TRẦN QUANG HẢI : Tổng kết nhạc Việt hải ngoại năm 2003


Tổng kết nhạc Việt hải ngoại năm 2003

Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

 

Mỗi năm tôi đều viết một bài tổng kết sinh hoạt âm nhạc tân cổ Việt Nam rải rác khắp nơi trên thế giới . Tôi không thể liệt kê tất cả những biến cố âm nhạc vì thiếu báo chí , tài liệu . Tôi chỉ viết những gì tôi có trong tay và đặc biệt chú trọng nhiều vào sinh hoạt của chúng tôi để bổ sung vào những bài vở về âm nhạc đã được đăng trên các báo ở Hoa kỳ, Gia nã đại, Pháp, Úc , và Nhựt .

 

Tháng giêng

 

Đêm họp mặt tất niên của lớp nhạc Hoàng Nam tại Montreal (Canada)

Hàng năm, lớp nhạc Hoàng Nam tại Montreal đều có tổ chức một buổi tiệc tất niên (văn nghệ, dạ vũ) để các nhạc sinh có dịp thi thố tài nghệ trên sân khấu và thắt chặt tình bạn, tình thầy trò . Ngày 31 tháng 12, 2002, tại nhà hàng Kam Fung ở Montreal, với sự hiện diện của 250 quan khách do 9 nhạc sinh của Hoàng Nam là Lệ Dung, Tiên Dung , Lệ Thanh, Ngọc Vân, Viết Huy, Sỹ Thực, Văn Trọng, Đăng Tú, và Xuân Tuấn tổ chức . Những ca sĩ tham dự gồm Mai Thy, Mộng Hùng, Mỹ Dung , Mỹ Hương , Phạm Ân, Viết Huy, Quỳnh Liên, Hoàng Mai, Ngọc Anh, Tina, Tường Loan, Thanh Yến, Ngọc Diệp, Ngọc Việt, Tú Hiến, Trần Văn Thư, Phi Bằng, Dương Anh, Dương Hiển, Bích Huyền, Trần Ngọc và Lệ Thanh . Buổi sinh hoạt rất thành công trong tiếng nỗ nút champagne để chào đón mừng năm 2003 .

*Trần Quang Hải nhận giải thưởng chương trình Truyền hình Pháp FR3 « C’est Mon Choix »

Ngày 1 tháng giêng 2003, từ 13giờ 55 tới 15giờ 10, Trần Quang Hải được mời tham dự chương trình truyền hình Pháp FR3 « C’est Mon Choix » do Evelyne Thomas điều hành chương trình để nhận giải thưởng của « C’est Mon Choix » . Có 11 người được giải này sau khi lựa chọn những người đặc sắc nhất trong 3 năm qua kể từ khi khai trương chương trình này . Chương trình truyền hình này rất được dân chúng ưa thích, được chiếu mỗi ngày và có hàng triệu khán giả theo dõi . Mỗi tháng có một chương trình dài hơn vào buổi tối có tới 5 triệu người xem . Trần Quang Hải đã được mời lên chương trình này ba lần để giới thiệu những khám phá đặc biệt về giọng, đàn môi .

· Trần Quang Hải & Bạch Yến trên đài phát thanh BBC , Radio 3, tiếng Anh

Ngày 4 tháng giêng 2003, từ 14 giờ tới 15 giờ (giờ Pháp) , Trần Quang Hải và Bạch Yến được mời tham gia chương trình phát thanh của đài BBC, Radio 3 (Anh ngữ) ở World Routes do bà Lucy Duran điều hành với đề tài « Cái nhìn của một nhạc sĩ Việt Nam tha hương trên 40 năm đối với hiện trạng nhạc tân và cổ ở Saigon » . Chương trình thứ nhứt về hiện trạng nhạc Việt ở Hà nội được phát thanh vào ngày thứ bảy 28 tháng 12, 2002. Trần Quang Hải và Bạch Yến đã gặp gỡ các giáo sư , nhạc sĩ của Viện âm nhạc Hà Nội, gia đình ông Nguyễn Văn Mùi và ba người con Khuê, Tiến, và Thúy Hòa chuyên về Ca Trù, nữ nhạc sĩ Thanh Thủy, huy chương vàng đàn tranh 1998, và một chương trình múa rối nước của đoàn Thăng Long dành cho phần chương trình nhạc miền Bắc . Chương trình ở Saigon gồm có phần phỏng vấn nữ giáo sư Phạm Thúy Hoan cùng ái nữ là nữ nhạc sĩ Hải Phượng , huy chương vàng đàn tranh và người đàn độc huyền giỏi nhứt miền Nam cùng với đàn Trưng, Papung. Ngoài ra còn có gặp nhạc sĩ Nhứt Dũng chuyên về nhạc lễ miền Nam và có đi thu vài tụ điểm vọng cổ và tân nhạc . Cả hai chương trình nói tiếng Anh đều có thể nghe trực tiếp bằng cách gõ chữ<http://www.bbc.co.uk/radio3/world/vietnam.shtml&gt; . Chương trình này lại được phát thanh lần thứ nhì vào hai ngày 27 tháng 12, 2003 và 3 tháng giêng 2004 . Rấy hiếm khi đài BBC phát thanh hai lần một chương trình . Âu đó cũng là niềm vinh hạnh cho nhạc Việt .

· Ngày 9 tháng 1, 2003, từ 9 giờ tới 17 giờ, Trần Quang Hải dạy một lớp về Giọng nói và giọng hát (Voix parlée / Voix chantée – Spoken Voice / Sung Voice) tại trung tâm văn hóa của tỉnh Marseille do bà Marie Christine Oberlinkels điều hành .

· Ngày 11 tháng 1, 2003, từ 14 giờ tới 18 giờ, Trần Quang Hải điều khiển một lớp học về hát đồng song thanh do bà Gaelle Bordes tổ chức tại Paris . Bộ môn hát đồng song thanh đã được phổ biến khắp Âu châu từ hơn 30 năm nay do Trần Quang Hải phổ biến qua nhiều khóa dạy khắp nơi .

· Từ 17 tới 19tháng 1, 2003, Trần Quang Hải được mời sang tỉnh Genova (Ỳ) để dạy một khóa do Davide Ferrari tổ chức về kỹ thuật hát hai giọng cho một nhóm người chuyên về giọng để dùng các bồi âm trong việc trị bịnh tâm thần .

· Từ 23 tới 27 tháng giêng 2003, Trần Quang Hải và Bạch Yến cùng nhạc sĩ dương cầm Jules Tambicannou được mời sang trình diễn tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa kỳ trong khung cảnh chương trình Tết Việt Nam do Hội Tết tại Seattle của một nhóm sinh viên trẻ tổ chức hàng năm . Năm nay là năm thứ 7. Một chương trình thuyết trình có minh họa do Trần Quang Hải đảm trách dành cho học sinh và sinh viên Việt và Mỹ tại một trung tâm văn hóa ở trung tâm thành phố Seattle (thứ sáu 24 tháng 1, từ 15giờ tới 17giờ 30) . Một chương trình nhạc thính phòng do nữ ca sĩ Bạch Yến và nhạc sĩ dương cầm Jules Tambicannou đảm trách gồm có những ca khúc tiền chiến và đương đại của tân nhạc Việt Nam và ngoại quốc (thứ sáu 24 tháng 1, từ 20 giờ tới 22 giờ 30 tại hội trường của Town Hall, 1119 , 8th Avenue , Seattle). Một chương trình giới thiệu nhạc dân tộc Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến dành cho khán giả Mỹ và Việt được tổ chức tại Seattle Center Pavilion, 305 Harrisson St, Seattle, WA 98109, vào ngày thứ bảy 25 tháng 1, từ 16giờ tới 17 giờ 30 . Một chương trình hoạt náo về nhạc cổ truyền dân tộc vào ngày chủ nhựt 26 tháng 1, từ 14 giờ tới 15 giờ cho khán giả tới thăm chợ Tết . Tất cả chương trình được thông báo và tường thuật trên trang nhà http://www.tetinseattle.org <http://www.tetinseattle.org&gt;

· Từ 30 tháng giêng tới 10 tháng 2, 2003, Trần Quang Hải được mời sang Đài Loan để dạy về truyền thống giọng cổ truyền thế giới và 3 lớp dạy hàt đồng song thanh cho các sinh viên đại học và các giáo sư về giọng do GS Wu Rung Shun tổ chức tại Đài Bắc .

 

Tháng 2

 

Trần Quang Hải tham dự đại hội liên hoan nhạc đương đại tại Budapest, Hun-ga-ri

· Từ 11 tới 17 tháng 2, 2003, Trần Quang Hải được mời trình diễn cho đại hội liên hoan nhạc đương đại « Making New Waves Festival 2003 » do hội Trafo Contemporary Art Center (http://www.trafo.hu <http://www.trafo.hu&gt;) và hội Âm nhạc điện tín Hung (Hungarian Computerized Music Foundation (http://www.hcmf.hu <http://www.hcmf.hu&gt;) do cô Andreas Szigetvari (seiget@starkingnet.hu <mailto:seiget@starkingnet.hu>) tổ chức tại thủ đô Budapest, Hun-ga-ri . Đây là một đại hội liên hoan về nhạc đương đại, nhạc điện thanh (electro-acoustical music), nhạc tùy hứng (improvized music) với sự hỗ trợ của máy vi tính . Các nhà soạn nhạc, các nhạc sĩ trình diễn đến từ nhiều quốc gia , trong số đó có Sing Circle, Gregory Rose, Trần Quang Hải, Trevor Wishart, Heiner Goebbels, Torn Bogdan, Laszlo Sary và Andreas Szigetvari. Trần Quang Hải trình diễn một buổi nhạc tùy hứng với kỹ thuật hát đồng song thanh , đàn môi, và muỗng ( 14 tháng 2), và dạy hai lớp hát đồng song thanh cho những người tham dự đại hội (16 tháng 2)

 

Nghệ sĩ Việt Nam ăn Tết Quý Mùi tại Quận Cam

Lần đầu tiên sau 28 năm lưu lạc ở hải ngoại , Quận Cam, Little Saigon, California, ở Hoa Kỳ rần rộ đón mừng xuân Quý Mùi với rất nhiều chương trình văn nghệ . Đại hội truyền thông thế giới với một thành phần nghệ sĩ hùng mạnh đã tổ chức một chương trình gây quỳ thành công .Đài phát thanh VNCR, đải Saigon Hải Ngoại, đài Mẹ Việt Nam, nhựt bào Người Việt đều có tổ chức văn nghệ đón xuân . Các vũ trường Majestic, Đêm Màu Hồng, Pha lê Ritz ở Anaheim, hội chợ Tết Quý Mùi do tổng hội sinh viên Nam Cali, Hội chợ Tết Los Angeles đã quy tụ hàng trăm nghệ sĩ . Trình trạng « chạy rạp » diễn ra giống như thời trước 75 ở Saigon .

· Ngày 27 tháng 2, 2003, từ 17 giờ30 tới 19 giờ 30, Trần Quang Hải thuyết trình về hát đồng song thanh trong âm nhạc điều trị học (music therapy) và tâm lý điều trị học (psychotherapy) tại trường đại học Université de Montpellier 3 trong khung cảnh của khóa thuyết trình về dân tôc nhạc học do GS Jacques Bouet (jacques.bouet@univ-montp3.fr <mailto:jacques.bouet@univ-montp3.fr>) đảm trách

 

Tháng 3

 

Trần Quang Hải và Bạch Yến lưu diễn tại Na Uy

 

 

 

Trần Quang Hải với trẻ em Na Uy , 10 tháng 3, 2003


* Từ 1 tới 14 tháng 3, 2003, Trần Quang Hải và Bạch Yến trình diễn 20 buổi cho học sinh Na Uy do hội RIKSKONSERTENE (ida.overhagen@rikskonsertene.no) tổ chức tại thành phố Arendal, vùng Aust/Agder, xứ Na Uy. Sau 20 năm ngưng làm việc với cơ quan Rikskonsertene, cặp nghệ sĩ này chấp nhận diễn 20 buổi giới thiệu nhạc dân tộc Việt Nam cho 2.000 trẻ em Na Uy . Vùng này có vài trăm người Việt Nam cư ngụ . Khoảng 30 đứa trẻ Việt Nam có dịp nghe những bài « Cò lã » , « Hái hoa », « Hò Hụi » .

 

Ngày 8 tháng 3, 2003, hội sinh viên Việt Nam ở Minneapolis , Hoa kỳ tổ chức Tết hàng năm . Sau nhiều tháng tập dượt, một chương trình văn nghệ đặc sắc với các ca sĩ nghiệp dư và nhạc sĩ cũng nghiệp dư nhưng đã thành công thu hút rất đông cộng đồng Việt Nam tới dự . Các ca sĩ như Quỳnh Chi, Phương Uyên , Triết Bình, Tú Uyên, Phương An, Lệ Dung và các nhạc sĩ do Hoàng Kim Chi điều khiển . Một CD với chủ đề Tính Tự Mùa Xuăn và một DVD (đặc biệt dành cho hội viên và thân hữu) đưỡc hội Việt Nhạc phát hành . Thức ăn và vào xem miễn phí là hai khía cạnh thu hút rất đông người lớn và trẻ em cùng các bạn Mỹ .Muốn xem các hình ảnh của các buổi tập dượt và trình diễn , xin vào trang nhà :http://www.vietnhac.org <http://www.vietnhac.org&gt;

 

· Ngày 22 tháng 3, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh tại Trung Tâm Yoga, 137 avenue de Choisy , 75013 Paris. Trần Quang Hải đã đưa kỹ thuật hát hai giọng vào trong yoga và chế biến theo phương pháp riêng biệt để có thể nghe và thấy được 7 chakras .

· Ngày 28 tháng 3, 2003, Trần Quang Hải , Bạch Yến, và Quỳnh Hạnh trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam tại Viễn Bảo Tàng Nghệ Thuật Á Châu (Musée des Arts Asiatiques / Museum of Asian Arts), 405 Promenade des Anglais, Arenas ở thành phố Nice, Pháp . Buổi trưa, Trần Quang Hải điều khiển hai lớp minh họa về muỗng cho trẻ em. Bà Geneviève Dournon (http://www.arts-asiatiques.com <http://www.arts-asiatiques.com&gt;)

 


Tháng 4

· Ngày 3 tháng 4, 2003, Trần Quang Hải thuyết trình về kỹ thuật giọng trên thế giới với tài liệu âm thanh và biểu diễn trực tiếp về hát đồng song thanh tại Maison Populaire do ông Stephane Boquet điều hành (stephane.boquet@maisonpop.fr <mailto:stephane.boquet@maisonpop.fr>) , 9 bis, rue Dombasle, 93100 Montreuil sous Bois

· Từ 11 tới 13 tháng 4, 2003, Trần Quang Hải điều khiển một lớp dạy hát đồng song thanh do Davide Ferrari, giám đốc trung tâm Echo Art (festival@echoart.com <mailto:festival@echoart.com>) , tại thành phố Genova, Ý đại lợi .

 

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương , Lê Dinh và Trường Sa xuất hiện trong chương trình Paris by Night của trung tâm Thúy Nga

Ngày 10 tháng 4, 2003, NS Lê Mộng Nguyên, thi sĩ Bích Xuân và thi sĩ Việt Dương Nhân tỏ chức một buổi ăn tại một nhà hàng để đón tiếp 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Phạm Mạnh Cương , và Trường Sa, cả ba đề cư ngụ tại Canada . Một số đông văn nghệ sĩ đến chung vui trong buỏi tiệc này . Ngày 12 tháng 4, 2003 tại Studio Carriere, Paris 19, trung tâm Thúy Nga tổ chức một chương trình thu hình có khán giả với chủ đề «Những sáng tác của Phạm Mạnh Cương , Lê Dinh , Trường Sa » với sự tham gia của 20 ca sĩ như Khánh Ly, Khánh Hà, Lệ Thu, Hoàng Oanh, Như Quỳnh, Tuấn Ngọc, Thế Sơn, Trường Vũ, Mạnh Quỳnh, Nguyễn Hưng , Lâm Nhật Tiến, Don Hồ, Ngọc Hạ, Bảo Hân, Trúc Linh, Trúc Lam, Thanh Hà, Thủy Tiên, Hạ Vy, Trần Thái Hòa, Phi Nhung, Phương Diễm Hạnh, Tâm Đoan, Minh Tuyết và trên 20 vũ công qua lời giới thiệu của Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên . Bích Xuân và NS Lê Mộng Nguyên có viết hai bài kể lại những cuộc gặp gỡ các văn hữu và sinh hoạt của LêDinh tại Paris (xem báo Nghệ Thuật số 110, tháng 5, 2003)

 

Phong trào Hưng Ca sinh hoạt tại Mỹ và Aâu châu

Trong chiến dịch « Trả ta sông núi », phong trào Hưng Ca đã bắt đầu từ ba tiểu bang Texas, Louisiana và New York bên Mỹ , sau đó đi một vòng qua 6 xứ bên Âu châu . Thành phần Hưng Ca viên gồm có Nguyệt Ánh, Đoàn Chính, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Quyết Thắng và Lưu Xuân Bảo. Buổi sinh hoạt đầu tiên tại Houston vào tối 25 tháng 4, 2003 trước cả nghìn người tại khu vực Hong Kong plaza trong đêm Thắp nến lửa tưởng niệm quốc hận thứ 28 do cộng đồng Việt Nam tại Houston tổ chức Ngoài đoàn Hưng Ca chủ lực , còn có ca sĩ địa phương, Hưng Ca Houston (Hồ Sĩ Thư Linh, BS Trần Văn Thuần, Viễn Phương , Hoàng Mai, Mỹ Chương , Phương Nga, Hoàng Dũng, Thi Thi, Đoàn Nguyên, Diệu Minh, Xuân Hương, Ngọc Duyên, Lệ Khanh, Nguyễn Văn, Bích Thủy, Charles Chương Nguyễn, vv…

Chiều 26 tháng 4, phong trào Hưng Ca Việt Nam tham dự chương trình văn nghệ đấu tranh tại New Orleans do cộng đồng Việt tại New Orleans tổ chức. Ngày 27 tháng 4 phong trào Hưng Ca lên đường đi Detroit, tham dự chương trình « Một Góc Quê Nhà » do hội Cựu chiến binh Michigan và tạp chí Quê Hương hải ngoại (nhà văn Ngô Sỹ Hân) đồng tổ chức .Các thành viên Hưng ca lên đường đi Geneva, Thụy Sĩ ngày 28 tháng 4. Đúng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 2003, trước trụ sở Liên Hiệp quốc, đoàn Hưng Ca tham gia chương trình bảo vệ nhân quyền và ca những bản tranh đấu . Chiều 1 tháng 5, Hưng Ca có mặt tại Vương quốc Bỉ. Cùng với Linh mục Nguyễn Hùng Lân và ông Bùi Bách Diệp và đoàn thể đấu tranh , Hưng Ca tham gia chương trình kỷ niệm Quốc Hận . Chiều ngày 2 tháng 5, Hưng Ca có mặt tại Paris trong đêm Tâm Tình với phong trào Hưng Ca Việt Nam do Tổng hội sinh viên Việt Nam tại Paris tổ chức . Ngày 3 tháng 5, Hưng ca đi sang Đức sinh hoạt cùng đồng bào địa phương . Ngày 4 tháng 5, lên đường đi Hòa Lan tiếp tục tranh đấu qua ca khúc .Một chuyến đi thành công trong sứ mạng « trả ta sông núi » .

· Từ 26 tới 27 tháng 4, 2003, Trần Quang Hải được hội EXISTENCE (existence@net-up.com <mailto:existence@net-up.com>) mời dạy lớp hát đồng song thanh cho một nhóm người chuyên về thiền (<http://www.existence-ardeche.com&gt;)

Tháng 5

* Từ 5 tới 9 tháng 5, 2003, Trần Quang Hải và Bạch Yến trình diễn 10 buổi nhạc cổ truyền Việt Nam cho học sinh Na Uy tại tỉnh Arendal, Na Uy trong khung cảnh của Rikskonsertene (trung tâm tổ chức nhạc thế giớ cho trường học tại Na Uy) . Trng năm 2003, học sinh tiểu học của tỉnh Arendal, Na Uy đã có dịp khám phá và hiểu được một phần nhạc việt và văn hóa Việt . Cộng đồng Việt Nam tại Arendal cũng được cặp nghệ sĩ này hát tặng một buổi đủ các loại nhạc Việt Nam và có dịp tìm thấy lại hương vị quê hương qua các giai điệu dân nhạc .

* Ngày 11 tháng 5, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh tại CentreMANDAPA (mandapa@compuserve.com <mailto:mandapa@compuserve.com>) , 6 rue Wurtz, 75013 Paris. Hàng năm tại trung tâm này , Trần Quang Hải dạy ba lớp về hát hai giọng . Cho tới nay đã hơn 25 năm với 300 người đã học được kỹ thuật hát hai giọng cùng một lúc .

