờn tỳ bà. Ông nội tôi sanh ra bảy người con mà có hai người là cô Ba tôi – Trần Ngọc Viện – chuyên đờn tranh và tỳ bà, và cha tôi – Trần Văn Chiều (thường gọi Bảy Triều) – chuyên đờn độc huyền và nhứt là đờn kìm. Ông đã chế ra cách lên dây Tố Lan để đờn Văn thiên tường, Tứ đại oán mà ngày nay giới tài tử cải lương còn biết. Nhưng không phải vì thế mà tôi đồng ý với phóng viên khi cho rằng, “Tiền Giang là cái nôi của đờn ca tài tử”.

GS. TRẦN VĂN KHÊ

http://baoapbac.vn/dien-dan/201401/khong-co-tinh-nao-co-the-duoc-xem-la-cai-noi-cua-dctt-440526/

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : Phong các đàn trong đờn ca tài tử và kỹ thuật đờn với cách luyến láy đặc trưng tùy theo điệu


Image

PHONG CÁCH ĐÀN

Khoang thai, Tiên phong đạo cốt, tròn vành rõ chữ, chắc chiu từng nốt đàn. Người đàn lẫn người ca luôn luôn là ngồi nghiêm chỉnh, không ngoại hình như là ra bộ ra tịch, nghiêng qua ngã lại.

Chủ trương là hòa, dùng tiếng đàn trò chuyện với nhau, kẻ tung người hứng, tiếng đàn khi  lặn khi mọc. Tuy nhiên vẫn có cái màn trêu ghẹo thử lửa nhau bằng cách đột xuất tung ra những độc chiêu, quật ngã đồng đội để cùng cười vui với nhau.

            NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ gồm 4 ĐIỆU :

            Điệu BẮC :     6  bản

            Điệu NHẠC LỂ   7 bản

            Điệu NAM   3 bản

            Điệu OÁN    4 bản.

            Tổng công 20 bản, tục gọi là 20 bản Tổ.

             Nhạc sỉ đàn được đủ 20 bản nầy được xứng danh là Thầy.

ĐIỆU  (mode)

ĐIỆU chứa đựng những yếu tố như là :

cấu trúc (structure) tạm dịch là cách hành văn,

có thế ví như luật làm thơ : Thơ thượng lục hạ bátthơ song thất, thơ mới, thơ đường.

 

CÁCH LÊN DÂY ĐÀN.  

Điệu nào, Bản nào, dây nấy.

Lấy ví dụ cây đàn Cò (đàn Nhị)

Đàn bản Điệu Bắc, cách lên dây:

Dây to số 2 gọi là dây trong, âm Xàng tạm dịch là    Do,

Dây nhỏ số 1 gọi là dây ngoài , âm Liêu tạm dịch là Sol.

    Khi Rao (Dạo) đàn trước khi đàn Bản thuộc Điệu Bắc thì khởi đầu với âm Liêu là chủ âm (tonic), và chấm dứt Rao củng với âm Liêu (Sol).

 

Sang qua đàn Bản thuộc Điệu Nhạc Lễ thì chỉnh dây lại như sau :

Dây to số 2 gọi là dây trong, âm Xề tạm dịch là   Ré,

Dây nhỏ số 1 gọi là dây ngoài , âm Ú tạm dịch là La.

    Khi Rao (Dạo) đàn trước khi vào Bản thuộc Điệu Nhạc Lễ thì khởi đầu với âm Ú (La) là chủ âm (tonic), và chấm dứt Rao củng với chủ âm Ú (La).

 

Tốc độ (Tempo) gồm có:

Cấp điệu (đàn nhanh)

Trung điệu (đàn vừa vừa)oản điệu  (đàn chậm).

Tiết tấu (rhythm  :

Cách tô điểm nốt đàn : (ornamentations).

