TÂM AN : ***Lễ đón Bằng của UNESCO vinh danh Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ***


***Lễ đón Bằng của UNESCO vinh danh Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ***
Báo TTVN – 22/01/2014 10:23

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức Lễ đón Bằng của UNESCO vinh danh Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 22/2/2014.

Trước đó, ngày 5/12, tại Hội nghị Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp tại thành phố Baku (Azerbaijan), loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam” đã nhận được 100% số phiếu bầu bình chọn là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Âm nhạc tài tử thường được gọi là “đờn ca tài tử” là sản phẩm tinh thần được sinh ra vào cuối thế kỷ XIX, trên nền tảng âm nhạc cung đình Huế được lưu dân mang theo “trong hành trang” mở cõi. Lúc đầu chỉ là những bài bản của nhạc lễ đưa sang như: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn giá và Tiểu khúc. Đến thế kỷ XIX, phong trào đờn ca tài tử phát triển khắp Nam bộ, trong đó một số nhóm nhạc nổi tiếng như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Vĩnh Kim và Cái Thia (Mỹ Tho), Cần Đước Long An, Sài Gòn… các nhóm này đã liên kết thành hai khối: tài tử Miền Tây và tài tử Miền Đông với người đứng đầu là ông Nguyễn Quang Đại tức Ba Đợi ở Cần Đước và ông Trần Quang Quờn tức ký Quờn ở Vĩnh Long. Cả hai khối đều có những cố gắng lớn trong việc soạn, sáng tác mới bài bản, giảng dạy và truyền bá âm nhạc tài tử theo cách riêng của mình.

Cho đến nay, số lượng bài bản tài tử đã rất phong phú và đa dạng. Nhạc mục tài tử ngoài số bản của nhạc lễ trước kia đưa sang còn có rất nhiều bài bản được cải soạn theo phong cách tài tử từ một số bản nhạc cổ truyền của Huế hoặc từ các bài lý của dân ca Nam và Trung bộ, hoặc là các sáng tác mới của các tài tử bậc thầy… Tuy nhiên, khi hệ thống lại người ta chỉ nói đến 20 bài bản tổ còn gọi là nhị thập huyền tổ ban được cho là của ông Ba Đợi tức Nguyễn Quang Đại ở Long An đúc kết (khoảng năm 1880).

Nói đến Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, nhiều người nghĩ ngay tới những buổi sinh hoạt văn hóa độc đáo, đầy chất tài tử của người Nam Bộ nơi miệt vườn, sông nước. Nhưng hơn thế, không gian trình diễn của Đờn ca tài tử rộng lớn hơn thế nhiều khi có thể trình diễn ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào.

Trong những đêm trăng thanh gió mát, những người Nam Bộ vẫn cất lời ca tiếng hát trên những con thuyền trôi lững lờ trên sông hay những dịp cúng tế mang tính lễ nghi, cả những sự kiện như đám cưới, đám hỏi và sau những cuộc trà dư tửu hậu… Đờn ca tài tử vẫn luôn là loại hình văn hóa tiêu biểu, phổ cập của người dân miền Nam Bộ.

Hiện nay, trong sinh hoạt Đờn ca tài tử bên cạnh những nhạc khí truyền thống như đàn Nguyệt, Thập lục hay những nhạc cụ truyền thống của dân tộc như Sáo, Bầu, Tỳ bà… còn có nhiều nhạc cụ của phương Tây cũng đã du nhập, hòa quyện trong những buổi trình diễn Đờn ca tài tử như Violin, Guitar phím lõm… Theo GS Trần Văn Khê, điểm nổi bật của Nghệ thuật Đờn ca tài tử chính là sự hòa hợp, gần gũi giữa người trình diễn với khán giả và chính sự hòa hợp này tạo nên sự gần gũi và sức sống bền vững cho nghệ thuật trình diễn độc đáo này của người dân Nam Bộ.

Quả thực, khi những nốt nhạc dạo của người tài tử cất lên, đa số người dân Nam Bộ đều có thể vang ngân những bài hát đã nằm lòng trong tiềm thức đã in sâu như một làn điệu dân ca. “Câu rao” được hiểu như một khúc nhạc dạo của người nhạc công chơi Nghệ thuật Đờn ca tài tử dù có phóng túng, phiêu linh đến mấy thì ít nhiều cũng có thể dễ dàng dẫn dắt người nghe đi vào làn điệu chính của bản nhạc…Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ nói chung và Đồng Tháp nói riêng không chỉ được người dân “miền sông nước” yêu mến mà còn là một loại hình văn hóa nghệ thuật được quần chúng, hay ngành văn hóa từ cấp cơ sở đến tỉnh của nhiều địa phương trong cả nước tổ chức giao lưu biểu diễn trong các cuộc liên hoan phục vụ nhân dân trong những dịp lễ, Tết quan trọng. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Kế hoạch quảng bá Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa phi vật thể đang đệ trình UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Và chính thức vào hồi 15 giờ 47 phút (theo giờ Việt Nam) ngày 05/12/2013, Phiên họp Ủy ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hòa Azerbaijan đã khẳng định, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí và chính thức công nhận Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam, Đờn ca tài tử liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc; Việc ghi danh Đờn ca tài tử Nam Bộ vào Danh sách Đại diện có thể thúc đẩy việc trao đổi giữa các cộng đồng, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật trong phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế; Các biện pháp bảo vệ nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức sẽ được thực hiện với sự tham gia tích cực của các học viên, các chuyên gia, các tổ chức chuyên ngành và với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước; Hồ sơ đề cử được xây dựng với sự tham gia của các thành viên cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành và các chuyên gia, các thành viên cộng đồng tự nguyện đề cử và cùng cam kết bảo vệ; Di sản đã được Viện Âm nhạc Việt Nam kiểm kê từ năm 2010 với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng; năm 2012 được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Có thể nói, sự kiện Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO công nhận đã cho thấy thế giới đánh giá rất cao loại hình âm nhạc “biến hóa lòng bản” ở miền Nam của Việt Nam và cũng chứng tỏ sức sống của văn hóa truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hóa thế giới.

Ngay sau khi đón nhận Bằng của UNESCO vinh danh nghệ thuật Đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, các tài tử đờn, tài tử ca của 21 tỉnh thành phố Nam Bộ sẽ hội tụ tại Bạc Liêu trong Festival Đờn ca tài tử lần đầu tiên diễn ra vào tháng 4 tới.