Trần Quang Hải dạy tại đảo La Reunion và thực hiện một cuốn phim về phương pháp dạy hát đồng song thanh

 

 

Trần Quang Hải và các giáo sư dạy nhạc theo học lớp hát đồng song thanh, La Réunion, 20 tháng 5, 2003

* Từ 16 tới 30 tháng 5, 2003, Trần quang Hải dạy tại trường IUFM (trường đào tạo giáo viên). Ngày 17 tháng 5, 2003, từ 14giờ tới 16giờ, hội Những người bạn trường đại học (Association des Amis de l’Université)do ông Yves Bosquet điều khiển (<http://amis.univ-reunion.fr&gt;) mời Trần Quang Hải trình diễn nhạc Việt và hát đồng song thanh cho buổi lễ kỷ niệm 10 năm thành lập hội tại khu học xá của Université de la Réunion, 117 rue du General Ailler et Trois Mares 97430 Le Tampon. Từ 19 tới 24 tháng 5, Trần Quang Hải cộng tác thực hiện một cuốn phim mang tên là « Le Chant Diphonique » (hát đồng song thanh) với sự tham gia của Luc Souvet (giáo sư âm nhạc) (luc.souvet@wanadoo.fr <mailto:luc.souvet@wanadoo.fr>) , và nhóm tứ ca Huun Huur Tu do trung tâm Regional Center for Pedagogic Documentation và đài truyền hình địa phương RFO sản xuất. Cuốn phim này được thực hiện trong vòng 1 tuần và phải chờ 4 tháng để hoàn thành với phụ đề Anh ngữ .

 

Bạch Yến thành công trong chương trình sinh hoạt văn hóa tại Washington D.C.

Câu lạc bộ Văn hóa Nghệ thuật, Hội Nghệ thuật Việt Mỹ, và nguyệt san Kỷ Nguyên Mới đã cùng tổ chức buổi sinh hoạt văn hóa vào ngày 25 tháng 5, 2003 tại Ernst Theater – Community Cultural Center, Nova Campus .Chưong trình gồm có hai phần : phần triển lãm tranh ảnh, sách báo, và phần nhạc Việt Nam với nữ nghệ sĩ Bạch Yến và nhạc sĩ Jean Louis Beydon từ Pháp sang . Chương trình do nhà ván Trần Quán Niệm giới thiệu đã thu hút mấy trăm khán giả qua cách trình diễn khác lạ từ các bản quen thuộc như Đêm Đông, Đoàn lữ nhạc, Ghen hay các nhạc phẩm ngoại quốc như « La vie en rose », « Ne me quitte pas », « Les feuilles mortes », « La Seine », « Malaguena salerosa », « La Llorona », đến cảc nhạc phẫm ít được biết như « Lá thu vàng »( Lương Ngọc Châu), « Giàn Thiên Lý » (Lương Ngọc Châu / Duyên Anh), « Cho em quên tuổi ngọc » (Lam Phương ), vv… Nữ ca sĩ Bảo Oanh của vùng Thủ đô , được khán giả hoan nghinh với hai bài « Hương Xưa » (Cung Tiến), « Yêu Trăng » (thơ Hà Bỉnh Trung , nhạc Linh Phương ). Một buổi hát khó quên trong lòng những khán giả có mặt hôm đó .

 

Tháng 6

* Từ 6 tới 8 tháng 6, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh cho học sinh trường trung học ở Delemont (Thụy Sĩ) và một khóa hát đồng song thanh cho một nhóm ca sĩ cũng tại tỉnh Delemont .

* Từ 13 tới 15 tháng 6, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh tại trung tâm La Chiara di Prumiano (info@prumiano.it <mailto:info@prumiano.it>) , strada di Cortine 12, 50021 Barberino Val d’Elsa, Florence, Ý

* Từ 20 tới 22 tháng 6, Trần Quang Hải dạy hát đồng thanh tại trung tâm Echoart (festival@echoart.com <mailto:festival@echoart.com>) do Davide Ferrari điều khiển . Cũng nhân dịp này , Trần Quang Hải tham dự hội nghị về hiện tượng lên đồng (shamanism) với một bài tham luận về « shamanism in Tuva » (hiện tượng lên đồng ở xứ Tuva)

* Ngày 22 tháng 6, 2003, lúc 18giờ30, một chương trình Ca Vũ Nhạc Dân Tộc lần đầu tiên quy tụ các cựu giáo sư, nhạc sĩ, và sinh viên trường quốc gia âm nhạc Saigon được tổ chức tại Ernst Theater – Community Cultural Center, Nova Campus, 8333 Little River Turnpike, Annandale, VA 22003, Hoa Kỳ . Với sự góp mặt của Đoàn Nhạc Dân tộc Lạc Hồng đền từ California, GS Nguyễn Châu (tranh , nguyệt, nhị, bầu , sào), GS Nguyễn Lan (tranh) từ tiểu bang Utah, nhóm Hương Xưa với sữ hướng dẫn của GS Kim Oanh. Ngoài ra còn có sự đóng góp của Nhóm Thế Giới Trẻ, Ban vũ Lạc Hồng (Virginia), Ban Việt Nhi hải ngoại, Phương Mỹ (tranh, cổ nhạc ba miền), nhạc sĩ Đào Công Minh (sáo), Nguyễn Xuân Thường (cổ nhạc), Ngọc Thúy (vĩ cầm), Trần Tường Nguyên .

 

 

Tháng 7

· Từ 5 tới 6 tháng 7, 2003, Trần Quang Hải dạy lớp hát đồng song thanh tại Trung Tâm (Center of Yoga) ở tỉnh Neuchâtel (Thụy Sĩ) do cô Nathalie Borelli tổ chức .

· Từ 12 tới 13 tháng 7, 2003, Trần Quang Hải dạy lớp hát đồng song thanh tại Trung tâm thiền (Center of Meditation) ở tỉnh Trento (Ý). Những bồi âm từ giọng hát có thể giúp cho người học thiền tập trung tư tưởng và có thêm sức mạnh

· Từ 19 tới 20 tháng 7, 2003, Trần Quang Hải tham dự hội thảo về kỹ thuật hát trong nhạc cổ truyền (Vocal Techniques in Traditional Music) tại tỉnh Montpellier (luc.daniel@wanadoo.fr <mailto:luc.daniel@wanadoo.fr>)

· Từ 22 tới 29 tháng 7, 2003, Phư+o+ng Oanh và nhóm Phượng Ca Thiếu Nhi trình diễn trong chương trình Hội Ngộ Niềm Tin tại Roma (Ỷ đại lợi) do giáo hội công giáo Việt Nam tổ chức .

 

Tháng 8

 

Trần Quang Hải tham dự Telemark Music Festival ở xứ Na Uy

· Từ 7 tới 10 tháng 8, 2003, Trần Quang Hải trình diễn chung với nhạc sĩ Na Uy Svein Westad chuyên về đàn môi tại đại hội liên hoan dân nhạc (Telemarkfestivalen), tỉnh Bo, Telemark, Na Uy . Mỗi năm vào tháng 8, đại hội liên hoan dân nhạc (Telemark International Folk Festival) được tổ chức tại tỉnh Bo (5.500 dân) để giới thiệu nhạc dân tộc thuần túy của thế giới cùng với nhạc dân tộc xứ Na Uy cho 50.000 khán giả đến từ các vùng của xứ Na Uy. Với 24 buổi trình diễn do 150 nhạc sĩ thuộc 10 quốc gia (trong đó có Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhứt), đại hội quốc tế dân nhạc đã gây một tiếng vang lớn tại Bắc Âu. Năm nay là năm thứ ba được tổ chức . Nhạc sĩ Trần Quang Hải trình diễn đàn môi Á châu, muỗng , và hát đồng song thanh ba buổi vào ngày thứ năm 7 tháng 8 (buổi khai trương đại hội), ngày thứ sáu 8 tháng 8 chung với một nhóm nhạc sĩ Na Uy học sinh của một trường âm nhạc ở tỉnh Rauland, và ngày 9 tháng 8 chung với nhạc sĩ Svein Westad . Muốn biế rõ chương trình toàn diện, có thễ vào xem trang nhà http://www.telemarkfestivalen.no <http://www.telemarkfestivalen.no&gt;

 

Tháng 9

* Ngày 9 tháng 9 , 2003, từ 10 giờ tới 17giờ, Trần Quang Hải giảng dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho các giáo sư âm nhạc tại trường âm nhạc thành phố Bourg La Reine (Ecole National de Musique, de Danse et d’Art Dramatique, 92340 Bourg La Reine) . Một số trường âm nhạc ở Pháp bắt đầu chú ý tới dân nhạc thế giới và thường tổ chức những chương trình học tập để mở rộng kiến thức về các loại nhạc trên thế giới .

 

Trần Quang Hải tham dự hội nghị về tâm lý điều trị học tại Đức

· Trường đại học âm nhạc (MusikHochschule) của tỉnh Hannover (Đức) đà mời Trần Quang Hải sang trình diễn kỹ thuật hát đồng song thanh và các loại giọng hát Á châu tại hội nghị về tâm lý điều trị học (psychotherapy). Đây là một bộ môn mới lạ đối với người Việt . Trong 4 ngày hội thảo có rất nhiều phương pháp để trị bịnh về tâm thần .

 

 

 

Trần Quang Hải và GS Reihnard Kopiez,Hannover , Đức

 

· Từ 12 tới 14 tháng 9, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh tại Trung Tâm La Chiara de Prumiano, Florence (Ý)

· Ngày 13 tháng 9, 2003, Bạch Hạc tổ chức một chương trình nhạc Ngô Thụy Miên với tựa đề « Tình Ca Ngô Thụy Miên / Một lần là mãi mãi » tại rạp Fitzgerald

Theater, Saint Paul , Minnesota với sự góp mặt của Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Trần Thái Hòa, Nguyên Châu do MC Ngọc Thúy và Nguyên Châu điều hành chương trình . Dàn nhạc gồm Trung Nghĩa, Hoàng Thi Thi, Hoàng Minh Đức, Hoàng Kim Chi, Lê Phú, Vương Hương , Đặng Trần Thiện và Luân Vũ .Ngô Thụy Miên có mặt để thưởng thức những nhạc phẩm do anh sáng tác đã đi sâu vào trong lòng người Việt .

· Ngày 26 tháng 9, Trần Quang Hải và Bạch Yến trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam tại rạp Totem , thành phố Sion (Thụy Sĩ) và một buổi trình diễn nhạc Việt khác tâi Casino de Montbenon trong khung cảnh của một chương trình « Vietnam en Fête » do hội Helvetas (http://www.helvetas.org <http://www.helvetas.org&gt;) tổ chức. Đây là cách giới thiệu văn hóa Việt Nam cho người Thụy sĩ . Nhiều gian hàng bán sách, tiểu công nghệ, thức ăn, múa lân, thuyết trình về xã hội Việt Nam , màn múa lồng trong chuyện cổ tích Việt Nam . Ngoài ra còn có những ngày khác dành cho phim ảnh, hình ảnh, tranh, vv…

Trần Quang Hải và Bạch Yến tại tỉnh Sion (Thụy Sĩ)

· Ngày 30 tháng 9, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh tại khóa tu nghiệp « Porter la Voix » ở Theatre du Lierre, rue du Chevaleret, 75013 Paris do Pole Territorial de Formation, Ile de France, Centre National de Formation et d’Etudes de la Protection Judiciaire de la Jeunesse, Ministere de la Justice (Bộ Tư Pháp) tổ chức (crf-paris@justice.fr <mailto:crf-paris@justice.fr>)

 

Trần Quang Hải cùng các học trò học hát đồng song thanh

Tháng 10

Từ 10 tới 12 tháng 10, 2003, Trần Quang Hải được Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (Viện giao lưu văn hóa nghiên cứu nhạc đối chiếu email : comparati@cini.it <mailto:comparati@cini.it> ) thuộc Trung tâm Giorgio Cini (Foundazione Giorgio Cini <http://www.cini.it&gt; ) Florence (Ý) tổ chức . Đây là lần thứ tư Trần Quang Hải được mời sang dạy kỹ thuật hát đồng song thanh .Mỗi khóa dành cho 20 học trò tuyển lựa trong số hàng trăm người ghi tên để học .

 

Bạch Yến trình diễn tân nhạc tại Centre Mandapa, Paris

Chủ nhựt 19 tháng 10, 2003 vào lúc 15 giờ, tại Centre Mandapa, 6 rue Wurtz, 75013 Paris, Bạch Yến trình diễn một chương trình tân nhạc Việt Nam và nhạc ngoại quốc rất thành công với sự phụ đệm của nhạc sĩ dương cầm Jean Louis Beydon, giám đốc trường âm nhạc thành phố Vanves và nhạc sĩ Jules Tambicannou .Bạch Yến vừa giả trai để hát những bài dành cho đàn ông , giả em bé để hát bé ca . Với sự có mặt của Trần Quang Hải trong màn giả làm Má của Bạch Yến đã làm cho khán giả cười thích thú . Khán giả say sưa trong ba tiếng đồng hồ của màn « one woman show » của Bạch Yến . Trong số khán giả có nhiều bạn bè ca sĩ như Mỹ Hòa, Thiên Nga, Minh Đức, và các nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam như Xuân Lôi, Trịnh Hưng , Lương Ngọc Châu, Mạnh Bích. Đây là buổi hát kỷ niệm 25 năm đám cưới của Bạch Yến và Trần quang Hải, đồng thời cũng là buổi hát chót mà Bạch Yến đứng ra tổ chức .Trong tương lai , Bạch Yến chỉ nhận đi trình diễn khi có người tổ chức .

 

 

 

 

Bạch Yến giả con gái và Trần Quang Hải giả làm Má Bạch Yến trong chương trình tại Center Mandapa, Paris, 19 tháng 10, 2003

 

 

Chương trình nhạc chủ đề « Tôi Yêu » vinh danh nhạc sĩ Trịnh Hưng tại Paris

Theo đúng thông lệ hàng năm , Thư viện Diên Hồng tổ chức một chương trình vinh danh một văn nghệ sĩ . Năm 2003, người được vinh danh lànhạc sĩ Trịnh Hưng . Ngày chủ nhựt 5 tháng 10, 2003, tại phòng Bruxelles của hội trường FIAP, rue Cabanis, 75014 Paris, từ 15 giờ tới 18 giờ, hơn 200 quan khách đã tới tham dự buổi nhạc chủ đề « Tôi Yêu » . Chương trình năm nay chia làm hai phần : các ca khúc của Trịnh Hưng trong 50 năm qua, và các ca khúc mới của Trang Thanh Trúc, Mộng Trang, Ngô Càn Chiếu, Lê Hoài Anh, Trần Lê Khang và Nguyễn Linh Quang .

Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên được mời nói về tiểu sử nhạc sĩ Trịnh Hưng, phân tích dẫn giải các ca khúc nổi tiếng của Trịnh Hưng như « Lối về xóm nhỏ », « Tôi Yêu », « Lúa mùa duyên thắm » là những bài được nổi tiếng nhứt . Anh Trịnh Hưng là học trò của nhạc sĩ Tạ Phước lúc đi kháng chiến từ 1946 tới 1953 . Năm 1954, anh di cư vào Nam và sinh sống với nghề dạy nhạc . Hai người học trò nổi tiếng của anh là nhạc sĩ Đỗ Lễ (từ trần) và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ . Năm 1990 anh sang Pháp định cư tại thành phố Lyon . Nhạc sĩ Trần Quang Hải đã giúp anh vào hội nhạc sĩ Pháp SACEM . Từ năm 2.000 anh rời tỉnh Lyon, đến cư ngụ tại thành phố Creteil (ngoại ô Paris) . Anh sáng tác một số ca khúc cho Thiên chúa giáo và viết văn , làm thơ để vui với tuổi già .

Tiếp theo phần giới thiệu nhạc của Trịnh Hưng qua các nhạc phẩm « Tôi Yêu », « Lúa mùa duyên thắm », « Con có Chúa », « Ru em » (phổ thơ Phạm Ngọc) và ca khúc « Lối về xóm nhỏ » chào đời cách đây 50 năm qua các giọng hát Tố Lan, Phương Khanh, Đăng Siêu, Kim Tuấn, Bạch Thảo, Mộng Trang và Lê Hoài Anh .

Phần một của chươngtrình 1 được kết thúc bằng một màn phỏng vấn nữ nhạc sĩ Trang Thanh Trúc về CD Những ngày tháng không tên gồm 12 ca khúc phổ thơ Phạm Ngọc . Tố Lan trình bày bản «Những ngày tháng không tên », và Mộng Trang hát bản « Giọt thời gian say »

Trong phần giải lao, Trịnh Hưng đã bán rất nhiều tập nhạc và dĩa CD lưu niệm « Tôi Yêu » và Trang Thanh Trúc cùng sự có mặt đặc biệt của nhà thơ Phạm Ngọc từ Mỹ sang bất ngờ để trình làng CD « Những ngày tháng không quên » đã thu hút rất nhiều người hâm mộ tới mua .

PHần 2 của chương trình là giới thiệu các ca khúc mới sáng tác do chính tác giả tự trình bày như nhạc sĩ Ngô Càn Chiếu với « Để cho nỗi nhớ » và « Biệt Khúc » , nữ ca nhạc sĩ Mộng Trang với « Hoa vẫn nở bên đồi » và « Đợi chờ », ca nhạc sĩ Lê Hoài Anh với « Sầu Tình », Nguyễn Linh Quang với « Mộng » (cùng với Đăng Siêu hát) . Đặc biệt để tưởng niệm nhạc sĩ Lê Hựu Hà vừa mất tại Saigon tháng 5, 2003, nhạc sĩ Trần Lê Khang đã sáng tác ca khúc « Ước vọng » do tác giả hát chung với nữ ca sĩ Mộng Trang . Sau đò cả nhóm hát bản « Hãy ngước mắt nhìn đời » một bản nhạc tiêu biểu của Lê Hựu Hà. Buổi nhạc chủ đề được chấm dứt với bản « Lối về xóm nhỏ » cũa nhạc sĩ Trĩnh Hưng với toàn ban Thư Viện Diên Hồng và nữ ca sĩ Bạch Yến cùng nhạc sĩ Trần Quang Hải được mời lên hát phụ họa

 

 

 

Nhạc sĩ Trần Quang Hải và nhạc sĩ Trịnh Hưng , 5 tháng 10, 2003, Paris

Tháng 11

· Từ 7 tới 14 tháng 11, 2003, Trần Quang Hải được trường đại học tỉnh Bologna (University of Bologna) mời để trình diễn 2 chương trình ( 8 và 9 tháng 11, lúc 21 giờ30) về hát đồng song thanh, đàn môi, muỗng trong khung cảnh của đại hội liên hoan nhạc thế giới lần thứ 14 “Suoni dal Mondo” (Aâm thanh thế giới” dưới chủ đề “L’Arte della Voce” (Nghệ thuất giọng hát) tại nhà hát MULTISALA, Via dello scalo 21, Bologna, Ý .Cô Junko Ueda, nữ nhạc sì người Nhật , chuyên về hát và đàn Biwa (giống đàn Tỳ Bà Việt Nam), cùng trình diễn chung một chương trình . Từ 10 tới 13 tháng 11, Trần Quang Hải giảng dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho 25 sinh viên trường đại học Bologna tại Laboratori DMS, Auditorium, Via Asso Gardino 65/a , Bologna . Muốn biết toàn chương trình đại hội liên hoan này, có thể vào xem trang nhà

http://www.muspe.unibo.it/attivita/cimes/sdm/2003/index.htm <http://www.muspe.unibo.it/attivita/cimes/sdm/2003/index.htm&gt;

 

Trần Quang Hải và các sinh viên đại học Bologna, Ý , 13 tháng 11, 2003

 

· Ngày 8 tháng 11, 2003, từ 15 giờ tới 18 giờ, thi sĩ Hà Huyền Chi giới thiệu các tập thơ của anh và nhất là tác phẩm mới nhứt : CD Quý Hương gồm 12 bài thơ Hà Huyền Chi do Mai Anh Việt phổ nhạc , hòa âm Quốc Dũng với tiếng hát Quang Minh và Bảo Yến . Có nhiều hội viên của nhóm Nhạc Việt và của nhóm Silicon Band do Nguyễn Minh Châu phụ trách . Có những tiếng hát Mộng Trang, Tuyết Dung, Linh chi, Nguyên Lộc, và các giọng ngâm Thúy Hằng, Hồng Điệp. Phần nhạc đệm với Đỗ Bình (guitar, Trần Tam Nguyên (sáo trúc) . Buổi ra mắt sách và CD do một nhóm thân hữu và Hội nghiên cứu Việt Nam tổ chức tại trụ sở AVE (Association Vietnam Etudes) , 92330 Sceaux (ngoại ô Paris)

Nữ nghệ sĩ Bích Thuận ra sách “Từ làng Vân Hồ đến UNESCO ” tại Houston

Nữ nghệ sĩ lào thành Bích Thuận gần 80 tuổi, nổi danh trong nhiều lĩnh vực (hát bội, cải lương, ngâm thơ, hát ả đào, tân nhạc, kịch), và cũng là cựu giáo sư kịch nghệ trường quốc gia âm nhạc Saigon, đã tới Houston vào đầu tháng 11, 2003 , trình làng quyển sách “Từ làng Vân Hồ đến UNESCO ” , dày gần 300 trang, ghi lại cuộc đời thơ ấu, ca hát , hình ảnh tiểu gia đình, những hình ảnh của trên 50 năm sinh hoạt trong ngành cải lương và âm nhạc. Trong quyển sách có nói tới Bích Sơn, Bích Thủy là hai cháu gái nổi tiếng của bà . Bà Bích Thuận sẽ đi một vòng xứ Mỹ để giới thiệu sách hồi ký và sẽ trở lại Houston vào dịp Tết Giáp Thân . Trong dịp ra sách tại vũ trường Rainbow, vùng Southwest, Houston, gần 400 người đến tham dự để nghe bà hát và trình diễn các trích đoạn “Kim Vân Kiều”, “Trưng Nữ Vương “

Ngày chủ nhựt 16 tháng 11, 2003, Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh tại Centre Mandapa, 6 rue Wurtz 75013 Paris và buổi chiều dạy tại 19 rue Carnot 94270 Le Kremlin Bicêtre cho 30 người đã từng học những khóa trước .