 

TÔ ĐIỂM (ornamentations)

Vấn đề  tô điểm nốt đàn là nét đặc thù của nhạc Việt nam mà trên thế giới không nhạc nào có. Vấn đề tô điểm nốt đàn rất là quan trọng. Nó nói lên cái cái Hơi của bản đàn. 

Một nốt đàn khéo tô điểm là một vì tinh tú, mang lại cho người nghe những cảm xúc khác nhau.

Điệu nào Hơi nấy. Có trường hợp đàn trúng Điệu sai Hơi và ngược lại trúng Hơi sai Điệu.

Trúng Điệu sai Hơi

Ví dụ như Bản Tây Thi (một trong 6 Bản của Điệu Bắc).

Cách trang trí nốt đàn như sau:

Các âm  (Sol), Xang (Do),  (Ré) trang trí với cái mỗ tạm dịch là tapping.

Các âm Xự (La) và Cống (Mi) trang trí với cái rung (vibrating).

Nếu làm ngược lại bằng cách các âm  (Sol), Xang (Do), Xê (Ré) trang trí với cái Rung(vibrating), còn các âm Xự (La) và Cống (Mi) với cái mỗ (tapping) là thành ra Hơi (giọng) Tàu Quãng Đông. Trường hợp nầy bị xem là đàn trúng Điệu sai Hơi,

Tương tợ như người Việt nói: « con  gà ăn gạo »

Người Trung quốc nói : « con ngà ăn ngạo ».

Trúng Hơi sai Điệu.

Đàn tùy hứng một đoạn nhạc nào đó với cách trang trí theo kiểu

các âm  (Sol), Xang (Do),  (Ré) rung (vibrating), các âm Xự (La) và Cống (Mi) mỗ (tapping) thì gọi là đàn trúng Hơi sai Điệu.

Tương tợ như người Viết dịch câu nói : « Tao đánh mầy chết » ra tiếng Quảng đông là « Ngộ tạ nị xẩy »,  trong khi người Quảng đông nói :  « Tao đánh chết mầy » « Ngộ tả xẩy nị ».

Ngừoi Việt nói : Vinh quang, Đơn giản, vợ  ông chủ,

Ngưới Quảng đông nói Quang vinh, Giản đơn, ông chủ vợ (xí thẩu lụ phò).

                 Nhạc Truyến thống Việt nam thuộc nhạc Đơn Điệu.

Cấu trúc hoàn toàn khác với nhiều nghệ thuật âm nhạc khác.

     Vietnamese traditional music is MONOPHONIC in texture.

     Its structure is completely different from that in many

     other  art music.

Y hệt như màu sắc trong hội họa, vấn đề trang trí tô điểm nốt đàn là nét đặc thù.

Analogous to color in painting, ornamentation is the predominant features. 

Nốt đàn trang trí tô điểm gieo vào lòng người cảm xúc mà  không ngôn từ nào diển tả được. 

     Each embellished  note gets an emotional feeling for which there exists no adequate word in any language.

Tiếng Việt thuộc có 6 Giọng như sau:

Không Dấu,  dấu Sắc,  dấu Huyền,  dấu  Hỏi,  dấu Ngã,  dấu Nặng. 

     Vietnamese has 6 tones as follows:

     Level,  High rising,  Low falling, Dipping-rising,  High rising

     glottalized,  Low glottalized.

Những Trang trí tô điểm nhu:  Rung,  Mỗ,  Nhấn ví như 6 dấu nêu trên. 

Vietnamese music  ornaments such as:  Vibrating, Tapping, Bending  are  comparable to 6 Tones above.

Nghe tiếng Việt là căn cứ vào Giọng.

Vietnamese language spoken depends on Tones for   understanding.

Trang trí tô điểm nốt đàn,  nói lên cái ĐIỆU và HƠI. của bản.

Giọng,  nói lên cái Nghĩa của chữ.

Ornaments determine the MODE and TIMBRE. Tone the intended Meaning of the   word.