Tâm An

https://www.facebook.com/pages/Ngh%E1%BB%87-Thu%E1%BA%ADt-%C4%90%E1%BB%9Dn-Ca-T%C3%A0i-T%E1%BB%AD-C%E1%BA%A3i-L%C6%B0%C6%A1ng-Nam-B%E1%BB%99/443376049071129?hc_location=timeline

VIỆT HẢO : Để tiếng chiêng Tây Nguyên mãi ngân vang giữa đại ngàn


Thứ Bẩy, 01/02/2014 – 07:21

 

Để tiếng chiêng Tây Nguyên mãi ngân vang giữa đại ngàn

(Dân trí) – Trong nỗ lực bảo tồn và phát triển Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của hàng vạn đồng bào hiện nay, nghệ nhân Y Kuâo Buôn Krông và Y Hiu Niê K’dăm là 2 tấm gương điển hình.

Di sản văn hóa của các thế hệ người Tây Nguyên vô cùng phong phú, nhưng nổi bật nhất là Sử thi (tức Trường ca hoặc Anh hùng ca) và Cồng chiêng. Năm 2005, “Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên” của Việt Nam được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyển khẩu và Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại. Sự kiện trọng đại này đã đưa Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành tài sản chung của nhân loại. Giá trị nổi bật của Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên chứa đựng những giá trị mang tầm kiệt tác của nhân loại, chủ nhân không ai khác là đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

 

Trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên.
Trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên.

 

 

Từ cậu bé chăn trâu… trở thành nghệ nhân

 

Tôi tìm về buôn Kram, xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin trên cao nguyên Đắk Lắk trung phần để tìm gặp nghệ nhân già Y Kuâo Buôn Krông.

Thuở nhỏ, Y Kuâo mồ côi mẹ khi mới lên 2, cha ông đi bước nữa về ở nhà vợ, cậu bé Y Kuâo lớn lên trong sự thương yêu, đùm bọc của anh chị. Không biết tiếng chiêng có sức hút thế nào nhưng hễ buôn làng mở tiệc tùng, lễ hội… thì ở đó có sự hiện diện của Y Kuâo. Ngày ngày, trên cánh đồng Ê-bung, Y Kuâo cùng với đám bạn chăn trâu xúm nhau lại thành lập một đội chiêng. Buổi tập không thầy, không người hướng dẫn, dụng cụ tập là loại chiêng tre (chiêng Kram) nhưng ai nấy đều tiến bộ vượt bậc nhờ sự đam mê. Thậm chí trong các lễ hội sau đó, người làng còn thấy Y Kuâo đứng chầu chực rót nước cho các cụ già uống, cậu bé kiên nhẫn chờ cho ai đó trong dàn chiêng mỏi tay thì nhảy vào diễn tấu thay.

 

Nghệ nhân Y Kuâo Buôn Krông bên chiếc chiêng cổ 
Nghệ nhân Y Kuâo Buôn Krông bên chiếc chiêng cổ 
trong ngôi nhà dài của mình.

 

Không biết tiếng chiêng đã ngấm vào Y Kuâo từ bao giờ, nhưng mỗi một động tác diễn tấu của cậu hòa cùng dàn chiêng được ngân lên một cách mượt mà, trầm bổng khiến bản thân cậu cũng không thể lý giải nổi. Năm đó Y Kuâo Buôn Krông mới 14 tuổi mà đã trở thành cậu bé đánh chiêng giỏi nhất buôn. Vì muốn gìn giữ, bảo tồn văn hóa dân tộc, từ năm 1996 đến nay, nghệ nhân Y Kuâo Buôn Krông đã tham gia truyền dạy và khai sinh 3 đội chiêng trẻ với 21 cháu trong buôn. Hiện nay vì lý do tuổi tác, nghệ nhân Y Kuâo không còn trực tiếp đứng lớp dạy chiêng, mà tham gia với tư cách ”cố vấn”, hướng dẫn cho người khác đứng ra tổ chức việc dạy chiêng. Bên cạnh đó, nghệ nhân còn tham gia phục hồi 7 bộ chiêng của 7 đội chiêng ở trong buôn, và đưa các đội chiêng đi phục vụ trong các lễ hội, sinh hoạt cộng đồng ở xa gần. Nghệ nhân Y Kuâo được phong danh hiệu Nghệ nhân Dân gian ở lĩnh vực: ”Thực hành, truyền dạy chế tác và sử dụng nhạc cụ dân tộc Ê đê”.

 

Bảo tồn văn hóa cồng chiêng là “đánh thức”… lớp trẻ

 

Sinh ra trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thuở nhỏ Y Hiu Niê K’dăm (58 tuổi, buôn M’Duk, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) đã sớm tiếp xúc với cồng chiêng qua các nghi thức lễ hội của buôn làng. Không lâu sau khi tiếp cận cồng chiêng, bằng đôi tai thẩm âm tinh tế và tâm hồn âm nhạc tuyệt vời, Y Hiu Niê K’dăm đã sớm vận dụng thành thạo các nhịp điệu đánh chiêng như một nghệ nhân thực thụ. Thời điểm đó, đội cồng chiêng ở buôn M’Duk là nơi quy tụ những tài năng lão luyện nhất, nhưng Y Hiu Niê K’dăm mới 8 tuổi đã sở hữu vị trí chính thức trong đội chiêng này. 

 

Nghệ nhân Y Hiu Niê K’dăm.
Nghệ nhân Y Hiu Niê K’dăm.

 

Mang trong mình một ước nguyện là tiếng chiêng sẽ mãi ngân vang giữa đại ngàn, hơn 10 năm qua Y Hiu Niê K’dăm đã đi đến 40 buôn làng để truyền dạy nhịp chiêng cho lớp trẻ. Đến nay đã có hàng chục đội chiêng trẻ khắp các buôn làng ra đời. Y Hiu Niê K’dăm ước lượng đã có hơn 500 học trò được ông đào tạo thành thục kỹ năng đánh chiêng. Với những nỗ lực ấy, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Dân gian Việt Nam ở lĩnh vực ”Thực hành và truyền dạy nghệ thuật cồng chiêng”.

Năm 2004, tại Liên hoan Nhạc cụ dân tộc, dân ca, dân vũ và dệt thổ cẩm tỉnh Đắk Lắk lần thứ 2, đoàn diễn chiêng của Y Hiu Niê K’dăm đã giành Huy chương Vàng. Nghệ nhân Y Hiu Niê K’dăm trăn trở, để gìn giữ được tiếng chiêng của cha ông, của đại ngàn Tây Nguyên, cần nhiều hơn nữa sự nỗ lực từ các nghệ nhân có tâm huyết, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của các ban, ngành.