 

“Đêm nhạc Phạm Duy” với Lệ Mai, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Quang Tuấn tại Sydney, Úc châu

 

 

 

 

· Tối thứ bảy 29 tháng 11, 2003 , từ 20 giờ, tâi Cabravale Club, Function Room 3, 1 Bartley Street, Canley Vale, Sydney, Úc châu, nữ ca sĩ Lệ Mai tổ chức một buổi

 

trình diễn những ca khúc của Phạm Duy với chủ đề “éĐêm Nhạc Phạm Duy ” để ra mắt CD “Lệ Mai hát nhạc Phạm Duy “, với sự tham gia của các nghệ sĩ Phi Phi, Vy Nguyễn, Đỗ Phong, Đức Thảo, Vân Đức, Vũ Hùng, Trần Đình Lương. Hai MC đảm nhiệm phần giới thiệu chương trình là Ngọc Lan và Trần Đình Lương . Hoàng Ngọc Tuấn (nhạc sĩ Tây ban cầm nổi tiếng ở Úc châu, nghiên cứu về dân tộc nhạc học) và Phạm quang Tuấn là hai nhạc sĩ Tây ban cầm đệm cho các nghệ sĩ trình diễn . Một chương trình chỉ toàn nhạc Phạm Duy ít được nghe, chỉ với đàn Tây ban cầm với cách soạn hòa âm mới lạ, chú trọng nhiều về âm thanh trung thực của giọng hát và tiếng đàn đã thu hút đông đảo khán giả . Dĩa CD “Lệ Mai hát nhạc Phạm Duy ” đã được mọi người chiếu cố rất nhiều .

· Ngày chủ nhựt 30 tháng 11, 2003, từ 15giờ tới 18giờ30 , nhạc sĩ kiêm văn sĩ Mạnh Bích trình làng quyển sách “Lá Rụng” và hội Bạn Văn phát hành sách song ngữ “DUO” rất được tiếp đón nồng hậu . Một chương trình văn nghệ do ban nhạc Silicon Band với Minh Châu (đàn synther), và các ca sĩ nghiệp dư của ban Silicon Band cùng với sự đóng góp của nghệ sĩ Kim Chính và một số bạn hữu .

 

Trần Quang Hải /Bạch Yến, anh chị Mạnh Bích Kim Chính và ban nhạc Silicon Band

 

Tháng 12

 

· Ngày thứ tư 3 tháng 12,2003, cuốn phim « Tran Quang Hai / Portrait » (Trần Quang Hải / Chân dung), dài 16 phút do 3 cô Audrey PLESSIS , Jie SUN, và Julie MAYER thực hiện, được chiếu tại Institut de Recherche pour le Déøveloppement , phòng thuyết trình , 213 rue La Fayette, 75010 PARIS. Nội dung cuốn phim miêu tả 3 khía cạnh đặc biệt của tài năng Trần Quang Hải : hát đồng song thanh, đàn môi, và muỗng .Trên 100 người đến dự, hầu hết là ngưòi Pháp trong giới nghiên cứu âm nhạc .

· Thứ sáu 5 tháng 12, 2003, Trần Quang Hải thuyết trình về kỹ thuật hát đồng song thanh tại Centre du Patrimoine de la Facture Instrumentale (Trung tâm di sản chế tạo nhạc khí), 11 rue des Frères Gréban, 72000 Le Mans do Bernard Poulelaouen tổ chức . Trung tâm nghiên cứu về nhạc khí này có một diện tích 650 m2, có khoảng 4.000 nhạc khí được trưng bày theo đúng tiêu chuẩn nghiên cứu . Buỗi nói chuyện này do hội Ekzeko và trung tâm CPFI đồng tổ chức trong khung cảnh VOYAGES SONORES (Du lịch âm thanh) đã thu hút gần 100 người trong một phòng chỉ chứa được 70 người .

· Ngày 12 tháng 12, 2003, vào lúc 19 giờ, nhóm Hope For Kids đã tổ chức Đêm Thơ Nhac Thính Phòng Lê Hân và Phan Ni Tấn tại hội trường Noel Ryan Auditorium , tỉnh Mississauga, Ontario, Canada nhằm gây quỹ cho trẻ em mồ côi thất học tại quê nhà . Đêm Thơ Nhạc đã thu hút hơn 200 khán giả và thu được trên 1.000 Gia kim . Nhân dịp này nhà thơ Lê Hân và thi nhạc sĩ Phan Ni Tấn đã trình làng hai tác phẩm « Tình Xanh Mấy Nhánh » (thơ Lê Hân) và « Tuyển Tập Tình Khúc Phan Ni Tấn » (nhạc Phan Ni Tấn) đã được sự ủng hộ nhiệt tình của quan khách. Liên lạc : Lê Hân : lehan3359ca@yahơ.com <mailto:lehan3359ca@yahơ.com> (về tập Thơ), Phan Ni Tấn : phannitan@yahoo.ca <mailto:phannitan@yahoo.ca> (về Nhạc)

· Nữ nhạc sĩ Phương Oanh giói thiệu các nhạc sinh lớp đàn tranh trong một buổi trình diễn tại thính đường Paul Arma, âm nhạc viện Antony (ngoại ô Paris) vào ngày 16 tháng 12, 2003 lúc 19giờ30 . Suốt trong năm 2003, Phương Oanh tham dự nhiều chương trình cho cộng đồng Việt Nam và cho giáo xứ công giáo tại Paris trong những dịp lễ nhà thờ . Ngoài ra, còn có tổ chức những chương trình dạy đàn tranh tại Na Uy, Hòa Lan, Pháp, cũng như tại hai âm nhạc viện ở tỉnh Sevran và tỉnh Antony . Từ 12 tới 20 tháng 12, 2003, Phương Oanh là cố vấn nhạc Việt cho vở kịch Thúy Kiều do nhà đạo diễn Pháp Hardy và Zanfonato thực hiện 8 buổi diễn tại thành phố Strasbourg (miền Đông xứ Pháp) . Muốn biết rõ hoạt động của Phương Oanh và nhóm Phượng Ca, có thể viếng trang nhà : http://www.phuongca.com <http://www.phuongca.com&gt;

hay viết thư về : email info@phuongca.com <mailto:info@phuongca.com>

· Thứ năm 18 tháng 12, 2003 , lúc 16giờ, Trần Quang Hải thuyết trình về khía cạnh âm thanh học của hát đồng song thanh (Acoustical point of view of overtone singing)trong khung cảnh của hội thảo do TS Malte KOB tổ chức « Disorders of Communication and Cognition » do Department of Phoniatrics, Pedaudiology and Communication Disorders tổ chức tại Tauwelstrasse 30, D-52074 Aachen, Đức .Liên lạc : Dr. Ing Malte KOB , email : mkob@eaafenestra.org <mailto:mkob@eaafenestra.org>

· Chủ nhựt 21 tháng 12, 2003, từ 15giờ tới 18giờ30, nhạc sĩ Từ Công Phụng trình diễn tại rạp Fitzgerald Theater, 10 East Exchange St, Saint Paul, MN 55101, Hoa Kỳ , những tình khúc của anh với sự tham gia của các ca sĩ Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Trần Thái Hòa, Diễm Liên, Nguyên Châu, và ban nhạc gồm các nhạc sĩ Hoàng Thi Thi, Trung Nghĩa, Nguyên Huy, Hoàng Kim Chi

 

 

Sách mới

 

Trường Kỳ : Tuyển tập nghệ sĩ 6, 376 trang, hình ảnh các nghệ sĩ được phỏng vấn, do Trường Kỳ tữ phát hành, Montreal, Canada, 2003 . Liên lạc : truongky@sympatico.ca <mailto:truongky@sympatico.ca>

Sách tuyển chọn một số ca sĩ để phỏng vấn. Mỗi cuốn chọn một số người để giới thiệu cuộc đời của những ca sĩ đã và đang nổi tiếng . Đây là quyển thứ sáu do Trường Kỳ viết và phát hành .

 

 

Đỗ Dũng : Sân khấu cải lương Nam bộ, nhà xuất bản Tuổi Trẻ, 203 trang, hình ảnh, TPHCM, 2003

Sách gồm có 4 chương. Chương 1 nói về sự hình thành của cải lương Nam bộ. Chương 2 bàn về những chặng đường của cải lương Nam bộ . Chương 3 là chương phụ trang nói về cải lương miền Trung và miền Bắc . Chương 4 nói về âm nhạc cơ bản của cải lương và những sự kiện cuối thế kỷ 20. Sách này ghi lại những nét chánh của cải lương từ lúc hình thành cho đến hết thế kỷ 20 (1918-2000)

 

 

CD mới trong năm 2003

Tôi chỉ giới thiệu một số CD ít thấy trên thị trường thương mại nhưng có giá trị nghệ thuật và tinh thần .

 

 

 

Nhạc sĩ VÕ TÁ HÂN : CD MỘT CÕI RIÊNG MANG, Ca Khúc Võ Tá Hân 27 , 10 tình khúc của Võ Tá Hân phổ thơ của Đình Nguyên, Mỹ Ngọc, Phạm Ngọc, Trường Đinh, Huỳnh N Thanh Tâm, Tùy Anh, Y Nguyên, Trần Ngọc, Singapore, 2003. Anh Võ Tá Hân còn xuất bản 4 CD chuyên về nhạc Phật giáo trong năm 2003 : CD Võ Tá Hân 23: Tuyệt vời tình lam 1, CD Võ Tá Hân 24 : Tuyệt vời tình lam 2, CD Võ Tá Hân 25 : Bên Ánh Lửa Hồng 1, và CD Võ Tá Hân 26: Bên Ánh Lửa Hồng 2. Liên lạc : Võ Tá Hân, no 1 Shenton Way, # 09-05, Singapore 068803 . Eùmail :vomyngoc@san.rr.com <mailto:vomyngoc@san.rr.com>

 

 

Nữ nhạc sĩ TRANG THANH TRÚC : CD NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG TÊN / Tình Khúc Trang Thanh Trúc, thơ Phạm Ngọc . Gồm có 10 bài nhạc phổ thơ viết theo nhiều điệu nhạc khác nhau . Bài” Những ngày tháng không tên ” được thu ba lần với Trung Tùng và MTV, Quỳnh Lan và phần nhạc khí độc tấu của Phạm Kiên Hoài . Rất nhiều ca sĩ như Nguyễn Quang , Phạm Kiên Hoài, Quang Đạt, Siu Black, Trung Tùng & MTV, Nguyên Thảo, nhóm bè Huỳnh Lợi, Quỳnh Lan, Mỹ Dung, Quang Minh, Mai Khôi, nhóm Cadillac, Nam Khánh và ACM . Ra mắt đầu tiên ngày 16 tháng 8, 2003, và tại Paris ngày 5 tháng 10, 2003 với sự hiện diện của nhà thơ Pham Ngọc từ Hoa kỳ sang . Liên lạc: Trang Thanh Trúc , 10 ave de Choisy , apt.4102, 75013 Paris, email: trangthanhtrucparis@yahoo.fr <mailto:trangthanhtrucparis@yahoo.fr> ; Phạm Ngọc : email :phamngoc@poetic.com <mailto:phamngoc@poetic.com>

 

 

Nữ Ca sĩ LỆ MAI : CD LỆ MAI HÁT NHẠC PHẠM DUY với tiếng hát Lệ Mai, tiếng đàn guitar của Hoàng Ngọc Tuấn và Phạm Quang Tuấn . Những ca khúc được nhiều người biết như “Tình Hoài Hương “, “Viễn Du “, “Tình Ca”, hay ít người nghe như “Chiều Về Trên Sông”, “Mộng Du”, “Đường Chiều Lá Rụng”. Có thể vào trang nhà cu?a Phạm quang Tuấn <http://www.tuanpham.org/lemaihatnhacphamduy.htm&gt; để nghe giọng hát Lệ Mai và tiếng đàn Hoàng Ngọc Tuấn qua các nhạc phẩm Phạm Duy . Liên lạc: email: phamquangtuan@optusnet.com.au <mailto:phamquangtuan@optusnet.com.au>

 

 

Nhạc sĩ LÊ TUẤN HÙNG, nữ nhạc sĩ ĐẶNG KIM HIỀN : CD SCENT OF TIME / Australian compositions for Asian Instruments and Voices. Gồm các sáng tác nhạc đương đại của Anne Norman, Đặng Kim Hiền, Lê Tuấn Hùng, ros Bandt, Wang Zheng Ting, Warren Burt . Liên lạc: MOVE RECORDS, 10 Glen Drive, Eaglemont, Victoria, Australia . email: move@move.com.au <mailto:move@move.com.au>, Website:http://www.move.com.au <http://www.move.com.au/&gt;

 

 

 

Nhạc sĩ HIẾU ANH : CD GIAI ĐIỆU YÊU THƯƠNG gồm 12 ca khúc của nhạc sĩ Hiếu Anh trong đó có 4 bài phổ thơ của Nhất Tâm, Tất Hanh, Vĩnh Trinh, Quốc Thái và bản « Cung điệu mùa đông » (thơ Tất Hanh, nhạc : Khổng Vĩnh Thành) được các giọng ca sau đây trình bày : Tuyết Nhung, Quốc Thái, Mỹ Thủy, và Khánh Duy .Sáng tác và thực hiện : Hiếu Anh . Hòa âm và ban nhạc : Quốc Toản .Gia Đình Tin Yêu phát hành . Liên lạc : Hiếu Anh , 5405 Tupelo Pass, Louisville, KY 40213 , USA . email của Antonius Pham : antoniuspham@hotmail.com <mailto:antoniuspham@hotmail.com>

 

 

 

 

Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng: CD QUÊN, tình ca Phạm Anh Dũng , 12 tình khúc phổ thơ Vương Ngọc Long qua các giọng ca Bảo Yến, Quang Minh, Nhã Phương , Hạnh Nguyên, Đoan Trang, Tấn Đạt . Hòa âm và phối khí : Quốc Dũng . Một số nhạc phẩm nói về Xuân như “Xuân Mơ” nhạc hay , hát hay và nhạc đệm có chút âm hưởng jazz , “Mùa xuân nào có nhau”, “Sầu khúc xuân” . Về Quỳnh có tới 5 bài như “Quỳnh Hoa”, “Quỳnh Mơ”, “Quỳnh Giao”, “Quỳnh Thi”, và “Đêm Nguyệt Quỳnh”. Nhạc phẩm “Quên” mang âm hưởng Trung do Bảo Yến trình bày . Liên lạc: Pham Anh Dũng , email : phamanhdung@juno.com <mailto:phamanhdung@juno.com>

 

 

Nữ nhạc sĩ Hoàng Kim Chi : CD THƯƠNG TIẾNG YÊU DẠI KHỜ gồm 10 ca khúc chọn lọc của Hoàng Kim Chi (nữ nhạc sĩ , dạy đàn và sáng tác vài trăm ca khúc và là trưởng ban nhạc củ nhóm Việt Nhạc )do các giọng ca của các ca sĩ Thanh Trà, Mỹ Phương , Bích Loan, Triết Bình trình bày . Hòa âm và phối khí của Xuân Minh, La Vinh Hoàng, Viết Ký và Hoàng Kim Chi . Liên lạc: Hoàng Kim Chi, email: hkimchi@yahoo.com <mailto:hkimchi@yahoo.com>

 

CD TÌNH TỰ MÙA XUÂN gồm 13 ca khúc tuyển chọn từ chươngtrình Tết của nhóm Việt Nhạc , Minnesota, Hoa kỳ . Có ba bản nhạc của Hoàng Kim Chi : “Con sóng tình yêu”, “Một chút nhớ bâng khuâng”, và “Phố trắng” (soạn chung với Hoàng Minh Nhân) . CD do nhóm Việt Nhạc thực hiện và phát hành . Ngoài ra chương trình Tình Tữ Mùa Xuân được phát hành dưới dạng DVD với 24 tiết mục , vừa nghe nhạc vừa thấy hình , một hình thức rất mới mẻ trong việc phát hành tài liệu nhạc để lưu niệm . Liên lạc: hkimchi@yahoo.com <mailto:hkimchi@yahoo.com>

 

 

Nhạc sĩ LÊ XUÂN HÂN : CD KHUNG TROI XA LA vơi 10 bài Tình khúc do Lê Xuâên Hân hát, viết lời và nhạc , đó là một khía cạnh rất hiếm hiện nay ở hải ngoại . Dòng nhạc rất đẹp, hòa âm phối khí có màu sắc mới lạ . Giọng hát của Lê Xuân Hân ấm và có hồn gần với giọng của Tuấn Ngọc . Một CD có nhiều triển vọng tiến xa . Liên lạc :Lê Xuân Hân, email : lexuanhan@hotmail.com <mailto:lexuanhan@hotmail.com> ; trang nhà :<http://www.lexuanhan.com&gt;

 

 

 

Nhạc sĩ TRỊNH HƯNG : CD TÔI YÊU/ Tình khúc dân ca quê hương gồm có 12 ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Hưng trong đó có những bản nổi tiếng nbư « Tôi Yêu »(Hoàng Thái Quốc hát), « Lối về xóm nhỏ » (Ngọc Điệp hát), « Lúa mùa duyên thắm » (Ngọc Điệp hát) . CD này được thu tại Việt Nam với các ca sĩ Hoàng Thái Quốc, Ngọc Điệp, Ngọc Loan, Quốc Đạt, Trường Lâm, Phương Thùy, Tấn Đạt . Liên lạc : Trịnh Hưng, Résidence AREPA, chambre 204, 60 avenue du Dr. Paul Casalis, 94000 CRETEIL, France, tel : (33 – 1) 58 43 02 06 (nếu ở ngoài xứ Pháp), 01 58 43 02 06 (nếu ở trong xứ Pháp)

 

 

Nhạc sĩ CAO THÁI : CD MEXICO, tiếng hát Extra Terrestre Vincent Cao Thái do Cao Thái Productions sản xuất với những bài ca ngoại quốc nổi tiếng thế giới như Granada, Oh La La , Mexico, Hello Dolly, Ne me quitte pas (If you go away), Cucurrucucu . Liên lạc : Cao Thái, 7 rue du 8 Mai 1945, 92340 Bourg la Reine, France, tel : 01 46 61 39 83

 

 

Nữ nghệ sĩ BÍCH THUẬN : CD Thơ KIM VÂN KIỀU, phần 1 và 2 do nữ nghệ sĩ Bích Thuận thực hiện và sản xuất với Ngọc Nôi (sáo), Ngọc Châu (tranh, độc huyền cầm). Kim Lợi phát hành. Liên lạc : Bích Thuận, 33 rue Saint Blaise, apt.49, 75020 Paris, France, tel : 01 43 67 89 66

 

 

Nhạc sĩ MANH BÍCH : CD CÒN MÃI YÊU EM, với 11 nhạc phẩm của Mạnh Bích, lời thơ của Hồ Trọng Khôi, Hoài Việt, Huy Giang, Mạnh Bích, Nguyên Diệu, Tuệ Nga, Vô Ưu và Vũ Thy An qua các giọng ca Quang Linh, Vân Khánh, Bích Lộc, Cao Duy, Duy Đức . Liên lạc : Mạnh Bích, 25 rue de Vaucouleurs, 75011 Paris, tel : 01 43 38 00 13

 

 

Nhạc sĩ LÊ MỘNG NGUYÊN :CD TÌNH KHÚC LÃNG MẠN với 14 tình khúc của Lê Mộng Nguyên do Tuyết Dung, Phạm Đăng, Nguyệt Lan, Miên Thúy, Xuân Thảo, Thu Hà, Thanh Lan, Quỳnh Tư, Đặng Hữu Phúc và Huyền Châu trình bày . Lê Mộng Nguyên thực hiện, không bán . Liên lạc : Lê Mộng Nguyên, Bd Saint Germain, 75006 Paris, tel :

 

 

Nghệ sĩ Tài Lương : CD TIẾNG HÁT TÀI LƯƠNG trình bày những ca khúc êm dịu nổi tiếng Việt Nam như « Nửa hồn thương đau » (Phạm Đình Chương), « Bài không tên số 1 » (Vũ Thành An), « Tìm Anh » (Hoàng Thi Thơ), « Chuyện người con gái hái sim »(Anh Bằng), « Ngăn cách » (Y Vân), « Sao đổi ngôi » (Huy Phong). vv…

 

 

Nhạc sĩ Huy Orstrom Moller :: CD Melodies of Vietnam / Giai điệu Việt Nam 1, đàn bầu bởi Huy Orstrom Moller , tự phát hành , Singapore , 2003 . Liên lạc : email : huymoller@hotmail.com <mailto:huymoller@hotmail.com>

Huy Moller là một nhạc sĩ đàn bầu học với GS Thanh Tâm ở âm nhạc viện Hà nội từ mấy năm nay . Đây là lần đầu tiên Huy Moller (tuổi chưa đầy 30) đã khắc phục kỹ thuật đàn bầu và đàn 16 bản đủ loại từ Lý con sáo, các bài Quan họ (Bèo dạt mây trôi, Người ở đừng về, Cây trúc xinh, Se chỉ luồn kim), tới các bài Ví dặm, Cò lả, Hát ru, Tứ đại cảnh, Nam xuân Nam Ai, tới Cổ bản, ru con Nam bộ, Lý cái mơn, vv…Đây là một cố gắng của một nhạc sĩ lớn lên ỡ hải ngoại, trở về nguồn và có nhiều triển vọng trong tương lai .