 

Viết Hảo

http://dantri.com.vn/van-hoa/de-tieng-chieng-tay-nguyen-mai-ngan-vang-giua-dai-ngan-828487.htm

NGUYÊN HÀ : Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử: Nỗi niềm tài tử ca (Bài 1)


Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử: Nỗi niềm tài tử ca (Bài 1)

08:55, 30 Tháng Mười Một 2012

(Cinet)- Nhắc đến Đờn ca tài tử người ta nghĩ ngay đến xứ miệt vườn, đến vùng đất phương Nam. Với người dân Nam Bộ, Đờn ca tài tử đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống lâu đời…

 

Khúc hoà đàn ngẫu hứng của người Nam Bộ.

Đặc sắc đất phương Nam

Nếu miền Bắc có Ca trù, miền Trung có Ca Huế thì miền Nam có Đờn ca tài tử. Những ai đã từng sống hay có dịp về thăm nơi đây, nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát, những dịp cúng tế ở đình, ở miếu, đám cưới, đám hỏi, đám tang hay giỗ chạp, tiệc tùng đều có thể được thưởng thức Đờn ca tài tử. Đờn ca tài tử có thể trình diễn ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào; trang phục thường giản dị, bình dân không câu nệ.

Những người thích Đờn ca tài tử hay cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hoà đàn để người mộ điệu thưởng thức. Người đàn tài tử chính thống hễ vui, ngẫu hứng thì đàn chơi, còn không hứng thì thôi, không ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ. Cũng không ai quy định một buổi Đờn ca tài tử như thế phải có bao nhiêu người, bất cứ ai biết đàn biết ca đều có thể tham gia, cũng không theo chương trình sắp sẵn mà những người đồng điệu gặp nhau, cao hứng muốn đàn bản gì là tất cả cùng hoà đàn. Đôi khi một người một đàn cũng làm nên một buổi Đờn ca tài tử, nhưng lí tưởng thì ngoài người ca còn cần tranh-cò-kìm-sáo (sau này có thêm sến, độc huyền cầm, ghi-ta phím lõm) cùng hoà điệu. Chương trình biểu diễn Đờn ca tài tử cũng vì thế mà không ấn định thời gian, có lúc năm ba tiếng, cũng có khi đờn ca suốt đêm, khi nào thỏa thích thì thôi.

Khác với Ca trù miền Bắc hay Ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đàn, trong Đờn ca tài tử Nam Bộ, dàn nhạc được chú ý hơn tiếng ca. Thường người  nghe rất chú trọng vào chữ đàn nhấn có gân, cách sắp chữ duyên dáng, cách xuống câu ngọt ngào, uyển chuyển đến lối đàn bay bướm, đa dạng.

Đến nay, Đờn ca tài tử vẫn tồn tại ở các tỉnh Nam Bộ như một nhu cầu không thể thiếu của người dân. Nhiều bài bản của nó vẫn được truyền dạy ở các trường nghệ thuật, các lớp dạy tư của nghệ nhân, nghệ sĩ. Dẫu đã ngót trăm tuổi, nhạc sư danh tiếng Nguyễn Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục tiếp nhận và trao truyền không mệt mỏi vốn cổ nhạc quý giá này cho học trò khắp bốn phương. Đã bước qua ngưỡng “thất thập cổ lai hy”, nhà nghiên cứu Trương Bỉnh Tòng vẫn miệt mài với những công trình nghiên cứu sâu sắc về cổ nhạc Nam Bộ. Hay tại tư gia của GS-TS Trần Văn Khê vẫn thường xuyên diễn ra những lần sinh hoạt của những người mộ điệu Đờn ca tài tử.

GS-TS Trần Văn Khê chia sẻ: “Miền Nam là cái nôi, là không gian để nghệ thuật đờn ca tài tử và cải lương phát triển. Và rõ ràng nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống cũng mang đậm nét đặc trưng văn hóa của con người và vùng đất nơi này: dân gian và bác học, phóng khoáng và thân thiện đồng thời thể hiện sự chân thành và nghĩa khí của người phương Nam”.

Nỗi niềm tài tử ca

Ở Nam Bộ có rất nhiều gia đình truyền thống về Đờn ca tài tử, nhiều thế hệ đã “say” với ngón đờn, bài ca mộc mạc dung dị nhưng cũng vô cùng sang, quý.

Mặc dù không được may mắn sinh ra và lớn lên trong những gia đình ấy, nhưng trong con người nghệ sỹ Minh Đức lại chứa chất men Đờn ca tài tử. Anh chết mê chết mệt những ngón đờn quyến rũ của thầy Ba Tu, thầy Văn Môn, thầy Huỳnh Khải, nghệ nhân Út Tỵ… Anh như bị hút hồn bởi giọng ca của nghệ nhân dân gian Bạch Huệ, của những nghệ sỹ vọng cổ, cải lương tài danh. Và ước mơ của anh đã trở thành hiện thực. Trong chặng đường ca hát của mình, nghệ sỹ Minh Đức đã đạt được khá nhiều giải thưởng, nhiều huy chương, bằng khen, giấy khen của các lần tham gia Liên hoan Đờn ca tài tử khắp vùng Nam Bộ. Người nghệ sỹ ấy đã sống hết mình với nghệ thuật rồi một ngày bỗng giật mình thấy mình như lạc lõng giữa dòng âm nhạc hiện đại, của ca sĩ tân nhạc, giữa bộn bề của cuộc sống. Không ít lần nhìn các sân khấu ca nhạc luôn sáng đèn, các kênh ca nhạc dành cho giới trẻ được ưu tiên nhiều, các ca khúc nhạc trẻ cũng đang nở rộ, nghệ sỹ trẻ của dòng nhạc hiện đại có bước khởi nghiệp nhanh chóng, giới truyền thông cũng góp phần tung hô thì ngay chính nghệ sỹ trẻ của vọng cổ, cải lương, đờn ca tài tử cũng có vấn đề của nó. 

 

 
Tài tử ca cũng mang không ít nỗi niềm…

 

NSƯT Thanh Tòng, có lần nói về các nghệ sỹ cải lương trẻ hiện nay, ông nhận xét: “Thời trước, nghệ sỹ coi mình là một bông hoa trong vườn nghệ thuật nên họ luôn có ý thức rèn luyện nghề nghiệp để làm sao cho mình lâu tràn và hương hoa tỏa xa… Còn ngày nay, lớp trẻ dường như ưa thích ánh hào quang của nghề hơn là bản thân nghề. Chính vì vậy, có nhiều ngôi sao vụt tắt rất nhanh. Một nghịch lý đối với cải lương là khán giả ở nước ngoài thì tìm về nghệ thuật truyền thống còn chính người ở trong nước lại thờ ơ và lảng xa nó, khiến chúng tôi cảm thấy chạnh lòng”.

So với trước Đờn ca tài tử tuy đã phát triển hơn nhưng có nên lạm dụng Đờn ca tài tử để phát triển kinh tế, du lịch? Đờn ca tài tử diễn ra ở quán ăn, quán nhậu khiến không gian Đờn ca tài tử bị biến dạng, không còn đúng với cái “chất” của Đờn ca tài tử Nam Bộ.  

Nhiều nghệ sỹ cũng rất băn khoăn về việc đưa các nhóm Đờn ca tài tử lên sân khấu trình diễn trước một ban giám khảo, trước một khán phòng đông đúc khán thính giả cùng những quy định ràng buộc về trang phục, về đi đứng, về những làn điệu, bài bản diễn ca, diễn tấu của một cuộc liên hoan, hội diễn. Chúng ta biết rằng, khi Đờn ca tài tử bước lên sân khấu “ca ra bộ” đã khai sinh ra sân khấu cải lương, đó là vấn đề khác. Còn Đờn ca tài tử đích thực thường không thích hợp với những không gian, bối cảnh đó. Đưa Đờn ca tài tử lên sân khấu trình diễn trước khán thính giả trong một khán phòng thì còn đâu cái tâm, cái thú của người đờn, người ca tri âm, tri kỷ vốn là bản chất đã sinh ra nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ.

Nhạc sĩ Trần Thanh Bình là người được dự và chứng kiến nhiều cuộc hội diễn, liên hoan trong những năm gần đây cho rằng, thực chất là chúng ta tổ chức một cuộc quy tụ các ban nhạc tài tử lại với nhau thi thố tài năng trên sân khấu để mỗi thành viên trong ban giám khảo chấm điểm, nhận xét, đánh giá… Và đương nhiên điều đáng buồn đã xảy ra ngay sau khi kết thúc các cuộc liên hoan, hội diễn. Những lời công bố trao giải vàng, giải bạc, giải A, giải B… cũng có nghĩa là công nhận tiết mục này hay, tiết mục kia dở. Thực tế đâu có phải vậy, thật là oan cho họ – những tiết mục, những ban nhạc không có giải – oan uổng cho cả một dòng âm nhạc truyền thống lãng mạn của Nam Bộ. Bởi lẽ văn hóa Nam Bộ đến ngày hôm nay đã phát triển rực rỡ trong mọi khía cạnh đời sống xã hội, mà ca nhạc tài tử là một mảng văn hóa đặc thù có nguồn, có cội, sống bền vững trong tinh thần của người dân Nam Bộ. Lựa chọn một ban giám khảo để thẩm định nghệ thuật tài tử Nam Bộ, cách làm này dễ dẫn đến những đánh giá không chính xác, có nguy cơ nhiều ban, nhóm đờn ca trong dân gian lặng lẽ buông đờn, gây nên sự ngộ nhận về những giá trị đích thực của ca nhạc tài tử đối với công chúng hâm mộ. Vẫn biết rằng mục đích tốt là muốn truyền bá, nhân rộng ra cái hay, cái độc đáo của dòng nhạc tài tử nhằm giữ gìn, phát huy văn hóa dân tộc nhưng với cách làm này có lẽ chúng ta cần xem lại. Như thế chúng ta đã vô tình truyền bá cho thế hệ hôm nay và thế hệ sau này một phong cách chơi nhạc tài tử đơn giản là: chỉ cần học thuộc một bản đờn, bản ca chân phương của 20 bản tổ và đờn ca đúng nhịp, đúng hơi là đủ. Đờn ca tài tử Nam Bộ chỉ dừng lại ở đây thì có gì đáng tôn vinh, ca tụng? Vì, như đã nói, Đờn ca tài tử là thú chơi tao nhã nơi quê hương, làng xóm của người dân Nam Bộ. Không ai màng danh hám lợi, và chơi nhạc tài tử cũng là để di dưỡng tính tình giữa đất trời thanh tịnh, giữa đêm trăng thanh vắng, chất chứa tiềm ẩn sâu xa triết học phương Đông.

Nguyên Hà  

 http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=68849&sitepageid=45

MINH CƯỜNG : Vẻ đẹp của đờn ca tài tử


TUANVIETNAM ››
18/01/2014 21:52 GMT+7
 

Vẻ đẹp của đờn ca tài tử

Cuối năm 2013, bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử (ĐCTT) Nam bộ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây được coi là món quà đặc biệt mừng Xuân Giáp Ngọ dành cho những người yêu thích bộ môn nghệ thuật này.

Thú chơi ngẫu hứng

đờn ca, tài tử
Một buổi sinh hoạt đờn ca tài tử. Ảnh: Minh Cường

Từ đầu thế kỷ 19, ở Nam bộ cơ bản chỉ có hai loại hình nghệ thuật chính là tuồng và nhạc lễ. Tuồng là sân khấu điển tích, phần âm nhạc lấy trống kèn làm chủ đạo. Còn nhạc lễ phục vụ việc hành lễ, đáp ứng nhu cầu tâm linh, lấy nhạc cụ dây kéo, bộ gõ làm chủ đạo.

Đến đầu thế kỷ 20, nhiều quan viên nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần Vương, đã sớm kết hợp âm hưởng nhạc Nam bộ với nhạc cung đình Huế tạo ra hình thức âm nhạc cổ truyền mới gọi là ĐCTT. Về cơ bản các nhạc cụ thường sử dụng: đờn kìm, đờn tranh, đờn cò, đờn bầu, về sau có sự tiếp biến của cây guitare phím lõm. Từ đây, nhanh chóng hình thành phong trào “đờn cây” và phát triển khắp Nam bộ. Lúc bấy giờ có các nhạc sư tiêu biểu: Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) ở Long An, Trần Quang Diệm ở Mỹ Tho, Lê Bình An ở Bạc Liêu… Đặc biệt, nhiều người còn biết đến nhạc sư Cao Văn Lầu với bản Dạ cổ hoài lang – một bản nhạc từ khi ra đời đã trở thành “ông vua” trên sân khấu cải lương, đến nay đã tồn tại trên 100 năm vẫn giữ nguyên giá trị. Không chỉ thế, bản Dạ cổ hoài lang còn được nhiều thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ phát huy, phát triển thành loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của vùng Nam bộ.