 

 

 

 

 

 

WEBSITES về Nhạc, Cải lương, Kịch

 

http://www.cailuongvn.com <http://www.cailuongvn.com/&gt;

Bắt đầu từ 29 tháng 5, 2003, website Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang chánh thức đi vào hoạt động mạng lưới để phục vụ khán giả gần xa qua mạng lưới http://www.cailuongvn.com <http://www.cailuongvn.com/&gt; hay là http://www.cailuongtranhuutrang.com <http://www.cailuongtranhuutrang.com/&gt;

Mục đích tạo ra trang nhà này là để giới thiệu nghệ thuật cải lương đến với mọi người trong và ngoài nước , giúp cho họ hiểu được một phần tinh hoa của nghệ thuật cải lương . Phần đầu của trang nhà giới thiệu tổng quát về quá trình hình thành và phát triển Nhà hát , ba đoàn Văn Công, THT2, và THT3) rạp Hưng Đạo . Ngoài ra lịch diễn của các nghệ sĩ, Có phần giao lưu với khán giả để giải đáp những thắc mắc về cải lương nói chung .

 

http://www.kichidecaf.com <http://www.kichidecaf.com/&gt;

Trang nhà Kịch Idecaf được thành lập vào cuối năm 2001 gồm 9 trang được trình bày ấn tượng, hình ảnh đẹp với nhiều tiểu đề khác nhau về vở diễn, nghệ sĩ bằng hai thứ tiếng (Việt – Anh)

 

http://www.giaidieuxanh.com.vn <http://www.giaidieuxanh.com.vn/&gt;

Trang nhà được xây cất tháng 8, 2003 gồm có những tin tức tân nhạc Việt và các loại nhạc ngoại quốc (pop, jazz, rock, rap,vv), những bài viết về đủ các loại nhạc Việt Nam . Một trang nhà rất phong phú .

 

http://www.talawas.org <http://www.talawas.org/&gt;

Trang nhà chuyên về nghiên cứu văn học nghệ thuật Việt Nam được xây cất tại Đức . Có rất nhiều bài giá trị về âm nhạc

 

http://www.vietnhac.org <http://www.vietnhac.org/&gt;

Trang nhà của nhóm Việt Nhạc ở Minnesota (Hoa kỳ) chứa đụng rầt nhiều bài viết nghiên cứu về nhạc Việt Nam, tiểu sử của hàng trăm nhạc sĩ ở hải ngoại, sinh hoạt của nhóm Việt Nhạc . Một trang nhà rất hữu ích cho ai muốn tìm hiểu về nhạc Việt nói chung .

 

http://www.tienve.org <http://www.tienve.org&gt;

Trang nhà do Hoàng Ngọc Tuấn và Nguyễn Hưng Quốc chủ trương ở Úc châu . Có nhiều bài viết về nhạc, bình luận, ca khúc, và giới thiệu những nhạc phẩm mới . Ngoài ra có mục trao đổi nghệ thuật văn hóa

 

 

 

 

NIỀM HÃNH DIỆN CHO VIỆT NAM TRONG NĂM 2003

 

 

UNESCO Paris vừa ban tặng một giấy nhìn nhận NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAM là “Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại .

 

Ngày 7 tháng 11, 2003, UNESCO ban tặng một giấy nhìn nhận Nhạc Cung Đình Việt Nam là “Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (Chef d’oeuvre de l’oral et de l’héritage intangible de l’humanite / Masterpiece of the Oral and Intangible Heritage of Humanity) . Mỗi năm UNESCO mời 10 chuyên gia về âm nhạc để cứu xét các hồ sơ đề nghị nghệ thuật dân gian (nhạc, mỹ thuật) để lựa khoảng 28 di sản trong số 56 hồ xin vào danh sách kiệt tác của hoàn vũ . Năm 2003, nhạc cung đình Việt Nam được chọn. Đó là niềm vui chung cho nền quốc nhạc Việt Nam . Cũng nên nhớ rằng nhạc cung đình Huế đã được cố GS Nguyễn Hữu Ba và GS Trần Văn Khê khởi xướng việc thu thanh vào năm 1963 để thực hiện dĩa hát Nhạc cung đình Huế do hãng Barenreiter Musicaphon sản xuất tại Đức . Dĩa “VIETNAM 1” (BM 30 L 2022) đoạt giải thưởng của Tây Đức “Deutscher Schallplatten Preis năm 1969 và giải Grand Prix du Disque của Académie du Disque Francais năm 1970 . Nhiều nhạc sĩ nhạc cung đình Huế đã sang Âu châu trình diễn và gặt hái nhiều thành công . Một số CD khác được phát hành ở Âu châu, Nhựt Bổn trong thập niên 90 . Japan Foundation và Toyota Foundation đã tài trợ việc thực hiện những tài liệu phim ảnh về nhạc cung đình và được tàng trữ tại trường đại học OSAKA và ở viện nghiên cưú nhạc đình tại Huế .GS Trần Văn Khê đã đóng góp rất nhiều suốt 40 năm trời (1963-2003) trong việc phục hồi nhạc cung đình Huế và mang lại cho nhạc cung đình Huế một vinh danh hiếm có này . Hy vọng rằng với văn bằng tưởng thưởng này, nhạc cung đình Huế sẽ được bảo trì đúng theo tiêu chuẩn và đừng biến đổi nó theo thị hiếu đòi hỏi của thương mại mà làm hư đi gia tài văn hóa của tổ tiên .

 

 

Một cuốn phim tài liệu với Trần Quang Hải là đề tài của phim : “Trần Quang Hải / Portrait ” (2003)

 

Một cuốn phim video dài 16 phút nhan đề “Tran Quang Hai /Portrait” (Trần Quang Hải / Chân Dung) do 3 cô sinh viên Audrey Plessis, Jie Sun et Julie Mayer của trường ICST – Institut de Cinema Scientifique et Technique, Universite Denis Diderot Paris 7 thực hiện . Trần Quang Hải là cố vấn khoa học cho cuốn phim , đồng thời là nhân vật chánh của phim. Nội dung kể lại cuộc đời của Trần Quang Hải qua ba bộ môn đã đưa Trần Quang Hải lên tột đỉnh của công trình nghiên cứu . Đó là hát đồng song thanh (với rất nhiều giải thưởng trên thế giới), đàn môi (được chọn là nhạc sĩ đàn môi hay nhứt của đại hội liên hoan đàn môi ở tỉnh Molln, Áo quốc năm 1998), và muỗng (được bầu là “Vua muỗng” tại đại hội liên hoan ở Cambridge , Anh quốc năm 1967). Cuốn phim được hội đồng giám khảo chấm điểm cao nhất trong kỳ thi ra trường hồi tháng 10, 2003 . Ngày 3 tháng 12, 2003, phim được chọn để chiếu cho khán giả xem tại Institut de Recherche pour le développement , 213 rue La Fayette, 75010 với sự hiện diện của 3 cô đạo diễn, Trần Quang Hải và GS Richard Millet (cố vấn sư phạm của phim)

 

 

Cuốn phim “LE CHANT DIPHONIQUE” với Trần Quang Hải là diễn viên chánh và đồng tác giả của phim

DVD : Le chant diphonique, réalisation: Christian Beguinet, co- auteurs : Trần Quang Hải et Luc Souvet, 27 minutes, distributeur : CRDP đe la Réunion, octobre 2003 . Contact : Luc Souvet email : luc.souvet@wanadoo.fr <mailto:luc.souvet@wanadoo.fr>

 

Tháng 5, 2003, Trần Quang Hải đi sang đảo La Reunion để thực hiện cuốn phim với đề tài “Le chant diphonique” (Hát đồng song thanh). Đề tài này là chủ đề nghiên cứu của Trần Quang Hải từ hơn 30 năm nay . Với sự cộng tác của nhóm ca sĩ xứ Tuva “Huun Huur Tu ” nổi tiếng trên thế giới về loại hát đồng song thanh, cuốn phim miêu tả những kỹ thuật hát hai giọng khác nhau, cách dạy trẻ em, người lớn về kỹ thuật hát lạ lùng do Trần Quang Hải sáng tạo . Đây là một cuốn phim sư phạm , sẽ được dùng trong các trường tiểu , trung học của Pháp do Trường đại học đảo la Réunion, Trung tâm địa phương tài liệu sư phạm (Centre regional de documentation pedagogique) thực hiện và phát hành . Luc Souvet, giáo sư âm nhạc và Trần Quang Hải, nhạc sĩ và nghiên cứu gia là đồng tác giả cuốn phim này . Phim dài 27 phút do đạo diễn Christian Beguinet thực hiện, được dựng xong vào cuối tháng 10, 2003 . Sẽ được tung ra thị trường vào đầu năm 2004 dưới hình thức DVD với một tập sách nhỏ dày 12 trang do Trần Quang Hải biên soạn với đầy đủ tài liệu về hát đồng song thanh .

 

 

Trần Quang Hải có tiểu sử trong WHO ‘S WHO IN FRANCE 2003-2004 , ø trong ANNUAIRE DES PERSONALITES EN FRANCE 2003, trong sách tham khảo QUID 2004, và GUIDE DU SHOW BUSINESS 2003 của Pháp, International Who ‘s Who in Classical Music 2004 .

 

Nhạc sĩ Trần Quang Hải có tiều sử đăng trong các quyển sách tiểu sử của Pháp như “Who’s Who in France ” (kỷ niệm 50 năm thành lập) với 20.000 tên của những ngưòi nổi tiếng ở Pháp. Ngoài ra quyển “Annuaire des Personalites en France ” ghi tiểu sử của 2.000 người lựa chọn trong đó có Trần Quang Hải (được bảo quốc huân chương Pháp năm 2002) với hình và tiểu sử chi tiết đặc biệt dành cho những ngưới được bảo quốc huân chương của Pháp . Quyển QUID 2004 ghi tên 3 nhạc sĩ Việt Nam (Nguyễn Thiên Đạo , Tôn Thất Tiết và Trần Quang Hải) vào danh sách nhạc sĩ Việt Nam . Quyển GUIDE DU SHOW BUSINESS chuyên về việc lựa chọn các nghệ sĩ sinh sống tại Pháp và hành nghề trong lĩnh vực nghệ thuật (âm nhạc, sáng tác, kịch nghệ, các phòng thu thanh, rạp hát ) . Tên của Trần quang Hải có trong danh sách nhạc sĩ chuyên môn về muỗng, đàn môi, đàn tranh, nhạc khí á châu, sáng tác nhạc . Quyển International Who ‘s Who in Classical Music 2004, xuất bản tại Anh quốc ghi tiểu sử của nhạc sĩ Trần Quang Hải về những sáng tác trong mấy mươi năm qua .

 

 

Nữ nhạc sĩ QUỲNH HẠNH trở thành hội viên của Société Francaise d’Ethnomusicologie của Pháp .

Năm 2003 nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh , thí sinh tiến sĩ âm nhạc của đại học đuờng Sorbonne-Paris 4 được gia nhập Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d’Ethnomusicologie / French Society for Ethnomusicology) do Trần Quang Hải (sáng lập viên) giới thiệu vào và là người đỡ đầu . Muốn vào hội nghiên cứu này phải hội đủ điều kiện sau đây :

1. trình độ tiến sĩ dân tộc nhạc học

2. học tại một trường đại học Pháp

3. phải có 2 người đỡ đầu để giới thiệu vào

4. phải có thành tích chứng tỏ đã hoạt động trong lĩnh vực nhạc cổ truyền .

Hội này khác với phần đông các hội nghiên cứu khác vì không phải chỉ đóng niên liễm mà phải có trình độ nghiên cứu qua quá trình học lực .

 


NGHỆ SĨ BINH NẶNG TRONG NĂM 2003

 

NSUT MINH PHỤNG

Minh Phụng vào bịnh viện cấp cứu điều trị từ tháng 8. Anh bị bịnh tiểu đường, từ đó sinh ra nhiều bịnh khác như tim, phổi, thận, áp huyết cao . Nhờ sự tận tâm của các bác sĩ ở các bịnh viện An Bình, Nguyễn Trãi, Điện Biên Phủ, Viện tim TP, Chợ Rẫy nhiệt tình điều trị nên bịnh anh thuyên giảm nhiều , ngoại trừ bịnh tim . Vào tháng 11, 2003, các bác sĩ đặt 5 ống mạch vành để thông tim cho anh (giá mỗi ống là 20 triệu đồng). Nghệ sĩ và mạnh thường quân đã đóng góp tiền để giúp vợ Minh Phụng là Kiều Tiên chạy chữa . Hy vọng sẽ tai qua nạn khỏi . Chúc Anh Minh Phụng sớm bình phục .

 

 

Nghệ sĩ hài PHI THOÀN

Phi Thoàn đi sang Mỹ thăm hai con và ở lại Mỹ một năm . Sau đó trở về Việt Nam nhưng không còn hoạt động . Đầu tháng 8, 2003, anh phải vào bịnh viện Nguyễn Trãi với bĩnh nghẹt mật, vàng da, mật có sạn khá lớn, viêm gan siêu vi và có bịnh tiểu đường . Phải dùng ống thông túi mật (giá 1.000 dollars một ống) . Sau 20 ngày chữa bĩnh Phi Thoàn khỏe lại, xuất viện ngày 22 tháng 8 và tịnh dưỡng tại nhà . « Gala cười »do đài VTV3 thực hiện vào cuối tháng 8 thiếu tiếng cười của anh .

 

 

 

 

Nghệ sĩ quá cố trong năm 2003

 

Nhạc sĩ Vô Thường (1940-2003) từ trần tại Santa Ana, Quận Cam, California, Hoa Kỳ

Vài dòng về thân thế anh Vô Thường

 

Anh tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Phan Rang, đỗ khóa 9 trường sĩ quan Thủ Đức, phục vụ ngành tâm lý chiến . Lúc nhỏ, anh rất yêu nhạc, có thể nói là mê nhạc nhưng không có phương tiện để học nhạc vì nơi anh ở không có trường quốc gia âm nhạc như Saigon và Huế . Cho nên anh tự học đàn lấy một mình . Nhờ có khiếu, anh đánh đàn măng cầm (mandoline) rất khá, và đã chiếm giải « người đánh đàn mandoline hay nhứt của quân khu » vào năm 1962 .

Tên VÔ THƯỜNG đã được xuất hiện từ lúc đó, nhưng chỉ được một số người trong binh chủng biết đến mà thôi . Anh cũng có giao dịch và gặp gỡ những tay đàn mandoline nổi tiếng ở Việt Nam lúc đó như Pierre Trần ( Trần Anh Tuấn), Lê Duyên , Khánh Băng, Nguyễn Mạnh, Đức Qưê, Văn Lạc. Cũng như nhạc sĩ Khánh Băng, anh chuyển từ mandoline qua tây ban cầm vào năm 1966 . Có một điều là anh đàn tây ban cầm bằng tay trái, ngược đối với tất cả cao thủ đàn ghi-ta. Tuy vậy anh cũng thường xuyên đàn trong một số ban nhạc ở các club Mỹ tại Phan Rang , nơi anh làm việc ở tại trung tâm Bình Định phát triển ở tòa hành chánh Ninh Thuận .

Cuộc đời binh chủng cũng như văn nghệ của anh tưởng cứ như thế mà tiến triển một cách trầm lặng. Nào dè 30 tháng 4, 1975, không kịp đem theo vợ và hai con gái trên con đường tạm dung , Anh đã theo lớp người Việt đầu tiên đến xứ Mỹ .

Không biết làm nghề gì trong giai đoạn đầu của cuộc sống mới, anh mới nẩy ra ý mở một cửa hàng bán bàn ghế, tủ giường . Anh trở thành ngưới Việt đầu tiên hành nghề này tại vùng Quận Cam . Từ đó cho tới năm 1987 anh làm chủ tiệm Kim’s Furniture ở Santa Ana, California . Có một dạo, anh mở tới 5 tiệm nhưng vì coi không xuể, lớp vì có máu văn nghệ mạnh quá, anh mới «thử thời vận » hùn với một người bạn mở một khiêu vũ trường mang tên là RITZ vào tháng 3, năm 1983. Nhưng tới tháng 7, 1984, sau 16 tháng « lăn lóc » có dịp thù tạc chén anh chén em, anh đã nhường khiêu vũ trường RITZ lại cho Ngọc Chánh, trưởng ban Shotgun, để quay về nghề bán bàn ghế như trước .

Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau : « tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ . Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn . Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu . Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ . Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhạc .. Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học . Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100 % ».

Rồi một ngày chủ nhật 19 tháng 4, 1987, tại quán Phở Ngon ở quận Cam, Cali, anh Vô Thường đã cho trình làng hai cuốn « Ru khúc mộng thưòng » 1 và 2, kết quả của tiếng đàn tây ban cầm mà anh đã để hết tâm hồn cho hai đứa con gái của anh đã đòi hỏi anh đàn cho chúng nghe vì khi anh ra đi, chúng chỉ mới có 6 và 4 tuổi . Giờ đây đãø 18 tuổi và 16 tuổi xuân xanh .

Hai cuốn băng trình làng với sự hiện diện của 200 bạn bè đã gặt hái một kết quả tài chánh và nghệ thuật rất đáng kể . Anh đã dành số tiền 800 Mỹ kim bán băng buổi ra mắt để tặng cho Ủy ban cứu trợ quốc tế (International Rescue Committee) để giúp những trẻ mồ côi tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á .

Băng của Anh đã được tái bản nhiều lần, hơn hẳn những băng nhạc « chuyên nghiệp » và báo chí đã cho hiện tượng đó là « ngựa về ngược ». Anh tiếp tục cho trình làng thêm hai cuốn băng khác vào tháng 6 với tựa đề « Hạnh phúc nửa vời » gồm những bản nhạc do Anh sáng tác qua một số giọng hát có tên tuổi trình bày, và một cuốn « Hải Âu » do ca sĩ và nhạc sĩ Phạm Hoàng Dũng phụ trách .

Con đường âm nhạc anh đãø dấn thân vào chỉ mới có mấy tháng trong năm 1987 mà đã gây một tiếng vang. Và dư âm đã vang dội cho tới ngày anh ra đi vào tháng 4, 2003 sau nhiều tháng chống trả với tử thần vì bịnh ung thư , 16 năm thành công với hơn 120 CD đã lưu lại cho hậu thế .

 

 

Vô Thường : Ca sĩ và Nhạc sĩ

Anh Vô Thường có viết cho tôi rằng anh không phải là ca sĩ hay nhạc sĩ gì cả . Giọng anh thì khàn, loại « khao khao vọng cổ », nếu không nói là « giọng vịt đực ». Nhưng anh Vô Thưòng đâu có biết rằng giọng hát đó rất khó tìm, vì nó lạ, vì nó khác giọng thường nghe, vì chất nhựa của thuốc, của rượu đã quện lại thành một loại giọng của người đã từng lăn lóc trong trường đời .Đó là cái may mắn của anh mà anh Vô Thường không biết hay không muốn biết .

Nhờ vào cái tâm hồn rất phong phú mà khi anh Vô Thường hát , tiếng hát đó dễ đi sâu vào lòng người nghe, như truyền đi những gì anh muốn nói qua lời ca, qua tiếng nhạc .

Lúc đó tôi chưa gặp anh Vô Thường . Tôi chỉ nghe giọng hát, nghe lời nhạc anh viết , tôi mường tượng con người đã bị đời cho nhiều « vố » đau điếng nên xuyên qua giọng hát , tôi có cảm tưởng một bầu trời bi quan, chán chường, tuyệt vọng, một khung cảnh u sầu, uất hận .

Bản nhạc anh vừa sáng tác vào tháng 8, 1987 với tựa đề « Giọt nước mắt lưu đày » gói ghém nỗi lòng của anh .

 

Đêm thức giấc quanh đây trời đất lạ

Ta một mình biết nói với ai đây

Bao ưu phiền ray rứt bấy lâu nay

Thân lạc loài viễn xứ mấy ai hay.

Giòng nước mắt no đầy kiếp lưu đày

Ly rượu này chưa uống sao ta say ?

 

Một đoạn khác của bài hát nói lên tâm tư của anh

 

 

Bây giờ đây, bên kia đại dương cha ta nhục nhã đói

Bây giờ đây, lao tù giam tù nhân đến mấy kiếp

Bây giờ đây căn nhà hoang mẹ ta vừa nhắm mắt

Chiếc quan tài, hay manh chiếu rách gói thân mẹ ta

Ôi trẻ thơ, ôi đàn con đang lang thang ngoài phố trời,

Đi về đâu, không ngày mai, tương lai là bóng tối,

Saigon ơi ! Saigon ơi ! Thay tên và hấp hối

Xác bạn bè, ngã xuống không mồ chôn .