Ban nhạc tài tử được biết đến sớm nhất ở vùng đất Nam bộ là của ông Nguyễn Tống Triều (ở Mỹ Tho, Tiền Giang). Ban nhạc này không chỉ biểu diễn trong nước, vào đầu năm 1900, tham gia biểu diễn tại Hội chợ đấu xảo ở Paris với bản nhạc tài tử nổi tiếng là “Vũ khúc Đông Dương”.

Theo tài liệu mới nhất vừa được công bố, bản “Vũ khúc Đông Dương” được nhà nghiện cứu Nguyễn Lê Tuyên (Đại học quốc gia Australia) phát hiện vào tháng 3/ 2013, tại Thư viện quốc gia Pháp. Bản “Vũ khúc Đông Dương” đã được nhà nghiên cứu dân tộc học, nhạc học nổi tiếng người Pháp là ông JulienTiersot ký âm lại năm 1900, khi nó được một ban nhạc tài tử của Việt Nam sang biểu diễn tại hội chợ quốc tế ở Paris với tư cách đại diện cho văn hóa Đông Dương. Nó được thể hiện làm nhạc nền cho một cô đào nổi tiếng người Pháp là Cléo de Mérode múa tại sân khấu hội chợ.

“Khi hay tin nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên tìm thấy bản nhạc tài tử cổ xưa này (“Vũ khúc Đông Dương” được coi là bản ký âm cổ nhất trong lich sử âm nhạc ĐCTT VN – PV) chúng tôi thật sự vui mừng, vì như vậy từ hơn 100 năm trước, thế giới đã biết đến nhạc tài tử của Việt Nam”, nhạc sĩ Huỳnh Khải xúc động chia sẻ.

Ngày 11/ 7/ 2013, bản “Vũ khúc Đông Dương” đã được phục dựng và trình diễn tại Hội nghị âm nhạc truyền thống quốc tế Thượng Hải (Trung Quốc), với sự tham dự của hơn 500 nhạc sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo nghệ nhân dân gian Phạm Công Tỵ, đây là một bản nhạc hay và lạ đối với nhạc tài tử. Vì hầu như rất ít bản nhạc tài tử được dùng để múa. Bản “Vũ khúc Đông Dương” tôi nghĩ có thể đây là tiết mục ngẫu hứng của ban nhạc tài tử ngày xưa khi đến Pháp biễu diễn. Phát hiện này với nhạc tài tử lại càng giá trị và thú vị, nghệ nhân Tỵ khẳng định.

Tuy vậy, nhưng nếu có người hỏi điểm cốt yếu nhất của nghệ thuật trình diễn ĐCTT là gì? Có lẽ họ sẽ nghe câu trả lời không ngần ngại của giới ĐCTT đó là phong cách sáng tạo và ngẫu hứng trong biểu diễn. Không chỉ đàn ca sao cho đúng với tính chất, hơi điệu của bài, người nghệ sĩ tài tử còn phải biết thêm thắt, biến tấu ngẫu hứng sao cho bay bổng, vì đối với nhạc tài tử, tính cố định sẽ làm mất tính tài tử. Một nốt đàn được thêm thắt, tô điểm đúng mức sẽ trở thành phong cách riêng của nghệ sĩ. Nói rộng hơn, ngẫu hứng, ứng tấu vừa tạo phong cách nhạc sĩ, vừa là phong cách của thể loại nhạc tài tử. Nhưng nếu thêm thắt, tô điểm để cho câu nhạc có nhiều chữ đàn, để cho “rậm đám” hay xôm tụ thì không phải phong cách tài tử, bởi mỗi câu nhạc, mỗi chữ đàn, mỗi nét nhấn nhá, luyến láy… càng lão luyện trong nghề chơi thì tiếng đàn càng tinh tế, sang trọng, đặc sắc, đậm đà…

Cũng xin nhắc lại, vào những năm 1930, ĐCTT được các hãng sản xuất đĩa nhựa trong và ngoài nước như: Việt Hải, Hồng Hoa, BéKa… thu và phát hành ở miền Nam. Những danh ca, danh cầm được nhiều người biết đến cũng nhờ vào cách phổ biến này. Những bài bản lúc ấy không chỉ gồm 20 bài tổ mà còn có một số bản vọng cổ (nhịp 8, nhịp 16…). Nhạc giới thường nhắc đến băng Nam Bình I & II do nhạc sư Vĩnh Bảo biên tập và diễn tấu. Đây chính là may mắn cho hậu thế vì còn giữ được tiếng đờn tài hoa, ngẫu hứng của nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhạc sĩ tài tử lừng danh. Nổi tiếng trong làng đĩa nhựa khi ấy có Chín Kỳ (Nguyễn Văn Kỳ), Tư Nghi (Phạm Văn Nghi), Bảy Hàm (Trương Văn Đệ), Sáu Quý (Nguyễn Thế Quý)…Về ca có các nghệ sĩ Năm Nghĩa, Hồng Châu, Tám Thưa, Út Trà Ôn, Bảy Cao, Sáu Thoàng, Hai Đá, Năm Cần Thơ, Bạch Huệ…

Đờn ca tài tử vào xuân

Theo soạn giả Ngô Hồng Khanh, ĐCTT là cuộc chơi đầy phong lưu và tao nhã. Đờn càng hay thì tiếng ca càng rung cảm. Khi hai cái tâm hồn càng hòa quyện nhau thì người nghe không muốn rời.

Giờ đây, trong nhịp sống công nghiệp, bận rộn, bốn bề hối hả, mấy ai còn yên lòng để thả hồn vào cuộc chơi với khúc nhạc, lời ca suốt sáng, thâu đêm. Để rồi những tiếng hò ơ dìu dặt mênh mông đang chìm dần vào những âm thanh hỗn loạn của thị thành.

Cũng may, không giống như nhiều người lâu nay vẫn nghĩ, ĐCTT chỉ là sản phẩm của vùng quê sông nước miệt vườn. Giờ đây, có dịp nhìn lại, nhiều người giật mình khi thấy ĐCTT đang thịnh hành, nở rộ ngay giữa những thành phố công nghiệp. Một thống kê mới đây cho biết, TP.HCM có 97 CLB, nhóm với hơn 1.000 nghệ nhân, tài tử được đánh giá là có năng lực hoạt động nghệ thuật; Bình Dương có 59 CLB, nhóm ĐCTT với khoảng 800 nghệ nhân, tài tử, sinh hoạt định kỳ ít nhất 1 lần/ tháng…

Một nghệ nhân chia sẻ: ĐCTT là “cái sự chơi”, là tri âm mộ điệu. Nhưng do đời sống kinh tế càng lúc khó khăn, một ngày đờn ở khu du lịch được 200.000 – 300.000 đồng, trong khi đờn cho CLB được bồi dưỡng nhiều nhất 100.000 đồng. Đây là điều mà những người có trách nhiệm bảo tồn ĐCTT không thể làm ngơ. Một chính sách thỏa đáng về vật chất và tinh thần cho các bậc thầy, nghệ nhân làm công việc truyền dạy nhằm ghi nhận công lao của họ trong bối cảnh hiện nay là cần thiết. Bởi, các bậc thầy tên tuổi về ĐCTT hiện nay đa phần đã lớn tuổi, trong khi lớp nghệ nhân kế tục không nhiều. Vì vậy vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản này cần được nhìn nhận ở quy mô cấp nhà nước. Từ đó mới có thể huy động sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, trên cơ sở khuyến khích các địa phương mở lớp dạy ĐCTT cho người mộ điệu, nhất là giới trẻ. Trong bối cảnh bộ môn nghệ thuật ĐCTT vừa mới được UNESCO vinh danh, thì, trách nhiệm của những người trong cuộc là phải làm sao nuôi dưỡng ĐCTT giống như một mạch nước ngầm, len lỏi, lan tỏa ngày càng sâu rộng trong đời sống cộng đồng.

Trước thềm năm mới, một tin vui từ Bộ VHTTDL cho biết đã đồng thuận giao cho Sở VHTTDL TP.HCM đăng cai tổ chức lễ đón nhận bằng Di sản văn hóa phttp://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/158593/ve-dep-cua-don-ca-tai-tu.htmlhi vật thể của nhân loại bộ môn nghệ thuật ĐCTT, dự kiến vào đầu tháng 2/2014. Và 2 tháng sau đó, một Festival ĐCTT mang tầm quốc gia được tổ chức lần đầu tiên tại Bạc Liêu, chính nơi ấy, gần 100 năm trước nghệ nhân Cao Văn Lầu đã viết bài Dạ cổ hoài lang đi vào bất tử.

Minh CườngTheo Báo Du lịch

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/158593/ve-dep-cua-don-ca-tai-tu.html

BÙI THIÊN HOÀNG QUÂN : Đàn Nhị trong đờn ca tài tử Nam bộ


Đàn Nhị trong đờn ca tài tử Nam bộ

Thứ hai, 09 tháng 5 2011 10:51
BÙI THIÊN HOÀNG QUÂN

Người dân Việt Nam luôn tự hào có một nền âm nhạc cổ truyền hết sức đa dạng, phong phú. Nền âm nhạc cổ truyền giàu tính nghệ thuật ấy được thể hiện bởi những nhạc khí tuy thô sơ nhưng sức chuyển tải vô cùng to lớn.

Chúng ta đều biết, nhạc khí cổ truyền Việt Nam được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có những nhạc khí được sinh ra trên đất nước Việt Nam, có những nhạc khí được du nhập từ các nơi trên thế giới nhưng dù chúng có xuất xứ từ đâu đi chăng nữa, điều quan trọng là những nhạc cụ ấy đều thể hiệnđược tình cảm của người dân Việt Nam, của tráitim Việt Nam bằng ngôn ngữ, tiếng nói của con người Việt Nam đầy tính nghệ thuật và giàu lòng nhân ái.

Người ta cho rằng đàn Nhị hay đàn Cò Việt Nam có xuất xứ từ cây đàn Erhu (Nhị Hồ) hay Huqin (Hồ cầm) của Trung Quốc, nhưng chúng ta đều thấy rằng qua khối óc và trái tim của những nghệ nhân Việt Nam, từ cây đàn Erhu kia nay đã thành cây đàn Nhị hay đàn Cò Việt Nam, với âm sắc và điệu đàn không thể lẫn lộn vào đâu được nếu đem so sánh ngược lại với cây đàn “Mẹ” của nó.

Có thể khẳng định rằng đàn Nhị là một trong những nhạc khí đa năng nhất trong kho tàng nhạc khí cổ truyền ở Việt Nam cũng như ở Châu Á. Với tính năng độc đáo của mình, đa dạng trong thể hiện cộng với âm sắc đặc thù, đàn Nhị đã phản ánh được tâm tư, tình cảm của người Việt, do đó, đàn Nhị xuất hiện trong hầu hết các thể loại âm nhạc từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam đến những sáng tác mới theo hình thức châu Âu, hiện diện đầy đủ với các hình thức diễn tấu từ độc tấu, song tấu, tam tấu đến hòa tấu, từ thính phòng đến sân khấu, đâu đâu đàn Nhị cũng thể hiện rõ khả năng diễn tấu linh họat của mình mà khó có một nhạc cụ cổ truyền nào đạt được.

Theo sự phân loại, các nhạc khí dây, có cần, cung vĩ kéo trên dây được xếp vào họ đàn “dây” có cần và chi “kéo”. Các nhạc cụ này xuất hiện rất sớm, vào khoảng2000 năm trước Công Nguyên  tại nhiều quốc gia trên thế giới. Các loại nhạc khí này rất đa dạng về hình dáng và cấu tạo nhưng có thể được chia thành hai nhóm:

– Nhóm những nhạc khí dây kéo có cần đàn dài và đầu nhọn.

– Nhóm những nhạc khí dây kéo có cần ngắn và đầu không nhọn.

Đàn Nhị là nhạc khí thuộc bộ dây, họ cung vĩ

Khi đi tìm lịch sử hình thành đàn Nhị tại Việt Nam, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng đàn Nhị xuất hiện ở nước ta vào khoảng thế kỷ thứ X. Người tacăn cứ vào những đường hoa văn trên những bệ đá kê chân một số cột ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh) có khắc hình một dàn nhạc Phật giáo – một dàn nhạc cung đình của triều đại sùng Phật thời đó – trong đó có người sử dụng đàn Hồ, là một loại đàn vĩ. Cây đàn Hồ ấy có nguồn gốc từ Trung Á phải chăng đã biến dạng qua Trung Hoa trước khi vào Việt Nam (¹).