 

Cuốn băng « Hạnh phúc nửa vời » của anh Vô Thường phát hành giữa năm 1987. Tất cả những nhạc phẩm trong cuốn băng đầu tay có tính cách « chuyên nghiệp » hơn qua các giọng ca đầy triển vọng của Uyên Lan, Lê Uyên, Phạm Hoàng Dũng, Việt Dzũng, Hằng Nga, Ngọc Giao, Như Mai và Vô Thường . Nữ ca sĩ Uyên Lan , một tài năng mới xuất hiện, trước kia ở Houston, nay đã dời đô về Cali, có một giọng hát nghiêng về « alto » hơn là « soprano ». Đa số nữ ca sĩ Việt đều có giọng cao « soprano ». Bản nhạc « Hạnh phúc phù du » cũng như bài « Hạnh phúc nửa vời » đã được Uyên Lan diễn tả với tất cả tâm hồn làm người nghe như lắng đọng trong không gian hư vô .

« Hạnh phúc nửa vời vì không trọn vẹn, vì bên em mà nửa hồn anh như cùng mềm . Khách khoảng thương quê hương vì mòn mỏi đợi chờ , mơ một ngày trở lại . Anh thốt gọi tên em trong câm lặng. Hạnh phúc phù du, hạnh phúc nửa vời » . Đó là lời anh Vô Thường khơi mào vào đầu cuốn băng .

Hạnh phúc nửa vời, qua nhịp điệu habanera chậm buồn, tôi có cảm giác anh Vô Thường muốn gởi trọn nỗi lòng của anh trong tiếng hát của Uyên Lan :

 

 

Có bao giờ anh khóc một mình

Có bao giờ anh thương nhớ cuộc tình

Một đêm mưa, mưa đêm dĩ vãng

Đến bên anh, lại vuốt vai gầy

Lời tính đầu , cho nhau bỡ ngỡ

Chút ngây thơ, tình thuở dại khờ

Có bao giờ em nhớ trong đời

Có bao giờ em tiếc nuối một thời

Bài nhạc sầu yêu thương với nhớ

Nhớ đêm mưa là nhớ mãi một người

 

Anh đã bị đời dày xéo . Nếu còn đươc giây phút nào để nói về thân phận , về cuộc đời trên giấy bút , trên âm nhạc, trên văn thơ, thì anh Vô Thường sẽ không ngần ngại .

Nhục nhã của 16 năm làm lính, mất « quê hương », mất gia đình, mất tất cả, lại thêm một nhục lớn là phải ở xứ lạ quê người. Đời chỉ được một lần sinh ra và chết, nhưng bổn phận làm người và tình không còn nữa . Anh Vô Thường đã tâm tình với tôi rằng :

 

« Tôi xin được nói những khi còn có thể nói,

Tôi xin được viết những khi tôi còn có thể viết,

Xin còn đủ lý trí để nhận định và không gì thay đổi

Dù sang hay hèn,

Nghèo hay giàu,

Dù có danh hay không ? »

Đúng như nhà Phật đã nói : « Sắc sắc không không . Không tức thị Sắc . Sắc tức thị Không ».

Cuộc đời của anh Vô Thường được gói ghém qua mấy câu

« Một quê hương trước khi nhắm mắt không hiểu còn có thấy lại hay không ?

Một cuộc đời toàn những hạnh phúc phù du, người đây, vợ và con một ngã, của 12 năm

Ước muốn chi nhiều, rồi cũng bấy nhiêu thôi . »

 

Khi Anh sang thăm chúng tôi tại Paris vào đầu thập niên 90, anh Vô Thường giới thiệu Tín Hương, một người đàn bà miền Trung rất đẹp.

Ít lâu sau , anh loan bào tin anh lập gia đình . Chúng tôi có sang Cali mấy lần gặp anh và Tín Hương . Anh đã giúp và khuyến khích Tín Hương sáng tác nhạc . Và Tín Hương đã thực hiện được hai CD . Cuộc tình tưởng như sẽ tốt đẹp như bài thơ . Nhưng có ai ngờ là vào cuối năm 1999, Tín Hương và anh không còn chung sống với nhau . Anh Vô Thường có buồn thật nhưng sau đó , anh tìm lại nguồn vui và đã cùng anh Lữ Mộc Sinh sáng tác một nhạc phẩm « Từ lúc yêu em » .

Anh vẫn tiếp tục sản xuất CD nhạc khiêu vũ, nhạc ngoại quốc, nhạc để nghe , loại nhạc ûkhông lời » mà anh đã tạo một chỗ đứng « không đối thủ ». Nhạc của anh đàn đã đi vào thị trường Mỹ . Mỗi tuần anh nhận được nhiều thơ hỏi mua, hoặc viết lời khen anh , cám ơn Anh đã mang lại cho họ những giây phút êm ái qua những ca khúc du đương .

Thỉnh thoảng Anh mang thơ của những người ái mộ người Mỹ từ khắp xứ Mỹ đưa cho tôi đọc để cùng chung vui với Anh .

Anh Vô Thường đã thành công mang hai đứa con gái Diễm và Khanh sang Mỹ và đã giúp cho hai cháu có một nghề chắc chắn và cả hai đều lập gia đình với hai chàng rể thật dễ thương . Anh đã hoàn thành sứ mạng của một người cha trước khi nhắm mắt . Tôi có gặp anh lần chót vào tháng 10 , 2001 tại San Jose khi chúng tôi sang diền . Anh tuy ốm nhưng vẫn còn tếu như mọi khi . Anh có trở về Việt Nam lần chót để thực hiện CD « Tình Ca Vô Thường / Giọt Nước Mắt Vô Thường » qua tiếng hát của Quỳnh Lan, Đức Minh, Vô Thường và bài « Nhớ chút tình bỏ quên » do Bạch Yến hát cả hai lời Việt / Pháp . Đây là dĩa CD với nhạc và tiếng hát Vô Thường và là dĩa « có lời » nhưng chưa kịp « kiếm lời » là anh đã ra đi . Bạch Yến đến thăm Anh lần chót vào ngày mùng 1 Tết Quý Mùi ( tháng 2, 2003) , hai tháng trước khi anh lìa trần

 

Anh Vô Thường đã trở về với cát bụi , nhưng Anh đã để lại cho đời một số sáng tác nhạc, hàng trăm dĩa CD ghi lại tiếng đàn ghi-ta tay trái bất hủ của anh . Anh ra đi nhưng đã để lại bao tiếc thương một người bạn tốt với bạn, với người đồng hương (Anh đã đóng góp rất nhiều cho các cơ quan từ thiện qua số dĩa CD và băng nhựa anh tặng ), với đất nước .

 

 

*Ca sĩ DUY KHÁNH (1936 – 2003)

 

Ca nhạc sĩ Duy Khánh đã trút hơi thở cuối cùng vão ngày 12 tháng 2, 2003 tại bịnh viện Fountain Valley, quận Cam , hưởng thọ 68 tuổi

Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp, sinh ngày 1 tháng 6, năm 1936 (Bính Tý) tại làng An Cự, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, là hậu duệ đời thứ 5 của Kỳ Vị Quận Công phụ chánh Đại thần Nguyễn Văn Tường, triều Nguyễn . Thân phụ anh là ông Nguyễn Văn Triển, dân biễu Quốc hội đơn vị Quảng Trị, thời Ngô Đình Diệm. Từ thuở nhỏ, anh đà mê nhạc, hát cho đài phát thanh Huế với biệt hiệu Tăng Hồng, rồi Hoàng Thanh . Năm 1952, anh vào Saigon, học nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân, trúng tuyển cuộc thi tuyển lựa ca sĩ Đài Phát thanh Pháp Á với bài « Trăng Thanh bình » của Hoài An . Từ đó anh đỗi tên thành Duy Khánh (tên của một người bạn thân hồi học trung học, sau đó sang Pháp du học và chết bên Pháp). Anh bắt đầu thu thanh cho các hãng dĩa Việt Nam, Asia, Sóng Nhạc (loại dĩa 45 vòng và 33 vòng)

Ngoài tài ca hát , anh còn sáng tác nhạc qua hai đề tài :tình yêu và quê hương gồm các ca khúc : « Thương về miền Trung », « Bao giờ em quên », « Anh về một chiều mưa », « Lối về đất mẹ », « Ai ra xứ Huế », « Trường cũ tình xưa », « Xin Anh giữ trọn tình quê », « Mưa bay trong đời », « Giã từ Đà lạt », và lính chiến khi anh hoạt với Biệt đoàn Văn nghệ trung ương, Cục tâm lý chiến qua các nhạc phẩm « Người Anh giới tuyến », « Đi từ đồng ruộng bao la », « Thư về em gái thành đô », « Vùng Quê tương lai », « Mừng Anh chiến sĩ giữ ấp »

Sau 1975, anh bi. cấm hát một thời gian . Khi được hát trở lại , anh thành lập đoàn” Quê Hương” cùng với Châu Kỳ, Nhật Ngân . Các ca sĩ gồm có Ngọc Minh, Sơn Ca, Băng Châu, Quốc Dũng, Thanh Tuyền, Bảo Yến, Nhã Phương, Nguyễn Hưng . Năm 1988 anh cùng gia đình sang định cư tại quận Cam cho tới ngày từ trần vào tháng 2, 2003 .

Tại Mỹ, anh tái lập nhóm nhạc Trường Sơn, hát cho trung tâm băng nhạc Làng Văn, thu CD và Video. Về sau anh lập trung tâm riêng lấy tên là Cali Music và thực hiện 15 CD . Bản nhạc cuối cùng anh viết là ” Điệu buồn chia xa ” như một lời di chúc .

Đêm Tạ tình tiếng hát và dòng nhạc Duy Khánh được tổ chức ngày 10 tháng 1, 2003 tại vũ trường Majestic đạt khả quan tài chánh để gia đình có phương tiện lo cho anh .

Ngày 12 tháng 2, 2003, sau nhiều tháng nằm nhà thương , anh từ giã cõi trần . Ngày 20 tháng 2, tại phòng sinh hoạt của nhựt báo Người Việt, lễ phủ quốc kỳ Việt Nam được tổ chức trang nghiêm trước đại diện binh chủng . Ngày 21 tháng 2 , truớc hàng trăm bạn bè nghệ sĩ, nhạc sĩ Phạm Duy nói về cuộc đời Duy Khánh. Đa số các nghệ sĩ từng hát chung với anh đều có mặt để tiễn đưa người bạn tới nơi an nghỉ cuối cùng .

 

 

TRẦN ĐÌNH QUÂN (1939-2003

 

Nhạc sĩ Trần Đình Quân, sinh năm 1939 tại Huế, giáo sư trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, gia nhập phong trào Du Ca năm 1965, huynh trưởng Du Ca Aùo Nâu Đà Nẵng. Anh tốt nghiệp sĩ quan trường võ bị Thủ Đức, từng bi. Cầm tù trại cải tạo từ năm 1975 tới 1981 . Vượt biên năm 1985 và định cư tại Hoa kỳ .

Anh có viết “Vườn Dâu Xanh”, sách nhạc gồm có hai phần: phần 1 gồm 10 bài nhạc nói lên tâm tình của người thanh niên đối với quê hương và mái trường . Phần 2 gồm 12 bản nhạc du ca kể về thân phận và con người trong quê hương chiến tranh . Sãch do nhà xuất bản Người Việt Cali phát hành năm 1991 . Một băng nhạc ” Vườn Dâu Xanh” do Trường Sơn Duy Khánh phát hành tại Cali, Hoa kỳ với các giọng ca Khánh Ly, Duy Khánh, Thiên Trang , Hương Lan, Như Mai, Xuân Sơn .

Anh Trần Đình Quân bị bịnh Azheimer từ lâu, trút hơi thở cuối cùng vào ngày 22 tháng 9, 2003 tại California , mai táng ngày 27 tháng 7, 2003 . Anh Hoàng Ngọc Tuệ đại diện các du ca trong và ngoài nước đọc bài tế tiễn đưa trước sự hiện diện của đông đảo bạn bè và văn nghệ sĩ .

 

 

Nghệ sĩ HOÀNG BÉ (1926-2003)

 

Nghệ sĩ lão thành hát bội HOÀNG BE (1926-2003)Ù lìa trần

Nghệ sĩ Hoàng Bé , tên thật là Nguyễn Văn Lương, sinh năm 1926, tại Saigon. Mẹ là nghệ sĩ Ba Kia, cô đào tên tuổi của đoàn Tấn Thành vào thập niên 50 . Xuất thân từ lò hát bội Cầu Muối ở Saigon, Hoàng Bé bắt đầu lên sân khấu lúc 9 tuổi. Ông là học trò của NS Hai Lựu . Ông trau dồi nghề nghiệp từ lúc nhỏ tới lúc trưởng thành trên sân khấu Tấn Thành Ban bên cạnh các nghệ sĩ tài danh như Tư Bào, bà Năm Đồ, Tám Trực, Sáu Cho, Tư Kỷ, Sáu Ký, Mười Sự, Ba Cang, Bảy Xệ, Sáu Cho, Tư Kỷ, Chín Tài, Tám Vân, Ba Gỡ .

Từ năm 1950, Hoàng Bé trình diễn trên các sân khấu các đoàn Thái Hòa, Bầu Cà, Bầu Tảo, Đại Nghĩa, Phước Thành, Công Thành, Nghĩa Thành, Vững Liên . Sau 1975, ông tham gia đoàn hát bội Thành Phố. Từ 1997, ông từ giã sân khấu về ở tại Mỹ Tho .

Ông đã thành công qua các vai kép con (Na Tra, Lý Nguyên Bá, Phàn Diệm), kép trẻ ( Triệu Tử Long, Tiết Nhân Quý), tướng lớn ( Ngô Tôn Quyền, Trương Phi), và đặc biệt là các vai hầu tinh (Tôn Ngộ Không, Hầu Ân). Ông được tặng cho biệt danh là « Hoàng Bé bay » vì ông hay bay lượn và nhào lộn trên không gian sân khấu .

Ông từ trần vào sáng ngày 24 tháng 9, 2003, tại ấp Tân Thạnh, xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành , Tiền Giang , hưởng thọ 78 tuổi .

 

NSUT HOÀNG GIANG (1922-2003)

 

· KÉP ĐỘC HOÀNG GIANG (1922-2003) không còn nữa

NSUT Hoàng Giang sinh năm 1922 tại Tiền Giang. Lúc trẻ, ông là một cây đờn tài tử nổi tiếng xứ Gò Công . Sau đó ông tham gia các ban cải lương Thống Nhứt, Thanh Minh và Hương Mùa Thu . Ông chuyên về kếp độc tài hoa, thông minh, tướng tá cao (1m75) , giọng nói ồn ào, giọng cười vang dội . Dù đóng vai ác, ông vẫn làm cho khán giả tuy ghét nhưng vẫn cười được . Ông đóng bên cạnh các nghệ sĩ Thanh Nga, Thanh Sang, Bạch Tuyết, Trường Xuân, Văn Ngà . Ông cùng vợ là Nghệ Sĩ Kim Giác sống một cuộc sống đạm bạc. Sau này ông bĩ bĩnh tiểu đường , áp huyết cao, mắt mờ. Năm 1993, ông được tặng chức « Nghệ sĩ ưu tú / NSUT ». Trong năm 2003, ông vào nhà thương mấy lần, bạn bè nghệ sĩ vào thăm, đóng góp tiền giúp đỡ vợ ông . Nhưng rồi ông không chống lại tử thần để ra đi vào chiều ngày 3 tháng 11 tại nhà riêng ở đường Lý Thường Kiệt, P.9, Q.Tân Bình, TPHCM, hưởng thọ 82 tuổi . Lễ chôn cất được cử hành vào ngày 5 tháng 11, 2003 . Nghệ sĩ Minh Vương đại diện gia đình nghệ sĩ trao cho NS Kim Giác một số tiền giúp tượng trưng trong ngày đưa đám .

 

Nhạc sĩ CHÍN TÂM (1925-2003)

 

· NHẠC SĨ CHÍN TÂM (1925-2003) RA NGƯỜI THIÊN CỔ

Nhạc sĩ Chín Tâm , tên thật là Trần Thanh Tâm, sinh năm 1925 tại Mõ Cày, Bến Tre . Ông nguyên là giảng viên trường Quốc gia âm nhạc Saigon và trường Nghệ Thuật Sân khấu II (được đổi lại là Trường Cao Đẳng Sân khấu điện ảnh) sau 1975.

Vào năm 1970, trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon đã đề cử một số nhạc sĩ (trong đó có ông) đi biểu diễn văn nghệ tại Hội chợ Osaka , Nhựt Bổn .Tại trường quốc gia âm nhạc, ông chuyên dạy đàn tranh, kìm . Ông đã đào tạo một số học trò nỗi tiếng như Kim Chánh, Văn Sơn, Em Niên, Hồng Loan, Ngọc Châu . Ông rất thông thạo các bài bản theo các điệu Bắc, Nam, Hạ , Oán, Ngự .Ông cũng từng soạn một số sáng tác mới như Xuân Tình, Bắc Oán, Kim Tiền chấn, Bắc Oán, Xàng xê nhịp 32 .

Sau một cơn bạo bịnh, ông ra đi lúc 4 giờ ngày 11 tháng 8, 2003 tại tư gia số 521, lô S (khu Tái thiết đường Hoàng Diệu , Quận 4, TPHCM. Lễ di quan được cử hàng vào sáng thứ năm 14 tháng 8, 2003. Sau đó được đưa đi an táng tại đất chùa Pháp Trì Dĩ An, Bình Dương .

 

Bầu LONG (1923-2003)

 

Bầu Long (1923 – 2003) không còn nữa

Trong giới cải lương ai cũng biết bầu Long, người gầy dựng các đoàn Kim Chung ở miền Nam Việt Nam . Ông là một trong 4 người bầu được giới cải lương xếp hàng đầu trong làng cải lương miền Nam trước 1975 (3 người còn lại là bầu Xuân của đoàn Dạ Lý Hương , bầu Thơ của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, bầu Bảy Chưởng của đoàn Kim Chưởng )

Bầu Long tên thật là Trần Viết Long , sinh năm 1923 tại Hà Nội. Bắt đầu vào nghề làm bầu từ năm 1949 với đoàn Kim Chung-Ái Liên . Đầu năm 1950 ông tách ra lập riêng đoàn Kim Chung . Vào trong Nam hoạt động từ năm 1954.

Năm 1962 ông thành lập Công ty cải lương Kim Chung (có tới 7 đoàn Kim Chung trong giai đoạn cực thịnh).

Rất nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng đã từng trình diễn trên sân khấu Kim Chung như : Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Minh Cảnh, Tấn Tài, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Minh Vương, Mỹ Châu, Minh Phụng, Tô Kim Hồng, Út Hiền, Út Hậu, Trường Xuân, Thanh Hải, Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Phương Bình, Minh Sang, Thanh Phú, An Danh, Tài Bửu, Lê Vũ Cầu, Chí Tâm, Hương Lan, Phước Hậu, Ánh Hồng, Bích Hạnh, Ngọc Ẩn, Tô Kiều Lan.

Nhờ tài quản lý giỏi và nhìn thấy tài năng trẻ , ông đã đóng góp nhiều cho sân khấu cải lương suốt mấy mươi năm qua . Năm 1975, ông theo luồng sóng tỵ nạn đi sang Paris . Mở nhà hàng Kim Sơn ở gần khu Montparnasse, với ý định tạo phong trào hát cải lương nhưng không thành .

Năm 1981, ông trở về Saigon sinh sống một cuộc đời ẩn dật . Một phần bịnh tật, một phần tuổi già ông lui vào trong bóng tối . Ông mất vào lúc 16giờ50 ngày 1 tháng 9, 2003 tại tư gia số 309/11 bis đường Nguyễn Văn Trỗi, Tân Bình , hưởng thọ 81 tuổi .

 

Nghệ sĩ tuồng cổ Hữu Cảnh (1949-2003) từ trần

Nghệ sĩ Hữu Cảnh, tên thật là Nguyễn Văn Út, sinh năm 1949 tại Bến Tre . Anh bắt đầu vào nghề hát từ năm 1966 ở đoàn Cải lương Kim Chưởng trong vai đầu tiên lão trùm chiếu trong vở « Hắc Long huyết hận ». Anh nổi tiếng qua các vai tuồng cổ như Lý Thường Kiệt, Lưu Bị, Nguyễn Huệ, và nổi tiếng nhứt là vai Trần Thủ Độ ( trong tuồng Bão táp Nguyên Phong) . Anh có giọng ca giống Hữu Phước , nên lấy biệt hiệu là Hữu Cảnh. Năm 1976, anh thành hôn với nghệ sĩ Xuân Yến có ba con , nhưng chỉ có Trinh Trinh là theo nghề cha mẹ .

Từ năm 1988, nghệ sĩ Hữu Cảnh bị chứng suy nhược thần kinh nên đã rời bỏ sân khấu . Bịnh càng ngày càng nặng do những biến chứng về phổi và tim . Anh từ trần ngày 5 tháng 7, 2003, hưởng thọ 55 tuổi . Linh cửu được quàn tại tư gia số 56/29 đường Bạch Vân, P.5, Q.5, TPHCM, đưa đi hỏa táng tại lò thiêu Thuận An (tỉnh Bình Dương ) sáng 8 tháng 7, 2003. Anh đã góp nhiều công sức với đoàn thể Minh Tơ, cho ra đời nhiều vở tuồng có tiếng . Anh cũng góp vào sân khấu cải lương một tài năn triển vọng, đó là Trinh Trinh, đứa con gái cưng của anh đoạt Huy chương vàng trong vai Bùi Thị Xuân .