Cũng gần với nhận định trên, người ta cho rằng nếu xét về tên gọi thì  Nhị là tên gọi tắt của Nhị huyền (hai dây) hay Nhị huyền cầm (đàn hai dây). Người Trung Quốc còn gọi Nhị huyền cầm là Nhị Hồ (Erhu) và một dạng Nhị huyền cầm khác được gọi là Hồ cầm (Huqin). Chữ Hồ ở đây còn có ý nghĩa đàn này là của “rợ” Hồ từ phương Bắc đã du nhập vào Trung Quốc – Erhu: Er có nghĩa là hai (số 2), hu có nghĩa là man rợ.

Nhị Hồ sau khi vào Việt Nam đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng thông dụng nhất là đàn Nhị và đàn Cò. Gọi là đàn Nhị vì đàn có hai dây; Ở miền Nam thì gọi là đàn Cò vì ở trên cùng của cần đàn được chế tác như cổ và mỏ con Cò; Ngoài ra người Mường thì gọi là đàn Cò Ke vì khi đàn, cung vĩ kéo qua, kéo lại như cò cưa,…

Đàn Nhị Hồ vào Việt Nam trở thành đàn Nhị hay đàn Cò. Điều đó đã chứng minh sự sáng tạo và tình yêu âm nhạc của ông cha ta, của các nghệ nhân ngày xưa rất mãnh liệt. Không chỉ dừng lại ở đàn Nhị hay đàn Cò bình thường, có cùng kích cỡ,âm sắc, trong quá trình phát triển, các nghệ nhân đã cho ra đời những cây đàn cùng họ như Cò Líu, Cò Lòn, Cò Dương hayđàn Gáo mà người ta cho rằng nó giống với Hồ Cầm của Trung Quốc vì có âm thanh trầm gần như nhau. Có một điều thú vị ở đây là nếu ở thể loại Tứ tấu dây của phương Tây gồm Violon 1, Violon 2, Viola và Cello thì ở Việt Nam chúng ta cũng có bộ dây gần tương đương là Cò Líu, Cò Dương, Cò Lòn và Gáo.

Như trên đã trình bày, đàn Nhị là một trong những nhạc cụ đa năng nhất trong các nhạc cụ cổ truyền, do đó nó xuất hiện trong hầu hết các loại hình âm nhạc cổ truyền dân tộc, là một trong những nhạc cụ chính trong các dàn nhạc Tuồng, Chèo, Cung đình Huế,… và trong bài viết này chúng tôi muốn trình bày vai trò của đàn Nhị trong đờn ca tài tử Nam bộ.

Chúng ta đều biết nền tảng của đờn ca tài tử là nhạc Lễ (còn gọi là nhạc ngũ âm), một loại nhạc chủ yếu phục vụ cho các lễ hội tại địa phương được phát triển vào thế kỷ thứ XVII và thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ XIX. Dàn nhạc được chia làm hai nhóm (phe) Văn và Võ. Phe Võ chủ yếu là các nhạc cụ gõ và kèn; Phe Văn chủ yếu là bộ trống nhạc lễ và các nhạc cụ dây kéo vĩ. Do nhu cầu phục vụ đòi hỏi các ban nhạc Lễ cần được tổ chức một cách gọn nhẹ hơn, bộ trống nhạc lễ trong phe Văn đã được thay bằng song loan, còn các nhạc cụ dây kéo vĩ cũng được bỏ bớt để chỉ còn có đàn Cò(²). Ngoài ra, phe Văn còn kết hợp với ca hát, khởi đầu bằng việc đặt lời ca vào một số bài bản của nhạc Lễ, thêm một số nhạc cụ dây gảy,… Từ đó những ban nhạc Lễ còn có tên gọi khác là nhóm “Đờn cây” (tên gọi để phân biệt phe Văn với dàn nhạc gồm các nhạc khí dây khác với phe Võ, dàn nhạc gồm các nhạc khí kèn và trống). Song song với các ban nhạc Lễ và nhạc Hát Bội đang thịnh hành, kể từ năm 1875 trở đi, các nhóm đờn cây phát triển mạnh trong dân chúng, bài bản được bổ sung và chuyển hướng vào phong cách thính phòng, nhóm đờn cây được thay tên là “Đờn ca tài tử”. Có thể nói nền âm nhạc thính phòng Việt Nam, ngoài Ca Trù, Ca Huế, nay đã được bổ sung thêm một loại hình nghệ thuật nữa, đó là “Đờn ca tài tử”- loại hình nghệ thuật phát triển mạnh từ đầu thế kỷ thứ XX.

Đờn ca tài tử ngày càng phát triển và trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông, sâu rộng khắp các vùng ở miền Nam. Nhiều nhóm tài tử được hình thành, nổi lên nhất là hai nhóm:

– Nhóm miền Đông (vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và phụ cận) do ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào đứng đầu, cùng với các nghệ sĩ khác như Cao Huỳnh Cư, Cao Huỳnh Điểu…

– Nhóm miền Tây (Vĩnh Long và Sa Đéc) do ông Trần Quang Quờn tức Ký Quờn, người Huế, vào sống ở Vĩnh Long, làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tư Ba (người gốc Quảng Nam).

Các nhạc cụ trong dàn nhạc tài tử thường là đàn Tranh, đàn Cò, đàn Kìm, đàn Gáo, đàn Độc huyền, Tiêu v.v… Đến khoảng năm 1930, đàn Guitar phím lõm, Violon và Hạ uy di  đã được thêm vào trong biên chế ban nhạc(³). Nét đặc biệt trong hòa đàn tài tử chúng ta thường thấy là sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau; ít khi thấy kết hợp các nhạc cụ có cùng âm sắc như: song tấu Kìm – Tranh, Kìm – Cò; tam tấu đàn Kìm – Tranh – Cò, Kìm – Tranh – Độc, hay tứ tấu, ngũ tấu,…