Nghệ sĩ NGÂN HÀ (1955 – 2003) không còn nữa

Nữ nghệ sĩ Ngân Hà, tên thật là Nguyễn Thị Công, sinh năm 1955. Trước 1975, Ngân Hà đã nổi tiếng và đã từng hát ở các sân khấu Phước Chung, Thanh Nga, Trần Hữu Trang. Những năm diễn ở đoàn Huỳnh Long là thời gian chói sáng nhứt trong cuộc đời đi hát của nữ nghệ sĩ Ngân Hà . Là đào thương nổi tiếng trên sân khấu tuồng cổ, Ngân Hà xuất sắc trong các vai Tấm trong Tấm Cám, A Nàng trong « Tình sử A Nàng », Chu Lan trong « Thất trảm sớ », Huyền Trân trong « Huyền Trân Công Chúa », Mỵ Châu trong « Trọng Thủy Mỵ Châu » , Hảo trong « Nợ Tình », vv..

Sau cơn bạo bịnh, nghệ sĩ Ngân Hà trút hơi thở cuối cùng lúc 13 giờ 45 ngày 9 tháng 6, 2003, hưởng thọ 49 tuổi . Lễ đông quan ngày 11 tháng 6, 2003, hỏa táng tại Bình Hưng Hòa .

Ca sĩ Thanh Hùng từ trần (1933-2003) tại Pháp

Ca sĩ Thanh Hùng , tên thật la` Phạm Kim An, sinh tại Cao Miên, mở mắt chào đời nga`y 30 tháng 7, năm 1933, từng là giọng hát rất ăn khách ở Saigon trong thập niên 60 . Từ khi anh sang Pháp sau 1975 cho tới ngày anh nhắm mắt an nghỉ giấc ngàn thu, anh đã tân tâm cộng tác vào các sinh hoạt cộng đồng Việt Nam tại Pháp . Anh có 5 người con . Thanh Hùng và nghệ sĩ Hùng Cường là hai cột chèo, 2 người đều được huy chương vàng về thi ca hát tại Việt Nam . Thanh Hùng theo Hoàng Thi Thơ lúc ở Việt Nam để đi trình diễn nhiều nơi ở Việt Nam và ngoại quốc . Về cuối đời , Thanh Hùng quay về thiền theo pháp Vô Vi tại gia và đi hát cho Vô Vi ở Thonon Les Bains vào năm 2001 với những bài hát Tâm linh . Thanh Hùng hát trong CD của Thiền với bài Vòng Tay Từ Mẫu . Anh dự định thực hiện một CD để ghi lại kỷ niệm giọng hát của anh nhưng anh lại ra đi trước khi thực hiện giấc mơ đó .

Ngày thứ năm 9 tháng 10, 2003 vào lúc 14 giờ 20 anh trút hơi thở cuối cùng , hưởng thọ 70 tuổi . Lễ hỏa thiêu được cử hành ngày 15 tháng 10, 2003 lúc 9giờ 30 tại nghĩa trang Saint Ouen l’Aumône với sự hiện diện của ban biên tập Ngày Mới Paris, nữ nghệ sĩ Bích Thuận, nhạc sĩ Xuân Lôi và một số đông văn nghệ sĩ tại Paris . Ngày 7 tháng 12, 2003, từ 14 giờ tới 18 giờ tại hội trường Université Populaire , rue Edouard Beaulieu, 93110 Rosny sous Bois, có tổ chức buổi tưởng niệm ca sĩ Thanh Hùng do báo Ngày Mới tổ chức .

 

Nhạc sĩ Trần Hoàn (1928 – 2003) từ trần

Nhạc sĩ Trần Hoàn , tên thật là Nguyễn Tăng Hích, còn có bút danh là Hồ Thuận An, sinh năm 1928, ở Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Nguyên bộ trưởng văn hóa thông tin, và trước khi từ trần giữ chức Phó ban văn hóa tư tưởng trung ương , ông còn là chủ tịch hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam sau khi Nguyễn Đình Thi từ trần . Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, nhạcsĩ Trần Hoàn đã sáng tác nhạc phẩm nổi tiếng nhất “Sơn Nữ Ca”, “Lời người ra đi “, “Con trâu kháng chiến “, “Bà Ba “. Sau hiệp định Genève 1954, ông giữ chức giám đốc sỡ Văn hóa Hải Phòng . Trong thời gian này ông có sáng tác một số nhạc phẩm, tiêu biểu là “Xin mới Anh Chị về thăm Hải Phòng “, “Bài Ca Bạch Long Vĩ ” . Trong thời gian chống Mỹ, ông vào chiến trường Trị Thiên . Với bút hiệu Hồ Thuận An, ông sáng tác “Tiếng hát trên Gio Cam giải phóng”, “Lời ru trên nương ” (phỏng thơ Nguyễn Khoa Điềm) . Sau năm 1975, ông về làm Trưởng ban tuyên huấn tỉnh Bình Trị Thiên, rồi ra làm Trưởng ban tuyên huấn thành ủy Hà nội. Sau đó làm bộ trưởng bộ văn hóa thông tin . Nhừng nhạc phẩm kế tiếp là “Một mùa xuân nho nhỏ ” (phỏng thơ Thanh Hải), “Chào mùa xuân “, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm “, “Khúc hát người Hà nội “, “Lời ru trên nương”, vv..

Ông vĩnh biệt cõi trần vào sáng sớm ngày 23 tháng 11, 2003 .

 

 

NSUT Minh Châu (1949-2003) trút hơi thở cuối cùng tại Saigon

Nghệ sĩ Minh Châu, tên thật là Vũ Minh Châu, sinh năm 1949 tại Nam Định, Nam Hà, tốt nghiệp trường trung cấp cải lương Việt Nam, là một nghệ sĩ miền Bắc nổi tiếng ở miền Nam trong các vai kép độc . Cha anh là Vũ Văn Minh, họa sĩ sân khấu. Mẹ tên Nguyễn thị Sinh , là nghệ sĩ hát bội. Vợ anh là nghệ sĩ cải lương Thanh Xuân. Con trai anh là Vũ Xuân Trang vừa tốt nghiệp diễn viên, đang hành nghề tại sân khấu kịch Phú Nhuận . Từ năm 1976, Minh Châu rời Hanoi vào Nam, hát tại nhà hát Trần Hữu Trang với những vai nổi tiếng như Duy trong vở « Chim Việt cành Nam », Tư Thẹo trong vở « Đêm phán xét « , Phạm Hạp trong vở « Thái Hậu Dương Vân Nga « , Đỗ Dự trong vở « Kiều Nguyệt Nga « , Quĩ Riếp trong vở « Nàng Xêđa « , đại uy Sắc trong vở « Tình Yêu và lời đáp ». Anh đang chuẩn bị thu hình cho đài truyền hình HTV chương trình « Những cánh chim không mỏi « về cuộc đời anh thì cơn bạo bịnh nhồi máu cơ tim đã cướp anh di vào cõi thiên thu vào lúc 9giờ 40 ngày 6 tháng 12, 2003 tại nhà riêng . Tang lễ được cử hành tại trụ sở Ban ái hữu nghệ sĩ , số 133 Cô Bắc, Q.1, TP HCM và đông quan tổ chức lúc 9 giờ ngày 9 tháng 12, 2003 và hỏa táng tại nghĩa trang B ình Hưng Hòa .

 

 

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà (1946-2003) từ trần tại Saigon , Việt Nam

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà , sinh năm 1946, lớn lên ở Saigon . Năm 1965 Lê Hựu Hà thành lập ban nhạc Hải Aâu và tham gia chương trình Đại nhạc hội nhạc trẻ tại thính đường trường Taberd Saigon cùng năm .

Lập ban nhạc Hải Aâu, có Thanh Lan và Elvis Phưong (ban Phượng Hoàng năm 1970)

Nhạc trẻ ở VN đầu tiên . Bắt đầu từ đó Hà khởi sự sáng tác loại nhạc trẻ . Anh sáng tác nhạc phẩm “Hương” (tên của người yêu đầu tiên là Võ thị Mai Hương , sau này trở thành vợ , có hai con tên Lê Hự Huy (34 tuổi) và Lê thị Mai Huyền (32 tuổi) rồi ly dị vài năm sau đõ . Vợ đầu tiên và hai con hiện sống ở San Jose, California, Hoa kỳ ) . Sau đó, Hà tái lập gia đình lần thứ nhì cũng có hai con và cũng ly dị. Người vợ thứ ba là một nữ ca sĩ nổi tiếng tên là Nhà Phương (em gái của nữ ca sĩ Bảo Yến) . Cả hai cũng không sống chung lâu với nhau . Hai đứa con được chào đời , và Nhã Phương trên đường ly dị , dự định sang sống ở Hoa Kỳ .

Những nhạc phẩm “Tôi muốn”, “Tôi yêu” đã được Elvis Phương trình bày và đi vào lòng giới trẻ từ đầu thập niên 70.

Lê Hựu Hà qua đời vào ngày 09 tháng 05 năm 2003, đến ngày 11 tháng 05 mới được phát giác trong phòng riêng tại căn nhà số 89 đường Hồ Hảo Hớn tức đường Huỳnh Quang Tiên cũ ở quận 1 Sài Gòn; Lê Hựu Hà tuy đã nằm sâu trong lòng đất, gần chân núi Bửu Long ở Đồng Nai là quê nội của anh vào ngày 12 tháng 05 năm 2003, nhưng cái chết của anh hiện nay vẫn còn bao trùm nhiều nghi vấn, ngoài kết quả được cơ quan thẩm quyền thông báo chính thức là anh qua đời vì tai biến mạch máu não, do tình trạng cao áp huyết từ vài năm trước; Theo nguồn tin từ gia đình Lê Hựu Hà cho biết, người con trai cả của anh với người vợ đầu tiên đã lo thủ tục bảo lãnh anh sang Hoa Kỳ từ tháng 09 năm 2002, cũng như chính Lê Hựu Hà cũng có ý định sang du lịch tại Mỹ vào tháng 6 năm 2003 để gặp lại các con là Lê Hựu Huy và Lê Thị Mai Huyền. Nhưng rất tiếc anh đã ra đi quá đột ngột.

 

 

Nhạc sĩ Anh Tú (1950-2003) sớm từ giã cõi trần

 

Anh Tú đã ra đi sáng thứ tư 03 tháng 12, 2003 tại phòng số 2, lầu 5, bịnh viện UCI , Nam California. Anh Tú tên thật là Lã Anh Tú, sinh tại Đà Lạt vào năm1950, trong một gia đình nghệ sĩ . Cha la` nhạc sĩ đàn nhị Lữ Liên , nổi tiếng với ban AVT trước 75 . Ngưới chị cả là Bĩch Chiêu nổi tiếng cùng thời với Bạch Yến, Thanh Thúy. Kế đó là ca sĩ Tuấn Ngọc, rồi tới em gái là Khánh Hà ,Thúy Anh , Lan Anh , Lưu Bích . Hầu hết đều là ca sĩ có tiếng tăm qua ban nhạc UPTIGHT trong thập niên 70 ở Saigon . Anh Tú nổi tiếng đầu tiên vào năm 1969 với bài “What now my love ” (từ bài ca Et Maintenant của Gilbert Bécaud). Ngoài những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, Anh Tú diễn tả những nhạc phẩm tình cảm Việt Nam rất vững vàng và truyền cảm. Anh Tú được rất nhiều khán giả khen ngợi qua những nhạc phẩm như liên khúc ” Cát Bụi-Tình Xa” ,” Anh Đã Quên Mùa Thu”. hay những khúc tình ca êm dịu như nhạc phẩm ” Bài Không Tên Số 6″ của Vũ Thành An, “Linh Hồn Tượng Đá” của Lê Minh Bằng,vv…cũng như những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt.

Anh Tú là linh hồn của ban nhạc UPTIGHT kể từ ngày thành lập vào năm 1972 Uptight cũng như trước đó với ban The Blue Jets hoặc nhóm Thúy-Hà-Tú. Trước khi từ giã cõi đời, Anh Tú là một ca sĩ thường trực của vũ trường Majestic ở Orange County và đang cùng với anh em trong gia đình sửa soạn cho sự tái kết hợp của ban nhạc The Uptight do nhóm Hollywood Entertainment & Productions thực hiện vào tối 27 tháng 12 năm 2003 trong buổi “Dạ Hội Mừng Năm Mới 2004 Với The Uptight” tại Anaheim Convention Center đang gây rất nhiều sôi nổi nơi những người yêu nhạc. Nhất là nơi những người ái mộ The Uptight, ban nhạc đã từ rất lâu chưa xuất hiện chung trên sân khấu. Cũng theo nhóm Hollywood Entertainment & Productions Inc., nội dung của chương trình sẽ nhắm vào chủ đề tưởng nhớ Anh Tú, cùng một lúc đánh dấu sự tái kết hợp một trong những ban nhạc trẻ có quá trình hoạt động lâu dài nhất, mới mất đi một thành viên quan trọng.

Thi hài Anh Tú được quàn tại nhà quàn Peek Family ở Westminster, Orange County. Và nghi thức hoả thiêu đãõ được diễn ra vào ngày thứ Năm 11 tháng 12 năm 2003.

 

Âm nhạc Việt Nam vẫn tiếp tục reo vang trên đất nước cũng như ở những nơi có người Việt cư ngụ .Người Việt trong những ngày đón xuân sẽ có chút thì giờ thưởng thức nhạc qua các đại nhạc hội, hay nghe một vài CD, xem một vài DVD , hoặc giả đọc một vài bài báo bên cạnh chung trà, bánh mứt . Thân chúc các độc giả hưởng những giây phút êm đềm trong những ngày đầu Xuân Giáp Thân khi đọc những dòng chữ của bài viết về sinh hoạt âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại .

 

Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

http://honque.com/HQ029/bKhao_tqHai029.htm

NGUYỄN HIỀN : Nhạc sĩ Trần Quang Hải trong Nhạc hội Quốc tế Đàn Môi 2006, AMSTERDAM , HÒA LAN


Nguyễn Hiền


 

Nhạc sĩ Trần Quang Hải trong Nhạc hội Quốc tế Đàn Môi 2006

 

Trong kỳ Nhạc hội Quốc tế Đàn Môi lần thứ 5, tổ chức tại Nhạc viện ‘Aan het IJ’ ở Amsterdam (từ ngày 28 đến ngày 30/07/2006), Trần Quang Hải, giáo sư âm nhạc dân tộc và chuyên gia nghiên cứu đàn môi, đã cống hiến đến khán thính giả những màn biểu diễn đàn môi độc đáo trong một chương trình dành riêng cho ông vào tối thứ sáu 28/07.

Đàn môi là một nhạc khí dân gian của nhiều dân tộc trên thế giới, có bề dài khoảng 7cm, bằng kim khí hay bằng tre. Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ của các dân tộc thiểu số H’Mong, Gia Rai… Ở Lai Châu, mỗi năm vào cuối tháng 8, đầu tháng 9 có một kỳ lễ hội đàn môi rất lớn.

Theo giáo sư Trần Quang Hải, đàn môi Việt Nam được đông đảo người dân trên thế giới cho là loại đàn môi cho tiếng đúng nhất. Trong phần trình tấu đàn môi, giáo sư đã cho nghe một số tiết điệu của một số đàn môi, và đặc biệt giáo sư đã dùng đàn môi để phát âm một số câu nói đơn giản bằng Anh ngữ.

Giáo sư cũng giới thiệu hai người học trò, một Pháp (Sylvain Trias), một Việt (Nguyễn Đức Minh). Mỗi người có một nét trình tấu riêng. Tiếng đàn của Sylvain mang vẻ huyền bí với những đoạn nhạc rất nhẹ, như gió thoảng. Đức Minh, người Việt Nam duy nhất trình diễn đàn môi trong chương trình nhạc hội lần này (gs. Trần Quang Hải là ‘người Pháp’), là người được giáo sư Trần Quang Hải hết sức đề cao về sự cảm nhận âm thanh đàn môi và sự nhanh chóng nắm bắt những kỹ thuật khó. Đức Minh còn có những đột phá của riêng anh, trong sự trình diễn cũng như trong phong cách biểu diễn. Cuối phần trình tấu, ba thầy trò đã ngồi xuống sàn sân khấu để cùng nhau hợp xướng một khúc đàn môi trong sự trầm trồ của gần 200 thính giả.

Ngoài những màn biểu diễn đàn môi, Trần Quang Hải còn trình diễn những màn đánh muỗng thần kỳ của ông. Trong dáng điệu khoan thai, với hai bàn tay rất mềm như múa theo đôi muỗng, ông đã trình bày những tiết điệu đánh muỗng từ khoan tới nhặt, đánh từ hai ngón tay, tăng lần sự phức tạp của tiết điệu lên đến 5 ngón, cuối cùng sử dụng luôn cánh tay và cùi chỏ để rồi bất chợt lại rơi về tiết điệu nhẹ nhàng của khúc dạo đầu. Đây không phải là lần đầu tiên giáo sư Trần Quang Hải biểu diễn nghệ thuật đánh muỗng tại Hòa Lan. Đã mấy lần người Việt ở Hòa Lan có dịp được thưởng thức những buổi trình diễn đàn môi và gõ muỗng được đặc biệt tổ chức cho giáo sư và phu nhân là ca sĩ Bạch Yến trình diễn cho cộng đồng người Việt. Nếu ai đã có dịp tham dự những buổi trình tấu này thì sẽ thấy sự điêu luyên của giáo sư đã lên cao vượt bực trong phần trình diễn nghệ thuật đánh muỗng trong chương trình dành cho giáo sư kỳ này, cặp muỗng như có thần, và dường như bất kỳ chỗ nào cũng có thể phát ra âm thanh, đúng là một ‘ông vua gõ muỗng’ như lời bình của nhiều người, và cũng là danh hiệu giáo sư đạt được (King of Spoons) trong một cuộc thi tại Cambridge (Anh quốc) năm 1967 với sự tham dự của 30 nhạc sĩ đến từ 20 quốc gia.

Sau phần đánh muỗng, giáo sư Trần Quang Hải cũng cho thính giả thưởng thức kỹ thuật hát đồng song thanh (overtone) đặc biệt của ông. Theo lời Trần Quang Hải, hát đồng song thanh gồm một nốt chủ không đổi cao độ, ông hát ở vào tần số khoảng 160 Hz, cùng lúc đó thời ông sẽ tạo ra một âm phụ (bồi âm) ở phía trên nốt chủ này. Ông đã trình bày cho thính giả nghe hai phần riêng biệt và sau đó hát chồng lên nhau theo kỹ thuật hát đồng song thanh. Một màn trình diễn độc đáo là ông đã ‘hát’ một bài nhạc cổ điển của Mozart với kỹ thuật này, trong âm thanh trầm bổng người ta vẫn nghe rõ ràng nốt chủ kéo dài một hơi đi theo, đem lại nhiều ngạc nhiên cho người tham dự.

Trong ngày thứ bảy 29/07 giáo sư Trần Quang Hải cũng có một chương trình ngắn chỉ dẫn kỹ thuật đàn môi cho một số người muốn biết sâu thêm về loại nhạc khí này.

 

Nguyễn Hiền

http://www.caidinh.com/trangluu/sinhhoat/hoalan/nhacsitranquanghai.htm

TR.N. : GS.TS Trần Văn Khê: “Tôi thú vị với cầu nối chúc tết yêu thương”


GS.TS Trần Văn Khê:  “Tôi thú vị với cầu nối chúc tết yêu thương”

26/01/2014 13:16 (GMT + 7)
 
 
TT – GS.TS Trần Văn Khê cho rằng trong những dịp tết cổ truyền, lời chúc tết bao giờ cũng rất quý báu cho thấy văn hóa dân tộc VN rất coi trọng nguồn cội và lòng biết ơn.

 

GS.TS Trần Văn Khê – Ảnh: TR.N.

 

Theo GS.TS Trần Văn Khê, có nhiều hình thức chúc nhau như: con cháu chúc ông bà trường thọ, cảm ơn cha mẹ sinh thành, cảm ơn thầy cô dạy dỗ, thầy thuốc trị bệnh.

Câu chúc tết thường là chúc ông bà sống lâu trăm tuổi, chúc phước – lộc – thọ, chúc cuộc sống an nhiên hạnh phúc, chúc sức khỏe dồi dào, thân tâm an lạc, thành công trong mọi việc.

Nhân dịp Tết Giáp Ngọ, GS.TS Trần Văn Khê xin chúc bạn đọc báo Tuổi Trẻ luôn luôn có lý tưởng đóng góp xây dựng xã hội, cùng làm nên một quê hương VN cường thịnh.