Sơ lược quá trình hình thành nhạc tài tử Nam bộ, để thấy rằng nguồn gốc của đờn ca tài tử là nhạc Lễ. Sự thích ứng của phe Văn dựa theo yêu cầu của xã hội là sự ra đời của những nhóm đờn cây và kết quả cuối cùng của sự thích ứng đó là sự ra đời của những ban đờn ca tài tử. Suốt chiều dài hình thành nên một nền nghệ thuật Nam bộ quý giá đó, đàn Cò luôn luôn có mặt trong bất kỳ vào thời điểm nào. Cũng như trong các dàn nhạc khác, từ Tuồng, Chèo,… và đến đờn ca tài tử, đàn Cò không chỉ hiện diện một cách đơn thuần mà còn khẳng định là một nhân tố chính trong các dàn nhạc. Khó có thể tưởng tượng trong các dàn nhạc ấy lại có thể thiếu vắng tiếng đàn Cò. Những âm thanh gãy gọn của các loại nhạc cụ dây khảy sẽ được kết nối lại với nhau qua tiếng đàn dây kéo. Sự réo rắt của tiếng đàn Tranh, đĩnh đạc của tiếng đàn Kìm hay liến thoắng của đàn Guitar phím lõm,… sẽ được hòa quyện lại với nhau bằng sự mượt mà, ẻo lả của tiếng đàn Cò. Trong hầu hết các hình thức hòa đàn của đờn ca tài tử, từ song tấu đến tam tấu, tứ  tấu,… đâu đâu ta cũng thấy có hiện diện của đàn Cò. Với tính năng độc đáo của mình, ngân dài, vang xa,… đàn Cò như làm nhiệm vụ kết dính các nhạc cụ lại với nhau, đó là điều có thể nói khó có nhạc cụ nào làm được.

Khi ban nhạc trình tấu những bài có tính chất vui trong các bản Bắc, những người chơi nhạc cụ dây gảy liên tục phô diễn kỹ thuật, thể hiện sự nhanh nhạy của mình bằng cách đàn nhiều chữ, qua đó chứng minh những tính năng ưu việt của nhạc cụ cũng như kỹ năng điêu luyện của mình. Người chơi đàn Cò cũng không hề chịu kém, lúc khoan, lúc nhặt, lúc chầm chậm ở âm vực thấp rồi bỗng chợt vút bay bổng lên âm vực cao, để rồi hòa cùng những nhạc cụ khác tạo nên một bức tranh âm thanh sinh động.

Đối với các bản Oán hay Ai, cùng với tiếng đàn Kìm thổn thức, tiếng đàn Tranh rì rào,… còn tiếng đàn Cò, nhờ vào đặc tính ngân dài âm thanh, bằng những ngón nhấn, ngón rung, vừa sâu vừa chậm, mỗi khi đàn Cò vang lên, nó đã làm cho biết bao người phải nao lòng vì sự nỉ non, u buồn của nó, và có thể khẳng định rằng đàn Cò đã nâng một bước trong việc tạo cảm xúc cho người nghe khi thưởng thức một bản đàn hơi ai, hơi oán một cách trọn vẹn.

Trong hơi Lễ, đàn Cò xuất hiện như một nhân vật chính. Đàn Cò luôn hiện diện trong các ban nhạc từ ban nhạc Lễ đến nhóm đờn cây và sau đó đến nay là các ban đờn ca tài tử. Các bài bản của nhạc Lễ cũng đã được dùng khi chơi đờn ca tài tử, chính vì thế, việc trình tấu những bài bản thuộc hơi Lễ được xem như một sở trường đối với đàn Cò. Việc không còn bộ trống Lễ trong dàn nhạc, phần nào đã làm nhẹ hơi Lễ trong khi trình tấu những bài bản trong Thất Chánh, thậm chí có những ban đờn ca tài tử, khi trình tấu luân phiên những bài bản Lễ cùng các bài bản Bắc mà chưa có sự xuất hiện của đàn Cò thì sự khác nhau giữa Lễ và Bắc dường như chỉ là tên bài hay giai điệu, còn sự khác nhau giữa hơi thì không rõ nét. Tuy nhiên, nhờ có sự xuất hiện của đàn Cò, trình tấu cái “hơi” sở trường của mình thì các bài bản Lễ đã nghe “Lễ” hơn.

Sự xuất hiện của đàn Violon vào khoảng năm 1930 trở đi, phần nào đã làm ảnh hưởng đến vị trí đàn Cò trong dàn nhạc tài tử, Đàn Violon với nhiều thuậnlợi về cấu tạo, có âm vực rộng hơn, có âm sắc ấm hơn và đặc  biệt là hình dáng trông “Tây” hơn đã tạo cho mình có được vị trí vững chắc trong các ban đờn ca tài tử và làm cho đàn Nhị bị lu mờ. Tuy nhiên trong tiềm thức của người Việt Nam, tiếng đàn Cò vẫn là một âm thanh đã và đang vang vọng. Người ta không thể quên được tiếng đàn Cò trang nghiêm khi trình tấu những bài nhạc Lễ, não nuột trong những bản oán, ai và vui tươi, linh hoạt trong các bài bản Bắc. Đàn Cò vẫn đứng vững với vị trí của mình trong các ban đờn ca tài tử.

Ngày nay, đàn Nhị hay đàn Cò đã không ngừng phát triển. Trước yêu cầu thưởng thức ngày một cao của quần chúng nhân dân, cùng với việc tiếp thu tinh hoa các nhạc cụ dây vĩ trên thế giới, đàn Nhị đã có mặt trong các loại hình hòa tấu đương đại, từ song tấu, tam tấu hay tứ tấu, từ dàn nhạc thuần dân tộc hay tổng hợp, từ trường phái cổ điển hay nhạc nhẹ theo lối phương Tây, đàn Nhị đều đã chứng minh được sự đa năng của mình. Khả năng trình tấu được nhiều phong cách, nhiều thể loại, khẳng định được vị trí của mình trong tất cả các loại hình nghệ thuật. Trong âm nhạc cổ truyền, đàn Nhị sẽ đứng vững và cùng đi mãi với Chèo, với Tuồng, với Ca Huế và nhất là với đờn ca tài tử. 

Chú thích:
(¹) Nguyễn Thụy Loan. Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật số 1-1979. “Suy nghĩ về sức sống Việt Nam qua những chặng đường sử nhạc”

(²) Kiều Tấn. 2002. “Hệ thống bài bản nhạc tài tử Nam bộ”. “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh” –  Nhà xuất bản Trẻ.

(³) Nguyễn Thuyết Phong. 1998. Vietnam. Garland Encyclopedia, Volume 4.

Bùi Thiên Hoàng Quân
ANVN18 (04/2011)


Bài liên quan:
Bài mới hơn:
Bài cũ hơn:

http://songnhac.vn/di-san/muc-luc/nhac-khi-co-truyen/2381-dan-nhi-trong-don-ca-tai-tu-nam-bo.html