TR.N. ghi

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/592080/gs-ts-tran-van-khe-%C2%A0-toi-thu-vi-voi-cau-noi-chuc-tet-yeu-thuong.html

WIKIPEDIA : Nguyễn Vĩnh Bảo


Nguyễn Vĩnh Bảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Image
 
 

Nguyễn Vĩnh Bảo (sinh 1918) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnhtỉnh Sa Đéc trong một gia đình nho học rất yêu thích đờn ca tài tử. Ông là giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống vừa là nhạc sĩ trình tấu, lại kiêm cả nghệ nhân đóng đàn.[1] Ông cũng là người cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.[2]

Sự nghiệp

Từ lúc 5 tuổi ông đã biết chơi đờn kìmđờn cò, 10 tuổi biết chơi rất nhiều các loại nhạc cụ dân tộc.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy môn đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra ông cũng đã đi diễn thuyết giới thiệu và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới.

Năm 1972 ông cùng giáo sư Trần Văn Khê diễn tấu ghi âm đĩa Nhạc tài tử Nam bộ cho hãng Ocara và UNESCO tại Paris (Pháp) năm 1972.

Từ năm 1970-1972 ông là giáo sư đặc biệt thỉnh giảng về đàn tranh tại Đại học Illinois (Mỹ).

Năm 2005 nhạc sư Vĩnh Bảo và giáo sư Trần Văn Khê được phát giải thưởng Đào Tấn của Việt Nam tại TPHCM.

Đến năm 2008 nhạc sư Vĩnh Bảo cũng được chính phủ Pháp tặng huy chương nghệ thuật và văn học.[3]

Chú thích

THU TỨ : TRẦN VĂN KHÊ NGHĨ VỀ NHẠC


Bài viết của tác giả Thu Tứ (Đoàn Thế Phúc sn 1955) đăng trên web GOCNHIN.NET
 

Bài viết này đưa ra phổ biến trong năm 2012. Mới đây (đầu tháng 1-2014), chúng tôi có nhận được thư trao đổi của GS-TS Trần Văn Khê. Giáo sư cho biết:

“Tôi vừa đọc bài “Trần Văn Khê nghĩ về nhạc” của ông đã viết từ lâu đăng trên trang gocnhin.net, mà môn sinh của tôi vừa tìm thấy gửi cho tôi. Tôi vô cùng cảm động và có cảm giác là đờn Bá Nha đã gặp được lỗ tai Chung Tử Kỳ. Có lẽ chưa ai đọc những thiên hồi ký và các bài tiểu phẩm của tôi đã đăng mà rút ra được tất cả những gì tôi muốn gởi gấm cho thế hệ mai sau như một thông điệp. Cái hạnh phúc lớn nhất của một tác giả là được độc giả hiểu mình có thể ngang qua những dòng chữ, kể cả những điều mình chưa nói rõ ra bằng văn bản”.

Giáo sư cũng có nêu lên hai khuyết điểm trong bài viết, đều nằm trong lời tổng quan của bài. Một, là đôi chỗ nói về thái độ của Giáo sư đối với tân nhạc. Hai, là mấy chữ “lòng tự tôn dân tộc” khi kể lại lời GS khuyên nhạc viện quốc nội treo chân dung nhạc sĩ Việt Nam.

Về vấn đề thứ nhất, sau khi được Giáo sư cho biết tường tận về các hoạt động liên hệ đến âm nhạc của ông, chúng tôi thấy rằng nhận xét của mình quả thực không chính xác. Về vấn đề thứ hai, chúng tôi nhận ra ngay mình đã sơ ý: phải viết là “lòng tự hào dân tộc” thì mới đúng.

Chúng tôi xin trân trọng cám ơn Giáo sư Trần Văn Khê đã vui lòng chỉ cho hai khuyết điểm trên.

Sau đây là bài viết với lời tổng quan được sửa lại.

(Thu Tứ)

 

Trần Văn Khê nghĩ về nhạc

 

ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẠC VIỆT XƯA
– Êm ái và dịu dàng
– Phải đẻ, trái nuôi
– Mềm hơn nhạc Tàu
– Vừa biểu diễn vừa sáng tạo
– Nhịp hai, nhịp hai…
VIỆT GẶP TÂY: ĐIỀU CẦN NÓI
– Phát triển, tiến bộ
– Kỹ thuật và văn hóa
– Đâu phải mau là hay
VIỆT GẶP TÂY: CHUYỆN ĐAU LÒNG
– Tự ti thê thảm
– Say sưa hào nhoáng
– Mua nghe như điên
– Bỏ truyền thống!
– Quỳ lạy khách!
CẢM NGHĨ MIÊN MAN
– Tiếp xúc với nhạc
– Bản nhạc hóa món hàng
– Mất đất, mất luôn nhạc
– Mặc áo gi-lê đánh đàn bầu
– Cho lòng khỏi phiêu dạt

Nhắc Trần Văn Khê, nhớ ngay cái câu “Thân tuy tại ngoại, hồn tại quê hương”. 

Ai xa quê hương chẳng nhớ, nhưng chắc ít ai đêm ngày lo lắng có ngày mình thôi nhớ! Trần Văn Khê, để tự đảm bảo chính ông sẽ suốt đời “thở hơi thở chung của dân tộc”, đã chẳng hạn, cố ý thường xuyên ăn uống giống hệt như hồi còn ở trong nước. Người khác ăn cá kho tộ chỉ vì thèm, Trần Văn Khê ăn cũng vì thèm nhưng lại thêm vì muốn cái lưỡi của mình nó không bao giờ trở nên thờ ơ với cá kho tộ (mà đi quấn quýt với pa-tê, xúc-xích). Ăn món quê để khỏi quên quê, cái ý đơn giản mà cảm động.

Không phải chỉ những “thân tại ngoại” mới cần chăm bón tinh thần yêu nước. Trần Văn Khê từng ngỏ lời khuyên các nhạc viện quốc nội nên treo chân dung nhạc sĩ Việt Nam xuất sắc để trẻ đến học dễ nẩy nở lòng tự hào dân tộc. Thêm một ý đơn giản mà cảm động.

Hết sức thiết tha với nước, tất nhiên Trần Văn Khê cực kỳ sốt ruột trước tình trạng dân nhạc đang nhanh chóng biến mất khỏi đời sống thường ngày của người Việt Nam. Nhằm phục hưng dân nhạc, ông từng sôi nổi hô hào dạy người lớn hát ru, dạy trẻ em học nhạc ngũ cung, dạy nông dân hò đối đáp v.v. 

Nhiệt tình của ông thực đáng trân trọng, nhưng thiết tưởng mọi cố gắng thay đổi tình hình đều hoàn toàn vô ích! Nhạc truyền thống trong môi trường truyền thống như cá trong nước, vẫy vùng không cần ai dạy bơi nhắc lội, nhưng hễ môi trường “cạn” thì nó phải “ngáp”. Cả nước đang chạy như bay vào thời hiện đại, toàn thể cái Quê mấy ngàn năm tuổi đang ào ào hóa Phố, còn “nước” đâu nữa mà Trần Văn Khê bảo “cá” quan họ, “cá” chèo, “cá” ru, “cá” hò, “cá” lý v.v. tiếp tục thung thăng!(1) 

Nhắc thời hiện đại, nhớ tân nhạc. Vào buổi đầu của nhạc Việt Nam mới, cũng chính Trần Văn Khê đã rất hăng hái cổ động cho nó. Khi nhận lời chỉ huy dàn nhạc trường Đại học Hà Nội, ông đã “đặt điều kiện” với ban tổ chức rằng cứ mỗi lần ông “tập cho dàn nhạc đàn một bản phương Tây thì dàn nhạc phải biểu diễn cho tôi một sáng tác mới của Lưu Hữu Phước”! Trần Văn Khê còn tham gia sáng tác với bài “Đi chơi chùa Hương” (1946) và khi sang Pháp năm 1949 đã hát ghi dĩa trên 30 bản tân nhạc (của Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Lê Thương v.v.) dưới bí danh Hải Minh. Thực ra từ năm 1953 Trần Văn Khê mới bắt đầu chuyển trọng tâm qua cổ nhạc, sau khi “ngộ thấy rõ hai ngôn ngữ âm nhạc Tây và Đông khác nhau trong căn bản” và thấy phải có người đứng ra hết sức công phu tìm hiểu để biểu dương đích đáng âm nhạc truyền thống Việt Nam. Nhưng vừa làm việc ấy, ông vừa tiếp tục quan tâm theo dõi hành trình của tân nhạc.

Chắc chắn ông đã vui lòng. Vì tân nhạc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn hóa dân tộc. Nghe nhạc Tây, học lối ký âm và học dùng nhạc cụ Tây, rồi chẳng bao lâu ta dựng lên cả một nền thanh nhạc mới độc đáo, đa dạng, phong phú, với rất nhiều nhạc phẩm hay đến mức diệu kỳ! Tân nhạc đáp ứng hoàn toàn tốt đẹp nhu cầu của mọi người Việt Nam xuyên suốt một thời kỳ lịch sử tuy tương đối ngắn mà đầy xáo trộn thật lớn. Có thể nói tâm tình dân tộc thay đổi đến đâu, tân nhạc đã sáng tạo tài tình theo đến đấy! Từ lãng mạn tiền chiến chuyển qua cách mạng, kháng chiến, rồi nơi thì tiếp tục cách mạng, kháng chiến, nơi thì ra đời “mùi” và tình tự dân tộc và phản chiến và “trừu tượng” (chữ Phạm Duy về nhạc Trịnh)… Đủ thứ nội dung, mà từng bài lắm bài chẳng nhạc ở đâu hơn được, mà như đặt tất cả lại với nhau thì nếu đặt vấn đề liệu nền thanh nhạc mới của nước ta có phải là nhất thế giới hay không, thiết tưởng không phải là làm chuyện ngông cuồng!(2)

Trong văn hóa, không có chuyện tay trắng nên triệu phú. Sở dĩ tân nhạc Việt Nam đặc biệt ưu tú, ấy chắc chắn là do cổ nhạc Việt Nam vượt trội. Tuy chỉ trong một số ít trường hợp, mà sáng tác của Phạm Duy là ví dụ nổi bật, ảnh hưởng của nhạc Việt xưa mới thấy được rõ ràng, nhưng nhất định chính nhờ đứng trên cái nền cũ rất cao mà các nhạc sĩ Việt hiện đại mới siêu thành đạt. Thái Bá Vân từng nói: “… cái linh ứng nghệ thuật tài hoa của thế hệ trẻ chính cũng là từ truyền thống sâu xa (…) của nghệ thuật dân tộc”.(3) Lời ấy không chỉ đúng riêng cho hội họa, mà đúng cho tất cả các ngành nghệ thuật, trong đó có âm nhạc. Cứ hễ sáng tạo bằng tâm hồn, là người Việt ta sáng như gương!

Dĩ nhiên Trần Văn Khê vui về “tân” là một chuyện, còn ông buồn về “cổ” thì vẫn cứ là một chuyện…

Trần Văn Khê là một đứa con ưu tú và chung tình của Mẹ. Ngoài những chuyên khảo, cái biết sâu sắc của ông về âm nhạc nói chung, về âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng, còn được trình bày trong một tập ký nhan đề Tiểu phẩm và trong một bộ hồi ký dài năm tập. Ngoài đề tài chính, ký và ký chứa cả những nhận thức, nhận định về văn hóa, văn minh v.v. Sau đây là một tuyển trích đoạn có giá trị tiêu biểu cho tâm tư và trí tuệ của tác giả.

ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẠC VIỆT XƯA

Êm ái và dịu dàng

Lời ca tiếng nhạc cổ truyền êm ái và dịu dàng 

(Hồi ký Trần Văn Khê, nxb. Trẻ, VN, 2001, q. 3, tr. 110)

“Lời ca tiếng nhạc” là cái bóng của văn hóa trên tấm gương âm thanh.

Hình phải thế nào thì bóng mới “êm ái và dịu dàng” thế chứ.

Vẫn cái gương ấy, ở phương Tây bây giờ trông vào thấy… bắt rùng mình. Không nhìn gương nữa, quay nhìn cái để bóng trên gương, eo ôi!

Phải đẻ, trái nuôi

“Zheng” của Trung Quốc (…) đàn tranh của Việt Nam (…) đàn koto của Nhật Bổn cùng một loại nhạc khí (…) Đàn koto (…) bàn tay mặt có nhiều thủ pháp mà đàn tranh Việt Nam không có. Ngược lại cách nhấn của người Việt rất phong phú và tinh vi (…) Theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sinh ra âm thanh, bàn tay trái nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh. Sanh ra mà không nuôi dưỡng, thì không sanh làm gì (…) Tay mặt sanh ra cái xác, tay trái tạo ra cái hồn (Tiểu phẩm, nxb. Trẻ, VN, 1997, tr. 172-174)

Đờn tranh (…) Cách nhấn thì rất phong phú và tinh vi, có nhấn-vuốt, nhấn-rung, nhấn-mổ, nhấn mượn hơi. Mổ thì mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây, phối hợp tất cả để âm thanh trở nên sinh động hơn (…) Vừa nhấn vừa mổ, trong kỹ thuật đờn gu zheng (cổ tranh) không có (HKTVK, q. 2, tr. 140, q. 4, tr. 133)

Người Việt Nam khi đờn phải nhấn nhá, hát thì phải luyến láy (…) Bàn tay mặt đánh ra thanh có độ cao, độ dài, có tiếng to tiếng nhỏ, có cả màu âm, mà chưa có chất nhạc. Chỉ khi bàn tay trái nhấn vào biến thanh thành âm mới có chất nhạc: bàn tay mặt sanh ra xác còn tay trái tạo ra hồn (…) Nhấn nhá (…) có (…) rung lơi, rung nhặt (HKTVK, q. 5, tr. 78-79, 326)

Dĩ nhiên không phải đợi có đàn tranh (gốc Tàu) thì người Việt mới “phải đẻ, trái nuôi” khi đàn.

Nhạc cụ vừa lâu đời vừa độc đáo của dân tộc Việt Nam là đàn bầu. Cái âm thanh của nó quyến rũ tới nỗi cha mẹ phải dặn con: “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”! Sở dĩ tiếng đàn bầu đặc biệt “nguy hiểm”, ấy chính nhờ mấy ngón tay trái của người đàn: khi rung, khi vỗ, khi vuốt, khi luyến v.v. (4)

Trên bìa sau của bộ Hồi ký, Trần Văn Khê cho in hai câu thơ của Văn Tiến Lê ca ngợi đàn bầu:

“Một dây nũng nịu đủ lời
Nửa bầu chứa cả một trời âm giai.”

Vì trước đã quen “nuôi” bầu, nên sau gặp tranh mới nảy ý “nuôi” tranh mà Việt hóa được tranh!

Mềm hơn nhạc Tàu

DANH CẦM TRUNG QUỐC HỌC NHẠC VIỆT NAM (…) năm 2000 (…) môn sinh mới (…) danh cầm đờn tỳ bà tên Liu Fang (…) Lưu Phương (…) Tôi cho biết hai nền âm nhạc khác nhau ở điểm nhạc Trung Quốc chú ý nhiều đến kỹ thuật điêu luyện còn Việt Nam đặt trọng tâm về mặt nghệ thuật và tình cảm. Bài bản của Trung Quốc thường cố định trong khi bài bản Việt Nam biểu diễn theo cách học “chân phương” mà đờn “hoa lá” tức là có thêm thắt thay đổi (HKTVK, q. 5, tr. 321-323) 

Nghe kỹ thuật, nghĩ ngay đến máy móc. Nghe nghệ thuật, nghĩ đến tự nhiên. 

Máy móc thì cứng đơ, bất biến. Tự nhiên thì uyển chuyển, do đó biến hóa liên tục.

Không phải máy thì không thể đẹp, nhạc nhấn mạnh kỹ thuật thì không thể hay. Ai thích vẻ đẹp của máy, vẻ hay của nhạc điêu luyện thì cứ việc thích, chỉ xin đừng tưởng rằng cái đẹp ấy cái hay ấy là cao hơn cái đẹp của tự nhiên cái hay của nhạc mỗi lần biểu diễn một khác, mà BÉ CÁI NHẦM.

Đây Trần Văn Khê so nhạc Việt với nhạc Tàu. Nếu đem so Việt với Tây thì chỗ khác nhau còn dễ thấy hơn, vì nhạc Tây lại càng nhấn mạnh kỹ thuật.

Vừa biểu diễn vừa sáng tạo!

(Nhạc) ghi thành bản rồi nó sẽ (…) xơ cứng. Trong khi đó những điệu thức (…) thể hiện mỗi lần mỗi khác nhau (…) thiên hình vạn trạng (…) biến hóa vô tận (…) ngày hôm nay đờn nghe khác hẳn với ngày hôm qua. Do đó không thể lấy số lượng bài bản đưa ra so sánh với số lượng điệu thức (…) Liu Fang (…) nói (…) chưa bao giờ thấy thích thú như mấy hôm nay (…) nhạc Việt Nam (…) cho phép nhạc sĩ sáng tạo trong khi biểu diễn (HKTVK, q. 3, tr. 76, q. 5, tr. 324)

Người khác đàn một bài, người Việt Nam đàn một “điệu thức”.

Nghĩ đến nhân tạo và tự nhiên. Một trăm nghìn xe hơi xuất xưởng, xe nào cũng y hệt như xe nào. Một trăm nghìn khóm hồng nở hoa, chẳng khóm nào giống hệt khóm nào. Khi ta đàn, ấy là một điệu thức đang… nở thêm một lần nữa, không giống hệt bất cứ lần nở trước nào, trong vô số lần đã nở.

Lại nghĩ đến cứng và mềm. Bài cứng, điệu mềm… Dĩ nhiên, vì Hoa cứng, Việt mềm.(5) 

(Và Tây thì còn cứng hơn cả Hoa!)

Nhịp hai, nhịp hai…

Những bạn Á Rập (…) nhấn mạnh (…) tiết tấu âm nhạc của họ căn cứ trên bước đi của con lạc đà (…) Tiết tấu của dân tộc mình ở đâu mà ra, tại sao lại có nhịp hai mà lại không có nhịp ba (…) Theo tôi tiết tấu trong âm nhạc Việt Nam căn cứ vào con người và môi trường sống: con người sanh ra có trái tim đập, con mắt chớp, hơi thở ra vào, bước đi, tất cả đều là tiết tấu và là nhịp đôi. Trong môi trường sống, chiếc võng người mẹ nằm ru con, đưa qua đưa lại kẽo cà kẽo kẹt, cây tre đầu làng ngả nghiêng theo gió, thủy triều nước lớn nước ròng, tất cả đều là tiết tấu nhịp hai. (HKTVK, q. 3, tr. 286-287)

Nhịp hai với nhịp ba, tức nhịp chẵn với nhịp lẻ.

Không chỉ khi làm nhạc, mà cả khi làm thơ, người Việt vốn cũng thiên về nhịp chẵn. Thơ bốn chữ, thơ lục bát và cả thơ mới đều theo nhịp chẵn.

Tại sao ta thiên về chẵn?

TVK bảo ấy là căn cứ vào nhịp tim đập, nhịp mắt chớp, nhịp hít thở, nhịp võng đưa, nhịp tre ngả nghiêng, nhịp nước lớn ròng v.v. 

Nhưng nhân loại nơi nơi đều có tim, có mắt, có phổi, thủy triều nơi nơi đều lên xuống! 

Ngẫm, rồi nghĩ đến nếp sống. 

Dân tộc Việt Nam sống định canh đã từ lâu lắm. Ở nguyên một chỗ đời nọ qua đời kia, đời nào cũng cày cấy, gặt hái, cày cấy, gặt hái…, ta sống “chẵn” chứ còn gì nữa! Trong khi những dân tộc du mục thì nay đây mai đó, vừa chăn nuôi vừa buôn bán vừa thỉnh thoảng cướp bóc (!), họ sống “lẻ” rõ ràng!

Thiết tưởng nhịp nhạc xuất phát từ nhịp sống.

VIỆT GẶP TÂY: ĐIỀU CẦN NÓI

Phát triển, tiến bộ

Không ít người lầm tưởng rằng phát triển, tiến bộ luôn đi đôi với Âu hóa (6)

Tây phương tự xem mình “phát triển”, “tiến bộ”. 

Ấy, Tây chỉ developed với advanced về văn hóa vật chất mà thôi. Và thực ra chỉ hơn Đông về vật chất tương đối gần đây thôi. Mới hồi thế kỷ 15, Tây Trung cổ qua Tàu còn phải lác mắt vì điều kiện vật chất ở Tàu lúc bấy giờ hơn ở Tây xa lắm.

Từ nguyên thủy đến mức nào đấy, hễ văn hóa vật chất lên thì văn hóa tinh thần cũng lên. Nhưng trên mức ấy, thì không nhất thiết xảy ra đồng hành nữa.

Văn hóa vật chất Tây phương đã tiến bộ “vượt mức”. Từ khá lâu, ở Tây phương vật chất lên tinh thần xuống. 

Bây giờ Đông đang Tây hóa, tức đang nâng mình lên về vật chất, hạ mình xuống về tinh thần.

Hóa thành bất cứ ai khác đã buồn, nói chi thành kẻ thấp hơn mình!

Buồn thì buồn, không hóa Tây thì chết với Tây!

Kỹ thuật và văn hóa

Từ đó đi đến chỗ tin rằng, nếu kỹ thuật của họ cao, thì văn hóa họ cũng cao, chớ không nhớ rằng chỉ cần hai mươi lăm năm có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư, trong khi phải trải qua cả trăm, cả ngàn năm mới tạo được một nền văn hóa (TP, tr. 46)

Kỹ thuật cao là quả của một loài cây văn hóa. Cây ấy cũng phải mọc lâu lắm mới có quả. Kỹ thuật cao, nghĩa là văn hóa cao.

Nhưng văn hóa cao không nhất thiết nghĩa là kỹ thuật cao. Vì cây văn hóa có loài không ra quả kỹ thuật.

Vì cây nho có quả nho, cây chuối không có… quả nho, mà cho rằng nho “cao” hơn chuối, là ngốc.

Đâu phải mau là hay

Vừa trở về Pháp, tôi phải lên đường sang Liên Xô tham dự Diễn đàn Âm nhạc châu Á (…) tổ chức tại Alma Ata, thủ đô nước (…) Kazakhstan (…) (…) Ðặc biệt nhứt của vùng này là cây đờn dombra truyền thống, có thùng hình bầu dục, cần rất dài, phím không phải bằng tre hay kim loại mà bằng gân con trừu, có thể xê dịch được thành những quãng không cố định, hoặc thấp hơn hoặc cao hơn các quãng thông thường một chút, nhờ vậy màu sắc thang âm hết sức phong phú. Tôi đã được nghe tiếng đờn dombra trong một dĩa hát nên khi qua Kazakhstan tôi háo hức chờ nghe (…) Nhưng khi quan sát cây đờn tôi bất ngờ thấy nó đã bị chỉnh lại, phím gân trước kia xê dịch được (…) nay bị cột chặt lại. Tôi rất thất vọng bởi giờ đây khi đánh lên âm thanh nghe như tiếng đờn mandoline, với thang âm bình quân như đờn piano chứ không còn đầy màu sắc như ngày trước. Trong hội nghị này đoàn Kazakhstan giới thiệu chương trình đại qui mô với dàn nhạc dân tộc gồm hàng trăm cây đờndombra (…)

– Dàn nhạc có cả trăm cây đờn, nếu để như cũ thì mỗi đờn âm thanh mỗi khác sẽ không hòa được với nhau.

– Tại sao phải cần đến cả trăm cây (…) Các anh sửa (…) như vậy có hơn được cái cũ không?

– Có chớ, có điểm hay hơn là đờn hòa với nhau không lạc giọng, lại có cái lợi là khi đờn thiệt mau không bị lạc phím.

– Tuy hòa đờn không bị lạc phím nhưng lại thành đơn điệu. Thang âm của nhạc dân tộc Kazakh rất độc đáo, muốn đờn mau như thang âm bình quân của piano thì không còn bản sắc dân tộc nữa. Ðối với nghệ thuật không nên chú trọng tới chuyện nhanh hay chậm mà quan trọng là có đi vào lòng người hay không. Âm nhạc là tiếng nói. Ðâu phải nói mau là hay. (HKTVK, q. 2, tr. 226-232)

Nhạc diễn cảm xúc. Diễn thế nào là tùy cảm xúc thế nào. Cảm xúc vô số loại. Vậy nhạc cũng phải vô số loại.

Bảo nhạc mau hay hơn nhạc chậm, tức bảo cảm xúc cũng có hơn kém!

Mau không hay hơn chậm, mà đại hợp tấu hàng trăm thứ nhạc cụ cũng không hề hay hơn độc tấu đúng một nhạc cụ: những cảm xúc của người Việt xưa diễn lên bằng một cây đàn bầu hay đàn tranh thì chắc chắn hay hơn bằng một trăm cây đàn bầu hay đàn tranh! 

Ấy thế mà có những người Việt đang hì hục xây thứ dàn nhạc giao hưởng trăm bầu, trăm tranh. Có cả những người vất luôn bầu với tranh đi mà rước cả đống violon về để tấu bài Cò Lả! Rõ chán mớ đời.

VIỆT GẶP TÂY: CHUYỆN ĐAU LÒNG

Tự ti thê thảm

Những hoàn cảnh lịch sử, xã hội, những điều kiện vật chất, kinh tế đã làm cho thanh niên (…) không còn hiểu rõ được truyền thống dân tộc, không hiểu mới sinh ra “tự ti”, vì tự ti, mới sinh ra vọng ngoại (TP, tr. 51)

Những nguyên nhân làm mất đi bản sắc dân tộc (…) Lý do chánh trị, lịch sử: người dân các nước thuộc địa bị các đế quốc thống trị làm cho quên đi bản sắc dân tộc mà chấp nhận bản sắc của “mẫu quốc” (…) Lý do tâm lý (…) dân bị trị tự ti mặc cảm, thấy cái gì của mình cũng thua người ta (…) Lý do kinh tế: những gì dính dáng đến bản sắc dân tộc thường bị (…) trả tiền thù lao rất thấp (…) Lý do xã hội: nếp sống thay đổi (HKTVK, q. 3, tr. 297-298)

Bệnh tự ti mặc cảm (…) phải trị căn chớ không thể trị chứng. Phải đi từ đầu, khuyến khích các bà mẹ hát ru con; dạy những bài đồng dao cho trẻ thơ; khuyến khích người nông dân hát hò trong lúc làm việc ngoài đồng; đưa âm nhạc cổ truyền vào các trường; đài phát thanh, truyền hình, báo chí nên có những chương trình, bài báo về âm nhạc dân tộc (HKTVK, q. 3, tr. 299)

Trần Văn Khê chẩn bệnh chính xác. Bệnh ấy, chúng tôi có lần tóm tắt: “Thua vật chất, mất tinh thần, bỏ tinh thần.”(7)

Ông Trần đưa ra một cách chữa. Chúng tôi thì cho rằng bệnh nan y. Nghệ thuật phải hợp với nếp sống, người Việt bây giờ không sống như cha ông trước kia nữa, làm sao ta phục hồi nghệ thuật cũ được? Các bà mẹ trẻ Việt Nam thế kỷ 21 không chịu hát ru con đâu!

Cái “căn” của bệnh tự ti là tình trạng thua người về vật chất. Hễ hết thua sẽ hết bệnh, không cần chữa. Rắc rối là để bắt kịp Tây về vật chất, ta đang Tây hóa nếp sống của mình. Sống như Tây lâu ngày, ta sẽ cảm nghĩ giống Tây. Tức ngoài bệnh tự ti bắt đầu sớm, sinh mạng văn hóa ta đến lúc nào đó còn bị thêm một đe dọa nữa, – đe dọa tối hậu -, là diễn biến Tây hóa tự nhiên. Nó đã bắt đầu rồi!

Mới đây, tình cờ nghe thanh niên nọ tỉnh bơ phát biểu: “Quan họ làm sao hay bằng nhạc giao hưởng”! 

Một mặt, dĩ nhiên bạn trẻ ngây thơ về nghệ thuật. Quan họ và nhạc giao hưởng thuộc hai mô hình thẩm mỹ hoàn toàn khác nhau, so sánh sao được! Nếu xét quan họ theo tiêu chuẩn của nhạc giao hưởng, quan họ chắc chắn dở. Ngược lại, nếu xét nhạc giao hưởng theo tiêu chuẩn của quan họ, nhạc giao hưởng cũng chắc chắn dở. Không có tiêu chuẩn nghệ thuật có giá trị xuyên mô hình, xuyên văn hóa.(8) 

Mặt khác, ý kiến trên có chỗ đáng chú ý: bạn trẻ là người Việt mà lại đi đánh giá nhạc truyền thống Việt theo tiêu chuẩn của nhạc truyền thống Tây! Hiện nay bao nhiêu phần trăm thanh niên Việt giống bạn?

Con cháu bệnh biến, truyền thống giữ làm sao đây, tổ tiên ơi!

Say sưa hào nhoáng

Tuy được tiếp xúc với nhiều nền âm nhạc (…) khắp hoàn cầu nhưng tôi một lòng yêu quí nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, không bị quyến rũ bởi cái hào nhoáng bên ngoài mà quên cái tế nhị kín đáo bên trong. (HKTVK, q. 3, Lời nói đầu)

“Hào nhoáng” là cái nhà to đùng lộng lẫy, là cái đám người ăn mặc cầu kỳ sang trọng bước vào nhà, là cái ông đeo găng tay trắng cầm que đứng vung vẩy trên bục, là bao nhiêu nhạc công ngồi ôm bao nhiêu nhạc khí… 

Hào nhoáng là cái sân khấu đèn đuốc sáng choang, là một hai ba bốn năm sáu kẻ vận y phục “tự chế” nhảy nhót uốn éo vặn vẹo lắc ngoáy như đang lên đồng (đồng Tây!), là trùng trùng khán giả cũng đang “lên”!

Và thử ngẫm xem, dù quý tộc dù bình dân, dù truyền thống dù hiện đại, bản thân cái thứ âm thanh gọi là nhạc ở phương ấy bao giờ nó cũng “hào nhoáng”!

Nhoáng tai nhoáng mắt, thảo nào rất dễ “nhoáng” cả lòng, mà thấy… ôi hay!

Mua nghe như điên

Trên thị trường (…) tràn ngập đĩa hát, chương trình phát thanh, video, truyền hình, phim điện ảnh do các nước tiên tiến về kỹ thuật tung ra, bán khắp nơi (…) cuộc “tấn công văn hóa” (TP, tr. 49, 55)

Họ bán  mình chịu mua, bổ sấp bổ ngửa chạy đi mua, giành giật nhau mua. Cứ hễ Tây là hay, bất kể Tây truyền thống hào nhoáng trịnh trọng hay Tây hiện đại hào nhoáng bình dân.

Dĩ nhiên nhạc Tây có thể hay chứ, thậm chí có thể có những tác phẩm vượt được tường văn hóa mà vào lòng ta cách chính đáng chứ. Vấn đề ở đây là dù nhạc Tây dở, ta vẫn sẵn sàng rước vào tai.

“Vai mang bị bạc kè kè, nhạc quấy nhạc quá nẫu nghe ầm ầm”!

“Bạc” nó không chịu ở trong “bị” của ai lâu đâu. Tây có thể “bị gậy” đến nơi rồi. Thì ta tranh nhau lại “thờ” văn hóa Tàu, có sao đâu. Và khi đến phiên ta “kè kè bị bạc”, ta sẽ trở lại quý văn hóa ta, có sao đâu.

Ờ, có sao đâu. “Ð. mẹ nhân tình đã biết rồi…” (Thơ Nguyễn Công Trứ)

Bỏ truyền thống!

Bảo vệ truyền thống (…) giữ (…) nét đặc thù (…) Tiếp thu những cái hay của thế giới để làm giàu cho (…) văn hóa của mình (…) (nhưng) không bao giờ để cho truyền thống nước ngoài thay thế truyền thống dân tộc (TP, tr. 184)

Truyền thống nước ngoài mà hay hơn truyền thống dân tộc thì thay cũng được chứ sao!

Hóa Tây mà như hóa tiên, cũng đành. Nhưng Tây không phải tiên. Tây là một chủng tộc với văn hóa khi lên khi xuống, hiện giờ đang xuống như điên do quá say sưa cái truyền thống “Tôi” của mình! 

Quỳ lạy khách!

Tôi (…) không (…) chống lại sự hòa nhập của những tinh hoa văn hóa khác. Tôi chỉ kêu gọi phải thận trọng giữ đúng vị trí một bên là chủ, một bên là khách. Chúng ta hiếu khách, mở cửa đón mọi người vào nhà ở chơi vài bữa rồi về, chớ không phải giữ khách ở lại năm này tháng nọ rồi để người ta lấn chiếm lần lần cả bàn thờ ông bà. Ði đâu tôi cũng nói chuyện đó (…) (HKTVK, q. 3, tr. 339)

Người Việt Nam làm chủ đất nước (…) văn hóa Việt Nam (…) có địa vị văn hóa chủ (…) văn hóa nước ngoài là văn hóa khách. Chúng ta hiếu khách mời khách đến nhà, nhưng phải lưu ý không đưa vào ở trong từ đường hoặc dẹp bàn thờ ông bà để khách ngồi chễm chệ cho thanh niên quỳ lạy. Khách đến chơi rồi ra về chớ không thể ở luôn trong nhà chúng ta. (HKTVK, q. 4, tr. 383)

Nghe Trần Văn Khê nói chuyện con cháu chủ nhà quỳ lạy khách, sực nhớ cái Nhà hát Thành phố ở Sài Gòn. Mỗi lần thấy nó, buồn không để đâu cho hết. Sao kỳ vậy, là kiến trúc xây trên đất của nước Việt Nam độc lập mà sao nó lại giống y như mới được bứng bên Pháp đem về! Dòm la liệt tượng đầm ở trần ôm đờn Tây uốn éo chình ình giữa trán Nhà, bắt rụng rời.

Nó giống kiến trúc Pháp là để cho giống mấy cái “tòa” khác Pháp xây hồi xưa ở gần đó phải không? Bộ nước ta đang định phục hồi hình ảnh Sài Gòn thời Pháp thuộc hay sao?! Bộ quên núi xương sông máu của chiến sĩ rồi sao?

Dòm Nhà, nghĩ ngợi miên man, có lúc chợt nghĩ tới sức mạnh của đồng phật-lăng. Mấy ông mũi lõ đã chi nhiều nhiều cho việc sửa Nhà, phải không?

CẢM NGHĨ MIÊN MAN

Tiếp xúc với nhạc

Tôi (…) nghiên cứu (…) không áp dụng phương pháp của phương Tây một cách máy móc, đặc biệt đối với việc nghiên cứu âm nhạc phương Ðông (HKTVK, q. 5, tr. 105)

Nhạc là thứ âm thanh có chứa cảm xúc, như xác chứa hồn.

Âm thanh có thể nghiên cứu, nhưng cảm xúc chỉ có thể cảm thụ.

Vậy nghiên cứu nhạc là nghiên cứu cái “xác” âm thanh của nhạc mà thôi.

Chắc khi nói “nghiên cứu”, ý Trần Văn Khê là tiếp xúc với nhạc. Ông suốt đời say sưa tiếp xúc với nhạc Việt truyền thống, nghiên cứu xác, cảm thụ hồn, rồi vừa thuyết minh về xác, vừa tìm mọi cách giúp ta ngộ hồn…

Bản nhạc hóa món hàng

Âm nhạc ngày nay không còn là môn nghệ thuật (…) mà đã biến thành một món hàng (…) hàng nào ăn khách thì giá cao (HKTVK, q. 3, tr. 124-125)

Nhạc là hàng, thì bỏ tiền ra mua hàng là như bỏ phiếu chọn nhạc.

Bất cứ ai cũng được mua hàng, cũng được bỏ phiếu chọn nhạc.

Thế thì… bỏ mẹ nhạc, vì trình độ của số đông bao giờ cũng thấp.

Trước kia, bất cứ ở đâu, việc đánh giá nghệ phẩm không do số đông, nhờ đó nghệ thuật mới phát triển.

Đừng tưởng những bài dân ca hay ra đời là nhờ… dân chủ. Chắc chắn chúng đã được trau giồi, hoàn thiện bởi một thiểu số dân làng có năng khiếu nhạc mà thôi.

Mất đất, mất luôn nhạc

Đầu đời Ðường có mười bộ môn âm nhạc thì chỉ có hai là gốc Trung Quốc còn tám bộ môn kia là của nước ngoài. Nhưng mấy trăm năm sau, đến cuối đời Ðường (…) Hồ nhạc: nhạc của rợ Hồ (…) bị nhập vào (…) tục nhạc: nhạc dân gian (…) Những bộ môn nhạc của các nước khác (lần lượt) biến thành nhạc Trung Quốc. (HKTVK, q. 3, tr. 220)

Cướp đất của “rợ”, rồi rút cuộc cướp luôn cả nhạc!

Thì cũng như đang mang đồ đồng đào được ở Tam Tinh Ðôi (San Xing Dui, nay thuộc Tứ Xuyên) đi khoe khắp thế giới là tác phẩm của Trung Hoa cổ. Vào thời những món đồ đồng ấy được chế tạo, chủng Hoa Hạ đã biết tới cái đất mà về sau gọi là Tứ Xuyên đâu mà!

Tưởng tượng cuối thế kỷ 21 Trung Quốc nam tiến đến… mũi Cà Mau, lúc đầu gọi quan họ là nhạc Việt, rồi lần lần gọi là nhạc dân gian Tàu! Rồi đồ đá Phùng Nguyên, đồ đồng Ðông Sơn cũng lần lần biến thành đồ Tàu cổ!

Diễn biến lịch sử ở đây là: cướp đất, cướp của cải vật chất, rồi đến lúc nào đấy cướp luôn cả di sản tinh thần. Điển hình, khi bị cướp đến tinh thần thì nạn nhân mất đã lâu rồi, không còn có mặt để tức, để đòi!

Ai có cơ hội cũng cướp chứ không riêng gì người Tàu đâu. Ai có đất thì lo giữ.

Mặc áo gi-lê đánh đàn bầu

Nghệ thuật phải được giới thiệu một cách toàn diện (…) uống trà ngon (…) phải dùng chén nhỏ cỡ hột mít (…) Tiếc là nam diễn viên mặc áo sơ-mi trắng có gi-lê màu theo phong cách một nhạc sĩ Trung Âu, làm mất một phần phong cách và không khí Việt Nam trong lúc trình diễn (TP, tr. 41, 258)

Thử tưởng tượng một ban nhạc Tây mặc áo dài đội khăn đóng ngồi hòa tấu bài Dòng Sông Xanh!

Nhớ sân khấu Thúy Nga. Kể từ Ðức Thành trở đi, các nhạc sĩ đàn nhạc cụ dân tộc luôn mặc áo dài. Thế chứ. Trà ngon rót vào chén hạt mít, cụ Trần Văn Khê trông đã vui chưa?

Cho lòng khỏi phiêu dạt

Những vấn đề hồn của nước, thần của người, nét đẹp phải giữ gìn của truyền thống Văn hóa Việt Nam… vẫn là những chất vấn không nguôi, vẫn hoài hoài muốn được nhắc nhở để cho lòng khỏi phiêu dạt. (TP, tr. 160)

Ðối với đất nước, Trần Văn Khê thật sắt son. Bao nhiêu năm sống ở hải ngoại, bao nhiêu sự ưu đãi, trân trọng của ngoại bang không làm lòng yêu nước của ông dao động mảy may. “Tuy thân ở ngoài nước nhưng tâm tôi luôn ở trong nước…”, câu ông nói không ngoa chút nào.

Trần Văn Khê thể hiện lòng yêu nước bằng cách ra công bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống, kêu gọi chống xâm lăng văn hóa, chống nạn người Việt tự “ngoại hóa” mình. Có lần ông còn sáng kiến một cách uốn nắn thế hệ trẻ: “… trong các trường nhạc Á-rập treo toàn hình ảnh những nhạc sĩ danh tiếng phương Tây, về mặt tâm lý điều đó sẽ khiến học trò hướng về phương Tây mà coi nhẹ âm nhạc truyền thống (…) học sinh tới trường học như bước vô thánh đường, phải được chiêm ngưỡng những bậc tiền bối tiếng tăm của nước mình”.

Các em học sinh trong nước Việt Nam có thể ngày ngày trông lên hình ảnh những tiền bối Việt Nam tài giỏi để tránh lạc hướng, nhưng còn chính Trần Văn Khê, nơi hải ngoại ông thường dùng cách gì để giữ cho cái “đạo” yêu nước của mình khỏi bị “khô”?

Không phải chỉ bằng cách ngày đêm tự chất vấn về “hồn của nước”, “thần của người”, “nét đẹp phải giữ của (…) văn hóa Việt Nam” đâu. Trong Hồi ký, Trần Văn Khê cho biết vẫn luôn cố tự nấu lấy những món ăn dân tộc để dùng cho khỏi quên mùi vị quê hương. Hoài hoài nhắc nhở mình tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc là “để cho lòng khỏi phiêu dạt”, còn ngày ngày cơm cá rau là nhằm giữ cho miệng lưỡi khỏi lang thang!

Trong cái thánh đường của văn hóa Việt Nam, không thể thiếu chân dung Trần Văn Khê.


Ảnh này chụp tháng 11-2013

 

Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật Việt Nam xb., 1997, tr. 292.
(4) Xem bài Đàn Bầu (nhiều tác giả) trên trang 
gocnhin.net.
(5) Xem bài Mềm Như Nước của TT.
(6) Trần Văn Khê trả lời phỏng vấn của Nguyễn Thế Khoa, in trong 
Góc nhìn văn hiến Việt Nam, nhiều tác giả, nxb. Thông Tấn, VN, 2006, tr. 277.
(7) Mất tinh thần là sợ. Bỏ tinh thần là bỏ truyền thống tinh thần của mình. (Xem “Lời nói đầu”, 
Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005.)
(8) Trong tất cả những cuộc “thi đẹp” quốc tế, từ giải Nobel văn chương đến giải Hoa hậu Hoàn vũ, ai thắng ai thua tùy thuộc vào cân bằng thế lực giữa các nền văn hóa, phản ánh qua thành phần ban giám khảo. Cho tới bây giờ, điển hình, ban giám khảo hầu hết thuộc về văn hóa Tây phương. Tây chấm, dĩ nhiên Tây được. Thỉnh thoảng có người khác được, là do Tây cố ý “ưu ái”, vì lý do chính trị. Dĩ nhiên cân bằng thế lực không bất biến. Văn Tây gái Tây chắc chắn sẽ không chiếm ngai vàng mãi đâu. Khổ là đến lúc ta mạnh hơn Tây thì e rằng ta cơ bản đã hóa thành Tây rồi!